Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Ý nghĩa lá cờ vàng của người Việt hải ngoại (Cao-Đắc Tuấn – Danlambao)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Ý nghĩa lá cờ vàng của người Việt hải ngoại

Cao-Đắc Tuấn

12/23/2014      12 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/12/y-nghia-la-co-vang-cua-nguoi-viet-hai_23.html

.

.

Tóm lược: Lá cờ vàng ba sọc đỏ của người Việt hải ngoại (NVHN) thường bị cộng sản Việt Nam và nhiều người, thường là thiên cộng hoặc ngây thơ chính trị, cho là biểu tượng của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã mất. Dựa vào diễn giải sai lầm này, nhà nước cộng sản và những người thiên cộng xuyên tạc những nỗ lực của NVHN đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam là được nung nấu bởi lòng hận thù vì thua trận và có mưu đồ phục quốc. Trên thực tế, NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho:

(1) di sản tốt đẹp của chính thể VNCH trong quá khứ;

(2) xác nhận bản sắc của cộng đồng trong xã hội nơi xứ sở họ cư ngụ trong hiện tại; và

(3) tinh thần, ý chí dân tộc và lòng thương yêu đồng bào để thúc đẩy tự do dân chủ trong tương lai.

Sự khác biệt, giữa ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN và của quốc gia VNCH đã mất, rất tinh tế nhưng rất quan trọng. CSVN khai thác tính chất thiếu rõ rệt đó để tạo chia rẽ giữa NVHN và người dân Việt Nam trong nước, và giữa các nhóm trong NVHN. Cùng với ác tâm gán ghép NVHN với hận thù thua trận và mưu đồ phục quốc, CSVN và những người thiên cộng toan tính dùng chiến thuật kamikaze, sẵn sàng hy sinh cờ đỏ để đổi lấy sự hủy diệt cờ vàng, trong giải pháp hòa hợp hòa giải. Người Việt trong nước cần phải cổ xúy cờ vàng trong nước để tạo dựng đoàn kết với NVHN và gửi một thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản và thế giới về sức mạnh đoàn kết vĩ đại của dân Việt.

*

Lá cờ thường được dùng là biểu tượng cho một quốc gia, tổ chức, hội đoàn, hay một cơ sở. Cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho quốc gia Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) cho tới năm 1975. Khi cộng sản tiến chiếm miền Nam năm 1975, hàng triệu người miền Nam rời bỏ quê hương. tỵ nạn cộng sản. Họ đem theo lá cờ vàng ba sọc đỏ và gây dựng một cộng đồng người Việt hải ngoại (NVHN) càng ngày càng to lớn và hùng mạnh. Lá cờ vàng ba sọc đỏ đó, hiện nay được coi là biểu tượng cho cộng đồng NVHN, được công nhận rộng rãi bởi các chính quyền địa phương tại xứ sở nơi họ cư ngụ.

Trong bài này, tôi sẽ không đề cập đến ý nghĩa của quốc gia và lá cờ tiêu biểu cho quốc gia, vì đề tài đó rất rộng lớn, và chỉ có chút liên hệ đến ý chính bài này. Ý nghĩa lá cờ một quốc gia hiện hữu trên thế giới không có gì khó hiểu. Tuy nhiên, khi một quốc gia bị xâm lấn và chiếm đóng bởi một quốc gia khác, vấn đề trở nên phức tạp, như trường hợp quốc gia VNCH bị xâm lấn và chiếm đóng bởi quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) như được biết lúc ấy. Vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nữa khi hai quốc gia đó đã từng là một quốc gia độc lập nhưng bị chia đôi, như nước Việt Nam năm 1954.

Câu hỏi là: Ý nghĩa lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN hiện tại là gì?

Tôi sẽ không đề cập chi tiết đến nguồn gốc lịch sử của lá cờ vàng ba sọc đỏ vì có rất nhiều tài liệu về chuyện đó (Xem, thí dụ như, Dân 2012; Đặng 2013). Một cách vắn tắt, lá cờ vàng ba sọc đỏ có nguồn gốc ít nhất từ năm 1890 (Dân 2012; Đặng 2013) dưới thời vua Thành Thái. Qua bao lần thay đổi, lá cờ trở về hình dạng cờ vàng ba sọc đỏ vào năm 1948 thời vua Bảo Đại và qua hai chính thể VNCH. Điểm quan trọng là cờ vàng ba sọc đỏ đã từng là cờ của toàn thể nước Việt Nam (bấy giờ có tên là Đại Nam), và hiện hữu trước lá cờ đỏ sao vàng của nước VNDCCH, bây giờ là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN).

Tuy nhiên, việc lá cờ vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ của quốc gia VNCH cho tới năm 1975 khác với việc lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng hiện nay của NVHN. Sự khác biệt này rất tinh tế và thường bị lẫn lộn ngay cả với vài NVHN. CSVN có thể cũng không thấy sự khác biệt đó, hoặc thấy nhưng làm như không thấy, khai thác tính chất thiếu rõ rệt của sự khác biệt đó để xuyên tạc về NVHN, tạo chia rẽ giữa NVHN và người dân Việt Nam trong nước, và giữa các nhóm trong NVHN.

Trong phần trình bày sau đây, tôi lý luận rằng NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ thuần túy là biểu tượng cho cộng đồng NVHN, và không phải là biểu tượng cho quốc gia VNCH trước năm 1975, tuy họ vẫn không quên chính thể VNCH. Do đó, về phương diện pháp lý, lá cờ vàng ba sọc đỏ có đầy đủ đặc tính hợp pháp của bất kỳ lá cờ nào cho một quốc gia, tổ chức, hội đoàn, hay một cơ sở.

  1. Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của NVHN cho di sản tốt đẹp trong quá khứ, xác nhận bản sắc trong hiện tại, và tinh thần tự do dân chủ cho tương lai

NVHN trưng bày lá cờ vàng ba sọc đỏ tại nhiều nơi công cộng, cơ sở thương mại, phố xá trong cộng đồng, các cuộc diễn hành, biểu tình, trên khán đài, trong các chương trình văn nghệ, v.v… Lá cờ vàng, do đó, không được dùng là biểu tượng cho quốc gia VNCH trước 1975, mà là biểu tượng tinh thần trong những hoạt động của NVHN khắp nơi trên thế giới. Những biểu tượng tinh thần này có thể được phân ra ba loại chính theo khía cạnh ý nghĩa thời gian: ký ức, bản sắc, và tinh thần dân tộc tự do dân chủ.

  1. Lá cờ vàng là biểu tượng cho ký ức trong quá khứ và là một phần quan trọng trong di sản NVHN:

Là một cộng đồng tị nạn chính trị phải lưu vong nơi xứ lạ quê người, NVHN đương nhiên có những hoài cảm về quá khứ. Sự nhung nhớ, tiếc nuối về quá khứ hoàn toàn không dính líu gì đến hận thù, cay đắng. Trên thực tế, NVHN thừa biết quốc gia VNCH không còn nữa. Chuyện đó không có nghĩa là tinh thần của chính thể VNCH không còn nữa. Ngược lại là khác, như sẽ được trình bày sau, cái tinh thần đó còn được tiếp tục và phát huy ngày càng mạnh mẽ hơn. NVHN lựa chọn lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của cộng đồng NVHN vì lá cờ giúp họ tạo dựng lại ký ức mà họ không muốn quên.

Tạo dựng ký ức, hoặc cái gọi là “dự án ký ức chiến lược” theo Aguilar-San Juan (2009, 65-66, 128), là một tiến trình quan trọng mà NVHN dựa vào để giữ lại danh tính và giá trị văn hóa của họ (sđd.). Duy trì quá khứ và tham gia các hoạt động tái tạo quá khứ – chẳng hạn như biểu tình, dựng đài tưởng niệm, hoặc chào lá cờ của Nam Việt Nam cũ – không phải là một biểu hiện của sự cay đắng, giận dữ, hoặc hận thù (Cao-Đắc 2014a, 326). Thay vào đó, những nỗ lực này “xây dựng và đào tạo ký ức trong một cách để củng cố ranh giới lâu dài của cộng đồng” (Aguilar-San Juan 2009, 131).

Tại Hoa Kỳ, nhiều tượng đài, đài tưởng niệm đã được dựng lên trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt như là một phần của những ký ức xã hội này. Thí dụ, đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Hình 1) và tượng tưởng niệm thuyền nhân (Hình 2), cả hai đều nằm trong thành phố Westminster, California, là bằng chứng mạnh mẽ của những “dự án ký ức chiến lược” này.

(Hình 1) https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets-danlambao.jpg

(Hình 2) https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets-danlambao.jpg

Thành phố Westminster ở California không phải là nơi duy nhất mà những “dự án ký ức chiến lược” được thực hiện. Nhiều tượng, đài tưởng niệm đã được dựng lên trong các cộng đồng NVHN ở các thành phố khác tại Hoa Kỳ và các nước khác, chẳng hạn như đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam tại Houston, Texas; tượng mẹ và con tỵ nạn ở Ottawa, Canada; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt với lòng biết ơn ở Victoria, Canada; đài tưởng niệm thuyền Việt Nam ở Bankstown, New South Wales, Australia; đài tưởng niệm thuyền thân Việt Nam ở Bagneaux, Pháp; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam ở Hamburg, Đức; đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam ở Geneva, Thụy Sĩ (Cao-Đắc 2014a, 327).

Giống như các đài tưởng niệm, lá cờ vàng ba sọc đỏ đóng vai trò tạo dựng ký ức xã hội và ghi nhận di sản dân tộc. Khi nhìn lá cờ vàng bay phất phới trên đường phố hoặc trong những ngày lễ hội họp, NVHN được nhắc nhở đến quá khứ là phần kỷ niệm trong đời họ. Các thế hệ sau, có ít hoặc không có ký ức về quá khứ dính líu đến cờ vàng ba sọc đỏ nên không có những tình cảm sôi động như thế hệ đầu tiên, nhưng họ vẫn tiếp tục coi lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho ký ức này vì họ được thế hệ đầu giải thích nguồn gốc đó.

NVHN đi ra nơi vùng đất mới, làm lại cuộc đời. Họ vẫn có thể dùng một biểu tượng mới mẻ, đánh dấu cuộc sống mới. Họ vẫn có thể dùng một biểu tượng nguồn gốc dân tộc, thí dụ con Rồng cháu Tiên, có lẽ còn có ý nghĩa dân tộc trường tồn hơn cờ vàng ba sọc đỏ. Nhưng những biểu tượng này chỉ có giá trị lịch sử mà không có giá trị ký ức. Ngoài ra, cái giá trị ký ức của lá cờ vàng ba sọc đỏ có ý nghĩa nhất vì nó gợi đến mốc thời gian và lý do cho sự ra đi của đợt NVHN đầu tiên. Tuy nhiên, duy trì ký ức của một việc không có nghĩa là muốn làm sống dậy việc đó. Bạn có thể giữ một lá thư tình với người yêu cũ là một kỷ niệm nhưng bạn không muốn lập lại cuộc tình đó. Trong trường hợp lá cờ, vấn đề hơi có chút khác, vì lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho quốc gia VNCH, nên việc duy trì lá cờ vàng ba sọc đỏ đưa đến tức khắc hình ảnh quốc gia đó. Vì vậy, có sự mơ hồ thiếu rõ rệt về ý nghĩa của biểu tượng này.

Có hai khía cạnh trong vấn đề này.

Trước hết, nếu một ký ức nhắc nhở đến một việc xấu xa nhục nhã thì ta có nên duy trì cái ký ức đó không? Nếu VNCH quả thật là quốc gia của chính quyền ngụy, đi bợ đít Mỹ, bị quân dân Việt Nam đánh đuổi phải chạy, như CSVN vẫn tuyên truyền một cách ngu dốt và hiểm độc, thì NVHN có muốn giữ lại cái ký ức đó không? Đương nhiên là không. Họ sẽ không muốn bị thế giới cười chê. Họ sẽ nhân dịp này mà dùng biểu tượng khác và không muốn bị nhắc lại cái quá khứ tủi nhục, xấu xa. Giả sử bạn mang một họ có liên hệ đến một quá khứ xấu xa tàn ác, thí dụ như Hitler, khi bạn có cơ hội đổi tên, bạn có muốn giữ lại họ đó không? Hoặc bạn bị cha mẹ đặt cho một tên xấu xí (thí dụ Nguyễn Văn Dốt Nát, Trần Thị Lăng Loàn) và phải xấu hổ mang tên đó đi học, bị bạn bè chế giễu. Khi bạn có cơ hội đổi tên, chắc chắn bạn sẽ không ngần ngại lấy một tên khác, tốt đẹp hơn.

Đằng này, không những NVHN không dùng dịp này để lấy biểu tượng khác, mà họ lại còn đồng loạt trên toàn thế giới, không cần ai hoặc tổ chức nào hô hào dụ dỗ, tiếp tục dùng cờ vàng ba sọc đỏ. Không những thế, NVHN còn hãnh diện về lá cờ vàng, trưng bày khắp nơi, trong mọi dịp lễ, văn nghệ, hội họp, địa điểm kinh doanh, v.v… Điều đó chứng tỏ cái quá khứ của VNCH có cái gì tốt đẹp, xứng đáng để NVHN yêu quý tôn trọng, và muốn gắn bó mãi mãi. Chỉ cần chứng cớ NVHN dùng lại lá cờ vàng là biểu tượng cộng đồng NVHN cho thấy lá cờ vàng và chính thể VNCH là thể chế cao quý, hào hùng, mà NVHN mãi mãi ghi nhớ. Do đó những gì CSVN nói xấu về chính thể VNCH là láo khoét, bịa đặt, và bóp méo sự thật.

Thứ nhì, tuy chính thể VNCH huy hoàng tốt đẹp, NVHN không duy trì lá cờ vàng ba sọc đỏ với ý định “phục quốc,” mà chỉ vì lòng thương nhớ luyến tiếc cho thời vàng son. Hơn nữa, cho dù họ có ý định khôi phục lại quốc gia VNCH, họ không có ý định gây dựng lại y hệt những gì trước năm 1975, mà họ sẽ làm tốt đẹp hơn, để phù hợp với thế giới và văn minh hiện đại. CSVN lý luận rằng NVHN giữ cờ vàng vì họ nung nấu hận thù và muốn phục quốc. Bằng cách dùng từ ngữ “phục quốc” thay vì “tiếp nối,” “tiếp tục,” hoặc “phát huy tinh thần,” CSVN và những người thiên cộng vẽ ra hình ảnh cộng đồng NVHN là những người điên rồ, dại dột, vẫn còn mơ tưởng đến một quốc gia đã chết. (Dựa vào định nghĩa rộng rãi của “quốc gia” trên căn bản bốn yếu tố chính của dân tộc: ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống, và nguồn gốc dân tộc (Council 2005), tôi có thể lý luận là quốc gia Việt Nam Cộng Hòa chưa chết. Nhưng đó không phải là ý chính của bài này.) Vì là những người không có tình cảm và chỉ biết chém giết cướp bóc, CSVN không hiểu được cái giá trị vô bờ bến của sự duy trì lòng luyến tiếc quá khứ huy hoàng.

Ta có thể coi chuyện NVHN giữ gìn lá cờ vàng ba sọc đỏ tương tự như chuyện một người con giữ gìn bức hình mẹ mình sau khi bà đã mất vì bức hình đó là biểu tượng cho tình yêu thương mẹ. Người con hoàn toàn không có ý định giữ gìn bức hình mẹ với mơ ước là mẹ mình sống lại, và bức hình bà mẹ không tượng trưng cho xương cốt bà đã mục nát trong quan tài nằm sâu dưới lòng đất. Nhưng người con đó sẵn sàng tiếp nối những đức tính của mẹ mình cho mình và những thế hệ sau. Thay vì công nhận ý nghĩa thiêng liêng đó, CSVN và những người thiên cộng gán ghép NVHN là vẫn còn điên rồ mơ tưởng đào lại xương cốt của quốc gia VNCH vì hận thù thua trận và mưu đồ phục quốc.

  1. Lá cờ vàng là biểu tượng xác nhận bản sắc trong hiện tại để phân biệt NVHN chống cộng với các thành phần xã hội khác:

Ngoài việc ghi nhận ký ức xã hội, lá cờ vàng còn là biểu tượng xác nhận bản sắc (identity) của cộng đồng NVHN chống cộng và yêu chuộng tự do dân chủ. Chuyện đó có ý nghĩa gì không? Đương nhiên là có. Tại sao NVHN, sinh sống tản mác khắp nơi trên địa cẩu, không có một khối lãnh đạo trung ương, mà chọn cùng một biểu tượng xác nhận bản sắc và dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ? Trong bất kỳ một cuộc hội họp nào của NVHN, một cuộc biểu tình, quyên tiền, văn nghệ, mừng lễ, Tết, ở khắp nơi trên thế giới, họ đều dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ.

Tại sao họ không dùng một biểu tượng hình ảnh khác, phản ảnh ý nghĩa của cộng đồng NVHN tị nạn và hòa bình, như hình ảnh một con chim bồ câu bay trên toàn địa cầu và đất nước Viêt Nam, hoặc con tàu chở thuyền nhân, hoặc bất kỳ một biểu tượng có ý nghĩa sâu sắc nào khác?

Câu trả lời thật đơn giản. Đó là vì lá cờ vàng ba sọc đỏ trong thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH, ngoài chuyện là biểu tượng quốc gia, còn là biểu tượng cho nhiều ý nghĩa thiết tha với NVHN, gồm có tự do, dân chủ, chống cộng và đoàn kết.

Quốc gia Việt Nam từ thời Đệ Nhất đến Đệ Nhị Cộng Hòa đều có tinh thần chống cộng tích cực, và cả hai chính thể đều tôn trọng tự do dân chủ. Tuy không hoàn hảo, cả hai chính thể đều hướng đến con đường tự do dân chủ. Ta nên chú ý rằng ta không thể phán xét chế độ VNCH trong các thập niên 1950, 1960, và nửa thập niên đầu 1970 dùng tiêu chuẩn hiện đại.

Về khía cạnh đoàn kết, tuy có nhiều giải thích cho ý nghĩa của màu vàng và ba vạch đỏ, ý nghĩa thông thường nhất là màu vàng tượng trưng cho màu da, màu đỏ tượng trưng cho màu máu. Do đó mới có câu “da vàng máu đỏ.” Ba vạch tượng trưng cho ba miền Bắc Trung Nam. Tôi sẽ không đi sâu thêm về ý nghĩa hình ảnh lá cờ, nhưng có điểm tôi muốn nhấn mạnh là trái với nhiều người cho rằng ba vạch đỏ nói lên đường lối “chia để trị” của Pháp thời Pháp thuộc và do đó có ý nghĩa chia rẽ, ba vạch đỏ tượng trưng cho tình đoàn kết sâu đậm nhất của dân Việt Nam vì nó nói lên sự khác biệt của dân tộc Việt nhưng vẫn đoàn kết yêu thương nhau trên cùng lãnh thổ.

Với một biểu tượng sẵn có như vậy, NVHN không ngần ngại dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng xác nhận bản sắc. Cái bản sắc đó giúp họ phân biệt được các thành phần xã hội khác, như các đoàn thể thân cộng, các nhóm đến từ Việt Nam tạm thời, và các tổ chức, đoàn thể địa phương của xứ sở họ cư ngụ. Một lần nữa, giống như biểu tượng về ký ức xã hội, ý nghĩa của biểu tượng này không dính líu gì đến quốc gia VNCH đã mất, nhưng sự khác biệt rất tinh tế, và nhiều khi chỉ được cảm nhận trong tiềm thức.

Cái biểu tượng xác nhận bản sắc này được thể hiện qua những nỗ lực của NVHN để “củng cố biên giới lâu dài của cộng đồng” (Aguilar-San Juan 2009, 131) và “để khẳng định sự hiện diện của họ” (Aguilar-San Juan 2009, 88) trong cộng đồng họ vì sự vắng mặt của những tường thuật hay bình luận về sự đóng góp của miền Nam Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, nhất là tại Hoa Kỳ (sđd.). Sự khẳng định hiện diện đó được biểu thị qua các hội lễ, Tết, diễn hành, biểu tình, họp mặt cộng đồng khi lá cờ vàng ba sọc đỏ phô trương nổi bật. Các cơ sở thương mại, quán ăn, nhà hàng, đường xá trong cộng đồng cắm cờ vàng ba sọc đỏ khắp nơi. Tất cả những biểu tượng này xác nhận bản sắc của cộng đồng NVHN tại vùng địa phương nơi họ cư trú.

Cái biểu tượng xác nhận bản sắc đó không những được thúc đẩy bởi các tổ chức, đoàn thể, NVHN trong cộng đồng, mà còn được công nhận bởi các cơ quan chính quyền địa phương của xứ sở nơi NVHN cư ngụ. Thí dụ, tại Hoa Kỳ, từ tháng hai năm 2003 tới tháng 12 năm 2009 đã có 9 tiểu bang, 3 quận hạt, vả 77 thành phố ra nghị quyết công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ tự do và di sản (Freedom and Heritage Flag) của cộng đồng NVHN (quockyvietnam). Con số này còn gia tăng hơn nữa trong vài năm gần đây.

  1. Lá cờ vàng là biểu tượng cho ý chí quật cường, tinh thần tư do dân chủ, và tình yêu thương đồng bào thiết tha:

Ngoài biểu tượng cho ký ức và xác nhận bản sắc, lá cờ vàng còn là biểu tượng cho một hình ảnh vĩ đại, oai hùng, và tráng lệ hơn. Đó là tinh thần dân tộc, ý chí quật cường, trí thông minh, lòng can đảm, nhân bản, tinh thần yêu chuộng tự do dân chủ, thiết tha với đất nước và đồng bào Việt Nam.

Đến xứ lạ quê người, kém cỏi ngôn ngữ, NVHN đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn trong cuộc sống, để đạt thành công. Những thành quả của NVHN đã được biết rõ. NVHN đã đóng góp biết bao cho sự tiến bộ nhân loại trên mọi lãnh vực: khoa học, văn học, luật pháp, chính trị, quân sự, nghệ thuật, xã hội học, y khoa, kinh tế, v.v… Tại Hoa Kỳ, biết bao nhiêu NVHN đã thành công rực rỡ trên thương trường, thành lập công ty xí nghiệp với tổng thu nhập hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm. Đại học Mỹ đào tạo hàng vạn NVHN với bằng cấp bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, luật sư, kỹ sư, tiến sĩ đủ ngành. Hàng ngàn NVHN có tên là người phát minh trên hàng vạn bằng sáng chế cấp bởi Văn Phòng Bằng Sáng Chế vả Thương Hiệu Hoa kỳ. Con cháu họ rất xuất sắc trong hầu như tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả kinh doanh, khoa học và công nghệ, pháp luật, giáo dục, nghệ thuật, dịch vụ cộng đồng, và nhiều ngành khác. Các em học sinh con cháu NVHN học hành xuất sắc đến độ “thành tích học tập của các học sinh Việt Nam ở Mỹ gần như là huyền thoại” (Freeman 1995, 69). Trong một nghiên cứu về thành tích học tập của học sinh trung học người Mỹ gốc Việt tại một khu học chánh trong quận Orange, California, Saito (2002, 6) báo cáo rằng học sinh Việt Nam có được tỷ lệ ra trường thủ khoa cao nhất trong năm 1997 trong mọi sắc dân (kể cả Mỹ trắng). Những nghiên cứu tương tự như nghiên cứu của Saito đã dẫn đến định kiến về NVHN là những người nhập cư kiểu mẫu, cái “hội chứng thủ khoa Việt.” NVHN ở các quốc gia khác cũng có những thành đạt tương tự.

Trong những cuộc hội họp vinh danh những thành công của NVHN, lễ trao giải thưởng các học sinh xuất sắc, những chương trình văn nghệ thiện nguyện quyên tiền gửi về Việt Nam giúp người nghèo, nạn nhân, thương phế binh, lá cờ vàng ba sọc đỏ luôn luôn được trưng bày. Võ sĩ Phan Nam và Lê Cung thường mang lá cờ vàng ba sọc đỏ lên võ đài, biểu dương tính chất hùng mạnh của dân Việt. Tướng Lương Xuân Việt của quân đội Hoa Kỳ từng khoác lá cờ vàng trong dịp văn nghệ cộng đồng. NVHN còn có tình tha thiết yêu thương đồng bào trong nước. Ngoài các cuộc văn nghệ quyên tiền, các hội họp đoàn thể từ thiện, NVHN gửi tiền về cho thân nhân, quyến thuộc, bạn bè hàng năm lên đến 10 tỷ đô la Mỹ. Ngoài ra, NVHN tích cực tranh đấu cho nhân quyền, tự do dân chủ cho Việt Nam. Trong những cuộc diễn hành, biểu tình tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam, lá cờ vàng luôn luôn được phô trương nổi bật.

Tinh thần yêu chuộng tự do dân chủ còn được biểu hiện là ý muốn tiếp tục và phát huy một nền tự do dân chủ đã có nền tảng trong hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH từ năm 1954 đến năm 1975 tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, như ̣trình bày ở trên, tiếp tục phát huy tinh thần tự do dân chủ thiết lập từ thời VNCH không có nghĩa là khôi phục lại quốc gia VNCH với nguyên trạng ở năm 1975. Sự khác biệt rất tinh tế nhưng quan trọng.

Do đó, lá cờ vàng không những là biểu tượng cho ký ức và xác nhận bản sắc, mà còn cho tinh thần dân tộc, ý muốn phát huy tự do dân chủ cho Việt Nam trong tương lai, và tình yêu thương đồng bào của người Việt.

  1. Lá cờ vàng dưới mắt CSVN và dân trong nước Việt Nam: 

Trong khi NVHN coi lá cờ vàng là biểu tượng cao quý cho di sản, bản sắc, và ý chí của người Việt sống ngoài nước Việt Nam, CSVN tự đặt ra những lý thuyết, diễn giải của họ về ý nghĩa của lá cờ vàng ba sọc đỏ với ý định nham hiểm nhằm triệt hạ uy tín và chia rẽ cộng đồng NVHN, và tránh ảnh hưởng của NVHN vào trí óc và tâm hồn dân Việt trong nước

  1. CSVN cố hủy hoại hình ảnh lá cờ vàng bằng cách giải thích NVHN duy trì cờ vàng là do hận thù thua trận: 

CSVN và những người thiên cộng thường rêu rao cờ vàng ba sọc đỏ là cờ của nước VNCH và vì nước VNCH không còn nữa, nên lá cờ đó vô giá trị. Ngoài ra, sự duy trì cờ vàng của NVHN là do bởi lòng hận thù vì thua trận. Những lời rêu rao như vậy vừa sai lầm vừa có ý định hiểm ác.

Sai lầm là vì họ không hiểu ý nghĩa của một lá cờ. Như đã trình bày ở trên, NVHN dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ không phải để tượng trưng cho quốc gia VNCH hiện hữu trước năm 1975, mà để tượng trưng cho cộng đồng NVHN chống cộng sản. Với nhiều người, lá cờ đó còn tượng trưng cho chính thể VNCH, nhưng tượng trưng cho một chính thể không có nghĩa là tượng trưng cho quốc gia có chính thể đó. NVHN vẫn có thể dùng một biểu tượng khác, nhưng tại sao phải dùng một biểu tượng khác khi họ đã có sẵn một biểu tượng của chính nghĩa, tự do, dân chủ?

Một cách ngu xuẩn, khi CSVN và những người thiên cộng rêu rao như vậy, họ đã mặc nhiên phủ nhận giá trị của chính lá cờ của họ trước năm 1945, hoặc lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) trong chiến tranh Việt Nam. Đó là không kể MTGPMN chưa từng bao giờ leo lên hàng quốc gia. Theo lý luận họ, một lá cờ không có giá trị nếu nó không đại diện một quốc gia. Nếu thế, chính lá cờ đỏ sao vàng của Việt Minh cũng vô giá trị, vì nó không đại diện một quốc gia trước năm 1945. Nếu nó vô giá trị trước năm 1945, thì tại sao nó lại được CSVN coi là quốc kỳ, với chút sửa đổi, của nước Việt Nam năm 2014? Nếu họ chấp nhận chuyện đó, và cho dù lá cờ vàng ba sọc đỏ không đại diện cho một quốc gia vào năm 2014, tại sao họ không chấp nhận chuyện lá cờ vàng ba sọc đỏ sẽ là quốc kỳ của nước Việt Nam năm 2015, 2016, 2018? Đó là không kể cờ đỏ sao vàng của Việt Minh trước năm 1945 chưa từng là quốc kỳ của một quốc gia, trong khi cờ vàng ba sọc đỏ đã từng là quốc kỳ của một quốc gia trong suốt mấy chục năm.

Do đó cái lý luận cờ vàng ba sọc đỏ không có giá trị vì nó không đại diện cho một quốc gia đang hiện hữu là một lý luận ngu xuẩn.

Lý luận đó còn hiểm ác vì nó có tính chất lừa đảo và lấp liếm cho tội ác chiến tranh, xâm lược, và cướp đất của đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và tà quyền của họ. Bằng cách liên kết cờ vàng của NVHN với quốc gia VNCH, CSVN và những người thiên cộng vẽ ra hình ảnh cộng đồng NVHN là những quân nhân cán chính, hoặc con cháu họ, của chính quyền VNCH chứa chất hận thù vì thua trận, vì mất quốc gia VNCH.

NVHN hẳn nhiên không ưa, hoặc ghét, chế độ cộng sản đang hoành hành tại Việt Nam. Nhưng không ưa hoặc ghét không bắt buộc là chỉ do bởi hận thù. Giả sử người Việt trong nước khám phá ra NVHN đang dậy dỗ con cháu họ là Tổng thống Ngô Đình Diệm đoạt giải Nobel về văn chương. Họ có ghét không? Họ có muốn tranh đấu để cho con cháu NVHN biết được sự thật và không làm trò cười cho thiên hạ không? Cái đó là do hận thù hay sao?

NVHN tranh đấu để đem tự do dân chủ cho dân Việt tại Việt Nam, đem sự thật về cho lịch sử Việt Nam, để không cho CSVN tuyên truyền, nhồi sọ tuổi trẻ, tung ra những tin tức bịa đặt như Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, Võ Nguyên Giáp là thiên tài quân sự, trận Điên Biên Phủ sánh ngang với trận Bạch Đằng, Đống Đa, v.v…, khiến cho tuổi trẻ Việt Nam tưởng thật, khi đi ra nước ngoài, làm trò cười cho thiên hạ, hoặc có sự kính nể sai lầm về các tội nhân của dân tộc, và suy đồi trí tuệ độc lập. Đó là không kể biết bao nhiêu chuyện xuẩn ngốc, lừa đảo, hiểm ác, làm băng hoại tâm hồn người dân Việt, hãm hiếp trí óc trẻ em, tiêu hủy một nền văn hóa sáng chói, tra tấn thế hệ này qua thế hệ khác, làm suy đồi ý chí bất khuất của dân Việt.

Một số NVHN cũng có thể hận thù cộng sản, nhưng lý do hận thù không phải vì thua trận, vì mất nước VNCH, mà là vì ghê tởm chính sách tàn bạo của tà quyền cộng sản đàn áp dân Việt Nam trong khi hèn nhát với quan thầy Tàu cộng. CSVN và những người thân cộng không có lòng nhân bản, không biết yêu thương đồng bào, không có tinh thần hiệp sĩ. Họ chỉ biết hận thù chém giết. Họ không hiểu tại sao có những người sẵn sàng hy sinh tính mạng mình để cứu vớt những người xa lạ trong cơn hoạn nạn. Họ không hiểu tại sao có những người có cuộc sống vật chất sung sướng mà lại lao đầu vào chuyện đấu tranh cho tự do dân chủ. Vì không hiểu, hoặc hiểu nhưng làm như không hiểu, họ tìm những lý do tiêu cực nhất, xấu xa nhất, dựa vào bản chất họ, để giải thích những hành động cao cả, thương yêu đồng bào, của NVHN với mục đích chia rẽ và làm suy yếu ảnh hưởng NVHN trên người dân Việt Nam trong nước. Mặt khác, cũng với đầu óc hiểm độc, ích kỷ, và dốt nát, họ tìm đủ mọi lý do tích cực nhất, nhiều khi phải bịa đặt sự việc, để suy tôn họ và chủ nghĩa họ. Họ hoan hô những người hy sinh tánh mạng trong lúc phục vụ họ và phong những người này là liệt sĩ. Họ vỗ tay đón chào thiểu số NVHN trở về Việt Nam trong tinh thần nghị quyết 36, và gọi những người này là những người con tổ quốc.

Trên thực tế, NVHN chống cộng không vì hận thù thua trận. Số quân nhân cán chính của chính quyền VNCH còn sót lại hiện nay tại hải ngoại chỉ là một thiểu số trong cộng đồng NVHN. Ngay từ lúc đầu, số người này không nhiều lắm. Trong đợt thoát khỏi Việt Nam năm 1975, chỉ có khoảng 140 ngàn người, trong đó số quân nhân cán chính của VNCH cao lắm là độ một nửa. Phần còn lại là vợ con, cha mẹ già, trẻ em, sinh viên, học sinh, và những người dân thường. Số thuyền nhân còn có ít quân nhân cán chính VNCH hơn nữa, vì đa số là đàn bà trẻ em, hoặc dân thường người Việt gốc Hoa. Sau bốn mươi năm, những quân nhân cán chính của chính thể VNCH đã lớn tuổi, qua đời, hoặc về hưu trí. Hiện nay số NVHN lên tới 4 triệu người trên khắp thế giới. Trong số đó, còn bao nhiêu người quân nhân cán chính VNCH? Và trong số những người này có bao nhiêu người hận thù vì lý do thua trận?

Thế hệ một rưỡi và thế hệ thứ nhì, một phần ngày càng rộng lớn trong cộng đồng NVHN, sinh sống trên vùng trời tự do từ lúc còn nhỏ, biết rất ít về chiến tranh Việt Nam, và nhiều khi không có trí nhớ hoặc khái niệm gì về nước Việt Nam. Quan trọng hơn, những người trong thế hệ này sinh trưởng trên đất nước tự do dân chủ, nên họ không dễ dàng bị nhồi sọ hoặc tuyên truyền hận thù từ cha mẹ ông bà họ.

CSVN và những người thiên cộng suy bụng ta ra bụng người, cho rằng con cháu quân nhân cán chính VNCH bị ảnh hưởng cha mẹ ông bà nên có lòng hận thù cộng sản. CSVN không có một chút khái niệm gì về cuộc sống gia đình và xã hội trong thể chế tự do dân chủ, nơi mà cha mẹ con cái có sự tôn trọng lẫn nhau. Họ không thể nào tưởng tượng được cha mẹ ông bà trong cộng đồng NVHN sẵn sàng dẹp qua uy quyền bậc cha mẹ để tranh luận với con cái trong tinh thần tự do dân chủ, hoặc để cho con cháu tự do tìm tòi, phát huy tư tưởng độc lập. Bằng cách tự tìm hiểu cho kiến thức mình và học hỏi từ những người có kinh nghiệm, các thế hệ sau của NVHN nỗ lực chống cộng sản và tranh đấu cho tự do dân chủ tại Việt Nam không phải vì hận thù thua trận, mà vì lòng thương yêu đồng bào sống trong cảnh đọa đầy dưới chế độ cộng sản và lòng yêu nước Việt Nam.

CSVN và những người thiên cộng sẽ chống chế và nói, “Chúng tôi nói hận thù, chứ chúng tôi đâu có nói hận thù vì lý do thua trận?” Họ là những người ăn nói xảo quyệt. Nếu đúng là họ không ngụ ý hận thù vì lý do thua trận, thì vì lý do nào? Vì lý do ganh ghét cuộc sống vật chất? Hoàn toàn sai lầm. Thu nhập gia đình hàng năm của người Mỹ gốc Việt là khoảng $59.000 đô la Mỹ (Census 2010). Với khoảng 1.8 triệu người Mỹ gốc Việt và trung bình 3.85 người trong một gia đình, con số này khoảng 27 tỉ đô la Mỹ. Đó chỉ là ở Hoa Kỳ mà thôi. Nếu kể tất cả NVHN trên toàn thế giới với 4 triệu dân số NVHN (Wikipedia 2014c), con số này it nhất là khoảng 50 tỉ đô la Mỹ. Giả sử Gross Domestic Product (GDP) cao hơn thu nhập cá nhân khoảng 10%, con số này tương đương với 55 tỉ đô la Mỹ GDP, gần bằng nửa GDP của toàn thể nước Việt Nam. Với cuộc sống vật chất như vậy, làm sao mà NVHN có lòng ganh ghét? Đó là không kể hàng năm NVHN gửi về Việt Nam khoảng 10 tỷ đô la Mỹ. Còn lý do hận thù nào khác? Vì cộng sản tàn ác, hèn với giặc và ác với dân? Nếu vậy thì hận thù có gì sai đâu? (Đặng 2014).

Nhiều người, không biết vô tình hay cố ý, đưa ra những lời ngụ ý, bóng gió, như “…có bao nhiêu người tưởng nhớ, tiếc nuối cờ vàng, và bao nhiêu người xem cờ vàng là cờ thua trận… Còn lại lớp trẻ, hầu hết, dưới mái trường XHCN cờ vàng là cờ thua trận, thất bại của một quốc gia. Điều này do tác động bởi chính sách nhồi sọ của CS, nhưng không thể chối cãi đó là sự thật của lịch sử mà không ai có thể phủ nhận” (Trần 2014). Nhắc nhở đến việc thua trận trong nội dung hận thù, rõ ràng ám chỉ cuộc đấu tranh của NVHN cho tự do dân chủ tại Việt Nam được thúc đẩy bởi lòng hận thù vì thua trận.

Còn gì ngu xuẩn và hiểm ác hơn?

  1. CSVN lo sợ ảnh hưởng lớn mạnh của lá cờ vàng nên sẵn sàng tiêu diệt cờ vàng bằng mọi cách, kể cả dùng chiến thuật kamikaze: 

CSVN và những người thiên cộng còn có một kế hoạch hiểm độc, nhưng lộ ra nỗi lo lắng, sợ hãi, và tuyệt vọng. Đó là kế hoạch kamikaze, được dùng bởi phi công Nhật lao vào hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ trong thế chiến thứ hai.

Chiêu này thực hiện thế nào?

Đó là cách để cờ đỏ cùng chết với cờ vàng, như hy sinh những chiếc máy bay nhỏ để làm chìm các chiến hạm.

Với CSVN, sự sống còn của cờ đỏ không quan trọng bằng sức mạnh đang vùng lên của cờ vàng. Do đó, họ sẵn sàng đồng ý dẹp cờ đỏ miễn là cờ vàng cũng phải bị dẹp theo, và thay bằng cờ khác. Không có gì sai với chuyện dùng cờ khác, không phải cờ đỏ hoặc cờ vàng, để làm quốc kỳ cho Việt Nam. Nhưng chuyện đó phải được quyết định bởi toàn dân Việt Nam trong một cuộc trưng cầu dân ý hoặc qua các phương pháp dân chủ tự do. Chuyện đó không thể được thực hiện bởi cộng sản. Đối với CSVN, lá cờ không có ý nghĩa. Không đỏ thì xanh, vàng, trắng. Có sao đâu, miễn là họ vẫn nắm quyền. Nhưng cái lợi to tát cho việc trao đổi đó là họ tiêu diệt được cái biểu tượng của NVHN, và làm suy yếu tinh thần đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam.

Có những người, không hiểu vì ngây thơ chính trị, hoặc kém hiểu biết, hoặc có ý tưởng suy nhược, hoặc thiên cộng tung ra ý kiến dọ dẫm, với những lời dụ dỗ hòa giải. Họ nói, “Chắc chắn cờ đỏ không bao giờ là biểu tượng cho tự do dân chủ, nó sẽ bị đào thải ngay khi đất nước thành công, nhưng cờ vàng chưa là mẫu số chung của cả 2 bên, nó còn phải chờ cuộc biểu quyết toàn dân sau này” (Trần 2014), đi theo sau “Câu hỏi? Liệu lá cờ vàng có thể tung bay trở lại trên mãnh đất VN hình chữ S hay không?… Câu trả lời: Không” (Trần 2014).

Một cách lạ lùng, trong khi quả quyết là cờ đỏ sẽ chết khi cuộc tranh đấu thành công, và cờ vàng chỉ được tôn trọng bởi NVHN và bị dị ứng, vì sai lầm, bởi người Việt trong nước, họ lại không đề ra giải pháp dễ dàng và chính đáng nhất là sửa lại cái dị ứng sai lầm đó để toàn thể dân Việt, hải ngoại và trong nước, cùng tôn trọng cờ vàng trong việc đấu tranh cho tự do dân chủ. Thay vì vậy, họ quả quyết cờ vàng không thể nào tung bay trên lãnh thổ Việt Nam, và do đó cả cờ vàng và cờ đỏ đều chết.

Đây có phải là chiến thuật kamikaze hay không?

Lý do chính đáng để sửa chữa dị ứng sai lầm của dân Việt trong nước về cờ vàng là cái gì sai lầm thì ta nên sửa chữa. Trong giai đoạn đấu tranh hiện tại, ta lại càng nên thúc đẩy chuyện đó mạnh hơn bằng cách kêu gọi dân Việt trong nước phát động phong trào giương cờ vàng trong nước.

  1. Tại sao người Việt trong nước nên cổ xúy việc giương lá cờ vàng ba sọc đỏ ngay trong nước? 

Mới thoạt nghe, việc người Việt trong nước cổ xúy cho lá cờ vàng ba sọc đỏ bay trong nước Việt Nam có vẻ là chuyện hoang đường, nhưng thực ra đó là một hành động khôn ngoan nhất, biểu lộ tình yêu thương đồng bào và quê hương của người Việt trong nước, và gửi thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản, Tàu cộng, và ngay cả Hoa Kỳ, và thế giới về sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt.

Đương nhiên, CSVN sẽ không chấp nhận chuyện đó. Với các điều luật rừng rú, họ sẽ bắt bớ, giam cầm những người giương cờ vàng với lý do mưu đồ lật đổ tà quyền. Tuy nhiên, điều đó chứng tỏ chính họ mới là người có lòng hận thù. Tôi không có ý định xúi ḍại người Việt trong nước vác lá cờ vàng ba sọc đỏ đi nghênh ngang trong thành phố. Có nhiều cách biểu hiện lá cờ vàng ba sọc đỏ. Thí dụ như thiết kế nghệ thuật biểu tượng đó trên mũ, áo, quần, xe, nhà, v.v… Người Việt có rất nhiều sáng kiến. Họ dư sức nghĩ ra cách để người Việt trong nước bày tỏ sự hỗ trợ cờ vàng mà không bị tà quyền bắt bớ hoặc làm khó dễ.

CSVN và những người thiên cộng nghĩ rằng người dân Việt Nam không biết gì về VNCH và lá cờ vàng ba sọc đỏ, hoặc nếu có biết thì chỉ khinh thường lá cờ vàng ba sọc đỏ. Ý nghĩ hoặc lối lý luận này thật ngu xuẩn và hiểm ác cùng cực.

Trước hết, CSVN và những người thiên cộng/ngây thơ cho rằng cờ vàng có giá trị rất ít tại Việt Nam. Có người còn khẳng định “như vậy cờ vàng có giá trị bao nhiêu ở trong nước, cao lắm 1% do những người lớn tuổi còn tồn tại. Phần đông là dị ứng.” (Trần 2014). Con số 1% này không có cơ sở và chỉ là một con số vô nghĩa. Tuy chưa có một thống kê chính thức cho biết số phần trăm dân Việt trong nước ủng hộ cờ vàng (CSVN chắc chắn sẽ không dám tìm hiểu chuyện đó), ta có thể ước đoán con số này vượt quá con số 1% như sau.

Với khoảng 25 triệu dân sống trong chính thể VNCH vào năm 1975 (Wikipedia 2014a ước lượng 19,582,000 cho miền Nam vào năm 1974; Wikipedia 2014b ước lượng 49.896.000 cho toàn thể Việt Nam vào năm 1975; và ta biết dân miền Nam đông hơn dân miền Bắc), và ước lượng khoảng 50% là dân ở tuổi 10-40 tuổi, hoặc 12,5 triệu, là lứa tuổi sống dưới thời VNCH, và thường trung thành với chính thể VNCH. Sau 40 năm, ta có thể giảm thiểu số phần trăm này 30% thêm vì chết, thoát khỏi Việt Nam, hoặc di dân qua các xứ khác. Với những ước lượng này, lứa tuổi 10-40 ở năm 1975 thành lứa tuổi 50-80 hiện nay, và tổng cộng khoảng 8,75 triệu, tức khoảng 10% dân số Việt Nam hiện nay.

Con số dân Việt trong nước ủng hộ cờ vàng thực ra còn cao hơn con số này rất nhiều. Con số 8,75 triệu, hoặc 10% dân số, tiêu biểu cho dân số cốt lõi trung thành với cờ vàng. (Sẽ có người nói không phải ai sống dưới cờ vàng cũng trung thành với cờ vàng, nhưng ta cũng có thể nói không phải ai sống dưới cờ đỏ cũng trung thành với cờ đỏ, và ta có thể coi hai lực này triệt tiêu nhau.) Trong cuộc sống gia đình tại Việt Nam, ảnh hưởng của cha mẹ ông bà rất mạnh, thường là mạnh rất nhiều hơn ảnh hưởng trường học. Do đó, tuy sau 1975, có nhiều người hấp thụ nền giáo dục nhồi sọ tuyên truyền của cộng sản, ảnh hưởng đó bị triệt tiêu hoặc giảm thiểu bởi gia đình của số 8,75 triệu dân trung thành với VNCH. Ta không rõ con số chính xác của hậu duệ 8,75 triệu người này là bao nhiêu, và trong số hậu duệ này, bao nhiêu người chịu ảnh hưởng nặng của gia đình để vẫn còn trung thành với cờ vàng. Tôi chỉ ước lượng một con số khiêm tốn 1,25 triệu để làm chẵn 10 triệu, tức khoảng 11% tổng số dân số hiện nay. Đó là tôi không kể số người dân miền Bắc và miền Nam sinh sau, ghét bỏ chế độ cộng sản.

Mười triệu dân, hoặc 11%, là một lực lượng đáng kể, dư sức lật đổ một chế độ.

Thứ nhì, CSVN và những người thiên cộng/ngây thơ khinh thường dân Việt Nam trong nước quá độ. Họ cho rằng dân Việt trong nước là những con cừu non, không biết suy luận hoặc tìm tòi, không biết dùng sức mạnh của Internet và các phương tiện truyền thông xã hội để học hỏi và phanh phui những lừa đảo của tà quyền cộng sản. Đúng, chỉ có một số it người biết dùng Internet vượt tường lửa và các phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng đây là những tinh túy của đất nước Việt Nam, đây là những lãnh tụ tương lai của nước Việt Nam tự do dân chủ, đây là những người có tài năng và lòng can đảm để đứng lên hướng dẫn cuộc nổi dậy, và họ dư sức cổ võ và huy động một lực lượng đáng kể để thực hiện mục tiêu họ. Những người này hiểu được tâm địa ác hiểm của CSVN trong việc tuyên truyền, phỉ báng, nói xấu VNCH và lá cờ vàng ba sọc đỏ. Họ thừa biết chỗ đứng của lá cờ vàng ba sọc đỏ trong lịch sử. Họ thừa biết ý nghĩa phản bội tổ quốc của cờ đỏ. Họ thừa biết hàng triệu NVHN, tuy có cuộc sống vật chất thong thả ở các xứ tự do, lúc nào cũng nghĩ đến họ và tương lai quê hương và miệt mài tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc và quê hương. Cho dù con số 1% là đúng, con số này tượng trưng một sức mạnh vĩ đại. Thực ra, với dân số 90 triệu dân, chỉ cần một phần ngàn hoặc một phần vạn cũng đủ khuynh đảo được chế độ. Trên thực tế, như tôi ước lượng ở trên, chúng ta có 11%, tức 10 triệu người.

Người dân Việt trong nước hiểu giá trị cờ vàng và họ biết cộng đồng NVHN gồm có những bộ óc thông minh, làm việc cần cù, và lòng thương yêu đồng bào quê hương vô bờ. Họ hiểu cộng đồng NVHN có những đóng góp to tát cho xứ họ cư ngụ, đã khiến dân trong xứ họ cư ngụ kính nể người Việt Nam và đem lại vinh quang cho Việt Nam gấp trăm gấp ngàn lần tà quyền cộng sản đang làm. Cộng đồng đó đã cho ra một Ngô Thanh Hải, một Lương Xuân Việt, một Janet Nguyễn, một Dương Nguyệt Ánh, và hàng ngàn người thành công rực rỡ trên mọi lãnh vực khắp nơi trên thế giới. Lý do gì mà một cộng đồng đầy rẫy những nhân tài như vậy chọn lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ biểu tượng cho cộng đồng họ?

CSVN hoặc những người thiên cộng/ ngây thơ còn đưa ra những lý luận trẻ con, thí dụ như “Thanh niên học sinh, họ lớn lên dưới cờ đỏ, dị ứng với cờ vàng, không lẽ họ không được yêu nước, mà yêu nước không có nghĩa là phải chấp nhận cờ vàng, phải chấp nhận VNCH, sao giống yêu CHXH quá vậy?” (Trần 2014). Tại sao họ không đặt câu hỏi đó vào năm 1975 khi hàng triệu thanh niên học sinh miền Nam, lớn lên dưới cờ vàng, dị ứng với cờ đỏ, không lẽ họ không được yêu nước, mà yêu nước không có nghĩa là phải chấp nhận cờ đỏ, phải chấp nhận CHXH. Nếu chuyện đó là sai lầm, thì nó sai lầm vào năm 1975 và cả mấy chục năm sau đó. Do đó, cái dị ứng cờ vàng, cho là có thật, là một dị ứng dựa trên căn bản sai lầm. Vì vậy, gỉải pháp là sửa đổi cái dị ứng sai lầm đó, chứ không phải dùng cái sai lầm đó để chỉ trích một sai lầm khác. Quan trọng hơn, lời cáo buộc đó là lời xuyên tạc, vì NVHN không hề bắt buộc người dân Việt Nam trong nước phải chấp nhận cờ vàng. NVHN chỉ vạch ra giá trị lịch sử của cờ vàng, và ý nghĩa phản trắc của cờ đỏ. NVHN cũng không hề bắt buộc ai phải tôn trọng cờ vàng. Nhưng cờ vàng là biểu tượng của cộng đồng NVHN, và do đó nếu ai muốn gia nhập vào cộng đồng NVHN, họ phải tôn trọng cái biểu tượng đó.

Tuy nhiên, dù NVHN không bắt buộc người Việt trong nước phải tôn trọng cờ vàng, người Việt trong nước cũng nên tự động có ý thức tôn trọng cờ vàng ba sọc đỏ. Có nhiều lý do cho việc này.

Trước hết, bằng cách tôn trọng cờ vàng ba sọc đỏ, người Việt trong nước biểu lộ tình nghĩa sâu đậm với cộng đồng NVHN. Họ hiểu lá cờ vàng ba sọc đỏ không phải là tượng trưng vật chất cho quốc gia VNCH trước năm 1975, cũng như tấm hình bà mẹ trên bàn thờ không phải tượng trưng cho xương cốt bà đã mục nát trong quan tài nằm sâu dưới lòng đất. Họ hiểu lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN là biểu tượng cho quá khứ huy hoàng, cho bản sắc đặc thù, và cho tinh thần dân tộc, tự do dân chủ, nhân bản, trí tuệ thông minh, và lòng thương yêu đồng bào.

Bằng cách tuyên dương cờ vàng ba sọc đỏ, người Việt trong nước bày tỏ sự tôn trọng ý nghĩa của các biểu tượng đó, và lòng tri ân của họ cho những nỗ lực vô bờ của cộng đồng NVHN trong cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ tại Việt Nam. Đó là lòng yêu thương lẫn nhau trong tinh thần “Bầu ơi thương lấy bí cùng” hoặc “chị ngã em nâng” đã hằn sâu trong tâm khảm dân Việt. Đây là lúc thuận lợi nhất để người Việt trong nước bày tỏ tinh thần đoàn kết với NVHN. Họ không nên chờ tới lúc một người Mỹ gốc Việt trở thành Tổng thống Hoa Kỳ rồi mới làm. Cái xác suất để một người Mỹ gốc Việt trở thành người quyền thế nhất trên thế giới càng ngày càng gia tăng. Thực ra, bằng cách hỗ trợ cờ vàng ngay ở trong nước, người Việt trong nước còn giúp NVHN một cách đắc lực trong việc tạo áp lực chính trị trên xứ sở nơi họ cư ngụ. Đó là vì người dân và các cơ sở chính trị địa phương và quốc gia đột nhiên ý thức được sức mạnh đoàn kết của dân Việt và của NVHN. Cộng đồng NVHN sẽ trở nên đoàn kết hơn và tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, bầu cử tại xứ sở họ cư ngụ.

Thứ nhì, bằng cách cổ xúy cho lá cờ vàng ba sọc đỏ trong nước, người Việt trong nước gửi một thông điệp hùng mạnh nhất cho đảng và nhà cầm quyền cộng sản là họ không phải là những con cừu non, chỉ biết cúi đầu ngoan ngoãn nghe mệnh lệnh của ĐCSVN. Quan trọng hơn, cái thông điệp đó còn làm run sợ Tàu cộng đang lăm le xâm chiếm Việt Nam qua mọi hình thức, từ chính trị, lãnh thổ, tới kinh tế, văn hóa. Không còn gì làm Tàu cộng run rẩy hơn khi những biểu tượng nền vàng ba sọc đỏ phủ ngập trời trên khắp đô thị, từ Hà Nội tới Sài Gòn. Hình ảnh đó còn oai hùng, lộng lẫy, vĩ đại, hoành tráng gấp trăm ngàn lần hình ảnh hàng ngàn sinh viên học sinh Hồng Kông dương dù biểu tình trên đường phố. Thế giới sẽ phải nghiêng mình ngả mũ trước sức mạnh đoàn kết thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam. Hoa Kỳ sẽ kinh hồn bạt vía khi thấy biểu tượng của đồng minh mà mình bỏ rơi ngày nào đã trở thành hùng mạnh.

  1. Kết Luận: 

Lá cờ vàng ba sọc đỏ của NVHN không là biểu tượng của quốc gia VNCH cho tới 1975 vì quốc gia VNCH đã không còn. Thay vì vậy, lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của NVHN cho ký ức trong quá khứ, bản sắc trong hiện tại, và tinh thần dân tộc, tự do dân chủ, trí tuệ, và lòng thương yêu đồng bào cho cuộc đấu tranh cho tương lai. Những người thuộc thế hệ đầu đã già, qua đời, hoặc về hưu. Đa số NVHN, kể cả những người thuộc thế hệ một rưỡi và thứ hai biết rất it về chiến tranh Việt Nam, không hề có lòng hận thù vì thua trận. NVHN thực sự thiết tha thương yêu đồng bào trong nước “điêu linh nơi quê nhà đang chìm đắm” như được diễn tả trong bài “Chuyến Đò Vĩ Tuyến” của nhạc sĩ Lam Phương.

Người Việt trong nước nên cổ xúy việc giương biểu tượng cờ vàng trong nước để biểu lộ tinh thần đoàn kết với NVHN và gửi một thông điệp mạnh mẽ cho tà quyền cộng sản, Tàu cộng, và thế giới về sức mạnh đoàn kết vĩ đại của dân tộc Việt.

Để kết thúc, tôi xin tặng độc giả đoạn thơ sau, trích từ bài thơ “Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn” (Cao-Đắc 2014b):

Khi cờ vàng tung bay gió thổi 

Phất phơ trên thành thị nước non 

Ta mỉm cười đón mưa Hà Nội 

Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn. 

(Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn – Cao-Đắc Tuấn)

CẢM TẠ 

Tôi xin có lời cảm tạ bạn daubetangthuong đã có lời khích lệ tôi viết bài này.

Cao Đắc-Tuấn

danlambaovn.blogspot.com

_____________________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

Aguilar-San Juan, Karin. 2009. Little Saigons: Staying Vietnamese in America. The University of Minnesota Press, Minnesota, U.S.A.

Cao-Đắc, Tuấn. 2014a. Lửa Cháy Trong Mưa. Hellgate Press, Oregon, U.S.A.

_______. 2014b. Hẹn gặp nhau sưởi nắng Sài Gòn. 26-7-2014.

danlambaovn.blogspot.com/2014/07/hen-gap-nhau-suoi-nang-sai-gon.html

(truy cập 21-12-2014).

Census. 2010. The Vietnamese Population in the United States: 2010.

vasummit2011.org/docs/research/The%20Vietnamese%20Population%202010_July%202.2011.pdf

(truy cập 19-12-2014).

Council of Europe. 2005. The concept of “nation”. 13-12-2005.

assembly.coe.int/ASP/Doc/XrefViewHTML.asp?FileID=11332&Language=EN

(truy cập 20-12-2014).

Dân Nam. 2012. Những mốc lịch sừ quan trọng khởi từ thập niên 1940. Phần 12: Cờ Nào Mang Đầy Đủ Truyền Thống Quốc Gia Dân Tộc? 5-2012.

trinhanmedia.com/2012/10/nhung-moc-lich-su-quan-trong-khoi-tu.html

(truy cập 20-12-2014).

Đặng Chí Hùng. 2014. Hiệp lực hay chia rẽ. 16-12-2014.

baovecovang2012.wordpress.com/2014/12/16/hiep-luc-hay-chia-re-dang-chi-hung/

(truy cập 20-12-2014).

_______. 2013. Những sự thật cần phải biết (Phần 8) – Lịch sử lá cờ của dân tộc. Đăng 7-1-2013.

danlambaovn.blogspot.com/2013/06/nhung-su-that-can-phai-biet-phan-8-lich.html

(truy cập 18-12-2014).

Freeman, James M. 1995. Changing Identities: Vietnamese Americans, 1975-1995. Allyn and Bacon, Massachusetts, U.S.A.

quockyvietnam. Không rõ Ngày. Người Việt Quốc Gia tại các thành phố và tiểu bang vận động cho Nghị Quyết Vinh Danh Quốc Kỳ Việt Nam.

quockyvietnam.tripod.com/QuocKyVietNam.html

(truy cập 20-12-2014).

Saito, Lynne Tsuboi. 2002. Ethnic Identity and Motivation: Socio-cultural Achievement of Vietnamese-American Students. LFB Scholarly Publishing, New York, U.S.A.

Trần Duy Sơn. 2014. Hiệp lực đấu tranh. 16-12-2014.

danlambaovn.blogspot.com/2014/12/hiep-luc-au-tranh.html

(truy cập 20-12-2014).

Wikipedia. 2014a. South Vietnam. Thay đổi chót: 17-12-2014.

en.wikipedia.org/wiki/South_Vietnam#Demographics

(truy cập 21-12-2014).

_______. 2014b. Demographics of Vietnam. Thay đổi chót: 14-12-2014.

en.wikipedia.org/wiki/Demographics_of_Vietnam

_______. 2014c. Overseas Vietnamese. Thay đổi chót: 17-11-2014.

en.wikipedia.org/wiki/Overseas_Vietnamese (truy cập 19-12-2014).

© 2014 Cao-Đắc Tuấn

12 Comments

.

.

.

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT: “Chúng ta đi mà không biết đi đâu!” (Tư Giang – TBKTSG)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Thứ trưởng Bộ KH&ĐT: “Chúng ta đi mà không biết đi đâu!”

Tư Giang (TBKTSG Online)

Thứ Hai,  22/12/2014, 18:36 (GMT+7)

http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/124350/

.

.

(TBKTSG Online) – “Tôi cứ suy nghĩ mãi một điều, nếu chúng ta đi mà không rõ đi đâu, bằng cách nào, bao giờ đến… thì không bao giờ chúng ta đi nhanh và bền vững được”.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã thổ lộ tâm tư cá nhân như vậy tại hội thảo khoa học “Xây dựng thể chế kinh tế thị trường trong bối cảnh hội nhập: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý đối với Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới, và Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 22/12.

Quẩn quanh chuyện cải cách

“Việt Nam đã và đang làm nhiều để cải cách thể chế như cải cách doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công, xây dựng pháp luật… nhưng có vẻ chưa đủ nên ta lại tiếp tục cải cách thể chế”, ông Dũng nhận xét.

Ông bổ sung thêm: “Tôi có cảm giác ở đâu đó vẫn thiếu cái gì đó khiến ta thấy chưa đúng, chưa đủ, chưa yên tâm, thấy vẫn cần phải đổi mới tiếp. Vậy bản chất cốt lõi là gì để chúng ta tìm được chìa khóa để cởi bỏ được, nếu không cứ cải cách lặp đi lặp lại mãi, làm mất cơ hội và thời gian của cả đất nước, nền kinh tế”.

Theo Thứ trưởng Dũng, bản chất thể chế là các quy định, thể lệ, luật chơi mà nhà nước đưa ra làm công cụ để giám sát, kiểm tra, và rồi điều chỉnh các quy định đó khi thấy không phù hợp.

“Nhưng tôi e ngại việc là chúng ta đang lạm phát các quy định, rồi quay lại điều chỉnh”.

Ông ví von, cuộc sống đang là dòng chảy, thì Nhà nước đưa ra quy định để đổ đá và be đắp làm tắc nghẽn dòng chảy. Khi thấy sai rồi, nhà nước bỏ đá đi, thì gọi là cải cách, hay đổi mới thể chế.

Ông Dũng đặt câu hỏi: “Như thế có phải là cải cách không? Tất cả câu chuyện như vậy ta phải nhìn như thế nào?”. Và ông tự trả lời: “Chứ cá nhân tôi thấy, nếu dòng chảy đang tốt thì chúng ta phải hướng cho dòng chảy đúng chỗ nhanh hơn, mạnh hơn, thế mới là cải cách. Chứ không thể tư duy là bỏ đống đá vào, rồi thấy vướng, lại dỡ bỏ ra là cải cách”.

Theo ông Dũng, không giống các quốc gia khác ngay từ đầu đã chọn được đường đi, Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, nghĩa là trước đây đi theo một hướng, nhưng nay lại chuyển sang hướng khác.

Bên cạnh đó, với xuất phát điểm thấp, nguồn lực hạn chế nên nền kinh tế Việt Nam “có đặc thù riêng”. Làm sao để nền kinh tế này tiếp cận với các chuẩn mực, thông lệ tốt của thế giới mà các nước đi trước phải mất cả vài trăm năm để có.

“Chúng tôi thích những cái hay nhất của thế giới, những cái là quy luật khách quan, tự nhiên. Chúng ta phải đi theo là đúng. Nhưng Việt Nam cũng có những điều kiện riêng biệt, mà mà chúng ta phải hài hòa hóa. Cái này là cái gì?”, ông nói.

Không nên xem trọng chuyện “đặc thù”

Trả lời một phần những băn khoăn của Thứ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Viện trưởng CIEM Nguyễn Đình Cung nói: “Chúng ta hay nói Việt Nam ta khác, Việt Nam ta đặc thù. Theo tôi, chúng ta không nên nhấn mạnh điều đó, vì nếu chúng ta nhấn mạnh sự khác biệt, thì chúng ta đã tự đẩy ra ngoài lề trong quá trình toàn cầu hóa”.

“Nếu chúng ta đặc thù, thì chúng ta nên nắn chúng ta để đi vào dòng chung, đi theo chuẩn quốc tế”, ông Cung bổ sung thêm.

Ông giải thích, nhiều ý kiến cho Việt Nam là đặc thù, vì Việt Nam nghèo, vì có chiến tranh, vì chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trên thế giới không phải chỉ Việt Nam mới có những điểm này. Hơn nữa, chiến tranh đã qua 40 năm, chuyển đổi kinh tế cũng được 30 năm.

Những năm 60 của thế kỷ trước, ông Cung nói, Việt Nam cũng tương tự như Hàn Quốc. Sang đến thập kỷ 80, Hàn Quốc đã bước vào giai đoạn hai của quá trình phát triển, trong khi Việt Nam ở giai đoạn một.

“Giờ họ đã bước sang giai đoạn 3; còn ta vẫn ở giai đoạn 1”, ông Cung nói. “Đó chính là sự khác biệt của họ và ta. Vì thế, cần nhấn mạnh vào sự khác biệt này để ta thay đổi, chứ không phải nhấn mạnh mãi những sự khác biệt để du di cho đổi mới.”

Ông Raymond Mallon, Cố vấn cao cấp Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam chỉ ra hàng loạt các vấn đề hiện nay như nền kinh tế chậm chuyển đổi sang kinh tế thị trường cạnh tranh, thiếu sáng tạo trong kinh doanh, tăng trưởng chậm đối với khu vực doanh nghiệp nói chung, và các nhóm lợi ích có quan hệ với giới chức quyền lực giàu có nhanh nhờ có đặc quyền tiếp cận vốn, đất đai và thị trường.

Theo giáo sư Jeong Ho Kim, Trường Chính sách và quản lý công Hàn Quốc, diễn giả chính tại hội thảo, Chính Hàn Quốc đã phủ có hàng loạt các thay đổi để có được nền kinh tế thị trường ngày nay, làm quốc gia này trở nên thịnh vượng.

Chính phủ bày tỏ thái độ tiêu cực với các chaebol ( gọi chung các tập đoàn lớn của Hàn Quốc nằm dưới sự điều khiển của một gia tộc- PV) và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính phủ cũng gỡ bỏ các luật lệ bảo hộ các ngành công nghiệp công ích như vận tải, và doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh đó chính phủ Hàn Quốc cũng khuyến khích tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do; tăng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển; và tăng phúc lợi xã hội.

Ông Kim cho biết, để đạt được sự thịnh vượng, Hàn Quốc phát triển dựa ba trụ cột của nước họ là chính trị đa nguyên, xã hội dân sự, và kinh tế dựa vào ngành công nghiệp có hàm lượng tri thức và sáng tạo cao.

————————-

Xem thêm:

Cải cách thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải

.

.

.

Ý định của tác giả trong văn học (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Ý định của tác giả trong văn học

Nguyễn Hưng Quốc

20.12.2014

http://www.voatiengviet.com/content/y-dinh-cua-tac-gia-trong-van-hoc/2565944.html

.

.

Đọc các bài phê bình, nhiều người băn khoăn: Hay thì hay, nhưng không biết tác giả có nghĩ vậy khi sáng tác hay không?

Đằng sau nỗi băn khoăn ấy là ba thành kiến: một, tưởng tác giả có thể ý thức rõ và đủ ý định của mình khi sáng tác; hai, coi việc truy tìm cái ý định ấy là mục tiêu chính của phê bình; và ba, so cái ý định ấy với yêu cầu của thời đại để đánh giá tác phẩm.

Biểu hiện rõ nhất của cái “tưởng” thứ nhất là sự tin cậy nhẹ dạ vào những lời phát biểu của tác giả về tác phẩm của họ. Có cơ man những bài viết gọi là phê bình ở đó tác giả chỉ cố gắng dùng các bài thơ, các quyển tiểu thuyết để minh hoạ cho những lời phát biểu của nhà văn, nhà thơ, đâu đó. Có vô số trường hợp nhà phê bình đưa ra lời phát biểu của nhà văn, nhà thơ để chứng minh cho luận điểm của mình, như một thứ bảo chứng, đại loại: “chính tác giả đã từng nói như thế”… hoặc “dường như tác giả không hề có dụng ý ấy vì có lần ông bảo…”.

Ngây thơ và liều lĩnh nhất có lẽ là trường hợp của Nguyễn Hiến Lê, một người nổi tiếng đọc rộng biết nhiều, khi ông dựa vào lá thư của Quách Tấn gửi Bàng Bá Lân năm 1963 kể về quá trình thai nghén và ra đời của bài “Đêm thu nghe quạ kêu”, cho câu Tình hoang mang gợi tứ hoang mang tuy hay nhưng không hợp với tâm trạng của Quách Tấn khi sáng tác bài thơ vì “đêm đó ông nghĩ, nhớ miên man, chứ không có nỗi lòng hoang mang” (1).

Dẫu sao, sự ngây thơ và liều lĩnh của Nguyễn Hiến Lê, trong trường hợp này, cũng vô hại. Hai cái hại đáng kể hơn của loại thành kiến này là: một, về phía tác giả, xuất phát từ sự tự tin nông nổi là mình có thể hiểu rõ ý nghĩa tác phẩm của mình hơn hẳn người khác, phán đoán hồ đồ về ý kiến của người đọc hoặc của người phê bình về tác phẩm của mình như – với mức độ ít nhiều có thể thông cảm được – trường hợp của Hoàng Cầm đối với Phạm Duy (2); hai, về phía người phê bình, do sự tin cậy quá đáng vào thẩm quyền của tác giả đối với tác phẩm của họ, không dám đi đến tận cùng một sự phân tích và diễn dịch, chỉ bằng lòng với việc tóm tắt quyển sách hay diễn xuôi (paraphrase) bài thơ, và coi đó như một cách viết an toàn và dễ dàng nhất, dù nó cực kỳ vô vị và vô bổ. Hiện tượng tóm tắt và diễn xuôi, lâu lâu lại đệm vài câu khen, chê một cách khệnh khạng rồi gán cho nó cái tên là phê bình, đến nay, vẫn còn rất phổ biến trong văn học Việt Nam, trong cũng như ngoài nước.

Nếu cái “tưởng” này đúng, nghĩa là nếu tác giả thực sự ý thức rõ và đủ ý định của mình khi sáng tác thì hệ luận đương nhiên phải dẫn đến là ngành phê bình không có lý do gì để tồn tại cả. Một là, với những tác giả đã quá cố và không để lại lời giải thích nào về tác phẩm của họ, công việc tìm kiếm cái ý định ấy hoàn toàn vô vọng. Hai là, với những tác giả còn sống, công việc tìm kiếm vất vả và phiêu hốt đó có thể dễ dàng được thay thế bằng một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với tác giả. Như thế, thay vì phải cặm cụi và mày mò đọc hai bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa biển động và Sông Côn mùa lũ dài dằng dặc của Nguyễn Mộng Giác, chúng ta chỉ cần nhấc điện thoại lên hỏi thẳng tác giả là tức khắc thấy ngay được “ý nghĩa” của chúng.

May. Trên thực tế hai khả năng này đều không xảy ra. Các tác giả vẫn thường im lặng, ít khi phát biểu về ý nghĩa tác phẩm của mình, hoặc có phát biểu chăng nữa thì cũng không có gì bảo đảm là những lời phát biểu ấy chính xác. Giả dụ Hoàng Cầm có viết bài “Nguồn gốc những bài thơ mà Phạm Duy đã phổ nhạc – chị và em là ai?” như ông hứa trên Hợp Lưu số 8 (1993) và giả dụ trong đó, ông trực tiếp phân tích, mổ xẻ các bài “Lá diêu bông”, “Cây tam cúc” và “Qua vườn ổi” thì tôi nghĩ, những sự phân tích, mổ xẻ ấy may lắm chỉ được xem là thứ tài liệu tham khảo, may lắm chỉ góp phần làm sáng tỏ đôi nét về động cơ hay quá trình sáng tác, ngoài ra, chúng không được hưởng bất cứ sự ưu tiên nào cả. Điều này có nhiều lý do.

Thứ nhất, như các nhà phân tâm học đã chứng minh, hiếm có hành động nào của con người chỉ hoàn toàn là kết quả của ý thức. Đặc biệt trong các hoạt động sáng tạo, sự can thiệp của tiềm thức và vô thức chiếm một phần rất lớn. Mà đã nói đến tiềm thức và vô thức là nói đến những gì tác giả không tự biết.
Thứ hai, như các nhà ngôn ngữ học đã chứng minh, ý nghĩa của một từ bị lệ thuộc chủ yếu vào mối quan hệ với các từ khác trong cả ngữ lưu chứ không còn chết dí trong ý định của người nói, người viết.

Thứ ba, như các nhà cấu trúc luận đã chỉ rõ, mỗi bài thơ là một hệ thống của những hệ thống, một quan hệ của những quan hệ: không những chỉ có mối quan hệ bên trong của bài thơ mà còn có mối quan hệ giữa bản thân bài thơ ấy với những bài thơ khác nữa. Trong ý nghĩa này, người ta có thể nói, một bài thơ bao giờ cũng được đọc lại chứ không phải là được đọc, dù đó là lần đọc đầu tiên, vì một số yếu tố liên quan đến cấu trúc của bài thơ ấy chỉ có thể được nhận thức một cách đầy đủ khi người ta nhớ lại, đối chiếu với những bài thơ đã đọc rồi. Như thế, ý nghĩa thực sự của bài thơ bao giờ cũng vượt ra ngoài, khá xa, tầm tay của tác giả.

Cuối cùng, khi nhận định về ý nghĩa của tác phẩm mình, nhà thơ biến thành một độc giả: những ý kiến ấy nảy sinh trong quá trình họ đọc lại tác phẩm của họ hoặc tưởng tượng về tác phẩm của họ hơn là những cảm nghĩ thực sự lúc họ đang sáng tác. Khoảng cách giữa thời điểm phát biểu ý kiến ấy với thời điểm sáng tác càng xa, tính chất khả tín của lời phát biểu càng giảm dần. Giữa hai thời điểm, một số điều bị quên đi và một số điều được thêm vào; trong số những điều được thêm vào, không thể không kể đến những cách diễn dịch mới của các nhà phê bình.

Tóm lại, ý định của tác giả khi sáng tác, cho dù được tác giả phát biểu công khai hay không, vẫn không thể được coi là tiêu chuẩn để đánh giá một sự diễn dịch. Hơn nữa, như là hệ luận của nhận định ấy, ý định của tác giả cũng không thể được coi là mục tiêu tối hậu của việc diễn dịch hay phê bình. Bởi vì, nếu công việc diễn dịch hay phê bình chỉ nhắm đến việc phát hiện ý định của tác giả trong khi bản thân ý định đó lại không thể được xác minh chắc chắn, công việc diễn dịch và phê bình sẽ trở thành một việc phiêu lưu, nhảm nhí. Theo tôi, một trong những nguyên nhân khiến ngành phê bình Việt Nam cứ ở mãi trong tình trạng ấu trĩ và què quặt là, do rất thiếu tự giác, chúng ta cứ nhắm hoài đến một mục tiêu không thể và không nên theo đuổi. Việc chọn nhầm mục tiêu ấy khiến cho phê bình tự động biến thành việc nghiên cứu lịch sử nếu tác giả thuộc một thời đã xưa; biến thành việc nghiên cứu xã hội nếu tác giả tương đối gần hơn; biến thành việc nghiên cứu các quan điểm đạo đức và chính trị, nếu tác giả còn sống. Trong cả ba trường hợp, tác phẩm chỉ được coi là một phương tiện, một bằng chứng ngang ngửa hoặc có khi kém giá hơn những bằng chứng ngoài văn học. Hậu quả là phê bình trở thành một phụ lưu của một cái gì khác. Nó không những sai lầm mà còn nguy hiểm. Nó làm cho mọi tài năng đều trở thành tầm thường, dung tục.

Thái độ sùng tín quá đáng đối với ý nghĩa chủ định còn có những tai hại khác: trong những trường hợp tồi tệ, phê bình văn học trở thành một trò quy chụp chính trị bẩn thỉu như cái điều thường xảy ra trong xã hội Việt Nam; trong những trường hợp bình thường, đặc biệt khi ý nghĩa của bài thơ tương đối rõ ràng, phê bình chỉ đóng vai trò diễn xuôi một cách nhạt nhẽo, kém thông minh. Hai điều này cắt nghĩa lý do tại sao phần lớn giới sáng tác cảm thấy vừa cần, vừa sợ, lại vừa khinh giới phê bình: họ cần vì những người viết phê bình giúp họ trong việc giới thiệu tác phẩm vào giới độc giả bình dân; sợ vì các trò xuyên tạc xấu xa của đám đồ đệ cuồng tín của thuyết chủ định; khinh vì họ biết rõ cả công việc chụp mũ lẫn công việc diễn xuôi đều chỉ là công việc của bọn bất tài, không có khả năng nào khác ngoài việc nói leo, hoặc nói leo tác giả, hoặc nói leo một quyền lực, một quan điểm chính thống.

***

Chú thích:

  1. Nguyễn Hiến Lê (1990), Hồi Ký, tập 2, Văn Nghệ, California, tr. 344 (phần chú thích).
    2. Hoàng Cầm (1993), “Một cảm nhận chệnh choạng, một hiểu biết chệch choạc về một số bài thơ của Hoàng Cầm”, Hợp Lưu số 8, tr. 188-193.

Bài trước

Huyền thoại về sứ mệnh của các nhà thơ

Huyền thoại về cái đẹp trong thơ

Tác giả và người đọc trong thơ miền nam 1954-75

Chủ nghĩa hiện đại trong thơ miền Nam 1954-75

Những khắc khoải siêu hình trong thơ miền Nam 1954-75

Số phận của văn học miền nam sau 1975

Muộn còn hơn không: Hội thảo về văn học miền Nam 1954-1975

.

.

.

Giấc mơ khởi nghiệp và sáng tạo (Trần Vinh Dự)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Giấc mơ khởi nghiệp và sáng tạo

Trần Vinh Dự

23.12.2014

http://www.voatiengviet.com/content/giac-mo-khoi-nghiep-va-sang-tao/2569571.html

.

.

Trong vòng vài tháng trở lại đây, chúng tôi có dịp làm giám khảo cho hai cuộc thi liên quan đến sáng tạo tại Sài Gòn. Đầu tiên là cuộc thi Ý tưởng Khởi nghiệp (Demo Day) do Lãnh sự quán Hoa Kỳ tài trợ hồi tháng 9 và cuộc thi Khởi nghiệp và Đổi mới Sáng tạo (Best Innovators Award) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hồi tháng 11.

Điều thú vị khi làm giám khảo ở các cuộc thi này là cơ hội được biết đến đủ loại ý tưởng kinh doanh, từ những ý tưởng công nghệ phức tạp như chế tạo máy in 3D, phát triển các ứng dụng di động có khả năng định vị chính xác đến từng m2 trong các tòa nhà lớn, chế tạo đèn LED công suất cao phục vụ việc đánh bắt xa bờ của ngư dân hay phần mềm ứng dụng trên điện thoại di động giúp cung cấp thông tin cho các bà mẹ về kỹ năng nuôi dưỡng trẻ sơ sinh…

Sự đa dạng về các ý tưởng khởi nghiệp cho thấy nhiều người trẻ Việt Nam ngày nay đang rất năng động với việc phát triển sản phẩm mới, tạo ra các giải pháp độc đáo cho xã hội, và làm giàu một cách chính đáng. Một số sản phẩm có giá trị thực tế cao, nhưng đa phần còn lại nằm trong nhóm các sản phẩm (có thể) thú vị về mặt công nghệ nhưng không có giá trị thực tế.

Một thí dụ khiến tôi nhớ mãi là một nhóm kỹ sư lập trình viết ra một ứng dụng di động (mobile app) dành cho người đi xe máy. Mục đích của các bạn này là sử dụng công nghệ định vị, lập ra một cơ sở dữ liệu các điểm sửa xe máy, những trạm xăng, những cửa hàng bán phụ tùng… ở các đô thị lớn, để người đi xe máy khi cần là có thể tìm ra ngay những cơ sở này mà không cần phải dừng xe hỏi đường người dân trên phố. Trên cơ sở lượng người dùng cao, nhóm tác giả dự kiến sẽ bán quảng cáo của các cửa hàng này để tạo doanh thu.

Đây có thể là một ý tưởng thú vị về công nghệ, nhưng hoàn toàn không khả thi về mặt kinh doanh vì viết ra một mobile app như vậy thì dễ nhưng để tạo dựng một cơ sở dữ liệu đủ lớn thì rất khó, chưa kể việc phải cập nhật thường xuyên (thử tưởng tượng các điểm sửa xe ở vỉa hè nhiều và thường xuyên thay đổi như thế nào). Ngay cả khi tạo được app và cơ sở dữ liệu tốt, thì giá trị của nó cũng không lớn vì với những thành phố đông dân như Việt Nam, việc dừng lại hỏi đường đến các cơ sở này là việc quá dễ dàng mà không cần phải có một mobile app mới làm được.

Trên thực tế thì việc phát triển một sản phẩm mới đến được với người dùng là việc đặc biệt khó, và không có công thức chung nào để đảm bảo thành công cả. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc bản lề của công việc này là phải bắt nguồn từ nhu cầu thực tế, chứ không phải thuần tuý từ sự hiểu biết về kỹ thuật của người phát triển sản phẩm. Từ nhu cầu thực tế có nghĩa là sản phẩm đó phải hướng đến việc giải quyết được một vấn đề trong thực tế mà chưa có sản phẩm nào giải quyết được hoặc sản phẩm mà mình tạo ra có khả năng giải quyết một vấn đề trong thực tế tốt hơn các sản phẩm (hoặc giải pháp) đang có.

Gần đây, các ứng dụng gây sốt trên thế giới như Uber hay Grabtaxi đã khiến những người tạo ra chúng thành các tỷ phú. Nó bắt nguồn từ chỗ các ý tưởng đều là những ứng dụng tuyệt hay, thực sự nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế của xã hội. Thí dụ Grabtaxi làm cho việc phân phối mạng lưới taxi hiệu quả hơn, còn Uber thì biến những chiếc xe hơi bình thường đang nhàn rỗi thành các cỗ máy kiếm tiền một cách dễ dàng cho chủ xe.

Nhiều bạn trẻ Việt Nam đang có nhiệt huyết và chủ động trong việc tạo ra các sản phẩm mới. Thế nhưng điều tôi thấy là phần nhiều trong số các bạn mà tôi gặp đang gặp phải một vấn đề về kết hợp sáng tạo công nghệ với tính nhạy bén thị trường. Có vẻ như các bạn này chỉ tập trung vào một vế là sự sáng tạo về công nghệ mà bỏ qua khía cạnh thị trường.

Đây là vấn đề lớn, và nó quay lại điểm khởi đầu là cỗ máy đào tạo các bạn trẻ ở Việt Nam – hay nói khác đi là hệ thống giáo dục. Một hệ thống giáo dục cứng nhắc sẽ khó lòng tạo ra được những con người với ý tưởng đột phá. Một hệ thống giáo dục thiên về hàn lâm sẽ khó tạo được những con người có được cảm nhận tốt về xã hội, về thị trường, và có được sự nhạy bén trong kinh doanh. Hệ thống giáo dục ở Việt Nam hiện nay vừa vẫn cứng nhắc vừa thiên về hàn lâm, vì thế không khó hiểu tại sao chúng ta ít có được những ý tưởng đột phá và những tỉ phú trẻ giàu lên nhờ những sản phẩm do chính họ tạo ra.

*Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

——————–

XEM THÊM :

UBER LÀ GÌ ? (Nguyễn Tài Ngọc)

http://bon-phuong.blogspot.com/2014/12/uber-la-gi-nguyen-tai-ngoc.html

Sự thành công của Uber và kinh doanh ứng dụng peer-to-peer

http://bon-phuong.blogspot.com/2014/12/su-thanh-cong-cua-uber-va-kinh-doanh.html

.

.

.

Mở cửa dân chủ Cuba: Việt Nam đi trước về sau? (Nam Giang – VNTB)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Mở cửa dân chủ Cuba: Việt Nam đi trước về sau?

Nam Giang

22.12.14

http://www.ijavn.org/2014/12/mo-cua-dan-chu-cuba-viet-nam-i-truoc-ve.html

.

.

(VNTB) - Bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ – Cuba không chỉ khiến người dân hai nước đó “sởn gai ốc” và hét lên sung sướng, mà còn đem lại nỗi “tâm tư” không hề nhỏ với dàn lãnh đạo tại Việt Nam tương lai. Bởi Cuba có thể vượt lên trên Việt Nam, trong cuộc chạy đua làm bạn với Hoa Kỳ.

Sức mạnh mềm Hoa Kỳ

Cuba và Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao, một mốc lịch sử dành cho cả hai nước.

Cũng giống như Việt Nam trước đây, đó là một quyết định không dễ dàng nhưng đáng giá, theo như Ngoại trưởng John Kerry nhận xét trong thông cáo báo chí.

Và một lần nữa, Việt Nam trở thành một ví dụ điển hình để nhấn mạnh rằng, nỗ lực thay đổi mối quan hệ sau chiến tranh dù vẫn chưa hoàn thành, “nhưng phải bắt đầu thì mới đi tiếp được”.

Bình thường mối quan hệ giữa hai cựu thù cũng đòi hỏi sự đầu tư phá bỏ “tư tưởng cứng nhắc” và chấp nhận rủi ro để lội ngược dòng.

Ai chủ động trong việc bình thường hóa, nhân tố đó xứng đáng được tôn vinh.

“Chính sách cô lập kéo dài hàng thập kỷ của chúng ta chỉ củng cố sức mạnh của chính quyền Castro mà thôi” và “cách tốt nhất để mang lại sự thay đổi cho Cuba là cho nhân dân của họ được tiếp xúc với những giá trị, thông tin và những điều kiện vật chất của thế giới bên ngoài” bà cựu ngoại trưởng Hillary Clinton chia sẻ với báo giới.

Việt Nam – Cuba: “lật đổ” hay chuyển hóa?

Tuy nhiên, không ai cũng hiểu được giá trị của việc xuyên thủng một chế độ bưng bít chính là hé mở làn cửa cho sức mạnh mềm của Hoa Kỳ đi vào.

Một chiến lược dài hơi! Bởi thông giao dù là cụm từ hòa bình, nhưng nó cũng mang một thông điệp tốt lành cho sự hội nhập của chính hai quốc gia. Và sự tiếp cận thông tin của người dân Cuba, đến một lúc nào đó, sẽ trở thành vũ khí và tạo ra một không gian huấn luyện bên trong quốc gia đó. Và chính người dân sẽ tìm kiếm sự thay đổi đó (người dân sở tại làm chủ chính cuộc chơi), chứ không phải là Hoa Kỳ hay ai khác.

Nhiều thượng nghị sĩ Hoa Kỳ đã lên án thỏa thuận đó của ông Obama và cả những người dân Cuba lưu vong tại khu vực Little Havana (Miami – Florida). Họ coi đó là sự phản bội, và cho việc bình thường hóa quan hệ chỉ có lợi cho Cuba”, AFP đưa tin.

Nhưng rõ ràng, chính sách can thiệp bằng cấm vận đã trở nên lỗi thời, nhất là ở các quốc gia Cộng sản. Vì bằng cách nào đó, sự bưng bít về mặt thông tin đã khiến bản thân quốc gia đó trở thành một pháo đài không thể công phá. Triều Tiên là một điển hình.

Little Havana và Little Sai Gon cơ bản giống nhau ở chỗ, vẫn còn tồn tại một sự căm thù đến mãnh liệt chế độ Cộng sản của một nhóm người. Đặt trong quy chiếu cực đoan, họ chỉ thấy mọi yếu tố liên quan đến bình thường giữa Hoa Kỳ và đất nước họ là một sự “phản bội” từ bên trong.

Chửi bới, la hét và thậm chí có một thời điểm, nổi lên phong trào vận động người Việt nước ngoài không gửi kiều hối về nước đã được một số tổ chức và cá nhân trong ngoài nước lựa chọn như một phương cách phản đối sự “phản bội” đó của Hoa Kỳ. Với cách nghĩ đó, không chỉ đem lại số 0 tròn trĩnh, mà càng khiến cho họ đánh mất cái nhìn thiện cảm của người Việt trong nước, lẫn tại Little, bởi tính vô vọng, cực đoan của nó. 80,4 tỷ USD kiều hối về Việt Nam, chủ yếu từ Hoa Kỳ (chiếm 50%) được công bố trong sự kiện của Western Union vào ngày 17/12 vừa qua, đã cho sự thất bại trong cách nhìn ích kỷ đó.

Ngược lại, thúc đẩy đời sống người dân trong nước được nâng cao, đồng nghĩa với sự đi lên của dân trí, giá trị tự do, dân chủ vì thế càng trở nên gần gũi hơn trong đời sống. Và bằng nhiều cách khác nhau, dưới sự hỗ trợ của dòng chảy internet, nó sẽ khơi dậy, khuyến khích, tạo điều kiện để người dân tìm đến, tự lực sắp xếp chữ dân chủ, tự do cho chính mình.

Bởi, “phương cách để loại bỏ một chính quyền tồi dở không cần đổ máu, chẳng hạn như thông qua bầu cử; điều đó có nghĩa là các định chế xã hội cung cấp các phương tiện để người dân có thể loại bỏ những người cầm quyền”.

34 triệu người Việt Nam tiếp xúc với internet hiện nay (trong đó 2/3 là người trẻ tuổi), mặc dù gặp tường lửa, nhưng không làm giảm số lượng người tiếp cận với các “giá trị Hoa Kỳ”, tìm hiểu sâu về các vấn đề chính trị, xã hội, tổ chức hội thảo luận bàn về các giá trị dân chủ – tự do, khuyến khích đọc các sách về thể chế dân trị, triết học nhà nước, tam quyền phân lập… Đấy chính là kết quả của cái lần mở cửa “không dễ dàng” trước đó và nó chính là phương tiện cho định chế tương lai.

Ngay cả việc bắt bớ rồi thực hiện chiêu trò đổi tù nhân chính trị lấy kinh tế/quân sự như hiện nay, Hoa Kỳ cũng có phần nhún nhường, có lẽ nằm ở điều đó. Một sức mạnh mềm mà không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận.

Nhiều người cho rằng, chính quyền Cộng sản sẽ nuôi dân lấy lông. Nhưng cái giá đắt đó buộc ta phải chấp nhận, như một sự mạo hiểm phải đánh đổi, để có thể tìm lấy “màu sắc và biểu tượng chung”, và cùng nở hoa vào một thời điểm tốt nhất.

Việt Nam đi trước về sau?

Giống như Việt Nam, Cuba từng cựu thù nước Hoa Kỳ, và khác Việt Nam, nước này có thời gian cấm vận dài hơn.

Nhưng một điều bất ngờ là theo thống kê có liên quan giữa độ tuổi trung bình và GDP (tính theo sức mua tương đương) thì hai nước lại lệch số liệu. Cụ thể, Cuba tuổi thọ trung bình 79,07 tuổi (2012), lớn hơn so với Việt Nam 75,61 tuổi (2012); trong khi đó GDP của Cuba trong thời kỳ cấm vận lên đến 9.900 USD (PPP – 2012), trong khi Việt Nam chỉ đạt 4.001 USD (PPP – 2013).

Việt Nam bình thường hóa quan hệ, tự do buôn bán trước Cuba 20 năm nhưng thu nhập lại chỉ bằng 1/3 so với người dân Cuba.

Do đó, bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ – Cuba không chỉ khiến người dân hai nước đó “sởn gai ốc” và hét lên sung sướng, mà cạnh đó, còn đem lại nỗi “tâm tư” không hề nhỏ đến với người Cuba lưu vong ở Little Havana lẫn dàn lãnh đạo tại Việt Nam tương lai. Bởi Cuba có thể vượt lên trên Việt Nam, trong cuộc chạy đua làm bạn với Hoa Kỳ.

Viễn cảnh “Việt Nam đi trước về sau” so với Cuba, nếu xảy ra, sẽ không hề dễ chịu chút nào!

.

.

.

Không dễ quên vụ bắt giam hai bloggers Bọ Lập và Người lót gạch (Gia Minh – RFA phỏng vấn Nguyễn Ngọc Già)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Không dễ quên vụ bắt giam hai bloggers Bọ Lập và Người lót gạch

Gia Minh, biên tập viên RFA

22-12-2014

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/conti-concer-abt-ar-of-2blog-12222014052119.html

.

.

Nhiều nguời quan tâm tình hình tại Việt Nam vẫn tiếp tục kêu gọi cơ quan chức năng trả tự do cho hai bloggers Nguyễn Quang Lập và Hồng Lê Thọ bị bắt gần đây.

Gia Minh hỏi chuyện ông Nguyễn Ngọc Già, một người thường xuyên có những bài viết về tình hình tù nhân lương tâm tại Việt Nam trên các trang mạng trong nước.

Ông Nguyễn Ngọc Già: Ở đây chúng ta nói rõ là hai nguời bị bắt : ông Hồng Lê Thọ và ông Nguyễn Quang Lập có điểm chung và điểm riêng. Điểm chung là hai ông đều bị bắt dưới góc độ ‘vụ án chính trị’ với tư cách tù nhân lương tâm, mặc dù nứơc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam luôn từ chối tại quốc nội và trứơc quốc tế khái niệm ‘tù nhân lương tâm’; nhưng trong thực tế không thể phủ nhận hai ông Thọ và Lập là tù nhân lương tâm. Ít nhất đối với ông Lập đã có quyết định truy tố vụ án theo điều 88.

Riêng đối với ông Thọ, tôi có thắc mắc là ông Thọ bị bắt trứơc ông Lập nhưng cho đến nay không nghe tin tức gì cả; trong khi chúng ta biết ông Thọ là nguời có quốc tịch Nhật Bản. Đó là câu hỏi cần phải đặt ra trong lúc mà tình hình Việt Nam hiện nay rất khốc liệt về  mọi mặt, đặc biệt về kinh tế. Điểm thứ hai mà không ai không thấy là sự tranh chấp quyền lực trước kỳ đại hội đảng mà đang đếm lùi thời gian.

Đối với nhà văn Nguyễn Quang Lập thì dư luận hiện nay đều lên tiếng yêu cầu chính quyền phải để cho ông đụơc tại ngọai. Điều gây xúc động lớn nhất đối với tôi, nguời theo dõi sát tình hình Việt Nam từ trứơc đến nay, là chưa có một tù nhân lương tâm nào bị bắt vào lúc mà chính bản thân nguời đó đang bị ‘bán thân bất tọai’ như thế.

Gia Minh: Đến lúc này đã có thư kiến nghị của các vị nhân sĩ, trí thức và nhiều nguời khác tại Việt Nam ký tên yêu cầu trả tự do cho nhà văn Nguyễn Quang Lập ( số ký đã hơn 1000 nguời); và cũng có ba vị giáo sư Việt Nam đang công tác tại nước ngòai có thư cho chính quyền. Theo ông những phản ứng đó ra sao?

Ông Nguyễn Ngọc Già: Có hai thư: thư thứ nhất có hơn 1 ngàn nguời ký ỵêu cầu trả tự do cho ông Lập, để ông này tại ngọai hầu tra; thư thứ hai của ba vị giáo sư- tiến sỹ gồm có ông Ngô Bảo Châu, ông Đàm Thanh Sơn và ông Vũ Hà Văn. Thư của hơn 1000 người ký thì tôi không có gì bàn thêm và tôi đồng ý với việc để cho ông (Lập) tại ngọai. Còn đối với thư của ba vị giáo sư có thể nói một câu đó là ‘đơn xin tại ngọai’. Về mặt pháp lý thì chị Hồng, vợ anh Lập có quyền làm điều đó và chị đã làm ngay rồi. Còn ba vị giáo sư kia họ lấy tư cách gì để làm đơn xin tại ngọai cho nhà văn Nguyễn Quang Lập vì không ai đi xin tại ngọai cho một nguời mà mình chỉ là ‘nguời bạn ‘ thôi; trong khi như trong lá thư nói rõ ông Lập là nguời có tâm, ông Lập bị bại liệt, ông Lập không làm gì khác … Nhưng ba vị giáo sư trong thư lại nói cơ quan điều tra có đầy đủ những biện pháp ngăn chặn khác đối với ông Nguyễn Quang Lập mà không cần phải giam ông. Như vậy, họ vừa xin cho ông Lập tại ngọai vừa ‘vô hình chung’ công nhận ông Lập có tội à? Điều đó là tôi ngạc nhiên vì đó là ba vị giáo sư nổi tiếng chứ không phải ba nguời dân bình thường. Theo tôi điều đó phản ánh tư duy của thời bao cấp, mà ở đây tôi gọi là tư duy ‘bao cấp chính trị’. Tôi nghĩ cần phải đọan tuyệt với tư duy về bao cấp chính trị như Việt Nam đã ‘đọan tuyệt’ bao cấp về kinh tế.

Gia Minh: Là một người lâu nay quan tâm đến tình hình đất nứơc, và có những bài viết trên các trang mạng xã hội, theo ông trong tình hình hiện nay cần có cách thức như thế nào để đạt đuợc yêu cầu, đặc biệt trong trường hợp của những nguời bị bắt mới nhất?

Ông Nguyễn Ngọc Già: Cho đến thời điểm này, những  ngày cuối năm 2014, phải nói rằng còn rất nhiều tù nhân lương tâm đang phải chịu hành hạ, đày đọa, tra tấn đủ mọi kiểu. Giống như trường hợp tù nhân Đinh Nguyên Kha mà bà Nguyễn thị Kim Liên mẹ của Kha phản ánh hành xử ‘vô nhân đạo’ ( của trại giam) trong khi anh Kha bị nhiều bệnh như viêm mũi, đau khớp, ho… mà họ vẫn không buông tha. Và còn hằng lọat tù nhân khác mặc dù cho đến thời điểm này, nhà nứơc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết Công ứơc Chống Tra tấn với quốc tế rồi mà tình hình không có gì cải thiện hết. Đó là điều mà ai cũng thấy.

Hiện nay có khỏang 20 tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, nhưng tôi chưa nghĩ đến ‘đòan kết’ vì đòan kết là một chương trình khoa học, chứ không phải gọi lên ‘khơi khơi’, ai cũng gọi được vì sẽ trở nên ‘coi thường’ và hạ thấp chữ ‘đòan kết’. Mà trứơc tiên tôi cho rằng phải ‘liên kết’ 20 hội đòan đó. Có liên kết được một cách chặt chẽ thì tạo dần niềm tin lẫn nhau. Đó là điều mà 20 tổ chức xã hội dân sự đó nên nghĩ tới. Đứng kêu gọi đòan kết trong lúc này mà hãy liên kết chặt chẽ trong khoa học bằng những chương trình, mục tiêu công khai, ôn hòa, bất bạo động.

Gia Minh: Cám ơn ông về những ý kiến vừa rồi.

.

.

.

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT HẢI NGỌAI CHIA RẼ? (Nguyễn Quang Duy)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT HẢI NGỌAI CHIA RẼ?

Nguyễn Quang Duy

Posted by nguyenlieu01 on December 22, 2014

http://nghiathuc.wordpress.com/2014/12/22/tai-sao-nguoi-viet-hai-ngoai-chia-re-nguyen-quang-duy/

.

.

Chung mục đích mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam, nhưng 40 năm qua các cá nhân, các tổ chức chính trị ở hải ngọai vẫn sinh họat một cách rời rạc thiếu liên kết và người Việt nói chung không mấy quan tâm đến các sinh họat đấu tranh.

Câu hỏi được liên tục đặt ra: Tại sao người Việt hải ngọai lại chia rẽ? Có nhiều lý do, nhưng chính yếu hải ngọai là một môi trường sinh họat tự do và đa nguyên với nhiều cá nhân, nhiều tổ chức hướng đến các giải pháp cho Việt Nam một cách khác biệt.

Khuynh hướng đấu tranh bất bạo động

Sử dụng bất bạo động như một phương tiện để từng bước xói mòn khả năng kiểm soát của nhà cầm quyền Hà Nội. Bốn phương cách chính của đấu tranh bất bạo động bao gồm:

  • Thứ nhất, sử dụng các phương tiện truyền thông mang thông tin đến với người dân;
  • Vận động tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do hội họp, thực hiện quyền con người;
  • Tiến đến việc xây dựng các nhóm sinh họat dân chủ, xây dựng thế liên kết, phân công và phối hợp hành động; và
  • Cuối cùng là vận động người dân tạo sức ép lên chế độ buộc họ phải chấp nhận thay đổi hoặc sẽ bị đào thải để thay bằng một chính phủ dân chủ do chính người dân bầu lên.

Bước chuyển biến quan trọng nhất là năm 1996, Khối 8406 đã chuyển Phong Trào Dân Chủ từ đấu tranh bí mật sang thế đấu tranh công khai.

Cùng lúc một Phong Trào Yêu Nước bảo vệ biên giới biển đảo công khai họat động. Cao điểm là giữa năm 2011 đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình tại Hà Nội, Sài Gòn và các thành phố khác.

Từ đó hình thành một số các Tổ Chức Dân Sự như hiện nay.

Mặc dù số người công khai đấu tranh đã và đang gia tăng nhưng để có thực lực nhằm chuyển đổi thể chế độ cộng sản sang dân chủ rõ ràng phải cần nhiều năm nữa.

Cần thời gian nên nếu tính đến cái giá mà người dân và người đấu tranh trong nước đang tiếp tục phải gánh chịu, cái giá của đất nước đang càng ngày càng lụn bại và cái giá của ảnh hưởng của ngoại bang càng ngày càng gia tăng.

Thì đấu tranh bất bạo động không chắc là giải pháp ít thiệt hại nhất cho đất nước.

Lại nữa, bất bạo động không chắc đã khả thi tại Việt Nam vì nó cần một số điều kiện mà Việt Nam sau nhiều năm vẫn chưa có.

Điều kiện đòi hỏi nhất là các tổ chức chính trị phải ra mặt công khai đấu tranh thay vì vẫn họat động trong vòng bí mật. Có họat động công khai các tổ chức chính trị mới có dân và dân là yếu tố quyết định sự chuyển đổi thể chế.

Bài học từ cuộc đấu tranh của người dân Hong Kong cho thấy cộng sản không bao giờ nhượng bộ, ngay cả khi có hằng trăm ngàn người xuống đường biểu tình một cách ôn hòa bất bạo động.

Khuynh hướng cách mạng

Những người tin vào giải pháp này cũng sử dụng các phương tiện truyền thông tân tiến mang thông tin đến cho đại chúng, xây dựng cơ sở quốc nội, sách động người dân, nhất là thanh thiếu niên, đứng lên để lật đổ cộng sản.

Vì chủ trương cách mạng các tổ chức theo khuynh hướng này vẫn tiếp tục họat động bí mật tại quốc nội, nên khó có thể đánh giá một cách khách quan.

Khuynh hướng thay đổi từ bên trong và bên trên đảng Cộng sản.

Nhiều người, bao gồm những người ngọai quốc quan tâm đến tình hình Việt Nam, tin vào những thay đổi từ bên trong đảng Cộng sản.

Họ cổ vũ hay ngầm ngấm ủng hộ những thay đổi nhỏ, làm tiền đề căn bản cho những thay đổi xa hơn và lớn hơn. Nhưng đến nay vẫn chưa có được những chuyển đổi rõ rệt.

Khuynh hướng dựa vào Hoa Kỳ

Xuất phát từ thực tế chính trị Việt Nam và tin vào sự thay đổi chiến lược của Hoa Kỳ nhiều người đứng ra vận động thành lập chính phủ lưu vong.

Việc làm của họ hòan tòan phù hợp với luật pháp của Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế Hoa Kỳ luôn đặt quyền lợi của Hoa Kỳ với Cộng sản Việt Nam cao hơn, nên chính phủ Hoa Kỳ chưa bao giờ chính thức công nhận hay ủng hộ các nỗ lực nói trên.

Khuynh hướng bảo vệ xây dựng hải ngọai và yểm trợ quốc nội

Đây có lẽ là khuynh hướng được nhiều người hải ngọai ủng hộ nhất. Những người theo khuynh hướng này thường gắn bó với các sinh họat cộng đồng, vừa bảo vệ, vừa xây dựng cộng đồng, vừa dựa vào sức mạnh cộng đồng vận động yểm trợ quốc nội và quốc tế vận.

Cộng Đồng

Ở hầu hết các địa phương Cộng đồng là tiếng nói chung hay tiếng nói của đa số người Việt. Tại Úc, Cộng đồng Liên Bang là một cơ cấu điều hợp các Cộng đồng Tiểu Bang mang tiếng nói chung đến chính giới Úc.

Được biết hiện Luật sư Võ Trí Dũng chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do Úc châu đang ở Hoa Kỳ vận động liên kết giữa các Cộng Đồng Bắc Mỹ và Úc châu để có thể có một tiếng nói chung cho người Việt hải ngọai.

Điều cần nêu ra là các Ban Chấp Hành Cộng Đồng thường thay đổi theo nhiệm kỳ và có nhiều công việc khác ưu tiên hơn. Vai trò của Cộng Đồng cũng khác với vai trò của các tổ chức đấu tranh. Bởi thế các việc vận động nhân quyền hay vận động yểm trợ quốc nội thường do các tổ chức đảm trách.

Quốc Tế Vận

Một trong những nỗ lực chính yếu của người Việt hải ngọai là cất tiếng nói cho chính họ hay mang tiếng nói của những người quốc nội đến chính giới và dân chúng địa phương.

Từ những khuynh hướng khác nhau phát sinh nhiều sinh họat quốc tế vận khác nhau:

  • Để mọi người biết đến hay để vận động địa phương chính thức công nhận lá cờ, nhiều người sử dụng lá cờ vàng trong mọi sinh họat tại địa phương;
  • Vận động địa phương để cấm các sinh họat của nhà cầm quyền cộng sản tại địa phương;
  • Quảng bá những sự thật như nỗ lực “Hành trình đến Tự do” của Thượng Nghị Sỹ Ngô Thanh Hải tại Canada;
  • Các cuộc biểu tình tố cáo tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam;
  • Sử dụng các phương tiện báo chí, truyền thông hay qua những trao đổi cá nhân, cũng đóng góp vận động người ngọai quốc hỗ trợ cho một Việt Nam tự do.

Việc vận động nhân quyền cũng đã được liên tục thực hiện, nhưng cũng có nhiều phương cách và mục đích vận động khác nhau:

  • Chỉ tập trung vận động cho thành viên trong tổ chức hay một số Tù nhân Lương Tâm;
  • Tố cáo những hành động vi phạm nhân quyền để các tổ chức quốc tế hay chính giới ngọai quốc nắm được tình hình chung;
  • Ảnh hưởng đến chính sách các quốc gia sở tại. Như các cuộc điều trần, các nỗ lực gắn liền nhân quyền với viện trợ nhân đạo hay ra những đạo luật buộc cộng sản phải cải thiện nhân quyền mới được gia nhập TPP;
  • Cả ba mục đích trên được phối hợp một cách nhịp nhàng.

Quốc tế vận càng ngày càng trở nên quan trọng và hải ngọai có thể dùng sức mạnh của lá phiếu để thực hiện một số công việc nhất định. Nhưng mang lại tự do dân chủ vẫn phải được quyết định từ những họat động quốc nội.

Khách quan nhận xét khi thực hiện các công tác quốc tế vận các cá nhân hay các tổ chức hải ngọai thường tương nhượng hay liên kết làm việc.

Gần đây một số các sinh họat quốc tế vận cũng đã được các anh chị quốc nội đứng ra đảm trách. Đây là một bước tiến quan trọng của Phong trào dân chủ Việt Nam.

Nguyên nhân gây ra chia rẽ

Tình hình Việt Nam và tình hình thế giới khó cho chúng ta thấy trước chuyện gì sẽ xảy ra và xảy ra ở lúc nào. Vì thế không thể mang lý thuyết ra để tranh luận đúng sai.

Trong sinh họat các tổ chức có quy mô nhỏ thường sinh họat cần sự đồng thuận hơn, ngược lại các tổ chức có quy mô lớn thường có sự chỉ đạo từ trên xuống dưới.

Đó là chưa kể đến những người không sinh họat với bất cứ tổ chức nào, nhưng cũng quan tâm đến tình hình Việt Nam và muốn đóng góp thay đổi thời cuộc theo suy nghĩ của cá nhân.

Thực trạng nêu trên tạo các va chạm từ khuynh hướng đến phương cách thực hiện công việc. Điều đáng tiếc một số người thay vì hướng đến mục đích chung lại mở mặt trận “ai thắng ai” ngay tại hải ngọai, đấu tranh với những người theo khuynh hướng khác.

Ở một mức độ sự cạnh tranh và việc tranh luận là điều cần thiết, nhưng khi đã vượt quá làn ranh và thiếu người hòa giải, lại tạo ra bất hòa không thể giải quyết.

Nhưng im lặng, thiếu giải thích và thiếu thực tế chứng minh cũng không phải là một giải pháp khôn ngoan.

Đương nhiên, nhà cầm quyền cộng sản cũng không thể để các cộng đồng hay tổ chức sinh họat một cách bất lợi cho họ.

Về mặt chìm khó có thể biết được chính xác sự can thiệp, nhưng về mặt nổi như văn nghệ, dạy tiếng Việt, truyền thông sách báo tuyên truyền… thì Nghị quyết 36 là một bằng chứng đảng Cộng sản đã trực tiếp tài trợ (bao cấp) cho một số các sinh họat nói trên.

Điều đáng tiếc có người đã lợi dụng lý do để gán cho người khác là Việt cộng hay Việt gian gây thêm nghi ngờ và chia rẽ trong các sinh họat hải ngọai.

Nhiều người đâm ra chán nản và số người sinh họat chính trị hay sinh họat cộng đồng vốn đã ít nay lại ít hơn.

Người dân hải ngọai xuất phát từ nhiều thành phần khác nhau và vốn đã e dè với các sinh họat. Nay không thấy kết quả cụ thể, chỉ thấy những mặt trái của sinh họat, nên càng trở nên e dè với các sinh họat đấu tranh.

Liên kết trong ngòai

Ở hải ngọai làm việc với nhau đã khó việc liên kết với trong nước lại càng khó hơn. Khách quan nhìn nhận, mặc dù mới phát triển các sinh họat quốc nội đã làm được một số điều mà chính các tổ chức hải ngọai cần học hỏi:

  • các nhóm đã liên kết làm việc chung;
  • một số nhóm đã sử dụng Facebook như một phương tiện công khai tài chánh;
  • Trong buổi họp cuối năm 2014 tại Dòng Chúa Cứu Thế đại diện các tổ chức Dân Sự đã trình bày các ưu khuyết điểm của họ trong năm 2014 và định hình hoạt động cho năm 2015.

Những việc làm như vậy sẽ giúp các thành viên hiểu rõ được thực lực và định rõ được hướng đi, cũng như giúp các tổ chức xây dựng uy tín. Sự thực và minh bạch sẽ giúp xây dựng các giá trị lâu dài.

Kết

Mặc dầu 40 năm nhà cầm quyền cộng sản đã đưa ra nhiều sách lược nhằm kiểm sóat, cộng đồng hải ngọai vẫn là một cộng đồng tự do. Nhưng nỗ lực yểm trợ người dân trong nước đấu tranh mang lại tự do cho Việt Nam thì vẫn còn bị giới hạn rất nhiều.

Cuối năm cũng là lúc để mỗi người chúng ta, mỗi tổ chức tự xét xem làm thế nào để giảm bớt chia rẽ trong sinh họat chính trị hải ngọai, gầy dựng lại niềm tin của người dân và gắn bó hơn với cuộc đấu tranh chung.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi

22/12/2014

————————–

Hóa Giải Sự Chia Rẽ Trong Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại

Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh

September 7, 2013 11:05 AM

http://nguoivietboston.com/?p=18014

.

.

.

Nhớ thương Bùi Ngọc Tấn, đọc lại Chuyện kể năm 2000 (Đặng Tiến)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Nhớ thương Bùi Ngọc Tấn, đọc lại Chuyện kể năm 2000

Đặng Tiến

22/12/2014

http://boxitvn.blogspot.com/2014/12/nho-thuong-bui-ngoc-tan-oc-lai-chuyen.html

.

.

http://lh5.ggpht.com/-q7cRXSv6R6I/VJcqA_P225I/AAAAAAAA0sM/eMo0Srh_XAQ/clip_image001%25255B3%25255D.jpg?imgmax=800

Ảnh từ blog Bùi Ngọc Tấn, với lời chú:  Tôi ao ước được biết tác giả của tấm ảnh, để tỏ lời cảm ơn cũng như biết nó được chụp khi nào, ở đâu…

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua đời tại nhà ở Hải Phòng lúc 06.15 giờ, ngày 18.12.2014, sau cơn bệnh hiểm nghèo vào tuổi 80; bình thường ra, thì sự kiện cũng nằm trong quy luật của trời đất. Nhưng tin buồn, mà bạn bè lo âu chờ đợi, vẫn gây chấn động mạnh trong dư luận văn nghệ, vì tình huống đặc biệt của người quá cố. Dĩ nhiên, Bùi Ngọc Tấn là tác gia tài năng, đã để lại cho đời một sự nghiệp xuất sắc sau bao nhiêu oan nghiệt. Nhưng dường như không phải chỉ có thế: Bùi Ngọc Tấn ra đi để lại một món nợ mà cuộc đời sẽ không trả nổi; nói cuộc đời, chớ chẳng cần nói đến Lịch sử hay Văn học, những từ ngữ trịnh trọng, vừa chua cay vừa phù phiếm.

Bài này tập trung nhắc đến món nợ lớn nhất mà Bùi Ngọc Tấn khi ra đi, đã để lại cho đời là tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000. Tác phẩm đã là biến cố của văn học Việt Nam, vào mùa xuân đầu tiên của thiên niên kỷ, không những vì giá trị của nó, mà vì nó đã bị ngăn cấm, tịch thu và thiêu hủy, theo lệnh của nhà nước ký ngày 16.3.2000. Cho đến hôm nay, khi loan tin Bùi Ngọc Tấn qua đời, nhiều báo chí chính thống trong nước vẫn cố tình loại bỏ Chuyện kể năm 2000 ra khỏi tiểu sử của tác giả.

Cái gì mà ghê gớm như vậy? Khó bề tóm lược tác phẩm trong một câu, nhưng ta có thể tâm đắc với nhà thơ Đoàn thị Lam Luyến, biên tập viên Nhà xuất bản Thanh niên khi đặt Nguyễn Trọng Tạo vẽ bìa, đã trình bày: «truyện viết về một người của ta, bị ta bỏ tù, tập 1 trong tù, tập 2 ra tù, nhưng tập 2 ảm đạm hơn tập 1». Tôi chưa nghe được tóm lược nào hàm súc và ý nhị hơn lời đặt hàng ứng khẩu qua điện thoại này.

Nhưng lệnh cấm lại là một cách quảng cáo đắc lực cho cuốn sách chỉ vừa mới lưu hành được 300 bản. Sau đó tác phẩm được các mạng lưới điện tử truyền đi, các nhà xuất bản ngoài nước in lại, đầu tiên là nhà Thời mới (Canada), nhóm Hợp lưu (Hoa kỳ), Diễn đàn Forum (Paris), các nhà Văn nghệ, Tự lực (Hoa Kỳ) và có thể còn nhiều nơi khác in lại. Trong nước thì sách in chui lên đến nhiều vạn bản, giá đắt gấp ba, bốn lần giá gốc. Trong năm nay thôi, ấn bản giấy tốt, ấn loát đẹp, in đến 500 bản, dành cho tác giả tặng bạn, vẫn là sách chui.

Những trích dẫn trong bài này dựa theo ấn bản điện tử năm 2000.

Tác phẩm và tác giả

Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn là một tác phẩm văn học hay, có hiệu lực phê phán và tố cáo xã hội toàn trị. Ngoài ra, còn có giá trị văn chương nghệ thuật, đáng được phân tích trân trọng và đề cao.

Cuốn sách mô tả cảnh tù đày trong nhiều trại giam từ 1968 đến 1973 và những đoạ đày, bất công, phi lý của toàn xã hội miền Bắc những năm sau đó. Tác phẩm sắc nét hiện thực phê phán, và tố cáo không khoan nhượng. Điều đáng ngạc nhiên là làm sao thời đó, Nhà xuất bản Thanh niên, của Đoàn Thanh niên Cộng sản, lại ấn hành một tác phẩm như vậy, đã đưa lọt qua bao nhiêu vòng duyệt xét của nhiều tầng lớp kiểm duyệt.

Bùi Ngọc Tấn, sinh năm 1934, quê huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, viết văn từ 1954, làm phóng viên cho báo Tiền phong, Hà Nội rồi báo Hải Phòng kiến thiết, sau đó mất việc vì lập trường chính trị, đến khi bị bắt tháng 11 năm 1968 với tội danh “phản cách mạng, tuyên truyền chống chế độ”, ít lâu sau nhà văn Vũ Thư Hiên, bạn ông, trong cùng một vụ án (về sau) được gọi là “ xét lại chống đảng”. Được phóng thích năm 1973, ông về lại Hải Phòng sống lây lất bên lề xã hội, làm đủ thứ nghề để mưu sinh, và không có tác phẩm in ấn trong hai mươi năm. Mãi đến 1993 mới có bài Thời đã mất về Nguyên Hồng đăng trên báo Cửa biển tại Hải Phòng, năm 1995, được in thành sách, với một số hồi ký khác: Một thời để mất, 180 trang. Và sau đó là Những người rách việc, 1996, gồm 8 truyện ngắn. Ngoài ra, còn nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại, dưới dạng bản thảo, bị công an tịch thu không trả lại.

Lao pháp, cơ sở của chế độ

Chuyện kể năm 2000 chủ yếu thuật lại một đoạn đời của nhân vật chính Nguyễn Văn Tuấn qua năm năm tù đày, không xét xử, qua nhiều xà lim tiền trạm trước khi chuyển đến các trại tập trung cải tạo miền thượng du Việt Bắc (1968-1973). Và vài năm sau đó, khi ông về sống lây lất tại Hải Phòng quê nhà.

Nếu xét về cốt truyện, tỷ lệ số trang, tuyến nhân vật, thì chủ yếu tác phẩm mô tả cảnh đoạ đày của tù nhân – nhất là tù chính trị không có án. Nhưng tham vọng người viết có lẽ không dừng lại ở đó. Tác dụng của chữ nghĩa – nội dung sâu xa của tác phẩm – đã phơi bày toàn bộ chính sách của một chế độ toàn trị, sử dụng nhà giam để quản lý xã hội, áp đặt chế độ chuyên chế, tập trung quyền sinh sát trong tay một thiểu số của guồng máy.

Bắt giam người không xét xử có nghĩa là muốn bắt ai thì bắt, giam bao lâu, ở đâu, buộc làm gì cũng được. Chế độ ấy gieo hãi hùng trong toàn bộ xã hội, ngay cả trên đầu cán bộ cao cấp. Mỗi con người là một pháp nhân bán hợp pháp, một công dân bán chính thức. Nó chưa được làm một “phó thường dân”  – vì không có “thường dân” chỉ có những phạm nhân tiềm thể (détenu potentiel), tù nhân “nội trú” hay “ngoại trú” (I, tr. 251), những “con tin” của guồng máy, không chút tin cậy gì ở luật pháp. Vì chỉ có lao pháp thay cho luật pháp. Không có công pháp, chỉ có công-an-pháp. Nói khác đi, người đọc, qua Chuyện kể năm 2000, nhận thấy toàn bộ nền tảng cơ sở của một chế độ. Nó “ưu việt” ở chỗ toàn hảo trong kỹ thuật toàn trị. Đây là nội dung chính yếu của tác phẩm. Những cảnh lao lý, đau thương đến mấy, cũng chỉ là những “hoạ tiết” .

Quyền lực và lạc thú

Nói rằng xã hội không có luật pháp, có nghĩa là pháp lý không bảo vệ con người, ở những quyền hạn tối thiểu. Chứ luật lệ thì vẫn có, và nhiều lắm. Tuấn khi ra tù, sau bao nhiêu nghề ngỗng lêu bêu, mới tìm được việc làm ở xí nghiệp đánh cá, thì bị không biết bao nhiêu phép tắc không cho đi làm, từ công an khu phố, thành phố, sở Lao động, v.v.

Chế độ toàn trị dựa trên vô số luật pháp để phát huy quyền lực; người cầm quyền áp dụng luật pháp tuỳ nghi tuỳ thích. Trong Thân phận làm người (La condition humaine) một nhân vật của Malraux nhận xét: con người không khát khao quyền lực, mà chỉ đi tìm “lạc thú” (le bon plaisir). Trong trại giam, ông quản giáo Thanh Vân tuỳ hứng xử lý việc tù nhân được hay không được gặp mặt gia đình thăm nuôi: “Từ chỗ không được gặp mặt vợ, đến chỗ, được gặp nhưng không được nhận quà, rồi nhận tí quà, rồi cuối cùng được nhận tất cả. Thật là kỳ diệu” (I, tr.19). Hoàn toàn tuỳ hứng. Trầm trọng hơn nữa là ông Trần, giám đốc công an, định phóng thích Tuấn từ 1971, rồi đổi ý kiến, (I, tr.113) quyết định long trọng cho Tuấn đi làm rồi ngầm ra lịnh cấp dưới cấm Tuấn đi làm (II, tr.93 và 98) cũng là theo “lạc thú” – dĩ nhiên là có động cơ, quyền lợi riêng, nhưng không nhất thiết để thăng quan tiến chức như Tuấn “dự đoán”; có khi chỉ thực thi “lạc thú”: tôi đã hứa với anh điều này, nhưng nay tôi trở mặt, làm điều kia, điều trái ngược. Vì đó là uy quyền, là tự do của tôi, lạc thú của con mèo vờn vọc thân xác con chuột. Thực hiện lời hứa là thường tình, làm ngược lại lời hứa mới là “cách mạng”.

Quyền lực ban ơn để tạo uy. Ơn uy là những lạc thú có khi bệnh hoạn. Xã hội nào cũng có người bệnh hoạn, nhưng chỉ ở trong những xã hội toàn trị bệnh hoạn mới đưa đến đỉnh cao của quyền lực. Bi kịch ở chỗ: lạc thú người này gây ra thảm cảnh người kia, tạo nên những tình huống hoàn toàn phi lý và bi đát. Bi đát ở phần khổ ải đã đành, còn bi đát ở chỗ phi lý, phi công lý và phi luân lý. Như tảng đá của Sisyphe.

Mạng lưới toàn năng

Xã hội toàn trị là một mạng lưới toàn năng. Hệ thống trại giam toàn hảo ở nhiều điểm. Trước hết là không thể trốn, vì không biết trốn đi đâu. Thời Pháp thuộc, cán bộ cộng sản trốn tù về nhà dân, về cơ sở, ẩn náu suốt tháng quanh năm. Trại giam cộng sản hiệu lực hơn: tù nhân, tên Sáng trốn năm lần đều không thoát, vì không biết đi đâu. May lắm là về làng để bị bắt lại trong lúc “ăn cơm với mắm cáy cùng bố mẹ” (I, tr.61).

Hoặc giả như Già Đô, một Việt kiều cũ, khi được phóng thích về thành phố, không gia đình, không nhà cửa, không sống nổi, phải làm đơn xin vào tù trở lại, dĩ nhiên là đơn không được cứu xét. Già Đô sống lây lất trên những đống rác và chết trong một ngôi đình đổ nát “Già không chết trong tù, đúng như có lúc già mong ước” (II, tr.89).

Thảm khốc hơn nữa là Ngụy Như Cần, tù chính trị, bị giam cầm không án suốt ba mươi năm – người tù lâu nhất nhì trong cả nước – quen sống với rừng sâu và muông thú, hoàn toàn biệt lập với xã hội loài người, đến khi được lệnh thả thì tự tử “treo cổ lủng lẳng trong rừng, chết cứng từ bao giờ ” (II, tr.112). Một số cựu tù nhân khác như Min, Giang sống lây lất bên lề xã hội, hành nghề trộm, cắp rồi bị bắt trở lại.

Riêng nhân vật chính, là nhà văn, thuộc gia đình cộng sản, được vợ con, bè bạn dũng cảm cưu mang, cũng phải gian nan lắm mới kiếm được miếng cơm manh áo và nhất là không thoát ly ra khỏi ám ảnh tù đày  “Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ. Những người đi trên đường không một ai cười: giống nhau. Xam xám. Đăm chiêu (…). Nhưng rồi hắn giật mình: chẳng lẽ lại nhiều người đi tù đến thế. Đất nước lắm người đi tù đến thế?” (I, tr.257).

Hỏi thế là có ngày trở lại núi cũ, rừng xưa đấy…

* ****

Tiểu thuyết hay tự truyện

Chuyện kể năm 2000 được viết ở ngôi thứ ba, với chủ từ “hắn”, nhưng thực chất là một tự truyện. Tác giả có tác phẩm từ 20 tuổi, đến 35 tuổi mới đi tù; sau đó lại có tác phẩm. Người đọc nhận ra ngay: hắn – Nguyễn Văn Tuấn là tôi – Bùi Ngọc Tấn. Dùng ngôi thứ ba cho thuật sự nhẹ lời, khách quan hơn, để dễ bề cay đắng. Biết đâu nhờ hư cấu mà dễ bề qua mắt kiểm duyệt.

“Hắn” nhân vật cùng năm sinh 1934 với tác giả, cùng ở đường Điện Biên Phủ, Hải Phòng. Cùng đi kháng chiến chống Pháp, về tiếp quản Hà Nội 1954, làm báo T (Tiền phong), viết sách, bị bắt, được thả cùng ngày. Cùng có những người bạn chung, có khi kể tên thật như Dương Tường (I, tr.193), Nguyên Hồng (I, tr. 137), Quang Dũng, có khi đọc chệch đi một tý : Kiều Duy Vĩnh thành Kiều Xuân Vĩnh, Lê Bầu thành Lê Bàn… Có khi chệch xa hơn: Vũ Thư Hiên thành Nguyễn Vũ Phương “biên tập viên điện ảnh” (I, tr. 71) bị bắt cùng một thời điểm, cùng một tội danh. Tên nhân vật Tuấn là tác giả Tấn thêm vào một chữ u, trong u uất, u minh, u ngục… Tên vợ là Ngọc, gần nghĩa với tên Bích ngoài đời.

Chúng ta không cần phải là bới móc đời tư tác giả để kiểm chứng người thật, việc thật trong tác phẩm, “Ai đi phân chất một mùi hương” (Xuân Diệu), nói chi đến việc đào bới phân tro để tìm “hồn của bông hường”. Nhưng cũng nên nêu lên một khía cạnh: Bùi Ngọc Tấn kể chuyện người thật việc thật mà không dùng thể loại trực tiếp là tự truyện, lại sử dụng tiểu thuyết là một hình thức hư cấu. Lý thú ở chỗ: sự thật hay hư cấu… cũng vậy thôi! Tôi, anh, mày, hắn… đều là một “chúng ta” nặng nề thân xác, đương đầu thường xuyên với một guồng máy với “Người vô hình toàn năng đang im lặng buộc tội” (II, tr. 113). Ngoài ra, đại từ “hắn” như một công cụ thi pháp, một kinh nghiệm mà Bùi Ngọc Tấn đã thừa kế từ Nam Cao, cũng như một vài phong cách khác. Nhưng lịch sử đã đưa Bùi Ngọc Tấn trôi giạt đi xa hơn Nam Cao. Chữ hắn trong Chuyện kể năm 2000 mang tính chất bi kịch, phẫn nộ lẫn phản kháng chưa có ở Nam Cao. Nên có thể nói: đây là chủ thể “hắn-hiện-đại-hoá”.

Hơn nữa, vương quốc Việt Nam là một “cõi nhân gian bé xíu”. Anh bắt bớ ai, thậm chí sắp nhốt ai, là thiên hạ đều biết. Người bị bắt vì chính trị tự dưng thành một biểu tượng, huống hồ là “một phóng viên có tiếng, quen biết rộng, khi bắt đã tạo thành dư luận ầm ĩ. Nếu thả, lại càng ầm ĩ hơn” (II, tr. 90).

Bùi Ngọc Tấn không cần viết tự truyện hay hồi ký, bạn đọc cũng nhận ra đâu là chuyện thật. Sử dụng ngôi thứ ba, dùng “hắn” thay “tôi” không những là một thủ thuật văn học, mà còn là một phản ánh và một phản ứng xã hội, một xã hội cực kỳ “ưu việt”, trong đó người Việt Nam có cách riêng để hiểu Rimbaud “Je est un autre” (Tôi là kẻ khác). Dùng hắn thay tôi là tha hoá chủ thể phát ngôn. Tha hoá còn có thể được hiểu nôm na: hoá ra mình được… tha! Bùi Ngọc Tấn tham chiếu một nhân vật tiểu thuyết của Hugo, tội đồ Jean Valjean, cái tên vang dội ngay vào Giăng Văn Giăng, kẻ móc túi trong Chuyện kể năm 2000. Uy-mua (humour) ở đây là tình cờ hay hữu ý?

Ngục tù và trăng mật

Sau khi Tuấn bị bắt, các bạn ông bị theo dõi sát nút. Có người như Bình sắm sẵn  “ba lô con cóc bộ đội cũ” (I, tr.249). “Hai vợ chồng cứ thế âm thầm chuẩn bị cho việc đi tù của Bình. Và chính thời gian đó họ sống như trong tuần trăng mật ”. Sẵn sàng ba lô là chuyện thật, tôi đã từng nghe người khác kể trước đây. Còn “tuần trăng mật” thì không biết thật đến đâu: bị công an gắn máy ghi âm ngay đầu giường, hai vợ chồng không dám làm tình. “Một thời gian dài, anh hoàn toàn bị liệt” (I, tr. 248). Nhưng sau đó  “Bình đã xác định lại: không thể để như người impuissant. Như thế là không được. Là thua… Ta phải giành lại phần tự do tối thiểu. Họ lại yêu nhau chăm chỉ. Cả ban ngày lẫn ban đêm” (I, tr. 250). Làm tình với vợ là một khẳng định tự do, một thách đố chính trị, trong những điều kiện nào đó, mà bằng giọng kể dí dỏm, Bùi Ngọc Tấn đã gợi lại những nét cụ thể.

Chuyện kể năm 2000 là một bản giao hưởng chập chùng trên nhiều giai điệu. Giữa cảnh trần ai khổ luỵ, thỉnh thoảng có những trang tả tình đằm thắm qua ba hoàn cảnh và giai đoạn yêu đương khác nhau: đôi lứa Tuấn-Ngọc yêu nhau vội vã, khi chưa là vợ chồng, trong căn buồng nhỏ hẹp tại Hà Nội. Sau đó là cảnh yêu đương một đêm trăng tắm giếng ở nông thôn, vô cùng thi vị và gợi cảm (I, tr.150) và cuối cùng, cảnh vợ chồng tái hợp “sáng loà như một đám cháy ở chân trời (…) là những gì còn đó nguyên vẹn mà không bạo lực nào có thể cướp đi (…) là yêu nhau. Là lại được yêu nhau” (I, tr. 205). Cảnh này sẽ có độc giả cho là không hợp tình hợp lý, vì kéo dài suốt mấy chục trang, gián đoạn bằng những hồi tưởng về cảnh tù đày. Những trang ân ái không nhiều, và viết không đều tay, nhưng đánh dấu những cái mốc quan trọng trong đời sống.

Nhân vật nữ trong tác phẩm hiện thân cho tình yêu, hiểu theo nghĩa hy sinh, chịu đựng. Họ không có thái độ trực tiếp phản kháng như nam giới. Nói chung trong văn học, chúng ta có ít chứng từ về người tù phụ nữ. Nhưng nhất định số phận của họ cũng gian lao không kém gì nam giới.

Chuyện kể năm 2000 là bức tranh toàn cảnh một xã hội đen tối. Dù rằng vẫn có vài mảng ánh sáng tươi thắm, phản chiếu niềm tin ở cuộc đời và tình người, nhất là tình nghĩa vợ chồng.

Cấu trúc truyện kể

Chuyện kể năm 2000 phát triển theo cấu trúc hiện đại, trên dòng tâm tư nhiều chiều hướng, khi xuôi chiều thời gian theo sự việc, khi ngược chiều thời gian theo hồi tưởng, khi chồng sự kiện lên nhau theo liên tưởng.

Phần đầu, nửa đầu tập I là lối kể chuyện thông thường, theo dòng thời gian đơn tuyến, để mô tả cảnh tù đày trong các trại giam. Hành văn hiện thực, ngữ pháp hồn nhiên làm nổi bật những lao khổ, cơ cực của người tù, có phần tự nhiên chủ nghĩa một chút.

Sang nửa sau tập I, tác giả đổi phương pháp: nhân vật Tuấn được phóng thích về lại thành phố, Hà Nội, Hải Phòng, rồi về nông thôn thăm bố mẹ. Hành trình “hồi hương” theo trình tự thời gian, nhưng truyện kể lại dích dắc theo hồi tưởng, theo dao động tâm lý: Về quê xưa “hắn ở nhà ba ngày. Ba ngày ấy, hắn sống bằng cả ba kiếp sống. Cái hội chứng sống nhiều kiếp trong một lúc chỉ hắn mới có, chỉ những người mới ở tù ra mới có. Thực ra hắn chưa ý thức được rằng mình mang bệnh ấy. Sống mà luôn luôn nghĩ tới quá khứ, những ngày chưa bị bắt, và những ngày ở trong ấy, từ chuyện này lan man sang chuyện khác” (I, tr.225).

Sang đến cuốn II, Bùi Ngọc Tấn, qua nhân vật Tuấn, sống lêu bêu tại Hải Phòng, làm đủ thứ nghề linh tinh, những sinh kế “gia công” không chính thức, những gian truân vì công an không cho nhận việc làm có biên chế. Dĩ nhiên là giữa hai sự kiện hiện thực, tác giả lại liên tưởng, lại hồi tưởng, hay thực sự gặp lại những bạn tù xưa, khi tình cờ, khi hữu ý. Những ám ảnh tâm lý đã đành, thêm những thân tàn ma dại của Dự, của Già Đô xuất hiện trong thực tế. Quả là tác giả đã “từ chuyện này lan man sang chuyện khác” nhưng không đào vong ra khỏi chủ đề: xã hội toàn trị là một trại trừng giới vĩ mô.

Nhưng tác giả, qua Tuấn, vẫn giữ niềm tin, ở bản thân, ở thân nhân, thậm chí ở chế độ đã đày đoạ ông. Trang cuối cùng loé lên một tia hy vọng: Tuấn sẽ được phép đi làm việc ở xí nghiệp đánh cá.

Ngưỡng cửa lao tù

Nhân vật Tuấn, tác giả Bùi Ngọc Tấn, cùng với nhiều phạm nhân khác là người tù không án. Không án nghĩa là bị bắt giam không xét xử, chứ không phải là không có lý do chìm nổi.

Lệnh tạm giam là “bắt bốn tháng”  vì tội  “tuyên truyền phản cách mạng” (I, tr. 86 và 16). Lại thêm  “lệnh tập trung cải tạo: phần tử nguy hiểm cho cách mạng” (I, tr. 16). Những cáo trạng “rất chung nên rất gay. Bốn tháng là dành cho những người tội nặng, điều tra phức tạp. Nhẹ chỉ hai tháng thôi” (I, tr. 89). Nhưng cụ thể thì không ai nói rõ tội nặng ấy là hành động gì. Chính ông quản giáo trại giam, khi phóng thích, còn hỏi hắn “anh bị bắt vì tội gì?” (I, tr. 66).

Chỉ có một lần hỏi cung, ba tháng sau lệnh bắt, ông Lan công an, sau khi tự hào đã từng “thụ lý ba án tử hình, năm án chung thân và trên hai mươi án hai mươi năm” (I, tr75) đã thẳng thừng bảo Tuấn  “Anh bôi đen chế độ, người ta gô anh lại” (I, tr. 77).

Về sau này, trường hợp Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên… sẽ được gói chung lại trong vụ án “xét lại chống Đảng”. Tác giả, ở phần cuối sách, đã “phỏng đoán: thời gian đó ở Hà Nội, đã phát hiện một tổ chức chống Đảng. Toàn những cán bộ đảng viên. Có cả cán bộ cao cấp. P. (Hải Phòng) cũng phải có ở mức độ nhẹ để hưởng ứng Hà Nội (…). Người ta chọn (bắt) hắn vì hắn chẳng mở miệng chửi phim Khi đàn sếu bay qua (…). Hắn lại có những yếu tố để dễ bất mãn. Hắn mâu thuẫn với bí thư chi bộ. Hắn không muốn vào Đảng. Hắn lại còn nói sẽ bẻ bút không viết nữa. Bất mãn quá rồi còn gì. Hắn chơi bời với một số người Hà Nội, người bị bắt, người đang bị theo dõi. Hắn bấp bênh về lập trường. Hắn tự kiêu tự đại. Hắn mất cảnh giác và dễ bị lôi cuốn. Sau này hắn còn được biết ông bí thư thành uỷ K. rất ghét hắn” (II, tr.75). Như vậy đã là quá nhiều “nghi án”; ít tội hơn thế nữa, cũng đã lắm người bị bắt.

Thế giới tập trung cải tạo

Chế độ tập trung cải tạo, không phải là một phát minh mới lạ, càng không phải là sáng kiến Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản chỉ thừa kế một gia tài hương hỏa của nhiều chế độ anh em, và đã khéo ứng dụng vào một nước nhỏ đang chiến tranh, với nhiều nét xã hội, tâm lý riêng biệt.

Bùi Ngọc Tấn không nêu đích xác các địa danh, chỉ gọi là xà lim 75, hay 76, rồi những trại QN hay VQ để bảo vệ lý thuyết hư cấu trên bề mặt. Nhưng người đọc cũng nhận ra khi tác giả định hướng: “trại VQ nằm vào thung lũng giữa rừng già Việt Bắc…, đi tàu, rồi ba chục cây số đường rừng” (I, tr. 10)  “miệt Hà Giang”  (I. tr.35). Trại giam cả hàng ngàn người thuộc nhiều loại tù khác nhau từ hình sự đến chính trị. Tù có án mang số chẵn. Tù không án mang số lẻ gồm có những phần tử nguy hiểm cho chế độ, những nhà văn như Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên, những người trong quân đội Pháp cũ, tu sĩ công giáo, phật giáo, đảng viên đảng phái, v.v. nói chung là “có hại cho an ninh xã hội”.

Chuyện kể năm 2000 là tác phẩm văn học vì đã khắc hoạ được những nhân vật điển hình, trong cá tính, ngôn ngữ, phản ứng riêng. Cùng là nạn nhân bị đoạ đày trong đời sống lao cải, họ đến từ những chân trời khác nhau, những hoàn cảnh xã hội dị biệt, phải hoà mình vào một tập thể quái đản. Có khi yêu thương, đùm bọc lấy nhau, cũng có khi tố giác, hành hạ, đánh đập nhau. Nhưng nói chung, tác giả làm nổi bật nhân phẩm chung và tư cách riêng của con người dưới sự đàn áp. Lửa thử vàng, nhục nhằn thử đức. Không nhục nhằn nào so được với cảnh tập trung cải tạo.

Tuyến nhân vật

Chuyện kể năm 2000 quay chung quanh Tuấn, nhân vật  “hắn” trung tâm. Dĩ nhiên là không ai hiểu Tuấn bằng tác giả. Kỹ thuật hư cấu cho phép tác giả vượt qua thực tại một cá nhân, cường điệu hay thăng hoa người thật việc thật – từ đó cách điệu hoá các nhân vật – tạo nên những nhân cách văn học. Đây là ưu thế của tiểu thuyết so với tự truyên hay hồi ký. Vũ Thư Hiên, tác giả Đêm giữa ban ngày (1997) đã vất vả lưu ý người đọc và giới phê bình, vào tính cách nghệ thuật của tập hồi ký, nhưng không phải ai cũng phân định rốt ráo.

Trại tù là một nhân gian bát nháo. Có người ở tù vì là thành phần của một cơ chế, như quân đội Pháp, Bảo Đại trước 1954: Hợp, lính “nguỵ”, tập trung cải tạo đến năm thứ 9, thích bẩm, sớ, để lập công, sớm được về (I, tr. 20). Cương sĩ quan Đà Lạt khoá cuối (?), Vĩnh cựu đại uý , v.v. v.v.

Những nhân vật Việt kiều cũ: Già Đô, tình nguyện về nước, để xây dựng công nghiệp, bị bắt vì ăn ngay nói thẳng; Cán về thăm đất nước, khi ra sân bay bị mời ở lại vì bị nghi là gián điệp và ở tù từ 18 năm (I, tr. 43).

Nhiều người tù thuộc các dân tộc, nhiều nhất là gốc Hoa. A Thềnh, gốc Nùng bị tù vì làm cháy rừng, bị bắn chết khi hái trộm mấy quả ớt (I, tr.40). Voòng Kỷ Mình vào khám vì tố cáo ban chủ nhiệm hợp tác xã tham nhũng (I, tr.57). Khả ái như Giang, con liệt sĩ, bị bắt đi bắt lại vì trộm cắp; độc đáo như Triều Phỉ, tay anh chị bến cảng Hải Phòng.

Tù trí thức: Sơn kỹ sư, bị bắt vì ăn cắp nguyên liệu. Đỗ  “dược sĩ cao cấp” án tử hình với tội (oan) giết vợ (I, tr.177). Có anh bộ đội bị án tử hình bởi tội đào ngũ và bắn chết đồng đội (I, tr. 182).

Đi tù, cho dù bất cứ lý do gì, oan hay ưng, đều bi đát trong những điều kiện vật chất, tinh thần của những trại tập trung cải tạo. Nhưng tác giả vẫn có giọng dí dỏm :

Hắn nhớ hai ông Minh trong B. Một ông Minh là máy trưởng. Về nông thôn chữa máy bơm thuê. Ông lấy tiền nhôm ra đúc piston. Một ông Minh khác là thợ thủ công, lấy nhôm lá dập thành xu. Cả hai ông đều phạm pháp. Một ông phá hoại tiền tệ, một ông làm tiền giả. Hai ông gặp nhau ở BD (buồng giam); giá hai ông gặp nhau trước thì đâu đến nỗi” (I, tr.134).

Giọng hài hước, một mặt thay đổi khí hậu cho tác phẩm, điểm nụ cười mỉm trên những khuôn mặt hốc hác. Mặt khác, nó xác nhận tâm thức tự do của con người mạnh hơn tảng đá đè lên nó. Trong tù, ngoài tù cũng vậy.

Ngoài tù, một loạt nhân vật linh động: rõ nét nhất là Ngọc người vợ, tận tuỵ, chung thuỷ và chịu đựng, dường như Thượng Đế đã tiền chế một người đàn bà sinh ra để làm vợ chung thân một tên tù không án. Những người bạn dũng cảm và chu đáo. Đôi vợ chồng Bình-Thao là những vai phụ linh hoạt, sống động. Gia đình Tuấn, cha mẹ, anh em toàn là cộng sản gốc, các người anh đã thoát ly theo kháng chiến từ khởi thuỷ. Anh Chân từng bị bắt oan và đối xử nghiệt ngã nhưng vẫn kiên định và tin tưởng. Anh Thân tinh tế và sáng suốt. Họ là những đảng viên kỳ cựu và trung kiên. Cộng sản nhưng vẫn là người bình thường, thậm chí khả ái: họ là người cộng sản chưa nắm quyền bính. Ông Hoàng, đảng viên cao cấp, cũng là người bạn chí tình. Tiếc thay ông đã mất hết quyền bính.

Ngục trung nhật ký

Ở tù, ở đâu, thời nào cũng khổ. Trên miền Bắc, vào khoảng 1970 càng khổ. Lao dịch, đàn áp, đã đành. Còn đói rách trong một xã hội cùng khổ và bị chiến tranh tàn phá. Đã có nhiều sách nói về thảm cảnh trong các trại cải tạo, nhất là các trại học tập dành cho sĩ quan, công chức miền Nam sau 1975. Nhưng có lẽ Chuyện kể năm 2000 là chứng từ đầy đủ nhất, phản ánh nhiều khía cạnh nhất, nhìn dưới ánh sáng nhân đạo và nhân văn. Trong Đêm giữa ban ngày, Vũ Thư Hiên cũng đã có dụng công này, nhưng thông điệp chính trị nặng nề hơn, do đó chất lượng chính trị lấn át màu sắc nhân văn và văn học.

Một tù nhân đã đưa đàn trâu sâu vào rừng để làm tình với một con trâu cái, bị phát giác vì “nó lại kêu họ họ lúc làm tình” (I, tr. 228). Đây là một cảnh lẻ loi. Không tiêu biểu, nhưng cũng là cách hoán dụ (mytonymie) gợi lại toàn cảnh tù đày. Cảnh đói thì vô cùng vô tận. Tù nhân ăn mọi thứ: chuột, rắn mối, kỳ nhông; ăn sống dế và tò vò, cằm bạnh ra vì nhai sắn; cảnh đê nhục con người là lúc chia cơm. Đói sinh ra ăn cắp, tạt được cái gì ăn cái đó; ăn cắp không phải là cái tội, mà là một hành động phản kháng. Dĩ nhiên là có đứa tố giác:

Tích cực bẩm, sớ, để được giảm án. Lê đã bóp cổ Voòng Kỷ Mình để Voòng Kỷ Mình lè ra khỏi miệng quả vải thiều vừa mới tạt được, nhưng chưa nuốt trôi xuống cổ. Lê cầm quả vải ướt nhoe nhoét ấy đi báo cán bộ” (I, tr.47).

Quả vải thiều chưa kịp trôi xuống cổ: một chi tiết thôi, rất nhỏ nhưng nói nhiều, nhờ phong cách hoán dụ, đặc biệt của điện ảnh.

Kiếm miếng ăn đã gian nan. Giữ tư cách trước miếng ăn lại càng không đơn giản. Ăn đã vất vả, ỉa đái cũng gian lao: “Thân tù thật tội. Đi ỉa cũng vội, ỉa không hết cứt (…). Hắn nhắm mắt, nín thở, đái, co bụng lại mà đái cho nhanh” (I, tr. 50-51).

Đây là chưa nói đến lao dịch:  “nước sông công tù. Công của thằng tù vô tận” (I, tr.59).

Giấc mơ và lời chim

Lao khổ và áp bức huỷ hoại từ cơ thể đến tinh thần con người, len lỏi vào tận những giấc mơ. Nhân vật Tuấn hoàn toàn mất khả năng nằm mơ “Đã bao lần tôi ao ước nằm mơ thấy vợ, thấy con. Lần cuối cùng tôi nằm mơ cách đây hơn ba năm rồi. Tôi nằm mơ thấy thằng cháu lớn… túm đầu thằng bé mà tát nó, đánh nó. Nó khóc, nó khóc thảm thiết: con lạy bố rồi, bố đừng đánh con nữa. Tôi vẫn cứ ấn nó xuống mà đánh… Tôi choàng tỉnh. Run lên, toát hết mồ hôi… Sao hắn lại đánh con như đánh đòn thù? Sao phải lạy bố, hở con” (I, tr.32,33).

Bạo lực, những đòn thù từ cuộc sống dội vào đến tận đáy tiềm thức con người, hành hạ những bóng dáng thương yêu nhất. Nó huỷ hoại đến cốt tuỷ những tình cảm thiêng liêng nhất. Bạo lực bất nhân, phi lý rền vang trong câu hỏi quái đản:  “sao phải lạy bố hở con?”. Thậm chí con người sao lại phải van lạy con người ở cuối thế kỷ hai mươi? Mất khả năng nằm mơ, người tù lại càng không dám sống về ký ức “Những đêm mất ngủ trong tù thật là khủng khiếp” (I. tr.49), vì kỷ niệm không an ủi, mà còn dằn vặt, tra tấn, lẫn lộn vào bạo lực.

Đoạ đày xen kẽ vào những giấc mơ. Và toả bóng rộng ra, bao trùm lên ngoại cảnh, nhức nhối trong mỗi lời chim. Văn học đã từng có những tiếng chim thê thiết. Trên bước đường lưu lạc, Thuý Kiều lắng nghe tiếng “chim hôm thoi thót về rừng”, và sống tâm cảnh:

Rừng thu từng biếc chen hồng
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn

Nghe tiếng quyên khắc khoải năm canh” xen giữa “tiếng khóc nỉ non”, người vợ lính thú gánh gạo đưa chồng, cũng lần bước trên dặm trường thượng du Việt Bắc. Nhưng khắc khoải đến đâu, dù “năm canh máu chảy đêm hè vắng”, cũng không bi thương bằng những tiếng chim xé rách thế giới tù đày, “những tiếng kêu thất thanh. Như những mũi dao khoan xoáy vào không trung” (I, tr.92).

Trước hết là tiếng chim bắt cô trói cột nghe thành: Khó khăn khắc phục.

Tiếng chim bên này rừng: khó khan

Tiếng rừng bên kia đáp lại: khắc phục.

Khó khăn… Thôi. Đủ rồi. Cái điệp khúc này tao nghe mãi rồi… Khó khăn. Khắc phục (…)

Rồi con chim Còn khổ. Đó mới thật là tiếng của kinh hoàng. Còn khổ, còn khổ. Không thoát được cảnh này đâu. Còn khổ. Còn khổ. Đừng mong đợi một ngày qua làm gì. Có án đâu mà tính đã qua được một ngày.

Còn khổ : Hắn quảy thùng nước phân thứ một trăm trong ngày, leo dốc, thở ra cả mang tai, mặt trời đốt vai rát bỏng. Dòi ở hố phân bám vào chân hắn trắng xoá, con rơi xuống đất theo từng bước chân huỳnh huỵch, con vẫn tiếp tục bò ngược lên tận bẹn. Còn khổCòn khổ. Còn khổ cái con cặc tao đây này. Còn khổ. Cooòn khôôổ. Đúng là tiếng của đất, của rừng than thở một mình… và tiếp tục là tiếng thở dài của rừng sâu (I, tr.93).

Lại còn tiếng chim thứ ba, kêu rất to ngay bên cạnh như tiếng người: ới con ơi. Tiếng ơi không nhỏ dần đi mà lại to lên. Đúng lúc to nhất thì đột ngột tắt. Rừng sâu lại lịm đi. Chưa ai trông thấy nó, nhưng nhiều người đã nghe thấy nó gọi con. Họ đặt tên là chim ới con ơi (I, tr.95).

Kiến, rận và người

Tiêu khiển của người tù là nhìn đời sống hèn mọn chung quanh, mang hình ảnh của thân phận:  “Ngồi nhìn lũ kiến tha cơm. Những con kiến bò ngòng ngèo vào tổ. Những con ra đi gặp những con đi về đều đứng lại. Như thăm. Lại cũng như kiểm tra. Hắn cố tình thả xuống một hòn cơm to. Lũ kiến bu lại. Đông. Rất đông. Không thấy cơm đâu. Như một hòn kiến động đậy” (I, tr. 80). Phong cách vừa tả thực vừa ẩn dụ. Cay đắng chừng mực, có phần thi vị. Nhưng khi nuôi rệp để đùa chơi thì ẩn dụ đau đớn hơn nhiều: “Hắn nhốt con rệp được tám tuần lễ thì buồn quá, không chờ được nữa, đã đem con rệp ra cho nó hút máu. Tám tuần lễ nhịn đói, con rệp gần như khô đi. Nhưng khi bắt ra để trên cổ tay, chỗ mạch đập, ngửi hơi máu, ngửi hơi người, cu cậu tỉnh ra ngay, bò, xoay xoay và chổng đít lên cắn da hút máu. Cho mày hút đẫy bầu đấy. Hẳn là một bữa đại tiệc. Cu cậu lim đi… Lại còn xếp những que diêm sóng hàng bắt ba bốn con rệp chạy qua que diêm, như kiểu chạy vượt rào. Cũng lồng lên như ngựa. Thú vị, nhưng chơi lâu cũng chán” (II, tr. 189).

Từ đàn kiến nhắm cơm đến con rệp nuôi hút máu, lối ẩn dụ đã được nâng cấp trong thi pháp thảm khốc. Ở đây, chúng tôi muốn lưu ý đến tính cách nhân đạo của ẩn dụ. Trong Đêm giữa ban ngày, Vũ Thư Hiên có kể lại thời gian ở xà lim Bất Bạt, ông đã nuôi một con cóc làm bầu bạn, và giải thích là do “bản năng cầu bầu” một từ cổ, có nghĩa là che chở, săn sóc một sinh vật yếu đuối hơn:

Không phải chỉ nhu cầu có bạn trong cảnh cô đơn, mà người tù xà lim nuôi những con vật chẳng ai nuôi làm cảnh bao giờ. Con người cần có ai đó để mà săn sóc. Nói cách khác, nó cần được thấy có ai đó cần đến nó, để được thấy nó đang hiện hữu và hiện hữu có ích. Tình cảm đó là hạt nhân Thiện nằm trong mỗi chúng ta” (ĐGBN, Văn nghệ, 1997, tr. 586).

Bài học chúng ta lãnh hội được từ những người tù như Vũ Thư Hiên hay Bùi Ngọc Tấn là: sau bao nhiêu đày đoạ oan khiên họ vẫn độ lượng với xã hội, tin tưởng ở lẽ phải trong cuộc đời, những tình cảm tốt đẹp trong lòng người, chức năng của ngòi bút và hạnh phúc ở trần gian.

Thế kỷ mới – Thế giới mới

Chuyện kể năm 2000 là một biến cố văn học như trên đã nói, không phải chỉ vì nó bị nhà nước tịch thu, nhưng nhờ giá trị tự tại của nó, trong một đất nước chưa có xã hội văn học chân chính, theo đúng nghĩa của một xã hội văn học.

Giá trị của một cáo trạng dũng cảm, tố giác một xã hội toàn trị đặt cơ sở trên guồng máy công an, điển hình qua những trại tập trung cải tạo, giam giữ, đày đoạ con người không cần xét xử. Chính sách lao trị chủ nghĩa điều kiện hoá toàn bộ xã hội dân sự, khiến con người bị tha hoá, mất cả tự do, phẩm chất và tư cách.

Cáo trạng trong Chuyện kể năm 2000 là một thông báo hiệu lực, nhờ giá trị văn học vững vàng, đặt trên nền tảng một nội dung nhân văn, nhân đạo và một nghệ thuật tiểu thuyết điêu luyện. Nghệ thuật trong cấu trúc truyện kể hiện đại, xây dựng nhân vật linh động, sử dụng bút pháp đa dạng, và một kho từ ngữ phong phú, ở nhiều cấp độ khác nhau.

Chuyện kể năm 2000. Năm 2000? Tại sao lại 2000? Phải chăng tác phẩm có tham vọng chấm dứt một thế kỷ anh hùng và đày đoạ, để mở ra một chân trời văn học mới, hứa hẹn một ánh sáng bình thường của công lý, dân chủ, nghệ thuật và hạnh phúc?

Và khi lìa đời, cuối 2014, tác giả có thấy được tia sáng nào từ chân trời viễn vọng ấy?

Đ.T.

Paris, 5 Mai 2000.

Cập nhật cho tang lễ 20.12.2014

Phụ chú khi cập nhật :

  1. Chuyện kể năm2000 mới được tái bản, in tháng 12 – 2013, giấy đẹp, nhiều hình tư liệu minh hoạ, 590 trang, không ghi nơi xuất bản, nghĩa là in trái phép, theo đó thì Bùi Ngọc Tấn có những đầu sách chính đã in : Mùa cưới, Đêm tháng mười, Người gác đèn biển, Ngày và đêm trên vịnh Bái Tử Long, Nhật ký xi măng, Viết về bè bạn, Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn, Biển và chim bói cá, không ghi năm xuất bản.

Và những tác phẩm bị công an tịch thu: Hoa cau (tiểu thuyết), Làn sóng thứ nhất (tiểu thuyết) Hải đăng (tiểu thuyết), Những chuyện trên một vùng cửa biển (tập truyện), Những người đang sống (chuyện phim) Thơ xanh (thơ), Đầu cầu (trường ca).

  1. Chuyện kể năm 2000 đã được dịch ra tiếng Anh. Bản tiếng Pháp: Conte pour les siècles à venir, Nxb. l’Aube, Paris, 2013, dịch trung thực và trôi chảy, sách bán chạy.

Trước đó, bản dịch Biển và chim bói cá, La Mer et le martin-pêcheur, cùng một nhà xuất bản, in 2011, đã được giải thưởng Henri-Queffélec 2012. Cả hai bản tiếng Pháp ký tên dịch giả Hà Tây (tên thật : Nghiêm Phong Tuấn, kỹ sư trường Bách Khoa Paris đã về hưu).

Nguồn: http://www.diendan.org/nhung-con-nguoi/nho-thuong-bui-ngoc-tan-doc-lai-chuyen-ke-nam-2000

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 03:13

.

.

.

ĐÁM TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN (Phạm Xuân Nguyên)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

ĐÁM TANG NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN

Phạm Xuân Nguyên

22 Tháng Mười Hai, 2014

http://vanviet.info/van/dm-tang-nh-van-bi-ngoc-tan/

.

.

Tối 17/12/2014, lúc 9h, khi đang ngồi cùng anh em Nhã Nam sau cuộc tọa đàm về bộ sách Việt Nam danh tác tại Viện Pháp, tôi được cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. Anh Tường cho tôi hay tin anh Tấn đã lạnh một chân rồi, sắp đi rồi. Lễ tang anh Tấn sẽ do gia đình, khối phố và bạn bè đứng ra lo liệu. – Anh sẽ ở trong ban tang lễ, và gia đình anh Tấn cũng muốn có em nữa, em thấy được không thì để anh báo cho Hiến (con trai cả anh Tấn). Tôi nói vâng mà trong lòng như còn thầm trách anh Tường “làm sao lại hỏi em câu đó hả anh, anh Tấn mất thì em phải được chung tay cùng gia đình và các anh lo liệu chứ”. Anh Tường cho biết gia đình ủy quyền cho anh viết và đọc điếu văn. – Viết xong anh sẽ gửi em đọc trước. Dứt cuộc điện thoại, tôi nói lại tình hình của nhà văn Bùi Ngọc Tấn cho các anh em cùng nghe. Công ty văn hóa truyền thông Nhã Nam là một nơi gần gũi anh Tấn, đã từng in mấy tập sách của anh, trong đó có tiểu thuyết Biển và chim bói cá. Vũ Hoàng Giang, Phó giám đốc Nhã Nam, nói nếu có tin gì thì anh báo ngay cho em biết với.

Sáng 18/12/2014, 7h, tôi được đánh thức bởi cú điện thoại của nhà thơ Dương Tường. – Anh Tấn đi rồi, Nguyên ạ. Mới đi. Đi lúc 6h15. Giờ giấc tang lễ báo sau. Chỉ vậy thôi rồi anh buông máy. Tôi thẫn thờ, buồn. Vẫn biết bệnh ung thư phổi của anh Tấn ngày một xấu đi. Vẫn biết sự sống của anh chỉ còn tính từng ngày. Vẫn biết anh sắp rời cõi thế. Mà được tin vẫn bất ngờ, đau xót. Bao giờ trước sự ra đi của một con người ai cũng đều có cảm giác đó. Nhưng với một CON NGƯỜI như nhà văn Bùi Ngọc Tấn, cảm giác đó sâu nặng hơn, thấm thía hơn. Sau khi nhận tin tôi vội thông báo ngay lên facebook để mọi người biết. Và suốt ngày hôm đó nhiều cuộc điện thoại, nhiều tin nhắn gọi gửi đến tôi để hỏi tin đích xác có phải anh Tấn đã mất thật rồi không, khi nào thì viếng và đưa tang, có cơ quan hội đoàn nào lo việc tang của anh không, nhờ đặt vòng hoa, bỏ tiền phúng viếng. Các báo đài cũng điện hỏi cảm xúc, ý kiến tôi về nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Khi đó tôi chưa biết là ngay khi anh Tấn vừa nằm xuống, Ban Tuyên giáo Trung ương đã có chỉ thị cho các cơ quan truyền thông đại chúng là đưa tin có mức độ (nhưng Đài truyền hình trung ương là không đưa tin), không nhắc tên tác phẩm vì ông này có tác phẩm được giải thưởng nhưng cũng có tác phẩm bị cấm. Vì vậy đọc những tin bài về anh Tấn mấy ngày qua chỉ thấy sơ sài. Anh Tường thì nửa buổi sáng đã gọi lại bảo tôi cùng đi với anh xuống Hải Phòng ngay, anh không thể để bạn nằm xuống mà không có mình bên cạnh. Tôi bận việc nên chưa thể đi ngay, nên anh Tường đã gọi taxi chiều ấy xuống.

Sáng 19/12/2014, 7h30, tôi lái xe chở bố con nhà văn Nguyên Ngọc và họa sĩ Đỗ Phấn xuống Hải Phòng. Anh Ngọc muốn được có mặt lúc 10h khâm liệm anh Tấn để nhìn mặt bạn văn lần cuối. Xe đến Hải Phòng kịp giờ liệm anh Tấn (mặc dù ở đoạn đường 5 cuối tỉnh Hải Dương bắt sang địa phận Hải Phòng tôi bị phạt tốc độ, nhưng nghe tôi nói chở đoàn nhà văn xuống viếng một nhà văn nổi tiếng và lại thấy tôi tóc trắng cầm lái, nên anh công an trẻ gật đầu cho đi, còn dặn bác lái cẩn thận). Tuy nhiên, thầy cúng xem giờ xem tuổi đã nói khi khâm liệm anh Tấn (tuổi Giáp Tuất 1934) thì những người ở năm sáu con tuổi khác phải tránh, không được có mặt nhìn mặt. Anh Tường tuổi Nhâm Thân (1932) bị kiêng, mà anh Ngọc cũng tuổi ấy, nên đành chờ liệm xong phát tang. Biết được điều này khi đang trên đường đi nên tới Hải Phòng tôi cho xe chạy đến hàng hoa ở ngay Nhà hát lớn thành phố. Vừa nói đặt hoa, lại thấy biển số xe Hà Nội, chị hàng hoa đã nhanh nhảu – có phải các bác viếng ông to gì ở đường Thiên Lôi không, – phải rồi, nhưng sao lại biết là ông to, – vì nghe nói có nhiều công an dẹp đường, canh giữ mà, – à ra thế. (Điều này nhạc sĩ Dương Thụ cũng cho biết: anh bay từ Sài Gòn ra, xuống sân bay Cát Bi lấy taxi về đường Thiên Lôi, anh lái bảo cháu biết rồi, chú ra dự đám ma ông gì đó phải không, ông ấy chắc làm to vì lâu nay đường đó vốn hay tắc có thấy ai dẹp trật tự gì đâu, hôm nay bỗng dưng có rất nhiều công an trực, phân luồng xe, thế chắc cái ông vừa mất phải là ông to rồi). Tôi đặt bốn vòng hoa: cho tôi và Nguyễn Quang Lập, cho Hội nhà văn Hà Nội, cho Khoa Ngữ văn, Đại học Sư Phạm TPHCM, cho hai gia đình Nguyệt Cầm và Đỗ Hoàng Diệu ở Mỹ. Sau khi dặn mang hoa đến nhanh, tôi chạy xe về ngõ 800 đường Thiên Lôi. Trong căn nhà số 30 ở ngõ này của con trai cả Bùi Ngọc Hiến, anh Tấn đã sống mấy tháng cuối cuộc đời mình và đã trút hơi thở cuối cùng. Linh cữu anh quàn tại đó và tang lễ sẽ làm tại đó. Đường Thiên Lôi nhỏ, chỉ vừa đủ hai ô tô tránh nhau. Ngõ 800 may cũng vừa đủ chỗ đi lại, ngay cả khi đã dành một phần nửa dọc lối đi làm chỗ để xe máy cho người đến viếng.

Khi chúng tôi đến, dọc đoạn đường Thiên Lôi quanh ngõ 800 và dọc trong ngõ đã có nhiều bóng áo công an và những người lạ mặt mà nhìn ánh mắt vẻ mặt dáng điệu thấy đầy cảnh giác, soi xét. Đoàn các anh Phạm Toàn, Chu Hảo và nhóm Cánh Buồm cũng vừa tới. Các vòng hoa của Ban vận động thành lập Văn đoàn độc lập Việt Nam, Cánh Buồm, Diễn đàn Paris đã được nhờ đặt trước và đưa đến. Anh em gặp nhau, anh Tường cho biết: tối qua (18/12) an ninh công an Hải Phòng đã đến gặp chị Bích đề nghị tang lễ chỉ nên làm trong phạm vi gia đình, tránh những chuyện quá khích. Đang trò chuyện thì có tin báo là hai vòng hoa của Văn Đoàn và Diễn Đàn Paris bị bắt gỡ băng. Mọi người kéo ra chỗ để vòng hoa xếp trong ngõ và được yêu cầu gỡ băng ra. Thì gỡ, nhưng vòng hoa vẫn được giữ lại đem vào viếng.

Lễ viếng bắt đầu lúc 11h. Gia đình anh Tấn đã thuê công ty dịch vụ tang lễ Thiên Thảo nên việc tổ chức lễ viếng, lễ tang, lễ an táng khá bài bản, chu tất, tuy có một thiếu sót vô cùng đáng tiếc và ân hận tôi sẽ nói sau. Quan tài anh Tấn để khuất sau bàn thờ, người viếng không đi vòng quanh xem mặt anh lần cuối, chắc đây là phong tục ở từng nơi. Các đoàn đến viếng đầu tiên rất đông. Loa xướng tên từng người, từng đoàn. Đến lượt Cánh Buồm xong thì bỗng nghe “Xin mời đoàn Diễn Đàn Paris vào viếng”. Thế là vòng hoa của Diễn Đàn, của Văn Đoàn cùng được đưa vào đặt trước bàn thờ anh Tấn tuy không có dải băng ở trên. Nhưng khi viếng xong nghe trong loa lời cảm ơn thì có nhắc tới Văn Đoàn. Đến lượt tôi đăng ký Hội Nhà văn Hà Nội và cùng Đỗ Phấn mang cả bốn vòng hoa vào. Sáng hôm sau tôi còn đặt thêm một vòng hoa nữa và khi mang viếng loa đã vang to “nhà báo Huy Đức và nhà thơ Đỗ Trung Quân vào viếng”. Hội Nhà văn Việt Nam xuống viếng vào chiều muộn, đoàn do nhà văn Nguyễn Trí Huân Phó chủ tịch Hội dẫn đầu, viếng xong là về. Thoáng chốc lối ngõ 800 Thiên Lôi đã chật đầy các vòng hoa viếng mà hoa vẫn cứ được mang tới, mà các đoàn người vẫn đang đến. Nhìn các vòng hoa dọc lối đi tôi thấy có của gia đình tướng Trần Độ. Vừa lúc Khánh Trâm (con dâu vị tướng) điện đến, tôi nói có thấy vòng hoa gia đình cụ Độ rồi, Trâm bảo còn một vòng hoa nữa đề là “Câu lạc bộ Lê Hiểu Đằng kính viếng” đã bị bắt bỏ băng rồi anh ạ. Vậy là có ba vòng hoa viếng bị bắt gỡ băng xuống, cho đến lúc ấy. Có vòng hoa của gia đình nhà văn Nguyên Hồng, gia đình nhà thơ Hoàng Hưng, của bogger Hiệu Minh, của Quán Văn TPHCM, của Phòng Văn hóa Văn nghệ Ban tuyên giáo thành ủy Hải Phòng. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Đinh La Thăng gửi vòng hoa viếng do có người con rể của anh Tấn là Giám đốc một công ty thuộc Bộ. Nhiều lắm những vòng hoa tươi cho linh hồn anh Tấn khi kết thúc tang lễ đã có 368 đoàn đến viếng, trong đó có nhiều đoàn đi hai ba vòng hoa đại diện cho nhiều người nơi xa không tới được bên anh giờ phút cuối.

Ban tang lễ nhà văn Bùi Ngọc Tấn gồm 7 người do ông Phó chủ tịch mặt trận phường làm Trưởng ban, và gồm Tổ trưởng Tổ dân phố 59, đại diện khu dân cư ngõ 800, trưởng tộc họ Bùi, anh Dương Tường, tôi, và Hiến đại diện gia đình. Lúc đầu anh em nghĩ đơn giản là khi làm lễ truy điệu thì tôi dẫn, anh Dương Tường đọc điếu văn. Nhưng tối 19/12 gia đình cho biết là ông Giám đốc công an thành phố Hải Phòng, tướng Đỗ Hữu Ca, đã đến nhà yêu cầu để điếu văn cho tổ trưởng tổ dân phố đọc. Chúng tôi bất ngờ. Bài điếu văn anh Tường viết ngắn nhưng ẩn chứa nhiều cảm xúc, suy nghĩ, câu chữ nặng lòng nặng tâm tưởng. Dương Tường, người bạn thân thiết hơn nửa thế kỷ chia sẻ buồn vui hoạn nạn của Bùi Ngọc Tấn, viết điếu văn bạn mình không kể tiểu sử, cuộc đời anh Tấn, mà nói lên vị trí của anh Tấn đối với Hải Phòng, đối với Việt Nam trong văn chương, một vị trí có thể làm vinh dự cho nước nhà trên thế giới. Bài điếu văn đó chỉ có thể được đọc do chính người viết ra nó, không ai khác. Chúng tôi bàn tính mấy khả năng: không đưa bài điếu văn của anh Tường cho bà tổ trưởng dân phố đọc, bà ấy có đọc bài khác thì đọc, sau đó anh Tường sẽ đọc tiếp bài của mình thay mặt gia đình bạn hữu văn chương, còn nếu không được đọc bài đó ở lễ truy điệu thì khi hạ huyệt ở nghĩa trang sẽ đọc. Mọi người lo nghĩ đến tình huống xấu nhất sẽ xảy ra sự can thiệp thô bạo của công an tại lễ truy điệu ngay trước linh cữu anh Tấn quanh việc đọc điếu văn. Nhưng đến sáng 20/12, trước vài giờ lễ truy điệu, chúng tôi được tin anh Tường vẫn sẽ đọc bài điếu văn của mình.

Và nhà thơ Dương Tường đã đọc bài điếu nhà văn Bùi Ngọc Tấn bằng một giọng trầm hùng, khỏe khoắn, nhấn vào từng câu từng chữ. Bài điếu chỉ có gần năm trăm con chữ, nhưng anh Tường đã chất vào đó cả một thân phận đời người đời văn trên trần thế 80 năm của anh Tấn, chất vào đó cả số phận của một thế hệ các anh “cùng một kiếp bên trời lận đận” say lý tưởng và vỡ mộng tưởng, chất vào đó cả số kiếp văn nhân văn chương nhiều lao đao lận đận với nhân dân, đất nước. Thường ngày anh Tường nói khó nhọc, đứt quãng, nhưng trước linh cữu bạn mình, trước đông đảo thân bằng cố hữu của anh Tấn và trước những người dân ngõ xóm láng giềng nhà con anh có thể chưa biết anh Tấn là ai, giọng anh Tường đã vang to, rành mạch, rõ ràng, được loa truyền đi càng vang vọng:

Thưa…

Tôi được gia đình tang quyến tin cậy uỷ thác cho trọng tách đọc lời điếu trong lễ tang này.

Hôm nay, chúng ta tiễn đưa một con người mà sự ra đi không chi là một mất mát không gì bù đắp nổi đối với gia đình, người thân và bạn bè, mà còn để lại một trống vắng mênh mông trong địa lý văn học nước nhà. Người mà chúng ta vĩnh biệt hôm nay là công dân Bùi Ngọc Tấn, một người con đáng tư hào của Hải Phòng, hội viên danh dự Hội Văn Bút quốc tế, từng đoạt 2 giải Văn chương quốc tế có uy tín.Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời, đã kiên cường vác cây thập giá của mình chứ không kéo lê nó. Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lớn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Vâng, Hải Phòng có người con như thế đó.

Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.

Hôm nay, đi sau linh cữu Bùi Ngọc Tấn, tôi tin rằng cùng với chúng ta bằng xương bằng thịt, còn có cả một dòng sông vô hình hàng triệu độc giả trong và ngoài nước tiễn biệt nhà văn yêu thương. Và rồi đây, ở nơi yên nghỉ cuối cùng của nhà văn, những ngày tới, những tháng tới, những năm tới, sẽ còn những người từ xa tới đặt hoa tưởng niệm, như khách bốn phương khi đến Paris vẫn thường tìm đến nghĩa trang Père-Lachaise đặt một bông hồng lên mộ Hugo, Balzac hay Flaubert…

Đọc xong, anh Tường đặt bản văn điếu lên quan tài anh Tấn, chỗ nắp che mặt anh nằm trong. “Thôi, Tấn đi!”, anh Tường nói rồi khóc nấc lên. Cả khối người trong nhà ngoài sân cùng lặng phắc xúc động. Phút giây ấy tôi nghĩ anh Tấn được thỏa nguyện và linh hồn anh còn vương vấn nơi đây sẽ mỉm cười đôn hậu như anh vốn đôn hậu một đời.

Phút chót vẫn còn những bạn văn từ Hà Nội xuống kịp tiễn đưa anh.

Đúng 10h ngày 20/12/2014 lễ di quan bắt đầu. Quan tài anh Tấn được đưa đi giữa dòng người dòng hoa. Công an dẹp lối, dẫn đường. Dòng người hoa kéo dài đưa anh về lại ngôi nhà của anh ở 10 Điện Biên Phủ, quận Ngô Quyền. Công an đã túc trực ở đó, hướng dẫn giao thông, và canh gác. Thắp hương cho anh tiễn biệt nơi cư ngụ trần thế của mình xong, đoàn tang đi về nghĩa trang Ninh Hải. Một nghĩa trang rộng rãi, phong cảnh thoáng đãng, “không có mùi âm khí” như nhận xét của anh Dương Thụ. Nắng đông hanh vàng bừng sáng chứng kiến giờ phút thân thể nhà văn Bùi Ngọc Tấn về đất. Anh sẽ nằm đây ba năm, sau đó cất bốc đưa về quê ở thôn Câu Tử ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng). Tôi là người đầu tiên ném nắm đất xuống huyệt mộ anh. Quay ra, anh Nguyễn Quang A vẫy lại, lấy ra cái băng đề “Diễn đàn xã hội dân sự kính viếng” cài lên một vòng hoa (Đây là băng anh Quang A thủ sẵn thêm vì cái băng đính trên vòng hoa vào viếng cũng đã bị gỡ, vậy là có bốn vòng hoa không có băng tang). Vòng hoa ấy đã cùng bao vòng hoa khác được đắp lên mộ anh Tấn trong khói hương tỏa ngát. Tôi là người gần sau hết thắp hương cho anh trước mộ. Anh Tấn ơi, em vĩnh biệt anh, người anh người bạn vong niên như người ruột thịt mà em may mắn được quen thân trong mười lăm năm qua, cùng bên em vĩnh biệt anh đây có bao nhiêu người khác nữa nhờ em chuyển tới anh lời yêu thương quý trọng và mong anh thanh thản ở cõi trời khác. Tôi nghẹn ngào và nhà nhiếp ảnh Xuân Bình đứng bên tôi từ lúc nào cũng nghẹn ngào. Chúng tôi khóc cho Hải Phòng và cho chúng tôi từ nay đã mất Bùi Ngọc Tấn.

Trước đó, khi mọi người đang cắm hương trên mộ anh Tấn, tôi nhận được cuộc gọi của Mặc Lâm đài RFA đang thường trú ở Thái Lan. Anh Mặc Lâm hỏi tôi câu thứ nhất về tiểu thuyết Chuyện kể năm 2000 của anh Tấn.

Tôi nói: “Trước hết, đây là một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết tiểu thuyết chứ không phải tự truyện hay hồi ký, mặc dầu nhân vật lấy từ chính cuộc đời của anh, năm năm lao tù của anh, nhưng là tiểu thuyết và do vậy kinh nghiệm cá nhân của Bùi Ngọc Tấn cộng với kinh nghiệm bạn tù và những kinh nghiệm quan sát của một nhà văn trong đời sống xã hội nó hun đúc lên thành hình tượng, thành nhân vật và do đó sức khái quát nó lớn hơn. Sức thuyết phục, tác động nó mạnh hơn. Trong đám ma của ông hôm nay rất nhiều bạn bè văn chương cũng khẳng định như thế, đây là một tác phẩm có thể nói là một bước ngoặt của văn học Việt Nam. Một tác phẩm sẽ sống lâu và còn giúp cho mọi người đọc nó nhận biết thực tại đời sống xã hội Việt Nam trong 50 năm  của nửa cuối thế kỷ 20. Sau nữa, điều quan trọng là tâm thế của Bùi Ngọc Tấn trong tác phẩm này cũng như các tác phẩm khác của anh từ khi anh trở lại văn đàn là một sự nhân hậu ấm áp. Khi đã trải qua những năm tháng trong nhà tù khắc nghiệt như vậy mà có giọng hằn học, cay độc thì cũng là lẽ tất nhiên nhưng không, ông đã chọn nói về những sự thật đó, nói về những nỗi đau của con người, về những vấn đề xã hội nhân sinh bằng một giọng văn nhân hậu, ấm áp, mà đọc vào khiến người ta xúc động và càng thấy sự chân thực toát lên và nhờ đó sự thật của đời sống của văn chương nó đạt được hiệu quả”. Câu thứ hai Mặc Lâm hỏi về con người trong đời sống của Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói: “Kể từ khi tôi quen biết và trở nên thân thiết như một người em một người bạn vong niên thì tôi thấy anh Tấn một nhà văn hết sức nhân hậu, nồng hậu, ấm áp, biết hài hước mặc dù luôn luôn đau đáu về cuộc sống, văn chương. Bất kỳ ngồi với với ai đều không thấy anh dùng giọng cha chú, bề trên hay gì cả. Rất nhiều người trẻ cả độc giả lẫn người viết trẻ đều cảm nhận ở anh Bùi Ngọc Tấn một sự hòa đồng, bình đẳng và tin cậy ngay khi được gặp anh. Tin cậy trên trang viết và tin cậy trong cuộc sống”.

Trong bữa cơm trưa cùng gia đình sau đám tang, tôi bất chợt nhớ ra một cái thiếu mà công ty dịch vụ tang ma không làm, mà tất cả chúng tôi đều không nhớ ra để làm. Đó là không có SỔ TANG. Trời ơi, sao xảy ra cơ sự này! Sổ tang là một vật không thể thiếu trong mọi đám ma, ngay cả những người bình thường nhất mất đi khi tang lễ cũng đều có sổ tang cho người đến viếng lưu lại những lời chia buồn. Vậy mà đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn không có sổ tang. Bao nhiêu lời thương tiếc, kính trọng, đánh giá của bao người yêu quý anh lẽ ra đã được ghi lại ngay trong lúc đau thương này để gia đình trân trọng biết ơn tự hào về anh, để lịch sử văn học có cứ liệu về anh từ người đương thời. Vậy mà không có sổ tang trong đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Tôi nói ra điều này mọi người đều sững sờ, ân hận. Tôi tự trách mình lắm, sao lo việc tang ma cho anh mà lú lẫn để không chú ý một việc quan trọng như vậy, mãi khi anh mồ yên mả đẹp rồi mới nhớ ra. Hay đấy vẫn là số phận của anh, anh Tấn, để những người sống sẽ còn phải nói nhiều về anh mai ngày nữa. Như trong những ngày tang, mỗi khi ngồi lại với nhau, anh em bạn bè còn bàn thảo nào là phải tập hợp di cảo của anh để xuất bản, nào là phải có kế hoạch biến ngôi nhà anh tại 10 Điện Biên Phủ thành một bảo tàng tư nhân Bùi Ngọc Tấn, nào là có thể sau này có một đường phố Hải Phòng mang tên Bùi Ngọc Tấn, nào là… Anh mà nghe thấy được có thể từ bức ảnh kia anh nói vọng ra: gượm đã các cậu, chờ cho tớ qua 49 ngày rồi có gì ta tính, giờ thì tớ chỉ muốn thảnh thơi đi gặp ông anh Nguyên Hồng hàn huyên thôi. Anh hiểu bạn bè và bạn bè hiểu anh mà!

Trên xe về lại Hà Nội, nhạc sĩ Dương Thụ hỏi nhà văn Nguyên Ngọc: khi đưa tang một người anh nghĩ đến điều gì nhất? Anh Ngọc trả lời: mọi người hay nói về ngày tận thế, mình thì thấy một người mất đi chính là tận thế, vì khi ấy vũ trụ đã mất với người đó. Tôi muốn thêm: và vũ trụ cũng mất người đó rồi. Từ 6h15 ngày 18/12/2014 (27/10 Giáp Ngọ) Hải Phòng đã mất Bùi Ngọc Tấn, văn học Việt Nam đã mất Bùi Ngọc Tấn.

Chủ Nhật 21/12/2014

P.X.N.

.

.

.

Việc giật băng tang lại diễn ra tại đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn (Nguyễn Quang A)

Tháng Mười Hai 22, 2014

.

.

Việc giật băng tang lại diễn ra tại đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn

Nguyễn Quang A

22/12/2014

http://boxitvn.blogspot.com/2014/12/viec-giat-bang-tang-lai-dien-ra-tai-am.html

.

.

Chuyện an ninh giật băng tang của một số vòng hoa tại đám tang Luật sư Lê Hiếu Đằng, một thành viên trong Nhóm cố vấn của Diễn đàn XHDS,  một năm trước mọi người đã biết. Các nhân sĩ lúc đó đã làm lại các băng tang để gắn vào.

Năm nay tại đám tang nhà văn Bùi Ngọc Tấn, ở Hải Phòng, việc đó lại diễn ra. Ngày 19-12-2014 băng tang các vòng hoa của Diễn đàn (Paris) và Ban Vận động Văn đoàn Độc Lập Việt Nam đã bị giật đi, và 2 đoàn đã vào viếng với các vòng hoa bị mất băng tang

Vòng hoa viếng của Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN bị tước băng tang có dòng chữ “ Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN Vô cùng thương tiếc.

http://lh5.ggpht.com/-Lv2BBlXL56c/VJgZ2MYMv_I/AAAAAAAA0sk/afxtWF3kX9U/clip_image001%25255B4%25255D.jpg?imgmax=800

Nghe Nhà văn Nguyên Ngọc thông báo tôi hỏi anh: “Sao không có băng tang thứ 2 để gắn vào như các anh đã làm ở Sài Gòn trong đám tang LS Lê Hiếu Đằng?” Anh bảo ở Hải Phòng tưởng văn minh hơn, và cũng không có anh em thông thạo như ở Sài Gòn nên đã không nghĩ đến.

Sáng 20-12-2014 chúng tôi xuống Hải Phòng sớm. Đặt mua vòng hoa và đặt 2 băng tang hệt nhau. Cô bán hoa ngạc nhiên hỏi 1 hay 2 nhưng chúng tôi chỉ nói 2 chứ không giải thích.

Cô làm xong 2 băng tang, gắn 1 băng vào vòng hoa và 1 gói lại cẩn thận kèm theo đủ đinh ghim. Chúng tôi đút vào túi. Và đi đến tang gia.

Từ đường vào đến nơi viếng khoảng 50-70 mét đầy công an, một số mang mặc sắc phục, đa số mặc thường phục. 1 người để ngửa vòng hoa và đội trên đầu mang vào nên chẳng ai nhìn thấy băng tang. Đến chỗ đăng ký thì có 1 nhân viên ngồi sát để chụp hình nhưng chưa kịp ra tay thì vòng hoa được mang vào và chúng tôi đã viếng nhà văn Bùi Ngọc Tấn với vòng hoa đầy đủ.

Sau đó vòng hoa được mang ra ngoài để cùng các vòng hoa khác thì băng tang của Diễn đàn XHDS cũng bị giật mất.

Xe tang và đoàn người viếng đi một vòng thành phố Hải Phòng, từ nơi viếng theo một đường về nơi Nhà Văn Bùi Ngọc Tấn đã ở, rồi từ đó theo một đường khác ra đến nghĩa trang để Anh Tấn nhìn lại thành phố thương yêu của mình. Anh còn được đoàn cảnh sát “dẹp đường” hộ tống suốt đường cho đến nghĩa trang. Tại đó xe hoa dỡ các vòng hoa xuống để đưa đến mộ. Chúng tôi lấy lại vòng hoa đã bị giật mất băng tang và gắn băng tang thứ hai vào và mang đến mộ anh như chưa hề có chuyện gì xảy ra.

Hình :

http://lh4.ggpht.com/-a9LU81KyNbw/VJgZ3HNzvQI/AAAAAAAA0ss/A34E9y0eKbE/clip_image003%25255B4%25255D.jpg?imgmax=800

http://lh6.ggpht.com/-BEkjaQzYgeo/VJgZ37mCe7I/AAAAAAAA0s0/RonZYeKGtQw/clip_image005%25255B4%25255D.jpg?imgmax=800

http://lh5.ggpht.com/-g6nbMT1jrkw/VJgZ48O5FCI/AAAAAAAA0s8/EsGEdbzz0cg/clip_image007%25255B4%25255D.jpg?imgmax=800

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, thành viên từ ngày đầu tiên của Diễn Đàn XHDS. Khi mọi người đề nghị anh vào nhóm cố vấn Anh Tấn đã khéo léo từ chối “mình đang phải hoàn tất cuốn sách cuối cùng, nên muốn lắm nhưng không thể tham gia” và tuần tới cuốn sách Thời biến đổi gen của Anh sẽ ra mắt bạn đọc.

N.Q.A.

Nguồn: http://danquyenvn.blogspot.fr/2014/12/viec-giat-giat-bang-tang-lai-dien-ra.html

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 20:17

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 40 other followers