Archive for Tháng Chín, 2011

ĐƯƠNG ĐẦU VỚI CUỘC “TỔNG TẤN CÔNG” CỦA HÀNG TRUNG QUỐC (Đoan Trang)

Tháng Chín 30, 2011

 

Đương đầu với cuộc “tổng tấn công” của hàng Trung Quốc

Đoan Trang

Thứ sáu, ngày 30 tháng chín năm 2011

http://trangridiculous.blogspot.com/2011/09/uong-au-voi-cuoc-tong-tan-cong-cua-hang.html

 

Êm như mưa dầm, ồ ạt như lũ, hàng Trung Quốc đổ bộ vào Việt Nam, “quét” sạch hàng nội, moi túi người tiêu dùng. Mức nhập siêu hàng tỷ USD mỗi năm đủ cho thấy các doanh nghiệp ta đang “thua trắng bụng”. Để không bị làn sóng này dìm chết, không một ai – từ Chính phủ tới doanh nghiệp và người tiêu dùng – có thể đứng ngoài cuộc.

Anh Đào Xuân Anh, 34 tuổi, là giám đốc một công ty kinh doanh hóa mỹ phẩm ở Hà Nội. Đăng ký chức năng hoạt động là sản xuất và phân phối (bán lẻ) các loại hóa mỹ phẩm chăm sóc tóc, nhưng 4-5 năm nay, công ty của anh chỉ tập trung nguồn lực vào nhập hàng từ Trung Quốc về bán. Lý do rất đơn giản: Nhập hàng Trung Quốc có lợi hơn.

Cái lợi ở đây, anh giải thích, gồm nhiều mặt: Chi phí nhập khẩu (tính cả mua hàng lẫn vận chuyển) rẻ hơn là tự sản xuất, quy trình làm việc đơn giản và ít phải suy nghĩ hơn. “Nếu tôi mở xưởng chẳng hạn, sẽ có muôn vàn thứ phải tính: địa điểm, nhân lực, thuế má, và vô số loại chi phí không tiện nêu tên nữa. Trong các ngành khác thì không biết thế nào, chứ trong ngành này, tất cả các sản phẩm – từ thuốc nhuộm, tới dầu xả, dầu dưỡng v.v. – nhập từ Trung Quốc về đều rẻ hơn và giản tiện hơn tự sản xuất. Danh mục này chỉ trừ dầu gội đầu, nhưng ngay cả sản xuất dầu gội thì cũng có một số nguyên liệu phải nhập từ Trung Quốc”.

Anh nói thêm: “Đấy là tôi còn chưa kể, làm việc với phía Trung Quốc cũng khá thoải mái. Sản phẩm của họ chất lượng tốt, giá lại rẻ, mua càng nhiều càng rẻ. Họ giữ chữ tín và chiều chuộng đối tác – ít ra cho đến lúc này tôi vẫn thấy như vậy. Ở ta thì làm giám đốc doanh nghiệp nhỏ, như tôi, phải đương đầu với quá nhiều chuyện: thuế vụ, đại lý o ép, đối tác không đáng tin cậy v.v.”.

Chiến lược kinh doanh của anh Đào Xuân Anh tỏ ra hoàn toàn đúng đắn, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, chi phí sản xuất tiếp tục tăng cao. Trong khi đó, giá hàng Trung Quốc vẫn được duy trì ở mức thấp, chất lượng vẫn đảm bảo (hoặc nếu không đảm bảo thì cũng chẳng ai biết). Và như vậy, với một công ty quy mô nhỏ, không đầy một chục người, giải pháp khôn ngoan nhất là: Cả sếp và nhân viên cùng kéo nhau sang Trung Quốc xách hàng về bán.

Kết quả: nhập siêu kỷ lục

Thập niên đầu thế kỷ 21, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng 23,25 lần. Cùng trong thời gian đó, kim ngạch xuất khẩu của ta theo chiều ngược lại tăng vỏn vẹn 6,08 lần. Năm 2010, cán cân thương mại của Việt Nam với Trung Quốc thâm hụt 12,7 tỷ USD, gần bằng với giá trị nhập siêu của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam. Bốn tháng đầu năm 2011, Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 7,1 tỷ USD, trong khi xuất khẩu ngược lại chỉ có gần 3 tỷ USD (nguồn: số liệu của Tổng cục Hải quan)

Đáng sợ là không có dấu hiệu nào cho thấy con số nhập siêu sẽ giảm đi.

Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Thương mại, Trung Quốc là thị trường trọng điểm của Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội vô cùng to lớn tại đất nước hơn 1 tỷ dân này. Từ năm 2004, lãnh đạo hai nước đã xác định: Với lợi thế địa lý số 1 – có chung đường biên giới trên bộ dài đến hàng trăm km – với hệ thống giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy tương đối thuận tiện cho vận chuyển hàng hóa, hoạt động buôn bán qua biên giới giữa hai nước là một bộ phận cấu thành của quan hệ kinh tế.

Trên thực tế, có cơ sở để tin rằng thị trường 1,3 tỷ dân của Trung Quốc là một mảnh đất màu mỡ, luôn “khát hàng”; và trên thực tế, Trung Quốc đã “qua mặt Mỹ để trở thành người tiêu dùng lớn nhất thế giới ở một số mặt hàng then chốt” (tư liệu trong cuốn Thế giới hậu Mỹ của Fareed Zakaria, Nhà xuất bản Tri Thức, 2009).

Riêng trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Trung Quốc có nhu cầu cao đối với nhiều mặt hàng mà chúng ta có thế mạnh như: rau quả, thủy sản, cao su, đồ gỗ, than đá…

Với tất cả những “lợi thế” đã chỉ ra đó, Việt Nam vẫn phải gánh chịu thâm hụt thương mại khổng lồ trước Trung Quốc, doanh nghiệp ta vẫn lép vế thảm hại ngay trên sân nhà, và khủng hoảng kinh tế càng kéo dài thì ta càng “thua trắng bụng”. Vì sao?

Tầm nhìn chiến lược của người Trung Quốc

Nhìn vào những chính sách và quy định pháp luật của Trung Quốc về mậu dịch với các nước có chung đường biên giới, trong đó có Việt Nam, mới thấy không khỏi giật mình.

Theo Tiến sĩ Phạm Trí Hùng (Viện Marketing và Quản trị Việt Nam), từ năm 1978, Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa nền kinh tế, đã xác định “mở cửa toàn diện, nhiều hình thức, nhiều tầng”, trong đó có mở cửa ven biên giới đất liền: “Phương châm của chiến lược mở cửa ven biên giới là: lấy mậu dịch biên giới dẫn đường, coi hợp tác kinh tế – kỹ thuật là trọng điểm, lấy khu vực lục địa làm chỗ dựa, coi việc khai thác thị trường các nước xung quanh là mục tiêu”.

Cũng theo Tiến sĩ Hùng, riêng trong cơ cấu thị trường, ngay từ cuối những năm 80, Trung Quốc đã coi mậu dịch biên giới là “đột phá khẩu” và có những chính sách quản lý rất rõ ràng, thống nhất, hướng vào việc đẩy mạnh mậu dịch biên giới, nhằm cải thiện đời sống của cư dân vùng biên giới, phát triển kinh tế vùng biên. Chẳng hạn, Trung Quốc thực hiện những chính sách ưu đãi như: xóa bỏ mọi sự hạn chế về hình thức sở hữu đối với các thành phần tham gia mậu dịch biên giới; xóa bỏ mọi sự hạn chế, ràng buộc của chính quyền địa phương sở tại đối với mậu dịch biên giới; xóa bỏ sự hạn chế về kim ngạch, đảm bảo các giao dịch của mậu dịch biên giới qua một cửa; thực hiện việc miễn thuế, giấy phép xuất nhập khẩu đối với những hàng hóa bình thường… Bắc Kinh còn giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do hải quan thu và nộp về ngân sách trung ương.

Trung Quốc cũng đầu tư làm tốt công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, bởi họ xác định đó là “vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước”.

Những gì Bắc Kinh thực hiện cho thấy một chiến lược lâu dài, bài bản của chính phủ nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp lớn nhỏ, thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt ưu tiên mậu dịch biên giới. Nó cũng chứng tỏ rằng, trong việc xuất khẩu hàng hóa, chiếm lĩnh thị trường nước khác, doanh nghiệp không thể đơn lẻ.

Đừng để doanh nghiệp Việt Nam đơn độc

Ở đây phải nhấn mạnh, Nhà nước không thể đứng ngoài công cuộc hỗ trợ cho doanh nghiệp (“hỗ trợ” chứ không phải “quản lý”). Một khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, những hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp quá trực tiếp, “lộ liễu” không còn được chấp nhận nữa vì có thể vi phạm điều lệ. Nhưng vẫn có những việc Chính phủ có thể làm – và làm tốt – để giúp doanh nghiệp nội đương đầu với hàng ngoại. Ví dụ như cung cấp thông tin về thị trường Trung Quốc và các chính sách của Bắc Kinh đối với các thị trường láng giềng, đặc biệt là với Việt Nam, sao cho không còn những vụ như vụ dưa hấu Việt Nam bị ách ở cửa khẩu Tân Thanh vì doanh nghiệp không cập nhật được những thay đổi trong luật kiểm dịch của Trung Quốc.

Bên cạnh đó là việc thực thi pháp luật để tiêu diệt vấn nạn hàng lậu. Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh “than” hộ doanh nghiệp: “Đã đành là tự do cạnh tranh, doanh nghiệp làm ăn yếu kém, không hiệu quả, thì phải chịu, Chính phủ không cứu được. Nhưng buôn lậu là cái có thể ngăn chặn được chứ đâu phải vô phương chống đỡ? Vấn đề là hình như chúng ta không làm gì cả”.

Về ý kiến cho rằng vì cơ cấu xuất khẩu của ta có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc nên khó xác định được những ngành có lợi thế cạnh tranh, ông Bùi Trinh nhận xét: “Thực ra từ trước đến giờ Việt Nam chưa có chính sách xác định cụ thể một ngành nào là cần ưu tiên. Nền kinh tế quả mít. Đúng hơn là ta có xác định, nhưng đều chỉ một thời gian lại thay đổi: nào dệt may, nào mía đường, nào thép… Tôi thấy cứ như thể chúng ta chưa thực sự quan tâm tới ngành nào cả”.

Doanh nghiệp Việt Nam: Phải tự cứu mình

Trước làn sóng hàng Trung Quốc, không còn thời gian để mỗi doanh nghiệp Việt Nam trong ngành có liên quan bình tâm chờ đợi một chiến lược hay vài chính sách “hỗ trợ” từ phía Nhà nước. Cải tiến thiết kế, đẩy mạnh hoạt động marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, là những việc doanh nghiệp ta có thể thực hiện ngay trên thị trường nội địa.

Rõ ràng là thị trường trong nước không cung cấp đủ hàng hóa, dân có nhu cầu thì họ mua của Trung Quốc là phải” – chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nói.

Sự chủ động, xông pha thị trường với tinh thần sáng tạo, “sẵn sàng tự do cạnh tranh”, xem ra không phải tố chất có thừa ở các doanh nghiệp Việt Nam. Cũng ông Bùi Trinh cho biết, hồi có chủ trương kích cầu (năm 2008), “nhiều công ty dồn nỗ lực vào việc kiếm được một khoản tiền hỗ trợ Nhà nước rót. Có công ty còn đem tiền ấy cho vay lại, kiếm lãi, thay vì tập trung vào đầu tư, sản xuất”.

Còn trong việc xuất khẩu hàng theo hướng… ngược lại, sang Trung Quốc, hơn ai hết, doanh nghiệp phải cập nhật thường xuyên thông tin về thị trường nhập khẩu, chủ động xúc tiến thương mại, nâng cao khả năng cạnh tranh. Một số chuyên gia khuyến cáo: Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn coi nhẹ vấn đề kiểm dịch, nên hay bị phía đối tác Trung Quốc lợi dụng ép giá. Đây cũng là điều các nhà xuất khẩu phải lưu tâm.

Trong sự thảm bại của hàng Việt Nam trên sân nhà, có lẽ người tiêu dùng là ít đáng trách nhất. Bởi ở Việt Nam, thu nhập đầu người thấp, hàng hóa nội địa yếu cả về số lượng và chất lượng, người tiêu dùng quay sang hàng Trung Quốc là điều dễ hiểu. Chúng ta có thể hô hào kêu gọi tinh thần dân tộc và lòng yêu nước ở mỗi con người. Tuy nhiên, điều đó lại thuộc về một câu chuyện khác rồi.

 

.

.

.

TÔI VỀ VIỆT NAM THAM GIA BIỂU TÌNH (Tường An, RFA)

Tháng Chín 30, 2011

 

Tôi về Việt Nam tham gia biểu tình

Tường An, thông tín viên RFA

2011-09-30

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/german-vns-ab-cn-protest-parti-ta-09302011145018.html

 

Như các cuộc biểu tình trước đây, cuộc biểu tình ngày 21/8 cũng bị công an đàn áp và bắt giữ những người tham gia biểu tình trong đó có ba mẹ con một công dân Đức gốc Việt.

 

Chị Trần Thị Hường biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội hôm 21/8/2011. RFA photo

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/german-vns-ab-cn-protest-parti-ta-09302011145018.html/Chi-Tran-thi-Huong-305.jpg

Gia đình này sau đó đã bị trục xuất khỏi Việt Nam. Về đến Đức Họ đã viết thư lên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang để yêu cầu làm rõ sự việc. Thông tín viên Tường An tiếp xúc với bà Trần thị Hường, người đứng tên trong lá thư ngỏ này.

 

Dù bị nhiều đàn áp từ phía chính quyền, các cuộc xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều cường độ khác nhau. Hòa vào dòng cuồng lưu đó, bà Trần thị Hường, một công dân Đức gốc Việt, trong một dịp cùng gia đình về Việt Nam nghỉ hè, đã tham gia biểu tình để giải tỏa nổi bức xúc âm ỉ lâu nay khi nhìn thấy ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc bức hiếp, bà xúc động :

“Tôi nhìn cái cảnh ông Lành nào đấy ổng trên thuyền, ổng mặc cái áo màu xanh, tôi vẫn còn nhớ cái cánh tay áo toạc ra mà người thì gầy gò, cái răng thì sứt mất một cái. Ổng ấy vừa bị bắt chuộc về. Có xót ruột không khi thấy người dân mình như thế.”

 

Biểu tình ôn hòa

 

Vợ chồng chị Hường và và ba cô con gái là cô Tuyết Trinh 26 tuối, cô Hà Thanh 14 tuổi và Minh Tâm 10 tuổi về Việt Nam ngày 14 tháng 8, tạm trú tại Hà nội, chị dự định sẽ thăm gia đình Cha Mẹ chồng cũng như viếng mộ Cha Mẹ chị ở Quảng Bình nhưng tất cả những dự định đó đã không thực hiện được bởi chị bị trục xuất vì đã tham gia cuộc biểu tình chống Trung Quốc ngày 21 tháng 8 vừa qua, chị kể lại diễn tiến sự việc xảy ra ngày hôm đó :

“Tôi làm 2 cái biểu ngữ, một cái tôi đề là «Quyết tử cho Tổ Quốc Quyết Sinh» «Trường Sa, Hoàng Sa, Việt Nam» và một biểu ngữ nữa tôi ghi «Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hãi của Việt Nam là sứ mệnh của toàn dân» Trên 2 biểu ngữ đó thì ở 2 đầu góc tôi ghi luôn là cờ Đức và cả một cái cờ Việt Nam.

Thế thì 8.30 giờ thì ba Mẹ con dựng cái banderole vào lễ tạ tượng đài Vua Lý Thái Tổ, đương lễ tạ thì có một anh mặc thường phục mở banderole của tôi ra. Đáng lẽ ra ở Đức là không được phép vì đấy là tài sản của tôi. Tôi cười cười bảo, cái này của cô đấy cháu ạ, đây là cái banderole để cô đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược biển đảo của mình »

 

Sau đó ba mẹ con ra bờ hồ, chị Hường luôn dặn các con phải giữ đúng luật giao thông, không làm mất trật tự đường phố như luật pháp quy định vì bà nghĩ rất đơn giản : biểu hiện lòng yêu nước là quyền lợi và bổn phận của người dân và chính quyền phải ủng hộ, thế nhưng, thực tế thì khác hẳn :

“Thế thì, tôi đi. Mà luật ở Việt Nam cấm đi 5 người thì mình tụ tập có 3 Mẹ con thôi ! không sao cả. Tôi vẫn bảo các con đi đúng vỉa hè, không đi xuống lòng đường, không có gây cản trở, không có gây mất trật tự giao thông gì hết !

Ra đối diện với bờ hồ thì tự nhiên nhân dân ở đâu người ta ào vào, người ta nhập vào với mình. Rất là thương chị ạ, mình cảm thấy là cái lòng của mình nó ấm lên. Đúng rồi ! Tổ quốc mình vẫn còn có rất là nhiều người yêu nước.”

 

Và sau đó :

“Chúng tôi chả có hô hoán gì đâu chị ạ ! Tự nhiên ô-tô của cảnh sát người ta mới loa rằng là mất trật tự nhưng mà chúng tôi có làm mất trật tự đâu, chính là họ làm ầm ầm lên thôi chứ chúng tôi chả làm gì cả.

Thì bắt đầu chị Minh Hằng mới hô thì mình thấy chị hô rất là đúng tức là «Đả đảo Trung quốc xâm lược Việt Nam” thì mình cũng «đả đảo». Sau đó thì cả đoàn mới khởi động xuôi xuống đường Bà Triệu.

Đương đi thế này thì bao nhiêu là những thanh niên đeo bằng cờ đỏ. Chúng hùng hổ chưa từng thấy. Tôi chưa từng thấy có người nào mà lại con người đối xử với con người như vậy. Nó giằng, nó giật luôn cái biểu ngữ của chúng tôi quăng xuống đất, mà đấy là cái Quốc kỳ chứ chị ! Tôi rất là ngạc nhiên, tôi vội vàng nhặt lên và ôm chặt vào lòng thì 3,4 người xô vào bắt tôi đi lên xe. Chân tôi thì bị tàn tật 20% ở bên Đức này. Ba, bốn người xô đẩy tôi lên xe bus, không ai nói mời chị lên xe bus hoặc là cái gì cả. Vì cái chân tôi bị tàn tật như thế tôi cũng đành phải lên xe. Cháu bé nhà tôi 14 tuổi cũng bị bắt lên. Cháu lớn thì cháu chòai ra được nhưng mà thấy cháu cứ khóc lóc thì tôi bảo thôi thì lên đây. Trên xe ô-tô chúng tôi vẫn hô đả đảo!”

 

Con gái chị Hường (áo đen) tham gia biểu tình hôm 21/8/2011. RFA

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/german-vns-ab-cn-protest-parti-ta-09302011145018.html/Chau-Trinh-Tuyet-Trinh-250.jpg

 

Bị trấn áp, trục xuất

 

Đoàn người được đưa về trạm công an Mỹ Đình, tại đây chị phải trải qua rất nhiều toán điều tra để lập biên bản với những câu hỏi lập đi lập lại mà chị cho rất là vô lý như «Chị ước lượng đoàn biểu tình bao nhiêu người, máy bay của chị có bao nhiêu người »…v.v.. đến lúc chị không chịu đựng được nữa:

“Hết đoàn nọ đến đoàn kia cứ vào hỏi, tôi bảo : tôi mệt lắm rồi ! Bây giờ tôi chỉ khai 1 lần thôi, các anh muốn hỏi thì các anh chép của nhau đi !”

Sau gần một ngày làm việc với công an Mỹ Đình, chị và hai con chỉ được thả ra sau khi chồng chị đến đưa hộ chiếu và ký giấy bảo lãnh mặc dù chị phản đối, cho rằng chị biểu tình vì yêu nước chứ có phạm tội gì đâu mà phải bảo lãnh.

Chiều, về đến nơi tạm trú, chị tiếp tục bị quấy nhiễu bởi công an xuất nhập cảnh, công an phường và những đoàn người mà chị không biết là ai cho mãi đến gần nửa khuya, đến lúc đi ngủ thì lại còn 1 ngạc nhiên nữa chờ chị.

“Tôi đi biểu tình chống Trung Quốc mà hết đoàn nọ đến đoàn kia vào hỏi. Bây giờ khuya rồi tôi phải vào ngủ vì hôm nay tôi đi biểu tình rất sớm, tôi bị giữ ở đồn công an mà chân tôi thì đau, tôi không thể tiếp các anh được, đề nghị các anh cho tôi đi ngủ. Thế thì tôi đi nghĩ trên gác tôi nhìn xuống dưới : Không ngờ được chị ạ, Ba, bốn cái xe cảnh sát bao vây quanh nhà, nơi tôi tạm trú. Bao nhiêu cảnh sát, rồi là bảo vệ đầy chật ra ! Coi như tôi là một kẻ chuẩn bị mang bom đi đặt ở đâu đấy chị ạ !”

 

Sau một đêm không ngủ, 6 giờ sáng hôm sau chị lại phải tiếp một nhóm công an khác nữa và họ bắt chị phải lên phường. Tại đây chị gặp công an Tú, nữ công an Phương và công an phường, chị bị yêu cầu phải về nước với lời kết tội là «chị về Việt Nam để biểu tình », chị phản đối sự cáo buộc đó của công an:

“Tôi hoàn toàn phản đối, bởi vì cái biểu tình này là bắt đầu mùng 5 tháng sáu là bắt đầu có biểu tình ở Việt Nam mà tôi đặt vé về Việt Nam là tháng 3. Tức là trong thời gian đó không hề có biểu tình. Nhưng mà đã có xâm phạm lãnh thổ lãnh hải từ lâu rồi. Mà nói thật là tôi rất bực từ lâu rồi thế cho nên là tháng 8 tôi về tối kết hợp luôn, tôi xuống đường luôn.”

 

Mặc dù phản đối, gia đình chị với một người con 10 tuổi đang bị bệnh vẫn bị đuổi ra khỏi Việt Nam vào lúc 8 giờ đêm ngày 22/8, một ngày sau cuộc biểu tình. Chị yêu cầu được ở lại trị bệnh cho con rồi mới về thì công an Tú bảo nếu tôi mà không đi thì chúng tôi cưỡng chế chị !

“Tôi nghe mà tôi cảm tưởng như tôi sắp bị xử tử đến nơi rồi chị ạ !”

 

Phân biệt đối xử

 

Trên máy bay, gia đình chị lại bị phân biệt đối xử chỉ vì cái tội đã tham gia biểu tình : chị thì không được ngồi ghế dành cho người tàn tật, còn chồng chị thì không được uống bia:

“Nếu mà nói về luật thì chỉ tôi với cháu lớn là đi biểu tình là phạm luật. Chồng tôi ở nhà không có đi. Thế thì ở trên máy bay gọi cốc bia uống. Cô tiếp viên mới bảo là : Không cô ạ, chúng cháu có danh sách rồi là nhà cô là không được uống cồn. Tôi bảo tại sao không được uống cồn thì cô tiếp viên bảo là bên An ninh người ta yêu cầu như thế !”

 

Khi về đến Đức, chị có viết 1 lá thư gửi cho chủ tịch nước Trương Tấn Sang, lá thư được gửi đi ngày 19 tháng 9, cho đến nay chị đã nhận được phản hồi chưa ạ ?

“Dạ chưa được chị ạ, tôi vẫn đang chờ đấy ! Chờ nhưng mà tôi không hy vọng lắm là ông Trương Tấn Sang sẽ trả lời thư của tôi đâu chị ạ ! Nhưng mà tôi vẫn có một cái hy vọng đồng sự đồng nghiệp của ổng đọc được lá thư này.”

 

Đến Đức năm 1988 theo diện hợp tác lao động. Ngày xưa chị cũng đã từng xuống đường chống Mỹ, và hôm nay chị cũng đi biểu tình phản đối Trung Quốc, cả hai lần biểu tình đều xuất phát từ lòng yêu nước, muốn bảo vệ tổ quốc, chỉ khác là lần đầu chị được nhà nước động viên xuống đường, còn lần này thì :

“Ngày xưa thì tôi sống ở ngoài miền Bắc, tức là Xã hội chủ nghĩa. Cái thời thanh thiếu niên của tôi, ngay trong nước mình, nhân dân cũng xuống đường biểu tình, thiếu niên, các tầng lớp trí thức, công, nông. Tất cả xuống biểu tình rất là rầm rộ phản đối Đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc. Người ta bảo võ mồm, đâu có phải mà là vũ khí tuyên truyền chính trị rất là quan trọng.

Những cái đấy đã giúp cho các ông lãnh đạo ngồi vào bàn Hiệp định Ba-Lê với Mỹ và đem lại Hiệp định ngừng bắn cho Việt Nam mình, thì tôi nghĩ mình cũng xuống đường, mình cũng làm như xưa thôi, mà mình làm ngày trên đất mình thì chính quyền phải bảo vệ mình làm. Người ta xâm lược nước mình mà chính quyền Việt Nam không cho mình yêu nước, cái đó rất là vô lý.”

 

Trên máy bay, chị Hường rời quê hương thứ nhất để trở lại quê hương thứ hai với một tâm trạng thất vọng, não nề và cái hộ chiếu thị thực nhập cảnh 5 năm mang con dấu «đã hủy».

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

———————————

 

THƯ NGỎ GỬI CHỦ TỊCH NƯỚC CỦA MỘT NỮ VIỆT KIỀU YÊU NƯỚC

Nguyễn Xuân Diện blog

Thứ hai, ngày 19 tháng chín năm 2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/09/thu-ngo-gui-chu-tich-nuoc-cua-mot-nu.html

 

.

.

.

NGƯỜI BIỂU TÌNH KIỆN TRƯỞNG CÔNG AN QUẬN HOÀN KIẾM (Người Việt)

Tháng Chín 30, 2011

 

Người biểu tình kiện trưởng công an quận Hoàn Kiếm

Người Việt

Thursday, September 29, 2011 4:28:14 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137778&z=2

 

HÀ NỘI (NV) - Hai phụ nữ đi biểu tình chống Trung Quốc gửi đơn tới Sở Công An thành phố Hà Nội yêu cầu truy tố hình sự đối với trưởng công an quận Hoàn Kiếm và một giám thị trại giam thành phố.

 

Bà Bùi Thị Minh Hằng mới gửi đơn theo đường bưu điện chuyển phát nhanh ngày Thứ Năm đến tướng giám đốc Sở Công An Hà Nội, nhưng bà Ðặng Bích Phượng thì đã gửi đơn trước, một tuần trước đó.

Cả hai bà đi biểu tình ở Hà Nội ngày 21 tháng 8 cùng với khoảng hơn 50 người khác, bày tỏ lòng yêu nước, phản đối các hành động ngang ngược của Trung Quốc. Tất cả đều bị bắt nhưng hầu hết được thả vào buổi tối cùng ngày, ngoại trừ khoảng 8 người trong đó có bà Hằng và bà Phượng.

 

Bà Bùi Thị Minh Hằng, 45 tuổi, và bà Ðặng Bích Phượng, 51 tuổi, bị giam giữ, tra vấn mãi đến chiều tối ngày 25 tháng 8 mới được thả.

 

Trong đơn yêu cầu khởi tố, bà Hằng kể:

“Sáng ngày 21 tháng 8, 2011, tôi ra Bờ Hồ để tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn giết hại ngư dân và xâm phạm lãnh hải, phá hoại tàu khảo sát địa chấn trong vùng biển Việt Nam. Khoảng 8 giờ 15 phút, khi tôi đi taxi ra tới gần tượng đài Lý Thái Tổ, thì đoàn biểu tình đã sang đường phía Bờ Hồ. Mọi người vừa đi về hướng Tràng Tiền vừa hô khẩu hiệu với nội dung phản đối Trung Quốc xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo…” Chỉ ít phút sau khi cuộc biểu tình bắt đầu thì “một nhóm thanh niên đeo băng đỏ lao vào túm lấy những người biểu tình, lôi kéo một cách thô bạo và cưỡng bức họ lên xe buýt, trong đó có tôi.”

 

Bà Hằng và những người khác bị đưa về phường Mỹ Ðình. Tại đây, bà bị thẩm vấn rồi chuyển sang phòng giam của quận Hoàn Kiếm. Bà cho hay bà bị công an đối xử “với thái độ rất côn đồ” và “với những lời lẽ thô tục.”

Bà yêu cầu khởi tố ông Hoàng Quốc Ðịnh, trưởng công an Quận Hoàn Kiếm, và ông Bùi Ngọc Bình là một giám thị trại giam quận đó.

 

Bà Hằng cho hay các cuộc thẩm vấn hàng ngày đều lập lại những lời tra vấn về chuyện đi biểu tình, mà theo bà kể trong đơn yêu cầu khởi tố thì bà “hoàn toàn bảo lưu quan điểm thể hiện lòng yêu nước của chúng tôi là đúng, việc công an chính quyền ngăn trở người dân nói lên tiếng nói yêu nước là hoàn toàn trái pháp luật và vi hiến.”

 

Trong đơn yêu cầu khởi tố hình sự của bà Ðặng Bích Phượng, nội dung tương tự như đơn bà Hằng nhưng kể chi tiết nhiều hơn. Bà Phượng cho hay bà “bị bắt cởi hết quần áo để khám xét” nên bà đã “quyết liệt phản đối hành vi nhục mạ nhân phẩm này của công an” trong khi bà không phải là tội phạm.

 

Cả hai bà đều bị công an tới khám nhà khi bị giam giữ. Bà Phượng kể trong đơn là công an đã lấy đi một số tài sản như máy tính xách tay, máy ghi âm, loa pin cầm tay, ba lô, một số khẩu hiệu, v.v…

 

Bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Ðặng Bích Phượng yêu cầu truy tố hai người nói trên theo các điều 121, 123, 124, 125, 296, 303 của Bộ Luật Hình Sự tức các tội danh từ bắt giam người trái pháp luật, lợi dụng chức vụ quyền hạn để bắt giam trái phép, xâm phạm chỗ ở và xâm phạm bí mật thư tín, điện thoại, chiếm đoạt tài sản trái phép.

 

“Tôi không vi phạm pháp luật. Tôi thực hiện quyền công dân của mình là quyền biểu tình được quy định tại Ðiều 69 của Hiến Pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001, nhưng tôi lại bị các cơ quan công an quận Hoàn Kiếm và giám thị trại tạm giam số 1 Hà Nội đối xử với tôi như một bị can, một tù nhân trong khi tôi chưa bị khởi tố, chưa có bản án phải thi hành.” Bà Bùi Thị Minh Hằng viết trong lá đơn đề nghị khởi tố.

 

——————————–

 

BÀ BÙI THỊ MINH HẰNG YÊU CẦU KHỞI TỐ HÌNH SỰ

Nguyễn Xuân Diện

Thứ năm, ngày 29 tháng chín năm 2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/09/ba-bui-thi-minh-hang-yeu-cau-khoi-to.html

 

BÀ PHƯƠNG BÍCH YÊU CẦU KHỞI TỐ HÌNH SỰ

Nguyễn Xuân Diện

Thứ năm, ngày 22 tháng chín năm 2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/09/ba-phuong-bich-yeu-cau-khoi-to-hinh-su.html

 

.

.

.

CHUYỆN MỘT NHÀ ĐẤU TRANH CÓ THỂ BỊ TRỤC XUẤT VỀ VIỆT NAM (Hà Giang/Người Việt)

Tháng Chín 30, 2011

 

Chuyện một nhà đấu tranh có thể bị trục xuất về Việt Nam

Hà Giang/Người Việt

Thursday, September 29, 2011 7:04:29 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137792&z=1

 

ORANGE (NV) – Trong căn phòng dài, được chia thành khoảng 40 ô có đánh số, trên những chiếc ghế xếp hàng đôi, nhiều người mặc đồng phục mầu cam hay đỏ, thân áo cũng được đánh số, ngồi áp tai vào điện thoại, chuyện trò với người đối diện qua một đường dây điện thoại sẽ bị tắt sau thời gian cố định 30 phút. Cách chia họ là một tấm kính dầy.

 

Ông Nguyễn Tấn Vinh trước ngày rời Los Angeles đi Manila, Philippines, khoảng Tháng Giêng, 2000. (Hình: Gia đình cung cấp)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137792-NguyenTanVinh-1-400.jpg

 

Ánh đèn điện chan hòa, soi rõ mọi ngõ ngách của gian phòng, kể cả hành lang dẫn vào khu nhà giam hun hút bên trong. Dù thế, không gian vướng vất một vẻ u uất, bí rị của nơi từ lâu đã thiếu cả gió lẫn ánh nắng mặt trời.

Ðó là khung cảnh của phòng thăm tù trong nhà giam Theo Lacy, Orange, vào một buổi trưa Thứ Sáu, nơi ông Nguyễn Tấn Vinh, một cư dân Nam California, bị giam từ hơn một năm nay.

 

Muốn trả lời câu hỏi tại sao ông Nguyễn Tấn Vinh, năm nay 55 tuổi, bị giam giữ ở đây, phải kể một câu chuyện dài, rất dài, khởi đầu từ một con đường gập ghềnh mà ông đã dấn thân bước vào, từ cách đây hơn 10 năm.

 

Vào dịp kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu, 2001, ông Vinh và nhiều thành viên khác của đảng Dân Tộc Việt Nam, hậu thân của Chính Phủ Việt Nam Tự Do, một tổ chức từng do ông Nguyễn Hữu Chánh lãnh đạo, đồng loạt tổ chức các vụ đặt bom trước hai tòa đại sứ Việt Nam tại Manila và Bangkok để “gióng lên tiếng nói phản đối chế độ độc tài toàn trị và việc đàn áp nhân quyền của nhà cầm quyền Hà Nội,” nói theo lời của các thành viên đảng Dân Tộc Việt Nam.

Dự tính không thành, ông Vinh bị bắt giam tại Manila, Philippines, và nhiều thành viên khác, trong đó có ông Võ Ðức Văn, bị bắt giam tại Bangkok, Thái Lan. Ông Văn vừa được trả tự do về Mỹ hồi Tháng Sáu.

Riêng ông Vinh, một thường trú nhân Hoa Kỳ, qua Mỹ định cư từ năm 1985, bị chuyển hết từ nhà tù này qua nhà tù khác, và cuối cùng là bị tạm giam ở Orange County.

Nói chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại của phòng thăm tù, ông Vinh cho biết giờ đây, quan tâm lớn nhất của ông là “làm sao để khỏi bị trục xuất về Việt Nam,” nơi mà ông “biết chắc” sẽ bị nhà cầm quyền giam cầm, tra tấn.

Ông Vinh có lý do để lo ngại như thế!

 

Một công điện từ Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Việt Nam viết cho Interpol Việt Nam ngày 8 Tháng Năm, 2002, gửi đến Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Manila, nhờ chuyển cho chính phủ Philippines yêu cầu dẫn độ ông Vinh về Việt Nam để trừng trị vì âm mưu tấn công sứ quán Việt Nam bằng bom.

Ðối với nhà cầm quyền Việt Nam, ông Vinh là “một kẻ khủng bố,” đe dọa nền an ninh của Việt Nam, cần phải đưa về nước để trừng trị.

Ðối với ông Vinh, và những đồng đội là thành viên của đảng Dân Tộc Việt Nam có trụ sở tại Garden Grove, ông là một chiến sĩ đấu tranh chống cộng sản, đòi dân chủ cho đất nước.

Yêu cầu dẫn độ ông được chuyển từ Tòa Ðại Sứ Việt Nam tại Manila đến Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tại đó, rồi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, cơ quan FBI, tòa án liên bang, rồi Sở Di Trú Hoa Kỳ.

Cá nhân ông, cũng như yêu cầu trên, được chuyển từ nhà tù ở Philippines, sau thời gian tù 5 năm, về Hoa Kỳ để lãnh án mới.

Lẽ ra, sau khi mãn hạn tù ở Manila, ông Vinh đã có thể an toàn trở về Hoa Kỳ, nhưng ông đã phạm phải một lỗi lầm, tuy nhỏ, nhưng gây hậu quả nghiêm trọng sau này.

Khi bị bắt tại Philippines, ông Vinh dùng giấy thông hành (passport) của ông Võ Ðức Văn, em trai và là đồng chí của ông. Sự việc đổ bể trong cuộc điều tra của Interpol, nên ông bị FBI đòi Philippines dẫn độ về Hoa Kỳ.

Tại Hoa Kỳ, ông Vinh bị tòa án liên bang tuyên án 14 tháng tù giam vì tội “sử dụng giấy thông hành của người khác.”

Sau khi mãn hạn tù, ông Vinh không được tự do, mà bị nhân viên Sở Di Trú chờ sẵn ngoài cửa mang về nhốt ở tạm giam Mira Loma, Lancaster, chờ đưa ra tòa, vì theo luật di trú, thường trú nhân Hoa Kỳ phạm pháp và bị án tù lâu hơn một năm, có nguy cơ bị trục xuất.

 

Một đồng hương đứng bên ngoài trại giam Mira Loma kêu gọi trả tự do cho ông Vinh hồi năm 2009. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137792-NguyenTanVinh-2-400.jpg

 

Ngày 5 Tháng Tám, năm 2009, Tòa Án Di Trú Hoa Kỳ ra phán quyết ông Vinh “bị trục xuất, trả về Việt Nam.”

Sau vài lần chống án, hiện ông Vinh bị giam ở nhà tù Theo Lacy chờ quyết định của tòa án trong lần kháng án cuối cùng.

Với khuôn mặt gầy và hơi xanh, nhưng mắt sáng, và giọng nói cả quyết, ông Vinh khẳng định rằng “đối với một người đã dấn thân đấu tranh, thì sống chết tù tội chẳng sá gì” và nếu bị trục xuất về Việt Nam, thì “có bị hành hạ tra tấn cũng chẳng sao.”

Nhưng ông nói thêm: “Nếu chính quyền Hoa Kỳ nhất quyết phải trục xuất, dẫn độ tôi về Việt Nam, thì sẽ là một tổn thất lớn lắm cho mọi nỗ lực đấu tranh sau này!”

Nói đến đó, ông lắc đầu như để xua đuổi một ý nghĩ bi thảm.

“Không, tôi không thể nào bị trục xuất, vì như thế vụ án này sẽ gây một tiền lệ vô cùng tai hại cho những người đấu tranh dân chủ sau này!” Ông Vinh khẳng định.

 

Giải thích một cách vắn tắt, đơn xin kháng án của ông với Hội Ðồng Tái Cứu Xét Di Trú Hoa Kỳ (Board of Immigration Appeals) tại Virgina, do Luật Sư Gary Silbiger, người bào chữa cho ông Vinh, nộp ngày 19 Tháng Mười Một, 2009, bị khước từ.

Quan trọng hơn, Hội Ðồng Tái Cứu Xét Di Trú Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn của ông xin được bảo vệ và ở lại Hoa Kỳ, chiếu theo Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn (UN Convention Against Torture) với lý do, viết rõ trong phán quyết của tòa, là “chế độ cầm quyền của Hà Nội ngày nay không còn tra tấn, đánh đập hoặc hành hạ tù nhân và CSVN không còn ngược đãi các nhà đấu tranh bất đồng chính kiến.”

 

Ông Vinh cho rằng việc ông bị trục xuất sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

“Hãy hình dung đi, nếu tôi bị trục xuất với lý do là nhà cầm quyền CSVN ngày nay không còn tra tấn, hành hạ các nhà đấu tranh bất đồng chính kiến nữa, thì sẽ tạo ra tiền lệ gì cho những ai đấu tranh đòi dân chủ nhân quyền cho Việt Nam?” Ông Vinh nói.

Ông tâm sự: “Tôi phó mặc mọi việc trong tay Thượng Ðế, và chấp nhận số mệnh,” nhưng chỉ muốn mọi người hiểu rõ rằng, quyết định trục xuất hay hay không trục xuất Nguyễn Tấn Vinh “không chỉ ảnh hưởng đến một mình tôi, mà còn nhiều người đấu tranh sau này.”

 

Tiếp xúc với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, Luật Sư Gary Silbiger cho biết hồ sơ kháng án của ông Vinh hiện đang nằm ở Tòa Kháng Án Khu Vực 9 (Apellate Court, Ninth Circuit) chờ quyết định, nhưng “không biết phải chờ đến bao giờ.”

Tuy nhiên, cũng theo Luật Sư Silbiger, hồ sơ “có nhiều hy vọng.”

“Trước hết, Tòa Kháng Án Khu Vực 9 là tòa kháng án cao nhất dưới Tối Cáo Pháp Viện, mà cơ quan tư pháp này hầu như không bao giờ nhận hồ sơ nào. Chính Tòa Kháng Án Khu Vực 9 cũng nhận rất ít hồ sơ, và sự kiện tòa này nhận đơn kháng án của ông Vinh, tự nó đã là một điều tốt,” Luật Sư Gary Silbiger giải thích.

Trả lời câu hỏi về luận cứ biện hộ, Luật Sư Silbiger nói: “Có 6 điểm, trong đó có vài lỗi kỹ thuật của các tòa dưới, tuy nhiên, trung tâm điểm của hồ sơ kháng án là xin tòa cho ông Vinh được bảo vệ chiếu theo Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn.

Luật Sư Silbiger giải thích: “Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn là một công ước quốc tế đòi hỏi các nước ký kết phải có biện pháp hữu hiệu để chống tra tấn trong nước mình, và nghiêm cấm các quốc gia trả người về đất nước của họ, nếu có lý do để tin rằng khi trở về nước đó họ sẽ bị tra tấn.”

Ông nói thêm: “Xét cho đúng ra, chiếu theo công ước, án lệnh trục xuất của ông Vinh lẽ ra đã phải được Tòa Án Di Trú Hoa Kỳ thu hồi. Nhưng tiếc rằng, không hiểu tại sao, bất kể những phúc trình nhân quyền gần đây nhất của Hoa Kỳ, và của nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế, thí dụ bản tường trình có tên ‘The Rehab Archipelago: Forced Labor and Other Abuses in Drug Detention Centers in Southern Việt Nam,’ viết ngày 7 Tháng Chín, 2011, cho thấy cả những người ở trung tâm cai nghiện còn bị tra tấn hành hạ, huống hồ gì tù nhân chính trị.”

 

Tù nhân tại nhà giam Theo Lacy, Orange, nơi ông Vinh đang bị giam giữ. (Hình: H. Lorren Au Jr./The Orange County Register)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137792-NguyenTanVinh-3-400.jpg

 

Về hồ sơ kháng án, ông Silbiger cho biết: “Hồ sơ kháng án đã nộp xong, giờ chỉ còn chờ tòa phán quyết. Tôi kỳ vọng rằng với ba vị thẩm phán liên bang, và với tập hồ sơ đã được bổ túc, tòa sẽ đi đến quyết định là ông Nguyễn Tấn Vinh phải được bảo vệ theo Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn vì nguy cơ ông bị tra tấn khi về nhà tù Việt Nam rất cao.”

 

Ngoài việc chờ phán quyết của tòa, Luật Sư Gary Silbiger cũng đang nộp đơn xin cho ông Vinh được tại ngoại hậu tra, và mong rằng “khi có phiên tòa xử, sẽ có sự hiện diện đông đảo của cộng đồng, vì trong những trường hợp như thế này sự hậu thuẫn có thể thay đổi kết quả.”

 

Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Thắng, giám đốc tổ chức BPSOS, một người cũng quan tâm đến trường hợp của ông Nguyễn Tấn Vinh, nói với nhật báo Người Việt qua điện thoại rằng “nếu luật sư của ông Vinh chứng minh được là khi trở về Việt Nam, ông Vinh có thể bị tra tấn, thì theo tinh thần của Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Về Chống Tra Tấn, Sở Di Trú phải thâu hồi lệnh trục xuất.”

 

Ông Võ Ðức Văn hiện đang dốc hết nỗ lực, chạy đôn chạy đáo khắp nơi, với tập hồ sơ dầy cộm bên mình, để vận động cho người anh khỏi bị đưa về Việt Nam đối diện với những gì mà nhà cầm quyền Hà Nội dành sẵn cho bất cứ ai phạm cái tội, mà một công điện ngoại giao của Hoa Kỳ, do Wikileaks tiết lộ gần đây, gọi là “cái tội dân chủ.”

 

–––

 

Liên lạc tác giả: HaGiang@nguoi-viet.com

.

.

.

HỒ SƠ WIKILEADS (22) : Ở Ðồng Chiêm, nhà nước hành xử như côn đồ (Nam Phương/Người Việt)

Tháng Chín 30, 2011

 

HỒ SƠ WIKILEADS (22) :

Ở Ðồng Chiêm, nhà nước hành xử như côn đồ

Nam Phương/Người Việt

Thứ Sáu – 30 Tháng 9, 2011

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137786&z=321

 

WESTMINSTER (NV) -Ba bản công điện của Tòa Ðại Sứ Mỹ năm 2010, ngay sau khi xảy ra vụ đàn áp Công Giáo ở Ðồng Chiêm, cho thấy phía Mỹ đánh giá hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam như côn đồ.

 

Giáo dân Ðồng Chiêm dựng một Thánh giá bằng tre để thay thế Thánh giá bị nhà cầm quyền triệt hạ. (Hình: Vietcatholic.net)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137786-Wiki_Thanh-gia-Dong-Chiem-166ez9x-400.jpg

 

Vụ Ðồng Chiêm được xem là quan trọng tới mức đại diện Bộ Ngoại Giao Mỹ qua Việt Nam đã tiếp tục nhắc lại.

Bản công điện của Tòa Ðại Sứ Mỹ ngày 12 tháng 1, 2010 và bị Wikileaks tiết lộ, cho thấy Tòa Ðại Sứ Mỹ bày tỏ sự quan ngại về hành động đàn áp Công Giáo ở Ðồng Chiêm.

 

Hàng trăm công an và côn đồ phá sập Thánh giá ở giáo xứ Ðồng Chiêm, giáo phận Hà Nội, ngày 6 tháng 1, 2010. Các nguồn tin Công Giáo đáng tin cậy nói người ta đã dùng lựu đạn cay để giải tán giáo dân và đến 12 người bị thương. Giáo phận ở Hà Nội gọi việc triệt phá Thánh giá là “phạm thánh” và mô tả hành động đàn áp giáo dân là “hành động man rợ và bất nhân.” Nhà cầm quyền địa phương và Bộ Công An thì nói giáo xứ Ðồng Chiêm đã vi phạm pháp luật khi dựng Thánh giá trên đất công nên họ có quyền thi hành pháp luật cũng như chối không có dùng bạo lực đàn áp giáo dân.

 

Bức công điện nói tham tán chính trị của Tòa Ðại Sứ Mỹ nói với cầm quyền Việt Nam là họ có tin tức đáng tin cậy là công an đã dùng bạo lực và khuyến cáo nhà cầm quyền Hà Nội đừng nên làm phức tạp thêm cho các nỗ lực thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước. Ðại sứ Mỹ lập lại điều này khi ăn trưa với thứ trưởng Bộ Công An ngày 13 tháng 1, 2010. “Theo nguồn tin trong Giáo hội Công Giáo,” bức công điện viết, “vào khoảng 2 giờ sáng ngày 6 tháng 1, 2010, từ 600 đến 1,000 công an, an ninh, và ‘côn đồ’ địa phương, một số võ trang với súng, gậy, lựu đạn cay, chó của cảnh sát, vây các giáo xứ Nghĩa Ái, Túy Hiền và Ðồng Chiêm.”

Công điện cho biết:

“Họ chận đường lên Núi Thờ (gần xã An Phú thuộc huyện Mỹ Ðức, Hà Nội) và bắt đầu triệt hạ Thánh Giá. Giáo dân Ðồng Chiêm yêu cầu lực lượng công an ngừng lại nhưng không được.”

 

Nhóm người này, được công điện gọi chung là “công an/an ninh/cá nhân có vũ trang,” quây quanh chân núi và bắn lựu đạn cay vào một số giáo dân. “Khoảng 12 giáo dân bị đánh trong đó 2 người bị thương nặng phải đi bệnh viện,” công điện cho biết.

Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội ra bản tuyên bố xác định là chủ ngọn núi và gọi hành vi triệt hạ Thánh Giá là một hành động “phạm thánh.”

Ngày 8 tháng 1, công điện nói: “10 giám mục ở miền Bắc ra bản tuyên bố gọi việc triệt hạ Thánh giá và đàn áp giáo dân là ‘hai cách của chính sách mà nhà cầm quyền sử dụng để giải quyết các tranh chấp tôn giáo.’”

 

Cũng ngày hôm đó, Ủy Ban Nhân Dân huyện Mỹ Ðức phản bác lại là Thánh giá đã được xây dựng bất hợp pháp từ tháng 3 năm 2009. Bộ Công An gọi điện thoại mời Tham Tán Chính Trị Tòa Ðại Sứ Mỹ gặp Ðại Tá Châu, công điện nói. Cuộc gặp mặt diễn ra ngày 10 tháng 1, 4 ngày sau vụ Ðồng Chiêm.

Ðại Tá Châu muốn “đính chính” các tin tức loan truyền tại Việt Nam và hải ngoại qua các nguồn thông tin nhằm “vu cáo” nhà cầm quyền và thành tích cải thiện tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ðại Tá Châu không tự nói, mà đọc một tờ giấy mà ông nói đã được lãnh đạo Bộ Công An thông qua, để cung cấp quan điểm “chính thức”: Ông nói giáo xứ Ðồng Chiêm đã dựng Thánh giá hồi tháng 3, 2009 với sự yểm trợ của Giáo Hội Công Giáo trên đất thuộc thẩm quyền địa phương. “Hành vi trái phép” này vi phạm các luật lệ của Việt Nam. Ông này nói cha xứ địa phương đã cầm đầu hàng trăm tu sĩ, nữ tu, giáo dân chống nhà cầm quyền địa phương và nhà cầm quyền không dùng bạo lực để giải tán. Chỉ có 2 người bị thương nhẹ mà lại là hậu quả của sự xô xát giữa những người đó và người đứng xem.

 

Tham tán chính trị Tòa Ðại Sứ Mỹ trả lời là có các tin đáng tin cậy cho biết công an dùng bạo lực nhưng Ðại Tá Châu phủ nhận. Tham tán nói chính phủ Việt Nam có quyền bảo vệ pháp luật. Ðại diện tòa đại sứ lưu ý là thái độ của Hoa Thịnh Ðốn rất buồn khi thấy nhân quyền ở Việt Nam xấu đi thời gian gần đây, đặc biệt hai vụ Ðồng Chiêm và tu viện Bát Nhã ở Lâm Ðồng xảy ra gần với nhau.

Bản công điện kết luận là không tin những lời Ðại Tá Châu nói công an không dùng bạo lực cũng như không gây thương tích cho giáo dân.

Tuy nhiên, bản công điện nói rằng ở lúc này còn sớm để biết chắc vụ việc Ðồng Chiêm là tôn giáo hay tranh chấp đất đai. Bản công điện ký tên Ðại Sứ Michalak nói nghi ngờ vụ việc trộn lẫn cả hai. Dù sao, cách thức giải quyết vụ việc của nhà cầm quyền, từ Bát Nhã đến Ðồng Chiêm đều có tính cách “côn đồ,” đe dọa làm lu mờ các tiến bộ đã đạt được ở những lãnh vực tự do tôn giáo quốc tế khác, ông viết.

 

Hai tuần sau vụ Ðồng Chiêm, bức công điện ngày 20 tháng 1, 2010 của Ðại Sứ Michalak gửi về Washington nhận định vụ đàn áp Bát Nhã (cuối năm 2009) và vụ Ðồng Chiêm có dấu hiệu như nằm trong chiến dịch đàn áp nhân quyền khi gần đến dịp chuẩn bị cho Ðại Hội Ðảng vào đầu năm 2011. Tuy nhiên, công điện này nhận định rằng cả hai vụ việc căn bản là tranh chấp đất đai nên không hội đủ tiêu chuẩn được qui định bởi đạo luật có từ năm 1998 (International Religious Freedom Act).

 

Vụ Ðồng Chiêm được nhắc lại trong phiên họp giữa Nguyễn Bá Hùng, vụ trưởng Vụ Mỹ Châu của Bộ Ngoại Giao CSVN với ông Scot Marciel, phụ tá thứ trưởng Ngoại Giao Mỹ, theo công điện 10 tháng 2, 2010. Ông Marciel tái xác nhận sự cam kết về bang giao với Việt Nam nhưng lưu ý ông Hùng là những vụ bỏ tù các người bất đồng chính kiến, sự giải quyết các vụ Bát Nhã và Ðồng Chiêm kém cỏi, có thể dẫn đến các nghi ngờ về sự cam kết cải cách của Việt Nam về một nhà nước pháp quyền.

 

Ðón đọc ngày mai: Bí thư Thanh xử Thiếu tướng Thanh

––-

 

Liên lạc tác giả: NamPhuong@nguoi-viet.com

—————————————–

 

HỒ SƠ WIKILEAKS  (Người Việt) 

 

Bắt đầu từ ngày 08 tháng 09, Người Việt khởi đăng công điện ngoại giao của Hoa Kỳ liên quan tới Việt Nam, bị lộ ra trong vụ Wikileaks.

 

HỒ SƠ WIKILEADS (21) : ‘Con ông cháu cha’ trong cách nhìn của Mỹ (Hà Giang/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-21-con-ong-chau-cha.html

HỒ SƠ WIKILEADS (20) : Lãnh sự Mỹ ở Thành Ðô thăm Hà Khẩu (Triệu Phong/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-20-lanh-su-my-o-thanh-o.html

HỒ SƠ WIKILEADS (19) : Tây Phương ‘quan ngại Nghị Ðịnh 97’ (Ðông Bàn/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-19-tay-phuong-quan-ngai.html

HỒ SƠ WIKILEADS (18) : Cảnh báo ‘diễn biến hòa bình’, miệng hùm gan sứa (Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-18-canh-bao-dien-bien.html

HỒ SƠ WIKILEADS (17) : Việt Nam chần chừ tham gia lực lượng hòa bình LHQ (Ðỗ Dzũng/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-17-viet-nam-chan-chu.html

HỒ SƠ WIKILEADS (16) : Việt Tân vào tù thăm bạn, xôn xao ngoại giao đoàn (Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-16-viet-tan-vao-tu-tham.html

HỒ SƠ WIKILEADS (15) : Tổng lãnh sự 4 nước kéo về miền Tây (Triệu Phong/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-15-tong-lanh-su-4-nuoc.html

HỒ SƠ WIKILEADS (14) : Ai đưa Nguyễn Tấn Dũng lên đỉnh quyền lực ( Hà Giang/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-14-ai-ua-nguyen-tan.html

HỒ SƠ WIKILEADS (13) : Ðàn áp tu viện Bát Nhã thành công, nhưng thiệt hại uy tín (Nam Phương/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-13-ap-tu-vien-bat-nha.html

HỒ SƠ WIKILEADS (12) : Cứ tham nhũng, đã có Ðảng ‘bảo kê’ (Ðông Bàn/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-12-cu-tham-nhung-co-ang.html

HỒ SƠ WIKILEADS (11) : Quan hệ Bắc Kinh-Hà Nội tùy thuộc đấu đá nội bộ Việt Nam (Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-11-quan-he-bac-kinh-ha.html

HỒ SƠ WIKILEADS (10) : Jim Webb bí mật thăm Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-10-jim-webb-bi-mat-tham.html

HỒ SƠ WIKILEADS (9) : Phía sau vụ tự thiêu trước cửa tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ (Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-9-phia-sau-vu-tu-thieu.html

HỒ SƠ WIKILEADS (8) : Phiên tòa ‘đi ngang về tắt’ (Hà Giang/Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileads-8-phien-toa-i-ngang-ve.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (7) : Thiền Sư Nhất Hạnh từng phê phán chính quyền (Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-7-thien-su-nhat-hanh.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (6): Tướng Kỳ từng bị Nguyễn Tấn Dũng chặn đường về

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-6-tuong-ky-tung-bi.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (5): RFA nói về Hồ Chí Minh, Việt Nam phản đối với Mỹ

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-5-rfa-noi-ve-ho-chi.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (4): ‘Đường Lưỡi Bò’ thiếu chứng cứ lịch sử – ngoại giao Mỹ nhận định

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-4-uong-luoi-bo-thieu_12.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (3): Tổng lãnh sự: Ðiếu Cày bị vu cáo

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-3-tong-lanh-su-ieu-cay.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (2) – Vatican ép TGM Ngô Quang Kiệt từ chức

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-2-vatican-ep-tgm-ngo.html

HỒ SƠ WIKILEAKS (1): Tô Huy Rứa: Thủ cựu, thân Phiêu, chống Kiệt, ‘bad boy’

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/ho-so-wikileaks-1-to-huy-rua-thu-cuu.html

 

BỨC TRANH VIỆT NAM QUA WIKILEADS (Nguyễn Hùng, BBC)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/buc-tranh-viet-nam-qua-wikileads-nguyen.html

 

.

.

.

KHI BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO VIỆT NAM SO SÁNH NHÂN QUYỀN ANH – VIỆT (Nguyễn Hùng, BBC)

Tháng Chín 30, 2011

 

Khi bộ trưởng ngoại giao so sánh nhân quyền Anh – Việt

Nguyễn Hùng, BBC

2011-09-29, 13:15

http://www.bbc.co.uk/blogs/vietnamese/

 

Tân Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã lần đầu tiên có phản ứng quốc tế đối với các chỉ trích về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam.

Một số nguồn tin nói ông Minh được cử làm người lãnh đạo ngành ngoại giao bất chấp phản đối của Bắc Kinh rằng họ “không thích” ông, cũng như họ đã từng ép Việt Nam để cha của ông phải rời khỏi vị trí bộ trưởng ngoại giao khi Việt – Trung bình thường hóa quan hệ hồi đầu thập niên 90.

Mặc dù Việt Nam và Trung Quốc có nhiều khác biệt, cả hai nước vẫn có khá nhiều điểm chung.

Ngoài hệ thống chính trị và mô hình kinh tế, tình trạng nhân quyền của cả Hà Nội và Bắc Kinh đều bị phương Tây chỉ trích.

 

‘Hãy nhìn nước Anh’

Hãng thông tấn AFP nói ông Minh đã bị chất vấn tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, một tổ chức nghiên cứu độc lập của Hoa Kỳ trong chuyến thăm tới Liên Hiệp Quốc ở New York hồi cuối tháng Chín.

Vấn đề người ta đưa ra chất vấn là chuyện Việt Nam dùng vũ lực để đối phó với các cuộc tụ họp của giáo dân trong năm qua.

Ông Minh có ý nói chính quyền dùng vũ lực vì người dân có hành vi gây rối khi ông nhắc tới các vụ bạo loạn tại Anh hồi tháng Tám.

Ông nói: “Hãy nhìn vào nước Anh. Nếu quý vị có lo ngại về an ninh, quý vị phải có biện pháp thôi. Đó là chuyện bình thường.

“Nhưng chúng tôi tôn trọng quyền con người trong tất cả các lĩnh vực vì chúng tôi là thành viên của công ước quốc tế về nhân quyền.”

 

Tránh thương vong

 

So sánh Anh Quốc, một nước tự hào đã khai sinh ra khái niệm dân chủ và nhân quyền, với Việt Nam về mặt quyền coi người phổ quát là điều các nhà lãnh đạo Việt Nam không mấy khi làm.

 

Trong những ngày bạo loạn tại London và một số tỉnh hồi đầu tháng Tám, người ta đã thấy cảnh sát Anh kiềm chế và trong rất nhiều trường hợp không chống lại những người biểu tình ném gạch đá hay bom xăng vào họ để tránh căng thẳng leo thang.

Ngay cả khi lửa cháy tại nhiều nơi, cảnh cướp phá diễn ra hàng loạt, cảnh sát cũng không được trang bị vòi rồng và đạn nhựa hay đạn cao su nhằm tránh gây thương vong và đổ thêm dầu vào lửa.

Tụ họp và biểu tình ở Anh phải được phép của cảnh sát nhưng một sỹ quan cảnh sát nói với BBC Tiếng Việt trong một cuộc nói chuyện mới đây rằng họ phải cấp phép cho hầu hết các cuộc biểu tình vì luật pháp buộc họ phải làm như vậy.

Viên sỹ quan này nói chuyện với BBC khi đang cùng vài cảnh sát khác bảo vệ cho một cuộc biểu tình của khoảng 100 người Ấn Độ phản đối án tử hình diễn ra ngay sát Đại sứ quán Ấn Độ, nằm cách nơi làm việc của BBC Tiếng Việt vài chục mét.

Các cuộc biểu tình nhỏ diễn ra thường xuyên tại thủ đô London, nhất là vào các dịp cuối tuần.

Và trong khi những cuộc biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội không được phép diễn ra, người Việt tại Anh được cấp phép biểu tình ngay trước Đại sứ quán Trung Quốc ở London.

 

Biểu tình phản chiến

Ngay cả cách đây hơn 40 năm, khi Cuộc chiến Việt Nam đang diễn ra và một số chính trị gia Anh ủng hộ cuộc chiến này (Anh không gửi quân tham chiến vì sự phản đối của Đảng Lao động và công chúng), những cuộc biểu tình với sự tham gia của hàng vạn người vẫn được phép diễn ra ở trung tâm London và ngay trước đại sứ quán Hoa Kỳ.

 

Video tư liệu của BBC từ năm 1968 cho thấy người biểu tình mang theo ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và những khẩu hiệu ủng hộ “Việt Cộng”.

Cảnh sát đã phải dùng tới ngựa để ngăn những người biểu tình gây bạo lực và bắt hàng trăm người.

Nhưng trước khi bạo lực nổ ra, nữ diễn viên Vanessa Regrave cùng ba người phản chiến khác vẫn được cho vào trong Đại sứ quán Hoa Kỳ để chuyển thông điệp phản chiến của họ.

 

Quyền động vật

Sau hơn 40 năm, người Anh ngày nay quan tâm tới quyền của động vật nói chung chứ không chỉ có quyền con người.

Giết mổ súc vật phải được thực hiện nhanh chóng, tối hiểu hóa việc gây đau đớn kéo dài.

Luật pháp buộc những người nuôi thú cảnh đối xử tử tế với chúng. Những người lơ là trong việc chăm sóc chó mèo có thể bị phạt tiền hay bị tòa tuyên án tù.

Ngay hôm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam phát biểu ở New York, tòa ở tây nam Anh đã phạt đôi sinh viên người Trung Quốc 7.000 đô la vì để chó của họ đau đớn trong hơn 24 giờ mới đưa đi bác sỹ.

 

Những chuyện như thế này gần như không thể xảy ra ở Việt Nam vào thời điểm hiện nay.

 

Và nó cho thấy những so sánh Việt Nam với Anh Quốc về vấn đề quyền con người hay quyền động vật nói chung là khập khiễng.

———————

 

SỰ THẬT về NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Đặc tả nhân quyền theo kiểu Việt Nam (phần 1) Phần 2Phần 3Phần 4Phần 5 – (RFA).

 

.

.

.

 

CHO MỘT NIỀM HY VỌNG (Cảm nghĩ của Blogger Mẹ Nấm nhân Sinh Nhật của LS Lê Công Định)

Tháng Chín 30, 2011

 

CHO MỘT NIỀM HY VỌNG

Me. Nâ’m ‘s Blog

Sep 30, ’11  3:03 AM

http://menam0.multiply.com/journal/item/557

 

Ngày 13/06/2009

Không thể diễn tả được cái cảm giác trong lòng tôi, chỉ biết là khi nằm xuống, trằn trọc đến mất ngủ, vì nghĩ đến cảnh lao tù trước mắt của một người mà tôi mến mộ.

Luật sư Lê Công Định, là người mà tôi biết đến qua các bài viết và phát biểu của anh trên BBC. Cách trả lời và cách dùng câu chữ ngắn gọn của anh khiến người đọc cảm thấy an tâm và bị thuyết phục.

Tôi còn nhớ có lần đọc bài “Chuẩn mực văn minh cần tôn trọng” của anh, tôi phấn khích đến độ cầm máy nhắn tin ngay cho người bạn lớn của mình và bảo rằng bài viết đó là những lời lẽ đọc lên thơm tho cả miệng lưỡi.

Anh Định không viết blog, nhưng những việc làm thầm lặng vì tự do của giới blogger không phải ai cũng biết, và tôi nghĩ anh xứng đáng được vinh danh như một biểu tượng vì tự do và nhân quyền.

Không đọc báo chí trong nước, không xem ti vi đưa tin, nhưng tôi đã hình dung ra được phiên tòa trước mắt dành cho Lê Công Định.

Rồi cũng sẽ như những người khao khát sự đổi mới, sự tự do thật sự đi trước khác, người ta lại sẽ vin vào cái thứ tự do xa xỉ đó, để đẩy anh về phía “thế lực thù địch”, và biến anh thành thành phần trí thức nguy hiểm.

Khi anh bị bắt, đã có lời nhắn xin gỡ nick và bình luận của vài người ra khỏi bài viết về anh.

Với báo chí, anh từng là người trẻ tâm huyết và giờ đây là tội phạm âm mưu chống phá nhà nước.

Cuộc sống này không hề dễ dàng, nhất là đối với những người có nhiều kỳ vọng vào sự thay đổi tự do, dân chủ. Chuyện gì đến sẽ đến, chỉ mong anh vững vàng trí lực vì con đường trước mặt còn dài. Mong anh bình an để viết tiếp niềm hy vọng đang dang dở. Tôi sẽ đóng entry này bằng một đoạn comment copy được từ nhà blogger Linh, như một lời cảm ơn đến Lê Công Định, và cũng là lời nhắc nhở chính bản thân mình!

“Thực ra chúng ta đang rất vô trách nhiệm. Chúng ta nhìn người khác đi vào chỗ chết – cho chúng ta sống tử tế hơn. Nhưng chúng ta biết làm gì ngoài việc ngồi đây tranh luận qua mạng, rồi sáng mai, bạn lại đi khắp nước Mỹ chẳng hạn, còn tôi, tôi lại chúi đầu vào công việc. Nhiều lúc ngao ngán là thế thôi”

Entry viết tháng 6/2009, ngày anh Định bị bắt!

————————-

 

Ngày mai 1/10/2011, sinh nhật lần thứ 43 của Lê Công Định, và là sinh nhật thứ 3 ở một nơi xa của anh.

Đến giờ phút này người ta thấy gì ở Lê Công Định?

- Một luật sư ham học và giỏi thật sự (khác xa với hình ảnh những người mang tiền đi du học song lại tạo ra những hình ảnh làm xấu mặt cả trong đời thường lẫn trên mạng).

- Một trí thức nặng lòng với đất nước, có uy tín trong giới luật sư, là người chấp bút bản Tuyên bố về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa của Đoàn Luật Sư thành phố Hồ Chí Minh.

- Một luật sư bị xử làm gương vì những hoạt động “ chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Đã có bao nhiêu người bị quy tội chống phá nhà nước tính đến thời điểm này?

Những người như luật sư Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức… lấy gì để chống phá lại một nhà nước tuyệt đối mạnh cả về phương diện “trí tuệ của thời đại, lẫn “sức mạnh toàn diện” vì được “toàn dân nhất trí ủng hộ”???

 

Tôi đã từng được đọc một bài viết nói rằng dân tộc Việt có quá nhiều người độc ác. Họ không chỉ độc ác với môi trường, sinh vật, mà còn độc ác với chính đồng bào của mình. Hàng ngày trên báo chí người ta có thể đọc được hàng tá tin về ngược đãi trẻ em, về những vụ đâm chém nhau chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ, về những vụ vợ giết chồng, cháu giết bà, chú giết cháu thương tâm… Và qua những gì đã diễn ra, dù rất đau lòng nhưng tôi buộc phải thừa nhận rằng, lời nhận xét ấy có lý.

Sự độc ác không chỉ thể hiện trong cách hành xử với người khác, mà nó còn hiểu hiện rõ rệt ngay trong những suy nghĩ tưởng như hiền hoà.

Khi luật sư Lê Công Định và nhiều người khác bị bắt , chỉ cần nghe đài báo lề phải nói “chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chế độ” là hàng loạt người nhao nhao lên xỉa xói những người này là những kẻ phá hoại sự ổn định, trong đầu lúc nào cũng có âm mưu lật đổ chế độ theo phong cách man di mọi rợ. Những người sẵn sàng ném đá tảng vào xã hội ấy không biết rằng chính họ mới là những tín đồ đầy triển vọng cho những cuộc lật đổ đẫm máu, bởi vì trong đầu họ lật đổ phải là như vậy, phải là đào tận gốc trốc tận rễ chứ không thể khác đi được. Với họ lật đổ không bao giờ sẽ đến trong hoà bình và kế thừa.

 

Một chế độ dân chủ muốn duy trì cần phải được xây dựng trên cơ sở là lòng khoan dung, sự tôn trọng cá nhân con người, khả năng thỏa hiệp và giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình. Điều này đối lập với tính ích kỷ, độc ác và tính thiếu hợp tác đang tồn tại hiện nay trong xã hội Việt Nam ta.

 

Ba năm đã qua đi, khi ngoài biển Đông, tàu cá ngư dân ta vẫn bị bắn, bị rượt đuổi trên ngư trường Hoàng Sa, tôi lại nhớ da diết những lời dưới đây. Khi mà người viết lên những dòng chữ yêu nước rắn rỏi, người đã khiến cả Đoàn Luật sư Tp Hồ Chí Minh cùng đứng dậy với anh để nói lên khát vọng bảo vệ giang sơn đã bị chính guồng máy luật pháp ấy tống vào tù cũng vì tội yêu nước.

 

TUYÊN BỐ

VỀ VẤN ĐỀ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

CỦA ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

XÉT RẰNG vào ngày 2/12/2007 Quốc vụ viện Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý các quần đảo trên biển Đông, trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam;

XÉT RẰNG Việt Nam có chủ quyền bất khả xâm phạm đối với Hoàng Sa và Trường Sa cả về phương diện pháp lý (de jure) lẫn phương diện thực tế (de facto) theo Công pháp quốc tế; và

XÉT RẰNG chủ quyền nói trên của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa được ghi nhận rõ ràng trong nhiều tài liệu và chứng cứ lịch sử của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc và quốc tế.

 

VÌ NHỮNG LẼ NÊU TRÊN

ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TUYÊN BỐ

 

THỨ NHẤT, quyết định phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa của Quốc vụ viện Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là sự phủ nhận lịch sử và bất chấp công lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

THỨ HAI, Hoàng Sa và Trường Sa đã, đang và sẽ mãi mãi là lãnh thổ không tách rời và bất khả xâm phạm của Việt Nam cả về phương diện pháp lý (de jure) lẫn phương diện thực tế (de facto).

 

Ngày 5 tháng 1 năm 2008

 

Toàn văn “Tuyên bố về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa” do LS Lê Công Định cùng một LS khác chấp bút (1)

 

Ba năm đã qua đi, tự dưng khi nghĩ về Lê Công Định trong ngày sinh nhật anh, tôi ước gì được nói với anh rằng niềm hy vọng của anh em chúng ta vào một xã hội tốt đẹp sẽ không bị tàn lụi giữa lòng cuộc sống hôm nay mà ngược lại niềm hy vọng đó được ươm mầm bởi chính những con người như anh.

 

(1) Đoàn Luật sư thành phố HCM tuyên bố về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa

(2) Chuẩn mực văn minh cần tôn trọng – Lê Công Định

.

.

.

NHẬT KÝ NGÀY 30 THÁNG 9 NĂM 2011 : TS NGUYỄN XUÂN DIỆN tiếp VIÊN CHỨC CHÍNH TRỊ TÒA ĐẠI SỨ MỸ (Nguyễn Xuân Diện)

Tháng Chín 30, 2011

 

NHẬT KÝ NGÀY 30 THÁNG 9 NĂM 2011

Nguyễn Xuân Diện

Thứ sáu, ngày 30 tháng chín năm 2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/09/nhat-ky-ngay-30-thang-9-nam-2011.html

 

Thưa chư vị,

Sáng nay, ngài Michael Orona, viên chức chính trị của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cùng một phiên dịch (ông Vũ Tú Mạnh) tới thăm tôi ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Theo như lịch đã hẹn, 10h00, hai vị khách có mặt. Sau khi trình danh thiếp, nhấp ngụm trà nơi văn phòng, ngài Michael Orona nói về mục đích của chuyến thăm. Trước đó tôi đã mở toang tất cả các cửa lớn nhỏ và nói rằng toàn bộ cuộc nói chuyện hôm nay tôi sẽ trình cả lên Blog cá nhân của tôi. Hai ngài ấy vui lắm, nói rằng việc này rất sáng rõ, xin mặc ý tôi làm.

 

Tôi vui vẻ tiếp lấy hai tấm danh thiếp và sẵn sàng trả lời những câu hỏi của ngài Michael Orona. Câu chuyện được cả 3 chúng tôi đều ghi vào sổ tay; tôi ghi được như dưới đây:

 

Hỏi: Thưa ông, xin ông cho biết công việc của ông hiện nay?

 

Trả lời: Tôi hiện nay làm công tác quản lý thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, là tàng thư lớn nhất lưu trữ các văn bản cổ của Việt Nam. Tôi đang là Phó giám đốc của thư viện. Giám đốc thư viện đã nghỉ hưu từ tháng 12 năm 2009.

 

Hỏi: Được biết, ông đã tham gia một số cuộc biểu tình ở Hà Nội trong thời gian qua. Ông cho biết công việc của ông có liên quan gì đến các cuộc biểu tình không?

 

Trả lời: Tôi có tham gia 11 cuộc biểu tình yêu nước tại Hà Nội suốt từ tháng 6 đến tháng 8 vừa rồi ở Hà Nội là để phản đối việc nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục gây hấn trên Biển Đông. (Chỉ có cuộc hôm 10 tháng 7 là không tham gia, nhưng có đến khu vực biểu tình để quan sát). Ông Giám đốc công an Tp HN cũng khẳng định đó là các cuộc biểu tình yêu nước.

 

Trước đây, Hoàng Sa – Trường Sa là một đề tài mà báo chí nhà nước không nói đến. Nhưng thật mừng là sau cuộc hội thảo quốc gia về Biển Đông họp ngày 17.3.2009, tại Hà Nội, do Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao VN) tổ chức thì báo chí bắt đầu nói nhiều đến Hoàng Sa – Trường Sa. Tôi học về ngành Hán Nôm, tôi cũng muốn tìm hiểu các tài liệu cổ nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa. Tài liệu cổ viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, nay ít người còn đọc được, vì vậy tôi cũng muốn dịch và giới thiệu những tài liệu này để mọi người cùng hiểu. Tôi còn mong những tài liệu như thế được dịch sang tiếng Anh để những người Mỹ như ngài có thể hiểu được cha ông chúng tôi nói gì về chủ quyền của VN tại HS – TS.

 

Ngày 30.03.2009, khi báo chí đưa tin về việc phát hiện một văn bản chữ Hán Nôm được phát hiện ở đảo Lý Sơn có liên quan đến chủ quyền VN, tôi rất mừng. Tôi đã bỏ tiền túi, tự đi vào Quảng Ngãi rồi ra đảo Lý Sơn để tiếp cận văn bản này, dịch và nghiên cứu nó, sau đó công bố trên báo Thanh Niên và cả trong Hội nghị khoa học của Viện tôi.

 

Văn bản ấy nói rằng vào năm 1834, chính quyền tỉnh lúc đó đã vâng theo sắc lệnh của nhà vua, cử 24 người ra Hoàng Sa để: đo đạc các đảo, thu lượm hải vật (hải sản quý và các vật của các con tàu đắm dạt vào) đưa về triều đình Huế. Mỗi lần đi 6 tháng. Hàng năm đều có đi. Đây là việc mà nhà nước phong kiến VN đã cho làm cả từ mấy trăm năm trước đó. Hay nói khác đi, cha ông chúng tôi đã thực thi chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa lâu đời lắm rồi. Văn bản ấy có câu rằng: Đường biển ấy là nơi quan yếu, phải dốc sức mà thừa hành để cho công việc được mười phần trọn vẹn. Nếu bất cẩn, sẽ phạm trọng tội.

 

Hay như cái bản đồ này (tôi chỉ vào bản đồ treo trên tường), do giám mục Taberd (Pháp) lập và xuất bản năm 1838. Bản đồ này có 2 điểm rất quan trọng. Thứ nhất, nó đã vẽ rất chính xác về tọa độ của Hoàng Sa mà đến nay vẫn chính xác. Thứ hai, nó ghi rõ hai chữ tiếng Việt “Cát vàng” chứ không ghi Hoàng Sa, bên cạnh có chữ Pháp là Paracel. Tấm bản đồ này được in hàng loạt và đính đằng sau cuốn từ điển do giám mục Taberd soạn.

 

Các nhà nghiên cứu Việt Nam, mặc dù dụng công tìm hiểu nghiên cứu với tấm lòng nồng nhiệt, nhưng lại vẫn rất khách quan, trung thực trong thao tác và trong công bố.

 

Hỏi: Đề tài mà ông làm luận án Tiến sĩ là gì?

 

Trả lời: Luận án tiến sĩ của tôi là về Ca trù. Luận án đã được Quỹ Thụy Điển – Việt Nam phát triển văn hóa tài trợ kinh phí để xuất bản ngay sau khi bảo vệ thành công. Khi Việt Nam tiến hành xây dựng hồ sơ để trình lên UNESCO đề nghị vinh danh Ca trù là Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền miệng của nhân loại, thì toàn văn luận án tiếng Việt được gửi trong Hồ sơ và kèm theo là bản dịch tiếng Anh tóm tắt luận án, gồm 40 trang.

 

Hỏi: Ông nghĩ như thế nào về vai trò của người trí thức?

 

Trả lời: Tôi cũng đã từng nói với BBC về trí thức. Rằng người trí thức có bổn phận phải đem hết hiểu biết của mình để phụng sự đất nước, với tinh thần tự nhiệm (tự gánh vác), trong lĩnh vực và phạm vi của mình, không chờ sai bảo, bổ nhiệm. GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, thầy giáo của tôi gọi đó là sự dấn thân. Ông nói: Đã là trí thức thật thì ai cũng dấn thân. Tôi còn nhớ có người nói, thuộc tính của trí thức là phản biện xã hội.

 

Hỏi: Trong các cuộc biểu tình vừa rồi, những người trí thức tham gia biểu tình có điều gì khác nhau không?

 

Trả lời: Tôi thấy những nhà trí thức tham gia biểu tình rất nhiều người là những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực của họ. Nhưng có một điểm chung là họ đều là những người yêu nước, đều có mục đích chung là phản đối Trung Quốc gây hấn, xâm phạm lãnh hải Việt Nam trên Biển Đông, bắt giữ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam, đánh đập và cướp tài sản của họ.

 

Hỏi: Vậy khi đi biểu tình, người trí thức nói riêng và mọi người nói chung muốn điều gì?

 

Trả lời: Họ muốn 3 điều. Một: Hoàng Sa và toàn bộ những gì ở Trường Sa mà Trung Quốc đang chiếm giữ trái phép trở về với Việt Nam. Hai là, nhà cầm quyền Trung Quốc chấm dứt hoàn toàn mọi việc gây hấn, đánh đập, bắt giữ, cướp tài sản của ngư dân Việt Nam. Và ba là, Trung Quốc hoàn toàn chấm dứt việc tuyên truyền và hiện thực hóa đường lưỡi bò phi pháp của mình trên Biển Đông.

 

Hỏi: Sau khi có Thông báo của UBND Tp HN, theo ông liệu có cuộc biểu tình nào nữa không?

 

Trả lời: Quyền biểu tình là quyền đã được Hiến pháp nước tôi ghi nhận tại điều 69. Hiến pháp khẳng định quyền này thì ai cũng có quyền thực thi quyền này.

 

Hiện nay, không một ai có thể dám chắc là có hay không các cuộc biểu tình diễn ra trong tương lai. Vì các cuộc biểu tình không do ai tổ chức. Nếu Trung Quốc chấm dứt gây hấn, chấm dứt việc bắt giữ, đánh đập, cướp tài sản của ngư dân Việt Nam trên Biển Đông thì mới chắc là không có biểu tình.

 

Hỏi: Vì sao lại cấm biểu tình?

 

Trả lời: Cái này tôi không biết. Nhưng theo lời giải thích của một số người thì các cuộc biểu tình vừa rồi có các thế lực thù địch lợi dụng. Tôi cũng không biết cụ thể là thế lực nào, đến từ đâu và đã lợi dụng được ai và lợi dụng như thế nào. Báo chí Trung Quốc thì cho rằng các cuộc biểu tình vừa rồi ở Hà Nội là do có Hoa Kỳ đứng đằng sau. Tôi nhờ ngài tìm hiểu vấn đề này xem cụ thể ra sao.

 

Hỏi: Ngoài chuyện biểu tình, các nhà trí thức còn tổ chức các hoạt động khoa học như: hội thảo, tọa đàm, thuyết trình?

 

Trả lời: Vâng, đúng thế. Nhưng cuộc tọa đàm Vì Hòa bình và công lý trên Biển Đông do CLB Phaolo Nguyễn Văn Bình và NXB Trí thức vừa rồi bị cấm tổ chức. Trước đó, Cụ Nguyễn Đình Đầu (một học giả lão thành, đã 92 tuổi, đi đầu trong cuộc biểu tình ở Sài Gòn hôm 5.6) tổ chức một cuộc triển lãm các bản đồ cổ tại Thư viện Tổng hợp Tp HCM thì bị dừng, chỉ trước giờ khai mạc vài chục phút. Rồi mới đây là buổi thuyết trình của Tiến sĩ Nguyễn Nhã tại Hà Nội cũng bị ngăn cản, mà ngài đã biết.

 

Hỏi: Vì sao thế, thưa ông? Các cơ quan của chính quyền có đưa ra lý do gì không?

 

Trả lời: Tất cả chỉ có hai chữ thôi, thưa ngài. Hai chữ đó là “nhạy cảm”.

 

Sau đó, tôi thuật lại cuộc thuyết trình của TS Nguyễn Nhã, đúng như đã đưa trên Blog.

 

Hỏi: Theo ông, thì rồi đây tình hình này có cải thiện được không?

 

Trả lời: Tôi tin chắc rằng, rồi đây, những ai chưa hiểu về chúng tôi thì sẽ hiểu thôi. Vì sao? Vì chủ quyền là một điều rất thiêng liêng đối với mọi người Việt Nam. Và lòng yêu nước là tự nó có trong lòng rồi, không phải xin ai, cũng chẳng ai có thể cho được. Nó rất thiêng liêng và có trong huyết quản mọi người.

Tôi hy vọng rằng, qua các cuộc gặp gỡ, đối thoại và lắng nghe nhau, rồi thì tất cả mọi người sẽ hiểu nhau hết!

 

Cuộc trò chuyện bắt đầu từ 10h00, kết thúc lúc 11h45. Nội dung chỉ có từng ấy. Nay xin ghi lại để mọi người cùng rõ.

 

Có một điều đáng tiếc là hôm nay, vợ tôi mang máy ảnh đi hội nghị Khảo cổ học, nên tôi không chụp được tấm hình nào làm kỷ niệm và các ngài ở Tòa Đại sứ Mỹ cũng không mang theo máy chụp hình, nên chỉ bắt tay nhau rồi ra về mà không có hình lưu niệm.

 

Hết

 

Tái bút: Chiều hôm qua (29.09.2011), lãnh đạo công an Tp Hà Nội đã cử cán bộ đến gặp tôi tại Viện Hán Nôm. Buổi làm việc có 2 nội dung:

 

1- Lấy lý lịch cá nhân của tôi. Mặc dù cơ quan công an Hà Nội đã có 2 lần lấy lý lịch trực tiếp từ tôi. Hai người đã lấy lý lịch của tôi là Trung tá Ngô Văn Đáp và Trung tá Đàm Văn Khanh. Tôi nói sẽ tự khai lý lịch và gửi qua Email để ông nắm được.

 

Qua việc này, tôi biết công an HN có rất nhiều bộ phận khác nhau, và khi xử lý công việc thì không kết nối được với nhau để tránh mất thời giờ cho cả hai bên.

 

2 – Chuyển lời mời của Ông Phó Giám đốc Công an Tp Hà Nội Bạch Thành Định mời tôi lên gặp gỡ tại trụ sở CA TPHN, 87 Trần Hưng Đạo, HN vào lúc 10h00 sáng mai (30.09.2011). Tuy nhiên, vì sáng mai có việc bận nên tôi đề nghị sẽ gặp vào đầu tuần tới.

 

Tôi cũng mong có cuộc gặp với lãnh đạo công an Tp HN để trao đổi thêm, tìm hiểu ý kiến của các anh ấy và trân trọng đề nghị giúp đỡ cho các cuộc thuyết trình khoa học về chủ quyền biển đảo sắp tới.

Cuộc trò chuyện này từ 14h00 đến 16h00.

Nguyễn Xuân Diện

 

.

.

.

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM : Một tin rất “sốc” (Trần Hữu Tá)

Tháng Chín 30, 2011

 

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM :

Một tin rất “sốc”

Trần Hữu Tá

Thứ Hai, 26/09/2011, 07:30 (GMT+7)

http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/457566/Mot-tin-rat-%E2%80%9Csoc%E2%80%9D.html

 

TT – Đọc bài viết “Đầu vào tuyển sinh sư phạm: “tuột dốc” không phanh” trên Tuổi Trẻ ngày 23-9, những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục nước nhà không khỏi bị choáng. Nếu những thông tin trong bài báo này là chính xác thì việc tuyển sinh của ngành sư phạm mới đây là một cú “rơi tự do” không có bảo hiểm.

 

Số lượng học sinh đăng ký thi vào sư phạm sụt giảm; kết quả trúng tuyển nguyện vọng 1 rất thấp. Nhiều ngành ở nhiều trường không đạt chỉ tiêu. Một số ngành không tuyển được người học sẽ phải đóng cửa.

 

Không ít thí sinh tiếng là trúng tuyển nhưng lại là kết quả của sự “bòn mót” đến kiệt cùng của ban tuyển sinh các trường. Chẳng hạn thi vào khoa sử mà có thí sinh chỉ đạt 1 điểm, nửa điểm (0,5) thậm chí 1/4 điểm (0,25) môn sử. Việc tuyển lựa có năm nào thảm hại như thế không?

 

Tôi không hiểu các thầy cô ở các khoa, các trường ĐH sư phạm trong cả nước sẽ thần thông biến hóa như thế nào để phù phép giúp những thí sinh yếu kém cực kỳ như thế sau bốn năm lại có thể vững vàng đứng trên bục giảng ở các trường THPT?!

 

Muốn trò giỏi phải có thầy giỏi, đó là nguyên lý thép. Tôi không hiểu mai này các học sinh của chúng ta sẽ học hành như thế nào với các thầy cô giáo trẻ nhiệt tình có thể có thừa nhưng tiềm lực khoa học quá mỏng như những thí sinh trúng tuyển năm nay.

 

Ở thập niên thứ hai của thế kỷ 21 này, khi chất lượng giáo viên của các nước láng giềng cũng như của rất nhiều nước khác trên thế giới không ngừng được nâng cao thì chúng ta lại sắp đào tạo một thế hệ giáo viên mới với chất lượng đầu vào như thế đấy.

 

Nhưng thế hệ sinh viên sư phạm trẻ này không có lỗi. Trách nhiệm thuộc về chúng ta, đặc biệt đối với những người đang làm công tác quản lý, vì vậy ngay bây giờ chúng ta buộc phải sửa sai.

 

Dư luận xã hội nói chung, nguyện vọng của hơn 1 triệu giáo viên nói riêng đã và đang đòi hỏi sớm có một chiến lược cải cách giáo dục tổng thể, nhằm đạt yêu cầu “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục VN” như nghị quyết Đại hội Đảng XI đã xác quyết.

 

Chiến lược cải cách ngành sư phạm, đào tạo và sử dụng giáo viên phải có một vị trí quan trọng trong chiến lược tổng thể đó. Hàng loạt vấn đề cần được cân nhắc và xử lý: làm thế nào để động viên những học sinh THPT ưu tú (chế độ miễn học phí hiện nay chưa đủ mạnh) vào ngành sư phạm? Sắp xếp tinh giản hệ thống trường ĐH sư phạm, khắc phục tình trạng đào tạo tràn lan (tỉnh nào cũng có trường hoặc khoa sư phạm), manh mún (mỗi tỉnh vài ba trăm hoặc ít hơn), phô trương hình thức (gần như đồng loạt “lên đời”, mang danh xưng ĐH sư phạm dù thực chất còn rất lỏng). Công khai và luật hóa chế độ đãi ngộ vật chất và tinh thần đối với giáo viên (giáo viên và cán bộ y tế nên có ưu đãi về lương bổng, về thưởng tết – coi như tháng lương thứ 13; luân phiên được đi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ dài hạn cả năm chứ không phải dăm ba ngày; luân phiên giảng dạy ở vùng sâu vùng xa có hạn kỳ, sau đó nhất thiết phải được chuyển về đồng bằng, thành thị).

 

Tóm lại, cần có một cương lĩnh về cải cách sư phạm thật công bằng, minh bạch và thực thi nghiêm túc, chứ không để cương lĩnh đó ở mãi tình trạng “bánh vẽ”.

 

Hơn nửa thế kỷ gắn bó với bảng đen và bục giảng, tôi cả tin là đã hiểu người thầy giáo VN và hệ thống sinh viên ĐH sư phạm. Hầu hết họ rất tự trọng. Họ tự nguyện sống chết với nghề nhưng cũng rất dễ mang mặc cảm tủi hổ khi bị đối xử chưa đàng hoàng, khi được vinh danh là kỹ sư tâm hồn nhưng trên thực tế bị coi nhẹ và thường xuyên bị nợ áo cơm ghì sát đất.

 

“Sau cơn mưa trời lại sáng”? Tình hình tuyển sinh sư phạm vừa rồi là một trận mưa lớn. Đừng để tình trạng này tiếp tục lặp lại. Các cấp có trách nhiệm cần suy nghĩ, xử lý để sớm cải thiện triệt để tình hình này.

 

TRẦN HỮU TÁ

.

.

.

Ý KIẾN :

 

Vì sao tuyển sinh sư phạm tuột dốc

Nguyễn Mai
27/09/2011 7:35:41 SA

Đơn giản vì hiện nay học sư phạm ra trường không xin được việc làm. Vì hầu hết biên chế ở các trường đã được bão hòa. Giáo viên về hưu thì hiếm còn sinh viên ra trường nhiều nên việc thất nghiệp xảy ra rất nhiều đối với sinh viên học các ngành sư phạm. Đã học sư phạm nếu không đi dạy thì không làm được việc gì. Đặc biệt là giáo viên THCS và Tiểu học. Hiện tại lương của giáo viên cũng rất thấp không đủ sống nếu sinh viên nào may mắn được đi dạy thì lương mới ra trường chỉ ở mức xấp sỉ 2 triệu. Nên việc những sinh viên giỏi đa phần đều chọn ngành kinh tế, kỹ sư… Rất nhiều sinh viên học sư phạm ra trường không xin được việc đã đi học các ngành khác như kế toán… Vì học kế toán không làm việc này thì làm việc khác không làm ở địa phương thì có thể đi xa hơn.

Còn học sư phạm thì sao? Không có sự linh động nếu ở địa phương không xin việc được thì đi nơi khác càng không.Tôi cũng rất mong cấp quản lý cũng Bộ giáo dục có hướng giải quyết việc làm cho sinh viên học ngành sư phạm có được việc làm ổn định không phải chịu cảnh “học xong không biết làm gì?” rồi lại đi học ngành khác.

Như vậy, không những tồn kém ngân sách của nhà nước, tiền bạc cũng như thời gian của sinh viên. Nếu như không giải quyết được vấn đề trên thì chưa chắc có sinh viên đi học ngành sư phạm chứ đừng nói là đào tạo ra đội ngũ giáo viên chất lượng không cao như bài viết “tuyển sinh sư phạm tuột dốc”. Tôi rất hiểu điều này vì tôi cũng là sinh viên trường CĐ Sư phạm học 3 năm trời ra không xin được việc, ngồi ở nhà mà tôi như ngồi trên đống lửa và tôi quyết định học Trung cấp kế toán và liên thông đại học.

.

Quan tâm chưa đúng

Hữu Tâm
26/09/2011 8:51:48 CH

Đa số: Lương giáo viên không đủ sống ,chật vật mười lăm năm hay hai mươi năm nay chẳng có gì gọi là tài sản quý giá,khi con lớn phải nhịn ăn, tiết kiệm hết mức cho con học hành để rồi cuối đời chưa về hưu đã ngã bệnh! Nhà nước chưa quan tâm đến đời sống nhà giáo,giáo viên các môn không dạy thêm thì lấy đâu ra thu nhập. Nhà cửa, xăng xe,chi phí bây giờ đắt đỏ nên nghề giáo bây giờ khó khăn thật sự! Nhiều SV sư phạm ra trường xin việc lại quá khó nữa. Nếu không cải cách kịp thời thì nền giáo dục chúng ta sẽ tụt hậu nhiều lắm so với các nước trong khu vực!
.

 

Đừng nghĩ kỳ thi tuyển sinh là trận mưa lớn

Trọng Tín
26/09/2011 10:00:09 SA

“Sau cơn mưa trời lại sáng. Tình hình tuyển sinh sư phạm vừa rồi là một trận mưa lớn”. Tôi nghĩ tác giả chỉ nhìn kỳ thi hiện tại mà quên nhìn lại những năm về trước, thực trạng cũng có tươi sáng gì lắm đâu. Đã có biết bao “trận mưa lớn” rồi mà cũng chẳng thấy “trời lại sáng”. Tôi thì nghĩ đây chỉ là những bước đầu của quá trình thụt lùi của nền giáo dục thôi và sẽ còn tiếp tục tụt hậu nếu như chẳng có những thay đổi căn cơ. Cứ mãi loay hoay với thi chung hay thi riêng hai kỳ thi, nên tổ chức ba chung hay các trường tự lo thi tuyển, …. trong khi những vấn đề này chỉ là bề ngoài của vấn đề thôi, cho dù có làm thế này hay thế kia thì theo tôi nó cũng không thể thay đổi được nền giáo dục đang đi xuống.

Cái gốc của sự thụt lùi thì hình như chưa tìm ra, hoặc tìm ra những người ta không dám làm. Tôi mong một ngày giáo viên có đủ lương để sống và lo cho gia đình, tất cả nguyên tắc đều được làm một cách công tâm.

.

.

.

HÀ NỘI & BẮC KINH CHUẨN BỊ NHƯ THẾ NÀO CHO CHUYẾN ĐI TRUNG QUỐC CỦA NGUYỄN PHÚ TRỌNG ? (Âu Dương Thệ)

Tháng Chín 30, 2011

 

Hà nội và Bắc kinh đang vận động và chuẩn bị như thế nào cho chuyến di Trung quốc của Nguyễn Phú Trọng ?

Âu Dương Thệ

DC&PT – Thời Sự 2011

Thứ Sáu, 30 tháng 9 năm 2011

http://www.dcpt.org/

 

“Hai bên khẳng định sẽ làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạp hai nước” !

 

“…muốn có sự ủng hộ thực sự của các nước dân chủ này thì những người cầm đầu CSVN phải đi đầu công khai kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh và lại càng không được phép cử những phái đoàn như Hồ Xuân Sơn, Nguyễn Chí Vịnh và Ngô Xuân Lịch sang nịnh bợ và cúi đầu Bắc kinh. Nguyễn Phú Trọng phải nói cho nhân dân VN, dư luận quốc tế và cả Bắc kinh biết, chừng nào Bắc kinh không có những hành động chứng minh cụ thể là từ bỏ những đòi hỏi ngang ngược về hải đảo và biển Đông thì sẽ hoãn chuyến thăm Trung quốc…”

 

I. Đới Bỉnh Quốc mở đường cho chuyến đi Bắc kinh của Nguyễn Phú Trọng

Đài Bắc kinh ngày 8.9 đã nhắc lại câu „Hai bên khẳng định sẽ làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước“ trong „Bản tin báo chí“1 (một kiểu thông cáo chung) kết quả cuộc hội đàm của Phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc giữa Đới Bỉnh Quốc, nhân vật cao nhất phụ trách ngoại giao và Giám đốc Văn phòng An ninh quốc gia của ĐCS Trung quốc và Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân ở Hà nội vào đầu tháng 9 vừa qua. Đối với các quan sát viên chính trị theo dõi quan hệ giữa hai ĐCS VN và Trung quốc thì câu trên đây tuy rất bình thường nhưng lại có một hàm ý đặc biệt và rất rõ ràng. Hàm ý đặc biệt của câu trên là gì?

Câu hỏi trên liên hệ mật thiết hữu cơ tới việc Đới Bỉnh quốc gặp Nguyễn Phú Trọng, người cầm đầu ĐCSVN từ tháng 1.2011, ngày7.9, một ngày khi „Bản tin báo chí“ được công bố chính thức với bên ngoài. Ông Trọng đã ôm hôn rất thân thiết Đới Bỉnh Quốc. Sau đó họ Đới chuyển lời miệng của Hồ Cẩm Đào, người đứng đầu CS Trung quốc, nhắn riêng Nguyễn Phú Trọng „Đảng và Chính phủ Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam. Trong tình hình hiện nay, hai bên Trung-Việt đặc biệt cần phải xuất phát từ đại cục, nắm vững hướng phát triển quan hệ Trung-Việt.“ Và quan trọng nữa, qua lời của họ Đới, Hồ Cẩm Đào „mong Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sớm sang thăm Trung Quốc“.3
Nhóm cầm đầu Bắc kinh thừa biết Nguyễn Phú Trọng là người rất thần phục và trung thành với Bắc kinh. Từ sau khi lên làm Tổng bí thư (1.2011) ông Trọng đã rất nhấp nhỏm muốn sang gặp những người anh cả phương Bắc càng sớm càng tốt. Nhưng khó khăn và trở ngại rất lớn cho Nguyễn Phú Trọng là, nếu sang thăm Bắc kinh vào lúc này thì ăn nói ra làm sao đối với nhân dân VN và dư luận quốc tế về những chủ trương bá quyền và nhất là những hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền VN của hải quân Trung quốc từ cuối tháng 5 và những hành động tàn bạo với hàng ngàn ngư dân VN trong các năm qua. Vì dư luận trong nước, quốc tế và ngay cả Trung quốc biết rất rõ, đại đa số nhân dân VN, kể cả một bộ phận quan trọng trong Đảng, vô cùng bất mãn với những chính sách xâm lấn nước láng giềng và các hành động bất tàn bạo của hải quân Trung quốc với các ngư dân nước láng giềng! Hiểu được nỗi lòng của Nguyễn Phú Trọng cho nên Đới Bỉnh Quốc đã tuyên bố trước báo chí ở Hà nội sau khi viếng lăng ông Hồ : “Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi”.4

Như vậy với câu nói trên, người đứng đầu ngành đối ngoại và an ninh của Trung quốc và cố vấn của Hồ Cẩm Đào đã tìm cách rửa mặt để dọn đường cho Nguyễn Phú Trọng sang gặp Hồ Cẩm Đào trong thời gian sắp tới. Đây là thủ đoạn ngoại giao nhằm thực hiện chính sách thâm độc là mở rộng ảnh hưởng hơn nữa vào VN. Ở đây Bắc kinh cố tình tạo ra ngôn thuận để thực hiện danh chính! Họ chẳng nề hà một vài câu ngoại giao bề ngoài để ru ngủ các vua tập thể ở Hà nội, như trước đây họ đã đưa ra các khẩu hiệu rất ngọt „16 chữ vàng“ là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai ” và „bốn tốt“ là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Từ đó họ đã đạt được mục tiêu trong Hiệp định biên giới đất liền với VN (1999) và hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ và Hợp tác nghề cá (2000). Cả hai hiệp định này đều mang lại lợi lớn cho phương Bắc. Nay cũng tương tự như vậy, họ Đới vào thăm lăng người sáng lập chế độ toàn trị CSVN rồi tuyên bố: “Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi trong trái tim tôi”. Ngôn ngữ ngọt ngào và bùi tai rất thuận lợi để Nguyễn Phú Trọng có thể giải thích cả trong đảng lẫn nhân dân là, lãnh đạo Trung quốc vẫn một lòng tôn thờ Bác cho nên chúng ta không được nghi ngờ ĐCS Trung quốc. Làm như thế họ Đới lôi Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu chế độ toàn trị hiện nay ở VN, sớm sang thăm Trung quốc, ép ông Trọng phải có nhượng bộ mới. Sau đó Bắc kinh sẽ lấy danh nghĩa „đây là thoả thuận chung ở cấp cao“ để thực hiện tiếp tục các ý đồ nham hiểm đối với VN.

Trong các thập niên gần đây Bắc kinh đã thành công lớn trong sách lược ép các người cầm đầu chế độ toàn trị ở VN phải thoả thuận các điều kiện bất lợi cho VN và từ đó họ nhân danh „làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước“. Chứng minh rõ rệt nhất là năm 2009 khi tướng Võ Nguyên Giáp, đại thần cuối cùng còn sống của chế độ, nhiều cán bộ cao cấp về hưu và nhiều chuyên viên trí thức đã lên tiếng phản đối việc để cho Bắc kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên vì sẽ gây ra những bất lợi lớn về môi trường và nguy hiểm cho an ninh quốc phòng. Nhưng khi đó từ Nguyễn Phú Trọng tới Nguyễn Tấn Dũng đã lấy cớ việc này „đã có thoả thuận trước đây ở cấp cao“ và cấm không cho Quốc hội thảo luận về việc này.5 Vì cuối tháng 5.2008 khi thăm Trung quốc với tư cách là Tổng bí thư khi ấy Nông Đức Mạnh đã bị ép phải chấp nhận việc để Bắc kinh khai thác Bauxite ở Tây nguyên.6 Trong một chế độ đảng trị hà khắc thì đây là cách bịt miệng đảng viên và nhân dân dễ nhất! Chỉ cần người cầm đầu nói „đã có thoả thuận trước đây ở cấp cao“ thì tự khắc có hai tác dụng: 1. Cấp lãnh đạo VN đã thoả thuận với cấp lãnh đạo Trung quốc cho nên không thể bàn lại. 2. Các đảng viên phải tuận lệnh thượng cấp, báo chí phải im lặng. Hậu quả im thin thít!

II. Các chuẩn bị cho chuyến đi của Nguyễn Phú Trọng

Cho nên cần phải hiểu cho đúng việc Bắc kinh đòi: „Hai bên làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước“. Thoạt nghe hay đọc câu trên thì thấy thái độ rất bình đẳng, dân chủ giữa lãnh đạo hai nước độc lập trong các hội nghị. Nhưng câu nói trịnh trọng và dân chủ hình thức đó không che dấu được sự thực: Trong tình thế cực kì khó khăn của CSVN và so sánh tương quan lực lượng về nhiều mặt giữa hai ĐCS VN và Trung quốc thì ai lãnh đạo ai? Ai chỉ huy? Ai tuân lệnh?

Rõ ràng suốt từ thập niên 90 của thế kỉ trước, sau khi nhóm cầm đầu CSVN phải tới Thành Đô cúi đầu xin cái dù che chở của phương Bắc thì các nhóm cầm đầu Bắc kinh đã sỏ mũi các vua tập thể ở Hà nội. Cho nên trong các hội nghị cấp cao của hai nước luôn luôn diễn ra tình huống một bên ra lệnh và một bên phải thi hành! Nhưng để giữ bộ mặt cho chư hầu nên Bắc kinh luôn luôn tô son cho các hội nghị cấp cao là hai bên bình đẳng và độc lập trong các quyết định để từ đó mới có thể đề cao „„làm theo tinh thần nhận thức chung của nhà lãnh đạo hai nước“! và những khẩu hiệu ngon ngọt „16 chữ vàng“ và „4 tốt“ theo chuyện ngụ ngôn con cáo khen con gà có tiếng gáy hay!

Lúc này Bắc kinh thấy đây là thời điểm thích hợp cần phải sớm có hội nghị cấp cao mới giữa hai nước để tạo danh chính ngôn thuận cho chủ trương bành trường lãnh thổ và bòn rút tài nguyên của VN. Vì vậy Hồ Cẩm Đào đã cử Đới Bỉnh Quốc sang thúc giục Nguyễn Phú Trọng „sớm sang thăm Trung Quốc“!

Các sự kiện đáng chú ý là từ sau khi Nguyễn Phú Trọng nắm chức Tổng bí thư thì một mặt Bắc kinh tăng cường các hành động xâm lấn công khai ngang ngược trên biển Đông, nhưng đồng thời họ cũng vận động ngoại giao ráo riết để ép buộc VN phải chấp nhận một tình trạng đã rồi. Từ cuối tháng 5 tới đầu tháng 6.2011 Bắc kinh đã để các tầu hải quân Trung quốc đội lốt các tầu hải giám xâm phạm lãnh hải VN, cắt cáp các tầu của Tập đoàn Dầu khí VN đang thăm dò dầu khí trong hải phận VN.7 Trong hai vụ này từ người đứng đầu Đảng đến Chính phủ là Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đều câm như hến. Ngoài ra Bắc kinh còn tăng cường hải quân ở Hoàng sa, các tầu dánh cá Trung quốc tự do hoạt động ở đây; trong khi ấy vẫn săn đuổi và giết hại ngư dân VN! Không chỉ ngang ngược với VN, nhóm cầm đầu Bắc kinh còn ngang ngạnh đe doạ cả Ấn độ. Cuối tháng 7 khi tầu hải quân Ấn thăm VN đang chạy trên hải phận VN thì hải quân Trung quốc đã cảnh cáo là tầu hải quân Ấn đã xâm phạm hải phận Trung quốc! Rồi ít ngày sau Bắc kinh còn công khai đe doạ một công ti Ấn đang khai thác dầu khí ở gần Côn sơn thuộc thềm lục địa VN.8 Với những đòi hỏi và đe doạ này mặc nhiên Bắc kinh coi biển Đông là cái hồ của Trung quốc.

Nếu chế độ CSVN, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, độc lập, bình đẳng thực sự với Trung quốc và biết giữ thể diện quốc gia thì không nên cử các phái đoàn cấp cao sang Bắc kinh giữa lúc Bắc kinh đang có những hành động xâm lấn ngang ngược và làm mất thể diện VN. Nhưng chỉ trong vòng từ tháng 6 tới tháng 9, các vua tập thể ở Hà nội đã phải cử ít nhất ba phái đoàn cấp cao ngoại giao và quân sự sang Bắc kinh. Trong đó phải kể tới chuyến đi Bắc kinh của các phái đoàn Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn vào cuối tháng 6, phái đoàn của Thứ trưởng Quốc phòng Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh sang họp hội nghị „Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung“ lần thứ 5 vào cuối tháng 8 và phái đoàn của Trung tướng Ngô Xuân Lịch, Thường trực Quân uỷ Trung ương kiêm Bí thư trung ương và Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị vào giữa tháng 9. Cũng trong thời gian này Hà nội cũng mời hai đoàn quân sự và ngoại giao cao cấp của Trung quốc sang thăm. Đó là chuyến thăm của Thượng tướng Quách Bá Hùng, Uỷ viên Bộ chính trị và Phó Chủ tịch Quân ủy trung ương Trung Quốc vào tháng 4.2011 và Đới Bỉnh Quốc vào đầu tháng 9.

Với thái độ này các vua tập thể ở Hà nội, đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng, đã tự vạch cho Bắc kinh biết bản lĩnh cúi đầu và tình hình vô cùng khó khăn của chế độ toàn trị. Đó là nạn lạm phát phi mã cao nhất châu Á lên tới trên 23%; khiến cho hàng chục triệu bộ đội, viên chức, công nhân và gia đình –những người sống bằng đồng lương chết đói- vô cùng bất mãn; nhập siêu của VN với Trung quốc đang vượt quá cao lên tới 13 tỉ USD trong khi đó số dự trữ ngoại tệ không đủ để trả nhập siêu này9; ảnh hưởng của Cách mạng Hoa nhài ở Trung Đông đang tác động mạnh tới VN, nhất là trong các giới thanh niên, trí thức và cả các đảng viên biết quí lòng tự trọng rất bất mãn với nhóm lãnh đạo bạc nhược và tham nhũng, ác với dân hèn với kẻ thù dân tộc. Vì thế, đối với Bắc kinh thì lúc này là thời điểm thuận lợi nhất để ép thêm nhóm cầm đầu CSVN phải vào khuôn mẫu do họ định.

III. Ai nhượng bộ ai trong các lãnh vực nào?

Tại các hội nghị trên được coi là chuẩn bị không khí và nội dung cho chuyến đi Bắc kinh sắp tới của Nguyễn Phú Trọng. Trong khi các phái đoàn Trung quốc chỉ sử dụng ngôn ngữ ngoại giao đường mật và hách lối vạch ra hướng đi như „cần phải xuất phát từ đại cục“…10, hay “cùng Việt Nam cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa 2 nước“11 , nhưng không đưa ra một lời hứa cụ thể nào. Ngược lại các phái đoàn của CSVN lại đưa ra những lời hứa rất cụ thể trong nhiều lãnh vực, từ cách giải quyết về tranh chấp biển Đông, thế đứng quốc tế và thậm chí thề thốt trước mặt kẻ thù cả về cách đối xử với nhân dân VN!

 

1.Cách giải quyết tranh chấp biển Đông

Trong hội nghị „Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung“ lần thứ 5 ở Bắc kinh Nguyễn Chí Vịnh đã công khai chấp nhận yêu sách của Bắc kinh lả không quốc tế hoá cuộc tranh chấp này, cụ thể ở đây là Bắc kinh đòi không được phép để Hoa kì nhẩy vào. Trong cuộc hội đàm với Tướng Mã Hiểu Thiên, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Nguyễn Chí Vịnh đã xác nhận: „Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc, rõ ràng cần giải quyết hai nước với nhau.“12 Sau đó chính Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt khi tiếp Nguyễn Chí Vịnh ngày 29.8 cũng nhấn mạnh ” Trung Quốc phản đối làm phức tạp hóa và quốc tế hóa vấn đề Nam Hải“13

Trong dịp này để lấy lòng Bắc kinh, Nguyễn Chí Vịnh còn đi xa hơn nữa bằng cách nói thay cho Bắc kinh, khi ông tuyên bố “Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam“14. Đây là tuyên bố ngoại giao rất ngớ ngẩn và cực kì nguy hiểm. Vì như thế đã gián tiếp nhìn nhận rằng, những yêu sách của Bắc kinh về các hải đảo và biển Đông là chính đáng. Như thế Nguyễn Chí Vịnh, người cầm đầu phái đoàn VN tại hội nghị quan trọng ở Bắc kinh, thừa lệnh của Nguyễn Phú Trọng, đã đánh lừa nhân dân VN và đánh lạc sự theo dõi của dư luận quốc tế. Bởi lẽ, nói theo kiểu Nguyễn Chí Vịnh là đã về hùa với lập luận của Bắc kinh về vấn đề tranh chấp biển Đông. Vì từ trước tới nay Bắc kinh luôn luôn khẳng định Hoàng sa, Trường sa và phần chính của biển Đông là thuộc lãnh thổ của Trung quốc „không thể bàn cãi“! Có nghĩa là, đấy là những đảo và biển của Trung quốc chứ họ có xâm chiếm của VN đâu!15 Nhiều chính phủ và các nước từng ủng hộ VN trong tranh chấp biển Đông đã vô cùng thất vọng trước thái độ đầu hàng và bản lĩnh hèn nhát của trưởng phái đoàn CSVN trong hội nghị này.

Tướng Ngô Xuân Lịch cũng đã lập lại lập trường sai lầm này trong cuộc thảo luận vào giữa tháng 9 với Thượng tướng Lý Kế Nại, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc:

„Đồng chí cũng khẳng định, Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Vấn đề tranh chấp giữa hai nước thì do hai nước giải quyết.“16

Chính thái độ chấp nhận yêu sách bá quyền của Bắc kinh và bản lãnh quá nhu nhược của nhóm cầm đầu CSVN cho nên trong cuộc họp „Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ“ lần thứ hai vào ngày 19.9 tại Washington D.C chính phủ Obama đã tỏ ra coi thường phái đoàn của Nguyễn Chí Vịnh. Ngoài việc hội đàm với Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher không một nhân vật quan trọng nào trong chính phủ Hoa kì đã tiếp Nguyễn Chí Vịnh, kể cả Bộ trưởng Quốc phòng Mĩ.17 Điều này trái với cách tiếp đón niềm nở Nguyễn Chí Vịnh (dù chỉ là xã giao) của Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Lương Quang Liệt.

 

2.Dùng Bắc kinh làm cái ô che chở

Trong cuộc hội đàm „Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung“ lần thứ 5 ở Bắc kinh hai bên cũng đã thảo luận về „tình hình TrungĐông-Bắc Phi và đặc biệt là việc đẩy mạnh can dự của các nước lớn vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương.“18 Nghĩa là cả Bắc kinh và Hà nội đang rất lo sợ các hậu quả của những cuộc Cách mạng Hoa nhài của nhân dân, đặc biệt của giởi trẻ, ở Ai cập, Tunesien, Libyen, Syrien…đã lật đổ nhiều bạo chúa đã từng cầm quyền sắt máu 30-40 chục năm. Các cuộc vận động dân chủ phần chính bằng phương pháp phi bạo lực của hàng triệu thanh niên Trung Đông đã được sự ủng hộ rất tích cực của Liên hiệp quốc, Mĩ, Liên minh Âu châu, Toà án Hình sự Quốc tế Den Haag (Hoà lan) và nhiều tổ chức nhân quyền trên thế giới.

Vì lo sợ cuộc Cách mạng Hoa nhài của Trung Đông sẽ lan tới cả hai nước độc tài VN và Trung quốc, nên trong dịp này Nguyễn Chí Vịnh đã cho biết thái độ của nhà cầm quyền CSVN và đề nghị với Bắc kinh:“Chúng ta cần nghiên cứu kỹ hệ lụy của sự can dự này để xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và không bị bất ngờ”.19 Như thế có nghĩa là, Hà nội lại muốn nhờ Bắc kinh che trở. Một thái độ tương tự mà trước đây Hà nội cũng đã từng nhờ Bắc kinh khi Liên sô sụp đổ vào đầu thập niên 90 của thế kỉ trước mà cao điểm là cuộc Hội nghị ở Thành Đô Trung quốc vầu tháng 9.1990. Cũng vì thế nên trong dịp này Nguyễn Chí Vịnh đã cong lưng cúi đầu khẩn khoản và tâng bốc phương Bắc:

„Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc Xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỷ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới“20

3.Dằn mặt dân VN trước mặt kẻ thù

Có lẽ Nguyễn Chí Vịnh thấy rằng, việc cúi đầu như thế chưa đủ để mua sự tin cậy của phương Bắc, cho nên trong cuộc hội đàm „Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt-Trung“ ở Bắc kinh Nguyễn Chí Vịnh còn công khai hứa sẽ cấm chỉ các cuộc biểu tình của nhân dân VN, đi đầu là trí thức và thanh niên, đã can đảm tổ chức nhiều cuộc biểu tình chống các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh:

„Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng thông báo chủ trương kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người ở Việt Nam với tinh thần không để sự việc tái diễn.“21

Hiển nhiên cá nhân Nguyễn Chí Vịnh không dám tuyên bố như vậy nếu không được phép của một vài người có quyền lực cao nhất trong ĐCSVN! Nguyễn Chí Vịnh Là thứ trưởng Quốc phòng, mà bộ Quốc phòng dưới quyền trực tiếp của Quân uỷ Trung ương, đứng đầu là Bí thư quân uỷ Nguyễn Phú Trọng. Lập luận tương tự là chửi nhân dân để lấy lòng kẻ thù đã từng được chính Nguyễn Phú Trọng dùng trong vụ để Trung quốc khai thác Bauxite ở Tây nguyên đầu năm 2009. Khi ấy tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều trí thức và cán bộ cấp cao về hưu đã kiến nghị công khai yêu cầu huỷ bỏ dự án. Nhưng Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố vào buổi họp cuối của Quốc hội giữa năm 2009:

„Chúng ta không thể mơ hồ mất cảnh giác trước những âm mưu của một số thế lực xấu ở bên ngoài nhân dịp này, lợi dụng công việc này kích động chia rẽ đoàn kết dân tộc, chia rẽ đoàn kết nội bộ, thậm chí ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế của chúng ta. Chúng ta không cường điệu nhưng cũng không nên mơ hồ, chủ quan mất cảnh giác. „ 22

Như vậy đã cho thấy, vì sợ mất lòng Bắc kinh nên Nguyễn Phú Trọng đã không thèm nghe mà còn chụp mũ, xuyên tạc và đe doạ cả đại thần, các trí thức và các đảng viên biết quí tự trọng. Nay được phép của Nguyễn Phú Trọng cho nên Nguyễn Chí Vịnh mới dám làm nhục trí thức và thanh niên VN trước mặt kẻ thù để lấy lòng nhóm cầm đầu Bắc kinh!

Cũng trong thời gian này để hổ trợ cho thái độ cầu thân Bắc kinh của các vua tập thể ở Hà nội, tờ Quân đội Nhân dân ngày 28.8 đã đưa ra bài bình luận „Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” cố tình chụp mũ và xuyên tạc các hoạt động yêu nước của các giới trí thức và thanh niên VN:

„Ở trong nước, một số kẻ cơ hội chính trị cũng mưu toan lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để “bắn hai con chim bằng một mũi tên” – vừa chia rẽ, phá hoại quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, vừa thực hiện chiến lược xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo.“23

Tại Bắc kinh Tướng Ngô Xuân Lịch cũng lập lại thái độ chửi dân trước mặt kẻ thù. Ngày 16.9 khi được Tập Cận Bình, người được coi là kế vị Hồ Cẩm Đào, tiếp ông Lịch cũng nói như Nguyễn Chí Vịnh::

„Việt Nam luôn luôn cảnh giác với âm mưu phá hoại, chia rẽ tình cảm đoàn kết giữa Việt Nam và Trung Quốc của các thế lực thù địch.24

Và khi về nước Tướng Lịch còn viết trên tờ Quân đội Nhân dân:

„Tình yêu nước của một số người dân đang bị các thế lực thù địch lợi dụng, gây nên những vấn đề phức tạp không đáng có về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;“ 25

Như vậy cho thấy chủ ý nói xấu và làm nhục những người VN yêu nước, đi đầu là thanh niên và trí thức, ngay trước mặt kẻ thù của dân tộc là một chủ trương công khai của nhóm cầm đầu CSVN hiện nay.

Chính vì thế trong Thư ngỏ ngày 6.9 nhà trí thức Lê Hiếu Đằng, một cán bộ cao cấp về hưu, đã rất can đảm đặt câu hỏi thẳng với các vua tập thể của chế độ toàn trị:

„Ông Vịnh nhân danh ai, nhân danh cái gì mà đã hạ mình để làm vui lòng nhà cầm quyền Trung Quốc khi thông báo và hứa với Trung Quốc như vậy ? Việc nhân dân Việt Nam biểu tình chống lại hành động bành trướng xâm lược có hệ thống của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh và thái độ của Nhà nước Việt Nam hoàn toàn là chuyện nội bộ của một nước có chủ quyền. Ông Nguyễn Chí Vịnh lấy quyền gì mà cam kết một cách nhục nhã với nhà cầm quyền Trung Quốc như vậy ?“26

Ông Đằng chất vấn trực tiếp các vua tập thể:

„Các vị với tư cách những nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam có ủy quyền cho ông Vịnh nói với Trung Quốc nội dung trên hay không ? Hành động và lời nói của ông Vịnh đã xúc phạm nghiêm trọng đến lòng tự tôn và danh dự của cả một dân tộc đã có một quá trình chống ngoại xâm vô cùng hiển hách.“27

Cho tới nay các vua tập thể vẫn không dám trả lời ông Đằng và nhân dân VN !

* * *

Nói tóm lại, xét qua thái độ và những lời phát biểu của các phái đoàn ngoại giao và quân sự cấp cao của Bắc kinh và Hà nội mấy tháng vừa qua trong việc chuẩn bị cho chuyến đi Trung quốc của Nguyễn Phú Trọng với tư cách là tân Tổng bí thư đã chứng tỏ rõ: Ai chủ động, ai bị động? Ai chủ, ai tớ?

Nếu nắm vững sách lược ngoại giao nói ngọt lọt tới xương của nhóm cầm đầu Bắc kinh thì cần phải tỉnh táo biết rằng, đằng sau những lời nói ngọt là một chùm thuốc đắng.28 Nếu sáng suốt và yêu nước thực sự thì những người cầm đầu CSVN phải thừa biết các điều sau đây:

1. Từ việc đánh chiếm quần đảo Hoàng sa, muốn nuốt thêm quần đảo Trường sa và đang tính chiếm phần chính biển Đông là tham vọng của bá quyền Trung quốc trong thời đại Trung quốc đang vươn lên trở thành siêu cường. Lịch sử Trung quốc đã chứng minh là các thời đại hưng thịnh thường kèm theo các cuộc chinh phạt các nước láng giềng.

Chúng ta không muốn chiến tranh, chiến tranh chỉ là hạ sách. Nhưng nói là chỉ cần dùng ba tấc lưỡi có thể thuyết phục Bắc kinh bỏ ý định bành trướng thì sẽ là tự lừa dối mình, lừa dối dân, lừa dối bạn bè quốc tế. Hay hi vọng rằng, cứ chịu cúi đầu quì gối là nó sẽ tha thì cũng là không tưởng! Nhưng làm sao bảo vệ hữu hiệu được biển Đông, làm sao Bắc kinh không dám tiếp tục ngang ngược lấn áp?

2. Trong điều kiện hiện nay của VN, đơn thân độc mã chống lại chính sách bành trướng của phương Bắc thì không đủ sức. Cho nên cần sự ủng hộ rộng rãi của dư luận quốc tế. Muốn vậy thì phải liên minh với các nước Đông Á và Đông nam Á đang có mối lo ngại chung trước Bắc kinh. Đồng thời phải liên minh chặt chẽ cả với Hoa kì và EU là những nước vừa có chung quyền lợi về tự do hàng hải và an ninh thế giới…

Nhưng muốn có sự ủng hộ thực sự của các nước dân chủ này thì những người cầm đầu CSVN phải đi đầu công khai kết án các hành động xâm lấn ngang ngược của Bắc kinh và lại càng không được phép cử những phái đoàn như Hồ Xuân Sơn, Nguyễn Chí Vịnh và Ngô Xuân Lịch sang nịnh bợ và cúi đầu Bắc kinh. Nguyễn Phú Trọng phải nói cho nhân dân VN, dư luận quốc tế và cả Bắc kinh biết, chừng nào Bắc kinh không có những hành động chứng minh cụ thể là từ bỏ những đòi hỏi ngang ngược về hải đảo và biển Đông thì sẽ hoãn chuyến thăm Trung quốc.

3. Quan trọng nữa là phải được nhân dân VN tin cậy và ủng hộ. Vì thế nhóm cầm đầu CSVN phải chứng tỏ có bản lĩnh vững vàng đối với Bắc kinh, biết quí danh dự của tổ quốc và phải trọng nhân dân. Các cuộc biểu tình của thanh niên, trí thức VN trong nhiều tuần qua là phát suất từ động cơ yêu nước chính đáng. Cho nên những người đang cầm quyền không được phép cấm cản, bôi nhọ, đe doạ và bêu xấu nhân dân trước kẻ thù. Vì như thế là chính mình bôi xấu, làm nhục mình!

Hãy có can đảm và làm theo mệnh lệnh của lương tâm để cho nhân dân được tự do biểu tình ôn hoà kết án các hành động xâm lấn của Bắc kinh. Ngoại giao khôn ngoan không được phép hiểu là trốn tránh sự thực, phủ nhận sự thực, cúi đầu trước kẻ thù. Ngoại giao khôn ngoan nhất là phải biết dựa vào sức mạnh của dân và sức mạnh của thời đại!

Âu Dương Thệ

 

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử:

www.dcpt.org hay www.dcvapt.net

 

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 40 other followers