CÁI CHẾT & HOÀI VỌNG của NHÀ THƠ PHAN PHONG LINH (Viên Linh)

 

 

Cái chết và hoài vọng của một nhà thơ

Viên Linh

Wednesday, October 10, 2012 2:20:35 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=156170&zoneid=16

 

Trong vòng non một năm nay, giới văn nghệ hải ngoại rời bỏ cõi đời theo một nhịp độ có hơi gấp gáp. Trước đó, trong sự im lặng, vắng tiếng, vắng hình, độc giả có thể đoán chừng nhà văn nhà thơ họ hâm mộ đang hoàn tất một tác phẩm nào đó, sau rồi mới biết là không có tác phẩm nào được hoàn tất.

 

Nhà thơ Phan Phong Linh (1911-1956), chết với hoài vọng dở dang. (Hình và tài liệu của Viên Linh)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/156170-PL.400.jpg

 

Có thể là có, mà sự đoán chừng không được trả lời, hay chưa được trả lời. Bây giờ là tháng 10, 2012, đúng tháng này năm ngoái, ngày 11 tháng 10, 2011, người ra đi là thi sĩ Hà Thượng Nhân (1922-2011). Hơn 3 tháng sau đến lượt thi sĩ Cao Tiêu (1929-2012). Hai vị ra đi ở tuổi bát tuần, kể là đại thọ, để lại sự thương tiếc cho hầu hết thi văn giới, vì các ông là những bậc trưởng thượng, và suốt đời sống trong thi ca, báo giới, nhiều người biết tên biết tuổi, hơn nữa lại còn được quen biết, thân thuộc, hay làm việc với ông trong các ngành sinh hoạt như: giáo dục, thi ca, trong và ngoài báo giới, đài phát thanh quốc gia hay đài quân đội.

 

Thế nhưng sau đó, ba bốn người trẻ hơn liên tiếp lìa đời: các nhà văn Tuấn Huy, Nguyễn Mộng Giác, Ðịnh Nguyên, và mới đây nhất: Nguyễn Chí Thiện. Cả bốn người này đều là cư dân Quận Cam, nhiều năm sinh sống và viết lách ở Little Saigon. Ðó là chúng tôi không kể tới nghệ sĩ Lữ Liên, mất vào tháng 7 vừa qua, một đại lão nghệ sĩ thọ 95 tuổi. Chúng ta đang nói về những nhà văn mới ra đi, với ước đoán là họ có để lại những hoài vọng nào chăng, vì so với mức trường sinh trong đời sống ở Hoa Kỳ, thì ra đi vào tuổi vừa 70 là có hơi sớm, và trên 60 là còn quá trẻ.

 

Người viết bài này còn nhớ khoảng giữa thập niên ’50, nhà thơ Phan Phong Linh mất ở tuổi 45, “ấm ức” vì hoài vọng không thành. Ông là con trai của danh sĩ Phan Mạnh Danh, tác giả hai thi tập nổi tiếng: Bút Hoa và Xuân Mộng. Phan Phong Linh xuất hiện trong Nhóm Thế Kỷ ở Hà Nội hồi 1951, 52 với những Triều Ðẩu, Trúc Sĩ, Bùi Xuân Uyên, Tạ Tỵ, Thạch Trung Giả. Các nhà văn nhà thơ nổi tiếng này khi đặt chân tới Saigon đã gây dựng ngay được một tờ nhật báo khét tiếng: tờ Tự Do. Họ cũng thành lập được nhà xuất bản Tự Do, cho ra đời nhiều tác phẩm giá trị. Hợp lại thành quả của Tự Do, với danh hiệu gọi là Cơ sở Báo chí và Xuất bản Tự Do, giới đồng nghiệp lớp sau và các độc giả của hai mươi năm văn học miền Nam hẳn còn nhớ những tác giả qui tụ quanh cơ sở đó: Tam Lang, Mặc Ðỗ, Ðinh Hùng, Như Phong, Mặc Thu (Ban chủ trương với tên năm người này in trên mặt báo) và phía sau là Phan Phong Linh (1911-1956), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Ðỗ Thúc Vịnh, Thanh Lãng, Vi Huyền Ðắc, Phạm Mạnh Viện, Nguyễn Duy Cần, Phạm Việt Tuyền và cũng cơ sở này đã giới thiệu với độc giả tác phẩm của “giới trẻ” lúc đó: Dòng Sông Ðịnh Mệnh của Doãn Quốc Sỹ (1959, in lần đầu, sau mới nhập Sáng Tạo và in lại 1963), và Mưa Ðêm Cuối Năm của Võ Phiến (in lần đầu 1958, sau mới lập Thời Mới và in lại 1962). Sách âm nhạc có Nhạc sỹ Danh tiếng Hiện đại của Lê Hoàng Long, 1959.

 

Nói về Tự Do như thế để thấy rằng Phan Phong Linh đã chết đột ngột chỉ 2 năm sau khi Tự Do được thành lập, và hoài vọng của ông là một hoài vọng không thành, hay chỉ mới bắt đầu. Ðó là hoài vọng sưu tập, phẩm bình những bài thơ viết về các danh lam thắng cảnh của đất nước, nhan đề là “Thắng Cảnh Việt Nam qua Thi Ca.” Ông sửa soạn viết năm 1952, sách đang in thì ông mất. Trong sách ông viết về hoài vọng của mình như sau: “Từ lâu chúng tôi đã có ý định sưu tập những tài liệu lịch sử, địa lý nói về những thắng cảnh của nước ta. Những tài liệu đó xét ra rất cần thiết vì không gì bẽ bàng bằng đứng trước những cảnh đẹp của đất nước mà không hiểu ai xây dựng nó và xây dựng từ bao giờ, trong hoàn cảnh nào. Không ai chối cãi được rằng những thắng cảnh, thứ nhất là những lâu đài miếu mạo là những vết tích ghi bước tiến hóa của cả một dân tộc qua từng thời đại một. Những vết tích ấy quí báu là nhường nào, không lẽ ta không tìm hiểu để làm tăng lòng yêu mến mà cố sức giữ gìn lấy nó dù rằng có phải hy sinh đến cả máu xương.”

 

Tiếc thay ông mới chỉ hoàn tất cuốn đầu, khổ lớn dầy non 200 trang, thì mất vì bệnh gan tái phát. Chính vì thế bạn ông mới viết đó là một cái chết ấm ức. Nhà văn Bùi Xuân Uyên viết “Tưởng Niệm” Phan Phong Linh có những dòng như sau: “Với Phan Phong Linh, kết toán trọn đời có lẽ còn lại hai chữ: ấm ức. Những người đã gặp Phan Phong Linh trong năm 1955 và đầu Xuân 1956 có ai ngờ nổi anh chẳng còn bao nhiêu ngày để sống… Những người thân của anh quên sao nổi cái dáng người tuy thấp nhưng cân đối ấy, lanh lẹ trong cử động và vững vàng trong dáng đi. Chiếc xe máy cũ kỹ của anh đã chạy dọc ngang trên khắp nẻo đô thành (Saigon) bất kỳ vào giờ phút nào để đưa anh đi tìm bạn văn nghệ.” Nhưng cuộc đời văn nghệ ấy không uổng. Phan Phong Linh đã để lại một tác phẩm giá trị cho đời sau. Ông đã trích dẫn thơ của hàng trăm thi sĩ khi nói đến hàng trăm thắng cảnh của đất nước, nhất là những thắng cảnh lịch sử và các nhân vật lịch sử. Xin tạm kể các thắng cảnh trong sách của ông: Ðền Mị Châu, Ðền Hùng Vương, vịnh tượng Ngô Thời Sĩ, Hồ Hoàn Gươm, Tây hồ, Văn Miếu, Loa thành, chợ Kỳ Lừa, Bạch Ðằng Giang… Còn nhiều lắm, không thể kể hết trong một trang báo, và trong mỗi thắng cảnh, Phan Phong Linh trích thơ của nhiều người, như Tam Lang, Phan Mạnh Danh, Nghẻ Dụ, Nhàn Văn Ðình, Ba Giai, Tản Ðà, Liễu Hạnh, v.v…

 

Ông cũng kêu gọi độc giả hãy thay ông để viết về những thắng cảnh ông không biết, hay không tìm được những bài thơ vịnh liên hệ. Người viết bài này xin chuyển đến bạn đọc lời kêu gọi đó: “Những vị lịch lãm nhiều, kiến văn rộng, đã từng biết những danh lam thắng cảnh chúng tôi chưa từng được biết [hãy] hăng hái làm thay chúng tôi công việc này… thì là một điều mà chúng tôi mong mỏi vô cùng.” (Phan Phong Linh, Thay Lời Tựa)

 

Xin kết bằng một bài thơ của chính Phan Phong Linh “Tổng luận truyện Mị Châu Trọng Thủy”:

 

Oán trách làm chi truyện đã rồi

Ân tình hai chữ nước buông xuôi

Nỏ rùa móng đổi lòng chua xót

Lông ngỗng tay gieo ruột rối bời.

Thân phó giếng trong làn gió thoảng

Máu loang cát trắng bóng trăng soi

Mấy nghìn năm cũ thiên bi sử

Bên hiếu bên tình lẽ vẹn đôi?

(P.P.L., Saigon 1956)

 

 

 

 

 

 

 

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 38 other followers

%d bloggers like this: