ĐIỂM TIN THỨ HAI 3-8-2015

Tháng Tám 3, 2015

.

.

ĐIỂM TIN THỨ HAI 3-8-2015

.

.

Dân Luận điểm tin thứ Hai ngày 03/08/2015

Dân Luận tổng hợp

04/08/2015

https://www.danluan.org/tin-tuc/20150803/dan-luan-diem-tin-thu-hai-ngay-03082015

.

Dân Luận : Phần điểm tin sẽ được cập nhật thường xuyên từ 8h sáng tới 20h khuya mỗi ngày. Độc giả có thể gợi ý tin cần điểm cho Dân Luận bằng cách bấm vào đây: Gợi ý điểm tin.

CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI

– Việt Nam hoàn tất đàm phán song phương trong TPP (Vnexpress): Toàn bộ đàm phán song phương với các nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được đoàn Việt Nam hoàn thành ngay tuần qua, theo Bộ Công Thương.

– 1.400 tỷ đồng xây công trình tượng đài Bác Hồ với đồng bào Tây Bắc (Bizlive): Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La vừa ra Nghị quyết thông qua Đề án xây dựng tượng đài Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc gắn với quảng trường tại TP. Sơn La, tổng mức đầu tư là 1.400 tỷ đồng.

– Hoàn tất trùng tu tháp Chăm E7 ở Mỹ Sơn (Vnexpress): Sau 4 năm trùng tu dựa trên phương pháp của chuyên gia Italia, Viện Bảo tồn di tích đã hoàn tất tu bổ tháp Chăm E7 tại Mỹ Sơn với tổng kinh phí 9 tỷ đồng.

– Đặng Xuân Diệu – tròn 4 năm bị bắt và những điều chưa kể (DanLamBao): Giờ này 4 năm trước, đúng vào ngày 30 tháng 7 năm 2011, tôi đang ở nhà một mình thì bất ngờ nhận được tin báo nói rằng người anh họ thân thiết của tôi – anh Đặng Xuân Diệu đã bị CA bắt tại sân bay Tân Sơn Nhất.

– Việt Nam né tránh trong vụ phát nhầm nhạc Trung Quốc? (VOA): “Bộ Quốc phòng Việt Nam mới thông báo “xử lý nghiêm túc” nhóm thực hiện chương trình “Khát vọng đoàn tụ” vì “sử dụng một đoạn nhạc nước ngoài”. – Xử lý sai sót đưa nhạc nước ngoài vào chương trình “Khát vọng đoàn tụ” (Tuổi Trẻ): Ban Giám đốc Trung tâm Phát thanh-Truyền hình Quân đội đã bị khiển trách và kíp thực hiện chương trình “Khát vọng đoàn tụ” tối 27-7 bị xử lý nghiêm vì sử dụng đoạn nhạc nước ngoài trong chương trình.

– Không có ‘vùng cấm’ thông tin về sức khỏe lãnh đạo (VNN): Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son khẳng định, lãnh đạo Đảng, Nhà nước là người của công chúng. Dân quan tâm sức khỏe của lãnh đạo là việc sức bình thường. Để đáp ứng tình cảm của dân, không để thế lực thù địch lợi dụng, cần phải thông tin nhanh, kịp thời.

– Không có ‘vùng cấm’ thông tin về sức khỏe lãnh đạo (VietnamNet): Chỉ có vùng… kín!

– Hà Nội: Người đàn ông tử vong sau 2 ngày ở trụ sở công an (Dân Trí): Sau hơn 2 ngày anh Trường bị giữ tại trụ sở Công an huyện Quốc Oai, gia đình anh này được công an thông báo anh đã tử vong.

– Tướng Thanh ‘thoắt ẩn, thoắt hiện’, thuyết âm mưu nở rộ (VOA): “Sự xuất hiện và biến mất của Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh trong cùng một đoạn clip của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) về cuộc họp thường kỳ của chính phủ Việt Nam lại thổi bùng những đồn đoán về sự đấu đá chính trị trong hàng ngũ lãnh đạo Việt Nam hiện thời.”

– Nước dâng cao, xã Việt Hải biến thành biển hồ (Vnexpress): “6 ngày qua, người dân xã Việt Hải, huyện Cát Hải (Hải Phòng) vẫn bị cô lập do mưa lớn, nước dâng cao, khiến đường bộ bị chia cắt. Việc di chuyển từ xã ra bên ngoài phải bằng thuyền, bè nổi hoặc tự bơi…”

– Vậy thế nào mới là bất bình thường? (Lao Động): Luật Ngân sách nhà nước cho phép vay ngắn hạn trong trường hợp ngân sách thiếu hụt tạm thời, nhưng thật khó để nói là bình thường với việc ngân sách phải vay mượn để bù đắp bội chi. Bởi điều đó đang phản ánh những khó khăn triền miên của ngân sách, trong một tình trạng “thu không đủ chi” – hay nói như dân chúng là “giật gấu vá vai”.

– TP.HCM cần tiền hay cần quyền? (PLO): Cái mà TP.HCM và các thành phố lớn cần không chỉ là tiền mà còn là cơ chế tự chủ rộng lớn để phát triển kinh tế-xã hội, tương xứng với tiềm năng của mình.

– Quyết liệt hơn để bảo vệ ngư dân (NLĐ): “Đây là đề nghị của ông Võ Văn Trác, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nghề cá Việt Nam, sau khi tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi liên tiếp bị tàu Trung Quốc tấn công”. – Tàu cá ngư dân bị tấn công: Hành động của TQ ngày càng nguy hiểm (NguoiDuaTin): “Chỉ trong tháng Bảy, có đến 3 vụ tàu cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc tấn công một cách dã man. Điều đáng lo ngại, các hành vi của tàu Trung Quốc đều mang tính triệt hạ.”

– Nướng tiền dân (NLĐ): Theo Nghị quyết 78/2014/QH13 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2015, năm nay tổng thu dự kiến đạt 911.100 tỉ đồng, tổng chi 1.147.100 tỉ đồng, bội chi 226.000 tỉ đồng (5%). Vốn xây siêu bảo tàng chiếm xấp xỉ 5% khoản bội chi này, đâu phải ít. Cũng cần biết thêm tỉ lệ nợ công năm nay sẽ chạm ngưỡng 64% GDP; hiện chúng ta đang nợ nước ngoài 85 tỉ USD, tính trung bình mỗi người dân hiện gánh 937 USD tiền nợ.

– Công an sẽ thay Bộ Tài chính quản lý dịch vụ đòi nợ thuê (NLĐ): “Cơ quan công an sẽ thay Bộ Tài chính giám sát hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ thuê là nội dung chính của dự thảo thông tư liên tịch của Bộ Công an và Bộ Tài chính vừa công bố.”

– Bi hài trình độ quan xã (NLĐ): “Do thiếu trình độ nên không ít quan xã phải mua bằng, chạy chức, gây ra những chuyện dở khóc dở cười và làm khổ dân”

– Cầu dây văng hiện đại nhất TPHCM bị nứt nghiêm trọng và nguy cơ sập? (NLĐ): “Trên mạng xã hội xuất hiện một tấm ảnh do bạn đọc chụp được, cho thấy cầu dây văng Phú Mỹ (nối Q 2 với Q.7), bị hở nghiêm trọng và có nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào. – Bác bỏ thông tin cầu 3.000 tỷ ở Sài Gòn lún nứt (VNN): Ngày 2/8, ông Nguyễn Thành Thái, Phó chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư xây dựng Phú Mỹ (PMC – chủ đầu tư cầu Phú Mỹ) khẳng định, không hề có chuyện nứt cầu Phú Mỹ như thông tin mà các trạng mạng xã hội đã đăng tải. – Đề nghị cơ quan chức năng xử lý vụ loan tin thất thiệt ‘nứt cầu Phú Mỹ’ (MotTheGioi ): “””Thông tin này (về việc nứt cầu Phú Mỹ) đã gây tâm lý hoang mang trong dư luận, chúng tôi sẽ đề nghị cơ quan chức năng vào cuộc xử lý”, ông Nguyễn Thành Thái Phó Chủ Tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty CP Đầu tư xây dựng Phú Mỹ (PMC – chủ đầu tư) đề nghị.”

– Tranh luận lý và tình của việc tịch thu bình trà đá miễn phí (Tuổi Trẻ): Lý và tình khi tịch thu bình trà đá miễn phí, thêm 3 người chết, mưa lũ vẫn phức tạp ở miền Bắc, bắn chết người ở Phú Quốc: mâu thuẫn từ trước?… là những tin đáng chú ý ngày 2-8. – Tịch thu bình trà đá từ thiện: thi hành luật một cách cứng nhắc (Thanh Niên): “Thông tin ‘Công an phường tịch thu trà đá miễn phí cho người nghèo’ trở thành đề tài xôn xao mấy ngày nay. Vì sao thông tin này được mọi người quan tâm như vậy?” – Di sản tình người và câu chuyện bình trà miễn phí (Thanh Niên): “Ở Sài Gòn, mấy chục năm nay, người ta quen với hàng trăm bình trà miễn phí trên khắp nẻo đường của thành phố. Bởi vì, dẫu là thành phố đứng đầu cả nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đóng góp ngân sách, nhưng ở đây cũng có hàng trăm ngàn người nghèo, mỗi ngày vẫn mưu sinh trên hè phố.”

– Người Sài Gòn là như thế sao? (NLĐ): Va quẹt một chút là cãi rồi đâm chém nhau như phim xã hội đen. Lơ khi người khác gặp tai nạn. Hiện tượng này đang phổ biến ở thành phố từng được nhiều người nhận xét là thân thiện, vui vẻ, thoải mái. Người Sài Gòn giờ là thế sao?

– Lập mạng xã hội không phép, công ty phần mềm bị phạt (Tuổi Trẻ): Công ty TNHH dịch vụ phát triển phần mềm Trí Tuệ Việt (trụ sở tại TP Vinh, Nghệ An) bị phạt 200 triệu đồng do cung cấp, quảng cáo game G1 chưa duyệt nội dung và thiết lập mạng xã hội không có giấy phép.

– Chuyện lạ’ về cảnh sát giao thông Đà Nẵng (VNN): Nhiều người từ nơi khác đến TP. Đà Nẵng khi vi phạm luật giao thông như chạy vào đường cấm, đậu đỗ trái phép… chỉ bị lực lượng CSGT “hỏi thăm” và nhắc nhở. Thậm chí, còn được hướng dẫn tận tình để lần sau không tái phạm. Đó là ‘sự tử tế’ mà nhiều người bảo rất hiếm gặp

– Thưa chúa đảo! Dân vùng lũ không cần siêu xe, khách sạn 5 sao… (PetroTimes): Những tuyên bố “mạnh miệng” nhưng ít thực tế không chỉ khiến người dân không được “hưởng phúc”, mà đôi khi khiến những người đang chịu thiệt thòi thêm chạnh lòng.

– Điện miền Nam sẽ căng thẳng nếu thiếu than để phát điện (Tuổi Trẻ): Đó là khẳng định của một lãnh đạo Tổng công ty Phát điện thuộc EVN về tình trạng Tập đoàn Công nghiệp than – khoáng sản VN (TKV) giảm lượng cung ứng than cho các nhà máy nhiệt điện vì mưa lũ.

– Phá đập tràn sông Sinh để xả lũ, cứu dân khẩn cấp (Dân Trí): Quá sức chịu đựng của trận mưa “khủng khiếp”, mỗi giờ lũ lại dâng cao hơn đe dọa nhấn chìm tiếp 200 hộ dân, hàng trăm nhân khẩu tại 2 phường Quang Trung, Thanh Sơn (TP Uông Bí), lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đã xuống lệnh phá đập tràn sông Sinh để thoát lũ cứu dân khẩn cấp. – 7 ngày “càn quét” miền Bắc, mưa lũ làm chết 22 người (Dân Trí): Sau 7 ngày “càn quét” ở miền Bắc (từ 27/7-2/8), trận mưa lũ lịch sử đã làm chết 22 người, 36 người bị thương, 9.133 ngôi nhà bị nhấn chìm và thiệt hại nhiều về tài sản khác, cuốn trôi hàng nghìn tỷ đồng.

– Xử phạt qua camera giám sát trên cao tốc từ 1/10 (VNN): Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hồng Trường vừa yêu cầu xử phạt vi phạm giao thông qua camera giám sát, thí điểm trên tuyến cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ và Nội Bài – Lào Cai (đoạn Nội Bài- Phú Thọ) từ 1/10 tới.

– Công trình 69 tỉ vốn ODA của Sở NN&PTNT Hà Tĩnh vừa xong đã hỏng! (Hà Tĩnh): Một công trình có nguồn vốn vay ODA, trị giá gần 70 tỷ đồng vừa mới thi công xong đã hư hỏng, xuống cấp nghiêm trọng. Đó là thực tế đã và đang xảy ra tại công trình “Nâng cấp, sửa chữa hệ thống sông Rác” – một công trình do Sở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh làm chủ đầu tư

KINH TẾ

– Chứng khoán sáng 3/8: “Lũ quét” mang tên TPP (VnEconomy): Nhà đầu tư lo sợ cắt lỗ rất mạnh tay trên toàn thị trường, không chỉ với các cổ phiếu liên quan đến TPP…

– Nhập khẩu ôtô nguyên chiếc đã đến giới hạn? (VnEconomy): Dù trong bối cảnh sôi động thì dường như sức mua cũng đã bắt đầu đạt “ngưỡng” rất khó vượt qua…

– Đàm phán TPP: chỉ còn vướng 2% (Tuổi Trẻ): Cuộc họp cấp bộ trưởng 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã không thể đạt được thỏa thuận cuối cùng dù trước đó rất được kỳ vọng thành công.

– Nợ thuế cả nước đã lên tới 74.000 tỉ đồng (Tuổi Trẻ): Theo Bộ Tài chính, tổng số tiền nợ thuế trên cả nước đến nay đã lên tới 74.000 tỉ đồng, gấp đôi chỉ tiêu cho phép.

– ‘Bêu’ nợ thuế, cũng phải ‘bêu’ nợ hoàn thuế! (Thanh Niên): “Việc Bộ Tài chính nêu tên các doanh nghiệp nợ thuế là cần thiết, nhưng để bình đẳng, cũng phải công khai các cơ quan, địa phương, cán bộ chậm hoàn thuế, chậm thanh toán vốn xây dựng cơ bản…”

– Thị trường bất động sản Việt Nam: Khó khăn đã qua (Thanh Niên): Bong bóng tan vỡ cách đây 4 năm đã qua. Thị trường bất động sản Việt Nam giờ đây được hâm nóng với hai dự án tòa nhà thuộc hàng cao nhất thế giới và nhiều người mua đổ xô đến các dự án. Theo Reuters, tốc độ chuyển mình của thị trường bất động sản nước ta là đáng ngạc nhiên.

– Chợ xây 55 tỉ đồng vắng như chùa Bà Đanh (NLĐ): “Được khánh thánh hơn bốn tháng qua thế nhưng đến nay chợ mới Đức Phổ (Quảng Ngãi) có vốn đầu tư 55 tỉ đồng vẫn vắng bóng tiểu thương buôn bán.”

– Người dân có được lợi khi giá điện còn 3 bậc? (Tuổi Trẻ): Biểu giá điện bậc thang lũy tiến từ 6 bậc có thể giảm còn 3 bậc. Nếu giảm số bậc nhưng hệ số cho mỗi bậc vẫn cao thì người sử dụng điện sinh hoạt có được lợi?

– Cà phê trứ danh Đà Lạt teo tóp (NLĐ): Cà phê Arabica của TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vừa được “ông lớn” Starbucks (Mỹ) công nhận là 1 trong 7 loại cà phê ngon trên thế giới và được bày bán trong hệ thống cửa hàng của tập đoàn này trên toàn cầu. Đây là tín hiệu vui cho cà phê Đà Lạt nói riêng và cà phê Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, diện tích của loại cà phê này hiện không còn nhiều, sản lượng hằng năm không đáng kể.

– Mắc ca chết yểu, sachi “lên hương” (NLĐ): Trong khi “hoàng hậu của các loại hạt” mắc ca đang ngắc ngoải thì “vua hạt” sachi đã xuất hiện ở Việt Nam, được quảng bá còn triển vọng hơn cả “cây tỉ đô”!

– Hà thành sốt đất “kim cương” sắc màu trồng cây cảnh (Dân Trí): “Đất tinh thể với 12 sắc màu đang được dân Hà thành mê mẩn, chọn để trồng rau sạch. Tuy nhiên, loại đất này không rõ nguồn gốc xuất xứ, chưa được cơ quan chức năng xác nhận là an toàn… nên tiềm ẩn rủi ro cho người dùng.”

– Được lên sếp ngân hàng: Đại gia gặp hạn tù tội (VNN): Khi ông Nguyễn Xuân Sơn bị bắt vì những sai phạm thời làm Tổng Giám đốc OceanBank cùng với số phận của ông Phạm Công Danh, Tạ Bá Long mới thấy ngân hàng là cuộc chơi đầy rủi ro.

PHÁP LUẬT

– Truy bắt nghi can nổ súng trong quán bia ở Phú Quốc khiến 2 người chết (Thanh Niên): Trưa 2.8, đại tá Nguyễn Thanh Nhanh, Trưởng Công an huyện Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) cho biết đang tập trung lực lượng truy bắt nghi can gây ra vụ nổ súng khuya hôm qua (1.8) tại câu lạc bộ bia Lion Garden (Lion Garden Beer Club, đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Dương Đông, Phú Quốc) khiến 2 người chết tại chỗ.

– Khổ vì hoãn tòa không báo trước (Thanh Niên): “Tình trạng hoãn phiên tòa nhưng không báo trước thường xuyên diễn ra khiến những người tham dự khổ sở vì mất nhiều thời gian, chi phí đi lại.”

– Bắt nam sinh 17 tuổi nghi giết bé gái 13 tuổi (VNN): Nghi can Nguyễn Văn Thiên bị bắt giữ chiều 2/8 tại Quảng Bình. Thiên bị tình nghi là đã giết bé gái 13 tuổi cùng trường cách đây 10 ngày tại một khách sạn ở TP.HCM.

KHOA HỌC – GIÁO DỤC

– Trường đại học “xé rào” giành giật thí sinh (Dân Trí): Trong năm đầu tiên áp dụng cách xét tuyển mới, nhiều trường đã “xé rào” giành giật thí sinh. Thậm chí có trường đại học công lập như trường ĐH Xây dựng Miền Tây (Vĩnh Long) khi thí sinh nộp hồ sơ xét tuyển bằng kết quả thi THPT quốc gia đã cấp luôn giấy báo trúng tuyển.

– Đông nghịt thí sinh xếp hàng đi nộp hồ sơ để xét tuyển đại học (Dân Trí): Từ đầu tháng 8, đông đảo thí sinh và phụ huynh đã tới trực tiếp các trường đại học để nộp hồ sơ xét tuyển. Một số thí sinh chia sẻ rằng có biết việc có thể đăng ký xét tuyển nguyện vọng 1 trực tuyến nhưng vẫn muốn đến tận trường nộp cho “chắc ăn”.

– CNTT Việt Nam yếu kém: Tại anh hay tại ả? (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn): Một người không ở trong ngành công nghệ thông tin cũng có thể nhận ra những nghịch lý to lớn của ngành này. Một mặt, chúng ta thường nghe về tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực cho ngành công nghệ thông tin, về các dự án ứng dụng nghe rất to tát, về lượng người khổng lồ đang sử dụng Internet… Mặt khác, trong khi thế giới tiến những bước rất xa trong ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ đời sống, chúng ta vẫn loay hoay và hầu như luôn gặp trục trặc, trở ngại trong các nỗ lực tương tự.

– Cư dân mạng vui vẻ “chế” sự kiện cô giáo cung Bọ Cạp (VNN): Trong 2 ngày cuối tuần, sự kiện cô giáo tiếng Anh nóng giận xưng “mày – tao” với học viên nhanh chóng thu hút sự chú ý của cư dân mạng. Bên cạnh những ý kiến trái chiều, nhiều bạn trẻ đã “chế” các bức ảnh hài hước, các đoạn “mix” âm thanh khiến câu chuyện trở nên thư giãn.

– PGĐ HV Bưu chính: ‘Chúng tôi sẵn sàng gặp cô giáo xưng cung Bọ Cạp’ (VNN): “Đại diện lãnh đạo Học viện Bưu chính Viễn thông cho biết, trong trường hợp cô Lê Na đến, nhà trường sẵn sàng làm việc để tìm hiểu rõ sự việc xem ai đúng, ai sai.”

– Cha của ‘cô giáo bọ cạp': Nghi ngờ clip có sự dàn dựng, cắt ghép (NguoiDuaTin): “Cha của cô giáo Lê Na cho rằng, xảy ra chuyện như trong clip là trong lúc cô Lê Na nóng giận, song theo ông, dù thế nào thí “”đó cũng không phải là ngôn ngữ của người dạy học”.”

– Giáo viên mất việc, nhà tuyển dụng chỉ ‘lấy làm tiếc’? (VNN): Ký hợp đồng với các giáo viên trong gần 3 năm đến khi có văn bản nhắc nhở của thành phố, UBND huyện Sóc Sơn mới dừng việc này và chỉ “lấy làm tiếc”. Trong khi đó, 185 giáo viên hiện đang rơi vào cảnh khốn cùng, bức xúc.

SỨC KHỎE – MÔI TRƯỜNG

– Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu (NLĐ): “Tổng thống Mỹ Barack Obama trong ngày 3-8 dự kiến công bố phiên bản cuối cùng của kế hoạch cắt giảm mạnh mẽ lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ các nhà máy điện chạy bằng than đá trong bước đi nhằm củng cố di sản về chống biến đổi khí hậu của mình.”

– Lũ lụt hoành hành ở châu Á (NLĐ): Chính phủ Myanmar ban bố tình trạng khẩn cấp tại 4 khu vực miền Trung và Tây đang bị lũ lụt tàn phá nặng nề.

THẾ GIỚI – ĐỐI NGOẠI

– Chứng khoán châu Á đồng loạt giảm sau tin xấu từ Trung Quốc (VnEconomy): “Tháng 7 vừa qua, Shanghai Composite Index giảm 14%, đánh dấu tháng giảm mạnh nhất trong gần 6 năm…
Chứng khoán Hy Lạp giảm mạnh (BBC): “Chỉ số chứng khoán Hy Lạp Athex giảm 22,87% trong phiên giao dịch đầu tiên sau khi đóng cửa năm tuần.”

– (BBC): Bộ Tài chính Anh có thể bắt đầu quá trình bán đi một phần cổ phần của chính phủ tại Ngân hàng Royal Bank of Scotland (RBS) từ thứ Hai, theo các nguồn tin của BBC.

– Nhân Quyền và Phát Triển của Việt Nam trong Bang Giao Việt-Mỹ (VOA): Ý đồ của Trung Quốc xâm lấn biển đảo Việt Nam và độc chiếm con đường hàng hải quốc tế đi qua Biển Đông có hệ quả đương nhiên là đẩy chính sách ngoại giao của Việt Nam dần dần xa hơn với Trung Quốc và gần hơn với Mỹ, Nhật… Chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đón sự tiếp trọng thị của chính quyền Mỹ được xem là một cột mốc trong tiến trình chuyển trục của Việt Nam.

– Báo Nga: Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới trang bị tên lửa Bal-E (NguoiDuaTin): “Việt Nam chính là quốc gia thứ hai sau Nga đưa vào trang bị tổ hợp tên lửa phòng thủ bờ biển Bal-E. Và điều này giúp Việt Nam có khả năng bảo vệ bờ biển mạnh hơn bao giờ hết.”

– ​Vấn đề Biển Đông lại nóng ở hội nghị ASEAN (Tuổi Trẻ): Ngày 2-8, các quan chức cấp cao ASEAN nhóm họp tại Kuala Lumpur, thủ đô Malaysia, để chuẩn bị cho Hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN lần thứ 48 (AMM 48) và các hội nghị liên quan. – Trung Quốc cảnh báo chiến tranh trên biển Đông (VOA): Quân đội Trung Quốc lên tiếng cảnh báo về các nguy cơ ngày càng tăng trên biên giới nước này, nhất là trên vùng lãnh hải ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) và biển Hoa Đông.

– Chuyên gia Mỹ lật tẩy chiến lược nguy hiểm trên Biển Đông của Trung Quốc (Dân Trí): Nếu không có một đối trọng đủ mạnh để khiến Trung Quốc phải thận trọng, đảm bảo sự ổn định và tự do hàng hải, Bắc Kinh sẽ dần trở thành bá quyền trong khu vực sau khi quân sự hóa Biển Đông, các học giả quốc tế cảnh báo.

– Trung Quốc kêu ca đang bị đe dọa ở biên giới, Biển Đông (?) (Thanh Niên): Quân đội Trung Quốc kêu ca đang bị đe dọa (?) ở khu vực biên giới của nước này, kể cả vùng Biển Đông và biển Hoa Đông, trong khi cả thế giới đều nhìn thấy Biển Đông dậy sóng là do mối đe dọa từ Bắc Kinh.

– Tướng Trung Quốc giả gái, đào tẩu bất thành (VNN): “Quan tham Trung Quốc Quách Bá Hùng từng giả gái, lên máy bay để trốn ra nước ngoài nhưng đã bị Cục Quản lý không lưu phát hiện.” – Trung Quốc điều tra tham nhũng Phó chủ tịch tỉnh Cát Lâm (Dân Trí): Phó chủ tịch Cát Lâm, ông Cốc Xuân Lập, đã trở thành quan chức mới nhất tại Trung Quốc bị “ngã ngựa” trong chiến dịch chống tham nhũng do Chủ tịch Tập Cận Bình phát động.

– Trực thăng Mi-28 của Nga rơi khi trình diễn, phi công thiệt mạng (Dân Trí): Một trực thăng quân sự Mi-28 của Nga ngày 2/8 đã bị rơi khi đang biểu diễn nhào lộn trên không trong cuộc thi Aviadarts-2015 gần thành phố Ryazan, miền trung nước Nga. Vụ tai nạn khiến một phi công thiệt mạng và một phi công khác bị thương.

– Biểu tình phản đối vụ xử một phụ nữ “dùng ngực tấn công” (Tuổi Trẻ): Hôm qua, hơn 100 người Hong Kong đã biểu tình bên ngoài trụ sở cảnh sát ở quận Wan Chai để phản đối vụ một phụ nữ bị xử tù 3 năm vì tội dùng ngực “tấn công” một sĩ quan cảnh sát.

– Nhà báo Mexico bị tra tấn trước khi bị bắn chết (Tuổi Trẻ): Thi thể nhà báo Ruben Espinosa, 31 tuổi, làm việc cho tờ tạp chí điều tra Proceso, được tìm thấy trong một căn hộ ở thủ đô Mexico City. Tin cho biết anh bị tra tấn trước khi bị bắn chết.

VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT – GIẢI TRÍ

– Phỏng vấn bình trà đá miễn phí (PLO): “- Xin chào bạn! Vì sao bạn lại ra đứng vỉa hè gây cản trở giao thông, làm mất mỹ quan đô thị và khiến nhiều người xốn mắt dữ vậy?”

– Giữ hồn di tích (NLĐ): cuối năm 2015, trụ sở TAND TP sẽ khởi công trùng tu với kinh phí dự kiến là 320 tỉ đồng. Việc tìm đơn vị có kinh nghiệm tu bổ di tích công sở cổ để giao trách nhiệm thi công là khó khăn lớn nhất hiện nay.

————————————–

ĐỐI THOẠI

.

Đài Đáp Lời Sông Núi

http://radiodlsn.com/

Thứ Hai 03-08-2015

.

Theo dõi đài Đáp Lời Sông Núi qua:

Youtube

Twitter

Facebook

.

Youtube: THẢM HỌA ĐỎ BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

.

Youtube: Sự Thật Hồ Chí Minh

.

Youtube: Ho Chi Minh, The Man and The Myth

.

Youtube: Cải cách ruộng đất

.

Youtube: Nhân Văn Giai Phẩm

.

Đối Thoại Điểm Tin ngày 2 tháng 8 năm 2015

Posted on 02/08/2015 by Doi Thoai

https://doithoaionline.wordpress.com/2015/08/02/doi-thoai-diem-tin-ngay-2-thang-8-nam-2015/

  • Tin Ngoài Nước-Tín Châu
  • Tin Trong Nước-Lê Hồng Lĩnh
  • Chuyện Việt Nam-Thanh Ly

Đọc tiếp →

—————————————

TTX VÀNG ANH

ĐIỂM TIN NGÀY 3-8-2015

https://www.ttxva.net/

.

Tin Nổi Bật Trong Ngày

.

.

.

TIN & BÀI NGÀY 2-8-2015

Tháng Tám 3, 2015

.

.

TIN & BÀI NGÀY 2-8-2015

.

.

Trung Quốc: thêm một bằng chứng suy sụp (Nguyễn Gia Kiểng – Thông Luận)

Những Vạn Lý Trường Thành mới (Nguyễn Gia Kiểng – Thông Luận)

Dân Đài Loan biểu tình xé sách giáo khoa “thân Trung Quốc” (Đức Tâm – RFI)

Nguyễn Đình Toàn: từ đồng cỏ tới áo mơ phai (Ngô Thế Vinh)

Tiếng Nói Từ Miền Nam (K. W. Taylor – Cornell University)

Mời dự “Thoáng Nhìn Về Phật Giáo Của Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt” (HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ)

Ngày Trở Lại Không Bình Thường Của “Phùng Bại Tướng” (Le Nguyen – Việt Báo)

23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam (Tác giả: Ku Búa – Cafe Ku Búa)

Tượng Ðài Thuyền Nhân và dấu tích tội ác cộng sản (Tạp ghi Huy Phương)

PAULUS LÊ SƠN RA TÙ, VIẾNG MỘ VÀ CHỊU TANG MẸ (Nguyễn Xuân Diện – Blog)

Đồng bằng Nam Bộ đang lâm nguy? (Đinh Hưng gửi BBC)

Facebook – báo Đảng: Cuộc chiến không cân sức? (Nguyễn Điềm gửi BBC)

Tâm sự cuối tuần: Cấm vận kinh tế, hợp tác kinh tế… và thay đổi một thể chế độc tài (FB Ngoc Diep Hoang)

Ông Võ Văn Trác: Quyết liệt hơn để bảo vệ ngư dân (Nhật Báo Ba Sàm | NLĐ)

9000 tàu cá Trung Cộng tràn vào Biển Đông, liên tiếp tấn công ngư dân Việt Nam (Bạn đọc Danlambao)

Kho tàng báu vật dưới lòng sông, lòng biển Việt Nam (Tú Hoa)

Lụt ở Việt Nam: 17 người thiệt mạng và Vịnh Hạ Long bị đe dọa (Austin Ramzyjuly – The New York Times)

Thủ tướng Anh hứa giải quyết nạn buôn trẻ em Việt Nam (Patrick Wintour – The Guardian)

Tại sao người Việt Nam lại trồng nhiều cần sa đến thế? (Michael L. Gray)

‘Khiển trách’ tay sai Tàu trong bộ quốc phòng (Bạn đọc Danlambao)

Nhân Quyền và Phát Triển của Việt Nam trong Bang Giao Việt-Mỹ (Trần Phan)

Bị bắt vì lập Facebook chống cảnh sát giao thông ăn tiền? (VOA Tiếng Việt)

Người H’mong tạm cư trên đất Thái (Gia Minh – RFA)

Một lời khinh (Tuấn Khanh)

Một luận cương khai sáng (FB Phạm Đình Trọng)

ĐIỂM TIN CHỦ NHẬT 2-8-2015

TIN & BÀI NGÀY 1-8-2015

.

.

.

Trung Quốc: thêm một bằng chứng suy sụp (Nguyễn Gia Kiểng – Thông Luận)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Trung Quốc: thêm một bằng chứng suy sụp

Nguyễn Gia Kiểng

Chủ Nhật, ngày 02 tháng 8 năm 2015

http://ethongluan01.blogspot.de/2015/08/trung-quoc-them-mot-bang-chung-suy-sup.html

Ngày 27/7/2015, ngay sau khi Bắc Kinh vừa công bố tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 7% cho sáu tháng đầu năm, thị trường chứng khoán Thượng Hải đã mất 8,5%. Hôm sau nó mở ra với tỷ lệ giảm sút hơn 4% và kết thúc ở mức -1,7% sau khi chính quyền Bắc Kinh tung ra một số tiền lớn để yểm trợ. Trong bối cảnh Trung Quốc hiện nay đây là một biến động lớn bởi vì trước đó không đầy hai tuần lễ Bắc Kinh vừa mới can thiệp rất mạnh sau khi thị trường chứng khoán sụt hơn 30%. Tại sao một tỷ lệ tăng trưởng ngoạn mục, mà hiện nay không một nước nào có được, lại có thể kéo theo sự tuột dốc của thị trường chứng khoán?

Điều này trước hết có nghĩa là không còn ai tin những con số của Bắc Kinh nữa. Nhưng không phải chỉ có thế. Biến cố này cũng có nghĩa là người dân Trung Quốc giờ đây cũng đã thấy được điều mà nhiều chuyên gia đã tiên liệu từ lâu và giới kinh doanh cũng đã ý thức được, đó là Trung Quốc chắc chắn sắp lâm vào khủng hoảng lớn.

Cho tới năm 2007 kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng đều đặn ở mức độ hai con số trong gần ba thập niên, gây kinh ngạc và thán phục cho rất nhiều người. Thực ra chính quyền Bắc Kinh chỉ làm một điều rất giản dị là bóc lột công nhân tối đa và tàn phá môi trường để sản xuất thật nhiều với giá thật rẻ. Nói cách khác chính quyền cộng sản Trung Quốc xuất khẩu sự nghèo khổ mà chính họ là nguyên nhân đồng thời phá hoại đất nước theo nghĩa đen, làm cho đất khô cằn, nước và không khí bẩn và độc. Chính sách tệ hại đó dù nhất thời có thể gây ấn tượng nhưng sau cùng chỉ làm Trung Quốc kiệt quệ lâu dài, như những kim tự tháp tại Ai Cập và Vạn Lý Trường Thành tại chính Trung Quốc trước đây. (*)

Năm 2008 thế giới lâm vào khủng hoảng lớn và Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ vì hoạt động xuất khẩu sút giảm mạnh. Thay vì thắt lưng buộc bụng để thích nghi với tình huống mới và trực diện đối đầu với khó khăn chính quyền Bắc Kinh đã chạy trốn sự thực trong một cuộc phiêu lưu mới: xây dựng. Các ngân hàng được lệnh cấp tín dụng thả cửa cho các công ty địa ốc trong khi chính quyền tung ra những chi tiêu khổng lồ cho các công trình cơ sở hạ tầng không cần thiết. Mặt khác các công ty công nghiệp cũng được lệnh tiếp tục sản xuất dù không bán được hàng để giữ chỉ tiêu kế hoạch. Chính sách chạy trốn về phía trước này có lúc đã được một số nhà báo, như Fareed Zakaria, ca tụng hết lời. Nhưng lạm dụng xây cất và chi phí công cộng là một công thức rất cũ và bao giờ cũng dẫn tới những hậu quả tai hại. Sự thất bại dần dần hiện rõ. Cái bong bóng địa ốc ngày càng lộ liễu với hàng triệu căn phố không người mua và những thành phố ma; khối nợ xấu của các ngân hàng trở thành báo động; hàng hóa ứ đọng trong kho tại các doanh nghiệp sản xuất và khối nợ công lên tới 300% GDP theo nhiều ước tính. Trung Quốc cũng đã cố gắng tăng cường tiêu thụ nội địa bằng cách tăng lương công nhân nhưng chính sách -đúng trên nguyên tắc- này đã thất bại bởi vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng phần thu nhập mới này cho việc để dành phòng khi đau yếu. Kết quả là thay vì kích thích tiêu thụ nó khiến Trung Quốc mất đi ưu thế nhân công rẻ và nhiều công ty đa quốc đã chuyển các dự án đầu tư sang các nước khác.

Từ một năm qua, khi tất cả mọi chuyên gia đều đã đồng ý là kinh tế Trung Quốc đã hoặc đang khủng hoảng, chính quyền Bắc Kinh lại lao vào một trò chơi mới: đầu cơ chứng khoán.

Đặc tính của cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là nhà nước dành toàn quyền thao túng thị trường và Bắc Kinh đã tận dụng đặc quyền này. Tất cả mọi phương tiện, ngân hàng cũng như báo chí, được sử dụng để thổi phồng trị giá các cổ phiếu, đề cao các anh hùng chứng khoán vừa đột ngột trờ thành triệu phú nhờ mua bán cổ phiếu, và lôi kéo thật nhiều người vào cuộc. Người ta đổ xô nhau đi chơi chứng khoán, vay tiền để mua cổ phiếu và tiếp tục vay để mua thêm nữa thay vì bán ra bởi vì cổ phiếu tiếp tục lên giá. Chỉ trong tháng 5/2015 – hai tuần trước khi thị trường chứng khoán tuột dốc hơn 30% – đã có hơn 20 triệu trương mục mới. Tổng số người chơi chứng khoán lên tới 90 triệu người vào ngay 15/6, tuyệt đại đa số là những người mới nhập cuộc. Trong một năm qua thị trường chứng khoán Trung Quốc -Thượng Hải cũng như Thẩm Quyến – trở thành một sòng bài khổng lồ, một sự điên dại trên qui mô quốc gia. Vào tháng 8/2014 tổng trị giá của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán là 500 tỷ USD, chỉ mười tháng sau con số này lên tới 6.500 tỷ USD, tăng gấp 13 lần vì có rất nhiều công ty mới đăng ký. Ở các nước phương Tây một công ty muốn đăng ký vào thị trường chứng khoán phải hội đủ những tiêu chuẩn rất khắt khe. Không ai biết các tiêu chuẩn của các thị trường Thượng Hải và Thẩm Quyến là gì. Giá các cổ phiếu cũng không tùy thuộc ở thành quả và tiềm năng của các công ty mà theo sự đầu cơ, người ta mua một cổ phiếu vì tin rằng nó sẽ lên giá, và niềm tin này do tin đồn hay do báo chí nhà nước. Những xảo thuật truyền thông này đã tạo ra cả một cơn sốt chứng khoán. Chỉ số SSE Composite tăng gần 150% trong vòng mười tháng, trước khi tuột dốc.

Hình : Biến thiên của chỉ số SSE trong một năm từ 8-2014 đến tháng 8/2015

Dĩ nhiên trò chơi này không qua mắt được các quỹ đầu tư và họ đồng loạt quyết định rút khỏi Trung Quốc. Sau Kingdon Capital Management, Elliott Management, Perry Capital,Pershing Square Capital Management, đến lượt BridgeWater, quỹ hedge fund lớn nhất thế giới. Ngay cả tư bản Trung Quốc cũng tháo chạy. Trong hai tuần lễ cuối tháng 6, thị trường chứng khoán đã xuống hơn 30% và chính quyền Bắc Kinh đã dùng những biện pháp rất mạnh để trấn tĩnh, như ra lệnh cho các ngân hàng đổ ra 20 tỷ USD để mua cổ phiếu, cấm bán khống, cấm các cổ đông có trên 5% số cổ phần trong một công ty bán cổ phiếu của công ty đó, ngưng niêm yết hơn 1/3 số công ty v.v. Đồng thời đưa ra con số tăng trưởng hoang tưởng 7%.  Nhưng thị trường chứng khoán vừa chứng tỏ mọi xảo thuật đều vô ích, kinh tế Trung Quốc đã hoảng hốt. Cơn chấn động 27/7 vừa qua tuy không quan trọng lắm về tầm vóc nhưng có ý nghĩa lớn: thị trường chứng khoán Trung Quốc, và kinh tế Trung Quốc nói chung, không thể phục hồi.

Tại sao Bắc Kinh lại lao vào cuộc phiêu lưu chứng khoán này?

Có ba lý do: thứ nhất là kích động giả tạo cho thị trường chứng khoán lên để khuyến khích những chủ bất động sản chấp nhận bán lỗ để kiếm lời bằng chứng khoán, nghĩa là giải tỏa số nhà mới xây ứ đọng quá nhiều; thứ hai là tạo cảm tưởng rằng kinh tế Trung Quốc vẫn còn vững mạnh vì thị trường chứng khoán lên mạnh; và thứ ba là tham vọng biến Thượng Hải và Thẩm Quyến thành những trung tâm tài chính lớn ngang tầm với New York, Tokyo và London để lôi kéo tư bản nước ngoài. Bắc Kinh đã chỉ đạt được một phần mục tiêu thứ nhất nhưng đã thất bại đã rất thê thảm trên hai mục tiêu sau.

Hậu quả sẽ ra sao?

Nhiều người nói tuy thị trường chứng khoán Thượng Hải đã sụt gần 40% nhưng vẫn còn cao hơn 70% so với một năm trước. Nói như thế là quên rằng tuyệt đại đa số những người chơi chứng khoán mới chỉ vào cuộc chơi từ vài tháng gần đây khi thị trường chứng khoán đã lên rất cao do thao tác giả tạo của chính quyền. Họ vay tiền để mua cổ phiếu và khánh tận, nhiều người cầm cố cả nhà và mất hết tài sản. Họ là thành phần trung lưu. Theo nhiều ước lượng, Trung Quốc hiện có khoảng gần 100 triệu gia đình được coi là trung lưu, tương đương với số người chơi chứng khoán. Trong vòng một tháng trung bình mỗi gia đình mất 30.000 USD. Điều này có nghĩa là thành phần trung lưu mà Bắc Kinh tự hào là đã tạo ra được và coi là hy vọng của Trung Quốc đã gần như bị xóa bỏ. Một mất mát bi đát. Hậu quả tức khắc là tiêu thụ nội địa vốn đã thấp một cách bệnh hoạn ở mức 30% GDP sẽ còn sút giảm mạnh hơn nữa.

Họ sẽ còn mưu thuật nào khác để che đậy sự thực trước khi thú nhận phá sản?

Đại loại cũng sẽ chỉ là những hành động gây tiếng vang, như giành tổ chức Thế Vận Mùa Đông 2022. Nhưng từ nay ai còn tin vào phép lạ Trung Quốc? Những khoa trương sẽ chỉ có tác dụng mở cửa xã hội Trung Quốc ra với thế giới và giúp người Trung Quốc ý thức rằng họ đã bị thông trị một cách quá tàn bạo trong thời gian quá lâu bởi những người rất tầm thường.

Cuộc phiêu lưu chứng khoán này có thể là cố gắng thoát hiểm qui mô cuối cùng. Nó đã thảm bại và cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã lộ chân tướng của nó: một sai lầm lố bịch vì giao toàn quyền quyết định kinh tế cho những người chỉ có hiểu biết rất sơ sài

Tương lai Trung Quốc sẽ ra sao?

Đừng nên quên rằng kinh tế không phải là mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Hai mối nguy lớn hơn nhiều là sự hủy hoại của môi trường và tiềm năng bất ổn chính trị vì bất công và tham nhũng. Suy sụp kinh tế có thể châm ngòi cho một sự bùng nổ toàn diện làm Trung Quốc tan vỡ. Cho tới nay khi nói tới Đặng Tiểu Bình đại đa số người Trung Quốc đều cung kính ông như một vĩ nhân đầy viễn kiến. Họ sẽ nhận ra rằng ông là một trong những lãnh tụ Trung Quốc đã gây thiệt hại lớn nhất.

Đảng CSVN đã lấy Trung Quốc làm quan thầy, mẫu mực và chỗ dựa trong suốt ba thập niên qua. Sắp tới Trung Quốc sẽ không còn là một mẫu mực và cũng không còn là một chỗ dựa.

Nguyễn Gia Kiểng
(07/2015)

(*) Không phải ai cũng thán phục mô hình Trung Quốc. Các bạn đọc dự án chính trị 2015 Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai sẽ thấy anh em Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên coi Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường nội địa là một trong 12 định hướng lớn của mô thức Việt Nam (chương 5). Đây là một ý kiến có sẵn trong dự án chính trị 2001 Thành Công Thế Kỷ 21 của chúng tôi. Ngay vào năm 2001, khi mô thức Trung Quốc đang được đa số các chuyên gia ca tụng, chúng tôi đã coi đó chỉ là một sai lầm. Chúng tôi cũng dứt khoát bác bỏ mô hình tăng trưởng bất chấp môi trường của Trung Quốc. Năm 2007 vào lúc “phép mầu Trung Quốc” đang huy hoàng nhất tôi đã sang tham quan Trung Quốc và viết bài Những Vạn Lý Trường Thành mới phản bác chính sách kinh tế của Bắc Kinh. Tháng 8-2009, trả lời một cuộc phỏng vấn của nhà báo Đinh Quang Anh Thái tôi cũng đã dự báo mô hình kinh tế Trung Quốc sẽ dẫn tới khủng hoảng.

.

.

.

Những Vạn Lý Trường Thành mới (Nguyễn Gia Kiểng – Thông Luận)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Những Vạn Lý Trường Thành mới

Nguyễn Gia Kiểng

Được đăng ngày Chủ nhật, 02 Tháng 8 2015 12:06

http://ethongluan01.blogspot.de/2015/08/nhung-van-ly-truong-thanh-moi-nguyen.html

.

LTS: Bài này được đang trên Thông Luận vào tháng 10 năm 2007, chúng tôi gởi lại bạn đọc để làm phần phụ lục cho bài “Trung Quốc: thêm một bằng chứng suy sụp”. Những gì tác giả đã dự kiến cách đây tám năm đang diễn ra ngày hôm nay.

*

Ba tuần lễ tham quan không cho phép tôi nói về Trung Quốc như một chuyên gia, dù trước đó tôi cũng đã nghiên cứu và suy nghĩ khá nhiều về đất nước này. Tôi chỉ ghi ở đây những cảm nghĩ của một người mới thăm Trung Quốc lần đầu.

Tuy vậy, có một câu nói mà tôi tin là đúng: những ấn tượng đầu tiên thường đúng. Kinh nghiệm cho thấy như vậy, và cũng dễ hiểu. Những cảm nghĩ đầu tiên là những cảm nghĩ của một người còn giữ nguyên vẹn khả năng so sánh, còn có thể quan sát trong toàn cảnh và một cách độc lập, không bị chìm đắm trong những chi tiết. Và nhất là chưa bị bối cảnh khống chế đến độ chấp nhận những giá trị và những điều “hiển nhiên phải như thế” trong cách suy nghĩ của những người trong cuộc. Chúng vừa có sự khách quan của một người ngoài cuộc, vừa có cái mãnh liệt của sự ngạc nhiên. Mọi thực tại đều có lý do hiện hữu của nó. Xã hội Trung Quốc đã sinh hoạt một cách có tổ chức từ ít nhất ba ngàn năm và là một xã hội khá ổn vững, ít nhất về nhân sinh quan và chế độ chính trị, vậy tất nhiên thực trạng Trung Quốc phải có lý của nó. Điều quan trọng là không được chấp nhận cái “lý” này nếu ta muốn phán đoán về nó một cách đúng đắn. Trên cách tiếp cận đó, tôi đã từ chối quan sát và suy nghĩ về Trung Quốc như một người Trung Hoa dù tôi có thể hiểu họ, cũng như tôi vẫn thường cố không suy nghĩ về Việt Nam như một người Việt Nam, dù tôi hiểu tại sao đồng bào tôi lại ứng xử như thế.

Cuộc thăm viếng Trung Quốc của tôi dĩ nhiên là để tìm hiểu đất nước bao la này. Nhưng còn một lý do khác không kém quan trọng, đó là tìm hiểu thêm về đất nước mình và chính mình. Trung Quốc hiện diện một cách áp đảo trong lịch sử, tâm lý và văn hóa Việt Nam. Chúng ta tiếp xúc lần đầu tiên với một nền văn minh thực sự nhờ người Trung Quốc. Họ trực tiếp đô hộ chúng ta trong hơn một ngàn năm và gián tiếp đô hộ chúng ta qua văn hóa trong gần hết phần còn lại của lịch sử. Tư tưởng, thi ca, nghệ thuật của chúng ta đầy những điển tích, nhân vật và địa danh Trung Quốc. Trong ngôn ngữ của chúng ta, hầu hết những khái niệm trừu tượng là mượn của tiếng Trung Hoa. Chính sách mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang theo đuổi cũng rập khuôn theo Trung Quốc và trái ngược với trào lưu chung của thế giới. Chính vì vậy mà chúng ta khó có thể hiểu rõ đất nước mình nếu không hiểu khá rõ Trung Quốc. Tôi đã đầu tư khá nhiều thời giờ để học hỏi về Trung Quốc và đến đây trong một cố gắng tìm những sự kiện phản bác những gì mình cho là đã biết hoặc hiểu về đất nước này.

Nhận xét đầu tiên của tôi là Trung Quốc rất biệt lập với thế giới bên ngoài. Không thể tìm thấy một cuốn sách, một tạp chí hay một tờ báo nước ngoài nào trong các nhà sách hay sạp báo. Trong suốt ba tuần lễ tôi chưa gặp được một người Trung Hoa biết nói một ngôn ngữ nào ngoài tiếng Trung Quốc, trừ một vài hướng dẫn viên du lịch và nhân viên phi trường. Đoàn của chúng tôi hơn mười người, nửa Pháp nửa Việt, đi theo một chương trình do chúng tôi tự sắp đặt. Chúng tôi đã biết trước là rất khó tìm được những người Trung Quốc biết ngoại ngữ và đã thuê trước những hướng dẫn viên thạo tiếng Việt, nhưng chúng tôi không thể ngờ người Trung Quốc kém ngoại ngữ đến mức độ đó. Ngay trong những khách sạn dành cho du khách mà chúng tôi đi qua không có bất cứ ai, kể cả các tiếp viên và ban quản lý, biết một chữ tiếng Anh nào (đừng nói những ngôn ngữ phương Tây khác). Tôi cũng không tìm ra những quán café-internet, mặc dù chúng tôi luôn luôn ở những khu trung tâm náo nhiệt nhất. Tôi vẫn biết Trung Quốc là một nước đóng kín nhưng không thể ngờ là họ ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài đến mức độ đó. Trừ tôi, tất cả những bạn trong đoàn đều đã thăm viếng Việt Nam gần đây. Họ đều đồng ý là về điểm này Việt Nam và Trung Quốc khác hẳn nhau. Mặt khác, tôi cũng lưu ý là chỉ có rất ít du khách đến từ nước ngoài. Cho tới nay du lịch Trung Quốc chủ yếu là du lịch nội địa. Vài ngày trước khi lên đường đi Trung Quốc, tôi có đọc trên một tạp chí Mỹ một chương trình dạy tiếng Anh cho 175 triệu người, nghĩa là 12% dân số Trung Quốc. Chương trình này hình như chưa khởi sự.

Mỗi ngôn ngữ đều chuyên chở một lịch sử và một cách suy nghĩ. Người Trung Quốc chỉ biết một ngôn ngữ của họ. Cách suy nghĩ của họ sẽ không thay đổi bao nhiêu trong một tương lai gần. Người Trung Quốc có thể làm việc một cách khác nhưng họ sẽ vẫn tiếp tục suy nghĩ như trước trong một thời gian dài. Nhận xét này khiến tôi tự hỏi logic nào đã khiến cho những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam trong cố gắng đổi mới lại chọn bắt chước Trung Quốc, một quốc gia chưa thể đổi mới thực sự?

Điều ngạc nhiên thứ hai của tôi là người Trung Quốc rất trẻ. Trong tất cả những thành phố mà chúng tôi đi qua chỉ thấy những thanh thiếu niên, từ 15 đến 30 tuổi, và trẻ em. Tất cả những người bạn cùng đi với tôi đều khẳng định người Trung Quốc trẻ hơn người Việt Nam nhiều. Rất khó mà gặp ở ngoài đường, trong khách sạn, những nhà hàng hay những cửa hiệu một người mà tôi có thể đoán là ngoài 50 tuổi. Vậy những người đứng tuổi và những người già ở đâu? Họ tập trung ở những công viên, tập thái cực quyền, từng toán từ 20 đến 30 người. Một cảnh ngộ nghĩnh thường gặp là có những người ngồi ghế công viên đánh đàn và hát một mình. Ai thích thì đứng lại nghe, người hát hoàn toàn không có vẻ bị làm phiền hay được khuyến khích. Nhưng nếu kể cả trong những người già trong các công viên, và ước lượng một cách rộng rãi, thì số lượng của họ cũng không đáng kể so với thanh thiếu niên. Sự trẻ trung của người Trung Quốc là một trong những hiện tượng làm tôi bối rối nhất trong cuộc thăm viếng này. Tôi được biết là từ gần nửa thế kỷ nay chính quyền Trung Quốc thi hành triệt để chính sách “mỗi gia đình một đứa con duy nhất”. Một người bạn Trung Quốc của tôi gọi là chính sách 421, nghĩa là bốn ông bà, hai cha mẹ, một đứa con. Nếu đúng như thế thì dân số Trung Quốc đã phải giảm đi rất nhanh chóng và tuổi trung bình của người Trung Quốc phải cao chứ không thể trẻ, quá trẻ, như vậy được. Như vậy cả chính sách một con lẫn cái tuổi thọ trung bình 71, theo thống kê chính thức, đều rất xa sự thực.

Về chính sách một con, tôi có dịp trò chuyện với một anh hướng dẫn viên. Anh này cười nói với tôi là đã có hai con gái và còn muốn có thêm một con trai như hầu hết mọi người Trung Quốc. Anh ta là công chức như hầu hết mọi nhân viên các công ty du lịch, nếu bị phát giác là có quá một con sẽ bị đuổi việc và mất hết mọi quyền lợi. Vợ anh ta về nhà quê đẻ đứa con thứ hai, chính quyền địa phương không làm khó dễ, coi như không biết đến việc chị ấy đẻ con, một thời gian sau chị ấy bồng con về thành phố sống bình thường, không ai thắc mắc chuyện họ có hai đứa bé trong nhà. Thế còn đến lúc cháu bé phải đi học? Cũng không sao vì nhà trường chỉ đòi hỏi khai qua loa. Tại cơ quan, ông giám đốc dù biết anh ta có hai con cũng làm như không biết. Nói chung, về điểm này, cả xã hội sống trong sự giả dối.
Khí thải CO2 là một vấn nạn môi sinh của Trung Quốc

Tôi có hỏi về cuộc sống của những người già. Anh ta nói tùy trường hợp. Ban ngày họ ra công viên sống với các bạn cùng tuổi và ăn trưa với nhau, nếu thuận với con cháu thì về sớm nấu cơm cho các cháu, nếu không thì tối mịt mới về, ăn uống cho xong rồi đi ngủ. Còn nếu yếu quá không đi ra công viên được nữa ? Hay nếu ban ngày mệt mỏi muốn nằm nghỉ ? Anh hướng dẫn của tôi trả lời bằng một nụ cười. Hình như chưa ai hỏi anh như vậy.

Tôi từng đọc nhiều bài và sách nhận định rằng “phát triển của Trung Quốc chỉ có bề mặt chứ không có chiều sâu”. Ngay ngày đầu tiên tới đây tôi ý thức rằng câu nói này phải được hiểu theo cả nghĩa đen của nó. Các khách sạn dù là cao nhiều chục tầng đều không có các tầng hầm. Tuyệt đối không có bãi đậu xe dưới mặt đất. Không cần cố gắng lắm cũng có thể suy ra rằng hệ thống cống rãnh thoát nước được đơn giản hóa tới mức tối đa, nếu có.

Trên máy bay từ Tây An về Côn Minh, tôi đọc trên tờ China Daily, tờ nhật báo duy nhất bằng ngoại ngữ tại Trung Quốc, dĩ nhiên là báo nhà nước và cũng chỉ tìm thấy trên máy bay : 278 thành phố, 5.000 thị xã và 20.000 thị trấn hoàn toàn không có hệ thống xử lý nước thải. Một trong những hậu quả thấy được của sự kiện “phát triển bề mặt mà không có bề sâu” này là kẹt xe. Dù trong những thành phố giàu có nhất, nếu kể cả ngoại thành, số hộ có xe hơi mới chỉ ở mức 30% (riêng ở thành phố Quảng Châu, thành phố giàu có nhất Trung Quốc, hơn cả Thượng Hải và Thẩm Quyến,  tỷ lệ này là 50%), giao thông đã kẹt cứng hầu như suốt ngày. Lý do đầu tiên là vì các xe đều phải đậu trên mặt đất và choán lề đường. Lý do kế tiếp là vì các thành phố Trung Quốc chủ yếu chỉ có những đại lộ rất rộng ở khá xa nhau và rất thiếu những đường nhỏ cho phép đi tắt. Do đó có thể xe phải chạy một lộ trình dài gấp nhiều lần khoảng cách theo đường chim bay giữa điểm đi và điểm tới. Sự thiếu hệ thống thoát nước thải có lẽ không có trách nhiệm về tình trạng dơ bẩn và hôi thối của các cầu tiêu. Các anh hướng dẫn viên nói đùa rằng đây là hương vị quốc hồn quốc túy của Trung Quốc. Trừ những ngoại lệ rất hiếm hoi, các WC không có giấy vệ sinh.

Nói đến hệ thống thoát nước là đã đề cập đến vấn đề môi trường. Một lần nữa không gì bằng đến tận nơi và nhìn tận mắt. Cả thế giới biết rằng Trung Quốc đang có vấn đề môi trường nghiêm trọng. Một mặt miền Bắc Trung Quốc đang dần dần bị sa mạc hóa và rất thiếu nước, lượng nước để sử dụng cho mỗi người Trung Quốc chỉ bằng từ 10 đến 15% mức trung bình thế giới. Mặt khác, chính sách phát triển kinh tế bất chấp môi sinh, xây ồ ạt các nhà máy, không xử lý nước thải và phế liệu, sử dụng tối đa phân hóa học đã khiến toàn bộ sông ngòi và các mạch nước ngầm bị nhiễm độc.

Những thống kê tôi đã đọc cho biết 2/3 dân chúng Trung Quốc không có nước sạch để uống. Khi đến nơi tôi nhận ra rằng con số này rất sai. Sự thực là toàn dân Trung Quốc, có lẽ trừ một thiểu số không đáng kể ở miền Tây ngay thượng nguồn các dòng sông, đều không có nước uống được. Tất cả mọi người Trung Quốc đều quả quyết điều này. Họ phải uống nước đã được đun sôi. Các hướng dẫn viên khuyên chúng tôi đừng đánh răng bằng nước máy. Nhưng đun sôi chắc chắn không phải là giải pháp, bởi vì các hóa chất độc vẫn còn nguyên vẹn. Thật khó tưởng tượng một khối một tỷ rưỡi người không còn nước sạch.

Một điều khó tưởng tượng khác mà tôi nhận ra khi đến đây và không hiểu tại sao các tài liệu không nhấn mạnh là mặt trời không còn mọc trên Trung Quốc. Ngay cả trong những ngày nóng nực, người ta biết là mặt trời ở đâu đó trên đầu mình nhưng không thể nhìn thấy, bởi vì nó bị cả một khối hơi vàng đục che khuất. Tôi hỏi cả bốn anh hướng dẫn viên của tôi, họ đều trả lời đó là vì khí thải của các nhà máy. Đã bao giờ nhìn thấy mặt trởi chưa? Một anh đáp không nhớ. Các anh khác lắc đầu.


Tác giả Nguyễn Gia Kiểng tại nhà lưu niệm Lương Khải Siêu

Chính sách đổi mới kinh tế đã giúp người Trung Hoa đủ ăn và đủ mặc nhưng đã cướp mất của họ hai tài sản quí báu hơn nhiều: nước và không khí… Nhiều chuyên viên về Trung Quốc đã khẳng định rằng tất cả những thành tựu kinh tế của 30 năm hiện đại hóa nếu qui ra tiền thì cũng không đủ để sửa chữa những tàn phá gây ra cho môi trường trong cùng thời gian. Phải đến đây mới thấy rằng họ nói đúng.

Sự tàn phá môi trường không phải chỉ do chính sách mà còn do sự ngu xuẩn của những người lãnh đạo. Một thí dụ là hồ Điền Trì ở Côn Minh (Vân Nam) mà tôi đã thấy khi thăm thắng cảnh Tây Sơn Long Môn. Hồ này là cả một kỳ quan của thiên nhiên. Nó rộng 320 km2, trên cao độ 2.000 m. Ba mươi năm trước chính quyền đã cho xây dựng trên bờ hồ một số nhà máy hóa chất. Chỉ vài năm sau khi các nhà máy này bắt đầu hoạt động nước hồ bị nhiễm độc hoàn toàn. Người ta nhận ra và hốt hoảng gỡ bỏ các nhà máy, nhưng đã quá trễ, các chuyên gia ước lượng phải 50 năm nữa nước hồ mới trở lại tình trạng bình thường. Hiện nay vẫn còn một lớp váng xanh dầy bao phủ mặt hồ.

Sự hủy hoại môi trường, và chính đất nước Trung Quốc, có thể ngăn chặn và đảo ngược được không ? Tôi nghĩ là không thể được dưới chế độ này. Một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao là sự chính đáng duy nhất của chế độ vì thế nó phải được duy trì bằng mọi giá. Họ không thể đóng cửa những nhà máy gây ô nhiễm, cũng không thể bắt buộc các nhà máy phải có hệ thống xử lý chất thải vì như thế giá thành của hàng Trung Quốc sẽ tăng vọt và xuất khẩu sẽ sụp đổ. Và họ cũng không thể ngừng xây dựng các nhà máy, kể cả những nhà máy phát điện chạy bằng than đá, vì như thế đà tăng trưởng sẽ khựng lại ngay…

Thay đổi sẽ chỉ đến khi người Trung Quốc thấy rằng họ không thể sống được nữa với tình trạng ô nhiễm này. Trong lịch sử của họ người Trung Quốc đã chỉ nổi dậy khi họ bị dồn vào chỗ chết. Lần này có thể họ sẽ chỉ phản ứng khi đã quá trễ để Trung Quốc còn có thể có một tương lai đúng nghĩa.

Tôi đã từng nghe nói tới một khối từ 100 đến 200 triệu người Trung Hoa từ nông thôn ra các thành phố lớn sống lang thang bằng những công việc chân tay tạm bợ. Tôi mới chỉ có dịp tiếp xúc rất giới hạn với họ. Tại nhà ga Bắc Kinh. Trước nhà ga, trên quảng trường dài khoảng một kilômét và rộng trên 200 mét, chen chúc những con người. Họ đi lại, nằm và ngủ la liệt bên cạnh những gói hành lý. Người đông và chật đến độ phải chen lấn mới vào được nhà ga. Cả đoàn chúng tôi chỉ sợ lạc nhau, không ai nghĩ tới chụp ảnh. Tôi chưa bao giờ thấy một đám đông như thế. Buổi sáng chúng tôi tới nhà ga Tây An và cũng thấy một đám đông ghê gớm, dù không thể so sánh được với Bắc Kinh.

Chúng tôi đi đường sắt ba lần, Bắc Kinh-Tây An, Côn Minh-Quảng Châu và Quảng Châu-Hàng Châu. Tất cả đều là những tuyến đường rất dài, trên 12 giờ. Chặng đường Côn Minh-Quảng Châu kéo dài 18 giờ. Những chặng đường dài đó cho phép tôi nhận xét nông thôn Trung Quốc còn rất nghèo, đồng thời cũng cho thấy sự chênh lệch giàu nghèo giữa miền Đông và miền Tây, giữa miền Nam và miền Bắc. Ngay tại miền Nam, giàu có hơn hẳn so với miền Bắc, đồng quê Trung Quốc cũng còn tiều tụy hơn hẳn những làng tại Pháp đã bị bỏ rơi từ một nửa thế kỷ qua. Điều này chứng tỏ rằng trong chiều sâu Trung Quốc còn chậm hơn châu Âu ít nhất một thế kỷ.

Sự phồn vinh của Trung Quốc chỉ tập trung trong một vài thành phố lớn: Bắc Kinh, Tây An, Trùng Khánh, Côn Minh, Quảng Châu, Thẩm Quyến, Thượng Hải…Và như trên đã nói, nó chỉ có bề mặt chứ không có chiều sâu, xây dựng dưới lòng đất quá tốn kém, không đem lại lợi nhuận trước mắt, lại không phơi bày được sự hào nhoáng. Phải nói thêm là nó cũng chỉ có bề ngoài chứ không có bề trong. Tôi đã cố gắng để ước lượng bề dầy của nó. Ngay tại những khu rất sang, chỉ cần đi vào các đường hẻm – mà tiếng Trung Quốc gọi là hutong (hộ đồng) – là đã có thể nhìn thấy sự nghèo khổ. Ấn tượng khá mạnh vì, khác với Việt Nam, sự nghèo khổ đi đôi với dơ bẩn và hôi hám.

Những gì tôi viết trên đây có thể cho cảm giác một bức tranh đen tối về Trung Quốc. Không hẳn như vậy. Có những nơi tuyệt đẹp. Thạch Lâm (Vân Nam) xứng đáng là “thiên hạ đệ nhất kỳ quan”. Quế Lâm đẹp hơn mọi thành phố trên thế giới, rất sang và cũng rất sạch, bên cạnh dòng sông Lý Giang thơ mộng (rất tiếc là đang cạn dần nước, cũng như sông Châu Giang mà nó đổ vào). Quế Lâm không đẹp đến độ gây sửng sốt như Thạch Lâm, nhưng rộng hơn và thơ mộng hơn. Quế Lâm giống như một Hoa Lư phóng đại ở tỷ lệ Trung Quốc/Việt Nam. Nguyên soái Trần Nghị, có lúc làm bộ trưởng ngoại giao, từng nói đã tới Quế Lâm rồi thì cũng không cần mơ tới chốn thần tiên nữa. Tôi chia sẻ cảm giác này.

Ai đến Quế Lâm mà không đi du thuyền trên dòng Lý Giang từ Quế Lâm tới Dương Sóc thì quả là một sai lầm, cảnh đẹp ở đây chỉ có thể nhìn và ngưỡng mộ chứ không thể tả. Trên bờ sông này có núi Phục Ba thờ Mã Viện, danh tướng Hán có tước hiệu Phục Ba Tướng Quân, người đã đánh bại cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng và áp đặt ách đô hộ trong gần một ngàn năm của Trung Quốc trên nước ta. Quế Lâm như vậy có một ý nghĩa biểu tượng của sự thống trị của Trung Quốc đối với Việt Nam. Đó cũng là nơi mà năm 1948 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chọn để gửi cả ngàn thiếu niên ở lứa tuổi từ 10 đến 15 để đào tạo thành những đảng viên cốt lõi; nhiều người sau này trở thành những cấp lãnh đạo cao cấp. Một sự tình cờ có ý nghĩa…

Chuyến đi này cũng đã cho phép tôi đến những địa danh và dấu tích của những nhân vật đã hiện diện một cách mạnh mẽ trong lịch sử và văn học nước ta, và đã phần nào nuôi dưỡng trí tưởng tượng của tôi trong tuổi thiếu thời. Cung cấm Bắc Kinh, Vạn Lý Trường Thành, Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên, Đường Cao Tông, Huyền Trang, Đường Minh Hoàng, Dương Quý Phi, v.v. Tôi cũng đã đi dạo thuyền trên Tây Hồ để nhớ đến Tây Thi và lăng Triệu Văn Vương (tức Triệu Hồ, cháu nội Vũ Vương Triệu Đà). Lăng này được coi là một trong những khám phá khảo cổ quan trọng nhất của Trung Quốc. Nó còn nguyên vẹn và ngày nay một viện bảo tàng lớn được xây dựng ngay trên ngôi mộ, trưng bày hàng chục ngàn di vật được chôn theo vị vua thứ hai của nước Nam Việt, cùng với di cốt của 15 người, trong đó có hoàng hậu và bốn cung nữ, bị chôn theo để tháp tùng hầu hạ vua trong thế giới bên kia.


Hình trong bảo tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu

Từ trước vẫn có một cuộc tranh luận chung quanh câu hỏi : nhà Triệu có phải là một dòng vua Việt Nam không? Đại Việt Sử Ký Toàn Thư coi nhà Triệu là một dòng vua Việt Nam, Nguyễn Trãi cũng nghĩ như thế khi ông viết trong Bình Ngô Đại Cáo : “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần dựng ra nước ta…”. Một số sử gia lại chỉ coi nhà Triệu như một ngoại bang thống trị. Cho tới nay tôi không có ý kiến trong cuộc tranh luận này, nhưng sau khi thăm viếng ngôi mộ này và những di vật của nó, tôi thiên về lập trường thứ hai. Tất cả mọi dấu hiệu cho thấy nhà Triệu thuần túy là một triều đình Trung Quốc. Vả lại, bản đồ nước Nam Việt được các nhà sử học vẽ lại và trưng bày trong viện bảo tàng cũng chỉ gồm có hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và một phần rất nhỏ của miền Bắc nước ta ven vịnh Hạ Long. Sử Việt Nam cũng không chép lại được một việc gì nhà Triệu đã làm trên nước ta, dù họ kéo dài một thế kỷ. Nhận định thực tế nhất có lẽ là Nam Việt chỉ là một vương quốc tự trị ở Quảng Tây, Quảng Đông có uy quyền trên một phần nhỏ của Bắc Việt mà thôi.

Có một nét đặc trưng nổi bật trong suốt dòng lịch sử Trung Quốc và vẫn còn rõ rệt ngày nay, đó là người Trung Hoa có khuynh hướng lấy lượng để thay thế cho phẩm, lấy sự to lớn thay thế cho sự sáng tạo, lấy số nhiều tạo ấn tượng cho sự độc đáo. Các nhà trong các cung điện không khác gì nhau, chúng chỉ gây ấn tượng vì số lượng. Ngày nay người Trung Quốc hình như vẫn giữ tâm lý đó. Họ phát triển về lượng hơn là về phẩm. Khác với Ấn Độ, kinh tế Trung Quốc tập trung vào những sản phẩm kỹ thuật thấp. Kinh tế Trung Quốc tăng trưởng mạnh nhờ xuất khẩu nhiều chứ không phải nhờ xuất khẩu những mặt hàng đắt giá. Và họ dùng tiền thu được của xuất khẩu để mua những mặt hàng có giá trị khoa học kỹ thuật cao. Họ phải xuất khẩu một tỷ áo sơ mi để mua vào một máy bay Airbus 380. Cũng vẫn một công thức.

Tôi cũng đến Trung Quốc để nhận định về mô hình phát triển Trung Quốc vì đó là mô hình mà đảng cộng sản Việt Nam đang cố bắt chước.

Cho tới nay Trung Quốc luôn luôn hóa giải những dự đoán bi quan về họ. Đã có rất nhiều chuyên gia quả quyết Trung Quốc sẽ lâm vào bế tắc và phá sản. Họ là những chuyên gia thượng thặng, lý luận của họ rất vững chắc và không thể sai, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng hơn 10% mỗi năm và ngày càng tỏ ra giàu đẹp hơn. Có một bí mật nào đó cần được giải thích. Trong chuyến viếng thăm này, tôi có cảm tưởng đã nắm bắt được phần đầu của câu trả lời : Trung Quốc còn một dự trữ khổng lồ của một khối người nghèo khổ siêng năng và cần mẫn, sẵn sàng chấp nhận tất cả. Trung Quốc vẫn còn có thể tiếp tục như hiện nay – nghĩa là khai thác và xuất khẩu sự nghèo khổ- khá lâu, rất lâu. Với cái giá mà đại đa số người Trung Quốc sẽ phải trả. Họ sẽ phải sống rất cực nhọc và sẽ không sống thọ với nước và không khí rất ô nhiễm và ngày càng ô nhiễm hơn.

Một cái giá khác là Trung Quốc sẽ định cư trong sự thua kém trong một thế giới đã đi vào kỷ nguyên văn minh tri thức, trong đó ý kiến và sáng kiến quyết định chỗ đứng của các dân tộc. Nhưng ý kiến và sáng kiến chỉ phát triển trong những xã hội tự do, nơi con người liên tục từ chối hiện tại để đổi mới và vươn lên. Tôi không thảo luận những vấn đề chính trị và xã hội với những người bạn Trung Quốc của tôi. Qua ánh mắt họ tôi biết trước họ không có gì để nói. Tôi có thói quen quan sát một dân tộc qua cái nhìn và thái độ của họ. Cái nhìn của những người Trung Quốc là cái nhìn của những người sống bên lề cuộc đời, thái độ của họ là thái độ nhẫn nhục và chịu đựng. Họ không đòi hỏi và chờ đợi gì ở đất nước họ. Chắc chắn họ cũng không đặt vấn đề về cái trở thành của Trung Quốc. Không cần biết tới hay vì mặc cảm bất lực ? Các hướng đẫn viên của tôi đều quả quyết nếu được ra nước ngoài sinh sống thì người Trung Quốc nào cũng đi. Như vậy họ cũng biết một cái gì đó mà không nói ra, như tập quán của ông cha họ. Trong khu mộ Tần Thủy Hoàng ở Tây An tôi đã xem những bức tranh cổ được tái tạo để ghi lại cảnh xây lăng. Một người vì kiệt lực đánh rơi tảng đá đang vác trên vai và lập tức bị chém. Một thanh niên phục xuống lạy cha bị đem đi chôn sống vì đã đến tuổi 60 và bị coi như không còn sức lao động. Người Trung Quốc chấp nhận tất cả. Khi các vua chúa đày đọa họ, họ coi là số phận. Khi các vua chúa để họ sống, họ mang ơn. Các triều đại Nguyên và Thanh đã kéo dài rất lâu và đã chỉ bị sụp đổ, như mọi triều đại thuần túy Trung Quốc khác, vì quá suy đồi và đẩy dân vào chỗ chết chứ không phải vì là những chế độ thống trị ngoại bang. Cuộc cách mạng cộng sản đã là một ngoại lệ, nhờ Thế Chiến 2. Tinh thần dân tộc hoàn toàn không phải là một đặc tính của người Trung Quốc. Trung Quốc là thiên hạ, là thế giới, hơn là một nước. Việc nước là việc của thiên hạ. Hơn nữa đa số người Trung Quốc hiện còn có vẻ cảm ơn đảng cộng sản đã nới lỏng dây trói cho họ. Điều này tôi nhận thấy rất rõ trong những con người ở mọi nơi tôi đã đi qua. Nguyện vọng dân chủ của họ còn rất yếu, có lẽ vì dân chủ cũng chỉ được nhìn như là một vấn đề của thiên hạ. Như vậy chế độ độc tài đảng trị của Trung Quốc sẽ còn có thể kéo dài rất lâu. Những người đấu tranh cho dân chủ còn cô đơn những người dân chủ Việt Nam. Một tỷ rưỡi người Trung Quốc chỉ là một tỷ rưỡi người cô đơn và cam chịu. Điểm khác biệt căn bản giữa Trung Quốc và Việt Nam là tại Trung Quốc những biện pháp nới lỏng đến từ lãnh đạo, tại Việt Nam chúng đến từ áp lực quần chúng.

Trong cách nhìn của họ, đảng trước nước sau, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã có lý khi gắn bó chế độ của họ với Trung Quốc, Trung Quốc quả là một chỗ dựa rất vững chắc. Dân chủ và tự do chỉ có thể từ Việt Nam ảnh hưởng vào Trung Quốc chứ không thể từ Trung Quốc lan tới Việt Nam.

Trong những ngày cuối cùng chúng tôi thăm viếng Hàng Châu, Tô Châu và Thượng Hải. Hàng Châu và Tô Châu tuyệt đẹp. Tô Châu có chùa Hàn San, nổi tiếng qua bài thơ Phong Kiều Dạ Bạccủa Trương Kế. Người Trung Quốc có câu “chưa tới Bắc Kinh chưa thấy chức mình nhỏ, chưa tới Hàng Châu chưa thấy vợ mình xấu, chưa tới Thượng Hải chưa thấy nhà mình thấp”. Bắc Kinh là nơi tập trung những quan chức cao cấp từ nhiều thế kỷ nay. Phụ nữ Hàng Châu và Tô Châu quả là rất đẹp.

Còn Thượng Hải? Đó đúng là thành phố của những nhà chọc trời. Có  hơn 1.600 cao ốc trên 40 tầng. Đi thuyền trên dòng sông Hoàng Phố về đêm là một bắt buộc đối với mọi người thăm Trung Quốc lần đầu. Tráng lệ. Thượng Hải đồ sộ hơn hẳn New York.

Thượng Hải, theo lời những người bạn Trung Quốc của tôi, là điều mà Trung Quốc muốn chứng tỏ với thế giới họ có thể làm. Đúng vậy. Người Trung Quốc đã chứng tỏ họ có thể làm những điều khó tưởng tượng. Họ đã xây Vạn Lý Trường Thành, lăng Tần Thủy Hoàng, lăng Võ Tắc Thiên, Minh Thành Tây An, Cấm Thành Bắc Kinh, Lâu Đài Mùa Hạ v.v. Tất cả đã làm kiệt quệ Trung Quốc, như những kim tự tháp đã làm kiệt quệ Ai Cập. Thượng Hải, Thẩm Quyến và những kiến trúc vĩ đại tại Bắc Kinh, Tây An, Côn Minh, Quảng Châu có thể chỉ là những Vạn Lý Trường Thành mới. Phải lo hơn là mừng cho người Trung Quốc.

Dĩ nhiên tôi cũng muốn đo lường nguy cơ lấn chiếm của Trung Quốc tại vùng biên giới với nước ta. Cảm nghĩ rất rõ rệt của tôi là nguy cơ này hoàn toàn không thể có nếu chúng ta có được một chính quyền khá. Người dân trong cả hai tỉnh giáp ranh với Việt Nam, Vân Nam và Quảng Tây, đều không gắn bó với Bắc Kinh, và với Trung Quốc nói chung. Trong thế kỷ 19 họ đã chiến đấu quyết liệt để ly khai với kết quả là hơn 70% dân chúng bị tàn sát. Ngày nay nguyện vọng chính của họ cũng vẫn chỉ là một mức độ tự trị lớn hơn, độc lập nếu có thể được. Vả lại hiện nay Vân Nam đã có rất nhiều khu tự trị sắc tộc, Quảng Tây đã là một tỉnh tự trị. Người dân trong cả hai tỉnh này đều có thiện cảm đối với Việt Nam, rất nhiều người nói được tiếng Việt. Nếu Việt Nam có được một chính quyền sáng suốt thì không có gì phải lo ngại Trung Quốc cả, nhưng đây là một chữ NẾU khá lớn.

Một cách tình cờ, tôi đã gặp một nhóm viên chức Việt Nam sang Bắc Kinh tham dự một hội nghị. Chúng tôi đã thảo luận về mô hình Trung Quốc và đồng ý là mô hình này chắc chắn dẫn tới thảm kịch. Tất cả vấn đề là lúc nào và như thế nào. Những anh chị em này đều khẳng định là Việt Nam đang làm một điều rất dại dột là cóp nhặt mô hình Trung Quốc. Nhưng họ lại nhận định là không thể có hướng đi khác dưới chế độ này, dù họ là những viên chức của chế độ.

Và khi qua câu chuyện họ biết tôi là tác giả cuốn Tổ Quốc Ăn Năn thì không khí thay đổi hẳn. Chúng tôi thực sự là anh em.

Nguyễn Gia Kiểng
(30 tháng 10/2007)

.

.

.

Dân Đài Loan biểu tình xé sách giáo khoa “thân Trung Quốc” (Đức Tâm – RFI)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Dân Đài Loan biểu tình xé sách giáo khoa “thân Trung Quốc”

Đức Tâm – RFI

Đăng ngày 02-08-2015

http://vi.rfi.fr/chau-a/20150802-dan-dai-loan-bieu-tinh-xe-sach-giao-khoa-than-trung-quoc

.

Sinh viên Đài Loan biểu tình phản đối sách giáo khoa mới vì cho là quá coi trọng Trung Quốc – AFP / Sam Yeh

http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/8/4928/2784/1024/578/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/000_Hkg10198695_0.jpg

Hôm nay, 02/08/2015, gần một ngàn người Đài Loan đã biểu tình trước trụ sở Bộ Giáo dục ở Đài Bắc và đòi Bộ trưởng Giáo dục phải từ chức vì bị tố cáo đưa vào chương trình giảng dạy các sách giáo khoa có nội dung thân Bắc Kinh.

Những người biểu tình đã xé các sách giáo khoa vừa được in, đồng thời giương cao các biểu ngữ như « Hãy ủng hộ sinh viên Đài Loan », « Bảo vệ nền dân chủ » và « Ngô Tư Hoa hãy từ chức». Ông Ngô Tư Hoa (Wu Se Hwa) là Bộ trưởng Giáo dục Đài Loan.

Cuộc biểu tình bắt đầu từ ngày 24/07, khi 30 người, đa số là sinh viên Đài Loan đã kéo tới trụ sở Bộ Giáo dục để biểu tình phản đối các sách giáo khoa mới được đưa vào giảng dạy vì họ cho là quá coi trọng Trung Quốc. Những người này đã bị cảnh sát bắt giữ, sau đó được thả, nhưng một vài người bị khởi tố.

Hôm thứ Năm, 30/07, nhà hoạt động Lâm Quang Hoa (Lin Kuan Hua), người tham gia biểu tình trước đó, đã tự sát tại nhà riêng. Những người biểu tình hôm nay đã cài nhiều hoa vào hàng rào trụ sở Bộ Giáo dục để tưởng nhớ Lâm Quang Hoa.

Theo giới quan sát, dân chúng tại Đại Loan, đặc biệt là giới trẻ, lo ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng gia tăng trên hòn đảo này, trong bối cảnh Bắc Kinh và Đài Bắc có nhiều động thái xích lại gần nhau hơn.

Năm ngoái, sinh viên Đài Loan đã phát động phong trào « Hoa Hướng Dương », biểu tình và chiếm giữ trụ sở Quốc hội trong suốt ba tuần lễ để phản đối việc ký kết một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc đại lục.

Một trong những điểm thay đổi trong sách giáo khoa mới liên quan đến cụm từ « Trung Quốc giành lại Đài Loan » thay vì « Đài Loan được giao cho Trung Quốc » sau khi chấm dứt sự chiếm đóng của Nhật vào năm 1945.

Giai đoạn 50 năm Nhật chiếm đóng thì được đổi lại thành giai đoạn « Nhật chiếm đóng » đảo Đài Loan, thay vì « Nhật cai trị ». Đảng đối lập Dân Tiến tố cáo Quốc Dân đảng cầm quyền tìm cách bôi nhọ phong trào đấu tranh của sinh viên và đòi phải hủy bỏ những sửa đổi trong sách giáo khoa.

TIN LIÊN HỆ :

Sinh viên Đài Loan chống chương trình học bị coi là trọng Trung Quốc (RFI 31/7/2015)

.

.

.

Nguyễn Đình Toàn: từ đồng cỏ tới áo mơ phai (Ngô Thế Vinh)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Nguyễn Đình Toàn: từ đồng cỏ tới áo mơ phai

tuan’s blog

Sunday, August 2, 2015

http://tuanvannguyen.blogspot.com/2015/08/nguyen-inh-toan-tu-ong-co-toi-ao-mo-phai.html

Xin hân hạnh giới thiệu cùng các bạn một bài viết rất đặc sắc của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Bài viết về Nguyễn Đình Toàn, vừa là nhà văn, thi sĩ, mà cũng là nhạc sĩ nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Nói đến Nguyễn Đình Toàn, có lẽ nhiều bạn sẽ nghĩ ngay đến ca khúc Tình khúc thứ nhất (của Vũ Thành An, do Nguyễn Đình Toàn viết lời), nhưng ông còn là một tác giả có tác phẩm Áo mơ phai được giải thưởng văn học 1973. Tôi có hân hạnh tiếp kiến với ông một lần ở California để nghe nói chuyện đời, kể cả chuyện thời cải tạo, nhưng phải hôm nào khác mới viết lại. Bây giờ, tôi trân trọng mời bạn đọc theo dõi sự nghiệp của Nguyễn Đình Toàn qua ngòi bút của Nhà văn Ngô Thế Vinh.

Nguyễn Văn Tuấn

———————

Nguyễn Đình Toàn: từ đồng cỏ tới áo mơ phai

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

                                       Nguyễn Đình Toàn

NGÔ THẾ VINH

TIỂU SỬ:

Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học [trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn]; Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilletoncho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sau 1975, cùng chung số phận như mọi văn nghệ sĩ Miền Nam, Nguyễn Đình Toàn bị bắt hai lần và đi tù cải tạo một thời gian gần sáu năm. Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trìnhĐọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.

Tác phẩm đã xuất bản:

Văn: Chị Em Hải (truyện, Nxb Tự Do 1961); Những Kẻ Đứng Bên Lề (truyện, Nxb Giao Điểm 1974); Con Đường (truyện, Nxb Giao Điểm 1965); Ngày Tháng (truyện, Nxb An Tiêm 1968); Phía Ngoài (tập truyện, viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nxb Hồng Đức 1969); Đêm Hè (truyện, Nxb Hiện Đại 1970); Giờ Ra Chơi (truyện, Nxb Khai Phóng 1970); Đêm Lãng Quên (Nxb Tân Văn 1970); Không Một Ai (truyện, Nxb Hiện Đại 1971); Thành Phố (truyện, Nxb Kẻ Sĩ 1971); Đám Cháy (tập truyện, Nxb Tân Văn 1971); Tro Than (truyện, Nxb Đồng Nai 1972); Áo Mơ Phai (truyện, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972); Đồng Cỏ (truyện, Nxb Đồng Dao/ Úc châu  1994).

Thơ: Mật Đắng (thơ, Nxb Huyền Trân 1962)

Kịch: các vở kịch Nguyễn Đình Toàn đều là kịch truyền thanh, trừ Cơn Mưa được trích đăng trong bộ môn Kịch Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, những bản thảo khác đều thất lạc.

Chiến dịch đốt sách sau 1975 và những cuốn sách “tro than” của Nguyễn Đình Toàn

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/a630e-ndtoan2b1.png

Nhạc: Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999); Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001); Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002).

Ký: Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nxb Đêm Trắng 2006, 2012)

Áo Mơ Phai đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1973.

Nguyễn Đình Toàn_ ký hoạ Tạ Tỵ

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/dcb09-ndtoan2b2.png

Nguyễn Đình Toàn_ trái: photo by Trần Cao Lĩnh;

phải: photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm 

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/fcb92-ndtoan2b3.png

CHỊ EM HẢI

Có lẽ Nguyễn Đình Toàn viết khá sớm từ những ngày niên thiếu ở Hà Nội, cũng lập bút nhóm và chọn bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân. Khi di cư vào Nam, thời gian ban đầu, Nguyễn Đình Toàn sống chung với gia đình Nhật Tiến. Không có tiền mua giấy trắng, những trang bản thảo đầu tiên của Nguyễn Đình Toàn đã được viết trên mặt sau của các bản tin VN Thông Tấn Xã phế thải. Khi bắt đầu có tác phẩm xuất bản, Toàn quyết định lấy tên thật làm bút hiệu.

Chị Em Hải là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Toàn, ít được nhắc tới nhưng đã mang ngay dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Toàn sau này. Bản thảo Chị Em Hải,được ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc chuyển tới nhà báo Phạm Xuân Ninh rồi tới tay nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả Khói Sóng, lúc đó đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do. Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, nhận ra văn tài của Nguyễn Đình Toàn nên đã để cơ sở báo chí Tự Do xuất bản ngay cuốn sách này cùng với cuốn Thử Lửa của Thao Trường [tiền thân của bút danh Thảo Trường sau này]. Cùng năm sinh 1936, với hai tác phẩm đầu tay, Nguyễn Đình Toàn và Thảo Trường đều mau chóng trở thành hai tên tuổi văn học của Miền Nam.

Vũ Hoàng Chương chết ngay sau khi ra khỏi trại tù cộng sản 06/1976.

 [Nguồn: tư liệu của Nhật Tiến]

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/3562d-ndtoan2b4.png

ÁO MƠ PHAI

Vào thập niên 1960s, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ một phần do lối viết feuilleton cho các nhật báo, bên cạnh đó là những truyện kiếm hiệp Kim Dung, truyện dịch Quỳnh Dao nhằm đáp ứng nhu cầu mọi thành phần độc giả thời bấy giờ. Viết feuilleton, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ còn gọi viết truyện nhật trình; đó là những tiểu thuyết, truyện dài được các tác giả viết mỗi ngày và đăng từng kỳ báo. Điển hình là nhà văn Mai Thảo, cùng một lúc nhận viết truyện dài cho nhiều tờ báo, đôi khi tới ngồi viết ngay tại toà soạn, đưa từng trang viết chưa ráo mực cho nhà in để kịp sắp chữ.

Rồi cũng phải kể tới tình huống một feuilleton do nhiều người viết, điển hình là truyện dài “Một Triệu Đồng” của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, toà soạn quyết định tiếp tục. Trong hồi ký Tôi Làm Báo, nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: “Do, ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại”.Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại toà báo.

Gần như một phong trào, không thiếu những nhà văn danh tiếng cũng tham dự vào phong trào viết tiểu thuyết feuilleton như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Thảo Trường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhã Ca, Tuý Hồng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ… nhiều người xem đó như thứ sản phẩm giải trí ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của xã hội tiêu thụ. Nhà văn Sơn Nam cũng viết feuilleton nhưng chính Sơn Nam sau này lên tiếng phủ nhận, không coi đó là những tác phẩm văn học. Công bằng mà nói tiểu thuyết feuilleton không phải không có tác phẩm hay phải nói là rất hay. Chất lượng tác phẩm tuỳ theo thái độ chọn lựa và cách viết của mỗi tác giả.

Nguyễn Đình Toàn cũng không là một ngoại lệ. Trừ Chị Em Hải là tác phẩm được viết xong rồi xuất bản, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nguyễn Đình Toàn đều là tiểu thuyết feuilleton sau đó được in thành sách như Con Đường [nhật báo Tự Do], Đồng Cỏ [nhật báo Chính Luận], Áo Mơ Phai [nhật báo Xây Dựng], và những cuốn khác trên nhật báo Tiền Tuyến mà chính Nguyễn Đình Toàn cũng không còn nhớ. Nguyễn Đình Toàn có một đức tính là các trang bản thảo chỉ viết một lần, không sửa chữa và giao thẳng cho thợ nhà in sắp chữ. [Nguyễn Mộng Giác sau này là người thứ hai cũng viết bản thảo chỉ một lần không sửa chữa]. Nguyễn Đình Toàn cho rằng chưa hề hy sinh tính văn chương khi chọn viết những truyện dài feuilleton như vậy.

Nếu theo thứ tự xuất bản, thì Áo Mơ Phai là cuốn sách feuilleton thứ 13 của Nguyễn Đình Toàn, và cũng là tác phẩm được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1973.

Khi viết bài điểm sách Áo Mơ Phai, Huỳnh Phan Anh, đã nhận định: “Phải nhìn nhận rằng yếu tố ‘truyện’ là cái gì quá nghèo nàn trong Áo Mơ Phai, truyện dài. Một độc giả bình thường có thể thất vọng sau khi đọc Áo Mơ Phai. Người đọc có thể xếp cuốn sách lại với nỗi bàng hoàng nào đó, có lẽ người đọc sẽ khó thâu tóm ‘câu truyện’ mà tác giả đã dùng trên 300 trang sách để kể. Có thể câu truyện thật sự củaÁo Mơ Phai không thể tách rời khỏi từng trang Áo Mơ Phai, nghĩa là không thể giản lược tóm thâu mà không làm mất ý nghĩa của nó. Có thể vì câu truyện thực sự củaÁo Mơ Phai là cái gì chưa hoàn tất, nói một cách nào đó, hãy còn vắng mặt, hãy còn hứa hẹn.” [Văn Học 10/02/1974]   

Cũng trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựngÁo Mơ Phai như một tác phẩm tâm đắc của mình: “Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên. Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi.”

Ba mươi hai năm sau [9/10/2006] trong buổi mạn đàm với Hoàng Khởi Phong trên RFA, khi được hỏi về Áo Mơ Phai Nguyễn Đình Toàn bày tỏ: “Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết”.  [HKP mạn đàm với NĐT, RFA 9/10/2006]

     Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn khiến người ta liên hệ tới bài diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957 tại Stockholm, Camus đưa ra nhận định rằng ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử. Và tác giả La Peste / Dịch Hạch cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử. [Le rôle de l’écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs difficiles. Par définition, il ne peut se mettre aujourd’hui au service de ceux qui font l’histoire: il est au service de ceux qui la subissent. [Albert Camus, Discours de Suède 1957] 

Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri.

Đọc văn Nguyễn Đình Toàn, để sống với Hà Nội những ngày sắp mất nhưng cũng không bao giờ mất qua hơn 300 trang sách Áo Mơ Phai:

     “Tháng bẩy rồi tháng tám [1954, ghi chú của người viết] qua mau lẹ như những trận mưa đổ xuống không giờ giấc trong những đêm khuya, những buổi chiều. Người Hà Nội bỏ đi và chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội, nằm la liệt tại các công viên, xó xỉnh, vỉa hè, đầy ắp trong Toà Thị Chính, chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu, di cư vào Nam.

     Chiều chiều Lan thường ngồi trên bao lơn nhìn xuống khu phố đôi lúc vắng vẻ, đôi lúc chen chúc những đám dân quê níu áo nhau đi như chạy, nhìn những tàn cây trước nhà, cây gần nhất có những cành xoè tới sát bao lơn như những cánh tay, những hàng cây xa dọc theo các khu phố, một ngày, một buổi chiều, bao nhiêu lá đều vàng hết, rồi cũng trong một ngày nữa, tất cả lá như tấm áo khoác của thành phố ấy phai thêm một lần nữa, trút khỏi cành như những giấc mơ rời khỏi vầng trán khô cằn, những sợi tóc rụng khỏi chiếc đầu đau ốm.

     Trong nhiều ngày, Lan có cảm tưởng cơn bệnh của thành phố, của những hàng cây lây sang nàng, Lan thấy chân tay nặng nề không muốn cử động, hơi thở khó khăn.

     Nàng mong đợi ngày đi để đi cho xong, cầu nguyện cho ngày khởi hành đừng đến vội, để còn được ở lại đây thêm nữa, ở lại Hà Nội, chia xẻ nỗi đau đớn của Hà Nội, sống với Hà Nội, chết với Hà Nội, rũ rượi với Hà Nội, rõ ràng là Hà Nội đang kiệt sức, những giọt mưa đọng trên các cành cây, những ngọn lá, chẳng khác Hà Nội khóc.”  [Áo Mơ Phai, Ch.9, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972]    

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LẦN HAI

Sau 1975, những gì đốt được thì không còn, Nguyễn Đình Toàn cho biết: “không còn một tấm hình nào về cái ngày phát giải VHNT ấy cả. Nhưng cái huy chương thì lạ lắm. Có một người bạn trẻ, đã mua được tấm huy chương đó trên một vỉa hè ở Hà Nội, mang về đây tặng lại cho mình. Hắn nói ‘cháu trao tặng bác giải thưởng lần thứ hai’. Bữa hắn mang tới cho mình có mặt Cao Xuân Huy và bạn Huy là Trần Như Hùng, đài phát thanh Úc Châu. Sự việc, Cao Xuân Huy cho là quá hi hữu, có ý viết thành một truyện ngắn”. Toàn nói: đó là “cuộc phiêu lưu của con dế mèn” [tên một truyện nhi đồng của Tô Hoài]. Cầm trên tay tấm huy chương bằng đồng mạ vàng đã hoen rỉ theo màu thời gian của 42 năm lưu lạc, tôi nói đùa với vợ chồng Nguyễn Đình Toàn: cũng may là không phải vàng ròng, nếu không thì cũng đã bị đốt chảy trong một tiệm kim hoàn nào đó ngoài Hà Nội.

Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hoá đồi truỵ sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành “Tro Than”, như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.

Giải Văn Học Nghệ Thuật 72-73 không phải chỉ có tấm huy chương, mà còn kèm theo số hiện kim 600,000 đồng tương đương với 40 lượng vàng theo thời giá bấy giờ. Tưởng cũng nên nói thêm về giải Văn Học Nghệ Thuật 1961, với số hiện kim 40,000 đồng lúc đó đủ cho nhà văn Nhật Tiến mua một xe hơi Renault 4CV còn chạy tốt cho tới những năm về sau này.

Cho dù Nguyễn Vỹ có than thở “nhà văn An Nam khổ như chó” nhưng thực ra trong xã hội Việt Nam, họ vẫn là thành phần được quý trọng.

trên: hai mặt của tấm huy chương

Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do

Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáng lập  

Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73)

với tác phẩm Áo Mơ Phai

dưới: bìa tác phẩm Áo Mơ Phai

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/32107-ndtoan2b5.png

NHÓM ĐÊM TRẮNG

Từ 1954, trong vòng 20 năm của Miền Nam, các phong trào văn học được tự do nở rộ. Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh, nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực làm mới văn chương, nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; rồi tới nhóm Đêm Trắng [cũng có thể gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt] được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn. Nhóm 6 người ấy đa số xuất thân nhà giáo: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm. Tuy mang tên nhóm nhưng họ là những cây bút độc lập, có chung ý hướng là tự làm mới cách viết của mỗi người.

Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp. Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ.

Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong tràoNouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon. Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn “theo cái nghĩa thời thượng” của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.

NHẠC THOẠI CỦA NHẠC CHỦ ĐỀ

Vào thập niên 1960, có ba chương trình nhạc được thính giả yêu thích là chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc và Mai Thảo phụ trách, và chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Mỗi chương trình có một sắc thái hay riêng, nhưng có lẽ “Nhạc chủ đề”trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy vào mỗi tối thứ Năm được chờ đợi đón nghe nhiều nhất. Những lời dẫn quen thuộc với giọng đọc trầm ấm của Nguyễn Đình Toàn như nhập tâm vào mỗi thính giả:

Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…

Nguyễn Đình Toàn 1 – Nhạc Chủ Đề 1970

Tình Ca Việt Nam [Thu Âm Trước 1975]

https://www.youtube.com/watch?v=H3rrItsK5Z8

Không phải chỉ có nữ giới, mà cả phái nam cũng rất mê chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ở Sài Gòn là giới thanh niên sinh viên, nơi chiến trường xa là những người lính.

Người lính, sau này trở thành thương phế binh, nhà thơ Phan Xuân Sinh hiện sống ở Houston Texas đã bồi hồi kể lại: “Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60… tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai. Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường”.

Gs Nguyễn Văn Tuấn từ Viện nghiên cứu Y khoa Garvan Úc Châu trước và sau 1975 là một “fan” của chương trình Nhạc Chủ Đề. Anh Nguyễn Văn Tuấn viết: “Tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian. Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập loè ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu tuyệt đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi…” Rồi mới đây sau khi nghe lại CD Tình Ca Việt Nam Nguyễn Đình Toàn 1970, anh đã phải thốt lên: “mỗi lời dẫn cho một bản nhạc ở đây là một “nhạc thoại” một tác phẩm khác. Nó thể hiện tính thẩm văn và thẩm nhạc của người tuyển chọn là Nguyễn Đình Toàn”. Rồi cuối cùng, hai người bạn họ Nguyễn ấy như Bá Nha Tử Kỳ cùng một kiếp tha hương, họ cũng đã gặp nhau không phải trên “một quê hương Việt Nam sợ hãi – chữ của Nguyễn Đình Toàn trong Đồng Cỏ” mà trên lục địa Mỹ Châu thênh thang tự do nhưng vẫn là lưu đầy.

Truyện Nguyễn Đình Toàn rất giàu hình ảnh và nhiều chất thơ có thể đọc như một bài thơ xuôi/ prose poem. Khi đặt lời cho một bản nhạc thì tự thân phần lời ấy đã là một bài thơ. Nguyễn Đình Toàn viết nhạc, nổi tiếng với một số nhạc khúc, nhưng có lẽ những nốt nhạc được cất cánh từ những ý thơ ban đầu của Nguyễn Đình Toàn. Lời bản Tình Khúc Thứ Nhất đã là một thi phẩm trước khi kết hợp với phần nhạc của Vũ Thành An.

Tình Khúc Thứ Nhất, tiếng hát Lệ Thu

Tình Khúc Thứ Nhất (Vũ Thành An) Internet.mp3

https://www.youtube.com/watch?v=T133AZzRTTY

TÌNH KHÚC THỨ NHẤT

Tình vui theo gió mây trôi

Ý sầu mưa xuống đời

Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi

Mấy tuổi xa người

Ngày thần tiên em bước lên ngôi

Đã nghe son vàng tả tơi

Trầm mình trong hương đốt hơi bay

Mong tìm ra phút sum vầy

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai

Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài

Lời nào em không nói em ơi

Tình nào không gian dối

Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say

Lá thốt lên lời cây

Gió lú đưa đường mây

Có yêu nhau xin ngày thơ ngây

Lúc mắt chưa nhạt phai

Lúc tóc chưa đổi thay

Lúc môi chưa biết dối cho lời

Tình vui trong phút giây thôi

Ý sầu nuôi suốt đời

Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền

Dù trời đem cay đắng gieo thêm

Cũng xin đón chờ bình yên

Vì còn đây câu nói yêu em

Âm thầm soi lối vui tìm đến

Thần tiên gẫy cánh đêm xuân

Bước lạc sa xuống trần

Thành tình nhân đứng giữa trời không

Khóc mộng thiên đường

Ngày về quê xa lắc lê thê

Trót nghe theo lời u mê

Làm tình yêu nuôi cánh bay đi

Nhưng còn dăm phút vui trần thế
NƯỚC SÔNG MEKONG MÁU CỦA ĐẤT

Các tác phẩm văn học lớn thường mang những dự cảm hay cả viễn kiến có thể liên hệ với cuộc sống. Truyện Kiều là một ví dụ: hoàn cảnh nào cũng có thể liên hệ với một câu thơ của Nguyễn Du.

Tôi không nói rằng Nguyễn Đình Toàn đã sáng tác những tác phẩm lớn, nhưng từ các trang sách của anh, tôi đã tâm đắc tìm thấy ở đấy những dự cảm để dễ dàng đưa vào trích dẫn. Nguyễn Đình Toàn đã ví nước sông Mekong như “máu của đất”trước viễn tượng một Cửu Long Cạn Dòng.

Và khi có tin cặp vợ chồng ngư dân Nguyễn Văn Chơn cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp mười ngày trước Giáng Sinh đã rất đỗi vui mừng khi lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 ký. Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn là giống cá nước mặn. Trong niềm vui lưới được con cá đuối nước mặn to khủng trên khúc sông Tiền cũng chính là tín hiệu của thảm hoạ:“Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai” như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì nạn ngập mặn / salt intrusion đã càng ngày càng lấn vào rất sâu vào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi vốn là vùng đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…”  [CLCD BĐDS, Ch. XIV, Nxb Văn Nghệ 2000]

BÀ TÚ XƯƠNG THU HỒNG

Tôi quen Nguyễn Đình Toàn có lẽ khởi đầu từ những trang sách Chị Em Hải, rất sớm khi còn là sinh viên Khoa học. Quán cà phê La Pagode thường là nơi có thể dễ dàng gặp Toàn và các bạn văn nghệ của anh, cũng là nơi hình thành nhóm Đêm Trắng sau này. Nguyễn Đình Toàn ngoài giờ làm ở đài phát thanh, hầu như thường ngày ra ngồi viết nơi quán Cái Chùa này.

Chỉ được gặp chị Toàn khi tới thăm căn nhà rất nhỏ của anh chị, trước nhà có hàng cây trứng cá, trong một con hẻm cũng rất nhỏ phía sau đài phát thanh Sài Gòn. Chị Thu Hồng, tên người bạn đời tấm cám hơn 60 năm của Nguyễn Đình Toàn, chị nhỏ hơn Nguyễn Đình Toàn sáu tuổi, chị có vẻ đẹp với cá tính mà các hoạ sĩ rất muốn vẽ, một thứ người mẫu cho những bức tranh của Modigliani cộng thêm với cái trán cao bướng bỉnh khi chọn lựa và chấp nhận sự thách đố của số phận. Chị cũng là xướng ngôn viên cho một chương trình của đài phát thanh Sài Gòn. Thời kỳ ấy, Toàn thì bị lao phổi khá nặng, lại mới có một đứa con đầu lòng. Thuốc chữa bệnh lao lúc đó rất hiếm hầu như chỉ có hai thứ: thuốc viên Rimifon, và thuốc chích Streptomycin có thể gây điếc. Toàn thường ho ra máu, sức khoẻ suy kiệt và thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết giữa tuổi mới ngoài 20 ấy. Tập thơ Mật Đắng được sáng tác trong giai đoạn đen tối và gần như tuyệt vọng này. Võ Phiến khi viết về thi phẩm Mật Đắng của Nguyễn Đình Toàn, thay vì bốn cái khổ: sinh, bệnh, lão, tử “trong Mật Đắng không có cái lão, nhưng thay bằng cái ái, càng tệ hơn… Sinh, bệnh, ái, tử, nghe có hơi lạ tai một chút, dù sao cũng là chuyện của mọi nơi chốn, mọi thời đại”. [Văn Học Miền Nam, Thơ, Nxb Văn Nghệ 1999].

Trong bài thơ Úp Mặt, Nguyễn Đình Toàn viết:

Bàn tay vuốt mặt xương lồi

Hai mươi tư tuổi một đời cũng xong

Có lẽ sức sống toả sáng nơi căn nhà nhỏ chật của vợ chồng Nguyễn Đình Toàn lúc ấy là nụ cười luôn luôn rạng rỡ và cả ẩn nhẫn của chị Thu Hồng, vợ Toàn. Với tôi, chị là hình ảnh nguyên mẫu của một bà Tú Xương lúc ấy và cho tới suốt cả những năm về sau này, chị bền bỉ đảm đương một gia đình bốn con và cả thăm nuôi Nguyễn Đình Toàn trong suốt thời gian gian tù đầy.

     “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, bà Tú Xương của thời hiện tại đã đảo nghịch lời tiên tri Mật Đắng, và Nguyễn Đình Toàn thì nay cũng đã vượt xa cái ngưỡng tuổi “cổ lai hy”, tới tháng Chín 2015 này, Nguyễn Đình Toàn tròn 80 tuổi.

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng

Huntington Beach Library 2014

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/43ed5-ndtoan2b6.png

Rồi vợ chồng Nguyễn Đình Toàn cũng sang được Mỹ tuy khá trễ 1998. Và kể từ sau những năm 2000, sau bao tháng năm thăng trầm, chị Thu Hồng vẫn là hình ảnh một bà Tú Xương ngày nào, nhưng chị đã bắt đầu quên nhiều điều, quên những chuyện nhân sinh hiện tại. Nhưng mỗi khi khi phone tới nhà không gặp Toàn, xin nói chuyện với “bà Tú Xương” thì bên kia đầu dây là một giọng cười ròn rã, chị nhận ra ngay ai đang nói chuyện với chị và nhớ lại đủ mọi điều. Một hôm tới thăm anh chị cách đây không lâu, nửa buổi sáng câu chuyện rộn rã, khi ra về anh chị xuống thang đưa tiễn tôi ra xe, chị Toàn nói hồn nhiên: “hôm nào anh Vinh tới nhà tụi này chơi” Toàn nhắc chị, anh ấy vừa mới từ nhà mình xuống đây mà. Chị Toàn thì vẫn cười hồn nhiên. Tôi vẫn nghĩ nếu không có bà Tú Xương, có lẽ Toàn đã chẳng thể sống sót cho tới cái tuổi gần 80 như hôm nay. Toàn không phủ nhận điều ấy và dí dỏm nói, “cũng vì vậy mà bây giờ tôi đang trả nợ cho bà ấy”, Toàn nói tới vai trò không thể thiếu hàng ngày phải chăm sóc người bạn đời của mình. Hai vợ chồng sống như đôi chim liền cánh, từ bấy lâu nay, Toàn đã không thể để chị ở nhà một mình.

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ.

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

Ca sĩ Quỳnh Giao, trong bài viết về  “Nguyễn Đình Toàn, Dẫn Em Vào Nhạc” đã cho rằng “Nguyễn Đình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu” điều đó có lẽ đúng với các thế hệ sống ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975. Nhưng với các thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong nước cũng như ở hải ngoại, những bài viết giới thiệu một Nguyễn Đình Toàn tài năng trong nhiều lãnh vực văn, thơ, nhạc, kịch vẫn là điều cần thiết. Và đáng mừng là đã có rất nhiều bài viết về mọi khía cạnh của Nguyễn Đình Toàn, nghĩ tới một bài viết mới về Nguyễn Đình Toàn, câu hỏi được đặt ra là liệu còn gì để viết nữa nếu không phải là những chia xẻ chút riêng tư với một bạn văn và cũng là cố tri.

Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng và Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng khi anh sắp bước vào tuổi 80 gần như một phép lạ.

 

NGÔ THẾ VINH

California 08/ 03/ 2015

Posted by Tuan Nguyen at 2:01 PM

.

.

.

Tiếng Nói Từ Miền Nam (K. W. Taylor – Cornell University)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Tiếng Nói Từ Miền Nam

Tác giả: K. W. Taylor (Cornell University)
Dịch giả: Tuong Vu (University of Oregon)

02/08/2015

https://vietbao.com/p112a241059/tieng-noi-tu-mien-nam

.

Vũ Tường (Đại học Oregon) dịch từ nguyên tác tiếng Anh, “Introduction: Voices from the South,” bài giới thiệu sách Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975) [Hồi tưởng của những người đóng góp xây dựng nền Đệ nhị cộng hòa của miền Nam Việt Nam (1967-1975)] do K. W. Taylor biên tập, Cornell Southeast Asia Program Publications (Ithaca, 2014), trang 1-8.
———
Người Mỹ chúng ta thường nghĩ về chế độ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) như một định chế thống nhất trong hai thập kỷ (1955-75) khi quốc gia này là đồng minh của Hoa Kỳ. Thực ra, nền chính trị của VNCH trải qua nhiều thăng trầm của cuộc chiến tranh: đầu tiên là một chế độ độc tài, sau đó là một giai đoạn hỗn loạn, rồi đến một thời kỳ thử nghiệm dân chủ đại nghị khá ổn định. Trong phần lớn các bài viết, dù là nghiên cứu học thuật hay báo chí, VNCH hiện lên như một chế độ độc tài, tham nhũng, và hỗn loạn. Hình ảnh này mang tính chất phiến diện, cường điệu, và dựa trên những biến cố trong hai thời kỳ đầu của VNCH. Đã có rất ít nỗ lực đánh giá những thành tựu của VNCH trong tám năm cuối.

Tác giả K. W. Taylor.

https://vietbao.com/images/file/C-TP30Oa0ggBAEll/w480/keith-taylor-2-ok.jpg

Tác giả của các bài viết trong tập sách này là những người đã cố sức xây dựng một thể chế hiến định của chính phủ đại nghị trong bối cảnh một cuộc chiến tranh tuyệt vọng với đối phương là một nhà nước độc tài toàn trị. Đây là thời kỳ Đệ nhị cộng hòa (1967-1975). Nhiều người Việt đã đặt niềm hy vọng vào nền Đệ nhị cộng hòa, và qua nó chiến đấu và nỗ lực đóng góp cho tương lai của một Việt Nam-phi-cộng-sản. Qua tập sách này chúng tôi muốn đem câu chuyện của họ đến với bạn đọc vì những thành tựu của thời kỳ đó không phải nhỏ.

Trong những thập kỷ đầu của nửa sau thế kỷ 20, các thuộc địa trở thành quốc gia độc lập bằng nhiều đường khác nhau. Quá trình này ở Việt Nam đặc biệt phức tạp và lâu dài vì cuộc tranh chấp giữa các nhóm người Việt có ý thức hệ khác biệt bị lôi cuốn vào cuộc tranh hùng của hai siêu cường trên thế giới.

Trong bài giới thiệu này, tôi sẽ trình bày bối cảnh lịch sử của nền Đệ nhị cộng hòa trong đó người Việt đóng vai trò chủ động bên cạnh các cường quốc. Tôi cũng sẽ xem xét những vấn đề quan trọng liên quan đến việc đánh giá nền Đệ nhị cộng hòa, và đề nghị một cách phân tích nhìn từ quan điểm của người Việt.

Trong nửa thế kỷ, từ năm 1940 đến năm 1990, chiến tranh đã bao phủ cuộc sống của người dân thuộc địa Đông dương của Pháp và sau đó là Cam Bốt, Lào, và Việt Nam. Đầu tiên là cuộc chiến tranh Thái bình dương, hay Thế chiến thứ Hai ở Á châu, khi Đông dương bị Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng.

Sau khi Đức chiếm Pháp năm 1940, Nhật điều đình với chính phủ Vichy do Đức lập nên ở Paris để được quyền chiếm đóng và động viên tài lực ở Đông dương cho quân đội Nhật ở vùng Đông nam Á và Thái bình dương. Đông Dương vẫn do chính phủ thuộc địa của Pháp cai trị, cho phép Nhật rảnh tay dồn mọi nỗ lực đánh bại quân Đồng minh ở Miến Điện và quanh các quần đảo ở Đông nam Á và Thái bình dương.

Đóng góp lớn nhất của Nhật vào lịch sử Việt Nam hiện đại là cuộc đảo chính tháng 3 năm 1945, khi quân Nhật bắt giam người Pháp và trực tiếp cai quản Đông dương. Cuộc đảo chính này do Nhật đề phòng khả năng Pháp trở mặt khi quân Đồng minh đến gần Đông dương. Quan hệ giữa Nhật và Pháp đã ngày càng căng thẳng; việc cả hai tích trữ lương thực dẫn đến nạn đói lớn ở Bắc kỳ vào mùa đông năm 1944-45. Cú đảo chính Pháp của Nhật kết liễu chế độ thực dân Pháp ở Đông dương. Điều này có nghĩa là người Pháp hoặc phải chấp nhận họ đã vĩnh viễn mất Đông dương, hoặc phải giành lại nó bằng vũ lực. Họ chọn cách thứ hai.

Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh vào tháng 8 năm 1945, chiến tranh trở lại khi Pháp tìm cách tái lập chế độ thuộc địa ở Đông dương. Quân đội Pháp gặp phải sự chống đối của người Việt. Hồ Chí Minh thành công trong việc loại bỏ hay trung lập hóa những cá nhân hay đảng phái theo chủ nghĩa Quốc gia, và phe Cộng sản của ông ta giành được địa vị lãnh đạo ở miền Bắc. Cuộc chiến tranh của người Pháp kéo dài đến năm 1954 còn có tên gọi khác là cuộc chiến Pháp-Việt hay chiến tranh Đông dương lần thứ nhất. Khi Cộng sản Trung Hoa lên nắm quyền và bắt đầu hỗ trợ Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1950, cuộc chiến này trở thành một phần của cuộc đối đầu giữa phe Cộng sản và phe chống Cộng trên phạm vi toàn thế giới. Đối với người Việt, thực ra sự phân chia Quốc-Cộng này đã diễn ra từ thập niên 1930.

Những người Việt chống Cộng theo chủ nghĩa Quốc gia chỉ còn hai con đường: hoặc tham gia vào chính phủ Việt Nam do Pháp bảo trợ và do cựu hoàng Bảo Đại lãnh đạo trên danh nghĩa, hoặc rút lui khỏi chính trường chờ một cơ hội khác để thành lập chính phủ mới không Cộng sản cũng không dính dáng đến Pháp. Nhân vật nổi bật nhất trong số những người lui về chờ thời là Ngô Đình Diệm, người được Bảo Đại trao quyền Thủ tướng năm 1954. Vào thời điểm này người Pháp bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam theo một hiệp ước quốc tế trả lại độc lập cho ba nước Đông dương đồng thời chia đôi Việt Nam. Miền Bắc nằm dưới quyền kiểm soát của Cộng sản và Hồ Chí Minh, còn miền Nam do chính phủ của Ngô Đình Diệm và phe Quốc gia cai quản.

Bìa sách.

https://vietbao.com/images/file/I-Bl4kOa0ggBAKMi/w480/voices-from-the-second-republic-of-south-vn.jpg

Giới học giả và ký giả đã mất nhiều giấy mực tranh cãi về thuật ngữ chủ nghĩa Quốc gia (hay dân tộc). Chủ nghĩa này có sức mạnh to lớn trong lịch sử hiện đại, và trong một thời kỳ dài người ta tôn sùng chủ nghĩa này và tin vào tính chính đáng của nó hơn tất cả các chủ nghĩa khác. Liệu thuật ngữ này chỉ nên dành riêng để mô tả phong trào Cộng sản Việt Nam là một câu hỏi căn bản trong việc giải thích lịch sử hiện đại của Việt Nam. Dựa trên quan điểm của người Việt, dĩ nhiên không khó khăn gì để trả lời câu hỏi này từ sau năm 1945, khi Cộng sản Việt Nam liên minh với phong trào Cộng sản quốc tế. Đối với phong trào này, giai cấp quan trọng hơn quốc gia và dân tộc. Vì lẽ này, những người chống Cộng ở Việt Nam coi mình là thực sự đại diện cho chủ nghĩa Quốc gia, xem trọng dân tộc hơn giai cấp. Quan điểm này được thể hiện mạnh mẽ nhất trong hồi ký của Nguyễn Công Luận, “Một Người theo Chủ Nghĩa Quốc Gia trong Chiến Tranh Việt Nam.”[1] Một mục đích của tập sách này là trình bày quan điểm của những người cống hiến cho nền Đệ nhị cộng hòa mà họ xem là đại diện cho chủ nghĩa Quốc gia Việt Nam, khác hẳn với chủ nghĩa Cộng sản. Đây là những người muốn xây dựng một Việt Nam mới không phải trải qua một cuộc cách mạng bạo tàn để thay đổi xã hội truyền thống. Vì mục đích này, tôi không có lý do gì để không dùng thuật ngữ chủ nghĩa Quốc gia để nói về họ, những người đã đầu tư sức trẻ vào nền Đệ nhị cộng hòa.

Khi Trung Cộng bắt đầu hỗ trợ Cộng sản Việt Nam vào năm 1950, Hoa Kỳ cũng bắt đầu ủng hộ các lực lượng của Pháp và người Việt theo chủ nghĩa Quốc gia. Sau năm 1954, Hoa Kỳ tiếp tục giúp miền Nam, còn Liên Xô và Trung Cộng giúp miền Bắc. Đây là bối cảnh của cuộc chiến tranh kế tiếp, dưới tên gọi chiến tranh Đông dương lần thứ hai, chiến tranh của người Mỹ, hay chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ cuối thập niên 1950 và kết thúc vào năm 1975.

Những biến chuyển trong hai thập niên đó thường được xem là thuộc về một cuộc chiến tranh duy nhất. Tuy nhiên, theo quan điểm của miền Nam trong thời gian đó có ba giai đoạn khác nhau về chiến tranh, chính trị, và chính quyền. Dưới nền Đệ nhất cộng hòa (1955-63) của tổng thống Ngô Đình Diệm, một chính quyền tương đối ổn định được thiết lập ở Sài gòn vào giữa thập niên 1950. Nhưng sau đó chính quyền Hà nội theo đuổi đường lối lật đổ chính quyền miền Nam bằng khủng bố, xúi giục bất ổn chính trị, và chiến tranh du kích. Chính phủ Mỹ ngày càng chỉ trích Ngô Đình Diệm nhiều hơn vì ông ta không muốn mở rộng chính phủ cho những nhân vật không có liên hệ gia đình hay thân hữu gia nhập. Về phần ông ta, Ngô Đình Diệm mất tin tưởng vào người Mỹ sau khi Hoa Kỳ ký thỏa thuận về Lào cho phép Bắc Việt có thể thâm nhập vào miền Nam qua biên giới Lào-Việt. Ông ta không tán thành việc chính quyền Kennedy muốn tăng mạnh con số cố vấn Mỹ ở miền Nam. Ngô Đình Diệm cho rằng chính sách của Kennedy đe dọa chủ quyền của VNCH và trái với sự nghiệp và lý tưởng Quốc gia của ông.

Ngô Đình Diệm cũng bất đồng với người Mỹ về cách thức đương đầu với mối đe dọa từ miền Bắc. Ông ta tin rằng cần phải giải quyết các vấn đề quân sự và an ninh trước khi mở rộng chính phủ cho các thành phần khác tham gia, trái với ý kiến của nhiều người Mỹ cho rằng phải làm ngược lại mới đúng. Các bất đồng chưa được giải quyết thì những biến cố bất ngờ xảy ra dẫn đến một cuộc khủng hoảng chính trị. Năm 1963, anh trai của Ngô Đình Diệm là Tổng giám mục Thiên chúa giáo ở Huế gây ra căng thẳng với các tu sĩ Phật giáo khiến họ chống lại chính quyền Sài Gòn. Huế là kinh đô của vua chúa nhà Nguyễn trước khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, và sau khi độc lập trở thành trung tâm của phong trào Quốc gia do các tu sĩ Phật giáo có xu hướng chính trị lãnh đạo. Các cuộc biểu tình chống chính phủ của tăng ni Phật giáo lan tới những thành phố lớn của miền Nam vào mùa hè năm 1963, làm cho người Mỹ mất hẳn niềm tin vào Ngô Đình Diệm. Nền Đệ nhất cộng hòa kết thúc với cái chết của ông ta trong cuộc đảo chính quân sự được chính phủ Mỹ khuyến khích.

Bốn năm tiếp theo (1963-67) là giai đoạn giao thời. Trong thời kỳ này, chính quyền miền Nam do các sĩ quan quân đội lãnh đạo với sự cộng tác của viên chức dân sự. Lúc này ngọn lửa chiến tranh đã lan rộng với lực lượng quân đội của Mỹ và miền Bắc đổ vào miền Nam ngày càng nhiều. Cho đến năm 1966, chính trị trong nước rơi vào tình trạng bất ổn và chính quyền thay đổi liên tục. Sự hỗn loạn này là do quan hệ thay đổi giữa các sĩ quan quân đội, do các hoạt động chính trị của nhóm tu sĩ Phật giáo đã gây ra sự sụp đổ của nền Đệ nhất cộng hòa, và do cố gắng của các tổ chức tôn giáo hay chính trị khác thúc đẩy hay chống lại thay đổi.

Vào năm 1967, một bản Hiến pháp mới được thông qua và thi hành, dẫn đến sự ra đời của nền Đệ nhị cộng hòa (1967-75). Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chế độ miền Nam đạt được sự ổn định chính trị và ngày càng đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong cuộc chiến khi quân đội Mỹ rút lui dần dần và hoàn toàn vào năm 1973. Trong những năm này, thường dân, nhà giáo, nhà báo, chính khách, thương nhân, viên chức, luật sư, thẩm phán, tướng lãnh quân đội, và nhà ngoại giao, đều có đóng góp vào việc xây dựng một chính phủ hiến định dựa trên chế độ bầu cử tương đối cởi mở với các cơ quan hành pháp, lập pháp, và tư pháp riêng biệt. Trong một đất nước vừa được độc lập không lâu, trải qua một quá trình giải thực khó khăn, không có truyền thống dân chủ hay lập hiến, lại bị một nước lân cận quyết tâm phá hoại, và với một đồng minh đang tìm cách rút lui, thử nghiệm dân chủ dưới nền Đệ nhị cộng hòa vẫn diễn ra và đạt được nhiều thành công.

Hầu như tất cả các tác giả viết về những năm cuối của cuộc chiến đều lờ đi thành tích đạt được của nền Đệ nhị cộng hòa. Những thành tích đó làm cho người Mỹ xấu hổ vì một trong những lập luận chính của những người có lập trường chống chiến tranh Việt Nam là chính phủ Sài gòn là một chế độ độc tài không thể thay đổi được, không xứng đáng nhận sự giúp đỡ của Mỹ, và dù thế nào chăng nữa cũng phải thất bại. Lập trường phản chiến này đã giành được địa vị độc tôn trong giới học giả và phân tích chính trị ở Mỹ. Lập luận nêu trên giúp cho người Mỹ bớt dằn vặt về đạo đức vì nước Mỹ đã bỏ rơi một đồng minh trong cơn hoạn nạn. Nhưng thực ra lập luận đó phản ánh nỗi thất vọng của người Mỹ nhiều hơn là thực tế những gì đang xảy ra do người Việt cảm nhận. Những hồi ức trong tập sách này phản ánh những ước vọng và nỗ lực của những người quan tâm nhiệt thành đến tương lai của nền Đệ nhị cộng hòa.

Nền Đệ nhị cộng hòa đạt được ít nhất bốn thành tựu chính.

Thứ nhất, về mặt quân sự, Quân lực VNCH nhận trách nhiệm chiến đấu từ người Mỹ. Mặc dù biến cố Tết Mậu thân năm 1968 làm cho dư luận Mỹ chuyển sang phản đối chiến tranh Việt Nam, dư luận ở miền Nam Việt Nam thay đổi theo chiều ngược lại. Tổn thất của phe Cộng sản giúp chính phủ giành lại quyền kiểm soát phần lớn vùng thôn quê và thực thi những chính sách hợp lòng dân quê. Thêm nữa, việc người Cộng sản đem cuộc chiến vào giữa các đô thị gây căm phẫn cho dân cư thành thị. Rất nhiều người giờ đây hiểu rằng họ có một thứ cần phải chiến đấu để gìn giữ: đó chính là nền Đệ nhị cộng hòa. Với sự rút lui của quân đội Mỹ sau Tết Mậu thân, người Việt ngày càng nhận thêm trách nhiệm bảo vệ đất nước họ.

Trong hai năm 1970 và 1971, Quân lực VNCH tham chiến với quân đội Mỹ hay với sự trợ giúp hỏa lực của Mỹ đã tiến hành những chiến dịch lớn ở Lào và Cam Bốt với mục đích làm giảm bớt khả năng của quân đội Bắc Việt dùng lãnh thổ của hai nước láng giềng tấn công vào miền Nam Việt Nam. Những chiến dịch này gây nhiều tổn thất và tranh cãi, nhưng cũng giúp cho Quân lực VNCH thêm khả năng và kinh nghiệm, và phần nào đặt quân đội Bắc Việt vào thế bị động. Trong cuộc tổng tấn công trên ba mặt trận vào mùa xuân 1972 của Cộng sản, khi hầu như tất cả quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, Quân lực VNCH đã đẩy lùi Cộng quân với sự trợ giúp của không quân Mỹ. Tuy nhiên ba năm sau đó, thiếu sự ủng hộ vật chất và tinh thần của đồng minh, nền Đệ nhị cộng hòa đã bị đánh bại.

Thành tựu thứ hai của nền Đệ nhị cộng hòa là ở lĩnh vực phát triển nông thôn. Sau Tết Mậu thân, tình hình an ninh ở thôn quê được đảm bảo cho việc thực thi một chương trình cải cách ruộng đất làm thay đổi nền kinh tế, xã hội, và chính trị ở phần lớn khu vực nông thôn. Mặc dù không được phần lớn giới quan sát ngoại quốc quan tâm, chính sách này tạo ra một mối quan hệ bình đẳng hơn giữa thành thị và thôn quê cũng như bồi đắp tiềm lực của khu vực nông thôn để làm tiền đề cho việc phát triển kinh tế trong tương lai. Chương trình cải cách ruộng đất được thực thi một cách hòa bình và được sự ủng hộ của dân chúng, hoàn toàn khác với các cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo ở Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam. Đây là một lý do nữa mà người miền Nam phải chiến đấu chống lại miền Bắc.

Thứ ba, những thành tựu quan trọng về sản xuất và phân phối lúa gạo, về quản lý thị trường, về tìm kiếm dầu hỏa, và về chính sách tài chính đưa miền Nam Việt Nam gần hơn với mục tiêu độc lập kinh tế khi viện trợ Mỹ chấm dứt. Một thế hệ lãnh đạo mới đã hình thành, trong đó nhiều người có tinh thần dân tộc cao và tốt nghiệp từ các trường đại học của Mỹ. Những người này đem chí hướng cải cách cũng như thái độ tích cực và thực tế vào một nền hành chánh vốn chịu nhiều ảnh hưởng của quá khứ thực dân quan liêu. Trong hoàn cảnh phải đối đầu với những vấn đề nghiêm trọng, thậm chí đến mức tuyệt vọng, trong hoàn cảnh nguồn lực suy yếu vì đồng minh Mỹ cắt giảm viện trợ, chính phủ Đệ nhị cộng hòa cho thấy có khả năng đưa ra những quyết định táo bạo.

Thứ tư, nhiều tiến bộ phải được ghi nhận về việc xây dựng một chính phủ hợp hiến gồm có lưỡng viện Quốc Hội, thể chế bầu cử đa đảng, và một hệ thống tư pháp độc lập giúp củng cố quy trình pháp luật để bảo vệ tự do cá nhân và những nguyên tắc chính trị dân chủ. Nhiều người Mỹ chê bai những tiến bộ trong lãnh vực này của chính phủ Đệ nhị cộng hòa bằng cách so sánh chúng với những thể chế ở Mỹ đã có hơn 200 năm phát triển. Nhưng nếu so sánh với những gì Việt Nam trải qua dưới thời thực dân và trong chiến tranh, chúng ta sẽ nhận thấy rất nhiều tiến bộ trong thời kỳ Đệ nhị cộng hòa.

Những thành tựu trên không có nghĩa là Đệ nhị cộng hòa không có khuyết điểm gì. Nhiều quốc gia hậu thuộc địa, kể cả hai nhà nước ở hai miền của Việt Nam, đều phải lệ thuộc rất lớn vào ngoại viện. Ngược lại với Bắc Việt, khuyết điểm lớn nhất của Đệ nhị cộng hòa là việc nó lệ thuộc vào một đồng minh không “chung thủy” [nguyên văn: “unreliable”]. Các chính khách của miền Nam có xu hướng coi quan hệ đồng minh với Mỹ là mặc nhiên và không tìm cách để bảo vệ mối quan hệ hay thay thế nó khi nó không còn nữa.

Đệ nhị cộng hòa thất bại trên mặt trận tuyên truyền ở Mỹ vì người ta gán cho nó những khuyết điểm của nền Đệ nhất cộng hòa và của giai đoạn giao thời. Dĩ nhiên những cặp mắt phê phán luôn có thể tìm thấy khuyết điểm ở bất cứ quốc gia nào, đặc biệt trong trường hợp một quốc gia trẻ đang cố gắng để tồn tại dù phải đương đầu với một kẻ thù ghê gớm. Nhưng những người Mỹ phê phán Đệ nhị cộng hòa lại có thái độ kẻ cả của một nước lớn. Họ đi xa đến mức chối bỏ tính chính danh của chế độ Đệ nhị cộng hòa như một nhà nước có chủ quyền. Chính phủ Mỹ cũng phạm sai lầm tương tự. Hiệp định Paris do Washington ký kết với Hà Nội đã vi phạm hiến pháp và chủ quyền của Đệ nhị cộng hòa.

Năm 1954, Pháp thay mặt cho những người Việt quốc gia đàm phán ở Geneva nhưng thực ra là làm hại họ. Chính phủ Mỹ cũng làm thế đối với Hiệp định Paris năm 1973. Ngô Đình Diệm coi Hiệp định Geneva là hành động của Pháp qua mặt chính phủ của ông ta để đàm phán với kẻ thù. Nguyễn Văn Thiệu cũng có suy nghĩ tương tự với Hiệp định Paris giữa Mỹ và Bắc Việt. Cả hai thỏa ước chứa đựng những điều khoản có thể hay thực tế đã gây khó khăn cho những người Việt quốc gia.

Một lý do gây tranh cãi về Hiệp định Geneva là việc người Pháp thừa nhận Cộng sản Việt Nam là đại diện cho một nhà nước có chủ quyền, trong khi đó họ lại không phê chuẩn một thỏa ước trao trả độc lập cho chính quyền của phe quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo. Mưu đồ của người Pháp muốn giữ lại chủ quyền ở miền Nam là để nắm quyền xử lý tình hình ở Sài gòn cho đến khi “bầu cử” thống nhất được tổ chức hai năm sau theo Hiệp định.

Nhưng Ngô Đình Diệm không cho phép người Pháp tiếp tục khuynh đảo tương lai của Việt Nam. Ông ta tổ chức trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 để truất phế Bảo Đại và tạo điều kiện cho nền Đệ nhất cộng hòa ra đời. Biến cố này có thể được xem là bản tuyên ngôn độc lập của người Việt quốc gia. Họ làm được việc này nhờ tìm được người Mỹ làm đồng minh. Tuy nhiên, khi người Mỹ thỏa thuận với Cộng sản để rút lui khỏi Việt Nam năm 1973, người Việt quốc gia không còn chỗ dựa nào khác.

Có lẽ chẳng có cách nào để VNCH khắc phục được khuyết điểm căn bản là thiếu một đồng minh đáng tin cậy trong khi đồng minh của Bắc Việt không bỏ cuộc cho đến phút cuối. Có lẽ chẳng có cách nào giúp chế độ Đệ nhị cộng hòa khắc phục được việc bị dư luận Mỹ đánh đồng với những thất bại của Đệ nhất cộng hòa và giai đoạn giao thời. Nhưng cũng có thể lập luận như một vài tác giả trong tập sách này rằng Đệ nhị cộng hòa lẽ ra nên tích cực chủ động hơn trong việc tác động đến dư luận Mỹ để chính phủ Mỹ có thể hỗ trợ Việt Nam lâu hơn và nhiều hơn—dù rằng việc này rất khó trong điều kiện dân chúng Mỹ phải bận tâm đến những rối loạn chính trị xã hội ở nước họ.

Không thể phủ nhận rằng Đệ nhị cộng hòa phải đương đầu với những thách đố nghiêm trọng. Phần lớn nếu không phải tất cả những thách đố đó đều có liên quan đến việc giảm dần tiến tới mất hẳn nguồn ngoại viện nhưng vẫn phải mạnh lên để kháng cự quân đội miền Bắc vẫn tiếp tục được đồng minh của họ trợ giúp. Bài viết của Trần Quang Minh và Nguyễn Đức Cườngtrong tập sách này mô tả những cố gắng tái cấu trúc kinh tế và kế hoạch tự lực cánh sinh. Hồ Văn Kỳ-Thoại kể lại trận đánh giữa VNCH và Trung Cộng ở Hoàng Sa năm 1974. Khi đó, tàu của Hải quân Mỹ quan sát từ xa nhưng không can thiệp và thậm chí không cứu vớt những người lính thủy Việt Nam bị chìm tàu trong cuộc hỗn chiến. Qua cử chỉ này của quân đội Mỹ, chính phủ Sài gòn đáng lẽ phải biết rằng không thể tiếp tục trông vào sự giúp đỡ của Mỹ khi cần thiết nữa. Việc Sài gòn vẫn tiếp tục mong được Mỹ giúp đỡ có lẽ là thất bại lớn nhất của Đệ nhị cộng hòa—tuy nhiên cũng phải nói là khó tìm được một đồng minh khác có thể thay thế Hoa Kỳ.

Không khó để chỉ trích những quyết định chiến thuật và chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu trong mùa xuân 1975, nhưng không phải dễ để chỉ ra một lối thoát. Từ khi quân đội Mỹ triệt thoái năm 1973, viện trợ Mỹ cho Đệ nhị cộng hòa giảm bớt rất nhanh. Trong khi đó, địch quân được Hiệp định Paris cho phép ở lại miền Nam và tiếp tục được củng cố, huấn luyện và tái trang bị cho các chiến dịch kế tiếp.

Ai đó có thể lập luận rằng cam kết thực thi một nền dân chủ hợp hiến của Đệ nhị cộng hòa là một nhược điểm so với chế độ Cộng sản độc tài toàn trị ở miền Bắc. Chế độ này huy động tất cả dân chúng vào cuộc chiến và không cho phép ai có ý kiến khác. Đúng là việc động viên toàn bộ dân chúng kiểu miền Bắc khó có thể thực hiện được trong chế độ đa nguyên chính trị của Đệ nhị cộng hòa với một nền báo chí và cơ chế bầu cử tương đối tự do cho phép có dân biểu đối lập trong Quốc Hội, cộng thêm một nền tư pháp tương đối độc lập. Nhưng đây lại chính là ý nghĩa của cuộc chiến tranh, là lý do người miền Nam phải chiến đấu để gìn giữ. Nếu Đệ nhị cộng hòa cũng bắt chước chế độ toàn trị ở miền Bắc thì không còn lý do nào để chiến tranh tiếp diễn.

Những bài viết trong tập sách này đầu tiên được trình bày tại một hội thảo ở Đại học Cornell vào tháng 6 năm 2012. Các tác giả đại diện cho nhiều quan điểm và có những kinh nghiệm khác nhau dưới thời Đệ nhị cộng hòa, nhưng đều có ước vọng và công sức đóng góp vào xây dựng nền dân chủ hợp hiến trong thời chiến. Công cuộc xây dựng một nền dân chủ vững mạnh và thực thi những cải cách để đạt được mục đích đó đã nhận được nỗ lực và niềm tin của nhiều người Việt, dù phải tiến hành trong điều kiện chiến tranh khắc nghiệt và chịu dư luận búa rìu của một đồng minh lúc đầu thì dẫm đạp lên quyền lợi quốc gia của Việt Nam nhưng sau đó lại bỏ rơi nó.

Tôi biết ơn lòng can đảm của những tác giả. Sau nhiều thập kỷ Đệ nhị cộng hòa bị người Mỹ coi thường, họ vẫn giữ được tiếng nói, và giờ đây viết lại kinh nghiệm của họ với sự trung thực.

Bài của tác giả Bùi Diễm dựa trên kinh nghiệm của ông ta trên chính trường từ thập niên 1940 và trong nhiều năm đóng vai trò ngoại giao giữa Washington và Sài gòn. Với những suy tư sâu sắc về lịch sử, Ông Diễm nhìn lại cuộc tranh đấu Quốc-Cộng đã có trước khi người Mỹ can thiệp và vẫn còn tiếp tục dai dẳng sau khi họ đã bỏ cuộc. Theo quan điểm của ông, cách thức can thiệp và rút chạy của Mỹ đã làm hại người Việt quốc gia trong khi Cộng sản Việt Nam không gặp những vấn đề tương tự với đồng minh của họ.

Phan Công Tâm phục vụ trong Tổ chức Tình báo Trung ương (CIO) giống như Cục Tình báo Trung ương (CIA) của Mỹ. Bài viết của ông cung cấp thông tin về sự hình thành, tổ chức, và phát triển của Tổ chức Tình báo Trung ương, và kinh nghiệm của ông khi trong quan hệ quốc tế, bao gồm hòa đàm Paris, vụ đảo chánh năm 1970 ở Cam Bốt, và quan hệ ngoại giao với lãnh tụ của một quốc gia Phi châu.

Nguyễn Ngọc Bích thuật lại những nỗ lực của ông để giới thiệu chính phủ VNCH tại nước Mỹ và trên thế giới giữa lúc tuyên truyền thân Cộng sản đang làm dấy lên một phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Là nhà giáo dục, ông tranh luận và bác bỏ những lập luận và thông tin sai lệch nhưng được nhiều người tin về Đệ nhị cộng hòa.

Trần Quang Minh là giáo sư đại học về môn thú y và đã phục vụ trong nhiều bộ và cơ quan chính phủ liên quan đến sản xuất và tiếp thị sản phẩm nông nghiệp và sau đó là chương trình cải cách điền địa năm 1970. Bài viết của ông kể lại một cách sống động khoảng thời gian hơn một thập kỷ làm việc trong lãnh vực nông nghiệp.

Nguyễn Đức Cường là một tổng trưởng kinh tế dưới thời Đệ nhị cộng hòa. Ông mô tả tình hình kinh tế của miền Nam trong thời gian Mỹ can thiệp quân sự, với sự quan tâm đặc biệt về những nỗ lực điều chỉnh kinh tế khi Mỹ rút trong những năm cuối của cuộc chiến.

Bài của Phan Quang Tuệ về sự nghiệp của thân phụ ông và của chính ông dưới thời Đệ nhất và Đệ nhị cộng hòa. Thân phụ ông là Bác sĩ Phan Quang Đán, một nhân vật đối kháng nổi bật dưới thời Đệ nhất cộng hòa. Do hoạt động đối kháng, ông ấy và cả gia đình chịu nhiều sách nhiễu chính trị. Phan Quang Tuệ kể lại về thời trẻ lớn lên trong một gia đình có tiếng tăm, về công việc của ông trong hệ thống tư pháp của Đệ nhị cộng hòa, và về cuộc vận động tranh cử vào Hạ Viện năm 1971 của ông.

Trần Văn Sơn thuật lại những thăng trầm của gia đình ông trong những cuộc chiến tranh của thế kỷ hai mươi và sự nghiệp của ông từ một sĩ quan hải quân đến dân biểu đối lập trong Hạ Viện sau khi được bầu năm 1971, đến giai đoạn ông bị Cộng sản cầm tù, chuyến đi vượt biển, và cuối cùng là hoạt động chính trị của ông trong cộng đồng người Việt di tản ở Mỹ.

Mã Xái là một dân biểu đối lập ở Hạ Viện trong suốt thời kỳ Đệ nhị cộng hòa, được bầu lần đầu vào năm 1967 và tái đắc cử năm 1971. Bài viết của ông trình bày về chương trình và hoạt động của Đảng Tân Đại Việt trong những năm đó.

Hồ văn Kỳ-Thoại là phó Đề đốc Hải quân. Ông đang là tư lệnh vùng khi quân Trung Cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Bài viết của ông thuật lại trận đánh trên biển từ góc nhìn của người trực tiếp chỉ huy phía Việt Nam và cố gắng của Hải quân Việt Nam để bảo vệ quần đảo mặc dù không thành công.

Lữ Lan là Trung tướng trong Quân lực VNCH. Ông đã phục vụ trong các trường huấn luyện, cơ quan tham mưu, Ban chỉ huy sư đoàn, và chức vụ Tổng Thanh tra. Bài viết của ông có cả phân tích các vấn đề và tường thuật một số sự kiện.

Các bài viết trong tập sách này tường thuật nhiều trải nghiệm khác nhau và các tác giả cũng có quan điểm và cách trình bày vấn đề khác nhau. Điều này thể hiện sự đa dạng về mục đích và ý kiến của thành phần ưu tú trong xã hội miền Nam vào thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, khi những thăng trầm của cuộc chiến và sự can thiệp của nước ngoài tạo ra những thay đổi nhanh và một loạt khủng hoảng về lãnh đạo, tổ chức chính trị, hoạt động quân sự, đời sống kinh tế, trật tự xã hội, và chính sách hành chính. Sự đa dạng đó của miền Nam khi so sánh với xã hội độc tài toàn trị của miền Bắc là một lý do chính yếu để tiếp tục cuộc chiến.

Đệ nhị cộng hòa đối với người Mỹ vào lúc đó và sau này, cho đến tận hôm nay, là một chế độ độc tài đáng để cho sụp đổ. Đó là một sự vu khống; một sự vu khống rất tiện lợi để biện hộ cho việc Mỹ bỏ rơi VNCH, nhưng bản chất nó là một sự vu khống. Nỗ lực có thật của nhiều người Việt để kiến tạo một xã hội dân chủ trong thời chiến vẫn chưa xuyên phá được cái huyền thoại tiện lợi nhưng không có thật về một đồng minh bị bỏ rơi và bị miệt thị vào bậc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Mục đích của tập sách này không phải chỉ để thu thập tiếng nói của những người đóng vai trò quan trọng trong Đệ nhị cộng hòa trước khi họ vĩnh viễn ra đi, mà còn để tạo cho người Mỹ một cơ hội, một cơ hội muộn màng sau gần nửa thế kỷ, để hiểu rõ hơn một quốc gia đồng minh mà vì nó cả chục ngàn thanh niên Mỹ đã bỏ mạng.

K. W. TAYLOR

Trích http://tuannyriver.com

(Việt Báo đăng lại với sự cho phép của tác giả và dịch giả)

——

[1] Nguyen Cong Luan, Nationalist in the Viet Nam Wars: Memoirs of a Victim Turned Soldier (Bloomington and Indianapolis, IN: Indiana University Press, 2012).

.

.

.

Mời dự “Thoáng Nhìn Về Phật Giáo Của Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt” (HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Mời dự “Thoáng Nhìn Về Phật Giáo Của Thế Kỷ Thứ Hai Mươi Mốt”

HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ

03/08/2015

https://vietbao.com/p112a241068/moi-du-thoang-nhin-ve-phat-giao-cua-the-ky-thu-hai-muoi-mot

.

HỘI PHẬT HỌC ĐUỐC TUỆ

  

THƯ MỜI

Kính gửi Quý Đồng hương Phật tử

Trong tinh thần đồng học đồng tu để phụng sự Đạo Pháp,

Hội Phật học Đuốc Tuệ sẽ tổ chức một Buổi Thuyết trình với chủ đề:

THOÁNG NHÌN VỀ PHẬT GIÁO

CỦA THẾ KỶ THỨ HAI MƯƠI MỐT

(Catching Glimpses of Twenty First Century Buddhism)

Giáo sư Tiến sĩ Lewis Lancaster

https://vietbao.com/images/file/e7Ze3lmb0ggBAIEg/w200/lancaster-1.jpg

  • Diễn giả là Giáo sư Tiến sĩ Lewis Lancaster, một học giả Phật học nỗi tiếng quốc tế. Ông là Khoa trưởng khoa Phật học (Buddhist Studies) tại đại học UC Berkeley.
  • Ông còn là Viện trưởng và Chủ tịch Hội đồng xét Luận án (Chair of the Dissertation Committee) của đại học University of The West.
  • Giáo sư Lancaster đã viết hơn 55 khảo luận và luận văn, và đã biên tập hay chấp bút nhiều tác phẩm nghiên cứu Phật giáo giá trị.
  • Ông đã từng hợp tác với National Geographic Societyvà National Science Foundationđể thực hiện những dự án Phật giáo quan trọng.

Buổi thuyết trình sẽ kéo dài từ 2.00 giờ đến 6.00 giờ chiều ngày Chủ Nhật, 23-8-2015

tại Trung tâm Sangha, 7641 Talbert Ave, Huntington Beach, CA.92648

Trân trọng kính mời quý Đồng hương Phật tử đến tham dự

buổi Thuyết trình để tìm hiểu và trao đổi ý kiến về một chủ đề quan trọng.

Sự tham dự của Quý vị là niềm khích lệ lớn lao cho chúng tôi trong nỗ lực Hộ trì Tam Bảo.

Thuyết trình bằng Anh ngữ và được Việt dịch – Văn nghệ và tiệc trà nhẹ – Vào cửa tự do
*
Giáo sư LEWIS R. LANCASTER

Ông Lewis Lancaster sinh năm 1932, tốt nghiệp Tiến sĩ tại đại họcUniversity of Wisconsin nặm 1968. Sau đó, ông được mời làm  Giáo sư Danh dự của khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á (East Asian Languages and Cultures) của chính trường đại học nầy.

Ông còn là Giáo sư Danh dự của khoa Ngôn ngữ Đông Á (East Asian Languages), Khoa trưởng Khoa Phật học (Buddhist Studies) thuộc đại học UC Berkeley; và đã từng giữ chức vụ Viện trưởng (2004-2006), Giáo sư Danh dự, và Chủ tịch Hội đồng xét Luận án (Chair of the Dissertation Committee) của đại học University of The West(California) từ năm 1992.

Giáo sư Lancaster đã viết hơn 55 khảo luận và luận văn, và đã biên tập hay chấp bút nhiều tác phẩm như Prajnaparamita and Related SystemsThe Korean Buddhist CanonBuddhist ScripturesEarly Ch’an in China and Tibet, và Assimilation of Buddhism in Korea.

Ông đã từng hợp tác với National Geographic Society để hổ trợ một dự án tổng hợp kinh sách của các tu viện Phật giáo trong rặng Himalayas, cũng như với National Science Foundation để đồng sáng lập ra Electronic Cultural Atlas Initiative (Sáng kiến Từ điển Điện tử Atlas Văn hóa), dùng công nghệ máy tính để mô tả lại quá trình truyền bá Phật giáo từ quá khứ xa xăm cho đến hiện tại.

Giáo sư Lancaster còn là cố vấn cho Dự án Buddha’s Birthday Education Project, một dự án giáo dục nhằm phổ biến những nghiên cứu về công cuộc truyền bá Phật giáo từ Đông qua Tây theo Con Đường Tơ Lụa. Ông cũng là khuôn mặt chính trong công cuộc xây dựng Descriptive Catalogue and Digitization of the Korean Buddhist Canon (Danh mục Mô tả và Số hóa Hàn Tạng) cho Phật giáo Hàn Quốc.

Năm 2007, giáo sư Lewis Lancaster nhận văn bằng Tiến sĩ Văn chương Danh dự tại Roanoke College. Năm 2011, ông được phong hàm Tiến sĩ Danh dự về Phật học tại Đại học Phật giáo Việt Nam. Năm 2014, ông được tặng Giải thưởng Tối cao (Grand Award) củaDòng Thiền Phật giáo Hàn Quốc.

■ Đuốc Tuệ tổng hợp từ ieas.berkeley.eduuwest.edu, wikipedia, …

■ Hình của yousim.co.kr và Internet

.

.

.

Ngày Trở Lại Không Bình Thường Của “Phùng Bại Tướng” (Le Nguyen – Việt Báo)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

Ngày Trở Lại Không Bình Thường Của “Phùng Bại Tướng”

Le Nguyen

02/08/2015

https://vietbao.com/p112a241063/ngay-tro-lai-khong-binh-thuong-cua-phung-bai-tuong

.

Ngày trở về của ông Phùng Quang Thanh không buồn thảm như ca từ trong bài hát Kỷ Vật Cho Em của cố nhạc sĩ tài danh Phạm Duy “…Anh trở về trên đôi nạng gỗ…anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…” và ngày trở về của ông đại tướng Thanh, dù không ảm đạm như trên băng ca phủ màu tang trắng nhưng ẩn chứa nhiều cay đắng, xót xa đến não lòng bởi bản thân ông Thanh dù sao đi nữa cũng là ủy viên bộ chính trị, là đại tướng bộ trưởng bộ quốc phòng đứng đầu quân đội nhân dân “anh hùng”, là phó quân ủy trung ương về mặt đảng, là bộ trưởng của một bộ quan trọng bậc nhất trong nội các chính phủ, là đương kim đại biểu quốc hội…

Với vai vế, địa vị, chức tước ông Phùng Quang Thanh đang nắm giữ thì cách đón rước của các đồng chí, đồng rận dành cho ông Thanh trong ngày trở về, theo loa đài của đảng loan tin là đi cắt u phổi ở nước “đế quốc sài lang” là thiếu tôn trọng, nếu không nói là khinh thường rất không bình thường. Không bình thường đến độ lạ thường khiến cho một bộ phận không nhỏ hiếu kỳ trực tiếp ra phi trường nhìn mặt lẫn gián tiếp theo dõi thông tin nghe nhìn trên các loa đài, nghi ngờ tấm ảnh chụp từ xa một ông mặc áo khoác xám do tờ tuổi trẻ cung cấp, không phải là ông Thanh?

Nội dung bài viết này sẽ không phân tích ngày trở về của ông Phùng Quang Thanh theo chiều hướng nghi ngờ có người đóng thế vai ông Thanh mà sẽ phân tích theo chiều hướng ông Thanh sống sót theo nguồn tin báo lề đảng cung cấp để thấy những điều không bình thường trong vụ việc trở về sau nhiều ngày chữa bệnh u phổi ở thủ đô ánh sáng Paris của Phùng đại tướng(?)

Theo thói thường trong cuộc sống đời thường nếu bạn bè, thân nhân không may gặp bạo bệnh có thể nguy hiểm đến tính mạng và may mắn được tai qua nạn khỏi thì điều đầu tiên là người ta đến tặng hoa thăm hỏi chúc mừng cùng nhiều hình thức bày tỏ sự thân tình, biểu lộ sự vui mừng không thể kiềm chế với nhau.

Thế có lạ không khi sự trở về của ông Phùng Quang Thanh khá nhạt nhẽo, vô tâm dưới mức bình thường rất không bình thường? Bởi chẳng ai thấy “đồng chí” nào của Phùng đại tướng trong đảng, chính phủ, quốc hội, quân đội…kể cả vợ con, cháu chắt, người thân, bạn bè tổ chức lễ lạc, ôm hoa đến tận chân cầu thang máy bay đón mừng ông. Nói theo ngôn ngữ báo đài đảng ta là tiếp rước kém “ấn tượng, hoành tráng” đối với ông Thanh, một cá nhân không phải là một kẻ vô danh tiểu tốt, chẳng có đóng góp gì cho đảng, nhà nước là không bình thường?

Theo tin báo Tuổi Trẻ tường thuật ngày trở về của ông Thanh, chỉ có mỗi ông trung tướng Phí Quốc Tuấn nguyên tư lệnh quân khu thủ đô, người đã bị cho về hưu non đến đón ở tư gia tặng hoa chúc mừng. Rất lạ là với lực lượng phóng viên, nhà báo của hơn 800 tờ báo giấy, cả vạn trang điện tử của đảng, nhà nước mà không có nổi một tấm hình tay bắt mặt mừng của hai ông tướng lâu ngày gặp nhau để chứng minh nguồn tin của báo Tuổi Trẻ là trung thực?

Điểm qua các báo đài lề đảng, mọi nguồn thông tin chỉ lặp đi lặp lại việc ông Phùng Quang Thanh khỏe mạnh sau phẩu thuật khối u phổi, tự xuống cầu thang máy bay, không cần trợ giúp y tế rồi xào nấu, nhắc lại nguyên nhân gây bệnh từ các bản tin cũ và đặc biệt là thông tin nói ông Thanh đến ngay bộ quốc phòng giải quyết công việc sau một tháng “đi chữa bệnh”. Lúc “xào nấu” làm tin dường như báo lề đảng, cụ thể là tờ Tuổi trẻ hơi chủ quan khinh thường độc giả quá đáng, vì cho dù không thông minh và có lẽ đến con nít cũng biết với một người lớn tuổi như ông Thanh, sau cơn bạo bệnh phải phẩu thuật thập tử nhất sinh, phải bay một chuyến bay đêm dài hơn 10 giờ liền, ngủ gà ngủ gật – thế thì một ông vừa già vừa bệnh, có ai còn đủ sức đến cơ quan làm việc?

Không những thế, theo như lời kể của ông trung tướng Vũ Văn Hiển, chánh văn phòng bộ quốc phòng là ông Phùng Quang Thanh đến bộ quốc phòng trả lời điện thoại cho các “đồng đội” gọi điện quan tâm thăm hỏi và trong số gọi điện thăm hỏi có cả “đồng chí” tổng bí thư. Cũng theo lời ông Vũ Văn Hiển là ông Thanh tiếp tổng bí thư Nguyễn phú trọng ngay trong ngày về và tiếp chủ tịch nước Trương Tấn Sang, phó thủ tướng nguyễn xuân phúc một hôm sau ngày về? Với lịch “thù tạc” dày đặc như thế đối với một người vừa qua cơn bạo bệnh, không có khoảng trống nghỉ ngơi, có là phi thường hay không bình thường – chắc có lẽ ai cũng hiểu nên không cần phải bàn thêm ở đây?

Điểm không bình thường khác nữa là không ai trông thấy vợ, con, cháu, họ hàng thân tộc, bạn bè, hàng xóm…ngay cả người dân, trẻ con hiếu kỳ tranh nhau chen lấn nhìn mặt ông Thanh sau một tháng bạo bệnh thập tử nhất sinh trở về và chuyện người hiếu kỳ chen lấn để quan sát chiêm ngưỡng dung nhan nhân vật trung tâm của tin đồn là rất bình thường trong cuộc sống đời thường nhưng chuyện không thấy người hiếu kỳ, tò mò đến xem ông Thanh gầy béo ra sao quả là không bình thường?

Bất bình thường hơn nữa là ông Thanh không nhận lãnh hay không được giao nhiệm vụ mang tính linh thiêng trong tư cách trưởng đoàn đại biểu vào viếng lăng “bác Hồ” và làm lễ tưởng niệm các “oan hồn” liệt sĩ vào ban ngày mà lại ham vui tham dự vui chơi trong đêm văn nghệ với chủ đề “Khát Vọng Đoàn Tụ” ở hội trường bộ quốc phòng vào ban đêm. Ông Thanh không hiện diện trong sự kiện quan trọng ban ngày nhưng đến tham dự vui chơi ban đêm có là bất thường, kỳ chướng đến độ khó hiểu và càng khó hiểu hơn nữa  là ông Thanh không  “chịu” về nhà riêng mà ở lại bộ quốc phòng cũng là việc không bình thường?

Qua những điểm bất thường vừa kể nối kết với một số sự kiện liên quan đến ngày trở về của ông Phùng Quang Thanh khiến cho dư luận bàn tán, suy diễn trên các báo lề dân, các trang mạng xã hội, ở nơi làm việc, chỗ cà phê vĩa hè… Có người thể hiện lòng căm ghét ông Thanh, muốn ông Thanh phải chết nên cả quyết là cái ông tham dự trong đêm giao lưu văn nghệ “Khát Vọng Đoàn Tụ” ở hội trường bộ quốc phòng là giả, là người nhập vai đóng thế. Bên cạnh đó cũng có những ý kiến khách quan có chiều sâu tư duy, đáng chú ý có nội dung chính như sau:

Thứ nhất là với các loại báo nói, nghe, nhìn hùng hậu của đảng, nhà nước không ai chụp được tấm hình nào trong ngày trở về của ông đại tướng Phùng Quang Thanh và trong các bản tin của hàng loạt báo đài chỉ có mỗi tấm hình của tờ Tuổi Trẻ chụp từ xa mờ mờ ảo ảo khó xác định có phải là ông Thanh hay không? Với lại tấm hình của tờ Tuổi Trẻ theo nguồn tin ẩn danh là do tuyên giáo trung ương cung cấp cho ông nào đó có tên Việt Dũng của báo tuổi trẻ? Từ lý do đó nên có không ít người suy diễn là ông Thanh không về ngày 25/07 mà đã về Việt Nam trước đó.

Thứ hai rất có khả năng ông Phùng Quang Thanh về Việt Nam trước ngày 25/07, nếu phối hợp với thông tin ông Thanh nhập viện ngày 20/06 và xuất viện ngày 10/07 do bệnh viện Geogers Pompidou cung cấp cho phóng viên Tường An của đài SBTN. Cũng có thể thời gian này ông Thanh bị giam giữ để phục vụ công tác điều tra về tham nhũng, về tội làm gián điệp cho Trung Quốc và chỉ được cho tái xuất hiện do tác động của cuộc thương lượng, can thiệp bí mật trong chuyến đi đột xuất của phó thủ tướng Trương Cao Lệ đến Việt Nam từ ngày 16 đến 17/07/2015. Việc cho ông Thanh đi lại nhưng không được phát ngôn linh tinh gây ảnh hưởng đến kịch bản của một số lãnh đạo nắm quyền lực trong đảng cộng sản đương quyền đạo diễn, giám sát nhằm giảm áp lực xung đột vũ trang do Trung Cộng chủ động bày ra khắp bốn phương tám hướng nhằm tạo sức ép lên chính trường Việt Nam?

Thứ ba là tại sao sáng ngày 27/07 ông Phùng Quang Thanh không đi viếng “lăng bác” để thể hiện sự tôn kính “đời đời nhớ ơn…” của một đảng viên trung kiên, một cháu ngoan bác hồ? Vậy mà tối đến, đêm 27/07 lại đi bắt tay, cười đú đởn với đồng chí gái Tòng Thị Phóng trong buổi giao lưu văn nghệ “Khát Vọng Đoàn Tụ” ở hội trường bộ quốc phòng? Có phải là có ai đó đã cố tình sử dụng đêm tối và ưu điểm của ánh sáng, son phấn, đèn màu để diễn tuồng theo kịch bản của ai đó viết sẳn… cho phù hợp, cho giống với cảnh bác Hồ đón chị gái Nguyễn Thị Thanh vào đêm tối sau mấy mươi năm xa cách để bà Thanh không thể phân biệt được ku Nghệ thật hay giả(?)

Thứ Tư là kể từ khi về Việt Nam đến nay không nghe từ miệng ông Phùng Quang Thanh nói lời nào cả, từ chỗ riêng tư đến nơi công cộng. Toàn là nghe truyền thông lề đảng mượn mồm ông tướng này, ông tướng kia bảo ông Thanh nói thế này, nói thế nọ khiến cho dư luận bàn tán là rất có khả năng ông Thanh đã hoặc bị khống chế buộc phải diễn theo ý đồ của phe nhóm tranh chấp quyền lực chiếm thế thượng phong trong nội bộ đảng để ông Thanh được bảo toàn tính mạng và tài sản tham nhũng ngày nào hay ngày đó. Màn kịch của các “đồng chí” của ông Thanh chưa hạ màn là còn nhiều diễn biến phức tạp, bất ngờ?

Thứ năm là việc tướng Ngô Quang Liên, trợ lý bộ trưởng quốc phòng nói thế ông Thanh, là ông Thanh không về nhà riêng với vợ con mà sẽ ở lại nơi làm việc trong bộ quốc phòng. Thế thì việc ông Thanh ở lại bộ quốc Phòng có liên quan gì tới lời đồn đãi là vợ ông Thanh là bà Nguyễn Thị Lộc bị bắn chết, con ông là Phùng Quang Hải bị thương nặng cùng với thông tin suy diễn khác là vợ, con ông được nhân viên cục quân báo giúp đào tị ở đâu đó ở nước ngoài và ông Thanh “chạy” không kịp nên bị bắt giữ lại?

Thứ sáu có khả năng là ông Phùng Quang Thanh đã thỏa hiệp, hợp tác phục vụ điều tra liên quan đến tội tham nhũng của gia đình ông, cùng với tin đồn ông Thanh bị bắt giữ không biết thật giả, là do ông Thanh cầm đầu phe phản loạn bắt tay với Thường Vạn Toàn bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc tiến hành âm mưu đảo chánh loại trừ phe đối nghịch trong đảng để lên cầm quyền. Tuy nhiên cũng có thể đây là chiêu trò được các “đồng chí” của ông học từ Lê Duẩn loại trừ Võ Nguyên Giáp trong việc dàn dựng vụ án “xét lại chống đảng” và được Lê Đức Anh tái sử dụng trong vụ án Năm Châu Sáu Sứ để triệt hạ đối thủ, thu tóm quyền lực. Hiện tại chiêu trò dựng chuyện, thanh toán đối thủ của “tiền bối” được “hậu bối” lãnh đạo đảng đương thời tái diễn nhằm loại ông Thanh ra khỏi cuộc chơi đấu đá, tranh giành quyền lực trong đại hội đảng lần thứ XII sắp diễn ra trong năm 2016?

Thứ bảy có thể lời nói ông Phùng Quang Thanh ở lại bộ quốc phòng, chính xác là ôngThanh không được phép về nhà mà phải ở lại bộ quốc phòng làm cái bẫy để đối thủ trong bóng tối, giám sát các cuộc tiếp xúc tay chân thân tín, những phe phái trung dung tiếp cận ông Thanh qua các cuộc điện đàm hoặc trực tiếp đến gặp gỡ ở bộ quốc phòng, nơi đã được bố trí, cài đặt công cụ ghi âm, thu hình bí mật nhằm thu thập chứng cứ úp sọt, hốt trọn ổ phe nhóm, tay chân ông Thanh, loại trừ phe nhóm lưng chừng, không tích cực ủng hộ thủ đoạn tàn độc của các “đồng chí” chủ chốt ra tay hạ bệ ông đại tướng Phùng Quang Thanh?

Thật ra những bàn tán, suy diễn của dư luận xã hội khách quan, tự do trên các phương tiện thông tin  báo lề dân, dù không chính xác 100% nhưng những điểm nêu trên đều có khả năng xảy ra bởi những điều không bình thường do hệ thống thông tin tuyên truyền, thông tin định hướng, nhào nặn thông tin, nhiễu loạn thông tin của báo, đài lề đảng tạo ra nhiều điều vô lý, sơ hở liên quan đến sự kiện tái xuất hiện của ông Phùng Quang Thanh?

Có lẽ không ai là không thấy, ngày trở về như hình nộm của ông Thanh, ngày tái xuất hiện như con rối của ông Thanh còn nhiều pha ly kỳ, gay cấn vẫn nằm trong vòng bí mật. Chắc chắn từ đây đến ngày khai mạc, đêm kết thúc đại hội trung ương đảng khóa XII sẽ còn lắm trò ngoạn mục, bất ngờ diễn ra do các thế lực, phe phái trong bóng tối xuất chiêu trong những ngày tháng tới. Nhất là người dân Việt nam sẽ được xem nhiều màn diễn hài của đảng viên cộng sản thấm nhuần văn hóa “bác đảng” thuộc nằm lòng tư duy và hành động theo phương châm: “nói láo có lợi cho đảng thì cứ thoải mái nói và nói thật có hại cho đảng thì phải biết liệu hồn câm mồm!” Đó là bản chất cốt lõi mà những tên đảng viên cộng sản Việt Nam nào cũng biết diễn trơn tru, nhuần nhuyễn để tồn tại và có tồn tại như một con người đúng nghĩa với đầy đủ tư cách, nhân cách hay không lại là chuyện khác, là chuyện riêng của đảng csVN?

.

.

.

23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam (Tác giả: Ku Búa – Cafe Ku Búa)

Tháng Tám 3, 2015

.

.

23 điều vô lý chỉ có ở Việt Nam

Tác giả: Ku Búa  – Cafe Ku Búa

02-08-2015

http://cafekubua.com/2015/08/02/23-dieu-vo-ly-chi-co-o-viet-nam/

.

Ở Việt Nam có những thứ và những điều vô cùng vô lý nhưng vì những thứ đó đang ở Việt Nam nên ai cũng cho rằng nó có lý và không có vấn đề gì. Có những thứ và những điều mà chỉ có ở Việt Nam, không có nước nào có. Hy vọng nhiều người sẽ nhận ra. Danh sách như sau:

  1. Sổ hộ khẩu. Trên thế giới chỉ có 3 nước áp dụng chính sách này, cả 3 nước đều là 3 cường quốc của thế giới, là 3 thiên đường, là đỉnh cao trí tuệ nhân loại. Đó là đại cường quốc Trung Quốc, tiểu cường quốc Việt Nam và siêu cường quốc …..Bắc Hàn. Tôi thật sự không hiểu nổi mục đích của cái sổ hộ khẩu là gì, trừ việc làm mồi kiếm ăn cho mấy anh chị Công An. Nếu bạn nào có thế giải thích trong 1 câu “tại sao chúng ta lại có sổ hộ khẩu” tui chết liền. Ở xứ khác khi sinh ra chỉ có giấy khai sinh rồi lớn lên làm cái thẻ, hộ chiếu. Vài nước thì dùng bằng lái xe làm chứng minh. Muốn đi đâu thì đi, nước của mình mà. Tại sao mỗi lần chuyển địa phương là phải đi khai tạm trú, KT3. Mấy cái này là gì tui hiểu tui chết liền. [Ku Búa đã viết rất chi tiết về Hộ Khẩu trong bài ”Hộ Khẩu: một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc.”]
  1. Đi mua xe đi đăng ký tên mình phải dùng sổ hộ khẩu và về đăng ký tại nơi thường trú (nơi đăng ký hộ khẩu). Nó vô lý ở chỗ này. Bạn là dân Lạng Sơn chuyển công tác vô làm ở Cà Mau, bạn muốn mua xe máy và đứng tên bạn, lỡ xe có bị trộm thì người ta biết xe đó là của mình. Nhưng ở Việt Nam thì nếu mua ở Cà Mau thì dân Lạng Sơn phải chở xe về Lạng Sơn đăng ký. Có cái nước nào khác trừ Việt Nam làm vậy không? Có ai biết thì nói nha, tại tui khờ lắm, hiểu biết về thế giới bên ngoài Việt Nam kém nữa.
  1. Cảnh sát giao thông kiểm tra xe nếu không có đủ giấy tờ sẽ bị giam xe. Tại sao người lái xe phải chứng minh xe đó là của người lái? Sao CSGT không chứng minh điều ngược lại. Phi logic. Còn việc giam xe thì tui chưa biết xứ nào khác làm vậy hết.
  1. Thuế “chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Tui chưa biết xứ nào khác có cái thuế quái dị như vậy. Đây là loại thuế làm cản trở quá trình công nghiệp hóa của đất nước. Bạn là một nông dân có 100 mét vuông đất nông nghiệp. Bạn muốn dùng 50m2 đó để xây cái hãng. Bạn phải đi tới Sở Tài Nguyên Môi Trường nộp đơn chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Số tiền đó cộng với bôi trơn đút lót thì gần bằng giá bán thị trường rồi. Thế thì bạn phải bán đi 50 m2 còn lại. Nghĩa là cái thuế này làm mọi thứ liên quan tới đất đai mắc gấp đôi. Một trong những thứ khùng điên nhất.
  1. Đi nộp giấy tờ phải đi công chứng rồi phải có con tem xác nhận. Đã vậy còn phải xin xỏ mấy bé mấy *** ** làm hành chính nữa chứ.
  1. Đi “xin” việc ở cơ quan nhà nước, công ty quốc doanh và một số công ty tư nhân phải nộp “sơ yếu lý lịch”. Sơ yếu lý lịch yêu cầu bạn phải ghi rõ về gia đình và bản thân: Trước và sau 1975 đã và đang làm gì. Tui và gia đình tui làm gì trước sau 1975 thì liên quan gì tới năng lực yêu cầu của công việc?
  1. Đi làm từ thiện phải (nộp đơn) “xin phép” Ủy Ban Nhân Dân và Mặt Trận Giải Phóng địa phương. Trời ơi, đã đi từ thiện, là bỏ tiền túi mình ra cho người khác, đã vậy còn phải đi xin giấy phép là sao? Độc Lập Tự Do Hành Phúc đâu rồi?
  1. Tham gia các giải thể thao ở tỉnh (và vài thành phố) phải có hộ khẩu và sổ tạm trú ở đó. Thể thao Thái Lan đang phát triển với quy mô chinh phục Châu Á. Trong khi đó ở Việt Nam các nhà làm thể thao hỏi: “Hộ khẩu con đâu?” Thấy có ngu không?
  1. Đi du lịch hoặc ở khách sạn nhà nghỉ phải đưa hộ chiếu hoặc Chứng Minh Thư cho tiếp tân. Ở xứ khác tui chỉ trình cái thẻ Master hoặc Visa. Nếu đưa hộ chiếu thì họ photocopy xong rồi đưa lại chứ không giữ. Tui chưa biết cái xứ nào làm vậy, trừ Việt Nam.
  1. Trước giải, buổi, hội hay chương trình gì cũng phải giới thiệu danh sách mấy quan có mặt. Đã vậy danh nghĩa dài dòng lê thê. Có cần phải đọc tên từng người một, chờ từng người một đứng dậy ngồi xuống không. Tui thật sự không hiểu cái logic. Tui chưa bao giờ thấy một giải hay trận thể thao nào ở nước ngoài làm vậy.
  1. Các trung tâm thể thao trưng khẩu hiệu “rèn luyện thể thao theo giương Bác Hồ vĩ đại”. Sao xứ Mỹ không trưng khẩu hiệu “tập luyện theo gương George Washington vĩ đại”? Bác Hồ hồi đó có tập thể thao mà sao tui không biết ta. Chuột cơ tay đô nữa, giờ tui mới biết. Phải ráng tập để nói theo gương Bác Hồ Vĩ Đại mới được.
  1. Tất cả các giấy tờ hành chính pháp lý phải có dòng chữ này ở trên “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc”. Giấy xin phép nghỉ học cũng vậy, giấy báo cáo cũng vậy luôn. Xứ khác có vậy không ta?
  1. Đi toilet ở Bến Xe (Miền Đông, Miền Tây, tỉnh, thành phố) mỗi lần phải trả 2,000 VND. Không chỉ riêng ở bến xe mà đa số các toilet công cộng đều vậy. Có chỗ còn treo bảng một giá rồi tính tiền một giá khác. Đến lúc cần giải quyết nhu cầu thì bực bội hết sức. Mà nếu toilet nó sạch thì tôi không nói, đằng này mỗi lần nghĩ tới là tôi dị ứng.
  1. Toilet công cộng thường không có giấy vệ sinh. Vậy người ta dùng gì để chùi *** ta?
  1. Làm xong cái hội thảo hay chương trình gì lớn chút cũng phải nói: “Cảm ơn các lãnh đạo đã tạo điều kiện.” Mặc dù mấy người đó không tham gia hoặc không ai biết mặt.
  1. Quân Đội đi làm kinh tế: Viettel, MB Bank, Xăng Dầu Quân Đội, Binh Đoàn 318 Dầu Khí. Tui thật sự không hiểu. Quân đội gì mà làm kinh tế kinh doanh?
  1. Quân Đội tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp. Tui chưa biết quân đội nước nào khác làm vậy.
  1. Cảnh Sát Nhân Dân tham gia thể thao thành tích chuyên nghiệp.
  1. Quân Đội phong hàm sĩ quan cho vận động viên đạt thành tích thể thao. Mặc dù chưa bao giờ qua trường lớp đào tạo sĩ quan, chưa bao giờ có kinh nghiệm cầm lính, chưa bao giờ có kinh nghiệm chiến trường. Hàm sĩ quan vô nghĩa vậy sao? Bạn là cha mẹ thì có cho con mình vô cái quân đội như vậy không? Vận động viên đạt thành tích thể thao thì liên quan gì tới phong hàm sĩ quan quân đội? Tui chưa biết quân đội xứ nào khác làm vậy hết.
  1. Đi xin việc làm vô mấy cơ quan nhà nước hay quốc doanh phải lót tiền, cả trăm triệu hơn chứ không kém. Có xứ nào khác làm vậy không ta?
  1. Đánh thuế kinh doanh trên Facebook. Cái này miễn ý kiến.
  1. Sinh viên học ĐH hay CD cũng phải học 1.5 năm lý thuyết kinh tế triết học Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 1.5 năm của cuộc đời mà sinh viên sẽ không lấy lại được.
  1. Và cuối cùng, Đảng Cộng Sản đã đấu tranh hy sinh cả triệu người dân trong cuộc chiến chống Pháp, Mỹ Ngụy vì lý tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuối cùng lại dùng chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường để làm giàu. Vậy cả triệu người Việt đã chết làm gì. Cuộc chiến đó có nghĩa gì?

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 44 other followers