Archive for Tháng Tám, 2010

ĐÀN CHIM VIỆT HOẠT ĐỘNG TRỞ LẠI VỚI TÊN MIỀN MỚI

Tháng Tám 31, 2010

Đàn Chim Việt hoạt động trở lại với tên miền mới

Mạc Việt Hồng

Thứ Ba, 31/08/2010

http://danluan.org/node/6281

 

Bạn đọc thân mến,

Chiều ngày 23/8/2010, cùng với nhiều trang mạng độc lập khác, Đàn Chim Việt đã bị tin tặc đánh sập.

Lần này, nghiêm trọng hơn, tên miền (domain name) “danchimviet.com” của chúng tôi đã bị kẻ gian cướp đoạt. Chúng treo một thông báo giả mạo rằng, Đàn Chim Việt đóng cửa vĩnh viễn vì mâu thuẫn nội bộ. Hiện chúng tôi đang tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết để thu hồi lại tên miền. Xét thấy việc lấy lại tên miền có thể kéo dài, chúng tôi quyết định Online trở lại với một tên miền khác: www.danchimviet.info

Từ hơn nửa năm nay, Đàn Chim Việt liên tục bị tấn công bằng những thủ đoạn khác nhau và nhiều lần bị tê liệt. Với một đội ngũ biên tập và kỹ thuật hết sức mỏng manh, chúng tôi đã vô cùng vất vả trong việc chống đỡ lại các đợt tấn công này, để đứng vững và chuyển tải tới độc giả những thông tin khác biệt với hơn 700 tờ báo trong nước.

Cố gắng của Ban Biên Tập và Ban Kỹ Thuật đã phần nào được ghi nhận qua sự tăng lên không ngừng về số lượng độc giả, nhất là độc giả từ Việt Nam không quản ngại vượt qua bức tường lửa mà nhà nước nhiều năm nay lập ra nhằm ngăn chặn bạn đọc tiếp cận với trang web chúng tôi.

Nhưng càng được bạn đọc quan tâm, Đàn Chim Việt càng trở thành mục tiêu đánh phá của tin tặc. Không khó khăn gì để biết rằng, thế lực nào đứng sau sự đánh phá dai dẳng này. Trong cuộc chiến không cân sức giữa một bên được yểm trợ bởi tiền bạc và kỹ thuật, chúng tôi chỉ có khát vọng tự do và sự kiên nhẫn. Người ta có thể cướp đi 1 tên miền hay 5-7 tên miền, có thể đánh gục chúng tôi lần này hay lần khác, nhưng thế giới Internet bao la sẽ mở cho chúng tôi những cánh cửa mới để tiếp tục cất cao tiếng hót tự do của mình.

Xin cám ơn sự kiên nhẫn của quý bạn đọc dành cho trang mạng chúng tôi. Các ơn các trang bạn đã giúp chúng tôi chuyển thông báo này tới bạn đọc.

Warsaw 31/8/2010

Thay mặt BBT Đàn Chim Việt
TBT Mạc Việt Hồng

.

.

.

BÀI DIỄN VĂN CỦA NGÔ BẢO CHÂU BỊ BÁO CHÍ VIỆT NAM “BỔ ĐỀ”

Tháng Tám 31, 2010

Bài diễn văn của Ngô Bảo Châu bị báo chí Việt Nam “bổ đề”
Vạn Xuân

31.08.2010

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=F082BD182CC52F69D27D80275557546A?action=viewArtwork&artworkId=11244

Là một khán giả theo dõi buổi lễ vinh danh GS Ngô Bảo Châu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia đêm 29-8-2010 vừa qua, tôi đã được nghe trọn vẹn trực tiếp bài diễn văn của anh Châu. Sáng hôm sau, toàn văn bài diễn văn đó được đăng lại trên báo Tiền Phong.

Khi đọc lại bài diễn văn trên báo Tiền Phong, tôi phát hiện một vài điểm khác với những gì tai nghe mắt thấy. Tối 30-8-2010 tôi vào blog Thích Học Toán của anh Châu thì thấy anh đã đăng lại trọn vẹn bài diễn văn của anh.

.

Trước nay tôi không bao giờ tin nổi sự “trung thực” của báo chí Việt Nam nên sẵn dịp có hai văn bản tôi đem ra so nhau thử, thì trước hết chức năng đếm chữ của Microsoft Word cho thấy nguyên bản của Ngô Bảo Châu có 1813 chữ nhưng bản trên Tiền Phong chỉ còn lại 1725 chữ!

Tôi in ra 2 bản, so nhau thì thấy sự khác biệt này chủ yếu là do các nhà báo của Tiền Phong tự ý “biên tập” khá nhiều, có lẽ để làm cho câu văn gọn gàng hơn chăng? Hay là vì nhà báo nghe sót chữ?

Nhưng buồn cười nhất là những chỗ sai rất lố bịch. Lố bịch nhất là sai tên người.

.

Ngô Bảo Châu nói:

Nếu không có thời gian làm việc ở Princeton, rất có thể công trình Bổ đề cơ bản sẽ chưa hoàn thành vào thời điểm này. Ngoài ra, nhờ vào sự tiếp xúc với những nhà toán học thiên tài như Langlands, tôi đã xác định được rõ ràng chương trình nghiên cứu tiếp theo của mình sau khi Bổ đề cơ bản đã hoàn thành.

Báo Tiền Phong ghi:

Nếu không có thời gian làm việc ở Princeton, rất có thể, bổ đề cơ bản chưa được hoàn thành ở thời điểm này. Ngoài ra, với sự tiếp xúc với những thiên tài như Gerard Laumon, tôi đã định hình rõ ràng chương trình nghiên cứu tiếp theo của mình sau khi bổ đề cơ bản đã được hoàn thành.

Robert Phelan Langlands, sinh năm 1936, người Canada, là giáo sư toán học ở đại học Princeton, Mĩ. Còn Gérard Laumon, sinh năm 1952, người Pháp, là giáo sư toán học ở Paris-Sud 11, Pháp. Sao lại biến cụ này thành ông kia?

.

Ngô Bảo Châu nói:

Cuối cùng, tôi xin nhắc đến một con người, một nhà khoa học, và một người bạn lớn của Việt Nam. Khi còn là sinh viên Henri Van Regemorter đã tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên Pháp phản đối chính sách thực dân ở Đông dương.

Báo Tiền Phong ghi:

Cuối cùng tôi xin nhắc đến một người, là nhà khoa học, người bạn lớn của Việt Nam. Đó là ông Henry Rogermortier. Khi còn là sinh viên, Henry đã tham gia phong trào đấu tranh của sinh viên Pháp phản đối chính sách thực dân ở Đông Dương.

Henri Van Regemorter (1925–2002) là nhà thiên văn học Pháp. Còn ông Henry Rogermortier là ông nào mà lại thò ra đây?

.

Tôi tra internet lại thì thấy cái ông Henry Rogermortier này đã thò ra giành chỗ của ông Henri Van Regemorter từ ngày 21-8-2010 trong bài báo “5 điều thú vị về cuộc sống của GS Ngô Bảo Châu” trên tờ Tin Tức Trong Ngày. Trong bài báo đó, cái tên Henry Rogermortier thậm chí còn được ghi ngay bên dưới tấm hình chụp GS Ngô Bảo Châu và con gái cùng ông Henri Van Regemorter ở ngôi nhà tại Pháp!!!

Phải nói đây là kiểu làm ăn vừa dốt vừa ẩu mà ra.

.

Còn mấy chỗ sau đây thì không phải là dốt hay ẩu, mà là gian.

Ngô Bảo Châu nói:

Tôi thực sự hạnh phúc khi giải thưởng Fields tuy trao cho cá nhân tôi, nhưng cũng đem lại một sự vinh dự xứng đáng cho cộng đồng toán học Pháp.

Báo Tiền Phong ghi:

Tôi thực sự hạnh phúc khi giải thưởng Fields tuy trao cho cá nhân tôi nhưng cũng mang lại vinh dự xứng đáng cho cho cộng đồng khoa học Pháp cũng như cộng đồng khoa học Việt Nam.

Tôi nói đây là trò gian, vì rõ ràng nhà báo đã cố tình nhét thêm chữ vào mồm GS Ngô Bảo Châu, cho đúng với chỉ thị của cấp trên là vận dụng tối đa cơ hội này để làm cho người Việt Nam được “tự sướng”. Từ “cộng đồng toán học Pháp” mà thổi phình to lên, kéo rộng ra thêm thành “cộng đồng khoa học Pháp cũng như cộng đồng khoa học Việt Nam”, thì quả là một thao tác quá sức lành nghề của hạng nhà báo tay sai.

.

Cũng như ở chỗ kể chuyện về giáo sư Henri Van Regemorter, Ngô Bảo Châu nói:

Ông là người sáng lập ra Ủy ban hợp tác khoa học kỹ thuật Pháp Việt.

Báo Tiền Phong lại ghi thành:

Ông là người sáng lập Ủy ban Khoa học kỹ thuật hợp tác Việt – Pháp.

Kéo chữ “Việt” lên đứng trước chữ “Pháp” cũng là một thao tác… cực khéo! Nó làm cho người Việt thấy mình quan trọng hơn, lớn vai vế hơn người Pháp trong việc hợp tác khoa học kỹ thuật! Một chi tiết nhỏ thôi, nhưng cũng giúp làm tăng sự “tự sướng” của người Việt!!!

.

Dốt, ẩu và gian là 3 đặc tính cố hữu của báo chí Việt Nam. Dốt thì có thể chữa được, nếu chịu khó học. Ẩu thì cũng chữa được, nếu chịu khó làm ăn cẩn thận hơn. Nhưng gian thì rất khó chữa, vì đó là cái thao tác chuyên nghiệp hết sức cần thiết để có thể làm tròn nhiệm vụ mà lãnh đạo giao phó.

.

Sau gần 20 năm sống và làm việc ở Pháp và Mĩ, GS Ngô Bảo Châu mang thắng lợi về nước để chung vui với đồng bào. Nhưng đối với lãnh đạo thì đây lại là dịp may để họ bám theo làm ầm ĩ lên, hòng che lấp đi cái thực trạng thảm hại của nền giáo dục nước nhà. Trong bài phát biểu đêm 29-8, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ra sức lôi cái vinh dự của GS Châu về với Bác và Đảng. Đó là một chiêu thức để lãnh đạo tự thoa son đánh phấn cho mình. Song song với chiêu thức đó, giới nhà báo tay sai được vận dụng tối đa cho chiến dịch này để làm cho người dân cảm thấy sung sướng tự hào chừng nào thì tốt chừng ấy. Một chiến dịch gây “tự sướng” thật hoành tráng, bằng mọi cách. Vì như tục ngữ có nói “sướng con …u thì mù con mắt”, mà mù con mắt thì khỏi thấy cái thảm trạng ê chề.

————–

Bài liên hệ:

31.08.2010

Dĩ nhiên là cần nhân tài, nhưng vấn đề là quá dư thừa đám ăn hại  –  Lương Thị Nữ Nhi

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Rõ ràng ta chưa cần người tài giỏi lắm đâu, vì càng tài giỏi người ta càng bỏ nước mà đi: ai mà chịu dựng nổi cảnh bị bọn sâu dân mọt nước đè đầu cưỡi cổ. Do đó khi Nguyễn Tấn Dũng đặt vấn đề “Việt Nam cần có nhiều Ngô Bảo Châu” (mà trẻ con cũng biết), thì vấn đề mà dân tộc rất cần đặt ra là “Việt Nam cần có ít Nguyễn Tấn Dũng”… (…)

30.08.2010

Kịch bản chính trị quanh vụ “vinh danh Ngô Bảo Châu” đã có thay đổi  –  Ngô Huy Liễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Sau khi đọc bài “Ngô Bảo Châu, từ huân chương toán học đến ‘kịch bản’ chính trị” của ông Đỗ Đình Bổn, tôi xin đóng góp vài thông tin. Ngoài sự thay đổi kịch bản trong việc đón tiếp GS Ngô Bảo Châu tại sân bay Nội Bài như ông Đỗ Đình Bổn đã ghi nhận, còn có một số thay đổi khác sau đó… (…)

29.08.2010

Ngô Bảo Châu, từ huân chương toán học đến “kịch bản” chính trị  –  Ðỗ Đình Bổn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Chúng ta hãy chờ xem cái “kịch bản” trao Huân chương Hồ Chí Minh có diễn ra theo “dự kiến” hay không, và GS Châu có nhận cái Huân chương Hồ Chí Minh hay không. Qua đó chúng ta sẽ có nhận định đúng hơn về con người của GS Châu. Không phải Huân chương nào cũng đáng để nhận, và một nhà trí thức đúng mực thì không bao giờ nhận những gì không đáng nhận… (…)

26.08.2010

Sự diễn giải của nàng Đông Thi  –  Luân Nguyễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Trước tiên, tôi xin gửi đến tác giả Trần Thị Kim Lệ lời cảm ơn chân thành vì chị không những bỏ công đọc, mà còn “hiểu” được “cảm giác” của tôi trong bài viết “Một sự xấu hổ”! Những điều chị viết, tôi tin, xuất phát từ lòng nhiệt huyết đối với xã hội Việt Nam. Xin được chia sẻ với tác giả! Song, sự diễn giải nhấn mạnh của chị Kim Lệ đã đi chệch chủ ý của tôi trong bài viết trước đó… (…)

Một vinh dự đểu cáng  –  Trần Thị Kim Lệ

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Mọi công dân Việt Nam có quyền tự hào về thành tích của GS Ngô, nhưng Đảng không có cái quyền tự hào đó, vì Đảng đã tạo ra một thực trạng giáo dục bầy hầy, ghê tởm mà mọi người đều thấy rõ. Là một người công tác giảng dạy, tôi càng thấy rõ hơn, thấy hàng ngày. Đảng không hề xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh và tốt đẹp chút nào cả… (…)

25.08.2010

Một sự xấu hổ  –  Luân Nguyễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa nhận huân chương Fields danh giá. Là một công dân Việt Nam, tôi không thể không tự hào về điều đó, vì ít ra, giáo sư Ngô cũng sinh ra và có tuổi thơ ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi biết tin Đảng Cộng sản Việt Nam sắp trao Huân chương Hồ Chí Minh cho giáo sư Ngô, niềm tự hào đó đã biến thành sự xấu hổ ghê gớm… (…)

Ngô Bảo Châu sẽ nhận Huân chương Hồ Chí Minh hay không?  –  Vương Thế Lan

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Nhưng nếu cuối cùng việc trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ diễn ra, thì ta phải hiểu rằng thực chất đây chỉ là việc giành lấy thành tích của nhà toán học về cho Đảng. Đây không phải là thái độ trọng vọng nhân tài. Nếu Ngô Bảo Châu nhận cái Huân chương Hồ Chí Minh hư hão đó, thì uy tín khoa học của ông sẽ bị cái bóng ma của Đảng CSVN làm vấy bẩn suốt đời còn lại… (…)

Đảng biết trọng nhân tài? Hay chỉ giành vinh dự?  –  Lương Thị Nữ Nhi

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Tại sao một cậu bé thần đồng toán học lại phải báo cáo thành tích cho một ông lãnh đạo Đảng (mà chính ông ấy lại là một kẻ dốt toán)? Cái thái độ quan liêu dửng dưng của ông lãnh đạo Đảng chứng tỏ rằng Đảng không hề quan tâm đến toán học hay khoa học gì cả. Đảng chỉ quan tâm đến những thành tích mà cậu bé thần đồng đạt được. Cái trò này chỉ là cái trò chực giành lấy thành tích của một cá nhân làm thành tích của Đảng… (…)

Thôi bà con, xin hãy yên lặng chút đi! Để anh Châu được thảnh thơi bắn một bi thuốc đã nào!  –  Giao

[VINH QUANG & BÁO CHÍ] … Không biết Châu biết hút thuốc lá từ hồi nào. Có biết hút thuốc lá, ta mới biết được sự sảng khoái của việc “làm một bi” sau những phút căng thẳng nó ra làm sao. Chúng ta hãy tàm tạm yên lặng nhé, để nhà khoa học của chúng ta được một phút thảnh thơi… (…)

20.08.2010

Giáo sư Ngô Bảo Châu hãy cố mà chịu đựng!  –  Ðỗ Trung Quân

[VINH QUANG & BÁO CHÍ] … Nước Pháp biểu lộ vừa đủ thái độ trân trọng và văn hoá ứng xử. Nước ta chưa kết thúc ở đấy. Tuổi nhỏ của giáo sư đã bị báo chí ta xới lên. Trang Blog của giáo sư đã bị trưng bày. Sắp tới sẽ là phòng ngủ và toilet… Giáo sư khổ rồi. Với kiểu cách của báo chí Việt Nam, đời tư của ông sẽ không còn là đời tư nữa… (…)

.

.

.

QUÁ DƯ THỪA ĐÁM ĂN HẠI

Tháng Tám 31, 2010

Dĩ nhiên là cần nhân tài, nhưng vấn đề là quá dư thừa đám ăn hại
Lương Thị Nữ Nhi

31.08.2010

http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do;jsessionid=F082BD182CC52F69D27D80275557546A?action=viewArtwork&artworkId=11242

Ngày 30.8.2010 báo điện tử Bee.net đăng bản tin: “Thủ tướng: Việt Nam cần có nhiều Ngô Bảo Châu” của Lê Việt.

Thiết tưởng không có ai ăn nói ngớ ngẩn, dư thừa hơn.

.

Ngô Bảo Châu là người tài giỏi, mà người tài giỏi càng nhiều thì xã hội càng tốt đẹp. Đó là chuyện quá hiển nhiên, trẻ con cũng biết.

Nói “Việt Nam cần có nhiều Ngô Bảo Châu” thì chẳng khác gì nói: “Việt Nam cần mưa thuận gió hoà”, “Việt Nam cần nhiều người lương thiện”, những phát biểu dư thừa, chẳng đóng góp được gì cho đời. Ông Thủ tướng không thể nói điều gì thông minh hơn một chút, có ý nghĩa hơn một chút hay sao?

.

Tình hình đất nước đang đặt ra một nhiệm vụ khẩn thiết là: “càng ít” chứ không phải “càng nhiều”.

Rõ ràng ta chưa cần người tài giỏi lắm đâu, vì càng tài giỏi người ta càng bỏ nước mà đi: ai mà chịu dựng nổi cảnh bị bọn sâu dân mọt nước đè đầu cưỡi cổ.

Do đó khi Nguyễn Tấn Dũng đặt vấn đề “Việt Nam cần có nhiều Ngô Bảo Châu” (mà trẻ con cũng biết), thì vấn đề mà dân tộc rất cần đặt ra là “Việt Nam cần có ít Nguyễn Tấn Dũng”.

Dân tộc không cần những hạng lãnh đạo sống chật đất như Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh, Nguyễn Sinh Hùng, Trương Tấn Sang, v.v.

Chính nhóm người trên đã cho phép Trung Quốc đến Tây Nguyên đào bauxite, bị báo chí đặt vấn đề thì lên doạ: “Đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”.

Từ Mỹ, Ngô Bảo Châu viết thư kiến nghị, kêu gọi chính phủ Việt Nam không nên cho Trung Quốc đào nhôm, nhưng chẳng ai thèm trả lời.

.

Dân tộc cần rất nhiều người nhìn xa trông rộng, thấy được hoạ mất nước trong một dư án kinh tế như vậy.

Dân tộc cần rất ít, càng ít càng tốt, càng tiệt nòi càng hay, những hạng lãnh đạo chỉ thấy lợi trước mắt mà không thấy hoạ mất nước về sau.

Nhưng rõ ràng ai cũng biết là Việt Nam cần rất nhiều Ngô Bảo Châu, do đó vấn đề đặt ra là phải làm như thế nào.

Thử đặt vấn đề này riêng trong lĩnh vực giáo dục.

Rõ ràng là dân tộc không cần hạng bộ trưởng như Phạm Vũ Luận, thấy Ngô Bảo Châu lãnh giải thưởng lớn là lăng xăng đề nghị trao Huân chương Hồ Chí Minh!

Nếu Huân chương Hồ Chí Minh là một… giải có giá trị cao (?), và nếu Phạm Vũ Luận là một bộ trưởng giáo dục đúng nghĩa, thì ông ta đã đề nghị trao giải này ngay khi nghe tin Ngô Bảo Châu chứng minh được Bổ đề Langlands, chứ không đợi đến khi Ngô Bảo Châu được giải thưởng Fields ở Ấn Độ, rồi mới lăng xăng ăn theo.

Như vậy thì cái mà dân tộc ta cần là càng ít những bộ trưởng giáo dục như Phạm Vũ Luận càng tốt.

Cái mà nền giáo dục Việt Nam cần là những thầy giáo như Đỗ Việt Khoa, người thầy đã không “ngửi” nổi cả nền giáo dục thảm hại đến độ ông phải từ chức.

————–

Bài liên hệ:

30.08.2010

Kịch bản chính trị quanh vụ “vinh danh Ngô Bảo Châu” đã có thay đổi  –  Ngô Huy Liễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Sau khi đọc bài “Ngô Bảo Châu, từ huân chương toán học đến ‘kịch bản’ chính trị” của ông Đỗ Đình Bổn, tôi xin đóng góp vài thông tin. Ngoài sự thay đổi kịch bản trong việc đón tiếp GS Ngô Bảo Châu tại sân bay Nội Bài như ông Đỗ Đình Bổn đã ghi nhận, còn có một số thay đổi khác sau đó… (…)

29.08.2010

Ngô Bảo Châu, từ huân chương toán học đến “kịch bản” chính trị  –  Ðỗ Đình Bổn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Chúng ta hãy chờ xem cái “kịch bản” trao Huân chương Hồ Chí Minh có diễn ra theo “dự kiến” hay không, và GS Châu có nhận cái Huân chương Hồ Chí Minh hay không. Qua đó chúng ta sẽ có nhận định đúng hơn về con người của GS Châu. Không phải Huân chương nào cũng đáng để nhận, và một nhà trí thức đúng mực thì không bao giờ nhận những gì không đáng nhận… (…)

26.08.2010

Sự diễn giải của nàng Đông Thi  –  Luân Nguyễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Trước tiên, tôi xin gửi đến tác giả Trần Thị Kim Lệ lời cảm ơn chân thành vì chị không những bỏ công đọc, mà còn “hiểu” được “cảm giác” của tôi trong bài viết “Một sự xấu hổ”! Những điều chị viết, tôi tin, xuất phát từ lòng nhiệt huyết đối với xã hội Việt Nam. Xin được chia sẻ với tác giả! Song, sự diễn giải nhấn mạnh của chị Kim Lệ đã đi chệch chủ ý của tôi trong bài viết trước đó… (…)

Một vinh dự đểu cáng  –  Trần Thị Kim Lệ

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Mọi công dân Việt Nam có quyền tự hào về thành tích của GS Ngô, nhưng Đảng không có cái quyền tự hào đó, vì Đảng đã tạo ra một thực trạng giáo dục bầy hầy, ghê tởm mà mọi người đều thấy rõ. Là một người công tác giảng dạy, tôi càng thấy rõ hơn, thấy hàng ngày. Đảng không hề xây dựng được một nền giáo dục lành mạnh và tốt đẹp chút nào cả… (…)

25.08.2010

Một sự xấu hổ  –  Luân Nguyễn

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa nhận huân chương Fields danh giá. Là một công dân Việt Nam, tôi không thể không tự hào về điều đó, vì ít ra, giáo sư Ngô cũng sinh ra và có tuổi thơ ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi biết tin Đảng Cộng sản Việt Nam sắp trao Huân chương Hồ Chí Minh cho giáo sư Ngô, niềm tự hào đó đã biến thành sự xấu hổ ghê gớm… (…)

Ngô Bảo Châu sẽ nhận Huân chương Hồ Chí Minh hay không?  –  Vương Thế Lan

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Nhưng nếu cuối cùng việc trao Huân chương Hồ Chí Minh cho Giáo sư Ngô Bảo Châu sẽ diễn ra, thì ta phải hiểu rằng thực chất đây chỉ là việc giành lấy thành tích của nhà toán học về cho Đảng. Đây không phải là thái độ trọng vọng nhân tài. Nếu Ngô Bảo Châu nhận cái Huân chương Hồ Chí Minh hư hão đó, thì uy tín khoa học của ông sẽ bị cái bóng ma của Đảng CSVN làm vấy bẩn suốt đời còn lại… (…)

Đảng biết trọng nhân tài? Hay chỉ giành vinh dự?  –  Lương Thị Nữ Nhi

[VINH QUANG & CẠM BẪY CHÍNH TRỊ] … Tại sao một cậu bé thần đồng toán học lại phải báo cáo thành tích cho một ông lãnh đạo Đảng (mà chính ông ấy lại là một kẻ dốt toán)? Cái thái độ quan liêu dửng dưng của ông lãnh đạo Đảng chứng tỏ rằng Đảng không hề quan tâm đến toán học hay khoa học gì cả. Đảng chỉ quan tâm đến những thành tích mà cậu bé thần đồng đạt được. Cái trò này chỉ là cái trò chực giành lấy thành tích của một cá nhân làm thành tích của Đảng… (…)

Thôi bà con, xin hãy yên lặng chút đi! Để anh Châu được thảnh thơi bắn một bi thuốc đã nào!  –  Giao

[VINH QUANG & BÁO CHÍ] … Không biết Châu biết hút thuốc lá từ hồi nào. Có biết hút thuốc lá, ta mới biết được sự sảng khoái của việc “làm một bi” sau những phút căng thẳng nó ra làm sao. Chúng ta hãy tàm tạm yên lặng nhé, để nhà khoa học của chúng ta được một phút thảnh thơi… (…)

20.08.2010

Giáo sư Ngô Bảo Châu hãy cố mà chịu đựng!  –  Ðỗ Trung Quân

[VINH QUANG & BÁO CHÍ] … Nước Pháp biểu lộ vừa đủ thái độ trân trọng và văn hoá ứng xử. Nước ta chưa kết thúc ở đấy. Tuổi nhỏ của giáo sư đã bị báo chí ta xới lên. Trang Blog của giáo sư đã bị trưng bày. Sắp tới sẽ là phòng ngủ và toilet… Giáo sư khổ rồi. Với kiểu cách của báo chí Việt Nam, đời tư của ông sẽ không còn là đời tư nữa… (…)

.

.

.

NGUYỄN CHÍ VỊNH “BỊT MỒM” HỮU ƯỚC

Tháng Tám 31, 2010

Nguyễn Chí Vịnh “bịt mồm” Hữu Ước

Gửi vào ngày Thứ Ba, 31 Tháng 8, 2010.

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=9280

.

BBT TNTDDC: Mới đây hôm Chủ Nhật 29/08/2010, Tờ Công an Nhân dân Online của Trung tướng Tổng biên tập Hữu Ước đã cho đăng bài “Đừng nhắm mắt nói bừa!” của tác giả Lưu Nguyễn trên Chuyên đề An Ninh Thế Giới số 988 (ANTG). Đây là bài viết có lối phản bác trực tiếp đối với cá nhân nữ ký giả Lý Hồng Mai sau khi tờ Nhân dân Nhật báo (人民日报;) cơ quan ngôn luận chính thức của ĐCS Trung Quốc, cho đăng bài viết của bà Mai với lời khuyên Việt Nam không nên dùa với lửa .

Sau khi phân tích một số sự kiện trên Biển Đông gần đây và so sánh với những lời nhận xét của Lý Hồng Mai, Lưu Nguyễn đã gọi nữ phóng viên “kỳ cựu” này (lời giới thiệu của BBC) là “bình luận viên giống Cái“. Ngoài ra, quan trọng hơn cả là tác giả Lưu Nguyễn, nhân bài viết này đã “lưu ý” rằng thời gian qua, không ít nhà nghiên cứu, tướng lĩnh, báo chí Trung Quốc đã có những nhận định, lời lẽ rất thiếu thiện chí đối với Việt Nam,…

Những lời lẽ này hoàn toàn trái ngược với những lời tuyên bố của Nguyễn Chí Vịnh nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc mới đây, và chắc chắn đã làm quan thầy Trung Quốc không vui, cho nên bài “Đừng nhắm mắt nói bừa!” của tác giả Lưu Nguyễn chỉ sống chưa được 2 ngày trên trang báo CAND Online thì bị rút xuống (đăng trưa ngày Chủ Nhật 29/08, bị rút bỏ sáng ngày Thứ Ba 31/08).

Chúng tôi xin đăng lại toàn bộ bài “Đừng nhắm mắt nói bừa!” của tác giả Lưu Nguyễn để đọc giả có thể hiểu được lý do tại sao tờ CAND Online lại vội vã rút bỏ bài báo tương đối có chất “yêu nước” này xuống.

Sự kiện – Bình luận 
Đừng nhắm mắt nói bừa!
11:46:00 29/08/2010
Lưu Nguyễn

Đài BBC đêm 23/8 vừa qua cho biết, trong một bài đăng trên tờ Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) ra ngày 17/8, Lý Hồng Mai đã “khuyên” Việt Nam “không nên đùa với lửa”. Tác giả của lời khuyên ngạo mạn nói trên, theo BBC, là một “biên tập viên kỳ cựu”.

Theo trích thuật của BBC, Lý Hồng Mai nói rằng  trong khi quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đang trải qua một giai đoạn khó khăn mới, “các quyết định thiếu khôn ngoan của Việt Nam sẽ chỉ làm căng thẳng gia tăng”.

Cái “giai đoạn khó khăn mới” trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ mà Lý Hồng Mai đề cập trong bài báo là để ám chỉ sự căng thẳng giữa hai cường quốc này khi Bắc Kinh phản ứng trước một số động thái gần đây của Washington mà họ cho là nhằm vào Trung Quốc, từ việc Mỹ nghiêng hẳn về phía Hàn Quốc trong vụ cáo buộc CHDCND Triều Tiên đánh đắm chiến hạm Cheonan đến cuộc tập trận Mỹ – Hàn trên biển Nhật Bản, và nhất là việc Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tự do hàng hải trên biển Đông; tiếp đó, tàu sân bay USS George Washington trên đường hàng hải quốc tế đã bỏ neo cách Đà Nẵng gần 200 hải lý, trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rồi tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng…

Lý Hồng Mai còn viết bừa rằng “có lẽ Việt Nam cần nhận thức rằng bị kẹt giữa hai cường quốc là một trò chơi nguy hiểm… Nếu cứ tiếp tục khích động các nước lớn đối chọi nhau thì không ai khác ngoài Việt Nam sẽ phải hối hận trước”,  và rằng  “giới quan sát quốc tế đang có chung quan điểm Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung – Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc”.

Té ra bình luận viên “giống cái” này động lòng trước tiến triển của quan hệ Việt – Mỹ gần đây. Chỉ có điều, những nhận định của bà ta là hồ đồ, hoàn toàn vô căn cứ, tức là nhắm mắt nói bừa.

Dư luận đều rõ là tại một diễn đàn đa phương như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được tổ chức tại Hà Nội hồi hạ tuần tháng 7 vừa rồi, các bên tham dự đều có quyền phát biểu, bày tỏ quan điểm của mình đối với những vấn đề liên quan đến an ninh khu vực mà họ quan tâm. Chuyện bà Hillary Clinton tuyên bố tại diễn đàn này rằng Mỹ “có lợi ích quốc gia” trong việc bảo đảm tự do hàng hải trên biển Đông cũng vậy. Tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton là xuất phát từ chủ trương của chính quyền Mỹ, thể hiện quan điểm của họ, chứ nguyên cớ đâu phải là vì “Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung – Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc” mà bà Lý  mượn danh “giới quan sát quốc tế” để “gắp lửa bỏ vào tay” Việt Nam.

Cũng cần nói thêm rằng tranh chấp tại biển Đông là chuyện xảy ra giữa nhiều nước chứ không phải là “tranh chấp Trung – Việt” như lời bà Lý viết, còn việc giải quyết những tranh chấp giữa nhiều quốc gia ấy trên cơ sở song phương hay đa phương là đòi hỏi của thực tế khách quan mà không một quốc gia nào có thể áp đặt ý muốn chủ quan của mình.

Sự kiện tàu sân bay USS George Washington bỏ neo ngoài khơi Đà Nẵng và tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng hồi đầu tháng 8 này cũng không phải là do Việt Nam “muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc” như lời tố điêu của bà Lý.  
 

Trả lời phỏng vấn báo Quân đội Nhân dân (QĐND) ngày 14/8 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đã nêu rõ: “Từ đầu năm nay, Mỹ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta chấp thuận ý kiến này”.

Trung tá Jeffrey Kim, Chỉ huy tàu USS John S.McCain, khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (TNHK), cũng nói rõ: “Chúng tôi tới đây (Đà Nẵng) nhân dịp đánh dấu 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ – Việt”. Về việc một số hãng đưa tin rằng thủy thủ tàu USS John S.McCain tham gia diễn tập hải quân với phía Việt Nam, Trung tá Jeffrey Kim cho rằng việc miêu tả như vậy là “không đúng với bản chất những gì chúng tôi thực hiện ở đây”.

Ông giải thích: “Đó không phải là các cuộc diễn tập hải quân, mà là các cuộc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức cũng như các bí quyết liên quan tới các chủ đề như tìm kiếm, cứu nạn hay kiểm soát thiệt hại, như làm sao để ngăn chặn ngập nước hay dập lửa trên tàu”, và nhấn mạnh: “Các hoạt động chúng tôi thực hiện ở đây cho tới nay là phi tác chiến về bản chất” (TNHK đêm 12/8/2010).

Còn về chuyện tàu sân bay USS George Washington, nhân dịp đi trên đường hàng hải quốc tế cách Đà Nẵng gần 200 hải lý, trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam, mời đoàn đại biểu thành phố Đà Nẵng và các đơn vị quân đội đóng quân ở địa phương ra thăm tàu, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết: “Đây là hoạt động theo thông lệ của phía Mỹ, mỗi lần đi qua vùng biển gần các quốc gia có liên quan, phía Mỹ thường mời đoàn đại biểu các nước đó thăm tàu để bày tỏ thiện chí, và cũng là dịp để họ phô diễn các kỹ thuật quân sự tiên tiến. Nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước ASEAN khác đã cử các đoàn đại biểu thăm tàu ở cấp độ khác nhau…”. 

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu rõ rằng Việt Nam đã có quan hệ hải quân tốt đẹp với nhiều nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia, Philippines, Singapore, Thái Lan…, đồng thời nhấn mạnh rằng “phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước”, và rằng “quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết” (QĐND 14/8/2010).

Rõ ràng là bà Lý đã nhắm mắt trước thực tế nói trên.

Nhân đây, cũng xin lưu ý rằng thời gian qua, không ít nhà nghiên cứu, tướng lĩnh và  báo chí  của Trung Quốc đã có những nhận định, bình luận không đúng về các sự kiện kể trên, với những lời lẽ rất thiếu thiện chí (nếu không nói là thù địch) đối với Việt Nam,  làm cho dư luận, nhất là dư luận Trung Quốc, hiểu sai bản chất của các sự kiện đó, dẫn đến hiểu sai về Việt Nam,  làm tổn hại tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đài BBC nhận xét rằng mặc dù tờ Nhân dân nhật báo viết đây chỉ là ý kiến riêng của tác giả, chứ không phải của bản báo, việc bài của Lý Hồng Mai được đăng trên Nhân dân nhật báo cho thấy “tầm quan trọng của quan điểm” mà gần đây nhiều nhà quan sát và học giả Trung Quốc cùng chia sẻ.

Nhân dân nhật báo là tờ báo chính thức của Trung Quốc.

Cứ cho bài viết trên Nhân dân nhật báo của bà Lý là thể hiện ý kiến riêng của bà ta, như lời thanh minh của bản báo, thì người ta vẫn hiểu rằng nếu “ý kiến riêng” đó không phù hợp với quan điểm của Nhân dân nhật báo thì có “các vàng”, tờ báo này cũng không đăng.

Cá nhân tác giả Lý Hồng Mai có thể nhầm lẫn; một tờ báo chính thức của Trung Quốc lẽ nào lại như thế?
Thật tiếc!

L.N. (Chuyên đề ANTG 988)

Nguyên bản điện tử: http://i369.photobucket.com/albums/oo135/tntddc/baochi/f0ef875d.gif

.

.

.

TÂM TÌNH MỘT NGƯỜI HÀ NỘI VỀ NGÀY 19-8-1945

Tháng Tám 31, 2010

Tâm tình một người Hà Nội về ngày 19-8-1945  

Nguyễn Mạnh Côn
Đăng ngày 31/08/2010 lúc 02:57:55 EDT

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5063

Thông Luận : Tập bút kí Đem tâm tình viết lịch sử của Nguyễn Mạnh Côn được đăng tải lần đầu trên tạp chí Chỉ Đạo qua bút hiệu Nguyễn Kiên Trung. Khi in thành sách, tác giả được trao giải thưởng văn học nghệ thuật năm 1957.
Tâm tình của tác giả được trải rộng qua loạt thư gửi bạn. Chúng tôi gửi đến bạn đọc
Thông Luận lá thư đầu, như một dấu tích tâm tình của một người Hà Nội trẻ tuổi nhìn về một biến cố lịch sử.

—————————————

.

Hà Nội, ngày 3 tháng 9 năm 1945

Thân ái Trung,
Hôm nay viết cho Trung mà tâm hồn tôi còn thắm màu của cả một rừng cờ, còn rực tiếng reo của muôn vạn người say sưa giữa vườn hoa Ba Đình.

Chao ơi Trung,
Chúng tôi hôm qua, đã uống từng tiếng, từng chữ của bài Tuyên Ngôn Độc Lập. Và thế là chúng ta trở nên những công dân của một nước độc lập, trước quốc tế, trước thế giới, trước nhân loại và trước Đất Trời.
Tôi có thể nói với Trung rằng mười lăm đêm nay tôi không hề chợp mắt ngủ. Mà tôi không mệt. Trái lại, sau mỗi đêm thao thức để toan tính, để thèm khát những ngày mai nhất định rực rỡ, rực rỡ như Cha Mẹ tôi, Ông Bà tôi chưa bao giờ biết, thì cứ mỗi lần ánh sáng mặt trời trở lại chiếu vào lá cờ đỏ thắm vẫn phấp phới trước cửa nhà là mỗi lần tôi được tiêm thêm một liều sinh lực. Mỗi ngày chúng tôi một thêm khoẻ, mỗi ngày chúng tôi một thêm hăng hái.
Chúng tôi hăng hái đến nỗi có những lúc muốn chết, muốn chết ngay cho tổ quốc, và chết ngay giũa lúc vinh quang sáng chói này.

Trung mỉm cười nghi ngờ, -Trung cho rằng tôi nói cho đẹp, cho bảnh mà thôi?
Nhưng không đâu! Trung! Trung ở nơi hải ngoại, giữa quang cảnh thành Ba Lê đã phục hồi tự do và đời sống hoa lệ, làm sao Trung có thể hiểu nỗi lòng bạn Trung ở nước nhà?
Tôi biết Trung có tham gia chiến khu “Pháp tự do” chống Đức. Tôi tưởng tượng được cuộc đời gian khổ mà Trung và các đồng chí của Trung đã sống. Tôi cảm thông được niềm hãnh diện cũng như nỗi vui mừng của Trung khi bước lên giải phóng Ba Lê.
Tôi hiểu Trung nhưng Trung không thể hiểu tôi. Bởi lẽ tôi biết rõ hoàn cảnh Trung, mà Trung không biết gì về hoàn cảnh của tôi. Tôi viết rõ hơn nữa nhé, Trung là khách đến đất Pháp, Trung thấy Bạo Ngược đàn áp Tự Do, nên con người “mã thượng anh hùng” đã không bỏ lỡ cơ hội tiếp tay cho Công Lý thắng Cường Quyền. Như thế là Trung có mọi điều kiện để mình tự bằng lòng mình.
Có phải hoàn cảnh của Trung đúng như thế không?

Còn hoàn cảnh của Minh thế nào? Chắc Trung muốn hỏi lại như vậy. Cho nên, sau đây, tôi sẽ thuật lại cho Trung hay những gì đã xảy ra chung quanh tôi, trên đất nước, từ ngày Trung ra đi, tới nay thắm thoát đã trọn sáu năm.

(Tôi sẽ không ngại viết dài, vì tôi biết Trung sẽ không ngại đọc dài. Tôi vụng về nhưng chận thành nên những gì tôi thuật lại với Trung đề là những sự kiện có thật. Và cũng bởi vậy, nếu lá thơ này không thể có giá trị văn chương thì ít ra nó cũng có giá trị tâm tình, giữa Trung với tôi, và giá trị tài liệu, đối với lịch sử dân tộc Việt. Vì lịch sử là gì, nếu không phải là một thứ tâm sự lớn lao, bao gồm tất cả tâm sự vụn vặt nhưng tâm thành của mỗi người dân như chúng ta?)

*

*
Vậy thì Trung ơi, đây là chút ít lịch sử Việt Nam, từ 1939 đến 1945. Lịch sử của một dân tộc qua sự sống của một cá nhân lịch sử chủ quan. Nhưng mỗi cá nhân lại là một phần tử của con số hai mươi nhăm triệu cá nhân có khả năng dựng nên lịch sử. Bởi thế Trung có thể tin lời tôi.

Năm 1939 là năm Trung sang Pháp, để thỏa mãn tính giang hồ nhiều hơn để giúp “mẫu quốc” chống Hitler. Cuối năm ấy, theo gót Trung, tôi cũng đi Hương Cảng.
Tôi nhớ lại tâm tình của chúng ta lúc bấy giờ : chúng ta thèm khát không gian như loài người thèm khát khí trời. Vì trong chúng ta là cả một tâm hồn đào tạo bởi văn hoá Pháp. Chúng ta thèm khát tự do mà tự do không có. Sự học như mở cho ta một cánh cửa sổ, để nhìn ra ngoài thì thấy cảnh vật huy hoàng chói lọi, nhưng chúng ta không tới được cảnh vật, vì cửa sổ cao quá (hay thấp quá?)
Chắc Trung không quên rằng, vào năm đó, tâm hồn ta hèn yếu đến nỗi ta không dám nhảy qua cửa sổ. Ta cũng không dám cả nghĩ đến sự nhảy qua cửa sổ. Căn nguyên của sự hèn nhát này là sự quá quen hưởng thụ một cuộc sống tuy thiếu tự do mà thừa yên ổn. Nết xấu chung của hai ta, của chung của đa số thanh niên thời ấy, là cầu an.
Riêng chúng ta, nhờ địa vị của Cha Mẹ, được thoát thân ra đi. Ra đi để học hỏi, Trung tâm sự với tôi thế, và tôi cũng nhủ lòng như thế.
.

Nhưng trái với Trung, có hoàn cảnh để kéo dài sự học hỏi đến ngày nay, tôi đã lại trở về Hà Nội tháng sáu năm 1940.
Tôi về nước không phải bị bắt buộc; tiền nhà vẫn gởi sang đều đặn, và sự học vấn vẫn tiến bộ đều đều. Sự “quy cố hương” của tôi thành ra không có lí do chính đáng đến nỗi về Hà Nội sáu tháng rồi mà tôi không dám về thăm Thầy tôi: tôi biết nói với người thế nào để khỏi hổ thẹn vì sự thằng thúc đòi đi năm trước?
Thầy tôi có lẽ hiểu, và thương tình con trẻ hay thay đổi, nên cũng không hỏi lại về việc này. Duy Mẹ tôi, thương tôi một cách khác và lo sợ cho con có điều gì u uất trong lòng, Mẹ tôi nhất định hỏi tôi cho ra lẽ. Thành thử có một buổi chiều tôi phải thu hết can đảm để trả lời Mẹ tôi rằng: “Con chắc rồi đây sẽ có những sự biến chuyển lớn lao trong đất nước”.
Mẹ tôi nhìn tôi ngạc nhiên không hiểu. Tôi lại không sao nói rõ hơn. Ý tôi muốn nói thêm rằng tôi không muốn vắng mặt khi có những biến chuyển lớn lao trong đất nước, nhưng tôi hổ thẹn quá mà không nói nên lời.

Tại sao có thế mà tôi lại hổ thẹn, chẳng hoá ra làm thân trai, chú trọng đến việc nước là xấu xa lắm sao? – Chắc không phải thế. Tôi hổ thẹn, có lẽ vì trong tình trạng dân ta hồi ấy, sự cam lòng vâng lệnh chính phủ bảo hộ đã là sự quá quen rồi. Và trong thâm tâm, trong tiềm thức, có lẽ tôi nghĩ đến Thầy tôi là người sinh ra tôi, đến nhiều người ở địa vị cao quí hơn cả địa vị của Thầy tôi, mà thấy các “bậc trên” ấy còn không bận tâm lo việc nước, thì cái cá nhân tiểu mọn của tôi dám nói đến việc nước, há chẳng phải ngông cuồng, khoác lác lắm sao?
Căn nguyên sự hổ thẹn của tôi là như thế. Nhưng tôi không chỉ hổ thẹn không mà thôi đâu. Sự hổ thẹn ngắn ngủi, sự tủi cực về sau mới lâu dài hơn; cứ mỗi khi nghĩ rằng trong toàn dân không có mấy ai muốn lo việc nước, tôi lại thấy thấm thía trong tâm hồn một thứ cảm xúc như bàng hoàng lo sợ, như tủi nhục, như uất hận…
Trạng thái tâm lý này của tôi kéo dài trong mấy tháng. Cảm xúc xao xuyến đến chỗ bế tắc cả khả năng suy nghĩ, tôi tự nhiên lâm vào một thời kỳ sinh hoạt hoàn toàn theo con đường phóng đãng và trụy lạc, lấy thú vui ồ ạt bên ngoài để đàn áp tâm tướng sôi nổi bên trong.

Nhưng cũng may là thời kỳ này chóng hết. Tôi về nước chỉ được mấy tháng là quân Nhật tiến đánh vào Lạng Sơn.
Cho đến nay tôi vẫn không biết lý do thực sự vì sao người Nhật đánh Lạng Sơn, vì trước khi tiến đánh, họ đã điều đình với người Pháp và đã giành được ít nhiều quyền lợi.
Có lẽ họ cho rằng quyền lợi giành được chưa đủ, có lẽ rằng họ nghĩ thế nào cũng phải chiếm Đông Dương để thực hiện khối “Đại Đông Á”, có lẽ nữa là đoàn quân Nhật ở Hoa Nam bị du kích Trung Hoa tiêu hao đến độ phải vội vã tìm lối thoát ra bờ biển…? Tôi không biết rõ, nhưng lại biết rõ một điều khác, chẳng kém phần hệ trọng, là người Nhật đến, đánh thức tinh thần quật khởi của người Việt.

Thật thế. Trước khi người Nhật vào Lạng Sơn thì một tập thể cách mạng Việt Nam đã vùng lên chiếm chính quyền và lập tỉnh chính phủ ở đó. Phong trào này vội vã, ô hợp. Tuy trên cấp lãnh tụ có những Trần Trung Lập, Nông Kích Du, Đoàn Kiếm Điểm, Hoàng Lương; nhưng cấp lãnh tụ cũng không làm gì nên chuyện, với đa số nhân sự là binh sĩ của Pháp (đội pháo thù ở Lạng Sơn) cùng là dân chúng chưa hề biết, được học thế nào là chiến thuật đấu tranh cách mạng.
Chính vì thế mà tính chính phủ của Phục-Quốc quân chóng bị tan vỡ, sự tan vỡ nguyên do ở sự thỏa hiệp giữa Nhật với Pháp một phần lớn: Nhật trả chủ quyền toàn vẹn, nghĩa là cả vùng Lạng Sơn cho Pháp. Nhưng sự tan vỡ còn chủ ở sự non kém về kỹ thuật lãnh đạo cuả cấp chỉ huy: đáng lẽ lập chiến khu, phân tán lực lượng để đánh du kích (như chiến thuật của quân đội Trung Hoa lúc đó đương chống Nhật), thì 2 lãnh tụ Trần Trung Lập, Đoàn Kiểm Điểm lại tập trung quân lực, giàn thành trận địa chiến, để quân pháp có dịp huy động cơ giới tiêu diệt.

Cuộc khởi nghĩa Lạng Sơn tan vỡ, người Pháp trả thù cực kỳ dã man. Hơn nữa, rút kinh nghiệm vụ Yên Bái, bọn Chauvet, Lannèque, Lartigue, dùng dây thép xâu tay hàng ngàn người vào với nhau rồi đem ra bắn ngoài bãi bắn kia. Nhưng trái lại vụ yên Bái, chúng không cho một tờ báo nào đăng tin. Vì thế mà dân ta ít người biết đến cuộc khởi nghĩa chống Pháp lớn lao nhất từ trước, có hàng ngàn quân tham dự giao chiến.
Cuộc khởi nghĩa tan vỡ, không gây nỗi một luồng sóng dư luận xôn xao như hồi Yên Bái khởi nghĩa. Tuy nhiên, nếu không có dư luận mạnh mẽ, thì ít ra cũng có một thứ uất hận ngấm ngầm trong lòng người Việt, càng kín đáo càng sâu sắc, đành rằng những người Việt này chỉ là một thiểu số.

Trên đây tôi có nói Nhật muốn thực hiện khối Đại Đông Á, hoặc ít ra là nhờ danh nghĩa ấy mà lôi cuốn người da vàng giúp họ đánh người da trắng. Người Nhật không dại nên người Nhật lợi dụng niềm uất hận này, cùng lợi dụng tấm lòng khát khao độc lập của người Việt, để gây một tinh thần chống Pháp, thân Nhật.Trông cậy ở quân lực của Nhật để diệt Pháp, để khôi phục độc lập cho tổ quốc và để tham gia bình đẳng vào khối thịnh vượng chung Đại Đông Á, đó là thái độ chính trị của một số khá đông người Việt lúc bấy giờ (bạn anh, chao ôi, cũng là một phần tử dại dột trong số đông này!).
.

Nhưng người Nhật đã không dại, rồi lại dại. Dại có lẽ vì quá khôn. Có lẽ họ chỉ thấy cần giải quyết được đối thủ chính là lực lượng Hoa Kỳ, tất sau đó họ rãnh tay tha hồ làm mưa làm gió. Có lẽ ngay từ lúc bấy giờ họ đã không thật tâm với dân tộc Việt. Có lẽ đối với Đông Dương họ tạm thời họ chỉ cần đến cứ địa quân sự và tiếp tế lương thực, cho nên họ mặc cho người Pháp giữ việc cai trị để giúp họ rảnh tay làm việc khác. Có lẽ họ đã khôn như thế ở Việt Nam, ở Phi Luật Tân, ở Miến Điện, ở Mã Lai. Mặc dù ở mỗi nơi họ xử sự một cách khác. Có lẽ vì thế mà khi Anh vào Miến Điện, Hoa Kỳ vào Phi Luật Tân, thì mặc dầu những hứa hẹn thịnh vượng chung và bình đẳng của họ, các dân tộc sở quan đã bỏ họ mà theo Đồng Minh: Đó là một trong những lý do khiến họ bị thất bại.
Trở về đất nước ta. Người Nhật cứ hứa hẹn và cứ xui ta theo Nhật chống Pháp, người Pháp cứ khéo léo với Nhật và khủng bố ngầm những người chống lại họ. Còn người Việt, đa số vẫn thản nhiên trước “định mệnh”, thản nhiên đến độ có thể coi họ là những kẻ bàng quan đứng xem 2 con gà chọi nhau, làm như con gà nào thắng, con nào bại, cũng không liên hệ gì tới ai hết (vì theo đa số, thì tham dự cuộc đấu tranh là chỉ làm tay sai cho một trong hai bên, để rốt cuộc bên nào thắng vẫn cứ đô hộ Việt Nam như thường).
Tình trạng kéo dài như thế hơn 3 năm.

Năm 1944 là năm người Pháp tìm ra được một kế hoạch cực kỳ khôn ngoan (nhưng khôn quá lại hoá dại cho mà xem!): Lợi dụng việc người Nhật mỗi năm cần dùng một số thóc gạo của Việt Nam để nuôi quân, họ bày ra một phương pháp vô cùng xảo quyệt, vô cùng nham hiểm. Họ bày ra một cách bắt nông dân ban thóc theo tỉ lệ ruộng cầy. Người Nhật mua, trả tiền. Người Pháp mua cũng trả tiền. Nhưng người Nhật mua 1 thì người Pháp bắt nông dân bán mười, bán trăm. Bán kỳ hết thóc trong cót trong lẫm.
Kết quả là ngót 2 triệu người Việt Nam chết đói ở Bắc Việt.

Trung ơi, Trung không tin, có phải không? Vì Trung nghĩ Bắc Việt có bao nhiêu người mà chết đói được 2 triệu…vì Trung nghĩ bán thóc lấy tiền thì lại đong thóc, có sao đâu mà phải chết đói đến 2 triệu người, phải không Trung?
Nhưng Trung không thể tưởng tượng được sự tàn ác của bọn thực dân. Trung không thể ngờ rằng trong Việt Nam có thóc thừa mà không có than, phải đổ thóc vào lò máy đốt cho xe lửa chạy. Thế mà không một hạt thóc, không một hạt gạo ra Bắc. Đó là 1 quyết định của thực dân.

Trung lại không ngờ được rằng tất cả – Trung đọc cho kỹ: tất cả nông dân phải bán thóc. Người cấy 1 sào không đủ ăn cũng phải bớt ăn mà bán. Người cấy đủ ăn, chừng ba mẫu, phải bán quá nửa, nên thiếu gạo ăn trong một nửa năm. Người có hàng chục hàng trăm mẫu phải bán quá số thu hoạch bình thường, đến các kho dự trữ cũng phải mở ra để lấy thóc bán.
Vụ chiêm năm 1954, nông dân bán gần hết thóc, nhưng sống vất vưởng đến được vụ mùa. Vụ mùa nông dân bán gần hết thóc, nên chỉ đủ sống được đến cuối năm.
Đầu năm 1954, giữa một mùa rét kinh hồn như một trăm năm nay chưa từng thấy, người ta đã gặp những xác chết khô đét, co quắp bên lề đường cái quan.

Trung ơi, Trung làm thế nào mà tưởng tượng được cái cảnh một người chết đói? Trung làm sao mà tưởng tượng được cái cảnh hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu người chết đói?! Nhất là những người chết đói đó là đồng bào của Trung?

Trung đi trên đường cái, từ Thái Bình sang Ninh Giang, sang Hải Dương rồi lên Hà Nội… Trung không đi quá 50 thước đã lại gặp ngỗn ngang vài ba, hay năm bảy cái xác chết trần truồng và chồng chất lên nhau: Đó thường là 1 gia đình bỏ làng đi tìm kế sống ở tha phương. Họ đi, nhưng đói quá không đi được, nên ngã xuống đấy. Có người may mắn (!) lên cơn chuột rút mà chết ngay được. Nhưng cũng có người thoi thóp mãi không chết. Và đến lúc ấy, trong giây phút sự sống chợt trở về, họ nghĩ đến nhau, thương nhau, nên thu hết sức tàn mà lê lại gần nhau, ôm lấy nhau, nhìn nhau khô nước mắt, cầm tay nhau, để chết.
Trung đi trên đường cái, nhưng Trung không đi được, vì tấm lòng của Trung không nỡ. Trung dừng lại, đem chút ít tiền có trong túi phân phát cho những người còn tỉnh. Họ cầm tiền ngơ ngác: họ có ăn được tiền đâu! Rồi Trung nhìn họ, thấy họ lặng lẽ buông tay cho tờ giấy nhỏ rơi xuống đất, đến lúc đó Trung mới hiểu hết nông nỗi thảm thiết của họ, và chắc là Trung sẽ ứa nước mắt.
Nhưng Trung lại cứ đi, bởi lẽ Trung còn sống. Qua gần cầu Bo, Trung sẽ thấy những người hành khất ngoạm vào xác chết, nhai ray rứt miếng thịt không còn máu, rồi phát điên. Trung sẽ thấy cái quán cơm bến đò Nhống bán thịt người.
Trung sẽ thấy đứa hài nhi lồm cồm bò trên người mẹ nó đã chết. Trung sẽ thấy đứa hài nhi khác nhay mãi vú mẹ nó đã chết. Trung sẽ thấy người đàn bà ôm đứa con thơ trong lòng mà nhỏ nước mắt vào người nó: vì hai mẹ con cùng chờ chết.
Chết đói ! Cả vạn người chết đói, cả triệu người chết đói.

Ở Hà Nội người ta dùng xe rác chở người chết đói đem chôn. Chôn vào từng hố lớn, dài hàng chục thước. Xác vất xuống ngổn ngang, có cái xác thật là xác, nhưng có nhiều cái xác còn cựa quậy… Người phu xác rùng mình, đau thắt ruột. Nhưng người phu rác có muốn cứu chỉ được một người, không cứu nổi ngàn người. Nên người phu rác nghiến răng, gạt cả những xác chết cùng những người chưa chết xuống hố sâu.

Trung ơi Trung, Trung sẽ nghĩ rằng Trung thà bán hết cả quần áo, bán hết cả sách vở, bán đến cả tài sản của Thầy Mẹ Trung chưa chia cho Trung, để cứu những người chết đói…Nhưng cái thống khổ, cái kinh khủng của Trung, lúc đó, là không biết cứu những ai. Trung không thể có hàng triệu bì gạo để chia cho tất cả mọi người. Nếu Trung vẫn cứ bán hết đi, hãy biết cứu lấy một số người qua cơn đói một ngày, thì ngày mai Trung lại nằm xuống như họ !
Vậy thì cái kinh khủng của Trung là trông thấy đồng bào chờ chết, hay đương chết, mà Trung phải làm thinh. Để sống.

Để sống mà rửa mối hận ngút trời ấy, phải chăng Trung? Hẳn thế, vì đó cũng là suy nghĩ của muôn người trai trẻ như Trung, như bạn Trung.
Đó cũng là lý do, cũng là HOÀN CẢNH, để cho có cuộc Cách mạng tháng Tám này.
Cách mạng tháng Tám bùng nổ trước hết là để tuyết hận cho ngót hai triệu đồng bào ta đã chết đói.
Những người mẹ đến lúc chết còn thu sức tàn mà ghì đứa con bé bỏng vào lòng, hình như để còn bao nhiêu sinh lực thì truyền cho nó, cho nó được sống.
Những người cha bất lực, trông từng đứa con ngã xuống mà hận thịt mình không ăn được, máu mình không uống được.
Những người dân của những làng chết đói cả làng, của những huyện mười phần người còn một.

Hai triệu người oan thác, vì thực dân muốn đánh vào quân phiệt một đòn tinh thần chí mạng: gạt cho người Nhật chịu trách nhiệm về hai triệu mạng người này.
Nhưng rút cục người ta không thể lừa dân chúng đến thế, người Việt-Nam đã đành căm giận người Nhật đến xương tuỷ, nhưng người Việt-Nam căm giận người Pháp cũng chẳng kém gì.
.

Trước mắt hơn bảy triệu người Việt miền Bắc còn sống sót, cái chết kinh hoàng, khủng khiếp của đồng bào họ đã thâu tóm vào hai chữ vắn tắt: ngoại thuộc.
Vì chỉ có ngoại nhân, khát máu tanh lòng, mới đành tâm và thản nhiên giết đến hai triệu người Việt. Chỉ có ngoại nhân mới can đảm chém đầu Nguyễn Thái Học ở Yên Bái, xử bắn Trần Trung Lập ở Lạng Sơn. Chỉ có ngoại nhân mới đầu độc non nửa dân số Việt Nam bằng rượu và thuốc phiện. Chỉ có ngoại nhân mới thu vét hết vàng bạc ở đất này mang về nước họ. Chỉ có ngoại nhân mới cố tình đày đoạ dân chúng Việt-Nam trong cảnh lầm than, cực nhọc, và u mê, tối tăm.
Thành ra ngót hai triệu người chết năm 1945, từ tháng Giêng đến tháng Tư, là chết để đem linh hồn dâng vào luyện sự tỉnh ngộ và ý chí phục thù cho toàn dân.
Đó là HOÀN CẢNH cho phép đấu tranh bộc phát.
Đấu tranh lúc đó quy tụ cả vào Mặt trận Việt Minh.
Giữa một ngàn người được tổ chức, không có lấy một người được đọc qua chính cương của mặt trận. Nhưng cần gì, khi mới nói hờ một câu, tự nhiên người ta đã đồng tình đánh Nhật đuổi Tây?

Mặt trận Việt Minh, chính tôi cũng biết, chỉ là một đảng của riêng một số người, lập ra để theo đuổi những mục đích riêng của họ. Nhưng trong số mục đích của họ có mục đích đánh Nhật đuổi Tây. Và hơn nữa, họ hoạt động có khoa học, có tổ chức nhất trong các đoàn thể lúc bấy giờ. Họ lại nắm được yếu tố quyết định là có bằng cớ có liên lạc với Đồng minh, được Đồng minh tiếp tế võ khí và giao cho nhiệm vụ tình báo kháng Nhật. Họ chụp ảnh sĩ quan Hoa Kỳ đương dự lớp huấn luyện cán bộ, ảnh phi cơ Mỹ thả dù tiếp tế cho chiến khu. Họ in những ảnh ấy vào một tờ giấy lớn gọi là báo “Dân Chủ”, số đặc biệt. Sự tuyên truyền thật hết sức khôn khéo: người ta chỉ tưởng như mình mới biết được một nguồn tin đặc biệt. Người ta không thấy mình bị tuyên truyền trước ảnh chụp, bởi lẽ, theo đại chúng, ảnh chụp chỉ chứng minh một sự kiện có thật, khác hẳn lời tuyên truyền. Đại chúng tin tưởng, gây nên một luồng dư luận hoan nghênh Việt Minh mạnh mẽ. Đến nỗi dư luận này, sau cùng, lại có tác động vào tâm lý của một số người đã biết rõ mấy người Mỹ trên chiến khu chỉ là nhân viên liên lạc để “xem xét khả năng” cuả Việt Minh, ngõ hầu công nhận sự hoạt động của họ sau này. (Sự công nhận đã không có, vì được tin Nhật đầu hàng và một cuộc đổ bộ lên bờ biển Việt Nam không cần đến nữa, mấy sĩ quan Mỹ đã bỏ về bộ Tư lệnh quân đội nước họ ở Côn Minh. Một số về qua Hà Nội, sung vào phái bộ Điều Tra tù binh (Phái bộ Patti, 21-9).

Sự hoan nghênh Việt Minh, vì thế mà lan rộng rất nhanh. Nhanh đến nỗi, ở nhièu vùng, công tác tổ chức đảng viên không theo kịp lòng ngưỡng mộ của công chúng. Người ta thao thức chờ đợi, lần mò tìm kiếm cho được “anh cán bộ” để xin đi theo hoặc để giúp tiền bạc, khí giới.

*

*
Thân ái Trung,

Năm Trung ra đi, có một phút nào chúng ta dám mơ ước rằng một cụ phán già sẽ chia đôi lương hưu trí, một bà chủ tiệm kim hoàn sẽ chia đôi tài sản cho những người sắp đứng lên làm một cuộc khởi nghĩa? Ấy thế mà chính những ai tha thiết với cuộc sống bình thản của họ nhất, sẽ lại là những người hăng hái nhất.
Cuộc khởi nghĩa quả nhiên là một sự quật khởi của những người tư bản, tiểu tư bản và trí thức. Lẽ cố nhiên tôi không định nói tất cả những phần tử tư bản, tiểu tư bản v.v…đã quật khởi, nhưng tôi muốn cho Trung nhận thấy rõ rệt được rằng vừa đây dân ta đã làm được một cử chỉ cao quý về tinh thần nhiều hơn về vật chất.

Tôi không quên chính tôi vừa mới viết “hai triệu người chết đói để tạo ra hoàn cảnh đấu tranh”. Như thế đáng lẽ cuộc khởi nghĩa phải là cống trình cái thành phần xã hội đã có nhiều người chết đói nhất, để giành lại quyền lực về thóc gạo, là vật chất, để không bao giờ bị đói một lần nữa. Cuộc khởi nghĩa đáng lẽ phải là một cuộc khởi nghĩa của đồng bào nông dân vô sản.
Nhưng sự thật không giản dị như vậy. Vì sao? – Có lẽ vì đồng bào ta ở nông thôn chưa ý thức được cái bổn phận của bộ máy nhà nước đối với họ. Trải hàng chục, hàng trăm đời người, kể từ những thời kỳ bị đô hộ tàn bạo nhất đến những thời kỳ tự chủ oanh liệt nhất đồng bào ta ở nông thôn có lẽ không có ai dám nghĩ rằng nếu nhân dân có bổn phận phục tòng chính quyền, thì chính quyền, ngược lại, có bổn phận phục vụ nhân dân.
Tinh thần dân chủ có đâu đã nảy nở được giữa cảnh đồng ruộng? Đồng bào ta, trước năm 1945, chỉ có thể có một chiều suy nghĩ: làm dân là phải tuân phép vua, tuân lệ làng, lúc đó người dân sẽ có quyền được sinh sống và kiếm ăn thong thả.

Năm 1945 chỉ là một năm “khó làm ăn”. Đáng lẽ oán giận chính quyền thu hết thóc, làm cho hai triệu đồng bào của họ phải chết đói, thì những người sống sót lại đi tìm những căn nguyên trực tiếp của từng nạn nhân mà họ quen biết. Chẳng hạn như ông Chánh tổng X. có rất nhiều thóc, nhưng phát chẩn quá tay, đến lúc hết thóc không vay, không đong được ở đâu mà ăn nữa. Chẳng hạn như bà Phó Y. thấy đồng bào trong xã bán ruộng rẻ quá nên bán hết thóc để tậu ruộng, vào tháng Hai, không ngờ đến tháng Tư bà Phó Y. ôm mớ văn tự mà chết đói. Ấy, đại loại mỗi người tìm thấy một hoàn cảnh, một hoàn cảnh trước mắt, để tạo ra một căn nguyên hợp lý cho sự lâm nạn của đồng bào họ sau này. Chính bởi thế mà ngay vụ đói và sau vụ đói người Việt-Nam ở nông thôn không biết đến thủ đoạn tàn ác, ghê gớm của thực dân. Chính cũng bởi thế mà tôi có thể nói quyết với Trung rằng nếu vụ đói năm 1945 quả nhiên có gây ra hoàn cảnh cho tinh thần đấu tranh, thì tinh thần ấy chỉ nẩy nở trong đám người có hiểu biết, có học hành, và được đủ no để biết sợ cái đói. Những người tư sản trí thức.

Thế rồi nỗi niềm phẫn uất, căm hờn, sẽ truyền từ cái nhân tư sản trí thức sang cái quả dân tộc đa số là nông dân. Trung còn lạ gì trạng thái tâm lý của đồng bào nông thôn của chúng ta! Họ là những người còn giữ được tâm hồn trong sạch nhất, lành mạnh nhất trong khối dân tộc. Đúng như tinh thần cổ truyền của đời sống xã hội ta, đồng bào nong thôn thật sự vẫn còn coi trọng đạo đức, lễ nghĩa, và học thức hơn của cải với uy quyền nhiều lắm. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy một bạn điền nghèo túng đương quỵ luỵ tên chủ điền trọc phú. Chúng ta càng dễ thấy nhiều người khúm núm, sợ sệt trước một viên quan huyện hống hách. Nhưng chúng ta biết chắc rằng, một khi ra khỏi nhà tên trọc phú, khỏi công đường của viên quan huyện, tức khắc cái khúm núm, cái quỵ luỵ, cái sợ sệt sẽ biến đi ngay. Và cứ mỗi khi gặp được hoàn cảnh được tự ý lựa chọn một thái độ, nhất là trong cơn nguy biến hay vào những giờ phút nghiêm trọng, người nông dân còn giữ được nhiều phần chất phác kia nhất định sẽ có một thái độ rập khuôn với thái độ của người có đạo lễ, có học hành hay có kiến thức nhất trong thôn xóm.
Trung sẽ bảo tôi: – “Đó là một thái độ khôn ngoan, nhưng đa số quần chúng nước nào mà chẳng khôn ngoan như thế?”. Tôi hoàn toàn đồng ý với Trung. Ý của Trung, hơn nữa, lại giúp cho sự nhận thức của tôi thêm chắc chắn, là một cuộc khởi nghĩa lớn lao của toàn dân, ở đâu cũng thế, ít khi do đại chúng tự động thực hiện được.

Một cuộc khởi nghĩa – hay một cuộc cách mạng – bao giờ cũng có một cơ sở chỉ đạo, một cơ sở lãnh đạo. Cơ sở trước có thể là một người, một nhóm người, hoặc có thể chỉ là một ý chí mãnh liệt chung của một số người. Trong trường hợp chúng ta, cơ sở chỉ đạo khởi nghĩa là một danh vị trừu tượng, là ý chí giành độc lập, diệt ngoại xâm, để tuyết hận cho hai triệu người “tử vì đạo”, và để bảo đảm cho tương lai khỏi trông thấy một vụ oan khốc tầy trời như thế nữa.
Ý chí trên đây là một sự kiện có thật, không thể chối cãi được, giữa tầng lớp tư sản, trí thức của xã hội ta năm 1945. Đánh Nhật, đuổi Tây, giành độc lập… đó là ý chí chỉ đạo. Ý chí lãnh đạo sẽ từ mặt trận Việt Minh mà tới. Tôi chưa muốn vội vã xét đoán đến thiện chí hay những ý định khác của số người mới này. Tôi hãy muốn tách ra một tính chất rõ rệt của họ. Họ là những người có được học tập, được huấn luyện về phương pháp lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa. Họ là những người may mắn nắm được một số lợi điểm: có một chút giao dịch với Đồng minh, có một chiến khu để gọi là nơi đồn trú lực lượng võ trang (mặc dầu, nói cho thật chiến khu [1] của họ không phải tự họ đánh mà chiếm được).

Bao nhiêu hy vọng kháng Nhật đều đặt vào sự thắng lợi của Đồng minh, bởi ai nấy đều biết rằng một đội quân cách mạng ô hợp đâu có dám đương đầu với quân đội Nhật. Đó là lý lẽ khiến một chút giao dịch với Đồng minh có thể giúp cho Việt Minh nắm được hầu hết thành phần quả cảm của giai tầng tư bản trí thức. Có thành phần này, Việt Minh dễ dàng nắm được hầu hết đồng bào cần lao ở nông thôn và thành thị.
Thế là trong thời gian rất ngắn, mặt trận Việt Minh trở nên đoàn thể mạnh nhất giữa các đoàn thể cùng chung một mục đích phục quốc. Cái mạnh của Việt Minh rõ rệt là không chủ ở một tiểu đoàn bộ đội ô hợp, và cũng không chủ ở năng lực cán bộ như theo lẽ thường. Cái mạnh của Việt Minh mạnh ở ngay chỗ địch bỏ một khu vực không chiếm đóng, và ở ngay sự “thăm viếng” của mấy sĩ quan với hạ sĩ quan Mỹ.

Nhưng không ai chối cãi được rằng Việt Minh rất mạnh. Lòng hỏi lòng, một lãnh tụ Việt Minh chắc chắn phải nhận thực lực chủ quan của mình rất yếu: quân đội không đủ đánh một trận rất nhỏ, cán bộ không đủ tung vào một tỉnh hơn một triệu dân (như tỉnh Nam Định).
Thế mà Việt Minh rất mạnh, đối với bất cứ ai ở ngoài nhìn vào, thực lực của Việt Minh là cả một khối hai mươi nhăm triệu người. Trong nhất thời không nói đến chủ nghĩa một cách vội vã [2], Việt Minh chỉ nói đến mục đích trước mắt: giành độc lập. Một tiếng Việt Minh hô “Tiến lên!” thì ở ngay những nơi không có bóng vía một cán bộ, tiếng hô sẽ được hàng trăm, hàng ngàn cái miệng tư sản trí thức nhắc lại, rót vào tai quảng đại quần chúng, trong chốc lát biến thành một cơn bão táp những tiếng hô “Tiến lên!”. Người ta hô “Tiến lên!” để được thoả nỗi lòng thèm khát độc lập, nhưng cứ mỗi lần nhắc lại một tiếng hô của Việt Minh là một lần bồi đắp sức mạnh cho Việt Minh. Người ta vô hình trung biến thành Việt Minh tất cả.
Biết bao nhiêu người lẫn lộn toàn dân với Việt Minh như thế. Một người nhầm làm cho nhiều người bên cạnh nhầm theo. Đến nỗi sức mạnh của toàn dân khi đấu tranh giành độc lập, đáng lẽ chỉ là của toàn dân hoặc là của chung của tất cả những ý chỉ chỉ đạo, thì lại biến thành sức mạnh riêng của Việt Minh. Người người náo nức, thậm chí những đoàn thể cùng một mục đích với toàn dân cũng huyễn hoặc sâu xa, và đương nhiên có Việt Minh là đoàn thể mạnh nhất hồi ấy.

Đó là căn nguyên thứ nhất, nó đã khiến cho những đoàn thể tại thủ đô, khi quân Nhật đầu hàng, nhường (!) quyền ưu tiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa cho Việt Minh. Mặc dầu quân đội Nhật, tuy đầu hàng nhưng còn nhiệm vụ giữ trật tự trong nước, đã tỏ ý rõ rệt sẵn sàng giúp đỡ các đoàn thể quốc gia chống lại Việt Minh, mà người Nhật biết rõ là có chủ trương chính trị quá khích.
Người Nhật không lạ gì thực lực của Việt Minh, dám quyết tiêu diệt thực lực ấy trong vài ngày. Có lẽ cũng có nhiều người biết như thế nhưng người ta e rằng thực lực của Việt Minh tuy yếu kém, mà về tinh thần Việt Minh chính là toàn dân, diệt Việt Minh người ta sợ toàn dân công phẫn, kháng cự.
Người ta đành để cho Việt Minh đòi, và đòi được lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa. Bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một, người ta không biết rằng toàn dân lúc ấy sẽ chỉ ngả về ai giành được độc lập thật sự.

Thành ra có những người có thể đem tài, sức, ra viết những trang lịch sử oanh liệt, thì những người ấy lại thoái lui, sợ lịch sử kết tội tranh giành quyền lợi, làm hại cho công cuộc đấu tranh của toàn dân.
Thành ra ngày 17 tháng 8 vừa rồi, có trọn vẹn ba lá cờ chạy hiệu giữa đám biểu tình của Tổng hội Công chức mà huy động được hơn trăm ngàn người đi biểu tình ngày 19. Rồi lại có không đến ba mươi cán bộ Việt Minh, thụt lại phía sau đoàn biểu tình vĩ đại ấy mà “cướp” được chính quyền ở một nước hai mươi nhăm triệu dân.

Trung hãy nghe tôi tả rõ cuộc biểu tình tổng khởi nghĩa ngày 19 tháng 8.

Người ta bảo nhau, rủ nhau may cờ để đi biểu tình tuần hành. Ít lắm là đoàn biểu tình có một trăm ngàn người: Nếu đi từng nhà, triệu thính từng người, thì cán bộ Việt Minh chỉ tập họp được vài ngàn người. Nhưng không mấy ai được gặp cán bộ. Chỉ cần một người nói lên: “19 tháng 8!”, thế là đủ một truyền mười, mười truyền trăm, đến ngàn, đến trăm ngàn.
Chúng tôi vác cả một rừng cờ đến đợi ở trước nhà Hát Lớn từ bốn giờ sáng. Mãi hơn tám giờ mới có micro với loa phóng thanh. Mấy cán bộ Thành của Việt Minh lên đọc, ngập ngừng, những lời hiệu triệu yếu đuối so với khí thế bừng bừng của chúng tôi đứng nghe. Hơn mười giờ bắt đầu biến biểu tình thành tuần hành “thị uy” về phía Bắc bộ phủ. Ông Khâm sai Phan Kế Toại có lời ước hẹn đầu hàng từ hôm trước, ra đón đoàn đại biểu – các cán bộ – tận ngoài cổng phủ. Tin tức loan truyền, nhanh như chớp: “Đã cướp được Bắc bộ phủ!”.

Người ta đã có quyền hành chính. Bây giờ đi cướp quyền quân sự. Tượng trưng cho quân đội lúc đó là hơn một ngàn Bảo an binh đóng ở trại lính Khố xanh cũ, đường Đồng Khánh. Khi đoàn tuần hành đi đến ngã tư Đồng Khánh, Rollandes, thì các cán bộ đại biểu đi chậm lại rồi mất dạng. Hơn trăm ngàn người dồn nhau, tiến vào sát cổng trại Bảo an. Cổng đóng. Phía trong cổng, hai khẩu súng máy hạng trung và ước độ năm chục binh sĩ, hoặc nằm bên cạnh súng, hoặc nấp mình sau những bức tường cuốn, súng đặt lên vai, nòng quay về phía cổng. Người đi đầu – không có võ khí – trông thấy hai sĩ quan Nhật đứng giữa lính, muốn quay lại. Người phía sau không thấy gì cả, thúc bách nhau tiến lên. Chen chật quá, tay đã co lên không buông xuống được, tay đương thõng không co lên được.
Cứ dồn nhau như thế, đến một giờ rưỡi thì có kẻ xuẩn động ném gạch vào lính Nhật gác ở ngã tư Chợ Hôm, Hàm Long. Lính Nhật nổ súng, hai người bị thương nơi chân. Náo động. Có tiếng hô “Đánh! Đánh!”.

Cuộc biểu tình có thể trở nên lưu huyết. Bộ Tư lệnh Nhật, trong năm phút, phái chiến xa đến chặn tất cả mọi ngả đường vào chỗ đoàn tuần hành. Nội bất xuất… cho đến năm giờ chiều, ngày chớm Thu sắp tàn. Sương bắt đầu xuống. Cờ vác mỏi tay, đã cuộn giấu vào bụng áo. Chiến xa Nhật vẫn chặn đường. Một vài người muốn ra về đều thấy lưỡi lê dí vào bụng. Hoang mang bắt đầu. Phía ngoài hàng rào chiến xa có nhiều người mẹ đi tìm con, nước mắt chạy quanh. Chỉ một nửa giờ nữa là tối. Quân Nhật có thể cho từng người một ra về sau khi, khám xét kỹ lưỡng. Cuộc khởi nghĩa tự nó sẽ tan vỡ.

Nhưng bỗng có tiếng reo lên như động biến. Thì ra trong san trại Bảo an, lá cờ Quẻ Ly vừa hạ xuống, lá cờ của Tổng khởi nghĩa được kéo lên. Chiến xa Nhật mở máy về trại. Hơn một trăm ngàn người xô nhau ra về, mãi đến bảy giờ tối mới tan hẳn. Và người ta xôn xao hỏi nhau: “Sao? Sao?”. Có người nói không xong, có người lại quả quyết rằng mắt thấy hai sĩ quan Nhật bị trói chặt giải đi, và uỷ ban Tổng khởi nghĩa đã chiếm trọn trại lính.
Nhưng sự thật, sự thật muôn đời, là uỷ ban đã bỏ chết đồng bào trước họng súng Nhật. Tôi không hề có ý định, hoặc làm tăng, hoặc đánh giảm giá trị những phe đương sự. Vả lại tôi tin rằng những hành động quyền biến không bao giờ có giá trị vĩnh viễn. Giá trị vĩnh viễn nằm trong khả năng xây dựng của con người.

Tôi thành thực không muốn lịch sử sẽ chép rằng ngày 19 tháng 8 năm 1945, dân tộc ta đã làm một cuộc Tổng khởi nghĩa oanh liệt, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh.
Tôi không bất công, tước bỏ giá trị của Việt Minh trong ngày 19 này, vì thật quả giá trị ấy không hề có.
Tôi càng không có ý làm sút giảm giá trị của toàn dân trong ngày 19 này, bởi giá trị của toàn dân sẽ còn nhiều dịp để bộc lộ. Tôi chân thành nói với Trung như thế.

Trở lại buổi tối hôm Tổng khởi nghĩa, dân trong thành hoang mang cực độ. Ngày hôm sau lại có tin quân Pháp từ Xuân Mai (Hoà Bình) đánh đến Hà Đông. Và đây mới là lúc tôi trông thấy giá trị của người dân Việt hiển hiện thành việc làm: người ta vớ lấy bất cứ một đồ vật gì có thể cầm lên tay mà đập vào đầu hay xuyên vào ngực kẻ thù, người ta phóng xe đạp, bám vào xe hơi, vào tầu điện như những chùm xung, người ta vào Hà Đông chặn giặc. Hàng vạn người đã đi, rồi trở về không: trại Bảo an Hà Đông (dưới quyền chỉ huy của Quản Dưỡng) không chịu theo về chính quyền mới. Có thế thôi.

Thế rồi lặng lẽ luôn mười ngày, chỉ toàn những tin biểu tình cùng những tin lụt lội, lụt to quá ở VĩnhYên, Phúc Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Bình, Hưng Yên. Ngày thứ mười, tức là ngày 30 tháng 9, có tin bộ đội Giải phóng về đến thủ đô. Tiếng đồn có hàng chục ngàn binh sĩ mặc toàn đồ kaki, mang toàn súng máy Mỹ!
Cũng ngày thứ mười, trên các tường nhà xuất hiện lá thư ký tên Nguyễn Ái Quốc. Bức thư với tên ký không gây xúc động gì cả. Người ta đương chờ đợi một cái gì to lớn, Chẳng hạn như tin Đồng Minh công nhận Chính quyền Lâm thời. Cho nên không mấy người sung sướng vì biết Nguyễn Ái Quốc còn sống. Âu cũng là một chứng cớ thêm rằng sự náo nức thật quả bắt nguồn từ chính tấm lòng của mỗi người tha thiết đến Độc lập.

Hôm qua là ngày Tuyên ngôn Độc lập. Một nhân vật mới xuất hiện: Hồ Chí-Minh. Chưa mấy ai nghe tên Hồ Chí-Minh, mà có người bảo là Nguyễn Ái Quốc đấy. Không có bằng chứng gì. Giá có bằng chứng cũng chưa chắc đã gây thêm xúc động. Hoặc giả còn gây ra hoang mang vì tính chất cán bộ Mạc-tư-khoa của họ Nguyễn là khác.

Nói đến xúc động đoạn đầu thư này có câu “hăng hái đến muốn chết ngay cho tổ quốc”, tưởng không nói thế nào hơn được nữa. Giữa vườn hoa Ba Đình (lối vào vườn Bách thú), hằng trăm ngàn người lắng tai nghe ông Hồ đọc bản tuyên ngôn. Lời văn giản dị sáng sủa. Tự bản văn cũng không gây được mấy xúc động. Là vì chúng tôi đã bị kích thích đến cùng độ, ngay từ khi chưa đi hội. Cho nên bản văn không lạ, mà chúng tôi như uống từng chữ một, mỗi chữ lại mát lạnh hay sôi sục trong tâm hồn. Sự việc bên ngoài không theo kịp trí tưởng tượng bên trong của mọi người. Mỗi người đều có một chút hận lòng vừa mới rửa được trong hai chữ Độc lập. Mỗi người đều có một cách riêng để đoán trước xem Độc lập là thế nào. Trong không khí bao dung của mùa Thu có ai còn tiếc gì không thả lòng cho một giấc mơ không ngủ?

Riêng tôi, tôi theo đuổi một ý nghĩ nhất định. Không có bằng cớ gì chắc chắn mà tôi vẫn luôn luôn cho rằng dân Việt thông minh hơn dân Nhật. Đất Việt lại trù phú hơn đất Nhật. Tôi không thấy mình điên rồ, khi tưởng tượng một trận chiến đấu, một trận thắng oanh liệt thì đúng hơn, khi người Việt chống nhau với giống người còn văn minh hơn người Nga. Nghĩa là một trận Lữ Thuận kèm thêm một trận Đối Mã oai hùng. Lai có khi nghĩ đến nước Tầu, đến vua Quang Trung sớm yếu…, rất có thể Việt-Nam độc lập sẽ đòi lại Lưỡng Quảng, mặc dầu đòi hai tỉnh ấy chỉ có nghĩa là nhận nuôi thêm ngót trăm triệu dân đói khát!

Nói thế để Trung ở bên ấy chân trời biết rằng Độc lập là cởi mở cho tất cả mọi tài năng cũng như cho tất cả mọi hy vọng. Không có gì có thể giúp người nước ngoài tưởng tượng nổi thế nào là Việt-Nam độc lập, kể cả lòng yêu nước thắm thiết của từng người. Bởi lẽ Việt-Nam độc lập là thoả mãn được một sự đòi hỏi thầm kín, truyền kiếp – từ khi dân Việt lập quốc, có bao giờ thực sự độc lập như bây giờ đâu!

Nguyễn Kiên Trung (Nguyễn Mạnh Côn)
————————————————

Nguồn: Đem tâm tình viết lịch sử. Nxb. Nguyễn Đình Vượng, Sài Gòn, 1957

[1] Chiến khu Việt Minh lập thành năm 1942, khởi từ hai châu Đình Cả (Thái Nguyên) và Bắc Sơn (Lạng Sơn). Việt Minh có hai trung đội du kích, một do Phùng Chí Kiên (xuất thân trường Hoàng Phố) một do Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Phùng Chí Kiên tử trận và Trung đội Một tan rã ngay năm 1942. Trung đội Hai của Võ Nguyên Giáp bị dồn vào rừng mây, tuyệt lương sắp chết đói hết, thì Nhật đánh Pháp, khiến cho đội quân vây Võ Nguyên Giáp ở Bắc-sơn phải rút đi, chạy trốn qua Bảo Lạc (Hà Giang) sang Tàu.
Người Nhật thay người Pháp chiếm đóng Đông Dương bỏ rơi nhiều khu vực miền núi, không đóng quân. Vì thế Trung đội Hai mới có hoàn cảnh lớn mạnh nhanh chóng, trong vòng bốn tháng từ trung đội biến thành đại đội, rồi thành tiểu đoàn Quang Trung, tức là lực lượng võ trang độc nhất của Việt Minh khi cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu.
[2] Việt Minh chỉ tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản ở những nơi có cơ sở sẵn sàng (như Nghệ-an)..

.

.

.

TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG VĨNH : “MỸ PHẢI LÀM MẠNH HƠN NỮA”

Tháng Tám 31, 2010

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: ‘Mỹ phải làm mạnh hơn nữa’

Lữ Tống/Người Việt

Monday, August 30, 2010

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=118020&z=262

Cần biết: ‘Quan nhất thời, dân vạn đại’

LTS: Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, từng giữ các chức vụ Chính Ủy Khu 1 (1947), Cục Trưởng Cục Tổ Chức Tổng Cục Chính Trị (1950); Chính Ủy Quân Khu 1 (1958), Bí Thư Tỉnh Ủy Thanh Hóa (1961-1964), Ủy Viên Dự Khuyết Trung Ương Ðảng (1960-1976), Ðại Sứ Việt Nam tại Trung Quốc (1974-1989). Ông được biết đến nhiều sau khi lên tiếng chống dự án bauxite và những chính sách của Trung Quốc trong vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa.

———————————-


Lữ Tống (Người Việt – NV):
Là người sống và làm việc lâu năm tại Bắc Kinh với cương vị Ðại Sứ, có bao giờ ông được chính phủ Trung Quốc trưng ra bằng chứng về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Hoàn toàn không! Tôi sống tại Trung Quốc nhiều năm và chưa lần nào nghe họ nói về vấn đề này. Tôi cũng đã nhiều lần lục lạo thư tịch của họ để tìm hiểu xem hai quần đảo này có chủ quyền của họ không, đặc biệt là bản đồ hay những chứng cứ khác, nhưng tôi xác định là không hề có.

Trong khi đó, phía Việt Nam chúng ta có đủ hết nhưng chỉ tiếc những ông lãnh đạo Việt Nam lại không cho công bố ra những tài liệu hồ sơ đó.

NV: Vậy những dữ kiện mà họ nói do Tướng Trịnh Hòa thu thập được khi đến đảo Hoàng Sa thì sao?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Không có nốt. Họ chỉ vẽ ra thế thôi và tôi cam đoan đó chỉ là hàng giả!

NV: Là người theo dõi chặt chẽ chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, xin ông cho biết khái quát những bằng chứng ông cho là có thể đem ra tranh luận với Trung Quốc để giành lấy chủ quyền cho Việt Nam?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Việt Nam có đủ cứ liệu lịch sử. Từ Vua Minh Mạng đã có các đội công tác ra tuần tra khai thác, thực tế là Việt Nam đã quản lý. Bức bản đồ do Tướng Ðặng Chung, Phó Tổng Binh trấn thủ đảo Quỳnh Châu thuộc đảo Hải Nam ngày nay vẽ cũng ghi Hoàng Sa thuộc về An Nam. Còn thư tịch Trung Quốc thì không tìm thấy một cứ liệu nào.

Trên thực tế, thời thực dân Pháp cai trị Việt Nam, quân Pháp đóng giữ Hoàng Sa, thời Việt Nam Cộng Hòa cai trị thì quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ. Chế độ nào thì cũng là Việt Nam. Năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng mạnh hơn, bất ngờ đánh chiếm Hoàng Sa, từ đó đến nay luôn rêu rao là của Trung Quốc. Theo luật biển quốc tế, hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều nằm trong hải lãnh Việt Nam.

Về hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, chúng ta có đủ chứng cứ pháp lý, Trung Quốc thì không. Thế nhưng báo chí Trung Quốc dựng ra hết điều này tới điều khác hòng chứng minh một cách sai sự thật rằng hai quần đảo này là của họ.

Trung Quốc có nhiều hành động công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa và còn “dạy dỗ” chúng ta nên im lặng, không nên đem vấn đề tranh chấp ra ánh sáng vì hòa bình hữu nghị.

Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng mạnh liên tục tấn công chiếm bằng được cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang của Việt Nam?

Hữu nghị, sao lại dùng lực lượng lớn hơn bắn đắm tàu hải quân và giết hại 74 thủy thủ ra tiếp tế cho Trường Sa của Việt Nam ngày 14 Tháng Tư, 1988?

Hữu nghị, sao không trả lại Hoàng Sa cho Việt Nam?

NV: Ông vừa nhắc đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa và những người lính của chế độ này đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa. Theo ông, chính quyền hiện nay có nên công nhận sự hy sinh của họ một cách công khai, nhằm xác định chủ quyền Hoàng Sa của ta đã bị Trung Quốc đánh chiếm không?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi cho rằng đây là một câu hỏi rất tốt. Nó vừa nói lên tinh thần trong ngoài đều là anh em vì cùng là người Việt Nam. Máu của những chiến sĩ này đổ ra là đổ cho tổ quốc, phải tuyên dương, phải xem họ ngang với tất cả liệt sĩ của Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam chứ chưa nói tới việc dùng cái chết của họ để chứng minh chủ quyền của Việt Nam.

Ðây là chân lý, của tôi tôi mới đổ máu bảo vệ chứ! Các anh tới đây giết người cướp đất là chuyện rành rành ra rồi.

NV: Ông cho rằng lãnh đạo Việt Nam nên có những quyết sách cứng rắn hơn với Trung Quốc, thế nhưng, hiện Bắc Kinh đã mạnh lên rất nhiều và cấp lãnh đạo Việt Nam luôn cho rằng giữ hòa bình hữu nghị với láng giềng vẫn tốt hơn đối đầu với họ?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Người dân Việt Nam luôn luôn muốn sống trong hòa bình hữu nghị nhưng hữu nghị cũng phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của tổ quốc. Nếu lãnh đạo không thể lên tiếng công khai vào lúc này thì phải khuyến khích báo chí lên tiếng. Hãy tạo điều kiện để các nhà khoa học đưa ra chứng lý lịch sử. Cứ để cho quần chúng biểu tình một cách hòa bình, phản đối khi quốc gia bị xâm phạm. Lãnh đạo không nên dập tắt tinh thần yêu nước của họ.

Lãnh đạo hiện nay phải biết rằng, “quan nhất thời, dân vạn đại.” Ðiều gì cũng có thể tha thứ, nhưng bán nước hay có thái độ hèn nhát trước ngoại bang, dù bất cứ lý do gì, cũng đều bị lịch sử phê phán và không bao giờ được tha thứ. Các ông lãnh đạo hãy nhớ cho kỹ điều này. Lịch sử đã có nhiều gian thần bán nước. Lịch sử phê phán chúng và lịch sử sẽ lập lại.
NV: Cách đây không lâu, Ðại Sứ Tề Kiến Quốc từng lên tiếng tại Hà Nội, cho rằng hai nước không nên đem chuyện tranh chấp chủ quyền ra một cách công khai, vì làm như thế ảnh hưởng đến tình hữu nghị Việt Trung. Thiếu tướng đã có phản ứng thế nào về những tuyên bố này?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Tôi đã viết một bức thư trả lời ông Ðại Sứ Tề Kiến Quốc về việc này và tôi đã nhấn mạnh đến việc Trung Quốc luôn luôn muốn tấn công Việt Nam nhưng lại dùng mỹ từ để che mắt thiên hạ. Ví dụ, ông Tề Kiến Quốc bảo rằng Trung Quốc không muốn đánh Việt Nam, hay không dám đánh Việt Nam vì điều này điều nọ. Ông nói: “Trung Quốc muốn làm nước lớn có hình ảnh đẹp, không thể dùng thủ đoạn chiến tranh đối với láng giềng.” Ông chỉ nói đúng một nửa. Tôi cho ông ta thấy điều ông ấy nói là gian dối.

Năm 1979, Trung Quốc huy động mấy quân đoàn đánh Việt Nam, tàn phá ba tỉnh biên giới Việt Nam, giết hại vô số nhân dân vô tội. Lại nói là “dạy cho Việt Nam một bài học.” Việt Nam có xâm phạm Trung Quốc đâu? Việt Nam phạm tội gì mà phải dạy, có chăng là tội không tuân phục Trung Quốc, không đáp ứng những yêu cầu vị kỉ của Trung Quốc?

Rồi hai cuộc chiến Trường Sa và Hoàng Sa thì sao? Ai là người tấn công trước và chiếm giữ hai nhóm đảo này rồi vơ vào cho là của mình? Không phải Trung Quốc ư? Thật đúng như người ta từng nói “Ðừng chỉ nghe lời người Trung Quốc nói, hãy xem việc họ làm.”( sic)

NV: Theo kinh nghiệm của ông, đối với vấn đề thương lượng biển đảo cũng như trên đất liền giữa bộ Ngoại Giao Việt Nam và Trung Quốc, thì Việt Nam có lợi dụng được thế mạnh nào để đối phó với họ hay không?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Nói thật ra những người lãnh trọng trách thương lượng với Trung Quốc đa số đều không thông hiểu vấn đề, nhất là những quá trình lịch sử xảy ra trong hàng ngàn năm nên Trung Quốc cứ lấp liếm, cứ lấy sức ép để lấn lướt chúng ta.

Hơn nữa, họ đã có mưu đồ xâm cư Việt Nam nhiều chỗ lắm. Họ nói đàm phán với nhau trên cơ sở hiện tại thôi, và vì đại cục. Nhiều đời lãnh đạo của Việt Nam đã không kiên quyết cộng với việc những người nhận trách vụ thương thảo không hiểu rõ quá trình xâm canh xâm cư của họ nên họ mới lọt vào bẫy của Trung Quốc.

NV: Những biến chuyển vài ngày gần đây khi hạm đội Hoa Kỳ ghé thăm Ðà Nẵng và Ngoại Trưởng Hillary Clinton tuyên bố không đứng bên ngoài nhìn Trung Quốc lũng đoạn Biển Ðông. Những sự kiện như vậy có làm cho Việt Nam vững niềm tin hơn khi thương thuyết với Trung Quốc?

Nguyễn Trọng Vĩnh: Dĩ nhiên đây là tín hiệu hết sức đáng lạc quan vì ít ra Việt Nam cũng an tâm rằng quốc tế hóa vấn đề Biển Ðông sẽ dễ dàng hơn cho Việt Nam. Tôi dám tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ nổi giận và sẽ có thái độ phản kháng. Chúng tôi nghĩ rằng Mỹ phải làm mạnh hơn nữa mới giảm được ý đồ bá quyền của Trung Quốc được.

NV: Xin cám ơn ông.

—————————–

Bình luận :

Ngày xưa đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào

Ngày nay lại rước Mỹ vào hoan hô!

.

.

.

VIỆT NAM : TỪ ĐỜI SỐNG VỈA HÈ ĐẾN BÁO CHÍ, VĂN HỌC …NGOÀI LUỒNG

Tháng Tám 31, 2010

Việt Nam- Từ đời sống vĩa hè đến báo chí, văn học…ngoài luồng!

Song Chi

Sun, 08/29/2010 – 20:51

http://www.rfavietnam.com/node/281

.

MƯU SINH TRÊN LỀ ĐƯỜNG

Lúc còn ở Việt Nam, nhiều lần tôi được nghe nhiều người nước ngoài nhận xét về những ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với họ khi lần đầu tiên đặt chân đến những thành phố lớn của Việt Nam. Hầu hết đều nói về giao thông – ai cũng kinh ngạc vì vì số lượng xe gắn máy tràn ngập trên đường phố và mức độ giao thông hỗn loạn của Sài Gòn, Hà Nội. Nhưng có người nói thêm, họ rất ngạc nhiên và thú vị với mật độ buôn bán dày đặc trên các lề đường của Sài Gòn, Hà Nội và một số thành phố khác.

.
Từ khi nhà nước mở cửa về kinh tế, người dân bắt đầu lao vào con đường kiếm tiền. Ở Sài Gòn, Hà Nội và một số thành phố khác bây giờ hầu hết mọi con đường đều trở thành khu phố buôn bán và dịch vụ. Có những con đường mà mỗi mét vuông từ nhà cho đến lề đường đều san sát hàng quán, chen chân không lọt! Ai may mắn có nhà mặt tiền thì trổ cửa, cơi nới, sửa sang thành những cửa hàng, văn phòng, quán ăn, café bar…, ai không có nhà thì ra lề đường bán hàng rong, làm dịch vụ các loại. Ở đây tôi không định nói đến những ngôi nhà mặt tiền trở thành những cửa hàng, tôi muốn nói đến cái lề đường trong đời sống kinh tế của người dân đô thị ở Việt Nam dưới thời “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

.

Phải nói rằng cái lề đường đó đã cứu đói cho hàng triệu người dân Việt Nam trong những hoàn cảnh khác nhau nhưng đều giống nhau ở một điểm là không thể chen vào hoặc không thể sống được trong hệ thống kinh tế quốc doanh của nhà nước và cũng không thể trông đợi gì ở sự hỗ trợ của nhà nước: đó là những người dân đô thị nghèo không có nghề nghiệp, sinh viên học sinh đi bán hàng rong kiếm tiền thêm, người già về hưu, kể cả người còn đang làm cho công ty nhà nước nhưng đồng lương chết đói phải “chân trong chân ngoài” cho đến người nông dân ở miền Tây, miền Trung, vùng sâu vùng xa… không sống nổi, dạt lên thành phố và ra lề đường bán buôn…Một gánh xôi nhỏ bé hay một xe bánh mì với lưng vốn không bao nhiêu, nhiều khi là sự sống của cả một gia đình năm, bảy, chục miệng ăn. Đã có những câu chuyện cổ tích thời nay về người mẹ bán xôi nuôi cả đàn con vào đại học. Đã có những vùng quê mà cả làng kéo nhau vào Sài Gòn rồi cùng ra đường bán một thứ hàng rong giống nhau như mì gõ, chè đậu hũ nước dừa, bắp xào…

.

Có những dạo nhà nước ra chiến dịch làm sạch lề đường, truy quét không cho ai buôn bán gì, thậm chí có hẳn Nghị định 36 về vụ trật tự lề đường này, nhưng dẹp đầu này người ta chạy sang đầu kia, hoặc đang bán thấy xe công an đến thì gom mọi thứ chạy, công an đi qua thì lại bày ra…cứ như cóc bỏ đĩa, nhiều lần như vậy cuối cùng nhà nước đành chịu. Mà chịu không giải quyết nổi là chuyện hiển nhiên, khi đất nước còn nghèo, nền kinh tế chưa đủ mạnh mà hệ thống cơ quan nhà nước, công xưởng… lại chưa có đủ công việc cho mọi người và cũng không đủ sống, thì người dân phải ra đường tự nuôi mình thôi. Gần đây nhất, năm 2008 Hà Nội ra Quyết định 02 về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn Hà Nội, có hiệu lực từ 19/1/2008 , cấm bán hàng rong, chợ rong…cho sạch phố phường-đó là suy nghĩ theo kiểu duy ý chí và bất cập về nhân văn trong chính sách. Bởi, nhà nước không cho dân nghèo buôn bán thì liệu có kiếm được hàng trăm ngàn, hàng triệu việc làm khác cho họ sống không, hoặc có sự hỗ trợ nào cho họ trong thời gian tìm công ăn việc làm khác không? Thực tế cho thấy Hà Nội đã không làm được. Tình trạng vi phạm ở nhiều tuyến phố lại tiếp diễn cho đến nay, cứ mỗi lần nhân dịp gì đó ví dụ như dịp đại lễ Thăng Long 1000 năm sắp đến, Hà Nội lại tung quân ra dọn dẹp, tái khởi động chiến dịch lập lại tuyến phố “văn minh đô thị”. Chỉ là những cách làm hình thức, phong trào, mà gốc rễ của vấn đề thì không giải quyết được.

.

NHÀ NHÀ KIẾM THÊM, NGÀNH NGÀNH PHÁT TRIỀN NGOÀI LUỒNG

Ngay từ thời bao cấp người dân Việt Nam cũng đã phải “chân trong chân ngoài”, vừa đi làm cho nhà nước vừa “chạy chợ”, nuôi heo, may gia công…kiếm thêm hoặc trong nhà có hai lao động chính thì phân công nhau, chồng/vợ bám nhà nước để lấy tiêu chuẩn công nhân viên, có tem phiếu, con cái dễ đi học khi lý lịch có ba hoặc mẹ là công nhân viên (thời đó tâm lý phải có công ăn việc làm trong hệ thống nhà nước còn rất nặng nề), còn người còn lại “hy sinh” bỏ ra ngoài mưu sinh. Đến giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường, tình trạng người dân bỏ nhà nước đi làm cho tư nhân hoặc làm nghề tự do ngày càng trở nên bình thường. Còn các ngành nghề thì đua nhau phát triển kinh tế phụ, tìm cách tăng thêm thu nhập cho nhân viên và tăng nguồn thu cho cơ quan, công ty. Sẵn mặt bằng cơ quan rộng rãi, tha hồ cắt xén cho thuê hoặc làm chuyện khác, từ mặt tiền cho đến khuôn viên cơ quan bị che chắn, sửa chữa thành ra lôm côm, chật hẹp, trông không ra làm sao. Chưa kể có những cơ quan, công ty cho thuê làm những dịch vụ rất trái với ngành nghề của mình, tạo ra những hình ảnh trái ngược, tréo ngoe, phản cảm, và ảnh hưởng đến không gian yên tĩnh cần thiết để làm việc.

.
Cuối cùng, đối với người dân, cái chân ngoài lại dài hơn chân trong, nghề tay trái lại nuôi nghề tay phải, người đi làm chỉ dành một phần thời gian, tâm huyết cho cái công việc đang ăn lương còn lại dành cho cái công việc bên ngoài kia. Thầy giáo chỉ mong hết giờ để về nhà dạy thêm, bác sĩ mong hết giờ để còn về cái phòng mạch tư ở nhà, dân văn phòng nhất là các loại văn phòng nhà nước của Bộ này Cục kia Viện nọ thì lại càng nhàn rỗi, việc ít, 8 giờ đi làm mỗi ngày trong đó nào uống trà, tán gẫu, đọc báo, “nấu cháo” điện thoại…mà vẫn thừa giờ, việc ít thì lương ít, không làm thêm làm sao sống. Từ đó tạo ra tâm lý “ngoài luồng”, không hết lòng gắn bó với công việc chính cơ quan chính, mà đã không hết lòng thì chỉ làm cho qua, đâu có bận tâm tìm cách cải thiện, thay đổi, phát triển cho nó tốt hơn? Thêm vào đó, người dân phải mất quá nhiều thì giờ cho việc mưu sinh thêm thì không còn sức lực, đầu óc đâu để tập trung vào chuyên môn nữa.

.
Đối với các cơ quan, công ty, cho đến bệnh viện, trường học…nhà nước, vì chạy theo lợi nhuận, nguồn thu nhập phụ trở nên quan trọng hơn nên nhiều khi cũng cùng một cơ quan, một bệnh viện đó mà khách hàng hoặc bệnh nhân đến làm việc ngoài giờ thì được đối xử khác hẳn, điều kiện vật chất, cách chăm sóc, giải quyết vấn đề…mau mắn, tốt hơn hẳn. Các cơ quan, công ty, bệnh viện vì thế mà bên trọng bên khinh trong cách làm việc, phục vụ…nhân dân giữa người có tiền đến với các dịch vụ tư và người không có tiền. Ngược lại, người dân thì sẽ có tâm lý chỉ cần có tiền là mọi thứ sẽ khác, có tiền là có tất cả.

.
Có thể suy ngẫm rất nhiều điều từ một xã hội với đường hướng phát triển như vậy. Một mặt, nó cho thấy hệ thống “dòng chính” chưa phát triển đạt yêu cầu của xã hội. Ví dụ như trong giáo dục: tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan ngoài lý do “tăng thu nhập” cho thầy cô và nhà trường như đã nói ở trên, còn chứng tỏ nền giáo dục chính thống ở trường chưa thật tốt bởi vì nếu một nền giáo dục đạt chất lượng, đủ làm cho các bậc phụ huynh an tâm thì họ đâu có phải tốn tiền chạy vạy ngược xuôi cho con em đi học thêm và trẻ em Việt Nam đâu có phải đi học lu bù mệt phờ từ sáng đến tối như vậy?

.
Một quốc gia mà còn nhiều người dân không chen được vào hoặc không sống nổi trong hệ thống công ty, cơ quan, nhà máy…và phải ra đường, bám lấy cái lề đường mà sống chứng tỏ nền kinh tế của quốc gia đó còn nhiều yếu kém, chưa ổn định, nền công nghiệp và dịch vụ cao chưa phát triển. Còn trong hệ thống công ty, cơ quan, nhà máy…khi đồng lương không đủ sống thì hàng ngàn sự tiêu cực sẽ phát sinh như tệ quan liêu, thói hành dân cho…bõ ghét, nạn hối lộ, tham nhũng…Thực tế ở Việt Nam trong suốt bao nhiêu năm qua đã cho thấy điều này.

.

ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ TÂM LÝ “NGOÀI LỀ, NGOÀI LUỒNG”

Không chỉ kiếm sống ngoài lề, trong đời sống tinh thần và nhiều khía cạnh khác của xã hội Việt Nam hôm nay cái tình trạng ngoài luồng, ngoài lề đang tồn tại khắp mọi lĩnh vực. Có những cái ngoài luồng, ngoài lề là dấu hiệu tiêu cực của xã hội nhưng ngược lại, là sự tích cực, là hy vọng le lói cho một xã hội còn bị kiểm soát bởi một thể chế độc tài. Ví dụ như tình trạng văn học nghệ thuật ngoài luồng (đặc biệt ở Sài Gòn, một nền văn học ngoài lề, ngoài luồng đang âm thầm mãnh liệt tồn tại nhờ vào internet và những “nhà xuất bản” photocopy) và báo chi ngoài luồng, mà nhiều người quen gọi là báo chí “lề trái”, đặc biệt là sự phát triển của các trang web độc lập, các blog cá nhân…là những điều tích cực.
Văn học nghệ thuật ngoài luồng đã giúp cho những tiếng nói đa dạng, cách tân, trái chiều…với văn học nghệ thuật quốc doanh chịu sự định hướng, kiểm soát, kiểm duyệt của Đảng và nhà nước, được cất lên. Báo chí “lề trái” cung cấp luồng thông tin độc lập, tự do đến với người dân, giúp họ nhận ra những sự thật đã bị bóp méo, bưng bít, che dấu suốt bao nhiêu năm qua và vẫn đang bị bóp méo, bưng bít, che dấu…trong hiện tại -lợi ích và sức mạnh to lớn này đã quá rõ ràng.

Nhưng dù sao đi nữa, sự thật là trong một xã hội với một thể chế chính trị tự do, dân chủ, cho phép mọi sự tồn tại đa dạng, đa diện, trái chiều, với một hệ thống luật pháp rõ ràng minh bạch và một hệ thống kinh tế phát triển lành mạnh, chặt chẽ thì về kinh tế, sẽ không còn nữa tình trạng người dân phải tự cứu mình hoặc “chân trong chân ngoài”, về đời sống tinh thần, báo chí truyền thông cho đến văn hóa nghệ thuật sẽ không có sự phân biệt ngoài luồng, lề trái hay lề phải như hiện nay. Và đó mới là điều mà người dân Việt Nam đang hướng đến cũng như đáng được hưởng trong một thế giới mà hầu hết các quốc gia khác đều như vậy.

songchi’s blog

.

.

.

Tạp Chí PHÍA TRƯỚC Số 37

Tháng Tám 31, 2010

TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC Số 37

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN CỦA VIỆT NAM SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

Tháng Tám 25, 2010

http://phiatruoc.info/wordpress/2010/08/tcpt37-n%e1%bb%81n-kinh-t%e1%ba%bf-th%e1%bb%8b-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-d%e1%bb%8bnh-h%c6%b0%e1%bb%9bng-xhcn-c%e1%bb%a7a-vi%e1%bb%87t-nam-s%e1%ba%bd-di-v%e1%bb%81-dau/#more-1883

.

Tải TCPT37 – Bản High Def (6MB)
Tải TCPT37 – Bản Standard (4MB)
Tải TCPT37 – Bản Mini (3MB)

.

Quý độc giả thân mến,

Tháng 8 vừa qua đã có nhiều sự kiện xoáy quanh các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Trong đó, chuyến viếng thăm của Hạm đội 7 USS George Washington và USS John S. McCain nhân kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Viêt-Mỹ đã được thế giới đặc biệt theo dõi.

Tháng 8 cũng là những ngày sôi sục dư luận về Tập đoàn Vi- nashin. Việc can thiệp của Nhà nước vào sự vận động của các doanh nghiệp quốc doanh, điển hình là khi quyết định giải cứu Vinashin, sẽ khiến Việt Nam mãi mãi là thành viên loại hai của WTO*. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì với quy chế của một nền kinh tế phi thị trường, doanh nghiệp nhà nước Việt Nam gây bất lợi cho bao doanh nghiệp tư nhân đang gắng sức cạnh tranh để có được nền kinh tế tự do công bằng.

Lĩnh vực kinh tế quốc doanh đã trở thành một gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam vì chỉ làm giàu cho một bộ phận nhỏ mà gây khó khăn cho bao doanh nghiệp khác. Nền kinh tế thị trường Việt Nam cần dũng cảm từ bỏ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” để tạo sân chơi công bằng cho mọi doanh nhân, cũng là để tạo cơ hội mới cho đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Điều này ai cũng biết, nhiều người đã nói – nhưng bao giờ mới được tiến hành?

PHÍA TRƯỚC số 37 giới thiệu đến quý độc giả những bài viết liên quan đến “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam và những bất cập, mâu thuẫn trong nền kinh tế hiện tại. Thiết nghĩ, nếu cứ tiếp tục thì nền “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam sẽ đi về đâu?


Ban Biên Tập
Tạp chí Thanh Niên PHÍA TRƯỚC
Tháng 8/2010

* http://www.pctn.binhthuan.gov.vn/pages/home.asp? p=xem&g=1&n=1&m=3&j=4157

.

.

.

TƯỚNG ĐI ĐÊM

Tháng Tám 31, 2010

Tướng đi đêm

Trần Nhu

31/08/10

http://www.vn.net/article.php/20070301165053754

 

Tặng bà Bích Hà, phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

.

Ngày 19 tháng 5, trong khi mọi người đang uống rượu sâm-banh ở dinh Chủ tịch mừng sinh nhật bác Hồ, thì ở nhà riêng, Lê Đức Thọ gọi điện thoại cho em ruột của y là Mai Chí , Đại tướng ngành Công an, bộ trưởng Bộ Nội Vụ, yêu cầu hắn liên lạc với tướng Võ Nguyên Giáp, về việc chuẩn bị đi sứ sang nước Tầu.

 Trong khi Giáp đang điên đầu về cái chết của hai viên Đại tướng là Lê Trọng Tấn và Hoàng Văn Thái, cùng với việc mật vụ của anh em Thọ bắt bớ hàng loạt các sĩ quan cao cấp trong Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu. Tinh thần tướng Giáp xuống thấp một cách tệ hại. Mấy đêm qua ông không ngủ. Ông lấy thuốc an thần uống một liều cực nặng “ba viên” định vào giường nghỉ, thì lại có tiếng chuông điện thoại reo rát tai. Ông cầm ống nghe. Đầu bên kia, vẫn giọng nói quen thuộc. Mặc dù biết nó đấy! Ông vẫn hỏi:

 – Ai? Xin cho biết quý danh?

Đầu bên kia:

- A lộ.. Kính chào Đại tướng, tôi Mai Chí Thọ đây.

- À! Ra ông Bộ trưởng.

- Đại tướng khỏe chứ?

- Vẫn thường thôi.

- Tôi có việc cần muốn thảo luận với Đại tướng.

- Có việc gì, xin ông cứ nói thẳng?

- Vâng, thưa Đại tướng: theo yêu cầu của Bộ Chính Trị, muốn Đại tướng qua thăm hữu nghị Bắc Kinh, nhân dịp họ tổ chức Thế Vận Hội Á Châu.

- Ồ! Xin lỗi ngài Bộ trưởng. Tôi hiểu rồi. Xin ông thứ lỗi cho. Tôi không thể đi đâu trong lúc này. Nhưng tôi muốn biết đây là ý kiến của Bộ Chính Trị, hay của ông Lê Đức Thọ?

Mai Chí, dịu giọng xuống:

- Thưa Đại tướng, đây là vấn đề chung của Đảng.

- Nhưng tôi muốn biết ai đề xuất ra sáng kiến này?

Đầu bên kia:

- Dĩ nhiên ông Thọ.

Giọng bực dọc, Giáp nói:

- Liệu có điều gì xảo trá trong đề nghị đó không?

Mai Chí phân bua:

- Thưa Đại tướng, tôi không nghĩ như vậy. Đó là sáng kiến xây dựng.

Giáp chua cay:

- Tất cả sáng kiến của ông Thọ đều hay. Những gì ông ta làm từ trước đến nay đều tốt. Tôi thành thật khen ngợi ông Thọ. Tôi không có sáng kiến về ngoại giao. Nhưng tôi không thể tuân lệnh ông ta trong việc đi Bắc Kinh. Tôi nghĩ, việc quan hệ với họ lúc này không thuận lợi, không đẹp, và không quan trọng.

 – Thưa Đại tướng! Quan hệ với Bắc Kinh thời điểm này có một tầm quan trọng thiết yếu hơn với các quốc gia khác. Và Đại tướng nên hiểu rằng trước sau ông Thọ và tôi đều một lòng vì đảng, vì dân. Tôi tin ông Thọ cũng như tôi, không có động cơ nào khác, ngoài việc phục vụ quyền lợi chung của Đảng. Nỗi lo lắng duy nhất của ông ấy là sự tồn tại của chế độ.

 Giáp cũng xuống giọng:

- Người Tầu đâu có ưa gì tôi. Nên quan hệ với họ rất khó khăn. Họ còn cay cú về cuộc chiến tranh ở Căm-Bốt, và cuộc xung đột với ta, ở biên giới mấy năm trước.

Mai Chí:

- Tôi nghĩ, dĩ vãng và hiện tại luôn luôn khác nhau, nó phải biến chuyển theo con đường của nó, theo đà của nó đến các mục tiêu, trên nguyên tắc mở đường cho việc bình thường quan hệ ngoại giao giữa hai đảng trước kia căng thẳng. Và nhân đây tôi cũng cho Đại tướng biết: ông Thọ vừa đi Moscow về nói cho tôi hay. Nội bộ Điện Kremlin có thay đổi khi Gorbachev lên nắm quyền. Tay này giọng điệu y hệt Khruchev, cũng điên cuồng chống Stalin. Và có vẻ nguy hiểm hơn nhiều trong quan hệ đối ngoại, và đối nội. Nên việc gây dựng ý nghĩa quyền lợi chung giữa ta và Trung Quốc có thể lập lại quan hệ thân hữu càng sớm càng tốt, càng có lợi. Tôi mong Đại tướng chia xẻ nhận định này, trách nhiệm đặt lên vai Đại tướng rất lớn, trách nhiệm trước Đảng, trách nhiệm trước lịch sử. Vậy một cử chỉ hòa giải trong chuyến đi của Đại tướng là một bước ngoặt có ý nghĩa…

 – Tôi đã nghỉ hưu. Tôi không đại diện cho Đảng, Chính Phủ, Quân đội cũng không. Tôi không hiểu sao tôi phải đi Bắc Kinh? Tôi không thể… Tôi không muốn. Giáp nói chậm.

- Ông Thọ và Bộ Chính Trị đều biết khó khăn… Nhưng Đảng không cần gì khác, ngoài sự có mặt của Đại Tướng trong Đoàn Thể Dục Thể Thao của ta đi dự Thế Vận Hội Á Châu.

- Thế thì cần gì đến tôi. Giáp nói.

Mai Chí:

- Không, theo ông Thọ cho biết; nhân dịp này Đại tướng có thể gặp gỡ một số yếu nhân trong Chính trị Bộ Trung Quốc. Chuyến đi này rất quan trọng. Đảng khẩn thiết yêu cầu Đại tướng đị.

- Cụ thể về vấn đề gì? Giáp hỏi.

- Đề nghị hợp tác… bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Tôi thấy rất gay go.

Mai Chí:

- Họ đã nhắn tin… và chìa tay… Ông Thọ đã bắt được tín hiệu… rất tốt đối với tình thế hiện nay, hơn nữa nó cũng nằm trong lĩnh vực quan tâm hàng đầu của Đảng.

Võ Nguyên Giáp:

- Tôi là tướng! Khó nói chuyện với họ về những vấn đề tế nhị như thế. Nhưng tôi biết một người có thể làm được. Ông ta thừa uy tín, có khả năng. Đó là Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mai Chí xỗ sàng:

- Vô tích sự! Ông ta mù lòa, đui điếc, nói năng lẩm cẩm quá đáng rồi, để ông ấy đi, ông ấy sẽ bán cả nước.

- Vậy thì, ông Đỗ Mười, là hợp lý nhất.

- Lại càng tệ hơn. Không thể được, hắn điên nặng, ai chẳng biết.

 Vẻ khó chịu, thay đổi hẳn thái độ. Mai Chí nói xẵng giọng như ra lệnh:

- Đại tướng phải đi. Tôi nói vắn tắt, thẳng thừng như vậy đó. Ông Thọ bảo thế. Hắn nhấn mạnh.

- Tôi cũng cho ông và ông Thọ biết. Tôi không đi đâu cả.

Mai Chí phớt tỉnh hỏi lại:

- Đại tướng có muốn trực tiếp gặp ông Thọ không? Và có yêu cầu giúp đỡ gì trong chuyến đi Bắc Kinh sắp tới không?

- Đã nói, tôi không đi.

Mai Chí:

- Xin ngài lưu ý. Đây là chỉ thị của ông Thọ. Không có viện dẫn lý do gì hết. Việc đã sắp xếp như vậy rồi.

 Ý muốn sắt đá của Thọ được áp dụng trên tất cả bình diện cả về đời sống tư riêng của các ủy viên trung ương Đảng! Và độc quyền đàn áp chính trị là một phương thức để giữ quyền hành và duy trì trật tự trong Đảng. Về phương diện đặc biệt này, Thọ khác với Mafia, Mafia chỉ ở mức độ nào đó thôi chớ không phải tuyệt đối.

 Võ Nguyên Giáp, hiểu lệnh của Thọ, tức là luật, nếu từ chối y sẽ lãnh đủ… Giáp bị kẹt và hết cách thoát, y ấp úng. Sự tự tín của y đã tan biến đi đâu mất rất nhanh và giọng nói của y tự nhiên thiếu hẳn âm thanh quyết liệt:

- Anh nói với ông Thọ. Tôi cần thời gian suy nghĩ. Tôi chưa thể đi.

- Nếu vậy thì Đại tướng cần phải gặp ngay ông Thọ.

- Thôi được, để tôi sẽ gặp ngay ông ấy, nói chuyện.

- Tôi đề nghị, thứ ba tuần tới, Đại tướng gặp ông Thọ, ở Trụ sở Đảng số 4 Nguyễn Đức Cảnh.

- Tôi không muốn đến Trụ sở Đảng

- Thế ở đâu? Mai hỏi.

- Nếu ông Thọ, vui lòng đến nhà tôi, hoặc tôi thân hành đến nhà ông ấy cũng được.

- Tôi sẽ làm theo lời yêu cầu của ngài, nói lại việc này với ông Thọ. Giáp chưa biết có nên nói gì thêm, thì đầu bên kia gác máy.

 Trước khi tướng Giáp ra xe đi đến nhà Thọ, cả nhà như giữ một sự im lặng dày đặc. Vợ ông bà Bích Hà, cuối cùng thốt lên lời cảnh cáo, là phải hết sức cẩn thận khi nói chuyện với Thọ. Và nhớ đừng có nhận lời đi Bắc Kinh, nó sẽ làm nhục ông đấy.

- Bà yên tâm đi. Ông nói:

- Tôi sẽ không đi đâu hết. Tôi sẽ…

- Thì tôi bảo ông phải cẩn trọng, mà bao nhiêu lần nó làm nhục ông rồi! Nhưng những cái nhục đó cũng không đáng kể đâu.

- Thì cái nhục gì đáng kể, bà nói tôi nghe ?

- Không những nhục mà còn là tội tầy đình.

- Tội gì ?

- Tôi hỏi ông, việc để mất Hoàng Sa, Trường Sa không phải trách nhiệm của ông sao ?

- Không.

- Thế ông làm tướng để làm gì ? Và còn những ai trách nhiệm nữa ?

- Bà không biết việc này, chính cụ Hồ khi họp Bộ Chính Trị vào ngày mùng 7 tháng 9 năm 58 bàn về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa, cụ nói: “Các đồng chí Trung Quốc đã giúp ta từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi là nhờ ở họ. Nay họ muốn một vài hòn đảo nhỏ, sao có thể từ chối ? Vả lại, mảnh đất hoang dã ấy chẳng có gì ngoài cứt chim…”

- Đồ ngu, tôi muốn ỉa vào mặt nó, nợ thì trả, còn đất đai sông núi tổ tiên ta đổ xương máu ra để bảo vệ, gìn giữ. Không một cá nhân nào, một tập đoàn đảng phái nào có quyền sang nhượng cho nước ngoài.

Sử ghi: “Năm 1470, tình hình biên giới Tầu-Việt có phần căng thẳng. Vua Lê thánh Tông cho hội quân ở Lục Đầu Giang để biểu dương sức mạnh quân sự. Vua tuyên bố đanh thép: Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại. (Trời Nam ngàn năm núi sông vẫn còn). Và đến năm 1473, trong lời dụ quan Thái Bảo Kiểm Dương với Lê Cảnh Huy được cử tiếp sứ Tầu, Vua còn tỏ ra cương quyết hơn nữa: “Các ngươi nên nhớ rằng, một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ. Ngươi phải cương quyết tranh biện. Chớ có cho giặc lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc, trình bày rõ điều hơn lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước sông, một tấc đất của Thái tổ làm mồi cho giặc thì phải tru di.”

” Đó là sử Việt, sử Tầu. Ngày xưa cũng ghi. Mạo Đốn cướp chính quyền, tự lập nước Đông Hồ ở phía đông, nước Nguyệt Thị ở phía tây Hung Nô đều tương đối lớn mạnh, vua Đông Hồ sau khi nghe Mạo Đốn giết cha tự lập, đã cử sứ giả nói với Mạo Đốn: muốn được ngựa Thiên lý của Đầu Mán. Mạo Đốn và quần thần họp nhau thương nghị việc này. Các quần thần nói: “Thiên lý mã là ngựa quý của Hung Nô, không thể cho” Trái ngược lại, Mao Đốn nói: “Vì cớ gì lại yêu một con ngựa hơn một nước láng giềng?” Thế rồi liền đem Thiên lý mã biếu cho vua Đông Hồ. Vua Đông Hồ cho rằng Mạo Đốn sợ sệt Đông Hồ.

Không lâu lại gửi sứ giả tới nói với Mạo Đốn, muốn được người vợ yêu của Mạo Đốn là nàng Át Thị. Mạo Đốn lại triệu tập quần thần tới thương nghị. Các quần thần đều phẫn nộ, bực tức vô cùng nói: “Đông Hồ vô đạo, ngông cuồng muốn cướp vợ yêu của Đan Vu tạ. Xin cho được tấn công đánh nước chúng.” Mạo Đốn lại nói: “Vì cớ gì mà lại yêu một người đàn bà hơn một nước láng giềng.” Nói xong liền đem Át Thị dâng lên cho vua Đông Hồ. Vua Đông Hồ càng thêm kiêu ngạo, cảm thấy Hung Nô nhu nhược đáng khinh. Do đó, không ngừng xâm phạm ở phía tây. Lúc đó, giữa Đông Hồ và Hung Nô có một “mảnh đất bỏ hoang” ước khoảng hơn một ngàn dặm, cả hai bên đều không có sự quản lý thực tế. Vua Đông Hồ lại sai sứ giả đến nói với Mạo Đốn: “Mảnh đất bỏ hoang này, Hung Nô các người cũng chẳng có năng lực khống chế, ta muốn chiếm giữ nó.”

 Mạo Đốn lại trưng cầu ý kiến quần thần. Có người chủ trương không cho. Có người cho rằng: “Mảnh đất bỏ hoang đó bỏ đi chẳng có tác dụng gì, cho Đông Hồ cũng được.” Mạo Đốn bỗng nhiên vô cùng bực tức nói: ” Ngựa quý có thể cho, gái đẹp có thể dâng. Còn đất đai là nền tảng của quốc gia, sao lại có thể cho nước khác được ?” Tức thì đem toàn bộ số đại thần cho rằng nên biếu “mảnh đất bỏ đi” cho Đông Hồ, lôi ra chém đầu hết. Ông thấy chưa ? Chuyện “mảnh đất bỏ đi” đâu khác việc dâng đảo Hoàng Sa, Trường Sa chúng nó đều đáng đem chém hết.

 Người Tầu đâu chỉ muốn một vài hòn đảo. Họ muốn cả nước ta.

- Xin bà nói nhỏ, đủ nghe thôi. Nguy hiểm quá.

- Các ông làm cách mạng mà không chịu xem sử. Cả ông nữa. Tôi kể cho mà nghe: Ngày xưa sử Tầu có ghi,

- Thôi! Tôi mệt muốn chết, trong mấy đêm qua tôi không ngủ. Nói thế là đủ rồi.

Một sự căng thẳng dâng lên trong lòng bà. Lại càng căng thẳng hơn nữa, khi xe ông rời nhà. Lúc ấy là vào khoảng 10 giờ sáng thứ ba. Có thể hơn thế một chút. Chiếc xe hơi ZIS đạn bắn không thủng của Liên Xô chế tạo đã đưa tướng Giáp đến nhà Thọ. Trong khi đó vợ ông nằm soài giữa giường. Hơi thở đứt quãng, nói một mình: “Tôi không thể sống nổi nữa rồi. Mất mặt quá! Không chịu được.”

Nhưng bà tự tử, các con sống thế nào? Tình trạng sức khỏe không đến nỗi. Điều đau đớn nhất cho bà là cảm thấy nhục nhã và mất mặt! Mà tự tử thì chẳng hay ho gì. Ưu tư đến suốt ngày hôm ấy bà cứ nằm riết trên giường. Đương nhiên là chờ ông về.

 Có tiếng động cơ xe hơi ở đằng sau nhà. Thọ bảo tên cận vệ:

- Có tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm tao.

Lập tức cửa được mở ra bởi một vệ sĩ, có đôi mắt cú vọ, và đôi lông mày của một tên giết mướn. Thọ đứng đón Giáp ở ngoài bao lơn. Giáp cười, nhưng cái cười gượng gạo, cười không có nội dung, không có phương hướng. Cái cười vớ vẩn, phó mặc số phận. Sắc mặt âm thầm ủ dột cùng với nỗi căm giận sâu kín. Thọ cũng cười, cái cười nham hiểm chết người. Hắn chìa tay ra:

- Hân hạnh, rất hân hạnh được Đại tướng chiếu cố đến nhà thăm tôi.

Tướng Giáp ngắt lời:

- Tôi đến đây với danh nghĩa cá nhân, trái với những gì ông có thể nghĩ. Bởi tôi đã hồi hưu không còn chút quyền gì trong Đảng, cũng không có ai ủy nhiệm.

Vẫn cái tật, chỉ tay lên trán, nụ cười nửa miệng, Thọ nói:

- Thì ta hãy ngồi với nhau nói chuyện đã nào, mà bà nhà và Đại tướng vui khỏe chứ?

- Không được vui lắm. Thưa ông Thọ. Nhất là đối với ông, Vợ con tôi đã bị đe dọa rồi đấy.

- Không. Tôi không nghĩ thế. Thọ nói.

Giáp cắt ngang:

- Thì thằng Võ Điện Biên nhà tôi (1), học ở Đông Đức, cứ bị sứ quán gọi lên hỏi hoài! Còn con Võ Thị Hòa Bình học ở Ba Lan cũng bị mật vụ hỏi thăm thường xuyên, là thế nào?

- Ông hiểu nhầm rồi. Thọ nói:

- Cuộc điều tra do Tòa Đại Sứ của ta ở Đông Đức, với các sinh viên du học là chuyện bình thường. Luật pháp có trừ ai đâu. Ông không thấy cả con gái của Tổng Bí Thư Lê Duẩn, cũng phải chịu kỷ luật đó sao?

Người nào việc ấy, nhiệm vụ của họ mà! Nếu như cháu không có chi sai phạm, mà tôi nghe các anh bên đó báo cáo. Thằng Võ Điện Biên con ông học rất khá, nó giữ kỷ luật tốt, không sai phạm gì ráo. Chắc là không xảy ra chuyện gì đâu. Là tôi hy vọng thế. Ông cứ yên tâm đi. Còn cháu Võ Thị Hòa Bình học ở Ba Lan, hiện nay thì cháu chỉ bị canh chừng thôi. Chứng cớ là họ đã theo dõi bắt được quả tang nó buôn lậu vàng và dollars. Ngày kia hay ngày mốt thì ông bà sẽ đón cháu ở phi trường Nội Bài. Nhưng nếu ông bà không làm gì thì chúng sẽ được về nhà. Sự im lặng của ông bà là cách tốt nhất bảo vệ cho cháu. Và nhân đây tôi cũng nói để ông biết luôn. Con gái lớn của ông Võ Thị Hồng Anh, học ở Nga, nó học thì rất khá đấy. Nhưng hồ sơ cũng không được ngon lành lắm đâu, “liên lạc với người phương Tây”. Những chữ này quá độc. Có thể là CIA..

 Một vài phút căng thẳng im lặng trôi qua.

Thọ nói tiếp:

- Tôi có thể bỏ qua tất cả những chuyện đó, nếu…

Tôi sẽ bảo họ trông nom các con ông một cách an toàn, trừ ra có việc gì mà tôi “không được biết”, “câu này cực nguy hiểm “lỡ chúng nó giết rồi mới báo cáo thì sao? Nghĩa là tiền trảm hậu tấu. Cái cảm giác không rõ ràng, không chắc chắn là điều đáng sợ nhất với tình trạng của các con ông hiện giờ…” Còn với ông không dính dáng tí gì vào chuyện con ông sai phạm, thanh danh của ông ở trên mọi sự hiểu lầm. Nhưng vì một lẽ hoàn cảnh rất rõ ràng, mà các đồng chí ở nước ngoài phải lập hồ sơ. Đó là chuyện tối thiểu phải làm, rõ ràng là như thế. Tôi rất tiếc… Hắn nói như thầy giáo dậy toán cho học trò lười thâm căn cố đế.

 Trong khi Thọ nói, Giáp lo sợ con gái lớn của ông có thể bị bắt cóc, thủ tiêu trên đất Nga bất cứ lúc nào. Mà chẳng phải sự lo xa của tướng Giáp là quá đáng đâu.

Khi Thọ nhắc tới con gái Lê Duẩn, là Lê Vũ Anh, đã chết thảm thương. Chuyện này Giáp biết, mà có gì đâu. Chỉ vì Lê Vũ Anh lấy viện sĩ hàn lâm khoa học Maslov Liên Xô. Lê Vũ Anh đã bị chính Lê Đức Thọ cho tay chân của y ở Mạc Tư Khoa thủ tiêu, mặc dù Lê Vũ Anh lúc đó đã có ba con với Maslov. Chuyện này, Lê Đức Thọ có đặt điều kiện với Lê Duẩn: Một là tiếp tục ngôi ghế Tổng Bí Thự Hai là về hưu non để con gái được sống. Lê Duẩn đã ưng thuận điều kiện thứ nhất, nghĩa là thà để mất con, chứ không để mất chức Tổng Bí Thự.

Cũng nên nhớ rằng ở cái thời đại Bréjnev – Lê Duẩn, “quan hệ anh em” giữa các nước cùng mang họ Mác-Lê, như Liên Xô, Trung Quốc, Albanie, VN, Bắc Hàn, không được phép lấy nhau. Những cuộc hôn nhân hỗn hợp bị nghiêm cấm tuyệt đối. Mặc dù luật pháp các nước không có ghi thành văn bản, chỉ có sự trao đổi bằng mồm giữa các lãnh tụ. Nhưng nó đã trở thành luật, một thứ luật quái gở. Chính con gái Tổng Bí Thư chết vì thứ luật đó và còn biết bao thảm kịch không tên đã xảy ra đối với các du học sinh khác nữa chứ.

Những chuyện này Giáp hiểu rất rõ. Và ông càng lo cho con gái ông trên đất Nga. Chưa hết, lại còn đứa con gái út đang học ở Ba Lan bị quy kết tội buôn lậu. Ông hình dung thấy nó đang đứng sau những song sắt nhà tù. Mặt ông bỗng chốc nặng trĩu oán hờn, cam chịu. Phải nuốt những viên thuốc và thấy quả thật là quá đắng. Giọng uất hận, ông nói:

- Tôi thấy chẳng có một bằng chứng nào về con tôi có liên lạc với người phương Tây và đứa khác thì buôn lậu cả. Nhưng tôi biết chắc trong cả hai vụ này, chúng đều có một cái âm mưu gì xấu ngầm trong đó.

Thọ lại cười, nụ cười cá sấu:

- Bên tòa Đại Sứ, họ có gửi cho tôi bản “thú tội” của chính tay các cháu viết. Ông nghĩ sao?

- Cái đó, đối với bọn mật vụ có khó khăn gì? Nên bằng chứng nào của ông dẫn ra, tôi cũng không tin. Tôi biết các con tôi trong trắng, vô tội.

Giáp nói:

- Nhưng đây lại là sự thật. Một trăm phần trăm.

Thọ vừa nói tay vừa rút ngăn kéo bàn lấy ra một bản tự thú của Võ Thị Hòa Bình, chìa về phía trước mặt Giáp:

- Ông coi đây này, rõ ràng tôi đã nói với ông. Giáp giả bộ không hiểu thế là nghĩa lý gì! Có thể thấy rõ ràng, ánh mắt của người bị hạ nhục, chứa sự phẫn uất, hận thù, ông cúi mặt lặng thinh.

 Lại một sự trớ trêu nữa. Ngay trong khi hai người nói chuyện. Chuông điện thoại cứ réo.

- A lộ.. Ai đấy? Thọ hỏi.

- Thưa anh lớn, tôi Nguyễn Khiêm, Đại Sứ ở Moscow đây.

- Có việc gì gấp đấy anh Khiêm?

 – Thưa anh lớn. Có một vài trường đại học Mỹ, họ mời Tiến Sĩ Vật Lý địa cầu Võ Thị Hồng Anh qua Hoa Kỳ.

- Về việc gì?

 – Thưa anh chưa rõ. Vậy xin anh cho chỉ thị…

- Tối nay tôi trao đổi lại với anh được chứ?

- Dạ, dạ thưa anh được ạ.

- Tôi sẽ gọi lại. Thọ đặt máy xuống ngay. Chuyện phone rất bình thường. Nhưng cái điều bất bình thường hơn là Giáp có mặt ở đây ngay lúc này. Thật là quỷ mới biết được những phù phép trong bụng dạ hắn. Ôi! Lại một sự ngẫu nhiên đầy bi kịch. Lại một sự trùng hợp nữa chăng? Không. Tất cả đã được sắp xếp có chủ ý.

 Nghe Thọ với Khiêm, nói chuyện về Võ Thị Hồng Anh, Tướng Giáp ngồi như phỗng. Đôi mắt sếch lờ đờ bất động, như mắt lợn luộc. Cái vụ này với vụ con gái út ở Ba Lan dường như hai đòn quá nặng, quá hiểm giáng xuống cùng một lúc. Ông đã mất tinh thần, trong khi đó, đôi mắt mầu lục của Thọ cắm phập vào mắt ông! Mỉa mai, ngạo nghễ, diễu cợt. Như thể nói rằng – Mày có chịu nổi đòn phép của tao chưa? Và dường như muốn để cho Giáp thấm nhuần bài học, Thọ bỏ lửng câu chuyện rắc rối ở đó… Hắn nói:

 – Ông hiểu, tôi mời ông đến đây không vì những chuyện riêng tư vụn vặt, mà muốn bàn với ông câu chuyện quốc sự trọng đại kia. Chắc thằng Mai Chí nhà tôi nó đã thưa với ông rồi. Nhưng tôi rất tiếc là ông có ý định từ chối chuyện này.

 – Thế ông có chuyện gì cần đến tôi nào?

Giáp hỏi.

- Tôi muốn đề nghị ông cùng tham gia phái đoàn của Đảng công du Bắc Kinh.

Giáp lắc đầu:

- Việc đó bây giờ hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Tôi đã nghỉ hưu mà.

Thọ cắt ngang:

- Thực ra ông cũng như tôi – Tuy rằng chính thức là đang nghỉ hưu đó – Nhưng không dừng được. Thế nào thỉnh thoảng cũng phải làm một việc gì. Mà chúng ta không được quên rằng sự lựa chọn của chúng ta trong công vụ không thể nào theo quy luật chung, cũng không có thành vấn đề giữa người tại chức, và người đã hồi hưu, người “tốt” có năng lực, có uy tín, chức vụ.

- Tôi còn chức vụ gì đâu? Giáp nói.

- Thì ông đã từng đội ba cái mũ lớn: mũ thứ nhất Đại tướng Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, mũ thứ nhì Đại tướng Tổng Quân Ủy, mũ thứ ba Phó Thủ tướng Thứ Nhất, và…

 – Chuyện đó xưa rồi. Tôi nghĩ rằng chưa có lúc nào, tôi lại có ý nghĩ là mình sẽ hấp dẫn lôi cuốn, vào việc làm một sứ thần. Nhất là đối với Bắc Kinh. Trong trường hợp này có vẻ hài hước hơn hết cả.

Những chuyện ông ép tôi làm như Chủ tịch Ủy Ban Sinh Đẻ Có Kế Hoạch trước kia, nay lại là Sứ thần gần như ngoài giới hạn, ý nghĩ của tôi.

 – Đại tướng sai rồi – Giọng Thọ lớn hơn

- Chuyện này có gì là hài hước đâu! Cũng không phải là chuyện vượt qua hàng rào sắt của nhà binh. Ông không thể nói là ông chỉ làm một việc độc nhất trên đời là đánh giặc. Ông phải nghĩ đến quyền lợi chung.

 – Quyền lợi gì? Giáp hỏi.

Thọ:

- Tôi đang nghĩ đến một sự móc nối lại quan hệ giữa hai đảng Trung Quốc và ta. Chúng ta phải cải thiện tình thế, nếu không sẽ bị mắc kẹt, nhân đây tôi cũng cho ông hay: tháng trước tôi đi Moscow mười ngày, gặp Gorbachev hai lần. Ông ta đưa ra những đề nghị cải cách ngược đời xa lạ với đường lối của Đảng từ xưa đến nay. Thật nguy hiểm không thể chấp nhận được.

- Những đề nghị gì? Có quan hệ đến Đảng ta, ông cho tôi hay?

- Gorbachev đề nghị một cuộc cải cách chính trị sâu rộng trong quốc gia, một quốc gia hoàn toàn mới mẻ. Kiểu chế độ Tổng Thống ở Mỹ. Đảng CS chỉ giữ sự lãnh đạo ý thức hệ, còn quyền điều hành quốc gia thuộc về chính phủ. Ông ta đưa ra hai khẩu hiệu chiến lược: thứ nhất “Perestroika” (tái sắp xếp), thứ hai “Glasnost” (cởi mở). Nếu “tái sắp xếp”, thật rùng rợn… còn Glasnost “cởi mở” đất rung chuyển… Hiện ông ta đang vận động trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CS Liên Xô và cả các lãnh tụ đảng ở Đông Âu nữa. Tôi lo ngại một sự bất trắc có thể xẩy ra, nguy hại cho Đảng; trong đó có tôi và ông, nên chúng ta bằng mọi giá phải nối lại quan hệ với Bắc Kinh. Tôi hiểu rằng khó khăn đấy. Vì họ còn căm giận ta vì nhiều chuyện lắm, nhất là trận chiến hồi năm 79. Tất nhiên không có vấn đề là những thù hằn, mâu thuẫn ấy cứ vĩnh viễn ở mãi một chỗ, trong một tình thế đổi khác.

 Thật ra trong lúc này và trong tương lai, tôi chỉ nhìn thẳng vào khả năng: yêu cầu hợp tác giữa hai Đảng CSVN và Trung Quốc, tiếp tục bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa và tập trung mọi nỗ lực vào việc bảo vệ hai đảng. Nhưng tiếp tục một cách tuyệt đối bí mật. Trong khi đó ta theo dõi các biến cố ở Nga Sô để kịp thời ứng đối.

Vì thế tôi đã chỉ thị cho Hồng Hà tham dự vào cuộc hội kiến giữa đại diện hai đảng ở Tòa Đại Sứ của họ ở Công Gô. Cuộc gặp gỡ diễn ra không đến nỗi tệ quá. Vì họ tỏ ra hòa giải với ta, hai bên đều nhất trí về tình hình ở Nga. Và nhiệm vụ của hai Đảng, nghĩa là quan điểm gần như giống nhau, trên phương diện đó tôi nghĩ là cần phải hợp tác với họ, càng sớm càng tốt. Một lần nữa, vấn đề không phải hoàn toàn phụ thuộc ở phương diện nhà nước, mà ở diện quyền lợi chung giữa hai Đảng có hay không?

Nếu có sự giúp đỡ của Đảng CS Trung Quốc, chúng ta có thể chống lại những đe dọa của phương Tây. Chúng ta phải tin ở phương diện đó. Chúng ta bất đồng với họ trên nhiều phương diện. Nhưng cái gì chúng ta làm được lúc này và trong tương lai là sự ủng hộ trong bóng tối của họ. Vì họ cùng một lập trường tư tưởng Marxism Leninism như ta, nên việc lập lại quan hệ thân hữu với họ là cần thiết. Họ có thể yểm trợ giúp đỡ những nước xã hội chủ nghĩa nếu quyền lợi của họ bị đe dọa. Tôi tin như vậy.

 Thọ còn tiếp tục tuôn ra cho tướng Giáp nghe những bài học lịch sử trang nghiêm.. Là nói về bộ mặt thì có cái vẻ trang nghiêm ấy – Nhưng đôi mắt thì vẫn tiếp tục biểu hiện của kẻ cả. Như muốn nói rằng “để xem mày chịu đựng được tao đến đâu nào?”.

 Thọ biết tỏng vợ chồng Giáp rất lo cho mấy đứa con. Sẵn trong tay thanh bảo kiếm, hắn đi những đường rất hiểm độc. Lấy các con của tướng Giáp làm điều kiện mặc cả với Giáp trong chuyến đi đêm với Bắc Kinh. Nên các con của ông đã trở thành con tin trong tay trùm Mafia Lê Đức Thọ, để nó xỏ mũi ông, mà ông đâu còn lựa chọn nào khác, đành buộc lòng nhận lời thằng Thọ qua Bắc Triều, để cứu lấy các con. Tuy nhiên, bệnh ngoan cố còn nặng. Ông phản ứng một cách yếu ớt:

 – Tôi đề nghị ông, cử Đỗ Mười đi Bắc Kinh thương thuyết chuyện này là hợp lý nhất.

Thọ ngừng lại, mắt nhìn chằm chằm vào mặt Giáp:

- Có thể là ông Đỗ Mười, đã hoàn toàn bị rối loạn thần kinh. Và như thế thì khá phiền toái. Trong hoàn cảnh này chính ông phải đứng ra đảm nhận nhiệm vụ đó mới được.

- Thế trong Đảng không còn ai đi được nữa à?

Giáp hỏi Thọ.

- Ông không phải là người vô danh, đối với Bắc Kinh, mà là người có đủ tầm vóc nói chuyện với họ.

- Tôi sẽ làm theo lệnh của ông. Trong lúc tôi chưa biết những động cơ chính trị của họ. Như thế có lợi gì?

- Tôi sẽ có những tư liệu mới nhất để ông tham khảo…

Giáp:

- Tôi cần biết tới điểm nào chắc của yếu tố về vị trí của người sẽ đối thoại với tôi. Các thể thức trao đổi. Ngoại giao cần thiết ở một thế lực thăng bằng tế nhị. Nếu họ đưa ra một nhân vật tầm thường để tiếp tôi thì còn gì là thể diện quốc gia?

- Về phương diện này, các liên lạc quốc tế trước kia cũng như bây giờ giống nhau. Ngay hồi năm 79, sau khi hai bên ngừng bắn, khi tình hình còn căng thẳng họ cũng cử những đại diện ngang cấp để điều đình với ta. Ông khỏi phải lo chuyện ấy.

- Nhưng khi đó chúng ta có hỗ trợ bởi các lời nói mạnh mẽ bằng những hành động mạnh của người Nga. Còn bây giờ sau ta không có ai, thì không thể thảo luận trên bình diện ngang nhau với giới lãnh đạo Bắc Kinh, nếu không có hậu thuẫn.

 – Moscow vẫn bên cạnh chúng ta, ông yên tâm đi, còn nói về nội bộ chính trị ở Nga – là tôi lo xa thế thôi. Hơn nữa ông phải nên biết rằng đây là cuộc “đi đêm” – chúng ta phải chọn phương cách ngoại giao thầm lặng để có thể rút mà không sợ mất mặt. Nghĩa là “bí mật” trong các cuộc thương thuyết không thể để một tiếng sủa của báo chí ngoại quốc. Lẽ dĩ nhiên nó là một mánh khóe hữu ích trong tất cả các cuộc thương thuyết, và cũng là một nguyên tắc sơ đẳng của chiến lược chính trị để đạt mục đích. Như trong cuộc chiến tranh chống Mỹ-Ngụy, mục tiêu của ta là “thắng trận toàn diện” vô điều kiện.

Và chiến lược của ta lúc đó là dùng và phối hợp tất cả phương tiện để đạt mục đích. Khi ta yếu, làm cho người khác tưởng rằng mình mạnh là chiến lược tốt. Ngược lại khi ta mạnh, làm cho người khác tưởng rằng yếu là chiến lược không tốt có thể gây những sai lầm nguy hiểm về tính toán của kẻ thù của mình. Hội nghị Paris năm 73, giữa tôi và Kissinger đã đi đêm một tính toán sai lầm loại đó của Hoa Kỳ. Về phương diện này, tôi đã suy luận kinh nghiệm cá nhân của người từng họp kín với Kissinger, ngoại trưởng của Tổng Thống Nixon. Ông ta cũng đã từng “đi đêm” qua Bắc Kinh để thương thuyết với kẻ thù… Và kết quả của mối liên hệ giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc ra sao thì ông đã thấy… Nên tôi có thể nói với ông rằng. Bí mật là điều kiện tiên quyết để giải quyết các vấn đề quốc tế. Với chúng ta “bí mật” là đặc biệt cần thiết trong sự giao tiếp với Bắc Kinh.

 Thọ “giảng đạo” nghệ thuật ngoại giao ban đêm. Giáp nhìn nhận rằng y có lý, mà Thọ là sản phẩm của mối liên kết các nguyên tắc bí mật từ trước đến nay. Và nắm quyền lực tuyệt đối. Tuy y không làm vuạ Nhưng biết cách cai trị, quyền hành được sử dụng một cách khéo léo. Còn tướng Giáp, ông không sợ mất phẩm cách. Nhưng không được vui, trước những phiền toái. Có khi cay đắng và có khi căng thẳng. Ông cũng không khóc, không tiếc gì cho ông. Ông có đau khổ chăng? Đồng hồ của thời gian lại bước thụt lùi… Ông vẫn cố gắng một cách tuyệt vọng làm được chừng nào hay chừng ấy công việc Thọ giao, mặc dù ông không có cảm tình với Bắc Kinh.

 Vài phút im lặng trôi qua. Giáp hỏi:

- Thế phái đoàn của ta gồm những ai?

- Càng ít càng tốt.

Thọ trả lời.

- Tôi không được thạo tiếng Tầu, cần một phiên dịch của Bộ Ngoại Giao.

Thọ thong thả bảo:

- Ông không cần thông dịch của Bộ Ngoại giao. Đã có Hoàng Văn Hoan ở đó. Ta coi hắn như người đồng chí xưa… một trong những người được Bắc Kinh cưng và tín nhiệm nhất. Tôi hài lòng. Và ông có thể nói chuyện tự do. Khi mà chúng ta chấp nhận Hoan, chúng ta giành được yếu tố quan trọng, như thế lợi nhiều cho sự giao thiệp của ta. Cùng trong trường hợp này nếu để một thông dịch viên không có lợi. Còn chuyện phản đảng của Hoan, coi như chuyện đã rồi. Giản dị vì lẽ chúng ta phải hết sức khéo léo nên muốn hữu hiệu, lẽ cố nhiên phải ngăn cản sự khó chịu nho nhỏ với kẻ thù quyền thế, nên chúng ta tỏ thái độ hoan nghênh sự có mặt của Hoan. Và không kết tội nữa. Khi có nhu cầu… Ông có thể hành động như một người giảng hòa với sự ủng hộ của tôi, luôn luôn tỏ ra ý giảng hòa thật rộng rãi và dù Hoan có tội với Đảng. Cũng phải “giữ ý tứ” theo phép lịch sự. Về phương diện này ông gánh một trách nhiệm lớn.

 Đề nghị của Thọ, làm Giáp kinh ngạc, mà Thọ có lý. Hoan là đồng chí xưa, là Ủy viên Bộ Chính Trị – Chủ Tịch Quốc Hội – Đại Sứ của Hà Nội ở Bắc Kinh suốt tám năm. Sau bị cánh Thọ Duẩn chèn ép phải bỏ chạy qua Bắc Kinh, được Bắc Kinh o bế dùng làm lá bài của họ. Trong cây bài này có tính toán… kẻ lật qua người lật lại.

 Đây là một khúc quanh chính trị. Nhưng chỉ một tiếng của vụ Hoan – Giáp gặp nhau mà lộ ra thì Giáp cháy, Bắc Kinh cũng chẳng đẹp gì. Cuộc giao hảo này sẽ bị khinh bỉ và xấu. Bởi Bộ Chính Trị cơ quan tối cao của Đảng “nghi kỵ” Hoan.Thật khổ cho Đảng lẫn nhà nước. Những thổ lộ về ngoại giao, an ninh quốc gia chẳng ai biết, trừ Lê Đức Thọ. Ông ta khéo lèo lái, khéo dàn cảnh, khéo chọn người.

 Cuối cùng họ đã thỏa thuận với nhau một cách lạ thường. Giáp nói:

- Thôi! Tôi sẽ đi. Nhưng tôi có thể nói thành thực với ông được không, ông Thọ?

Vẻ khoái chí, hài hước, Thọ nói:

- Xin Đại tướng, đừng mất công như thế làm gì!Ngài cứ việc nói những điều ngài nghĩ. Tôi trước sau vẫn giữ cảm tình với ngài. Và nếu tôi có cam kết với ngài điều gì. Chẳng hạn như cho cháu Võ Thị Hồng Anh đi Hoa Kỳ, thì tôi có thể giữ được những lời cam kết đó.

Thọ cười một cách có vẻ tế nhị, tướng Giáp gật đầu:

- Trước tiên, tôi muốn nói, từ khi nắm chức vụ Trưởng ban Tổ Chức Trung Ương Đảng, Ông đã tiến hành mọi công việc với một bàn tay bậc thày. Tôi chắc là tài năng của ông ngang hàng với tổ sư phù thủy. Còn tay chân của ông thì Mafia còn phải gọi bằng cụ. Vì vậy ông không có vấn đề gì để phải lo về phía Đảng hay chánh quyền phản đối những việc ông làm.

- Tôi đã làm những gì? Ông kể tôi coi? Thọ hỏi.

- Chẳng hạn như việc bắt giữ các tướng Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, bộ trưởng Ung Văn Khiêm hồi năm 1963 khi ông thân Tầu, khi ông thân Nga. Bây giờ để làm vui Bắc Kinh ông hạ thủ những người có ý định cản ông.

Mới đây ông hại hai tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn cùng một loạt các sĩ quan cao cấp trong quân đội. Tôi hỏi ông: tại sao chúng ta phải mất công để loại ra ngoài những phần tử trung kiên, ưu tú nhất của Đảng?

- Thì có nghĩa là những phần tử ưu tú ấy, chắc chắn đã thấy và có thể nghe một điều gì đó, của ai đó… mà lẽ ra họ không được nghe. Tôi nói có rõ không? Thọ nhấn mạnh. Và thế là chúng ta thử hỏi cái việc phải loại bỏ ấy là cái gì? Cực chẳng đã, chúng ta phải lấy những bức hình của Mao Trạch Đông, treo lên bàn thờ từng nhà mỗi gia đình VN. Việc này lầm lỗi đầu tiên tại ông HCM! Chứ không phải thằng Thọ này! Chính ông ta rước voi về dầy mả tổ. Việc này từ Đảng đến dân ai cũng biết. Ông Hồ lấy tư tưởng Mao Trạch Đông, làm kim chỉ nam. Ông còn trách gì tôi? Ông có nhớ báo cáo chính trị, do ông Hồ đọc ở chiến khu Việt Bắc năm 1951 không?

Giáp ngồi yên lặng vì Thọ nói đúng chính xác. Mà sự thực trong cương lĩnh của đại hội đảng CSVN lần thứ II ơ ở chiến khu Việt Bắc năm 1951, HCM đã lấy “tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam”. Lúc đó cả đảng mừng. Nhưng không lâu họ tỏ ra nghi ngại, và phải trả giá mắc hơn hết trong lịch sử. Nó là một quyết định đường lối chính sách đưa đến hậu quả tai hại cho cả dân tộc. Do sự hiểu biết các thực tế lịch sử của ông ta không được thấu đáo. Nên bản cương lĩnh đó trở thành một bi kịch cho cả dân tộc VN. Một bi kịch tủi nhục về sự lệ thuộc tư tưởng không được xã hội lịch sử tha thứ.

Về điểm này tướng Giáp hơi u mệ. Hay là ông mải trận mạc, hoặc là… Nên ông vẫn hỏi Thọ:

- Thế ai đã mời cố vấn Tầu sang nước ta chỉ đạo cách mạng Cải Cách ruộng đất?

-Cũng chính ông ta. Chuyện ấy rõ như ban ngày. Không tốn một que diêm cũng rõ. Mặc dù biết việc dâng Hoàng Sa do HCM, Giáp vẫn hỏi:

- Thế việc dâng đảo Trường Sa cho Bắc Kinh, ông Hồ có thuận không? Thọ cười, rõ ràng y đã trở lại như cũ rồi, độc ác bí mật như quỷ. Hắn nói:

- Trước khi Phạm Văn Đồng qua Bắc Kinh dâng những hòn đảo này, có một cuộc họp hẹp. Ông Hồ nói: Trung Quốc giúp chúng ta cuộc kháng chiến chống Pháp chín (9) năm ròng về đủ mọi phương diện. Họ viện trợ cho chúng ta từ cây kim, sợi chỉ, trang bị quân đội ta từ đầu tới chân: mũ Trung Quốc, quần áo Trung Quốc, giầy Trung Quốc, … Bây giờ kháng chiến thắng lợi, họ muốn một vài hòn đảo nhỏ, lẽ nào ta từ chối. Khi ông Hồ phát biểu như vậy, không có ai phản ứng gì. Tôi nhớ trong đó có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Và có mặt cả ông trong cuộc họp đó. Ông tắt máy… nghĩa là tán thành rồi còn gì? Đến năm 1963, tôi lại hỏi ông ta về chuyện dâng cho Bắc Kinh những hòn đảo đó.

 Ông Hồ bảo: Về phương diện ngoại giao, cũng như trong các địa hạt khác trong đời sống, người ta chỉ có được những gì mình cần bằng cách cho kẻ khác những gì họ muốn. Cái sự nhượng bộ của Phạm Văn Đồng trước kia chứng tỏ sự thiện chí của Đảng ta. Trung Quốc đã viện trợ cho ta hàng tỷ dollars trong cuộc kháng chiến chống Pháp, anh biết đấy. Tôi bảo thẳng vào mặt ông ta có thằng Chính ngồi đó. Trung Quốc họ muốn cả nước VN này, chứ không phải chỉ vài hòn đảo, nên nợ có thể trả, chứ đất không nhượng đất. Việc làm của ông và Đồng là khờ khạo và nguy hiểm.

 Ông ta im lặng, còn thằng Chinh thì lảng đi. Tôi nghĩ, nếu muốn nói chuyện quá khứ, nên để dịp khác, tôi sẽ hầu chuyện ông. Còn lúc này tôi khuyên ông nên tỉnh dưỡng để chuẩn bị cho thật tốt chuyến đi này. Cả Đảng chờ đợi sự thành công của ông. Mà ông nhớ cho tôi điều này “giữa đồng chí với nhau không cần thương nhau, chỉ cần dùng lẫn nhau”. Nên thư trình bày dưới khía cạnh càng đẹp càng tốt, nhấn mạnh các hy vọng nối lại tình hữu nghị anh em, đưa đến cho hai đảng sự nhất trí… Và sẽ đi đêm cam kết, bảo vệ quyền lợi chung. Và luôn nhớ, ta phải thắng bớt cái bực tức quá khứ.

 Giáp nói:

- Tôi chẳng có hứng thú gì về chuyến đi ấy. Nhưng tôi sẽ làm hết mình. Thọ khuyến khích:

- “Tiếp tục tranh đấu” bảo vệ Đảng. Hãy khỏe, không phải lo chuyện các cháu nữa. Thọ nói, tay nắm chặt tay Giáp.

 Biết mình không còn lựa chọn nào khác, phải nhận lời Thọ đi sứ Bắc Kinh. Ông bỗng liên tưởng đến cảnh cố vấn của cụ Mao năm nào, ngồi dựa lưng vào ghế bành lớn, ưỡn bụng ra phía trước, gác đại cả hai chân lên mặt bàn, tay cầm ly rượu Mao Đài, nhổ đờm ào ào xuống thảm, để phán bảo các cán bộ cao cấp của Đảng, hồi cải cách ruộng đất, mà ngay cả những vị bự trong Bộ Chính Trị, đến cả HCM cũng không một người nào dám hé răng, mặc dù biết họ nói càn, làm ẩu, ấy là lúc tình hữu nghị giữa hai đảng còn êm thắm, mặn nồng.

 Chứ như bây giờ chắc phải tệ hơn thế nhiều. Ông biết rằng Bắc Kinh sẽ làm nhục ông, mà cảnh ngộ của ông thật bi ai! Lúc này không bạn bè, không một người thân, chỉ toàn những cái gai chọc vào đôi mắt, đám tướng lãnh cũ trung thành, kẻ thì chết, người bị Thọ bức tử, kẻ đi tù, bọn còn lại thì quay quắt từng giờ: rõ ràng là chuyện của cơn ác mộng. Con cái bị đe dọa, bản thân ông thì bị Thọ giam lỏng trong dinh. Lòng ông căm giận vô cùng.

 Chiếc xe hơi đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến nhà của Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng Lê Đức Thọ. Lại đưa ông về nhà. Đại tướng có quyền được hưởng sự đưa đón của ba người. Một tài xế, hai cận vệ ngồi kèm sát hai bên ghế sau. Cả ba tên đó, đều là mật vụ của Thọ. Khi ông bước vào trong nhà. Vợ ông, bà Bích Hà, vẻ mặt lo âu, phiền não hỏi:

- Thế nào hở ông?

- Tôi phải đi Bắc Kinh chứ còn sao nữa!

Nghe ông nói “phải đi” Bắc Kinh, mồm bà há hốc ra, người ngồi chết cứng trong chiếc ghế phô tơi. Hai tay run lẩy bẩy, bà gào:

- Điếm nhục quá ông ơi! Sao ông nói không đi cơ mà?

- Bà muốn các con chết sao? Không ai nói nữa. Căn phòng trở lại im lặng. Để cố định thần lại, tướng Giáp đi lại trong phòng như người đang bị một cơn giận đẩy lên làm cho nghẹt thở và ông tướng đang có những ý muốn liều trút bom lên đầu thằng Thọ. Cứ mỗi phút trôi qua, mạch tim ông lại chạy nhanh hơn và đã tiến đến một nhịp đập kỷ lục. Vì tức giận.

 Ông rất có thể, trong lúc còn chưa quá trễ. Xây dựng tiếp một kế hoạch huyền thoại nào đó, bất ngờ tấn công vào sào huyệt của thằng Thọ, trước khi nó về chầu Karl Marx. Nhưng mà ở tình thế này thì chịu! Bởi ông bất lực không điều binh khiển tướng được nữa rồi. Thời của ông đã qua rồi. Ông hồi tưởng lại mới ngày nào, năm nào, rừng người tụ tập ở quảng trường Ba Đình đông như kiến cỏ, tiếng quân nhạc vang lừng, cờ xí rợp trời. Các lãnh tụ đứng trên lễ đài vẫy tay chào. Ông đi xe mui trần duyệt đoàn quân danh dự, dưới trướng của ông có hàng triệu lính. Nay không còn gì.

 Ông đã bị nghỉ hưu. Nhưng vốn giầu óc mộng mị, ông ước có một toán quân cảm tử, mượn tạm của Diêm Vương. Nhưng dễ gì Diêm Vương cho mượn, hay là cầu xin Thượng Đế cho một đội quân cứu thế, mới có thể tiêu diệt được thằng Thọ. Chuyện này lại càng khó xảy ra, đối với một vị tướng vô thần. Còn việc tính đến chuyện liên lạc với tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn ở dưới Âm Phủ, mộ một bọn lính biệt kích đánh thuê, lựa trong số những tay thiện xạ nhất thế giới Âm Phủ, kèm với một toán đặc công, một là bắn chết thằng Thọ, hai là bắt sống nó để ông xử tội.

 Sự mạo hiểm này hoàn toàn không thể chấp nhận được. Với lại làm sao việc đi mộ một bọn lính biệt kích, đặc công như vậy, ở dưới đó mà lại không làm tung tóe cả tin tức lên trên thế gian, lộ ra sẽ làm nguy hại đến cả tính mệnh của vợ con. Những ý nghĩ của Đại tướng, đại khái cũng ngộ nghĩnh như vậy.

 Giải pháp thứ ba! Tấn công can thiệp của ngoại bang. Người ta không có thì giờ! Vả lại họ đâu có biết tình cảnh của ông! Hoặc là họ cũng cóc cần đến ông già trên tám chục tuổi, để đóng những tấn tuồng mới. Nên ông cứ phải ở mãi cái thế quy hàng thằng Thọ. Chịu nhận mọi điều kiện theo ý của nó. Đây là cái giá vô liêm sỉ và đắt nhất, mà các vở đã được dựng lên và thực hiện gần như đủ lịch sự. Vì ông là vị Đại tướng đáng kính, tuy bị Mafia trấn lột hết quyền lực đến mức độ cuối cùng. Nhưng trong vòng vài phút đồng hồ ngồi trên xe ông như chết lịm đi. Câm lặng. Kẹt cứng dưới con mắt canh chừng nghiêm ngặt của bọn mật vụ, với danh nghĩa những tên cận vệ bảo vệ cho ông. Và rồi đột nhiên, bất thần một tia chớp chói lòa vụt qua trong những tế bào chất xám của ông! Chưa phải là thời điểm tổng phản công. Chưa phải là lúc tiêu diệt chúng nó, mà bây giờ phải làm lại từ đầu và theo đuổi nó đến kỳ cùng. Nếu còn sống được đến năm 2000 lúc đó sẽ thấy rõ ai thắng ai!

 Tôi thừa nhận, con đường Đại tướng đi là chính đáng. Nhưng không có nội công, ngoại kích, thì dù là một vị Thống Soái tài ba lỗi lạc, như ông vẫn lâm vào cảnh đơn thương độc mã, mà ngay khi ông mới rỉ tai vài tướng về ý nghĩ diệt thằng Thọ của ông. Như vậy chưa kịp hành động, thì bọn mật vụ của Thọ đã ra tay trước, bắt bớ tống giam hàng loạt, nhanh và gọn hơn cả quỷ sứ Diêm Vương. Với khẩu hiệu “bắt nhầm ngàn người chứ không để bỏ sót một người”, nên dù kế hoạch, chiến lược, chiến thuật của Đại tướng có hay như binh pháp của Tôn Tử, thì cuối cùng những mầm mống ông reo vẫn bị sói hùm dọn sạch.

 Thất bại. Và thất bại! Tuy nhiên, ông không chịu dừng lại. Không tỏ ra “thối chí ngã lòng” mặc dù thế cô, thấm thía nỗi cô đơn. Ông vẫn tiếp tục. Nhưng thử hỏi: Đại tướng còn bao nhiêu thời gian để làm việc ấy? Khi tuổi đời ông đã tám mươi hai?

© Trần Nhu

——————————————————

* Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trang 719 – Tập II

 Ghi chú: Bạn đọc thân mến,

Truyện “Tướng Đi Đêm” là một chương trong số 27 chương của cuốn tiểu thuyết lịch sử Ngôi Sao Sáng Mafia, viết về những hoạt động trong bóng tối của Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức trung ương Đảng và guồng máy mật vụ do y điều khiển. Tôi viết xong năm 1993 nhưng chưa kịp xuất bản thì gặp nghịch cảnh trong gia đình. Bỏ thất lạc, chỉ còn lại vài chương, tôi nhận thấy vẫn có ích cho bạn đọc, nên phóng lên mạng, ai muốn in ấn, đều được khuyến khích.

http://www.vn.net/article.php/20070301165053754

.

.

.

CƠ HỘI BẰNG VÀNG CHO TRIẾT – TRỌNG – DŨNG

Tháng Tám 31, 2010

Cơ hội bằng vàng

Bằng Phong Đặng Văn Âu

12:01:am 24/08/10

http://www.danchimviet.info/archives/16911

.

LTS: Nhân bài “Nguyễn Cao Kỳ, con người của thời cuộc” gây sôi nổi dư luận, Đàn Chim Việt đăng lại bài “Cơ hội bằng vàng” của cùng tác giả, Bằng Phong Đặng Văn Âu, viết năm 2006 mà trong bài Tướng Kỳ nêu trên, ông Bằng Phong có dẫn điện thư của Không quân Võ Ý đã nhắc tới. Cuối bài về Nguyễn Cao Kỳ, ông Võ ý cũng đã có ý kiến phản hồi. Mời độc giả theo dõi sau đây.

———————————————

 

Lời mở đầu:  Nhân đọc tin Việt Nam được chấp nhận vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO), người viết muốn gửi đôi điều đề nghị với ba nhà lãnh đạo cao nhất nước để chỉ ra lối thoát cho bản thân họ. Người viết hy vọng họ sẽ lắng nghe và thi hành, vì những gì sắp được nói đến đều mang lại sự bổ ích cho chính họ, chứ chẳng phải cho một ai khác.

Là một người tị nạn sống lưu vong xa tổ quốc suốt hơn ba thập niên, mặc dù trên danh nghĩa pháp lý đã trở thành công dân của quốc gia tạm dung với đầy đủ các quyền hạn và quyền lợi như bầu cử, ứng cử, hưởng an sinh xã hội, nhưng tâm tư lúc nào cũng hướng về Quê Mẹ, nơi mà đa số nhân dân còn đang sống quá lầm than cơ cực bởi một chế độ man rợ, hà khắc, tôi muốn có đôi điều nói với ba nhà lãnh đạo tối cao đang ảnh hưởng lớn lao trên sinh mệnh của từng người dân trong xứ sở. Đó là các ông:

Nguyễn Minh Triết, Chủ Tịch Nước,

Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội,

Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng Chính Phủ.

 

Cổ nhân từng nói: “Nước có tuần, dân có vận”. Khi vận nước hưng thịnh thì minh quân, thánh chúa ra đời. Khi vận nước suy vi thì hôn quân, bạo chúa hoành hành, quấy nhiễu dân lành. Đem điều hơn lẽ thiệt đóng góp với những người có trách nhiệm với đất nước mà gặp thời hôn quân bạo chúa thì dẫu là lời vàng ý ngọc cũng chẳng khác nào tiếng kêu trong sa mạc, thậm chí bản thân có thể bị đầy đọa hoặc bay đầu. Nhưng gặp thời minh quân thánh chúa, thì dẫu là lời thô ý thiển vẫn được lắng nghe.

Từ hàng chục năm qua đã có nhiều nhà thông thái yêu nước thương nòi, những bậc cách mạng lão thành trót hiến trọn đời mình cho lý tưởng xã hội, những thanh niên ấp ủ khát vọng tự do đã dũng cảm đem những điều ích quốc lợi dân để đóng góp với nhà cầm quyền nhưng đều không được đếm xỉa, mà còn có người bị thủ tiêu hoặc bị tù đầy, lăng nhục… Bây giờ một kẻ vô danh tiểu tốt như tôi góp tiếng nói thì chắc chắn sẽ có người chê tôi đem nước đổ lên lá môn hay lên đầu vịt? Tôi có sự suy nghĩ hơi khác thường một chút: Những tiếng nói vì công chính của các vị trước đây cất lên gặp phải thời “hôn quân bạo chúa” trị vì; còn bây giờ tôi linh cảm dường như cuối đường hầm đang le lói một tia hy vọng thì biết đâu lời nói của tôi được ba nhà lãnh đạo đem ra thi hành? Xin minh giải điều linh cảm của tôi. Hình như điềm trời báo hiệu một sự chuyển hóa của đất nước là ba nhà lãnh đạo tối cao không những mang cùng họ Nguyễn mà phương danh của ba vị cũng rất cần thiết và thích hợp để chữa trị chứng bệnh trầm kha của chế độ.

Minh Triết: Nền chính trị của xứ sở từ nay sẽ xóa bỏ tà thuyết phi nhân, ngoại lai không tưởng để hướng đến một nền minh triết lấy việc nhân nghĩa làm chủ đạo (như lời dạy của Nguyễn Trãi).

Phú Trọng: là từ bỏ con đường bần cố nghèo nàn và từ nay đặt trọng tâm đến sự phong phú, sung túc, phì nhiêu, dồi dào không những về mặt của cải vật chất mà còn cả về mặt tinh thần, tâm linh, tư tưởng nữa.  Con đường độc tôn, độc đảng rồi sẽ nhường bước cho đa nguyên, đa đảng …

Tấn Dũng: Để thực hiện được hướng đi nêu trên, người lãnh đạo cần phải có sự dũng cảm phi thường.  Sự dũng cảm ở đây không giống như kẻ ôm bom tự sát mà là cái dũng của kẻ sám hối dám quyết tâm từ bỏ các dục vọng thấp hèn, các cố tật nói dối kinh niên để trở nên lương thiện.

Và thêm một điều nữa thúc đẩy tôi lên tiếng: Đó là những tiếng nói dõng dạc trước đây về quốc kế dân sinh được cất lên vì lo sợ Đất Nước tụt hậu, không dính dáng gì đến lợi ích của đảng cầm quyền, nên có thể bị xem là điều viển vông, vô bổ. Còn những gì tôi sắp sửa nói cho ba ông nghe thiết thực hơn, là vì sẽ đem lại lợi ích cho chính bản thân của ba ông, chứ không phải một ai khác. Tôi chủ quan nghĩ rằng chỉ có những kẻ ngu đần mới không thèm lắng nghe những điều mang lại lợi ích cho mình. Do đó, tôi tin tưởng những gì tôi sắp sửa phát biểu sẽ được ba vị chăm chú lắng nghe và thi hành.

Thượng Đế hay Đấng Tạo Hóa rất công bằng khi ban hành quy luật: Muôn loài trên trái đất đều phải chịu sự chết, thọ hay yểu tùy theo từng loại.  Nhưng vì có trí tuệ, loài người tinh khôn hơn hết mọi loài là dù thể xác không thể trường sinh, nhưng con người có thể làm cho tên tuổi mình trở nên bất tử. Đức Trần Hưng Đạo hiển thánh, được nhân dân Việt Nam sùng bái, thờ phượng chẳng những vì Ngài có công ba lần đánh đuổi quân Nguyên, mà còn vì tấm lòng khoan dung độ lượng của Ngài đã tha thứ cho những con dân trót dại chạy theo giặc; Ngài không tuân theo lời khuyên của cha (Trần Liễu) để gây nên cuộc huynh đệ tương tàn soán đoạt ngôi vua.  Trong lịch sử dòng giống Việt không thiếu chi những con người bất tử, được nhân dân mãi mãi tôn thờ vì biết hướng đời mình cho lợi ích quốc dân.

Ba ông đang ở địa vị tột đỉnh, ngồi trên tiền bạc, trên luật pháp, toàn quyền sinh sát trong tay. Nhưng cái mà hiện các ông không có là sự kính trọng của mọi người, vì quyền lực các ông có được là đến từ họng súng, chứ không do sự gửi gấm niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên ba ông đang ở vào hoàn cảnh đặc biệt của những kẻ may mắn nhất trần gian là có thể để lại danh thơm muôn thuở mà những nhà lãnh đạo của nước khác không có. Chẳng hạn, Tổng Thống G. W. Bush dù nỗ lực tối đa để mang lại sự thịnh vượng, an ninh và tự do cho nước Mỹ thì đó là điều đương nhiên của vị Tổng Thống quốc gia dân chủ phải làm.  Đàng này, ba ông không cần phải nỗ lực nhiều mà chỉ cần thực thi đúng đắn về các quyền tự do, bình đẳng cho dân như trong Hiến Pháp quy định thì toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ tri ân đời đời.  Ba ông sẽ trở nên bất tử, sẽ được hậu thế tôn thờ. Bằng không, ba ông cứ tiếp tục theo con đường của các vị tiền nhiệm thì e rằng các ông sẽ không ngồi lâu để tận hưởng những gì đang có trong tay mà lại có nguy cơ bản thân bị hãm hại và ô danh kiếp kiếp.

Trước thềm Đại Hội X, trả lời báo chí về sự độc đảng của cộng sản, ông Phạm Thế Duyệt đã nói: “Sự độc đảng của đảng cộng sản có tính cách lịch sử bất khả luận bàn. Vì trong thời kỳ đấu tranh gian khổ chỉ có đảng cộng sản đứng ra lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp giành độc lập, sao không thấy ai đòi đa nguyên đa đảng?”. Đó là câu trả lời lấy được, bất chấp sự thật lịch sử. 

Trong thực tế, ngày nay các ông đã giết chết chủ nghĩa Marx rồi mà không chịu đem chôn, nên hồn ma bóng quế của nó vẫn còn là nỗi ám ảnh khủng khiếp. Nền tảng cơ bản của chủ nghĩa Marx là vô sản chuyên chính, kinh tế chỉ huy thì nay các ông cán bộ lãnh đạo đã trở thành những đại gia giàu nứt đố đổ vách; các ông đang phục hồi quyền tư hữu và chạy theo kinh tế thị trường. Ngoài ra, các ông chưa hề là người đệ tử trung thành với giáo chủ Marx, vì ông này dạy rằng “chỉ có thú vật mới dửng dưng trước nỗi thống khổ của đồng loại và chỉ biết chăm chút cho bộ lông của chúng” thì các ông không những dửng dưng trước nỗi thống khổ của đồng loại mà còn gieo rắc sự oan ức, khổ đau, lầm than cơ cực trên chính đồng bào mình. Do đó, nếu tiếp theo dưới đây tôi nói lên sự thật lịch sử về cộng sản thì sẽ không làm các ông chạnh lòng mà nổi cơn tức giận.

.

Tổng Bí Thư Trường Chinh Đặng Xuân Khu từng khẳng định: “Đảng (Cộng Sản) dùng bạo lực để Cướp Chính Quyền, thì tất nhiên Đảng phải dùng bạo lực để giữ chính quyền”. Lời nói đó xác nhận thực chất của đảng cộng sản là một đảng cướp, nhưng là một đảng cướp tồi bại hơn tất cả những đảng cướp đời thường. Bởi vì: Đảng cướp đời thường còn biết lấy điều nghĩa khí giang hồ ứng xử với nhau, ân đền oán trả phân minh. Đảng cướp cộng sản không những lấy oán báo ân mà còn giết hại một cách tàn nhẫn cả những người từng nuôi dưỡng mình lúc nghèo khó, kẻ từng nằm gai nếm mật với mình.  Khi trong thời kỳ phôi thai, mượn danh nghĩa giành “độc lập, tự do” Đảng tổ chức tuần lễ vàng, tuần lễ bạc để thu góp vốn liếng của nhân dân. Tới khi sắp sửa thắng lợi thì Đảng tổ chức các cuộc đấu tố cải cách ruộng đất với khẩu hiệu “trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ” là một bằng chứng về tội ác trở mặt bội phản, vì giai cấp địa chủ, tư sản như bà Nguyễn thị Năm mới có của cải tiền bạc để nuôi đảng; chứ hạng bần cố nông thì cơm không đủ ăn, lấy gì ra nuôi quân kháng chiến? Thế mà trước khi hành hình, đảng đã dùng đủ mọi cách hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần nạn nhân bằng những lời mắng nhiếc, sỉ nhục độc địa.

Cuộc thanh trừng nhóm Nhân Văn Giai Phẩm là một bằng chứng khác về tội ác bất nhân đối với người đồng chí từng cùng nhau trải qua gian nguy. Rêu rao chiêu bài “đoàn kết, đại đoàn kết”, nhưng lại ra lệnh bộ hạ bí mật thủ tiêu các lãnh tụ đảng phái, tôn giáo có cùng mục tiêu đánh đuổi ngoại xâm như Trương Tử Anh, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ… thì rõ ràng đảng cộng sản giành độc quyền làm tôi tớ cho Nga – Hoa, chứ không phải vì mục đích “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân Việt Nam. May phúc cho các nhà cách mạng như Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng… đã quy tiên trước khi đảng cộng sản ra đời tại Việt Nam; nếu không, chắc đảng cũng sai bộ hạ thủ tiêu hoặc bán đứng các vị anh hùng này cho thực dân Pháp! Nếu Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ Quốc Dân Đảng không bị thực dân đưa lên đoạn đầu đài ở Yên Bái thì chắc chắn họ cũng sẽ không tránh khỏi số phận của Trương Tử Anh, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ…

.

Từ khi du nhập tà thuyết Karl Marx vào đất nước cho đến ngày hôm nay, đảng cộng sản chỉ có một chủ trương duy nhất: lừa đảo, dối trá, bịp bợm, tráo trở. Kỹ thuật tinh vi đến độ những người thông thái vào hạng bậc nhất như Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đại Nghĩa… còn bị mắc lừa, huống chi những thanh niên trẻ trung đầy nhiệt tình yêu nước như Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Nguyễn Hộ… làm sao hiểu nổi sự giảo quyệt của tập đoàn lãnh đạo cộng sản? Cho nên tôi rất thương xót cho những người chân chính yêu chuộng lý tưởng xã hội vì lầm tưởng chủ nghĩa cộng sản đem lại thiên đàng cho hạ giới đến nỗi giờ này bị thân bại danh liệt, đau đớn ngậm mối căm hờn cho đến chết.

.

Núp dưới chiêu bài “Giải Phóng Dân Tộc”, đảng cộng sản xâm lăng Miền Nam. Khi chiến thắng thì “đoàn quân giải phóng” hành động chẳng khác nào đoàn thổ phỉ thâu tóm trong ba chữ V: “vơ, vét, về”. Sau đó, Đảng chủ trương ngăn sông cấm chợ, đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, bất chợt đổi tiền, đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm đoạt nhà đất là những vụ cướp của giết người tàn bạo và thô bỉ nhất trong lịch sử giống nòi.  Cho đến khi cả nước kiệt quệ, năm 1986 Đảng vội vàng la hoảng “Đổi Mới hay là chết!”. Nhờ sự chịu đựng bền bỉ và óc sáng tạo của dân tộc, đất nước mới có thể lóp ngóp ngoi dậy, đứng lên. Thế mà Đảng chẳng biết xấu hổ, lại đem kể lể những thành tựu “hai mươi năm đổi mới” (1986 – 2006) trong Đại Hội 10 một cách huyênh hoang trơ trẽn!

.

Người Tầu đô hộ Việt Nam một ngàn năm, nhiều phen bị dân ta đánh đuổi về Tầu. Nhưng ít nhất họ còn để lại cho xứ sở ta một nếp sống có văn hóa: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Đời sau ông bà ta còn đem những tấm gương của Kỷ Tín, Dự Nhượng, Do Vu, Nhan Hồi, Tử Lộ… để dạy dỗ con cháu. Thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam 80 năm, bị nhân dân ta đánh đuổi về bản xứ.  Nhưng ít nhất họ còn để lại cái tinh thần Cách Mạng Dân Quyền (Liberté, Égalité, Fraternité – Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái) với những tên tuổi như Montesquieu, Robespierre, Voltaire… mà ngày nay còn được xem như thần tượng.  Đảng Cộng Sản thống trị Việt Nam hơn nửa thế kỷ (tính từ 1954 đến 2006) thì để lại một đất nước tan hoang trên mọi phương diện: đạo đức suy đồi, văn hóa ngoại lai tôn thờ cái chủ nghĩa phi nhân và thương yêu đồ tể Staline hơn cha, hơn mẹ, hơn chồng… Lừa đảo, dối trá, ăn cắp, đút lót trở thành nếp sống thường ngày. Mặc dù trong thực tế Đảng đã bỏ con đường vô sản chuyên chính, cho phép quyền tư hữu, nhưng vẫn duy trì đường lối cai trị lưu manh, trí trá nói một đường làm một nẻo. Thủ tướng Phan văn Khải đi chu du nước ngoài, quả quyết với thế giới rằng ở Việt Nam không có tù nhân chính trị, thế mà một ông bác sĩ dịch bài “Thế nào là dân chủ” trên mạng lưới của tòa Đại sứ Hoa Kỳ thì bị nhốt vào xà lim vì tội làm gián điệp!

.

Hơn nửa thế kỷ qua, Đảng gieo rắc sự sợ hãi lên toàn dân bằng biện pháp khủng bố, đàn áp không nương tay để biến cả một dân tộc kiêu hùng đã dũng cảm đánh đuổi quân ngoại xâm sừng sỏ thành những kẻ hèn hạ cắn răng chịu nhục. Chính sách hộ khẩu là một chủ trương bất nhân làm cho người dân phải sống trong cảnh đói thì đầu gối phải bò. Người tù vì đói quá phải bò xuống đất nhặt từng hạt cơm rơi là do Đảng cố tình sỉ nhục con người. Biểu hiện rõ ràng nhất về cái “HÈN” là một ông Đại tướng được thế giới xưng tụng người Anh Hùng Điện Biên lại cam phận làm một anh “Cai Đẻ”, im thin thít trước những bất công xã hội, viết bài góp ý với Đảng một cách rụt rè, còn vênh váo đóng bộ quân phục trắng mang đầy huy chương trên ngực đi dự Đại Hội ngồi cạnh Lê Đức Anh (kẻ đã dùng Tổng Cục II hãm hại mình) để vỗ tay tán thưởng những bài diễn văn của các “lãnh tụ đàn em” cương quyết theo đuổi chủ nghĩa xã hội đến cùng!

Đảng cộng sản gieo rắc sự sợ hãi vào nhân dân bằng những biện pháp khủng bố, đàn áp để muôn năm trường trị thì chính căn bệnh sợ hãi ấy cũng lây lang sang cho người cầm đầu đảng. Ngày nay dù có lực lượng quân đội, công an phục vụ nhưng Đảng rất sợ hãi người dân. Nếu bảo rằng không sợ thì tại sao Đảng không dám chấp nhận lời thách thức Trưng Cầu Dân Ý của những nhà dân chủ không có một tấc sắt trong tay? Đảng không sợ thì việc gì phải thi hành những biện pháp hèn hạ của côn đồ để đánh đập các lương dân vô tội chỉ muốn xin lại một mảnh đất để cắm dùi sinh sống? Đảng không sợ hãi, tại sao lại bịt miệng bằng biện pháp cắt điện thoại, canh gác gắt gao không cho những nhà dân chủ tiếp xúc với báo chí thế giới?

.

Nhà văn Dương Thu Hương ra hải ngoại, được hỏi: “Bà mạt sát nhà cầm quyền hăng như vậy, liệu bà có dám về lại nước hay không?”. Bà đáp: “Về chứ! Tôi phải về để ỉa vào mặt những thằng lãnh đạo chứ!”. Quả nhiên, bà về thật và rồi Đảng lại phải thu xếp cho bà ra ngoại quốc một cách êm thắm, chứ không dám động chạm đến cái lông chân của bà. Cái gì đã khiến cho những nhà lãnh đạo chịu nhục để cho một người đàn bà tuột quần ra ngồi trên mặt và thải những chất dư thừa hôi hám trong bao tử, nếu không phải vì miếng ăn. Đảng dùng miếng ăn để làm nhục nhân dân, thì nay Đảng cũng vì miếng ăn mà đành muối mặt chịu nhục, đánh mất đi cái “anh chị” của Đảng cướp khi bị một người đàn bà chân yếu tay mềm miệt thị.

.

Những đảng cướp đời thường sau khi làm ăn khấm khá thì đổi phong cách, không còn giống như bọn đầu đường xó chợ nữa. Trùm băng đảng Mafia, bố già Don Corleone, đã kêu các con vào và dạy: “Bây giờ đã hết thời đâm thuê, chém mướn rồi. Tụi bay phải đi học cái nghề gì có thế giá một chút, như nghề luật sư chẳng hạn, mà vẫn ăn cướp được”. Đảng đã qua cái thời kỳ ngủ bờ ngủ bụi, nằm hầm nằm hố rồi; bây giờ Đảng ở nhà cao cửa rộng, có bồi bếp phục dịch, miệng nhồm nhoàm sơn hào hải vị, sâm nhung quế phụ thì hãy cố gằng mà hành xử sao cho xứng đáng với cương vị phương diện quốc gia. Không thể học đòi văn minh nửa vời, phần trên thì cổ cồn cà-vạt mà phần dưới thì cứ đóng khố và đi chân đất lấm bùn được. Một ông già 86 tuổi, từng là Viện trưởng Viện Triết Học Mác-Lê, từng làm thầy một số vị lãnh đạo hiện nay, ra nước ngoài nói lên cái sai lầm của chủ nghĩa Marx (những điều cả thế giới đều đã biết) mà khi trở về nước Đảng dùng côn đồ lấy phân người hòa với mắm tôm để tạt vào nhà nạn nhân thì tất nhiên cái chất thối tha bẩn thỉu ấy cũng sẽ dính vào tóc tai, quần áo qúi vị chứ! Bộ qúi vị không ngửi thấy mùi xú uế ấy bốc lên làm ô nhiễm môi trường sinh thái của cả thế giới chăng?  Sao lại cứ luôn luôn tự hào “đỉnh cao trí tuệ”?

.

Tình trạng đất nước hôm nay là thế nào? Tham nhũng tràn lan khắp nơi, từ các ngành xây dựng, kỹ nghệ đến y tế, giáo dục… Nói tóm lại, đất nước đang mắc chứng bệnh thập tử nhất sinh. Hậu quả này là do chủ trương dối trá, lừa đảo, bịp bợm của Đảng Cộng Sản độc quyền hơn nửa thế kỷ qua gây nên. Trong giai đoạn đấu tranh để cướp chính quyền, Đảng giả vờ thắt lưng buộc bụng, nêu lên những lý tưởng cao qúy như công bằng xã hội, làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu, không còn cảnh người bóc lột người là để kết nạp người ái quốc. Bây giờ thực tế đánh rơi chiếc mặt nạ của Đảng thì Đảng dùng bả vật chất để cấu kết nhau hầu tồn tại ngày nào hay ngày ấy. Bùn lầy, nước đọng, ẩm thấp là môi trường thuận lợi cho các loài muỗi mòng, rắn rết sinh sản. Cái cơ chế cai trị nhùng nhằng, chồng chéo dùng công an trấn áp tất cả tiếng nói của người dân ngày nay trên đất nước Việt Nam cũng là môi trường thuận lợi để cho tham quan ô lại hoành hành. Chính Đảng cộng sản chủ trương mua quan bán chức đẻ ra tham nhũng, chứ chẳng phải ai khác! Tiếng dân kêu oan ức không được giải quyết, phân xử thì bọn tội phạm cầm quyền lớn nhỏ cứ tha hồ vơ vét, có trừng phạt nào để chúng chùn tay? Cho nên miệng cứ hô hào chống tham nhũng cũng lại là những tuồng bịp bợm, chẳng ai tin. 

.

Gần đây, ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi vô số chỉ thị xuống Bộ Giáo dục và Đào tạo để ra lệnh phải chỉnh đốn lề lối làm việc, chấm dứt nạn bán bằng cấp, đề thi. Vấn đề giáo dục bao gồm ba mặt: Đức, Trí và Thể Dục, chứ không chỉ dạy cho học trò nghề chuyên môn để kiếm cơm và phục vụ hành vi cướp bóc của chế độ. Tôi có thể khẳng định rằng Đảng không thể chấn hưng nền giáo dục được, bởi vì cách cai trị của Đảng rất vô giáo dục. Luật sư Nguyễn văn Đài lái xe ô-tô đến chở hai ông Nguyễn Thanh Giang và Phạm Quế Dương đi Thái Bình để thắp hương trên phần mộ lão tướng Trần Độ nhân ngày giỗ của người quá cố mà Đảng cho công an chặn bắt mang về đồn thẩm vấn và qui cho những tội tày trời mà người ta không hề phạm. Một trong những truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam là “nghĩa tử, nghĩa tận”; huống chi Tướng Trần Độ đã một thời là công thần của chế độ, chứ đâu phải là một viên tướng của Ngụy Quân Miền Nam? Cấm đoán thi hành truyền thống văn hóa của tổ tiên mà đòi chấn hưng đạo đức trong giáo dục là một sự bịp bợm hết sức trắng trợn, thậm chí kẻ khờ khạo nhất thế gian cũng không thể tin nổi!

.

Ngoài ra, Đảng cướp Cộng sản tệ hại hơn đảng cướp đời thường ở chỗ đảng cướp đời thường không núp đằng sau những danh từ thiêng liêng cao qúy như Tổ Quốc, Dân Tộc, Công Bằng Xã Hội để đi… ăn cướp. Vì vậy, nếu bị đảng cướp đời thường giết thì vong hồn nạn nhân sẽ siêu thoát; nhưng nếu bị Đảng cướp Cộng sản giết thì oan hồn người chết không siêu thoát được vì cứ vấn vương tự hỏi tại sao mình là người yêu Tổ Quốc, yêu Dân Tộc lại bị giết vì tội Phản Quốc, Phản Dân? Những oan hồn ấy lâu nay vất vưởng ở đầu cành ngọn cỏ, cuối thác đầu ghềnh; nay đang quần tụ lại thành khí thiêng sông núi hun đúc tinh thần dũng cảm cho những nhà dân chủ đứng lên đòi hỏi Tự Do. Cho nên, dù Đảng dùng đủ các trò tiểu xảo giảo quyệt đến đâu cũng vô phương ngăn cản nổi ngọn trào đòi quyền sống của nhân dân.

.

Nhằm trả lời câu đáp của Phạm Thế Duyệt với nhà báo, trên đây tôi chỉ khái quát kể ra vài ba sự kiện lịch sử mà thôi, những điều mà tất cả nhân dân đều biết để các nhà lãnh đạo đừng ôm ấp mãi cái ảo tưởng có công giải phóng dân tộc. Nếu nói theo ngôn ngữ của nền văn minh tin học ngày nay thì một đĩa cứng (hard disk) có khả năng chứa hàng tỉ dữ kiện (data) cũng không cách gì ghi chép hết những tội ác của Đảng Cướp Cộng Sản gieo rắc cho dân tộc Việt Nam từ hơn 70 năm qua. Giả thử thực sự Đảng Cộng Sản có công như các triều đại vua chúa của ta đời trước có công dựng nước, mở nước đi nữa mà về sau đàn hậu duệ bất xứng hư hèn, đam mê tửu sắc thì cũng đều bị thay thế bởi một triều đại khác mà thôi.

.

Cổ nhân từng nói “túi tham không đáy” để chỉ lòng tham vô lượng của con người; nhưng cổ nhân lại nói “hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Ba ông là lãnh tụ tối cao của đất nước, ở trong lầu son gác tía, ăn toàn cao lương mỹ vị, tiền bạc chìm nổi cả trăm triệu đô-la, có quân đội và công an phục dịch và bảo vệ nhưng chắc chắn ba ông là những người khốn khổ nhất trần gian vì ngày đêm nơm nớp lo sợ, ngờ vực bọn thủ túc trở mặt giết hại mình lúc nào không hay do lòng tham của thuộc cấp, muốn cướp đoạt miếng đỉnh chung béo bở. Ngoài ra, các ông thừa biết quần chúng đều có tâm trạng như bà Dương Thu Hương là muốn “ỉa lên mặt” các ông, nhưng không dám nói ra đấy thôi. Các ông thường cáo buộc những người đòi hỏi tự do dân chủ vào tội âm mưu lật đổ chính quyền. Thử hỏi, nếu các ông là người dân sống dưới chế độ man rợ như hiện nay thì các ông sẽ cam tâm chịu làm thân trâu ngựa suốt đời mãn kiếp hay các ông cũng sẽ đứng lên đạp đổ cái chế độ ấy đi để giành lại quyền con người?  Hãy tự hỏi, rồi tự trả lời đi!

Ba ông tỏ ra “hồ hởi” vì các báo cáo của định chế tài chánh thế giới khen ngợi Việt Nam có mức tăng trưởng kinh tế khả quan. Nhưng dân chúng thừa biết mức tăng trưởng ấy là do sự bán tống bán tháo đất đai, tài sản quốc gia; bán rẻ mạt sức lao động công nhân cho tài phiệt ngoại bang, chứ chẳng phải nhờ tài giỏi. 

.

Phao tin hủy bỏ  Nghị định 31/CP phản dân chủ để người dân tưởng rằng có sự nới lỏng, nhưng mặt khác thì các ông cho công an lập điếm canh bao vây sự di chuyển của dân. Chắc chắn các ông đều biết chế độ đã đến ngày tàn, sắp đổ đến nơi. Cho nên khi những người bị bắt bớ đòi hỏi ai ký giấy tờ ra lệnh bắt thì nhân viên thừa hành đều trả lời do lệnh miệng của cấp trên. Các ông sợ lưu lại tang chứng để chính quyền tương lai xử tội. Đó là hành động của kẻ vừa cướp vừa run mà dân Bắc Kỳ gọi là “vừa rún, vừa đeo”.

Các ông nay đã giàu có, phung phí tiêu hoang đến ba đời không hết của cải, dưới tay đầy dẫy bọn quân hầu, tại sao các ông khổ sở sống trong cảnh “vừa cướp, vừa run”? Tại sao lâu nay tự hào “chống Mỹ cứu nước”, mà nay mới được họ bôi tên ra khỏi danh sách “quốc gia cần được quan tâm” (CPC) thì mừng như “cha chết sống dậy”? Nếu đối xử với đồng bào mình đàng hoàng tử tế thì việc gì phải sợ sức ép của ngoại bang? Lâu nay Đảng đặt bút ký cam kết tuân hành các điều khoản quốc tế để được gia nhập vào Liên Hiệp Quốc, nhưng vẫn đàn áp, tước đoạt quyền làm người của dân mình. Thế giới dùng lá bài nhân quyền “chiếu lệ” để ép các ông nhượng bộ về nhiều phương diện khác, chứ chẳng phải họ yêu thương gì dân tộc mình. (Người mình không thương dân mình, đàn áp dân như quân xâm lược thì mong gì họ là người dưng nước lã lại thương dân mình?). Nhưng nay các ông đã được vào WTO, các ông không thể tiếp tục lươn lẹo để ăn gian nói dối theo kiểu nói một đằng làm một nẻo nữa, vì kinh tế là đồng tiền, mà đồng tiền liền khúc ruột là huyết mạch. Họ sẽ không còn can thiệp chiếu lệ nữa, mà sẽ thẳng tay bắt khoan, bắt nhặt đến nơi đến chốn bằng những phạt vạ hàng tỉ bạc. Ôi! Như thế là nền Độc Lập của xứ sở tiêu vong, núi xương sông máu của nhân dân ta hóa thành vô ích!

.

Phàm là người ở cương vị lãnh đạo phải hiểu sâu sắc ba chữ: Thời, Thế, Cơ. Thời bưng bít sự thật, thông tin một chiều đã qua rồi.  Nếu cố gắng bít đầu này, sự thật sẽ phồng ra đầu kia. Khoác lác, huyênh hoang chẳng còn ai tin. Các ông nên tập nói Thật. Thế cũng yếu xìu. Xưa kia còn Nga, còn Tầu trong cùng băng đảng với nhau để lúc áp vào Tầu, lúc dựa vào Nga. Nay như chiếc bách giữ dòng, nếu không khéo lèo lái thì cả nước (kể cả các ông) sẽ đi làm đầy tớ cho ngoại bang thôi. Quốc gia đang đứng trước ngưỡng cửa hy vọng sẽ được phát triển về kinh tế (dân giầu), nhưng nước sẽ không mạnh nếu các ông tiếp tục bách hại tôn giáo và quyền sống của công dân. Các ông giàu có thiên triệu, nhưng chết sẽ không mang đi được xu nào. Thế thì tại sao đang ở cương vị đứng đầu cả nước lại không biết làm lịch sử để lưu lại tiếng thơm muôn thuở?  Hơn ai hết, cái chế độ của các ông sẽ tiêu vong, nên mới sợ hãi vẩn vơ. Thấy trước sự việc sẽ đến mà không hành động, cứ theo nếp cũ thi hành (khủng bố, đàn áp) để kéo dài sự vơ vét được ngày nào hay ngày nấy, rồi sẽ mất tất cả. Nếu các ông mang lại tự do, hạnh phúc cho dân thì dù các ông muốn cáo quan về hưu dưỡng, nhân dân cũng van nài các ông ở lại. 

.

Đây là cơ hội bằng vàng để làm rạng danh dòng họ Nguyễn của các ông. Xưa kia các bậc sinh thành của qúi ông chắc chắn ấp ủ hoài bão nào đó nên mới đặt tên cho các ông là: Minh Triết, Phú Trọng và Tấn Dũng. Chẳng lẽ mang những cái tên đẹp đẽ như vậy mà không biết làm điều tốt đẹp để rạng rỡ tổ tông? Chẳng lẽ đang ngồi ở địa vị cao ngất ngưỡng như thế lại hành xử như phường lưu manh, lừa đảo, dối trả để ngay chính con cái cũng khinh khi?

.

Tài từ điện ảnh Lê Vân đã mở đuờng khai lối cho các ông bằng tác phẩm “Yêu Và Sống”, bạch hóa SỰ THẬT (dù xấu, dù tốt) của đời mình cho thiên hạ nhìn thấy.  Đó là sự dũng cảm đáng kính trọng vì dám bày tỏ sự sám hối để thoát ra khỏi sự dằn vặt trong tâm hồn. Các ông nên noi gương người phụ nữ ấy. Các ông sẽ lấy được sự kính trọng của quốc dân, nếu biết sám hối, dám nói Sự Thật (lời nói đi đôi với việc làm) thì toàn dân sẽ chung sức, chung lòng tiếp tay với các ông tiêu diệt kẻ NỘI THÙ. Khi xưa, các ông thường nhật tụng cái câu “Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” là nhờ biết vận dụng lòng dân khiến họ hy sinh đổ xương máu. Nay các ông nên nghe lời khuyên của tôi, hãy quay về với nhân dân, bỏ đi thói bịp bợm “xã hội chủ nghĩa” thì tên tuổi các ông sẽ thơm lừng trong sử xanh.

Nếu các ông nghe lời khuyên nhủ của tôi (một người cao tuổi hơn mỗi ông) thì mai này nếu có du hành ra ngoại quốc như Phan văn Khải sẽ được đồng bào sinh sống ở nước ngoài trải thảm đỏ đón tiếp linh đình, chứ không phải chui rúc đi cửa hậu như người tiền nhiệm. Đừng nên bắt chước ông Võ văn Kiệt, khi làm Thù Tướng thì ban hành Nghị định 31/CP, rồi khi về vườn lại bày đặt viết bài góp ý với Đại Hội  để xây dựng nền dân chủ. Hơn nữa, sau đó chắc chắn sẽ không có Đại Hội 11 nữa đâu mà hòng góp ý. Hãy thức thời như kẻ có trí tuệ, hãy bắt chước sự dũng cảm như tài tử Lê Vân thôi (không đòi hỏi gì hơn), hãy biết sám hối để dám nói điều trung thực, tên tuổi các ông sẽ thơm lừng trong sử xanh (nhắc lại lần nữa cho nhớ) và có rất nhiều cơ may được dân chúng tạc tượng để thờ. Bảo đảm bằng mạng sống với các ông rằng khi chế độ sụp đổ, thành phố mang tên Hồ Chí Minh sẽ trở lại Sài-Gòn và nấm mồ của ông Hồ sẽ không còn nằm ở quảng trường Ba Đình nữa!  Giống như Leningrad trở lại St Petersburg vậy.

Vài dòng vắn tắt, mong rằng nói ít hiểu nhiều để mang lại lợi ích cho chính bản thân qúi ông. Còn chuyện Đất Nước quá lớn lao, xin nhường lời lại cho các bậc thức giả tài cao đức trọng. Tôi chỉ là thằng dân đen thô lậu, nhưng cũng thầu hiểu được đạo lý của Trời: Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa. Mong rằng những lời nói chân thật của tôi vể Đảng Cộng Sản không làm các ông phật lòng.

Trân trọng kính chào qúi ông,

© Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 40 other followers