LẬP TRƯỜNG CỦA MỸ về BIỂN ĐÔNG (Đặng Sơn Duân)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Lập trường của Mỹ về Biển Đông

Đặng Sơn Duân

14/07/2020

Bộ Ngoại giao Mỹ rạng sáng nay 14.7 chính thức công bố Lập trường của Mỹ về các yêu sách biển ở Biển Đông được chờ đợi nhiều ngày qua.

Tuy Mỹ từng nhiều lần tuyên bố các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông là phi pháp, nhưng đây là lần đầu tiên Washington bác bỏ các yêu sách này một cách cụ thể và chính thức.

Tạm lướt qua những phát biểu lên án Trung Quốc thường thấy trong các tuyên bố trước kia, chi tiết về lập trường mới của Mỹ nằm trong 3 đoạn chính yếu dưới đây:

Click : https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2020/07/HG.png

Đầu tiên, lập trường mới được minh định của Mỹ phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) và Phán quyết của Tòa án về phiên tòa Philippines kiện Trung Quốc về Biển Đông năm 2016.

Nó cũng phù hợp với Công thư của Phái đoàn thường trực Mỹ tại Liên Hiệp Quốc vào đầu tháng 6 và công hàm gửi Trung Quốc ngày 28.12.2016, sau khi có phán quyết của phiên tòa giữa Philippines và Trung Quốc vào tháng 7.2016.

Tuy nhiên, có một điểm mới và đáng chú ý là Mỹ nêu rõ việc “bác bỏ mọi yêu sách biển của PRC tại vùng biển xung quanh Bãi Tư Chính (Vanguard Bank – ngoài khơi Việt Nam). Cụm bãi cạn Luconia (Luconia Shoals – ngoài khơi Malaysia), vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Brunei và Đảo Natuna Lớn (Natuna Besar – ngoài khơi Indonesia)”.

Đây là những khu vực không nằm trong phạm vi phán quyết của Tòa án năm 2016, ngoài việc bác bỏ “Đường lưỡi bò” chung chung.

Rõ ràng, Mỹ đã đứng về phía Việt Nam trước việc Trung Quốc quấy phá hoạt động nghề cá và khai thác dầu khí hợp pháp của Việt Nam ở khu vực này, tương tự đối với khu vực cụm bãi cạn Luconia với Malaysia và vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Brunei và Đảo Natuna Lớn.

Ảnh vệ tinh chụp tàu Hải cảnh 5402 rình rập ở khu vực Bãi Tư Chính của Việt Nam ngày 13.7. Nguồn: internet

Đây là những khu vực trở thành điểm nóng trong thời gian qua trước hoạt động quấy phá của tàu chiến, tàu hải cảnh, tàu khảo sát, tàu dân binh và tàu cá Trung Quốc.

Trong đó, đối với Việt Nam rõ ràng là một động thái hết sức hoan nghênh và đập tan luận điệu của Trung Quốc cho rằng khu vực Bãi Tư Chính là khu vực tranh chấp.

Nghĩa là sẽ không còn chuyện Mỹ kêu gọi chung chung các bên hãy “giải quyết hòa bình các tranh chấp” ở khu vực này, mà chỉ đích danh: “Bất kỳ hành động nào của PRC quấy rối hoạt động nghề cá hoặc phát triển dầu khí của các nước khác ở những vùng biển này – hoặc thực hiện các hoạt động đó một cách đơn phương – là phi pháp”.

Trong lập trường của mình, Mỹ vẫn khéo léo giữ quan điểm trung lập đối với các tranh chấp LÃNH THỔ (tức Mỹ không xác định nước nào có chủ quyền đối với các thực thể có thể yêu sách chủ quyền ở khu vực).

Tuy nhiên, Mỹ đã bác bỏ hầu hết yêu sách biển của Trung Quốc ở phía nam Biển Đông và khu vực quần đảo Trường Sa.

Phần khu vực phía bắc và khu vực quần đảo Hoàng Sa không được nhắc đến vì chưa có phán quyết cụ thể của tòa ở khu vực này. (Nhiều khả năng chỉ có thể có được thông qua một phiên tòa do chính Việt Nam đệ đơn).

Như vậy, đối với các khu vực biển ở phía nam Biển Đông, bao gồm khu vực quần đảo Trường Sa, Mỹ không giữ vị thế trung lập, mà đứng về phía luật pháp quốc tế, về phía lẽ phải, bao gồm luật Biển và phán quyết của tòa, qua đó đứng về phía các nước bị Trung Quốc cưỡng ép và đe dọa.

Ngoài ý nghĩa về pháp lý và biểu tượng, chưa rõ lập trường minh định của Mỹ sẽ dẫn đến những hệ quả thực tế nào. Tuy nhiên, nó có thể mở đầu cho các hành động cứng rắn hơn của Mỹ trong việc bác bỏ yêu sách biển phi pháp của Trung Quốc thông qua các phương diện quân sự, ngoại giao và pháp lý.

Đặc biệt, nó có thể mở đường cho việc trừng phạt Trung Quốc sau khi xác định rõ ràng giới hạn hành động hợp pháp và phi pháp.

Chẳng hạn, trừng phạt các cá nhân và tổ chức tham gia vào việc quấy phá hoạt động nghề cá, thăm dò, khai thác dầu khí hợp pháp của nước khác hoặc đơn phương thực hiện các hành động phi pháp như thăm dò, khai thác dầu khí.

Theo thông tin từ một số người trong giới quan sát, Mỹ đã thông báo trước cho các nước liên quan về lập trường của họ trước khi công bố vào sáng nay.

Có thể thấy rõ sự tức tối của Bắc Kinh khi chỉ vài tiếng sau khi lập trường được công bố, người phát ngôn Đại sứ quán Trung Quốc ở Washington đã đưa ra tuyên bố phản đối.

Lập trường mới của Mỹ có thể mở ra một giai đoạn mới ở Biển Đông, với ý nghĩa dịch chuyển chính sách không thua kém phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội năm 2010, khi tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở khu vực.

Phát biểu của Ngoại trưởng Clinton khi ấy mở ra một giai đoạn mới đối với tình hình Biển Đông, vốn diễn ra sau việc Việt Nam và Malaysia liên danh đệ đơn lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên Hiệp Quốc và việc Trung Quốc công khai yêu sách “Đường lưỡi bò” một năm trước đó (2009).

Nay lập trường mới của Mỹ cũng được công bố sau khi Malaysia khai mào cái gọi là “cuộc chiến công hàm” ở Biển Đông vào cuối năm 2019, cũng liên quan đến việc đệ đơn lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên Hiệp Quốc.

Những phân tích, bình luận sâu hơn về vấn đề này có thể sẽ được tìm thấy tại Hội thảo Biển Đông lần thứ 10, do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế ở Mỹ tổ chức, khai mạc vào tối nay 14.7 (giờ Việt Nam).

_____

Tham khảo:

– Nhật Bản xem xét chia sẻ thông tin radar với Philippines để quan sát tốt hơn các hoạt động của máy bay quân sự Trung Quốc ra vào Biển Đông thông qua eo biển Ba Sỹ.

– Giới chức quân sự Anh đã vạch kế hoạch triển khai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth đến khu vực Viễn Đông vào đầu năm 2021.

.

.

.

LẬP TRƯỜNG CỦA HOA KỲ về YÊU SÁCH BIỂN Ở BIỂN ĐÔNG (Ngoại Trưởng Mike Pompeo – Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Lập trường của Hoa Kỳ về yêu sách biển ở Biển Đông

Mike Pompeo, Ngoại trưởng Mỹ

Bộ Ngoại giao Mỹ

Dịch giả: Trúc Lam

14/07/2020

Hoa Kỳ bảo vệ khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở rộng. Ngày nay, chúng tôi đang tăng cường chính sách của Hoa Kỳ trong một phần quan trọng, gây tranh cãi của khu vực này là  Biển Đông. Chúng tôi đang làm rõ: Các yêu sách của Bắc Kinh đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi trên hầu hết vùng Biển Đông là hoàn toàn bất hợp pháp, cũng như chiến dịch bắt nạt để kiểm soát chúng.

Ở Biển Đông, chúng tôi tìm cách giữ gìn hòa bình và ổn định, duy trì tự do trên biển cả theo cách phù hợp với luật pháp quốc tế, duy trì dòng chảy thương mại không bị cản trở và phản đối mọi nỗ lực sử dụng cưỡng chế hoặc ép buộc để giải quyết tranh chấp. Chúng tôi chia sẻ những lợi ích sâu sắc và vĩnh viễn này với nhiều đồng minh và đối tác của chúng tôi, những người từ lâu đã tán thành một trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc.

Những lợi ích chung này đã bị đe dọa chưa từng có từ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc). Bắc Kinh sử dụng mối đe dọa để làm suy yếu quyền chủ quyền của các nước ven biển Đông Nam Á ở Biển Đông, bắt nạt họ, đuổi ra khỏi các nguồn tài nguyên ngoài khơi, khẳng định sự thống trị đơn phương và thay thế luật pháp quốc tế bằng “sức mạnh quyết định đúng, sai”. Cách tiếp cận này của Bắc Kinh đã rõ ràng trong nhiều năm. Năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao lúc bấy giờ là Dương Khiết Trì đã nói với các đối tác ASEAN của mình rằng, “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là các nước nhỏ và đó là thực tế”. Quan điểm nhìn thế giới theo kiểu lang sói của Trung Quốc không có chỗ đứng trong thế kỷ 21.

Trung Quốc không có căn cứ pháp lý để đơn phương áp đặt ý chí của mình lên khu vực. Bắc Kinh không đưa ra một cơ sở pháp lý nhất quán nào cho yêu sách của mình về tuyên bố “đường chín đoạn” của họ trên Biển Đông kể từ khi chính thức công bố năm 2009. Trong một quyết định nhất trí vào ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài được thành lập theo Công ước Luật Biển năm 1982, mà Trung Quốc là một nước thành viên, đã bác bỏ các yêu sách hàng hải của Trung Quốc, cho là không có cơ sở luật pháp quốc tế. Toà án đứng về phía Philippines, nơi đưa ra vụ kiện trọng tài, trên hầu hết các yêu sách.

Như Hoa Kỳ đã tuyên bố trước đây và như được quy định cụ thể trong Công ước, quyết định của Tòa Trọng tài là quyết định cuối cùng và ràng buộc về mặt pháp lý đối với cả hai bên. Hôm nay chúng tôi đang điều chỉnh lập trường của Hoa Kỳ trong các yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông với quyết định của Toà án. Đặc biệt:

– Trung Quốc không thể xác nhận một cách hợp pháp yêu sách hàng hải – bao gồm mọi yêu sách về Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) có nguồn gốc từ rạn san hô Scarborough và quần đảo Trường Sa – đối với Philippines trong các khu vực mà Toà án tìm thấy ở EEZ của Philippines hoặc trên vùng EEZ của Philippines thềm lục địa. Việc Bắc Kinh quấy rối ngành thủy sản và khai thác năng lượng ngoài khơi của Philippines trong các khu vực đó là bất hợp pháp, cũng như bất kỳ hành động đơn phương nào của Trung Quốc để khai thác các tài nguyên đó. Theo quyết định ràng buộc về mặt pháp lý của Toà án, Trung Quốc không có yêu sách về lãnh thổ hoặc hàng hải hợp pháp đối với Đá Vành Khăn (Mischief Reef) hoặc Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), cả hai đều thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, cũng như Bắc Kinh không có bất kỳ yêu sách lãnh thổ hay quyền lãnh thổ nào từ các thực thể địa lý này.

– Khi Bắc Kinh không đưa ra một yêu sách hàng hải hợp pháp và rõ ràng ở Biển Đông, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển ngoài lãnh hải 12 hải lý, xuất phát từ các đảo mà họ tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa (không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền của các quốc gia khác đối với các đảo như vậy). Do đó, Hoa Kỳ bác bỏ mọi yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở vùng biển xung quanh bãi Tư Chính (ngoài khơi Việt Nam), Luconia Shoals (ngoài khơi Malaysia), vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Brunei và Natuna Besar (ngoài khơi Indonesia). Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc quấy rối việc đánh bắt cá hay khai thác dầu khí của các quốc gia khác ở những vùng biển này – hoặc thực hiện các hoạt động đó một cách đơn phương – là bất hợp pháp.

Trung Quốc không có tuyên bố lãnh thổ hoặc hàng hải hợp pháp (hoặc có nguồn gốc từ) bãi James Shoal, một thể địa lý hoàn toàn chìm dưới biển, chỉ các Malaysia 50 hải lý và khoảng 1.000 hải lý tính từ bờ biển Trung Quốc. James Shoal thường được Trung Quốc tuyên truyền là “lãnh thổ cực nam của Trung Quốc”. Luật pháp quốc tế rất rõ ràng: Một thực thể dưới nước như James Shoal không thể có bất kỳ quốc gia nào đòi yêu sách và không có khả năng tạo ra các khu vực hàng hải. James Shoal (khoảng 20 mét dưới bề mặt biển) không phải và không bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc, Bắc Kinh cũng không thể khẳng định bất kỳ quyền hàng hải hợp pháp nào từ đó.

Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình. Mỹ đứng về phía các đồng minh và các đối tác Đông Nam Á của chúng tôi trong việc bảo vệ quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên ở nước ngoài, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo luật pháp quốc tế. Chúng tôi sát cánh với cộng đồng quốc tế để bảo vệ tự do trên biển và tôn trọng chủ quyền và từ chối bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt “sức mạnh quyết định đúng, sai”, trên Biển Đông hoặc khu vực rộng lớn hơn.

.

.

.

17 TIỀU BANG MỸ KIỆN, CHẶN LUẬT ‘HỦY VISA DU HỌC SINH HỌC TOÀN ONLINE’ (Người Việt)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

17 tiểu bang Mỹ kiện, chặn luật ‘hủy visa du học sinh học toàn online’

Người Việt

Jul 13, 2020

WASHINGTON, DC (NV) – Có 17 tiểu bang và District of Columbia hôm Thứ Hai, 13 Tháng Bảy, đưa đơn kiện chính phủ của Tổng Thống Donald Trump, đòi chặn luật mới theo đó sẽ thu hồi visa của các sinh viên ngoại quốc, nếu họ học ở các trường chỉ có lớp online cho khóa mùa Thu tới đây, theo tin của tờ New York Times.

Theo đơn kiện, luật mới này, vốn được chính phủ Mỹ đưa ra chỉ một tuần trước đây, sẽ làm đảo lộn các chuẩn bị kỹ càng của các đại học từ mấy tháng nay. Đồng thời, luật có thể buộc hàng ngàn sinh viên trở về quê nhà của họ trong thời đại dịch COVID-19, nơi việc học hành sẽ gặp khó khăn trầm trọng.

“Chính phủ của Tổng Thống Trump cũng không tìm cách giải thích lý do vì sao họ có luật lệ phi lý này, vốn buộc các trường phải chọn giữa việc giữ các sinh viên ngoại quốc của mình, và việc bảo vệ sức khỏe cũng như an toàn của khuôn viên đại học.” Theo Bộ Trưởng Tư Pháp tiểu bang Massachusetts, Maura Healey, cho biết khi loan báo đơn kiện, cáo buộc chính phủ vi phạm đạo luật kiểm soát việc ban hành luật lệ trong nước, có tên Administrative Procedure Act.

Đơn kiện, được nộp tại tòa ở Boston, là nỗ lực pháp lý mới nhất nhằm chặn quy định do chính phủ Mỹ đưa ra, qua cơ quan Cảnh Sát Di Trú (ICE).

Đơn kiện nói đây là một hành động có tính cách chính trị của chính phủ Tổng Thống Trump nhằm buộc các đại học phải mở lớp học tại chỗ trong khóa mùa Thu này, dù rằng nhiều trường đã loan báo sẽ tiếp tục có các lớp học online vì lo ngại liên quan đến lãnh vực y tế.

Tiểu bang California đưa đơn kiện của riêng mình hồi tuần qua sau khi Harvard và Massachusetts Institute of Technology (MIT) đi kiện đòi chặn luật mới. Các luật sư của hai trường này sẽ có cơ hội trình bày lý lẽ của họ trước tòa hôm Thứ Ba, cũng tại Boston.

Khu vực thuộc 17 tiểu bang và DC này có 1,124 đại học, với khoảng 373,000 sinh viên ngoại quốc ghi danh theo học năm 2019, đóng góp khoảng $14 tỷ vào nền kinh tế Mỹ trong năm đó, theo đơn kiện.

Ngoài ra, còn có 40 trường đại học cũng nộp đơn bày tỏ sự ủng hộ đơn kiện, gồm cả trường đại học Yale, DePaul, the University of Chicago, Tufts, Rutgers cùng các đại học tiểu bang ở Illinois, Maryland, Massachusetts, Minnesota và Wisconsin. (V.Giang) [kn]

——————————–

.

Gần 60 đại học Mỹ ủng hộ kiện chính quyền Trump về lệnh trục xuất sinh viên  

Dân Trí Online  (Theo Reuters)

Thứ Hai 13/07/2020 – 16:04

https://dantri.com.vn/the-gioi/gan-60-dai-hoc-my-ung-ho-kien-chinh-quyen-trump-ve-lenh-truc-xuat-sinh-vien-20200713160425546.htm

Gần 60 trường đại học tại Mỹ đã tuyên bố ủng hộ đơn kiện của 2 trường đại học hàng đầu nhằm tìm cách ngặn chặn quy định mới của chính quyền Trump về việc trục xuất các sinh viên học trực tuyến 100%.


>>Đại học Mỹ kiện chính phủ vì quy định trục xuất sinh viên học trực tuyến
>>Sinh viên Singapore “ngồi trên đống lửa” vì nguy cơ bị trục xuất khỏi Mỹ
>>Hàng nghìn sinh viên quốc tế chỉ học trực tuyến đối mặt nguy cơ phải rời Mỹ

Đại học Harvard và Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ngày 8/7 đã nộp đơn kiện chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump lên một tòa án liên bang tại thành phố Boston về một quy định mới, trong đó có việc trục xuất du học sinh nếu nhà trường của họ dạy trực truyến 100%.

Theo Reuters, 59 trường đại học Mỹ, trong đó có 7 trường thuộc nhóm Ivy League, đã gửi một văn bản lên tòa án ủng hộ đơn kiện của 2 trường đại học trên.

Các trường cho biết, họ dựa vào vào sự hướng dẫn liên bang, vốn dự kiến vẫn “có hiệu lực trong thời kỳ khẩn cấp”, cho phép các sinh viên quốc tế tham gia các khóa học hoàn toàn trực tuyến trong thời kỳ đại dịch.

“Tình hình khẩn cấp vẫn đang tiếp diễn, nhưng chính sách của chính phủ đã thay đổi đột ngột và mạnh mẽ, khiến sự chuẩn bị của các trường bị đảo lộn, gây thiệt hại và xáo trộn lớn”, tài liệu viết.

Có khoảng 1,1 triệu sinh viên quốc tế đã theo học các cơ sở giáo dục bậc cao tại Mỹ trong năm học 2018-2019, theo một báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ và Viện giáo dục quốc tế (IIE), chiếm khoảng 5,5% tổng số sinh viên tham gia giáo dục bậc cao của Mỹ.

Chính sách mới của chính quyền Trump đã “làm khó” cho các cơ sở giáo dục tại Mỹ, khiến các trường vật lộn với những thách thức từ việc mở lại các lớp học an toàn trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp và số ca mắc tại Mỹ đang tăng cao.

Chính phủ Mỹ đang cố gắng đưa các trường phổ thông và đại học mở lại vào mùa thu tới. Đại học Harvard đã thông báo sẽ tiến hành toàn bộ các lớp học trực tuyến vào học kỳ tới.

An Bình

Theo Reuters

————————————-

.

Quy định mới của Mỹ về sinh viên nước ngoài: Nhiều trường ủng hộ cuộc chiến pháp lý  

NLĐ Online

14-07-2020 – 07:50 AM

https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/quy-dinh-moi-cua-my-ve-sinh-vien-nuoc-ngoai-nhieu-truong-ung-ho-cuoc-chien-phap-ly-2020071320420515.htm

59 trường đại học (ĐH) ở Mỹ hôm 12-7 đã bày tỏ sự ủng hộ đối với vụ kiện của Trường ĐH Harvard và Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) nhằm vào quy định mới của chính quyền Tổng thống Donald Trump liên quan đến sinh viên nước ngoài.

Theo Reuters, quy định này cấm các sinh viên nước ngoài tiếp tục ở lại Mỹ nếu các trường không tổ chức những buổi học trực tiếp trên lớp vào học kỳ mùa thu năm nay. Trong số 59 trường ủng hộ vụ kiện có 7 trường thuộc Liên đoàn Ivy (Ivy League, tức nhóm 8 trường ĐH lâu đời và hàng đầu của Mỹ) cùng với Trường ĐH Harvard.

Nhóm trường ĐH nói trên cho biết họ dựa vào hướng dẫn liên bang vốn vẫn “có hiệu lực trong tình trạng khẩn cấp” và cho phép các sinh viên quốc tế tham gia các tiết học trực tuyến trong thời gian dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (Covid-19) còn hoành hành. “Trong lúc tình trạng khẩn cấp vẫn còn tiếp diễn, chính sách của chính phủ lại đột ngột thay đổi mạnh mẽ, khiến sự chuẩn bị của các trường gặp xáo trộn, gây ra tình trạng hỗn loạn và thiệt hại đáng kể” – các trường ĐH khẳng định trong văn bản gửi đến tòa án.

Đơn kiện được Trường ĐH Harvard và MIT nộp lên một tòa án liên bang ở TP Boston hôm 8-7, theo đó phản đối chính sách buộc sinh viên nước ngoài hồi hương nếu học kỳ mùa thu tới của họ tại các trường ĐH ở Mỹ được học hoàn toàn bằng hình thức trực tuyến. Những du học sinh không đáp ứng quy định mới của Cơ quan Thực thi di trú và Hải quan Mỹ (ICE) sẽ bị xem là cư trú bất hợp pháp và có thể bị trục xuất. Học kỳ mùa thu ở Mỹ thường bắt đầu từ cuối tháng 8 và kết thúc vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng 1 năm sau. Trường ĐH Harvard trước đó thông báo sẽ tổ chức học trực tuyến hoàn toàn trong học kỳ mùa thu năm nay.

Theo sau động thái trên của MIT và Trường ĐH Harvard, Tổng chưởng lý bang California Xavier Becerra hôm 9-7 thông báo bước đi tương tự, qua đó trở thành bang đầu tiên kiện chính sách trên. “Chính sách này biến các trường ĐH thành điểm nóng của dịch Covid-19. Chính sách này là trái pháp luật , nguy hiểm và đáng trách về mặt đạo lý” – ông Becerra nhận định.

Các cơ sở giáo dục ở Mỹ không khỏi bất ngờ khi ICE ra thông báo về chính sách mới nói trên hôm 6-7 trong bối cảnh kế hoạch mở lại các buổi học trực tiếp thời Covid-19 gặp không ít thách thức. Điều đáng nói là chính quyền Tổng thống Donald Trump lại tìm cách thúc đẩy các trường học mở cửa lại trong học kỳ mùa thu bất chấp dịch Covid-19 vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt ở Mỹ nói riêng và trên thế giới nói chung.

Trong động thái gia tăng sức ép, ông chủ Nhà Trắng gần đây cảnh báo chính phủ sẽ ngừng cấp ngân sách liên bang cho những trường học không chịu thi hành. Bộ trưởng Giáo dục Mỹ Betsy DeVos hôm 12-7 cho biết bà dự định sẽ yêu cầu các trường học ở Mỹ mở cửa trở lại trong học kỳ mùa thu tới, đồng thời nhấn mạnh điều này có thể được tiến hành an toàn. Đáp lại, nhiều ý kiến cảnh báo sức khỏe học sinh sẽ bị đe dọa nếu trường học mở cửa lại quá sớm.

Theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ và Viện Giáo dục quốc tế (IIE), khoảng 1,1 triệu sinh viên quốc tế theo học tại Mỹ trong năm học 2018-2019, chiếm 5,5% tổng số sinh viên ĐH tại nước này. Trong năm 2018, các sinh viên quốc tế đóng góp 44,7 tỉ USD cho nền kinh tế Mỹ. 

Hoàng Phương

                                                                ***

Kỷ lục buồn về Covid-19

Số ca Covid-19 vẫn đang không ngừng gia tăng ở Mỹ trong những tuần gần đây, buộc chính quyền một số bang trì hoãn nỗ lực mở cửa lại nền kinh tế. Đáng chú ý, số ca Covid-19 mới hằng ngày đã đạt mức cao kỷ lục 66.528 hôm 11-7 trước khi giảm xuống còn 59.747 ca một ngày sau đó, theo số liệu thống kê của Trường ĐH Johns Hopkins (Mỹ). Riêng bang Florida hôm 12-7 ghi nhận số ca Covid-19 tăng hơn 15.000, con số cao chưa từng có.

Hãng tin Reuters cho biết nếu Florida là một quốc gia thì nơi này sẽ đứng thứ 4 thế giới về số ca nhiễm mới tăng trong một ngày, chỉ thua Mỹ, Brazil và Ấn Độ.

Số ca nhiễm ở 40 bang trong 2 tuần qua đã tăng mạnh so với 2 tuần trước đó. Ngoài ra, Mỹ đã phá vỡ kỷ lục thế giới với khoảng 60.000 ca nhiễm mới mỗi ngày trong 4 ngày liên tiếp vừa qua. Tỉ lệ nhập viện và số trường hợp dương tính với virus SARS-CoV-2 đều tăng tại các bang Arizona, California, Florida và Texas.

Mỹ đã ghi nhận hơn 3,3 triệu ca Covid-19 kể từ khi dịch bệnh bùng phát. Tuy nhiên, theo đài CNN, các chuyên gia cảnh báo số ca nhiễm thực tế có thể cao hơn khoảng 10 lần vì nhiều trường hợp nhiễm chưa được phát hiện. Trong khi đó, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ ước tính gần 40% người nhiễm Covid-19 tại nước này không có triệu chứng.

Đối mặt thực trạng kinh tế ảm đạm trước thềm cuộc bầu cử tổng thống dự kiến diễn ra vào tháng 11 tới, Tổng thống Donald Trump đang gây áp lực buộc doanh nghiệp hoạt động trở lại. Trong khi đó, khuyến cáo đeo khẩu trang nhằm hạn chế lây nhiễm Covid-19 đang trở thành vấn đề gây chia rẽ nước Mỹ.

Xuân Mai

.

.

.

DỊCH COVID-19 SÁNG 14/07/2020 : TỔNG GIÁM ĐỐC WHO CẢNH BÁO ‘QUÁ NHIỀU NƯỚC ĐI SAI HƯỚNG’

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Dịch COVID-19 sáng 14-7: Tổng giám đốc WHO cảnh báo ‘quá nhiều nước đi sai hướng’  

Tuổi rẻ Online

14/07/2020 06:16 GMT+7

https://tuoitre.vn/dich-covid-19-sang-14-7-tong-giam-doc-who-canh-bao-qua-nhieu-nuoc-di-sai-huong-20200713220931556.htm

TTO – Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo cuộc khủng hoảng do COVID-19 có thể ‘tồi tệ hơn’ nếu các nước không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa y tế nghiêm ngặt. Chỉ trong 5 ngày, số ca nhiễm mới trên toàn cầu tăng thêm tới 1 triệu.

DỊCH BỆNH COVID-19 (tính đến 7:00 sáng ngày 14/07/2020, giờ VN) 

Số ca nhiễm mới toàn cầu tăng 1 triệu chỉ trong 5 ngày

Theo cập nhật của trang Worldometers lúc 6h sáng 14-7, trên toàn cầu đã ghi nhận tổng cộng hơn 13,2 triệu ca nhiễm, hơn 7,6 triệu ca hồi phục và hơn 574.700 ca tử vong do COVID-19 .

Hãng tin Reuters cho biết sau khi các ca bệnh COVID-19 đầu tiên được ghi nhận tại Trung Quốc vào cuối năm 2019, mất 3 tháng để số ca nhiễm trên toàn cầu lên tới 1 triệu. Tuy nhiên, những ngày qua, chỉ mất 5 ngày để số ca nhiễm toàn cầu tăng từ 12 triệu lên 13 triệu.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng chỉ ra trong số 230.000 ca nhiễm mới được ghi nhận hôm 12-7, có 80% số ca nhiễm đến từ 10 quốc gia. Nghiêm trọng hơn, 50% số ca nhiễm đến từ chỉ hai quốc gia. Hiện tại Mỹ và Brazil là hai nước có số ca nhiễm cao nhất nhì thế giới.

WHO cảnh báo nhiều nước đi sai hướng

Với việc số ca nhiễm mới lan rộng như cháy rừng, nhiều quốc gia đầu tuần này đang tái áp đặt các biện pháp hạn chế, phong tỏa các thị trấn và thành phố để ngăn chặn sự lây lan của dịch.

Tuy nhiên, tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus ngày 13-7 cảnh báo quá nhiều nước đang “đi sai hướng” trong cuộc chiến với “kẻ thù chung số 1” này, với việc nhiều chính phủ truyền đi các thông điệp mâu thuẫn dẫn tới phá hoại niềm tin. Tuy nhiên, ông Tedros không chỉ rõ nước nào.

“Sẽ không có chuyện quay lại trạng thái ‘bình thường cũ’ trong tương lai gần” – ông nói. Tổng giám đốc WHO cảnh báo nếu các chính phủ không áp dụng một chiến lược toàn diện và các nước không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa y tế nghiêm ngặt, tình hình sẽ trở nên “tồi tệ, tồi tệ và tồi tệ hơn”.

DIỄN BIẾN DỊCH BỆNH COVID-19 TẠI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á

Bang California lại đóng cửa nhà hàng, quán bar, rạp chiếu phim

Ngày 13-7, thống đốc bang California (bang đông dân nhất nước Mỹ), ông Gavin Newsom đã công bố kế hoạch ngừng mở cửa trở lại nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 khi số ca nhiễm mới ở bang miền tây nước Mỹ này đang gia tăng mạnh.

Thống đốc Newsom, một thành viên đảng Dân chủ, đã ra lệnh các quán bar đóng cửa mọi hoạt động, còn các nhà hàng, rạp chiếu phim, sở thú và bảo tàng trên khắp bang này phải ngừng các hoạt động trong nhà. Ông nói rằng các nhà thờ, phòng gym, tiệm làm tóc cũng phải đóng cửa tại 30 hạt bị ảnh hưởng nặng nhất.

Quyết định trên được đưa ra trong bối cảnh số ca nhiễm gia tăng gây áp lực cho các bệnh viện tại một số hạt, và dịch mạnh lên ở Los Angeles cùng các phần khác của khu vực vịnh San Francisco. Trong khi đó, hai học khu lớn nhất của bang California – Los Angeles và San Diego – đã thông báo sẽ chỉ học qua mạng (online) vào mùa thu.

Hồi tháng 3, California là bang đầu tiên ở Mỹ phát lệnh bắt người dân ở lại trong nhà trên khắp bang để chống dịch. Hành động này đã gây thiệt hại lớn cho kinh tế bang. Đến tháng 5, ông Newsom đã nhanh chóng cho hầu hết cơ sở kinh doanh mở lại.

LHQ dự đoán nạn đói toàn cầu trầm trọng hơn do COVID-19

Trong một báo cáo mới công bố ngày 13-7, Liên Hiệp Quốc (LHQ) cảnh báo đại dịch COVID-19 có thể khiến thêm 132 triệu người đối mặt với nạn đói vào cuối năm nay. LHQ kêu gọi chính phủ các nước áp dụng một bộ công cụ chính sách để giúp người dân tiếp cận được thức ăn chất lượng.

Năm ngoái, hai tỉ người đã đối diện với tình trạng mất an ninh lương thực, với khoảng 746 triệu người đối mặt với tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm trọng. Với con số đang tăng nhanh, LHQ cảnh báo việc đạt được mục tiêu xóa đói toàn cầu vào năm 2030 đang gặp thách thức nghiêm trọng.

—————————

Dịch COVID-19 ngày 13-7: Cảnh báo virus biến chủng, thủ đô Philippines tái phong tỏa một phần

TTO – Trong bối cảnh số ca nhiễm toàn cầu vượt con số 13 triệu, chuyên gia ở Hong Kong cảnh báo virus gây bệnh COVID-19 đã xuất hiện biến chủng, khả năng lây nhiễm tăng 31% so với trước đây.

https://tuoitre.vn/dich-covid-19-ngay-13-7-canh-bao-virus-bien-chung-thu-do-philippines-tai-phong-toa-mot-phan-20200713060047476.htm

.

.

.

MỸ BÁC BỎ YÊU SÁCH NÀO CỦA TRUNG QUỐC Ở BIỂN ĐÔNG?

Tháng Bảy 14, 2020

.

.


Mỹ bác bỏ yêu sách nào của Trung Quốc ở Biển Đông?

TUỔI TRẺ ONLINE

14/07/2020 05:20 GMT+7

https://tuoitre.vn/my-bac-bo-yeu-sach-nao-cua-trung-quoc-o-bien-dong-20200714035450355.htm

TTO – Trong tuyên bố mới nhất, Mỹ bác bỏ gần hết các yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm bãi Tư Chính ngoài khơi Việt Nam

Đúng như thông tin trước đó, Bộ Ngoại giao Mỹ đã có tuyên bố chính thức về lập trường của Mỹ ở Biển Đông trong văn bản phát rạng sáng 14-7 (giờ VN)

Theo nội dung đó, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo khẳng định Trung Quốc đã không đưa ra cơ sở pháp lý nhất quán nào cho yêu sách “đường chín đoạn” ở Biển Đông kể từ khi chính thức tuyên bố điều đó vào năm 2009.

“Mỹ bảo vệ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Hôm nay chúng tôi đang tăng cường chính sách của Mỹ trong một phần quan trọng và gây tranh cãi của khu vực ấy – Biển Đông.

Chúng tôi đang làm rõ một điều: các tuyên bố của Bắc Kinh đối với tài nguyên ngoài khơi trên hầu hết Biển Đông là hoàn toàn bất hợp pháp, cũng như là chiến dịch bắt nạt của Trung Quốc nhằm kiểm soát chúng”, ông Pompeo viết trong tuyên bố đăng trên website Bộ Ngoại giao Mỹ.

Cho rằng Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền hàng hải phi pháp và bắt nạt láng giềng, ông Pompeo nêu rõ lập trường của Mỹ đối với Biển Đông và các yêu sách của Trung Quốc.

Tuổi Trẻ Online dịch lại một đoạn cụ thể như sau:

“Như Mỹ đã khẳng định trước đó, và như được quy định cụ thể trong UNCLOS 1982, quyết định của tòa trọng tài là quyết định cuối cùng và ràng buộc về pháp lý đối với cả hai bên. Hôm nay chúng tôi điều chỉnh lập trường của Mỹ đối với các tuyên bố hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông với quyết định của Tòa trọng tài. Cụ thể là:

Trung Quốc không thể áp đặt yêu sách hàng hải hợp pháp – bao gồm bất kỳ yêu sách vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) nào bắt nguồn từ bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa – liên quan tới Philippines trong các khu vực mà tòa trọng tài nhận thấy là EEZ hoặc trong vùng thềm lục địa của Philippines. 

Việc quấy rối của Trung Quốc với ngư dân và việc phát triển năng lượng ngoài khơi của Philippines trong các khu vực trên là phi pháp, tương tự bất kỳ hành động đơn phương nào của Trung Quốc nhằm khai thác những tài nguyên này…

Vì Bắc Kinh không thể đưa ra một yêu sách hàng hải hợp pháp, mạch lạc ở Biển Đông, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển ngoài khu vực 12 hải lý tính từ các đảo mà họ tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa (không gây tổn hại đến các tuyên bố chủ quyền của những bên khác đối với các đảo này). 

Do đó, Mỹ bác bỏ mọi yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở những vùng nước xung quanh bãi Tư Chính (ngoài khơi Việt Nam), Cụm bãi cạn Luconia (ngoài khơi Malaysia), vùng biển thuộc EEZ của Brunei, và đảo Natuna Besar (ngoài khơi Indonesia). Bất kỳ hành động nào của Trung Quốc nhằm quấy rối việc đánh cá và phát triển hydrocarbon (dầu mỏ) của các bên khác ở những vùng biển này – hoặc đơn phương thực hiện các hành động ấy – là phi pháp.

Trung Quốc không có tuyên bố lãnh thổ hay hàng hải hợp pháp đối với (hoăc xuất phát từ) Bãi ngầm James, một thực thể chìm hoàn toàn chỉ cách Malaysia 50 hải lý và cách bờ biển Trung Quốc 1.000 hải lý. Bãi ngầm James thường được truyền thông tuyên truyền Trung Quốc đề cập như “phần lãnh thổ cực nam của Trung Quốc”. 

Luật pháp quốc tế lại rõ ràng: Một thực thể chìm dưới biển như Bãi ngầm James không thể bị tuyên bố chủ quyền bởi bất kỳ nước nào, và không có khả năng tạo ra các khu vực hàng hải. Bãi ngầm James (gần 20m dưới mặt nước biển) không và không bao giờ là lãnh thổ của Trung Quốc, cũng không thể là nơi Bắc Kinh áp đặt bất kỳ quyền hàng hải hợp pháp nào từ nó.

Thế giới sẽ không cho phép Bắc Kinh coi Biển Đông là đế chế hàng hải của mình. Mỹ sát cánh cùng các đồng minh và đối tác Đông Nam Á của chúng tôi trong việc bảo vệ quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi, phù hợp với các quyền và nghĩa vụ của họ theo luật pháp quốc tế. Chúng tôi sát cánh với cộng đồng quốc tế trong việc bảo vệ tự do trên biển và tôn trọng chủ quyền, và bác bỏ bất kỳ nỗ lực nào nhằm áp đặt tư tưởng “lẽ phải thuộc về kẻ mạnh” ở Biển Đông hay khu vực rộng lớn hơn”.

NHẬT ĐĂNG

—————————-

CÙNG CHỦ ĐỀ :

Mỹ bác hầu hết yêu sách của Trung Quốc về Biển Đông

Chính quyền Mỹ bác bỏ gần như toàn bộ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông, đánh dấu leo thang căng thẳng song phương. – VnExpress.

VnExpress

Đăng ảnh tàu sân bay Mỹ ở Biển Đông, Bộ trưởng Quốc phòng Esper bình luận gì?

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mask Esper ngày 12.7 (giờ Mỹ) tuyên bố rằng chính sức mạnh, chứ không chỉ có thiện chí và những lời chúc tốt lành, giúp bảo đảm …

Báo Thanh Niên

Nóng: Rạng sáng 14-7, Mỹ chính thức bác gần hết yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông

TTO – ‘Chính quyền Tổng thống Donald Trump đi thẳng vào một trong những vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ Mỹ – Trung, trong đó bác bỏ hầu như mọi …

Mỹ bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông

(Dân trí) – Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 13/7 đã ra thông cáo mạnh mẽ bác bỏ các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông là “hoàn toàn bất hợp pháp”.

.

.

.

10 TỔ CHỨC QUỐC TẾ THÚC CSVN CHẤM DỨT ĐÀN ÁP NHÂN QUYỀN (Người Việt)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

10 tổ chức quốc tế thúc CSVN chấm dứt đàn áp nhân quyền  

Người Việt

July 13, 2020

10 tổ chức quốc tế thúc CSVN chấm dứt đàn áp nhân quyền

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Mười tổ chức xã hội dân sự trong và ngoài nước Việt Nam kêu gọi nhà cầm quyền CSVN chấm dứt đàn áp và thực hiện cam kết quốc tế về nhân quyền.

Một số nhà báo độc lập, dân oan đấu tranh nhân quyền bị CSVN bắt giam chờ kết án. (Hình: Internet)

Mười tổ chức và cá nhân, gồm nhiều tổ chức quốc tế, lo ngại về việc đàn áp leo thang của nhà cầm quyền Việt Nam đối với giới truyền thông độc lập và giới bất đồng chính kiến trước đại hội toàn quốc của Đảng CSVN dự trù đầu năm 2021.

Ân Xá Quốc Tế, International Publishers Association, BảoVệ Người Bảo Vệ Nhân Quyền, PEN America, Project 88, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, People In Need, VOICE, Vietnamese Democracy Activist, cùng đứng tên trong một bản kêu gọi, bầy tỏ quan tâm đặc biệt đến việc CSVN bắt giam ít nhất 11 người nổi tiếng về đấu tranh cho quyền tự do ngôn luận và quyền sở hữu đất đai nhưng lại bị chế độ vu cho tội tuyên truyền chống chế độ.

Họ nêu ra một số vụ bắt giữ gần đây như bắt bà Cấn Thị Thêu và hai người con của bà (Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư), bà Nguyễn Thị Tâm ở Dương Nội, các facebooker Vũ Tiến Chi; Nguyễn Thị Cẩm Thúy; và Lê Hữu Minh Tuấn, một trong những thành viên trẻ nhất của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam.

Trước đó, chế độ Hà Nội đã bắt Chủ Tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam Phạm Chí Dũng vào Tháng Mười Một, năm 2019 và Phó Chủ Tịch Hội Nhà Báo Độc Lập Nguyễn Tường Thuỵ vào Tháng Năm vừa qua. Đồng thời bắt cựu thành viên, nhà báo kỳ cựu Phạm Chí Thành cũng cuối Tháng Năm, 2020.

Thân nhân và thân hữu đòi trả tụ do cho nhóm “Hiến Pháp” sắp bị lôi ra tòa ngày 31 Tháng Bảy, 2020 tới đây. (Hình: FB Nga Kim)

Họ đều bị vu cho là “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống chế độ độc tài, đảng trị và cực kỳ tham nhũng tại Việt Nam với bản án có thể tới 20 năm tù.

“Những vụ bắt giữ này thể hiện sự leo thang nghiêm trọng hơn nữa của nhà cầm quyền Việt Nam, sự không khoan dung từ lâu đối với giới bất đồng chính kiến và đàn áp đối với người bảo vệ nhân quyền, người hoạt động và nhà báo.” Bản lên tiếng nói trên viết như vậy và bày tỏ “lo ngại trước các mối đe dọa đối với nhiều cá nhân, trong đó có Phạm Đoan Trang, một tác giả được quốc tế công nhận, chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình một cách ôn hòa.”

Theo bản lên tiếng trên, Bộ Công An coi các bài viết và sách của Phạm Đoan Trang “mang nội dung tuyên truyền chống nhà nước.” Bởi vậy, vào ngày 10 Tháng Bảy, cô buộc phải thông báo rời khỏi Nhà Xuất Bản Tự Do để “bảo vệ sự an toàn của các thành viên khác. Hiện cô đang lẩn trốn và đối diện với nguy cơ bị bắt giữ cao.”

Bức thư ngỏ nói trên “nhắc nhở chế độ Hà Nội rằng với tư cách là một quốc gia tham gia Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị (ICCPR), Việt Nam có nghĩa vụ phải bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền tự do biểu đạt và thông tin theo Điều 19 của ICCPR. Và trên hết, như được nhấn mạnh trong Nhận Xét Chung số 34 của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ‘Tự do ngôn luận và biểu đạt là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển toàn diện của con người và là điều cần thiết cho bất kỳ xã hội nào.’”

Họ đòi hỏi CSVN chấm dứt đàn áp các cá nhân và tổ chức trên; phóng thích ngay lập tức và vô điều kiện tất cả các tù nhân lương tâm; và tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của mọi công dân, phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam theo luật pháp quốc tế.

Theo thống kê của tổ chức Người Bảo Vệ Nhân Quyền (Defend the Defender- DTD), tính đến ngày 30 Tháng Sáu, năm 2020, CSVN đang giam giữ ít nhất 276 tù nhân lương tâm trong các nhà tù hoặc các hình thức giam giữ khác. (TN) [kn]

.

.

.

DÂN HỒNG KÔNG THAM GIA ĐÔNG ĐẢO BẦU CỬ SƠ BỘ CỦA ĐỐI LẬP (Thanh Phương – RFI)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Dân Hồng Kông tham gia đông đảo bầu cử sơ bộ của đối lập

Thanh Phương  –  RFI

Đăng ngày: 13/07/2020 – 11:32

https://www.rfi.fr/vi/ch%C3%A2u-%C3%A1/20200713-d%C3%A2n-h%E1%BB%93ng-k%C3%B4ng-tham-gia-%C4%91%C3%B4ng-%C4%91%E1%BA%A3o-b%E1%BA%A7u-c%E1%BB%AD-s%C6%A1-b%E1%BB%99-c%E1%BB%A7a-%C4%91%E1%BB%91i-l%E1%BA%ADp

Bất chấp cảnh cáo của chính quyền, dân Hồng Kông tham gia đông đảo bầu cử sơ bộ của đối lập nhằm chọn ứng cử viên Hội đồng Lập pháp.

https://s.rfi.fr/media/display/7b2e0356-c4e7-11ea-9713-005056a964fe/w:980/p:16×9/2020-07-11T000000Z_1419726585_RC2WQH9U2H3F_RTRMADP_3_HONGKONG-ELECTION.webp

Dân Hồng Kông xếp hàng đợi bỏ phiếu cuộc bầu cử sơ bộ của phe đối lập, ngày 12/07/2020 REUTERS – Tyrone Siu

Theo các nhà tổ chức, đã có hơn 600.000 người đi bỏ phiếu trong cuộc bầu cử sơ bộ của phe đối lập Hồng Kông hôm qua 12/07/2020, nhằm chỉ định các ứng cử viên cho cuộc bầu cử lập pháp vào tháng 9 năm nay.

Như vậy là người dân Hồng Kông đã tham gia đông hơn dự kiến rất nhiều vào cuộc bầu cử không chính thức này, bất chấp những lời cảnh cáo của chính quyền rằng hành động này có thể bị xem là vi phạm luật an ninh quốc gia mà Trung Quốc vừa áp đặt tại cựu thuộc địa Anh Quốc.

Một trong những người tổ chức, cựu dân biểu thuộc phe dân chủ, Au Nok Hin, được hãng tin AFP trích dẫn, tuyên bố : « Dưới cái bóng của luật an ninh quốc gia, hơn 600.000 người đã đến bỏ phiếu, chính trong hành động này mà chúng ta thấy sự can đảm của người dân Hồng Kông ». Ông nói thêm : « Người dân Hồng Kông đã một lần nữa làm nên các phép lạ và đã cho cả thế giới thấy rằng phe ủng hộ dân chủ có thể thu hút nhiều người đi bỏ phiếu như thế ».

Cuộc bầu cử sơ bộ đã diễn ra bất chấp những hành động hù dọa của chính quyền. Hôm thứ Bảy tuần trước, cảnh sát Hồng Kông đã khám xét trụ sở của một viện thăm dò đã giúp tổ chức cuộc bầu cử này. Cuộc bầu cử sơ bộ của phe đối lập diễn ra chỉ vài ngày sau khi Bắc Kinh ban hành đạo luật an ninh quốc gia tại Hồng Kông, nhằm trừng trị những người bị xem là có hành động nhằm lật đổ chính quyền, ly khai, khủng bố và cấu kết với các thế lực bên ngoài. Việc ban hành luật an ninh quốc gia thật ra chính là nhằm đáp lại phong trào biểu tình rầm rộ chống chế độ vào năm ngoái tại đặc khu hành chính Hồng Kông.

Các ứng cử viên được chọn trong cuộc bầu cử sơ bộ hôm qua sẽ đại diện phe đối lập ra tranh cử Hội đồng Lập pháp ( LEGCO ), gồm 70 nghị viên, trong cuộc bầu cử vào tháng 9.

Trong khi đó, chính quyền Hồng Kông tiếp tục trấn áp phe dân chủ. Hôm nay, 13 nhà hoạt động dân chủ hàng đầu ra tòa với cáo buộc tổ chức một cuộc tập hợp trái phép nhằm tưởng niệm các nạn nhân vụ đàn áp Thiên An Môn ngày 04/06/1989.

Viện lý do đang có dịch Covid-19, năm nay, lần đầu tiên chính quyền Hồng Kông đã ra lệnh cấm tổ chức đêm canh thức đốt nến để tưởng niệm các nạn nhân của phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh. Nhưng bất chấp lệnh cấm đó, hàng chục ngàn dân Hồng Kông đã tham gia cuộc tập hợp này.

—————–

CÁC NỘI DUNG LIÊN QUAN

Hồng Kông: Cảnh sát có thêm thẩm quyền để khống chế tự do ngôn luận

Hồng Kông : Đối lập bầu cử sơ bộ, một viện thăm dò bị khám xét

Hồng Kông: Luật Bắc Kinh áp đặt đe dọa ‘‘tự do ngôn luận toàn cầu’’

.

.

.

VÒNG KIM CÔ TRÊN ĐẦU HỒNG KÔNG (Ngô Nhân Dụng)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Vòng Kim Cô trên đầu Hồng Kông

Ngô Nhân Dụng

10/07/2020

https://www.voatiengviet.com/a/vong-kim-co-tren-dau-hong-kong/5497439.html

Câu chuyện Tây Du Ký phổ biến khắp Á Đông, đến nay trẻ em Nhật Bản còn say mê phim hoạt họa Saiyuki (Tây Du Ký). Trẻ em Việt Nam thì đặt bài hát “Kìa Na Tra với Ông Tề đấu phép – Có bao nhiêu phép ông Tề thâu hết – Thế là Na Tra phải thua ông Tề!”

Ai từng đọc Tây Du Ký thì sẽ hiểu ngay, vào Tháng Bảy năm ngoái, khi dân Hồng Kông đang biểu tình rầm rộ, và bạo động bắt đầu, ông George Yeo đoán trước với các thính giả ở Singapore rằng Hồng Kông sẽ bị đặt một cái vòng kim cô lên đầu!

George Yeo, tên chữ Hán là Dương Vinh Văn, đã từng làm ngoại trưởng Singapore, cảnh cáo, “Hồng Kông sẽ không thoát ra khỏi được bàn tay Phật Tổ!” Khi nào ông Phật đặt cái “vòng kim cô” lên đầu thì chú Tôn Ngộ Không sẽ biết thân!

Ai đọc Tây Du Ký đều biết Tôn Ngộ Không vốn là một chú khỉ trên Hoa Quả Sơn, tu luyện nhiều kiếp, tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh! Ông thầy chú là Đường Tam Tạng không thể nào kiềm chế được học trò vì nó có tài đằng vân giá võ, nhún chân nhẩy là thoắt vọt lên chín tầng mây nhìn xuống cười. Thật không khác gì thanh niên Hồng Kông dùng internet thông tin cho nhau, hàng trăm ngàn người một lúc, rồi vượt qua Thái Bình Dương điều trần trước quốc hội Mỹ dù vẫn ngồi ở nhà mình! Tôn Ngộ Không chỉ cần vặt một cái lông khỉ của mình, tung lên trời sẽ biến thành hàng ngàn chú khỉ mới giống hệt mình! Các thanh niên ở Hồng Kông cũng làm phép biến thành hàng triệu, hai triệu người cùng đi biểu tình đòi dân chủ!

Muốn trị Tề Thiên Đại Thánh phải nhờ đến Phật Thích Ca! Đức Phật đã giúp Đường Tăng, đặt cái vòng kim cô lên đầu Tôn Ngộ Không. Mỗi lần dậy dỗ chú khỉ không nghe thì Đường Tăng chỉ cần “niệm chú” là anh học trò nhức đầu không chịu nổi, phải ngoan ngoãn vâng lời thầy.

Tây Du Ký tiểu thuyết hóa chuyến đi của Thầy Huyền Quang (602-664) một mình đi “thỉnh kinh” ở Ấn Độ; đi, về trong 17 năm rồi dịch kinh gần 20 năm, nhiều bản dịch bây giờ người Việt, người Nhật và Đại Hàn còn tụng đọc.

Khi Bắc Kinh ban hành đạo Luật An ninh Quốc gia ở Hương Cảng, lại phải có một người gốc Hoa khác mới nhớ lại chuyện ông Yeo ví von cái vòng kim cô trên đầu Tôn Hành Giả! Ông Vương Hướng Vĩ, cựu chủ bút tờ South China Morning Post ở Hồng Kông, khen rằng ông Georges Yeo có tài tiên tri! Dân Hương Cảng đã thật sự bị đặt một cái Vòng Kim Cô trên đầu!

Nhưng đạo luật “Quốc gia An Toàn Pháp” thực ra có chỉ là một thứ Vòng Kim Cô nhẹ nhàng hay không?

Dân Hồng Kông có thể đang bị một cái cùm sắt trùm lên đầu lên cổ, bịt cả mắt, cả miệng, còn khổ hơn Du Thản Chi (Thiên Long Bát Bộ, lại truyện Tàu!)

Khi một số sinh viên Hồng Kông biểu tình trương biểu ngữ với bốn chữ “Hương Cảng Độc Lập,” lại còn phất cờ Mỹ và lên tiếng kêu gọi Tổng thống Mỹ Donald Trump giúp họ, thì Bắc Kinh phải lo lắng. Năm 2003 chính quyền Hồng Kông đã đưa ra dự thảo luật về an ninh quốc gia, chiếu theo điều số 23 trong bản “hiến pháp” tạm thời gọi là Luật Căn Bản (Basic Law), nhưng không thành sau khi bị dân phản đối.

Bây giờ Quốc hội Trung Cộng làm luật, với những điều khoản rất khắc nghiệt và đặt ra các định chế thi hành luật ngay trong lãnh thổ Hồng Kông. Luật nêu lên bốn thứ tội chính: Đòi ly khai, bạo loạn chống chính quyền, khủng bố, và thông đồng với nước ngoài.

Đây là những điều mà luật lệ quốc gia nào cũng giống nhau. Nhiều điều khoản trong đạo luật của Bắc Kinh đã bị chỉ trích nhưng cũng thấy trong luật lệ ở các nước khác. Tháng 12 năm ngoái Đài Loan đã làm luật phạt những người nhận “tiền ủng hộ và chỉ thị từ người ngoại được để tổ chức biểu tình, vận động hành lang, vân vân, nhằm ngăn chặn âm mưu xâm nhập của Trung Cộng. Năm ngoái Singapore cũng làm đạo luật chống Thông tin sai lạc nhằm “làm mất lòng tin vào chính phủ,” cho phép bắt giữ những người bị nghi ngờ trước khi được phép của tòa án. Hai năm trước, Australia đã làm luật về an ninh quốc gia, cho phép chính phủ nghe lén các cuộc điện đàm của dân. Đạo luật Patriot Act ở Mỹ sau vụ 11 tháng 9 năm 2001 cũng cho phép chính phủ bí mật theo dõi những người bị tình nghi khủng bố, trước khi được tòa án cho phép.

Với những đạo luật về an ninh khắt khe như thế, chính phủ các nước kể trên vẫn thi hành theo đúng tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng các quyền tự do căn bản của dân. Ở Hồng Kông, việc thi hành luật ra sao còn tùy chính sách của Bắc Kinh. Nhìn vào hành động cụ thể của họ, khi đó mới biết dân Hồng Kông sẽ chịu số phận của Tôn Hành Giả hay Du Thản Chi!

Câu hỏi quan trọng nhất của các nhà kinh doanh và giới đầu tư quốc tế là: Trung Cộng muốn chấm dứt chính sách “Một quốc gia, hai thể chế” (Nhất quốc lưỡng chế) của Hương Cảng hay không? Dương Hiểu Minh (Zhang Xiaoming), người mới được Bắc Kinh bổ nhiệm cho đứng đầu cơ quan thi hành luật ở Hồng Kông nói rằng nếu Trung Cộng muốn chỉ có một chế độ duy nhất thì họ chỉ cần đem luật an ninh ở trong lục địa ra áp dụng, không cần soạn ra một đạo luật riêng cho thích hợp với Hồng Kông.

Liệu Bắc Kinh có muốn cướp đoạt các quyền tự do mà dân Hồng Kông đã được hưởng từ thời là thuộc địa hay không? Họ sẽ phải thấy là không nên, và không cần, nếu phân tích lợi hại.

Ngay khi ban hành đạo luật an ninh, Bắc Kinh đã đạt được mục tiêu thứ nhất của họ là đe dọa dân Hồng Kông, sẽ chấm dứt không còn các cuộc biểu tình như đã xảy ra năm ngoái. Điều này đã thấy kết quả. Người Hồng Kông giờ biết rằng họ không thể hô hào “Độc lập.” Họ cũng sẽ không thể kêu gọi Tổng thống Trump giúp sức, vì sẽ thông đồng với người nước ngoài. Các tổ chức chính trị của sinh viên như đảng Demosisto của Joshua Wong đã tự giải tán, nhiều thủ lãnh sinh viên đã đi trốn.

Vậy Bắc Kinh có lợi gì nếu vẫn duy trì đường lối Nhất quốc lưỡng chế, và chứng tỏ được rằng họ tôn trọng bản văn đã ký kết năm 1997 với chính phủ Anh?

Bắc Kinh sẽ tiếp tục được lợi nếu cứ nuôi con gà đẻ trứng vàng này, dù trứng nhỏ hơn trước! Mặc dù sau 23 năm địa vị kinh tế của Hồng Kông đã giảm xuống đối với lục địa nhưng các thành phố lớn trong nước Tàu vẫn chưa thay thế được. Giới tài chánh và kinh doanh quốc tế tin tưởng vào hệ thống pháp luật tại Hồng Kông và nền hành chánh được coi là sạch sẽ nhất châu Á. Nếu người ta mất tin tưởng vào luật pháp, cảnh sát và các quan tòa, thì vai trò trung tâm tài chánh của Hồng Kông sẽ chấm dứt, không còn ích lợi gì cho nước Tàu nữa. Khi đó, Singapore sẽ đứng ra hưởng lợi chứ không phải Thượng Hải, Quảng Châu, hay Thẩm Quyến, vì không được ai tin tưởng như vậy.

Nếu muốn Hồng Kông tiếp tục là một trung tâm tài chánh quốc tế, thì sẽ phải giữ nguyên hệ thống kinh tế tư bản, bảo vệ quyền tư hữu; và phải tôn trọng nền tư pháp độc lập.

Hiện nay Trung Cộng đang bị cả thế giới nghi ngờ, từ các hành động xâm lăng hung bạo ở vùng biển Đông Nam Á, khiêu khích tại biên giới Ấn Độ, cho tới các trại tập trung người Uighur ở Tân Cương. Các nước Âu châu, và nay cả chính phủ nước Anh đang lo ngại việc cho công ty Huawei xây dựng hệ thống viễn thông G5 mới. Ấn Độ đã cấm 59 ứng dụng (app) thông tin trên mạng xã hội xuất phát từ nước Tàu và đang xét lại 50 dự án đầu tư của các công ty Trung Cộng. Trận đại dịch Covid-19 khiến thế giới không thể tin chế độ độc tài đảng trị của họ có thể hành xử một cách minh bạch, công khai, và lương thiện!

Muốn xóa bỏ những mối nghi ngờ đó, thì Bắc Kinh phải chứng tỏ họ vẫn tôn trọng bản hiệp ước đã ký năm 1997 khi Anh quốc trao trả Hồng Kông; tức là duy trì “một quốc gia, hai chế độ” được ghi trong Luật Căn Bản, là hiến pháp của Hồng Kông từ năm đó.

Thế giới tài chánh và đầu tư quốc tế sẽ quan sát coi cách chính quyền Hồng Kông đối xử với người dân như thế nào khi thi hành đạo luật Quốc gia An toàn.

Nhiều người Hồng Kông, trong đó có các doanh nhân và các luật gia, tin rằng tương lai sẽ không đến nỗi u tối. Ông Trương Kiến Tông, Matthew Cheung Kin-chung, người đứng đầu bộ máy hành chánh ở Hồng Kông gọi là Ty Chính Vụ, giải thích trên Facebook chính thức, rằng đạo luật an ninh mới sẽ không ảnh hưởng gì đến những quyền căn bản của dân, như tự do báo chí, tự do hội họp và quyền tự do phê phán các viên chức chính quyền.

Ông Trần Hoằng Nghị, Albert Chen Hung-yee, một giáo sư Luật khoa Đại học Hồng Kông chuyên về hiến pháp học, và cũng ngồi trong ủy ban về Luật Căn Bản của Thường vụ Quốc hội Trung Cộng, còn nói rằng dù với đạo luật mới thì một người dân Hồng Kông viết ý kiến đòi thay đổi hệ thống chính trị thành phố cũng không thể bị kết tội, nếu không sử dụng bạo lực hoặc các hoạt động phi pháp.

Sau khi chính quyền Hồng Kông nói rằng hô hào Quang phục Hương Cảng bây giờ là phi pháp, ông Pjilip Dykes, chủ tịch Luật sư đoàn thành phố phản đối, vì chính quyền không có quyền nói như vậy, chỉ có tòa án mới có quyền phán khẩu hiệu chính trị nào là phi pháp.

Một nhà báo đã hỏi bà Bộ trưởng Tư pháp của Hồng Kông rằng chính quyền có hay không thúc đẩy quan tòa để kết án người mới bị bắt trong ngày luật an ninh ra đời, vì mang trong túi tấm biểu ngữ viết khẩu hiệu Quang phục Hương Cảng, bà Trịnh Nhược Hoa, Teresa Cheng Yeuk-wah, đã hỏi lại: Làm sao có chuyện đó được? Chính phủ nghĩ theo lối của chính phủ, tòa án suy nghĩ theo cách riêng của tòa!

Bà Đàm Huệ Châu, Maria Tam Wai-chu, phó chủ tịch ủy ban Luật Căn Bản Trung Cộng, mới nói rằng ngay việc dùng khẩu hiệu “Quang phục Hương Cảng” không thôi cũng không vi phạm vào đạo luật an ninh. Bà Đàm Huệ Châu đã tham gia ủy ban đó từ năm 1997 sau khi góp phần soạn thảo Luật Căn Bản; bà cũng được coi là rất thân với Bắc Kinh; cho nên ý kiến trên cho thấy việc thi hành đạo luật an ninh có thể không khắc nghiệt như mọi người lo ngại.

Có lẽ thị trường tài chánh đã biết trước điều đó. Cho nên Chỉ số Hằng Thịnh (Hang Seng) của Hồng Kông đã tăng 10% trong một tuần, sau khi đạo luật an ninh ra đời – trong khi thị trường Thượng Hải cũng tăng 8%. Thứ Bảy 4 tháng Bảy vừa rồi, năm cựu nghị viên thành phố đã thắng kiện khi một thẩm phán tòa Thượng thẩm ra lệnh cảnh sát không được theo dõi điện thoại của họ nữa, sau khi cuộc điều tra về họ đã kết thúc.

Tập Cận Bình đã đặt một đạo luật an ninh làm cái vòng kim cô trên đầu Hồng Kông, nhưng chắc ông ta cũng không muốn giết chết con gà vẫn còn đẻ trứng vàng quý giá này!

.

.

.

ĐẤU TRANH CHO QUYỀN SỞ HỮU VŨ KHÍ (Thor Steinhovden)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Đấu tranh cho quyền sở hữu vũ khí

Tác giả: Thor Steinhovden

Dịch giả: Hoàng Thủy Ngữ

13/07/2020

Khi nói đến chiến thắng trong đấu trường chính trị, những ai hành xử đúng đắn ít thành công hơn những người có quan điểm thực tế thống trị chiến trường” – Robert Bothwell, National Committee for Responsive Philanthropy.

*

Mỗi buổi sáng, vào lúc 9 giờ 30’, các cánh cửa trong nhà trường tự động khóa lại. Thứ Sáu ngày 14/12/2012 cũng không ngoại lệ.

Sáu phút sau, một giọng nói hốt hoảng gọi đến trung tâm báo động địa phương – ai đó đã điện thoại cho 911 từ văn phòng trường tiểu học ở Sandy Hook. “Có tiếng nổ lớn tại lối đi chính”, tiếng nói sợ hãi lại vang lên.

Một phút sau, có báo cáo cửa kính lối đi chính bị vỡ. Phó hiệu trưởng Natalie Hammond và nhà tâm lý học Mary Sherlach của trường đi kiểm tra xem chuyện gì đã xảy ra. Sherlach không bao giờ trở lại.

Chỉ hơn hai phút, sau cú điện thoại lần đầu gọi đến trung tâm báo động, các nhân viên cảnh sát đầu tiên đã có mặt tại trường. Càng lúc càng nhiều người điện thoại đến trung tâm báo động cho biết họ nghe thấy tiếng súng và đang tìm cách giấu các học sinh nhỏ tuổi nhất trong lớp. Vài phút sau một sĩ quan cảnh sát báo qua điện đài là họ đã tìm thấy người chết.

Mười lăm phút sau, tính từ cú gọi điện đầu tiên đến 911, cuộc tấn công chấm dứt. Adam Lanza, 20 tuổi, đã bắn xuyên qua các cửa kính trường học, giết chết 20 đứa trẻ từ sáu đến bảy tuổi và 6 phụ nữ làm việc trong trường. Mẹ của Lanza nằm chết tại nhà. Bà bị chính con mình bắn chết. Kẻ giết người hàng loạt kết thúc cuộc tắm máu bằng cách tự sát khi bị cảnh sát đối đầu.

Adam Lanza bắn chết mẹ ruột rồi mang súng vào trường Tiểu học Sandy Hook, bắn chết thêm 26 người, sau đó kết liễu đời mình ngày 14/12/2012. Nguồn: Des D.Y.

Cuộc thảm sát tại Sandy Hook Elementary School là một trong những vụ giết người hàng loạt thảm khốc nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, nhưng không là vụ duy nhất.

Cuộc thảm sát Columbine đã để lại 12 xác chết tại trường trung học ở Colorado và được cho là khởi đầu của một loạt các vụ nổ súng trong học đường. Virginia Tech shooting năm 2007 là vụ nổ súng trong trường học trầm trọng nhất từ trước đển nay, với 32 người chết.

Những năm kế tiếp, các thảm kịch tương tự tiếp tục xảy ra ở Mỹ. Vài tháng trước cuộc bầu cử năm 2016, Omar Mir Seddique Mateen đã tấn công một hộp đêm ở Orlando và giết chết 49 người. Vụ thảm sát Las Vegas năm 2017 là vụ giết người hàng loạt lớn nhất nước Mỹ, với 58 nạn nhântrong vụ Parkland shooting năm 2018, Nicholas Cruz, 19 tuổi, đã bắn chết 17 người.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào con số trong bối cảnh lớn hơn, tổng số những vụ bắn giết ở Hoa Kỳ đã giảm bớt từ những năm 1990, nhưng các vụ nổ súng giết người hàng loạt là hiện tượng ngày càng tăng. Kể từ năm 2006, đã có trên 45 vụ nổ súng hàng loạt, trong đó có bốn hay nhiều người bị thương hoặc chết. Trong khoảng 40 năm, đã xảy ra hơn 80 lần.

Bất kỳ nỗ lực nào muốn hạn chế các biến cố như vậy bằng kế hoạch kiểm soát vũ khí đều bị đình chỉ, phần lớn do sự can thiệp của tổ chức vận động hành lang của Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA: National Rifle Association).

Từ thập niên 1990, đảng Cộng hòa đã nhận được rất nhiều tiền của NRA nên họ khó có thể đưa ra các kế hoạch kiểm soát vũ khí chặt chẽ hơn. Những thay đổi mà NRA đã phê chuẩn tập trung vào việc tăng cường kiểm tra sức khoẻ tâm thần, một hệ thống điều tra lý lịch kỹ lưỡng hơn, và kiểm soát nghiêm ngặt việc sử dụng cò lẩy (bump stocks) giúp vũ khí bán tự động có thể bắn nhanh gần như vũ khí tự động.

Sau vụ thảm sát Parkland, Donald Trump đã nói đến chuyện tăng giới hạn tuổi đối với việc mua bán một số loại súng bán tự động, nhưng rồi cũng chẳng có đề xuất cụ thể nào. Bây giờ cũng như mọi lần trước, sau vụ thảm sát Parkland, những người yêu chuộng vũ khí mong muốn có cuộc tranh luận về tình trạng sức khoẻ tâm thần hoặc vũ trang cho giáo viên.

Wayne LaPierre, người cầm đầu NRA, đã từng nói sau vụ thảm sát Sandy Hook: “Chúng ta không thể để mất thời gian quý báu trong một cuộc thảo luận chính trị vốn không đi tới đâu”. Và LaPierre muốn là được.

Quy định về vũ khí trước thời của NRA

NRA là một trong những nhóm lợi ích thành công nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Trong vòng 50 năm, tổ chức này đã có thể biến cuộc tranh luận về vũ khí trở thành một trong những vấn đề tranh cãi lớn nhất trong chính sách quốc gia.

Cao bồi trên thảo nguyên, xã hội đen trong các thành phố lớn và những người hùng trong phim hành động của Hollywood đã góp phần tạo ra ấn tượng vũ khí là thứ người Mỹ cần nhiều nhất. Thật ra điều này chỉ đúng phần nào thôi.

Thời gian sau cuộc chiến tranh giải phóng, vào cuối những năm 1700, Hoa Kỳ rất chật vật về chuyện thiếu vũ khí. Quốc gia mới thành lập có khoảng 36000 ngàn quân nhưng chỉ một nửa trong số đó có vũ khí hoạt động được. Đồng thời, Hoa Kỳ bị các kẻ thù hùng mạnh bao vây: Người Anh, Tây Ban Nha và Pháp hiện diện rất đông trên lục địa.

Do đó, giới lãnh đạo quốc gia đã ký hai mươi hợp đồng với các nhà sản xuất tư nhân để họ sản xuất thêm vũ khí. Chính nhà nước Mỹ đã trợ cấp cho các nhà sản xuất vũ khí để đối mặt với các đối thủ nước ngoài, điều mà ngày nay hiếm khi được nói đến.

Thị trường trong nước tăng tốc với sự xuất hiện của “Manifest Destiny” – học thuyết giữa những năm 1800. Đây là tư tưởng chính trị được đảng Dân chủ đặc biệt quảng bá: Thượng đế cho người Mỹ cái quyền chinh phục toàn thể Bắc Mỹ.

Cuộc xâm chiếm những vùng đất mới phía Tây của thực dân Mỹ để mở rộng biên giới đã gặp sự kháng cự của cả dân bản địa lẫn địa hình hoang dã – súng ống hiện đại trở thành giải pháp của thực dân Mỹ.

Mặc dù vũ khí có vai trò quan trọng nổi bật trong quốc gia tân lập này, nhưng không phải ai cũng đi loanh quanh với khẩu súng bên hông. Miền Tây hoang dã không phải lúc nào cũng hoang dã. Câu trả lời cho sự vô pháp luật đặc trưng trong thời đại cao bồi là đôi khi có thể chính quyền địa phương yêu cầu cư dân để súng và các vũ khí khác tại văn phòng cảnh sát trưởng. Khi xong việc ở trong phố, người ta đến đó nhận lại vũ khí của mình.

Vũ khí có thể cần thiết với một số người nhưng không phải với tất cả mọi người. Quy định về vũ khí trước và sau cuộc nội chiến thường để ngăn chặn những “kẻ xa lạ” có vũ trang: Người nhập cư, dân bản địa, người bị bệnh tâm thần, thành viên nghiệp đoàn và người Mỹ gốc Phi châu. Địa chủ da trắng nam giới theo đạo tin lành là thành phần có quyền ưu tiên sở hữu và mang súng.

NRA được thành lập vào năm 1871 bởi hai cựu chiến binh đã chiến đấu cho các tiểu bang miền Bắc trong cuộc nội chiến. Cả hai, William Church và George Windgate, rất bực bội trước khả năng yếu kém trong việc sử dụng súng của các chiến hữu.

Mục đích của NRA là hỗ trợ quân đội bằng cách huấn luyện thêm cho những binh lính này. Tiểu bang New York thậm chí còn tặng thêm vũ khí để giúp tổ chức khởi động. Dần dần, NRA phát triển lớn hơn và nhiệm vụ của họ mở rộng sang việc huấn luyện cho các thợ săn và những người có thú chơi súng. Rất hiếm khi tổ chức dính dáng đến chính trị.

Trong thời kỳ cấm đoán rượu bia từ 1920 đến 1933, một số băng đảng đã làm nhà chức trách Mỹ điên đầu, trong đó có nhóm John Dillinger.

Để chống lại bọn tội phạm như Dillinger, lần đầu tiên Quốc hội đưa ra đạo luật về vũ khí có hiệu lực trên toàn quốc, bao gồm việc bán súng ngắn và người mua phải trả phí cao hơn khi mua súng máy. Trong buổi hội thảo cứu xét dự luật, Karl T. Frederick, lãnh đạo NRA, tuyên bố, không phải ai cũng cần phải có súng – một tuyên bố khiến ông gặp vấn đề sau này.

Khi Frederick làm chứng trước một ủy ban ở Quốc hội, ông vẫn phủ nhận việc siết chặt kiểm soát vũ khí là vi hiến trong khi hiện nay, nó là lập luận cốt lõi của NRA khi họ chống lại các quy định chặt chẽ hơn. Sau này, Frederick viết rằng, quyền cầm súng không nên biện luận bằng hiến pháp, mà nên bằng cách phổ biến thông tin hướng dẫn người dân có những hiểu biết tốt hơn khi sở hữu súng.

NRA thời đó đã ủng hộ một số quy định về việc bán vũ khí nhưng phản đối những hạn chế của chính phủ đối với việc sử dụng súng.

Tổ chức này không dùng cách vận động hành lang, nhưng ngay từ thập niên 1930, đã thành lập một văn phòng chuyên trách cập nhật các đạo luật mới về vũ khí, cả ở cấp tiểu bang và quốc gia. Nếu văn phòng phát hiện những xu hướng thắt chặt, NRA yêu cầu các thành viên của mình gửi thư đến các đại diện dân cử của họ.

Một bài báo trên tờ Jackson Daily News từ năm 1963 đã kết luận rằng, khả năng của NRA trong việc huy động thành viên viết thư như vậy là “một trong những lý do” tại sao Hoa Kỳ có những đạo luật về vũ khí lỏng lẻo hơn các quốc gia khác.

NRA chiếm Washington D.C.

Thứ Sáu ngày 22/11/1963, tổng thống John F. Kennedy bị bắn chết ở Dallas. Sau đó cùng ngày, Lee Harvey Oswald bị bắt. Oswald khai đã mua khẩu súng trường từ một cửa tiệm ở Chicago, bằng cách đặt hàng qua đường bưu điện. Cửa hàng này quảng cáo bán vũ khí trên một tạp chí dành cho thành viên của NRA.

Vụ giết người lần này cùng những vụ ám sát nhiều nhà lãnh đạo chính trị khác khiến Quốc hội cố tìm cách thắt chặt các quy định mua vũ khí. Cùng khoảng thời gian đó, phó chủ tịch NRA viết rằng, tổ chức chống lại các cải cách lớn như vậy, nhưng ủng hộ việc cấm bán vũ khí cho trẻ vị thành niên, tội phạm và những “phần tử không thể chấp nhận được”.

Ngoài ra, các nhà vận động vũ khí hành lang cũng có cái nhìn tích cực đối với một số quy định về vũ khí bất hợp pháp. NRA giờ đã có 640.000 thành viên và tổ chức đang trên đường trở thành một đối thủ mạnh hơn để đối phó với kế hoạch kiểm soát vũ khí.

Đồng thời, cuộc thảo luận về vai trò của NRA trong lãnh vực chính trị cũng diễn ra sôi nổi trong nội bộ tổ chức này. Các bất ổn xã hội trong thập niên 1960 đã thúc đẩy người Mỹ mua súng ngắn ngày càng nhiều vì sự an toàn của chính họ. Số lượng các vụ giết người và số lượng người sở hữu vũ khí tăng lên cùng lúc và, trong nội bộ NRA, ngày càng nhiều thành viên bắt đầu lập luận tổ chức cần phải có vai trò chính trị và quyết liệt hơn.

Harlon Carter là một trong những thành viên tin rằng, NRA nên theo đuổi một chính sách khác. Carter lớn lên ở biên giới Mexico và ngay khi còn là thiếu niên đã bắn chết một đứa trẻ 15 tuổi cầm dao quấy rối mẹ mình. Carter bị kết án giết người nhưng bản án bị đảo ngược do một lỗi thủ tục. Sau này ông trở thành người cầm đầu cảnh sát biên giới Hoa Kỳ. Giờ đây, Carter nhận nhiệm vụ lên kế hoạch vận động hành lang cho những người ủng hộ vũ khí và từ vị trí này ông đã làm cú “đảo chính” giành quyền lực trong tổ chức.

Đêm 22/05/1977, NRA mở hội nghị thường niên với tất cả các thành viên tại Cincinnati ở Ohio. Trong nỗ lực kìm hãm xung đột nội bộ, ban lãnh đạo đề xuất dời trụ sở chính từ Washington D.C về Colorado. Mục đích để hướng NRA thành tổ chức sinh hoạt dã ngoại. Đây là đề xuất hoàn toàn tự nhiên vì NRA luôn có nhiều thợ săn là thành viên.

Kế hoạch thất bại. Carter và đồng bọn chiến thắng trong cái được gọi là “cuộc nổi loạn Cincinnati”. Các thành viên chính trị đảo chính giành quyền quản trị và tự phong vai trò lãnh đạo. Harlon Carter trở thành giám đốc mới của tổ chức và nhanh chóng bảo đảm cho NRA một vị trí vững chắc ở Washington. Khi Ronald Reagan trở thành ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa, NRA lần đầu tiên lao vào chiến dịch tranh cử và ủng hộ nhân vật được cánh hữu ưa chuộng.

Sự chuyển hướng mau chóng đem lại nhiều phần thưởng. Chỉ sau một năm, trong nhiệm kỳ tổng thống của Reagan, NRA đã có được 30 triệu dollar trong ngân sách thường niên và khối lượng thành viên tăng lên gấp ba lần. Khi Harlon Carter được bầu lại vài năm sau đó, tờ New York Times viết rằng, NRA là một trong những tổ chức vận động hành lang quyền lực nhất nước Mỹ.

Theo Carter, mục tiêu của tổ chức là “trở nên mạnh đến mức không một chính trị gia nào quan tâm đến sự nghiệp của mình lại dám thách thức mục đích của chúng tôi”. Chẳng bao lâu sau, chuyện này trở thành hiện thực. Năm 1986, Quốc hội thông qua dự luật ngăn chặn nhà nước thiết lập sổ đăng ký sở hữu chủ vũ khí trên toàn quốc. Báo chí dành nhiều vinh dự cho NRA trong đạo luật này.

Tuy vậy, vào cuối thập niên 1980, Quốc hội lại đưa ra một cải cách mới và nghiêm khắc hơn. Khi muốn mua súng, người ta phải qua thủ tục kiểm tra lý lịch áp dụng trên toàn quốc và thời gian chờ đợi là 5 ngày. Luật còn cấm bán súng trường tự động. Mặc dù thất bại, NRA vẫn đưa được vào trong đạo luật một điều khoản tên là Sunset Clause, theo đó nếu không gia hạn, luật sẽ hết hiệu lực sau 10 năm (chuyện này cũng đã xảy ra). Ngay cả khi đã thất bại, những người đấu tranh cho vũ khí vẫn tìm cách khiến các quy định mới về vũ khí tự biến mất theo thời gian.

Luận thuyết báo động

Trong giai đoạn sau khi Clinton được bầu vào Nhà Trắng năm 1992, có khoảng 600.000 thành viên mới đã đăng ký gia nhập NRA. Số lượng thành viên tăng lên phần lớn có lẽ vì một luận thuyết báo động đã trở thành thương hiệu của NRA. Luận thuyết này liên quan đến việc sở hữu vũ khí vì lý do an toàn và quyền tự vệ. Đó là quyền tự vệ cá nhân trong trường hợp bị trộm cắp tại tư gia và ngay cả khi nhà nước trở thành một chính quyền chuyên chế ở Hoa Kỳ (một thuyết âm mưu của cánh hữu rất phổ biến). NRA cảnh báo rằng quyền sở hữu vũ khí sẽ bị đe dọa nếu đảng Dân chủ thắng cử hay nếu luật về vũ khí nghiêm ngặt hơn, trở thành đề tài trên báo.

Theo tuyên bố của tổ chức này, đó là bước đầu trên con đường tước quyền tự do của đại đa số quần chúng. Kiểu thông điệp như vậy được liên tục lặp đi lặp lại bởi các chính trị gia đảng Cộng Hòa và truyền thông bảo thủ. Và nó có kết quả. Barack Obama được gọi là “tay bán súng giỏi nhất nước Mỹ” bởi vì các quan điểm chính thức của ông trong việc thắt chặt luật pháp đã thúc đẩy người đã sở hữu súng từ trước mua thêm nhiều vũ khí, trong thời gian ông ở tòa Bạch Ốc.

Sau vụ Parkland năm 2008, NRA cho biết, họ phải quay ngược trở về tận năm 2003 để tìm ra cái tháng họ đã thu được số tiền lớn tương đương như vậy. Tổ chức đã lợi dụng cơ hội tung ra chiến dịch chiêu mộ thêm 100.000 thành viên mới vì “mối đe dọa đối với tu chính án hiến pháp thứ nhì chưa bao giờ lớn hơn”. Điều này có nghĩa là NRA đã tìm ra cách củng cố vị trí của mình, cả khi cuộc thảo luận vũ khí thuận lợi cho họ lẫn lúc họ gặp môi trường tranh luận khó khăn hơn.

Kinh doanh vũ khí từ lâu đã là “chuyện làm ăn lớn” (big business) nhưng thị trường này ngày càng ít khách hàng. Giữa những năm 2007 và 2013, số lượng vũ khí sản xuất tăng từ 4 triệu đến 11 triệu mỗi năm. Sự gia tăng này góp phần rất lớn vào việc lưu hành hàng trăm triệu vũ khí ở Mỹ, có lẽ còn nhiều hơn tổng số dân cư trong nước. Số lượng thống kê rất ít chính xác vì vào năm 1996, NRA và đảng Cộng hòa đã theo luật định không cho phép Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC: Center for Disease Control and Prevention) tiến hành nghiên cứu về tội phạm sử dụng vũ khí. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, số người sở hữu vũ khí không tăng.

Vào thập niên 1970, khi NRA tiến vào D.C., khoảng một nửa dân số Mỹ đã mua súng. Con số này giảm mạnh từ đó. Doanh số tăng là do những người thật sự thích vũ khí mua thêm. Một nghiên cứu của Harvard cho thấy, mỗi người này, còn được gọi là siêu sở hữu chủ, có trung bình 8 khẩu súng.

Trên thực tế, số vũ khí họ có chỉ chiếm ba phần trăm trong tổng số vũ khí đang lưu hành trong nước. Điều này cho thấy những người đấu tranh, đồng thời cũng sản xuất vũ khí và NRA đầy quyền lực chỉ đại diện cho quyền lợi của số lượng cử tri càng lúc càng giảm.

NRA quả quyết tổ chức có hơn 5 triệu thành viên đóng lệ phí, bằng khoảng 0,5% tổng dân số Hoa Kỳ. Bù lại, nhóm này tham gia tích cực vào các cuộc tranh luận công cộng nhằm giúp NRA duy trì vị thế quyền lực. Quyền lực này tập trung chính trong đảng Cộng hòa.

Cả Donald Trump và phó tổng thống Mike Pence đều đã diễn thuyết trong cuộc họp thường niên của tổ chức năm 2018. Quyền lực không chỉ ở trong tay cấp lãnh đạo đảng mà còn được phân chia cho cấp dưới tùy theo thứ bậc. Các chính trị gia cả hai cấp địa phương lẫn quốc gia gắn liền với tổ chức qua sự kết hợp giữa củ cà rốt và roi da. Cà rốt xuất hiện dưới hình thức quyên góp tiền bạc và hỗ trợ chính thức các ứng cử viên. Roi da bao gồm việc công bố, cho điểm mức độ thiện cảm của chính trị gia đối với việc sở hữu vũ khí. Tổ chức không quan tâm đến các chiến dịch bôi nhọ̣ hay chụp mũ công khai những người vượt ngoài các giới hạn đã định sẵn. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm thắt chặt đạo luật về vũ khí đều bị xem là sự phản bội.

NRA cũng thành công trong việc gây ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận về vũ khí. Chẳng có gì lạ khi nghe những lập luận như sau: “Chúng ta phải có khả năng tự bảo vệ mình trong trường hợp bị bọn khủng bố tấn công hay nếu nhà nước quay lại chống chúng ta”. Một lập luận phổ biến khác là: “Điều duy nhất có thể ngăn chặn một ‘bad guy’ mang vũ khí là một ‘good guy’ có vũ khí”. Các lập luận này được cử tri yêu chuộng vũ khí, giới truyền thông bảo thủ và các chính trị gia Cộng hòa sử dụng liên tục.

Các cảnh báo trên có giọng điệu của bi kịch. Chúng tạo ra ấn tượng bất kỳ sự thay đổi nào trong đạo luật về vũ khí đều có thể kết thúc bằng cái chết hay sự chuyên chế. Kiểu biện luận này gây ra nỗi sợ hãi trong cử tri, từ đó làm cuộc thảo luận thêm căng thẳng bởi vì khi đề cập đến sự sống và cái chết, rất ít khi có được sự thỏa hiệp cân bằng.

Thành công của NRA dẫn đến hậu quả các chính trị gia Cộng hòa và cử tri bị dính chặt trong vũng lầy chính trị. Cho dù bao nhiêu vụ xả đạn giết người xảy ra ở trường học, dường như tổ chức này vẫn quyết tâm duy trì vị thế của mình. Việc này làm ranh giới giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ càng đậm nét và góp phần phân hóa chính trị nhiều hơn nữa.

Tuy nhiên, không chỉ một mình NRA góp phần vào việc chia đôi cuộc thảo luận xã hội. Cánh hữu trong xã hội Mỹ kêu gọi chiến tranh với câu “God, Guns and Country” (Thượng đế, súng đạn và đất nước). Mặc dù NRA rất mạnh, họ vẫn phải chia sẻ quyền lực với các nhóm tôn giáo: Kitô hữu truyền giáo.

Trích dịch từ sách: Det Amerikanske Marerittet (The American Nightmare)

.

.

.

PHẢI CHĂNG MÔ HÌNH DÂN CHỦ ĐANG SUY YẾU, MÔ HÌNH ĐỘC TÀI ĐANG LÊN? (Song Chi)

Tháng Bảy 14, 2020

.

.

Phải chăng mô hình dân chủ đang suy yếu, mô hình độc tài đang lên?   –  P.1

Song Chi  

Thứ Bảy, 07/11/2020 – 11:07 — songchi

https://www.rfavietnam.com/node/6380

Mỹ và các nước dân chủ phương Tây đang rối ren, Trung Cộng, VN… ổn định chính trị?

Khởi đầu từ cái chết của người đàn ông da đen George Floyd dưới tay viên cảnh sát da trắng Derek Chauvin ở Minneapolis, Minnesota vào tháng 5.2020, phong trào biểu tình «Black Lives Matter» đã bùng lên dữ dội ở Mỹ và nhiều nước phương Tây. Một số kẻ xấu đã lợi dụng những cuộc biểu tình này để cướp bóc, hôi của chỗ này chỗ khác. Ở Mỹ một số nơi còn đòi cắt giảm ngân sách hoặc thậm chí, giải thể lực lượng cảnh sát, giao quyền bảo vệ người dân cho các tổ chức dân sự. Tại khu dân cư ngay trung tâm thành phố Seattle, những người biểu tình đặt rào chắn bao quanh, đặt tên nơi đây là “Khu Tự trị Capitol Hill” (Capitol Hill Occupation Protest, Capitol Hill Autonomous Zone) và thử nghiệm cuộc sống không có cảnh sát. Nhưng sau 3 tuần (8.6-1.7.2020) thì cảnh sát TP Seattle, bang Washington (Mỹ) đã ra quân giải tỏa khu vực «tự trị» sau khi có nhiều vụ xả súng gây thương vong tại khu vực này.

Trong một diễn biến khác, phong trào «Black Lives Matter» lên cao, dẫn tới việc đòi giựt sập/kéo đổ những bức tượng gợi lên những hình ảnh, ký ức về nạn phân biệt chủng tộc và thời kỳ nô lệ ở Mỹ, ở Anh…, trong đó có cả những bức tượng của 3 vị Tổng thống được gọi là «bậc tổ phụ» của nước Mỹ như George Washington, Theodore Roosevelt, Thomas Jefferson, ở Anh thì tượng của Cố Thủ tướng tài ba Winston Churchill và cả tượng Mahatma Gandhi …cũng không được yên.

Một số người biểu tình còn đi xa hơn, đòi xét lại lịch sử, xét lại những nhân vật lịch sử, chính khách, các gương mặt văn hóa lớn và tác phẩm của họ, thậm chí cả từ ngữ dùng hàng ngày trong mọi lĩnh vực, nếu gợi lên ý phân biệt chủng tộc, là phải điều chỉnh, sửa đổi.

Những điều đó đôi lúc khiến chúng ta lo ngại, liệu phong trào có đi quá xa, biến thành một cuộc cách mạng và làm lung lay tận gốc rễ các thể chế dân chủ?

Theo dõi tình hình thế giới những ngày này, nhiều lúc chúng ta có thể có những cảm giác hoang mang, nản lòng. Một nước Mỹ hùng mạnh, luôn đề cao những giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền, luôn lãnh đạo khối tự do chống lại những thế lực đi ngược lại những giá trị đó như Liên Xô và khối XHCN cũ, các tổ chức Hồi giáo khủng bố cực đoan hay các quốc gia độc tài hiếu chiến…dường như giờ đây đang co cụm lại với phương châm «America first!» và những vấn đề, những rối loạn của nước mình. Khối NATO không còn vững chắc như trước kia, thời Chiến tranh Lạnh. Sự đoàn kết giữa Mỹ và các nước đồng minh, giữa các nước phương Tây với nhau dường như cũng lỏng lẻo đi, một phần vì các nước còn đang quay cuồng giữa đại dịch COVID-19.

Trong khi đó thì Trung Cộng, một quốc gia có mô hình thể chế chính trị độc tài độc đảng vô cùng hà khắc lại rất «ổn định» về mặt chính trị, đang ngày càng trở nên hùng mạnh hơn, hung hăng hơn. Là quốc gia bùng phát dịch bệnh COVID-19 đầu tiên sau đó làm lây lan khắp thế giới, nhưng Bắc Kinh đã dốc toàn lực khống chế dịch và bây giờ thì kinh tế của họ lại đang trên đường hồi phục trở lại, mà một trong những sự hồi phục đó đến từ việc…bán khẩu trang, nước sát trùng, thiết bị y tế…cho các nước khác. Thậm chí chỉ riêng ngày lễ Độc Lập 4.7 vừa qua của nước Mỹ, chính phủ và người dân đã tiêu tốn gần 1 tỷ USD cho pháo bông, hơn 90% số đó là nhập từ Trung Quốc!

Và ngay trong những ngày phải đối phó với dịch, Trung Cộng vẫn không ngừng các kế hoạch đường dài để biến Biển Đông thành «ao nhà» của mình, hung hăng tập trận với quy mô lớn trên biển Đông, đụng độ với Ấn tại khu vực biên giới giữa hai nước, thông qua Luật An ninh Hong Kong chấm dứt quyền tự trị theo mô hình «một quốc gia, hai chế độ» của lãnh thổ này,…Có nghĩa là dịch bệnh dù có ảnh hưởng đến kinh tế của Trung Cộng, thì cũng không làm chùn tham vọng bành trướng của Bắc Kinh một chút nào.

Nhìn sang VN thì cũng hết sức «ổn định chính trị». Mọi tiếng nói chỉ trích dù ôn hòa đều bị dập tắt từ trong trứng nước. Còn lại đa số dân chúng chẳng quan tâm gì đến chính trị, chẳng đòi hỏi gì, ngoài việc mưu sinh, lo tương lai cho con cái, lo toan cho tuổi già của mình.

Điều đó khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: Phải chăng mô hình dân chủ của các nước đang bị suy yếu? Phải chăng các chế độ độc tài sẽ có lợi thế hơn trong việc kìm hãm, chế ngự những cuộc khủng hoảng từ bên trong để tập trung đối phó với bên ngoài hoặc với những mục tiêu khác?

(còn tiếp)

—————————–

Phải chăng mô hình dân chủ đang suy yếu, mô hình độc tài đang lên?  –   P.2

Song Chi  

Thứ Bảy, 07/11/2020 – 11:30 — songchi

https://www.rfavietnam.com/node/6381

Thể chế tự do dân chủ bao giờ cũng tốt hơn mô hình thể chế độc tài.

Lấy ví dụ như nước Mỹ, vừa qua phong trào biểu tình Black Lives Matter lại bùng lên dữ dội, nhưng đó là do hệ quả của những vấn đề thuộc về lịch sử mấy trăm năm của chế độ nô lệ, nạn phân biệt/kỳ thị chủng tộc vẫn âm ỉ bao lâu nay dù chế độ nô lệ đã chấm dứt từ năm 1986 và luật pháp hoàn toàn ngăn cấm mọi lời nói, hành vi, việc làm có tính cách phân biệt/kỳ thị chủng tộc. Thêm vào đó là nạn sử dụng bạo hành quá tay của một số cảnh sát.

Nhưng chỉ có dưới một mô hình thể chế tự do dân chủ, người dân mới có thể ầm ỹ xuống đường biểu tình phản đối. Và thực sự là nước Mỹ đang phải thay đổi, không chỉ có những thay đổi trong ngành cảnh sát mà từ giáo dục, báo chí truyền thông, mạng xã hội Twitter, Facebook, trang Google…cho tới ngôn ngữ thường dùng trong mọi ngành nghề đều phải rà soát lại để điều chỉnh nếu có hàm ý phân biệt chủng tộc.

Trong hơn 3 năm qua thế giới đã chứng kiến một Tổng thống Mỹ có lời ăn tiếng nói, cách hành xử cho tới chính sách, đặc biệt là đối ngoại, hoàn toàn…khác thường so với mọi đời Tổng thống Mỹ trước đây. Trump công kích không chừa ai và sẵn sàng sa thải hoặc ngưng hợp tác nếu người nào hay tổ chức nào đó làm Trump không vừa lòng.

Nhưng mặc dù vậy, vẫn luôn luôn có những con người dũng cảm, hoặc từ chức để phản đối, như một số cựu thành viên ban cố vấn an ninh quốc gia trong nội các của Trump đã từ nhiệm do các bất đồng trong những quyết định mang tính chiến lược và an ninh quốc gia của Trump (Bộ trưởng Quốc Phòng James Mattis, Ngoại Trưởng Rex Tillerson, các cố vấn an ninh quốc gia như John Bolton, tướng Hebert McMaster, chánh văn phòng Bạch Ốc tướng John Kelly … , một số tướng lãnh, viên chức cao cấp của CIA…). Hoặc lên tiếng phản biện, chỉ trích lại nếu họ cảm thấy lời nói, việc làm, chính sách của Trump là không đúng. Một ví dụ:

Hàng loạt cựu tướng lĩnh cao cấp trong quân đội đã lên tiếng phản đối việc Trump kêu gọi sử dụng quân đội để dẹp người biểu tình, từ Đại tướng James Mattis, cựu Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Trump, Đại tướng John Kelly, cựu Tham mưu trưởng của Trump, Đô đốc Mike Mullen, cựu Thống lãnh quân lực Mỹ dưới thời George W. Bush và Obama…(«The prominent former military leaders who have criticized Trump’s actions over protests», CNN)

Khi Trump đòi các tiểu bang phải mở cửa, không phải tiểu bang nào cũng nghe theo. Mới đây, chính phủ của Trump, cụ thể là Bộ An ninh nội địa (DHS) và Cơ quan thực thi hải quan và di trú Mỹ (ICE) ngày 6.7 ra thông báo những sinh viên học trực tuyến hoàn toàn trong học kỳ mùa thu này sẽ không được ở lại Mỹ, động thái này nhằm gây áp lực lớn cho các trường trong việc mở cửa trở lại. Theo CNN, Đại học Harvard và Viện công nghệ Massachusetts (MIT), hai ngôi trường danh tiếng, ngày 8-7 đã khởi kiện lên tòa liên bang.

Ngày 9-7, gần 100 nghị sĩ Quốc hội Mỹ gửi một bức thư cho DHS, yêu cầu bộ này hủy chính sách gây tranh cãi trên. Bang California là bang đầu tiên chuẩn bị nộp đơn kiện chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump về chính sách này.

Báo chí Mỹ hàng ngày soi mói, chỉ trích Trump. Không chỉ trên báo mà cả viết sách. Hai quyển sách tiết lộ rất nhiều điều bất lợi về Trump, “The Room Where It Happened: A White House Memoir” của cựu cố vấn an ninh quốc gia John Bolton, “Too Much and Never Enough: How My Family Created the World’s Most Dangerous Man” của Mary L. Trump, người cháu gái Donald Trump, dù Nhà Trắng tìm mọi cách ngăn cản, nhưng vẫn được phép phát hành.

Tất cả những điều này không bao giờ có thể xảy ra ở một quốc gia độc tài, ví dụ như Trung Cộng, Bắc Hàn, VN, Cu Ba…

Ở VN hay Trung Cộng, chỉ cần lên tiếng chỉ trích, phê bình đường lối, chính sách của nhà nước một cách ôn hòa là đã bị bắt, bị kết án nặng nề. Chỉ trong 1, 2 năm gần đây, đặc biệt trong thời gian trước đại hội đảng, hàng loạt người đã bị nhà cầm quyền VN kết án bởi điều luật cáo buộc “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước Cộng hòa XHCN VN”– điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đọc thêm: “Càng đàn áp nhiều thì càng gây ra nhiều oán hờn, phẫn nộ”.–P.1 và P.2, blog Song Chi, RFA).

Ở VN, viết bài hoặc viết sách chỉ trích đích danh một quan chức cao cấp là vào tù dài hạn như trường hợp nhà báo, blogger Trương Duy Nhất, lần bị tù thứ nhất 2 năm, là do một số bài trên blog “Một góc nhìn khác” đụng chạm đến Cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng bí thư lúc bấy giờ là Nguyễn Phú Trọng. Nhà báo, blogger Phạm Thành tức blogger Bà đầm xòe bị bắt chưa đưa ra xét xử vì viết một số cuốn sách phê phán chế độ như tiểu thuyết “Cò hồn Xã nghĩa”, “Nền Kinh tế Thị trường Định hướng XHCN Xuống hố cả lũ”, hoặc phê phán Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Việt Nam: “Nguyễn Phú Trọng: Thế Thiên Hành Đạo Hay Đại Nghịch Bất Đạo”, nhà báo, blogger Lê Anh Hùng bị bắt rồi bị cưỡng bức điều trị bệnh tâm thần vì viết bài đụng chạm đến Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng v.v…(Đọc thêm: “Việt Nam: Gia tăng đàn áp bất đồng chính kiến ôn hòa”, Human Right Watch).

Ở VN, có biết bao nhiêu trường hợp bị cảnh sát bạo hành đến chết ngay tại đồn công an hoặc khi đang trong thời gian tạm giữ để điều tra xét xử. Đọc báo cáo từ năm 2010 của Human Right Watch, «Việt Nam: Tình trạng công an bạo hành, nạn nhân chết trong khi tạm giam lan rộng», Human Right Watch, “Những cái chết đầy ẩn khuất ở đồn công an”, Pháp Luật TP.HCM, 10.2018, “Chết bất minh trong đồn công an xảy ra ngay sau khi Việt Nam chối bỏ vấn nạn này trước LHQ”, RFA, 3.2019 v.v…

Trong cuộc sống hàng ngày, từ những bất công, phi lý lặt vặt như giá xăng, điện nước liên tục tăng, học phí, viện phí quá cao, người dân phải đóng đủ loại thuế, phí nhưng lại không được hưởng lợi gì, đi học phải đóng tiền, đau ốm đến bệnh viện phải đóng tiền, khi thất nghiệp lúc tai nạn, người làm nghề lao động tự do…đều không được hưởng bất cứ sự hỗ trợ nào từ phía nhà nước v.v…

Ở mức độ cao hơn, người Việt không được can dự vào bất cứ quyết sách, chính sách nào của chính phủ cho dù nó có hại cho dân cho nước. Mọi việc là nhà cầm quyền tự quyết. Từ các công trình, dự án giao cho Trung Cộng làm vừa kéo dài lê thê, đội vốn cao gấp bao nhiêu lần, khiến VN bị mắc vào «bẫy nợ» của Trung Quốc mà chất lượng thì tệ hại, nhiều công trình gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường, ví dụ dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông, dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, điện hạt nhân Ninh Thuận, Formosa Hà Tĩnh v.v…Cho tới các đặc khu kinh tế cho Tàu thuê dù dư luận phản đối, Quốc hội 2018 không thông qua nhưng mới đây, nhà cầm quyền vẫn lặng lặng tiến hành 2 khu kinh tế là Vân Đồn-Quảng Ninh và Phú Quốc-Kiên Giang (“Luật Đặc khu bị phản đối, nhưng sao VN quyết mở khu kinh tế Vân Đồn?”, BBC)

Bao nhiêu năm qua nhà nước VN hành xử như thể đất nước này, dân tộc này thuộc quyền sở hữu riêng của đảng, muốn làm gì thì làm, luôn luôn đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc và không bao giờ muốn thay đổi.

Trung Cộng cũng thế. Ai dám viết những quyển sách về giới lãnh đạo Bắc Kinh, cụ thể là Tập Cận Bình, thì sẽ thấy ông ta sống như Hoàng đế, của cải tài sản không biết bao nhiêu mà kể. Tội ác của chế độ độc tài Trung Cộng đối với chính người dân Trung Cộng qua Cải cách Ruộng đất, Đại nhảy vọt, Cách Mạng Văn hóa, thảm sát Thiên An Môn, tội ác tiêu diệt bản sắc văn hóa, tôn giáo, bản sắc và diệt chủng đối với dân Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ…và bây giờ sẽ là Hong Kong.

Ở Trung Quốc hay VN làm gì có chuyện có những người dũng cảm dám phản đối, chống lại lời của Chủ tịch nước hay Tổng Bí thư? Quan tòa nào dám chống lại lịnh của Thủ tướng, Tổng Bí thư?

Cái gọi là “sự ổn định chính trị” có được là do chính sách bịt miệng hà khắc của nhà cầm quyền mà thôi.

Cho nên, dù chế độ dân chủ có những khiếm khuyết, có những lúc lung lay, bị tấn công, phá hoại từ bên ngoài và bên trong, nhưng nó vẫn tốt đẹp hơn một thể chế độc tài độc đảng gấp nhiều lần. Nói như Cố Thủ tướng Winston S Churchill của nước Anh: “it has been said that democracy is the worst form of Government except for all those other forms that have been tried from time to time.…’

Chính vì tốt đẹp hơn và biết tự điều chỉnh, thay đổi, nên nó sẽ tồn tại bền vững hơn.

Quan trọng hơn, một thể chế tự do dân chủ không chỉ giúp cho một quốc gia có thể phát huy mọi tiềm lực, trở nên giàu mạng, thịnh vượng, mà còn tạo ra cơ hội bình đẳng cho mọi người, cho phép con người được phát triển hết mọi khả năng và giữ gìn được phẩm chất, tính thiện, lòng tự trọng và lương tri của mình, là những thứ mà con người không thể giữ được trong một chế độ độc tài.

Trung Cộng là một trong những ví dụ hiếm hoi về việc một thể chế độc tài độc đảng mà vẫn giàu mạnh, nhưng tiềm ẩn những vấn đề nội tại từ khoảng cách giàu nghèo quá lớn, bất công xã hội, sự chuyên quyền của cảnh sát, sự độc tài của nhà cầm quyền, nỗi căm phẫn của dân Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ, Hong Kong…như những quả bom hẹn giờ có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, con người muốn sống được yên thân thì phải mũ ni che tai trước mọi sự xảy ra xung quanh. Đối ngoại, Trung Cộng là một cường quốc cô đơn, không bạn bè đồng minh thực sự, và còn lâu mới đạt được những phẩm chất chính trị, cũng như uy tín và niềm tin trên thế giới.

songchi’s blog

.

.

.