Việt Nam tụt hậu bao xa so với láng giềng? (Tư Hoàng – Kinh tế Sài Gòn Online)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Việt Nam tụt hậu bao xa so với láng giềng?

Tư HoàngKinh tế Sài Gòn Online

Chủ Nhật,  30/8/2015, 10:10 (GMT+7)

http://www.thesaigontimes.vn/135050/Vie%CC%A3t-Nam-tu%CC%A3t-ha%CC%A3u-bao-xa-so-vo%CC%81i-la%CC%81ng-gie%CC%80ng.html

.

(TBKTSG Online) – Một báo cáo tổng hợp của Tổng cục Thống kê đã phác thảo tình trạng lạc hậu, tụt hậu của Việt Nam so với hàng loạt các quốc gia trong khu vực.

Theo đó, từ năm 2008 Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nhưng khoảng cách về GDP bình quân đầu người so với các nước trong khu vực còn lớn và có nguy cơ bị nới rộng.

GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.052 đô la Mỹ, gấp 21 lần năm 1990, nhưng chỉ tương đương mức GDP bình quân của Malaysia năm 1988, Thái Lan năm 1993, Indonesia năm 2008, Philippines năm 2010, và Hàn Quốc năm 1982.

GDP bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam bằng 3/5 của Indonesia; 2/5 của Thái Lan; 1/5 của Malaysia; 1/14 của Hàn Quốc và bằng 1/27 mức GDP bình quân của Singapore.

Xét trên giác độ GDP bình quân đầu người, Việt Nam đi sau Hàn Quốc khoảng 30-35 năm; sau Malaysia 25 năm; Thái Lan 20 năm; sau Indonesia và Philippines 5-7 năm.

Trong khi đó, về cân đối tài khóa, tình trạng bội chi ngân sách và nợ công đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.

Tỷ lệ nợ Chính phủ so với GDP xếp thứ 9 trong khu vực ASEAN (năm 2001) đã tăng lên thứ 5 (năm 2013).

Thị trường tài chính của Việt Nam phát triển tương đối thấp và còn nhiều bất ổn so với một số nước trong khu vực. Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu của Việt Nam năm 2012 là 32,9 tỉ đô la Mỹ (Malaysia là 476,3 tỉ đô la Mỹ, Singapore 414,1 tỉ đô la Mỹ, Indonesia 396,8 tỉ đô la Mỹ, Thái Lan 383 tỉ đô la Mỹ, Philippines 264,1 tỉ đô la Mỹ).

Việt Nam đã huy động được nguồn vốn lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng hiệu quả đầu tư còn thấp.

Hệ số ICOR của Việt Nam 2011-2013 (6,99), cao hơn của Indonesia (4,64), Lào (2,59), Malaysia (5,40), Philippines (4,10), Trung Quốc (6,40), nghĩa là đầu tư của Việt Nam kém hiệu quả nhất so với các nước này.

Về xếp hạng môi trường kinh doanh 2015 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện ở vị trí thứ 78/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. So với các nước ASEAN, Việt Nam đứng sau Singapore (vị trí số 1), Malaysia (18) và Thái Lan (26); Việt Nam xếp trên Philippines (95), Bruney (101), Indonesia (114), Campuchia (135), Lào (148) và Myanmar (177).

Việt Nam có lực lực lượng lao động dồi dào nhưng tập trung chủ yếu ở khu vực sản xuất nông nghiệp, chiếm 46,3%, tương đương với tỷ lệ của Thái Lan vào năm 1995, Philippines và Indonesia đầu thập kỷ 90, gấp 2,4 lần Malaysia và 4 lần Hàn Quốc năm 1995. Tỷ trọng lao động khu vực nông nghiệp năm 2012 của Malaysia là 12,6%; Philippines 32,2%; Indonesia 35,1%; và Thái Lan 36,9%.

Theo vị thế việc làm, lao động Việt Nam chủ yếu làm các công việc gia đình hoặc tự làm (có thu nhập thấp, bấp bênh, không ổn định), chiếm tới 62,7% tổng việc làm 2013.

Chất lượng nguồn nhân lực thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, hiệu quả sử dụng lao động qua đào tạo chưa cao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo năm 2014 của Việt Nam là 18,2%.

Tỷ lệ biết chữ của Việt Nam đứng sau Philippines, Thái Lan. Tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 95%, thấp hơn Thái Lan và Indonesia (98%);

Theo đánh giá của WB về kinh tế tri thức: Chỉ số giáo dục của Việt Nam năm 2012 là 2,99 (thấp hơn bình quân thế giới là 4,35; bình quân của khu vực 5,26), xếp thứ 113, thấp hơn so với Hàn Quốc thứ 4; Malaysia thứ 75; Philippines thứ 85; Thái Lan thứ 93 và Indonesia thứ 102.

—————————

Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp

Tư Giang – Kinh tế Sài Gòn Online

Thứ Sáu,  28/8/2015, 23:30 (GMT+7)

http://www.thesaigontimes.vn/134859/Chu%CC%81ng-ta-o%CC%89-da%CC%89ng-ca%CC%81p-vo-cung-tha%CC%81p.html

.

(TBKTSG) – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, ông Trần Đình Thiên, trao đổi với TBKTSG về tình trạng nhập siêu với Trung Quốc và hệ lụy của nó.

TBKTSG: Ông đã từng nêu quan điểm cần hạn chế nhập khẩu từ Trung Quốc, đặc biệt là khi có vụ giàn khoan HD 981 năm ngoái. Nhưng rồi…

– Ông Trần Đình Thiên: Khi có vụ giàn khoan tôi cứ tưởng chúng ta chuyển hướng được thị trường nhưng rồi nhập siêu tiếp tục tăng lên đến gần 30 tỉ đô la Mỹ trong năm 2014. Ở các diễn đàn kinh tế, có nhiều người nói sợ ngưng thương mại, nhưng tôi luôn khẳng định ngưng được là tốt. Chúng ta cần biết cắn răng chịu đau đớn để thay đổi cấu trúc. Nhưng chúng ta cứ vì ngắn hạn mà lơ đi dài hạn…

TBKTSG: Nhìn vào cấu trúc xuất nhập khẩu hai nước, ông thấy điều gì?

– Chúng ta xuất gì? Toàn là hàng nông sản thô, khoáng sản thô. Mình xuất thế là toàn bị thiệt, để các doanh nghiệp của họ làm tiếp và hưởng hết giá trị gia tăng. Còn mình nhập của họ rất nhiều, hầu hết là nguyên liệu đầu vào, để không phải làm.

Chúng ta nhập hàng của họ để lắp ráp, gia công, nghĩa là chúng ta xuất khẩu hộ họ, và chỉ được hưởng có tí giá trị thôi. Chúng ta ở đẳng cấp vô cùng thấp. Còn họ thì xuất “ăn” đường xuất, nhập “ăn” đường nhập.
Ngay cả về biên mậu, họ cũng khác hẳn mình. Họ khuyến khích người dân dùng xe ba gác thồ quặng về còn chúng ta khuyến khích người dân sang cõng hàng về.

Cấu trúc kinh tế của chúng ta sai lệch quá rồi, không sao thay đổi được.

TBKTSG: Vậy thì ai là người có lỗi? Doanh nghiệp hay chính sách?

– Do hệ thống chính sách định hướng chứ, từ tỷ giá, lãi suất, đất đai, hệ thống động lực… làm sao mà đổ lỗi cho doanh nghiệp được! Hệ thống chính sách đó nó làm cho cơ cấu kinh tế sai lệch, không khuyến khích sản xuất trong nước, làm các ngành công nghiệp luôn nằm ở đáy của chuỗi giá trị.

TBKTSG: Các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà chúng ta đã và sẽ ký đều coi trọng quy tắc nguồn gốc xuất xứ. Trong bối cảnh nguyên liệu, vật liệu đầu vào phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc như hiện nay thì tình hình sẽ như thế nào?

– Đây là vấn đề quá khó để trả lời. Tôi cũng chưa hình dung nổi chúng ta sẽ chuyển hướng ra sao, và nếu không chuyển hướng thì được hưởng lợi gì từ các FTA. Nguồn gốc xuất xứ là vấn đề rất khó khăn, và nhạy cảm. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trong ngành dệt may từ Trung Quốc đã chuyển sang đây để đón đầu TPP. Và điều này chúng ta phải chịu.

TBKTSG: Vì sao chúng ta tham gia nhiều FTA như vậy? Điều này có tốt không cho tổng thể nền kinh tế?

– Có nhiều chuyên gia nói các FTA đều có lợi và cần hưởng ứng hết các FTA. Nhưng vấn đề là năng lực của nền kinh tế, năng lực của doanh nghiệp nội địa chỉ có vậy thôi. Lẽ ra, chúng ta chỉ dồn cho một vài FTA thì doanh nghiệp còn vùng lên được, đây có mười mấy FTA thì năng lực đâu mà tận dụng hết? Điều đó dẫn đến nguy cơ: ông mang cái lợi ấy cho kẻ khác hưởng. Cứ xem các doanh nghiệp FDI đã chiếm tới hơn 70% giá trị nhập khẩu. Trong khi đó, các vòng xoáy FTA rất nhiều, đan xen vào nhau, thì các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái Lan sẽ hưởng lợi, chứ có phải doanh nghiệp Việt Nam đâu.

TBKTSG: Chẳng qua là thể chất, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam yếu quá?

– Đó là nguyên nhân trực tiếp, nguy hiểm hiện nay, còn nguyên nhân sâu xa thì phải nhìn lại là lịch sử…
Trong chuyện mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thì mỗi năm các doanh nghiệp Việt Nam cũng “bán mình” tới năm tỉ đô la Mỹ. Trong một cuộc họp gần đây, tôi nói, bất kỳ chính sách kinh tế đối ngoại nào mà chúng ta đang làm cũng dường như để thể hiện mình tự do hóa thị trường. Vấn đề là điều đó tác động như thế nào, và sẽ chịu hậu quả gì trong tương quan kinh tế với Trung Quốc? Lẽ ra, phải có tính toán, dự liệu rồi mới quyết định chính sách đó về mặt thời gian, về mặt liều lượng. Chẳng hạn, khi quyết định bán bất động sản cho người nước ngoài, vâng, tốt thôi. Song, vấn đề là khi nhà đầu tư Trung Quốc vào mua với số lượng lớn, thì sẽ tác động như thế nào, ai có thể cạnh tranh với họ?

Hay chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, bán cổ phần cho doanh nghiệp nước ngoài, nới room. Về mặt nguyên lý là tốt rồi, cần chuyển nguồn lực cho doanh nghiệp tư nhân. Nhưng vấn đề, co kẻ đang há mồm đứng phía sau kia, vớ vẩn là nó đớp luôn cả ngành công nghiệp, chứ không chỉ là vài doanh nghiệp. Thậm chí bỏ ra vài tỉ đô la là họ thao túng luôn thị trường chứng khoán… Có những vấn đề đó!

TBKTSG: Những câu chuyện này bị nhiều chuyên gia, không chỉ ông, phản ứng. Nhưng vì sao vẫn cứ như vậy?

– Nên hiểu tình thế chúng ta là khó. Chúng ta làm được cái này thì mất cái kia, nhưng cái được là ngắn hạn, còn cái mất là dài hạn. Ta phải nhắm mắt lại để được cái trước mắt đã, vì chúng ta bí đến thế.

.

.

.

Pháp tái chiếm Nam Kỳ (Trần Gia Phụng)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Pháp tái chiếm Nam Kỳ

Trần Gia Phụng 

12:00:am 30/08/15

http://www.danchimviet.info/archives/97905/phap-tai-chiem-nam-ky/2015/08

.

Tối hậu thư Potsdam mà Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gởi cho Nhật ngày 26-7-1945, giao cho quân đội Anh và quân đội Trung Hoa giải giới quân đội Nhật ở nam và bắc vĩ tuyến 16 sau khi Nhật đầu hàng. Tối hậu thư không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới, tạo ra một khoảng trống hành chính và chính trị tại Đông Dương, là cơ hội thuận tiện cho Pháp vận động với Anh và Trung Hoa trở lại tái chiếm Đông Dương.

1.- QUÂN ANH ĐẾN NAM KỲ

Tại Nam Kỳ, sau khi quân Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, một toán lính Pháp nhảy dù xuống vùng Tây Ninh ngày 22-8-1945, trong đó có đại tá Jean Cédile, đại diện Pháp tại Nam Đông Dương. Quân Nhật bắt được, đưa về Sài Gòn, tạm giữ ở phủ toàn quyền Pháp cũ. Tuy vậy, hai ngày sau (24-8), quân Nhật cho phép Cédile tiếp xúc với người Pháp ở Sài Gòn. Cédile lập tức thành lập ngay một “Uỷ ban thông tin” để tìm biết tin tức địa phương. (Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Editions Du Seuil, Paris 1952, tr. 153.)

Thi hành tối hậu thư Potsdam, toán đầu tiên trong phái bộ quân sự Anh giải giới quân đội Nhật, đến Sài Gòn ngày 6-9-1945, nghĩa là sau ngày Lâm ủy Hành chánh Nam bộ Việt Minh (LUHCNB) nắm quyền ở Sài Gòn và HCM thành lập Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ngày 2-9-1945 ở Hà Nội.

Ngày 13-9, tướng Douglas Gracey, chỉ huy lực lượng Anh, phụ trách việc giải giới quân Nhật ở phía Nam vĩ tuyến 16, có mặt tại Sài Gòn trong lúc tình hình càng ngày càng căng thẳng. Gracey ra lệnh cho LUHCNB phải rời dinh toàn quyền. Nhà cầm quyền Việt Minh (VM) phản đối. Quân Anh liền chiếm trụ sở của LUHCNB. Việt Minh kêu gọi dân chúng biểu tình chống Anh, tố cáo Anh và Pháp vi phạm nền độc lập của Việt Nam.

Những tù binh Pháp được người Nhật thả ra, khiêu khích người Việt nên bị đánh trả. Jean Cédile yêu cầu Gracey can thiệp để cứu nguy người Pháp. Ngày 19-9-1945, Douglas Gracey ra Tuyên cáo của Uỷ ban Kiểm soát Đồng minh, nhận trách nhiệm duy trì trật tự, cấm tổ chức biểu tình, cấm hội họp, cấm mang võ khí, trừ những người có phép, thiết quân luật từ 9 giờ tối hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau, lên án tử hình tất cả những kẻ cướp và phá hoại.

Ngày 21-9-1945, trong khi VM ra lệnh dân chúng Sài Gòn-Chợ Lớn đình công bãi thị, thì tướng Gracey thả và trang bị võ khí cho 1,400 tù binh Pháp còn bị giam giữ. Nhân cơ hội nầy, binh sĩ Pháp khiêu khích, tấn công người Việt. Cédile, chỉ huy quân Pháp cướp chính quyền ở Sài Gòn đêm 22 rạng 23-9-1945, chiếm các đồn cảnh sát, công an, ngân khố, tòa đô chánh. Lâm uỷ Hành chánh Nam bộ (gồm đa số là VM cộng sản) bỏ trốn.

Cũng trong ngày 23-9-1945, VM thành lập Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ (UBKCNB) do Trần Văn Giàu làm chủ tịch, và Uỷ ban Kháng chiến Sài Gòn Chợ Lớn do Nguyễn Văn Tư làm chủ tịch. Uỷ ban Kháng chiến Nam bộ ra tuyên cáo, vận động dân chúng chống Pháp. Nhà cầm quyền VM ở Hà Nội liền lên tiếng tán thành và kêu gọi toàn quốc chi viện cho Nam bộ kháng chiến. (Tài liệu đảng CSVN gọi ngày 23-9-1945 là ngày “Nam bộ kháng chiến”.)

Tại Sài Gòn, VM tấn công nhà máy điện, bắt cóc và thủ tiêu người Pháp. Ngày 25-9-1945, VM đưa người bao vây trú khu Héraud của người Pháp (có sách viết Hérault) ở Tân Định (trên đường Trần Nhật Duật sau năm 1954). Việt Minh giết một số người Pháp, bắt đi khoảng 50 người, rồi giết luôn. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tr. 269.) Hỗn loạn tiếp diễn trong nhiều ngày.

Ngày 26-9-1945, tại Sài Gòn, trung tá Peter Dewey, trưởng toán O.S.S. 404 (Hoa Kỳ) ở nam Đông Dương, bị bắn chết khi từ phi trường về trụ sở O.S.S.. Phía VM đưa ra lý do là vì tướng Gracey không cho phép Dewey trương cờ Mỹ khi di chuyển, nên Dewey bị tưởng lầm là người Pháp và bị bắn. Dewey từ hậu cứ của toán OSS 404 ở Tích Lan (Ceylon tức Sri Lanka), đến Sài Gòn ngày 2-9-1945 theo kế hoạch Embarkment, để điều tra tội phạm chiến tranh.

Nhờ Douglas Gracey (Anh) làm trung gian, Jean Cédile (Pháp) gặp các lãnh tụ UBKCNB ngày 2-10-1945. Hai bên đồng ý tạm thời ngưng các cuộc khiêu khích nhau. Tuy nhiên, khi cuộc nói chuyện đi sâu vào nội dung chi tiết, thì lập trường hai bên quá khác biệt. Cédile đòi UBKCNB trả lại các con tin và thi hài của cố trung tá Dewey. Việt Minh đòi điều kiện tiên quyết là Pháp phải công nhận Việt Nam độc lập. Ngày 5-10-1945, VM đòi tiếp là phải trở lại tình trạng trước ngày 23-9-1945, trả lại thẩm quyền của Lâm uỷ hành chánh, cảnh sát, an ninh công cộng, giải giới và tập trung người Pháp để người Việt bảo vệ, và ngưng tất cả các cuộc chuyển quân đến Sài Gòn.

2.- ANH GIÚP PHÁP TÁI CHIẾM NAM KỲ

Pháp thảo luận với VM có thể nhằm kéo dài thời gian cho công việc chuẩn bị. Ngày 3-10-1945, chiến hạm Pháp có tên là Richelieu đến Vũng Tàu, đem theo một toán 55 biệt kích quân và hai đại đội bộ binh gồm 6 sĩ quan và 100 binh sĩ Pháp. Hai ngày sau (5-10-1945), trung tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque (Leclerc) đến Sài Gòn, đóng bản doanh ở dinh toàn quyền.

Từ tháng 10 đến tháng 12-1945, bảy thương thuyền Hoa Kỳ chở từ 14,000 đến 24,000 binh sĩ Pháp đến Việt Nam, nghĩa là khoảng 40% lực lượng Pháp ở Việt Nam lúc đó. (Patricia K. Lane, “Éléments sur la mise en oeuvre de la politique américaine envers l’Indochine, 1940-1945”, đăng trong Les Cahiers de l’Institut D’Histoire Du Temps Présent, Charles-Robert Ageron và Philippe Devillers chủ biên, số 34, tháng 6-1996, tr. 33.) Quân Pháp còn được không vận đến Phnom Penh (Cambodia) và Pakse (Laos).

Trong lúc đó, tại London, thủ đô Anh, hai đại diện chính phủ Anh và Pháp gặp nhau ngày 8-10-1945, ký Tạm ước hành chánh và tư pháp phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam. Ngày hôm sau (9-10-1945), chính phủ Anh tuyên bố: 1) Yểm trợ Pháp tái chiếm Việt Nam. 2) Chấp nhận chính quyền Pháp ở Sài Gòn. 3) Giao quyền cai trị Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp. (Chính Đạo, sđd. tt. 275-276.)

Tức thì, cuộc đàm phán ở Sài Gòn giữa VM và Pháp đổ vỡ ngày 10-10-1945. Do lực lượng mới được tăng cường, quân Anh phá vỡ vòng vây của VM, bắt đầu mở rộng vòng kiểm soát ở Sài Gòn, chiếm Gò Vấp (ngày 12-10), Thủ Dầu Một, Biên Hòa (ngày 23-10).

Lực lượng VM cộng sản chạy về vùng nông thôn, dùng du kích và khủng bố lẻ tẻ tấn công Pháp. Ngược lại, trung tướng Leclerc tung hai cánh quân ra trận, đánh chiếm Mỹ Tho ngày 25-10. Quân Pháp lần lượt chiếm Gò Công (28-10), Vĩnh Long (29-10), Cần Thơ (30-10).

Cuối cùng, đô đốc D’Argenlieu, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đến Sài Gòn chiều ngày 30-10-1945. Việc đầu tiên là ông ra sắc lệnh thành lập Hội đồng Cao uỷ Liên bang Đông Dương. Trong khi đó, quân Nhật được tập trung ở Vũng Tàu (Cap Saint Jacques) để đợi phương tiện về nước.

Pháp tăng cường thêm sư đoàn 9 Bộ binh Thuộc địa (BBTĐ). Từ đây Pháp tung quân đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ và cao nguyên Trung Kỳ. Ngày 5-2-1946, Leclerc tuyên bố trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn là đã hoàn tất tái chiếm Nam Kỳ và nam Trung Kỳ. (Philippe Devillers, sđd. tr. 176.)

Nhận thấy tình hình đã khả quan về phía Pháp, ngày 4-2-1946, cao uỷ D’Argenlieu ký nghị định thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) do Uỷ viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ làm chủ tịch, lúc đầu gồm 4 hội viên người Pháp, 8 hội viên người Việt, mỗi năm họp ít nhất hai lần.

Việt Minh rút lui dần dần, mở cuộc tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống. Pháp chiếm được các thành phố và các vùng nông thôn phụ cận, trong khi VM lẫn trốn trong các vùng sâu (bưng biền), lập căn cứ bí mật, và từ đó phóng ra những cuộc khủng bố bất ngờ. Đặc biệt VM lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, xã hội xáo trộn, tiếp tục chủ trương thủ tiêu những thành phần dân tộc đối lập, những người không theo VM cộng sản hoặc hợp tác với Pháp.

Từ ngày 9-10-1945, bộ Ngoại giao Anh thảo luận với đại sứ Pháp tại Anh để bàn chuyện chuyển giao chính quyền ở Nam Đông Dương, vì chính phủ đảng Lao Động mới cầm quyền ở Anh, muốn rút quân ra khỏi Đông Dương. Ngày 28-1-1946, tướng Douglas Gracey chính thức bàn giao thẩm quyền cho các giới chức Pháp, và quân lính Anh chính thức chấm dứt nhiệm vụ kể từ không (0) giờ ngày 5-3-1946, để lại nhiều trang thiết bị cho quân Pháp.

3.- PHÁP TIẾN QUÂN RA BẮC KỲ

Về ngoại giao, lúc đó VNDCCH, Pháp và Trung Hoa tạo thành thế tam giác đặc biệt trên sân khấu chính trị Bắc Kỳ. Tại Hà Nội ngày 28-9-1945, Hồ Chí Minh (HCM) gặp gỡ lần đầu các đại diện Pháp là tướng Marcel Alessandri (được cao uỷ D’Argenlieu cử làm đại diện ở Bắc Kỳ ngày 15-9-1945) và Léon Pignon (giám đốc chính trị và hành chính). Ngày nầy cũng là ngày diễn ra lễ đầu hàng của quân đội Nhật, tại Hà Nội. Hơn một tuần sau, HCM gặp lại hai người Pháp vừa kể lần thứ hai.

Sau hai lần thăm dò, ngày 15-10-1945, HCM chính thức gặp Jean Sainteny, người vừa được thủ tướng De Gaulle bổ nhiệm làm Đại diện chính phủ Pháp tại Bắc Kỳ (2-10-1945). Trong cuộc họp báo ngày 20-10-1945, HCM tuyên bố Pháp phải thừa nhận nền độc lập Việt Nam thì mới có thể tiếp tục nói chuyện.

Trong lúc đó, đô đốc D’Argenlieu, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, đến Sài Gòn ngày 30-10-1945. Hồ Chí Minh gặp lại Sainteny ngày 1-12-1945 và sau đó HCM ngỏ ý muốn gặp D’Argenlieu. Người Pháp bí mật giao cho VM ngày 7-12-1945, một bản dự thảo hiệp ước giữa hai bên, để VM nghiên cứu.

Cuộc mật đàm giữa hai bên chưa đi đến kết quả, thì chính phủ lâm thời HCM giải tán, thay bằng chính phủ Liên hiệp ngày 1-1-1946. Sau cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ngày 6-1-1946, chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập ngày 2-3-1946. Chính phủ nầy tạm thời giúp HCM vượt qua những khó khăn nội bộ để lo việc ngoại giao, nhưng Pháp thấy rõ sự chia rẽ giữa VM với các đảng chính trị Việt Nam.

Tại Nam Kỳ (Nam Bộ), các giới chức Pháp đã được người Anh chính thức bàn giao thẩm quyền ngày 28-1-1946, và người Anh tuyên bố chấm dứt nhiệm vụ tại miền Nam vĩ tuyến 16 kể từ không (0) giờ ngày 5-3-1946. Pháp tái chiếm xong miền Nam, liền nôn nóng tiếp tục công việc tái chiếm Bắc Kỳ.

Về phía Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch và Quốc Dân Đảng cũng có ý định rút quân Trung Hoa từ Việt Nam về nước, nhưng thấy Pháp quá nôn nóng tái chiếm Bắc Kỳ, nên lợi dụng vấn đề Bắc Kỳ để làm giá mặc cả với Pháp.

Về phía VNDCCH, HCM và VM dùng vàng quyên được trong “tuần lễ vàng” (phát động từ ngày 7-9-1945), hối lộ cho các tướng lãnh Trung Hoa nhằm hai mục đích: Thứ nhứt mua võ khí của các tướng Trung Hoa. Số võ khí nầy do các tướng Trung Hoa tịch thu được khi giải giới quân Nhật, bán cho VM. Thứ hai, thúc đẩy các tướng Trung Hoa rút quân về nước càng sớm càng tốt, chấm dứt luôn việc quân Trung Hoa hậu thuẫn các đảng Việt Quốc, Việt Cách, để VM dễ tiêu diệt các đảng phái nầy.

Tuy nhiên cuộc thương thuyết với Pháp rất khó khăn, vì Pháp biết VM đang chịu áp lực của Trung Hoa và sự chống đối của các đảng phái dân tộc, đưa đến việc HCM phải lập chính phủ liên hiệp. Vì vậy, Pháp tỏ ra cứng rắn trong những đòi hỏi của Pháp.

Ngày 16-2-1946, tức sau cuộc bầu quốc hội (6-1-1946), nhưng trước khi chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập (2-3-1946), HCM cho Sainteny biết rằng ông ta đồng ý bỏ việc đòi hỏi hai chữ “độc lập”, đổi bằng chữ “tự trị”, đồng ý gia nhập khối Liên Hiệp Pháp và để quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16. Lúc đó, tướng Lư Hán đang có mặt tại Hà Nội, muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Việt Nam, nên Lư Hán trực tiếp khuyến cáo HCM nhượng bộ Pháp. (Stein Tonnesson, “La paix imposée par la Chine: l’accord Franco-vietnamien du 6 mars 1946”, đăng trong Les Cahiers de l’Institut D’Histoire Du Temps Présent, Charles-Robert Ageron và Philippe Devillers chủ biên, số 34, tháng 6-1996, tr. 48.)

Trong lúc đang khủng hoảng, sáng ngày 27-2-1946, HCM bất ngờ xin gặp gấp cựu hoàng Bảo Đại, cố vấn chính phủ HCM, lúc đó đang ở Hà Nội, và HCM mời cựu hoàng thay ông ta điều khiển chính phủ. Sau khi tham khảo ý kiến của Trần Trọng Kim và một số người quen thân ở Hà Nội, vào buổi chiều cùng ngày, cựu hoàng Bảo Đại báo cho HCM biết cựu hoàng sẵn sàng nhận lời, thì HCM lại xin rút lui ý kiến. (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tt. 230-233. Theo Philippe Devillers, sđd. tr. 216, thì cuộc gặp nầy diễn ra ngày 22 hay 23-2-1945. Xem thêm: Stein Tonnesson, bài đã dẫn, sđd. tr. 33.)

Ngày nầy (27-2-1946) cũng là ngày đô đốc D’Argenlieu vội vàng phát động cuộc hành quân Bentré, dầu Pháp chưa chính thức ký hiệp ước với Trung Hoa, chuyển 21,000 quân từ miền Nam ra Hải Phòng, nhằm tái chiếm Bắc Kỳ. Pháp muốn sớm chiếm lại Bắc Kỳ trước khi nhà cầm quyền VM được củng cố và trước khi mùa mưa đến ở đất Bắc từ tháng 5 hằng năm.

Ngày hôm sau, hai bên Pháp – Trung Hoa ký kết hiệp ước Trùng Khánh ngày 28-2-1946 giữa ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier, theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm nhất là ngày 31-3-1946, quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16; ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Bộ sẽ khỏi phải chịu thuế. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn: 1970, tr. 300.)

Chiều ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng. Sáng sớm hôm sau, ngày 6-3-1946, Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa Pháp (9è Division d’infanterie coloniale), dưới sự chỉ huy của trung tướng Jean Valluy, bắt đầu đổ bộ ở Hải Phòng.

Thấy bị lâm nguy, sợ mất quyền lực và bị tiêu diệt, HCM bỏ qua lời thề ngày 2-9-1945, vội vàng ký với Jean Sainteny thỏa ước Sơ bộ chiều ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, chính thức thừa nhận quân đội Pháp trở lại Việt Nam.

Về phía Pháp, Pháp trở lại con đường cũ mà các đô đốc Pháp đã đến xâm lăng Việt Nam vào thế kỷ 19: đánh chiếm Sài Gòn, các tỉnh Nam Kỳ, tiến ra Hà Nội, rồi toàn cõi Việt Nam.

(Toronto, 28-08-2015)

© Trần Gia Phụng

© Đàn Chim Việt

.

.

.

Nhân kỹ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến thứ II : thử bàn về ý nghĩa cuộc « Cách mạng tháng tám » và thực chất nền « độc lập » của quốc gia mang tên VNDCCH (Trương Nhân Tuấn)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Nhân kỹ niệm 70 năm kết thúc Thế chiến thứ II : thử bàn về ý nghĩa cuộc « Cách mạng tháng tám » và thực chất nền « độc lập » của quốc gia mang tên VNDCCH

Trương Nhân Tuấn

lundi 10 août 2015

http://nhantuantruong.blogspot.com/2015/08/nhan-ky-niem-70-nam-ket-thuc-chien-thu.html

.

Theo sử liệu chính thức VN thì cuộc « cách mạng tháng tám » được khởi động từ 14-8-1945, sau quyết định của đảng CS Đông Dương tại cuộc họp Tân Trào. Cuộc « cách mạng » chấm dứt ngày 30 tháng 8 sau khi vua Bảo Đại thoái vị giao ấn kiếm cho đại diện CS. Cũng theo sử liệu « chính thống », cuộc cách mạng xảy ra « dưới sự lãnh đạo của đảng, 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa dành lại chính quyền… ». Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cuộc « cách mạng » như vậy được diễn ra trong bối cảnh miền Bắc vừa thoát khỏi nạn đói kinh hoàng với 2 triệu người chết trong khi Đồng Minh vừa kết thúc cuộc Thế giới Đại chiến thứ II.

Ý nghĩa của từ « cách mạng » là phá bỏ cái cũ và xây dựng cái mới. Chủ trương « cách mạng » của CSVN là bài phong, đả thực, chống phát xít giành lại độc lập cho đất nước. Việc « giành lại chính quyền » được các sử gia VN ví như là « cuộc chạy đua nước rút với quân đội Đồng Minh ». Các bản hiến pháp của VNDCCH và sau này là CHXHCNVN, không ngoại lệ, đều ghi nhận sự thành công của cuộc cách mạng (tháng Tám) là nền tảng khai sinh ra nước VNDCCH.

Nhưng vấn đề không đơn thuần như vậy.

Thế chiến thứ II tại Châu Á kết thúc sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng ngày 15-8-1945. Theo một số qui định của phe thắng trận, Nhật phải : 1/ từ bỏ chủ quyền tại các vùng lãnh thổ đã chiếm đóng trước đó. 2/ Các chính quyền do Nhật dựng lên ở các nơi này thì không được nhìn nhận. 3/ Trong thời gian chuyển tiếp, quân đội Nhật có trách nhiệm giữ trật tự trong lúc chờ đợi quân Đồng Minh đến giải giới.

Những vùng lãnh thổ Nhật chiếm đóng này bao gồm Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là số phận những vùng lãnh thổ mà Nhật chiếm trước đó (như VN) thì được Đồng minh quyết định ra sao ?

Ta được biết một số vùng lãnh thổ bị Nhật (hay Đức, Ý) chiếm đóng đã được quyết định số phận qua các Hội nghị Yalta và Cairo trong lúc chiến tranh (như Mãn Châu, Đài Loan, Đại Hàn…). Một số được định đoạt (hay tái xác định) sau chiến tranh theo Hòa ước San Francisco 1951.

Riêng VN (nói chung là Đông Dương), không thấy nhắc đến vấn đề « trả độc lập » (như trường hợp Đại Hàn), mặc dầu việc chống chế độ thực dân là chủ trương của Hoa Kỳ. Lực lượng Đồng minh ở Châu Á chỉ nói đến việc giải giới quân Nhật. Việc giải giới được lực lượng này qui định : Quân đội Anh quốc phụ trách vùng phía nam vĩ tuyến 16 và quân đội Trung Hoa phụ trách phía bắc vĩ tuyến 16.

Theo qui định này, ngày 9-9-1945 quân của Trung Hoa do Tiêu Văn và Lư Hán dẫn đầu có mặt tại Hà Nội. Tương tự, liên quân Anh-Pháp cũng có mặt ở miền Nam.

Ta thấy không hề có việc lực lượng cách mạng « chạy đua giành chính quyền » với quân đội Đồng Minh hay việc « 20 triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy giành lại chính quyền » như các sử gia đã viết.

Theo sử liệu chính thống, « lực lượng cách mạng » đã « đánh » Nhật « giành chính quyền » ở một số tỉnh thành (ngoài Bắc). Điều này không đúng. Trên thực tế không có « đánh đấm » gì cả. Cuộc « cách mạng » xảy ra sau ngày 15-8, tức lúc quân Nhật đã có lệnh bỏ súng đầu hàng. Thẩm quyền của Nhật tại VN đã chuyển sang lực lượng Đồng minh sau khi nước này nhìn nhận các điều kiện Đồng Minh áp đặt  để đầu hàng. Trong tay quân Nhật (ở VN) đâu còn cái (chính quyền) nào để « cách mạng » cướp (hay giành) ?

Mặt khác, khi Tiêu Văn và Lư Hán dẫn quân qua VN theo như qui định của phe thắng trận, dọc đường lực lượng này tước « quyền hành » của « chính quyền cách mạng » và trao cho phe thân Trung Hoa.

Cái gọi là « cuộc chạy đua giành chính quyền » với quân Đồng minh vì vậy không hề có. Thực chất chỉ là Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để nắm lấy chính quyền, hy vọng đặt Đồng minh vào sự đã rồi, mà điều này rõ ràng thất bại.

Cũng không hề có việc « lực lượng cách mạng » cướp chính quyền từ tay Bảo Đại (ngày 30-8).

Quốc gia mang tên là « Đế Quốc Việt Nam » do Bảo Đại lãnh đạo ra đời sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 10 tháng 3 năm 1945. Theo qui định của lực lượng Đồng minh, phía thắng trận, tất cả những chính quyền do Nhật dựng lên (ở các vùng lãnh thổ chiếm đóng) đều không được nhìn nhận.

Ở VN (như ở Mãn Châu) quyền hành của chính quyền Bảo Đại là không có thật. Quân đội không có. Ngân sách không có. Ngoại giao cũng không. Tất cả đều phải thông qua Nhật. Ngay cả việc cấp bách là cứu trợ nạn đói ở miền Bắc, nguyên nhân chính (làm cho 2 triệu người chết) là vấn đề giao thông. Lúa gạo miền Nam dư thừa đến mức đem đốt chạy nhà máy điện mà chính phủ Trần Trọng Kim không thể đem ra miền Bắc. Việc Mỹ dội bom đường xá chỉ là một yếu tố phụ. Ngoài biển tàu bè vẫn chạy được nhưng chính phủ Trần Trọng Kim không có một phương tiện nào trong khi Nhật từ chối giúp đỡ. Tức là Nhật dựng lên « quốc gia » này chỉ để làm vì. Ông Bảo Đại hay chính phủ TT Kim không có bất kỳ thẩm quyền nào về lãnh thổ cũng như đối với người dân của mình.

Vậy thì « lực lượng cách mạng » có thể « cướp » cái gì ở « quốc gia » của ông Bảo Đại ? Người ta đâu thể cướp cái mà người khác không có ?

Còn việc « 20 triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy » cũng chỉ là điều tưởng tượng. Miền Bắc vừa thoát nạn đói vào tháng 5, với 2 triệu người chết. Ba tháng sau người dân có thể nổi dậy để giành cái ăn. Nói 20 triệu người « nhất tề vùng dậy » là điều hoang đường, không thuyết phục được ai hết.

Thực chất của « cách mạng tháng tám » là vậy. Còn « tuyên ngôn độc lập » ngày 2-9 của ông Hồ có giá trị gì không ?

Về thời điểm, ngày 2 tháng 9 được ông Hồ lựa chọn không hề do tình cờ mà là kết quả tính toán sâu xa. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 cũng là ngày đế quốc Nhật ký văn kiện đầu hàng Đồng Minh trên chiếc Thiết giáp hạm USS Missouri của Mỹ đang neo trong vịnh Tokyo.

Về nội dung, bản Tuyên ngôn của ông Hồ dẫn nhiều ý tứ từ bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.

Từ hai chi tiết này, ta có thể cho rằng ông Hồ đã được sự gợi ý của các chuyên viên OSS, tiền thân của CIA Mỹ, lúc đó đang hoạt động cùng với VM trên vùng biên giới Việt-Trung.

Tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trên phương diện pháp lý cũng như trên thực tế, không thể hiện được một quốc gia Việt Nam độc lập.

Ta sẽ biết rõ về nền « độc lập » của ông Hồ và đồng chí của ông chỉ vài tháng sau, lúc Hiệp ước Sơ Bộ 6-3-1946 được ký kết.

Về Hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946, 7 thập niên trôi qua nhưng vẫn còn nhiều điểm tối chung quanh việc hình thành hiệp ước này.

Bối cảnh lịch sử lúc đó là khi quân Anh nhận trách nhiệm giải giới quân Nhật ở phía nam vĩ tuyến 16, thì sau đó lại nhượng toàn quyền quản lý của mình cho Pháp. Miền Bắc, Pháp cũng thuyết phục được Tưởng Giới Thạch chấp nhận trao đổi quyền quản lý miền Bắc với quyền lợi về kinh tế.

Vì sao Pháp thuyết phục được Anh và Trung Hoa để thay thế hai lực lượng này đem quân vào lại VN ?

Nguyên nhân vì cục diện thế giới thay đổi. « Biên giới Yalta » thành hình, còn gọi là « bức màn sắt », phân chia thế giới hai vùng ý thức hệ chính trị « tư bản và cộng sản ». Phe tư bản do Hoa Kỳ cầm đầu cần đồng minh là Pháp ở Tây Âu. Vì thế Pháp dễ dàng thuyết phục được Anh (và trong chừng mực Hoa Kỳ) trả Nam kỳ lại cho mình vì lãnh thổ này là nhượng địa của VN cho Pháp theo các hòa ước 1862 và 1864. Trong lúc phe họ Tưởng đang bị bối rối do việc Liên Xô chần chờ không chịu rút quân khỏi Mãn Châu. Lại còn phải đối phó với quân cộng sản của Mao Trạch Đông đang đe doạ mạn phía bắc. Tưởng Giới Thạch cần rút quân đội hiện đang đóng ở VN để tập trung lực lượng chuẩn bị cho cuộc nội chiến « quốc-cộng » lần thứ hai. Vì vậy họ Tưởng dễ dàng chấp thuận đề nghị trao đổi của Pháp.

Vấn đề đặt ra, tại sao lại hiện hữu « hiệp ước sơ bộ 6-3-1946 » và các bên ký kết lại là ông Hồ (đại diện VNDCCH) và Pháp ?

Trên danh nghĩa, sau khi thỏa thuận với Trung Hoa, Pháp không cần phải ký hiệp định này để đổ quân ra bắc. Người chủ thực sự ở miền Bắc là quân Trung Hoa chứ không phải là lực lượng của ông Hồ. Lực lượng của ông Hồ mặc dầu chiếm được một số vũ khí của quân Nhật nhưng lúc đó thực lực còn rất mỏng. Mặt khác, ở miền Bắc còn có các đảng phái VN thân Trung Hoa. Các đảng phái quốc gia này chủ trương vừa chống Pháp thực dân vừa chống cộng sản. Họ theo chân các đạo quân của TH để về nước. Điều ghi nhận là các lực lượng này chủ trương chống Pháp đến cùng, dĩ nhiên chống sự trở lại của Pháp.

Sự hiện hữu của Hiệp ước Sơ bộ có thể được giải thích trên một số yếu tố như sau : trước hết là Pháp và phe ông Hồ có chung một kẻ thù cần tiêu diệt là các đảng phái quốc gia. Cả hai bên đều có lợi khi ký kết. Pháp có lợi khi ký với phe cộng sản vì đã nắm được con bài Võ Nguyên Giáp. (Ông Giáp và ông Hồ ủng hộ sự trở lại của Pháp). Ông Hồ cũng có lợi vì ông được nhìn nhận là người lãnh đạo chính thống. Phe quốc gia mặc dầu được Trung Hoa chống lưng vì vậy bị gạt ra ngoài, trở thành con mồi cho cả hai thế lực thực dân và cộng sản truy diệt.

Thứ hai, phe Trung Hoa, dĩ nhiên biết rõ tẩy ông Hồ (tức Hồ Quang), là thiếu tá Đệ bát lộ quân của Mao, nhưng hai ông tướng Tiêu Văn và Lư Hán đã nhận vàng hối lộ của ông Hồ (đến từ tuần lễ vàng) nên cũng chấp nhận ủng hộ ông Hồ. Cuối cùng là lý do chiến lược. Nội dung Hiệp ước giới hạn lực lượng quân đội của Pháp. Trung Hoa muốn gài một trái bom nổ chậm không thể gỡ cho Pháp ở miền Bắc để Pháp vĩnh viễn không thể dòm ngó vùng Hoa Nam nữa.

Hiệp ước sơ bộ ký kết, điều uớc quan trọng (mà cả hai bên chờ đợi) là Pháp nhìn nhận chính phủ VNDCCH của ông Hồ như là một « état libre – tiểu bang tự do » thuộc Liên bang Đông dương. Còn việc thống nhất « ba kỳ », Pháp hứa sẽ nhìn nhận kết quả qua cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức sau này.

Từ kết quả hiệp ước ta thấy nền « độc lập » của VNDCCH không có thực chất.

Ông Hồ và Pháp nhìn nhận rằng VNDCCH là một « tiểu bang tự do – état libre » trong liên bang Đông dương. Một số sử gia VN nhập nhằng chữ « Etat » ở đây và xem như là « quốc gia ». Thực tế không phải vậy. Chữ « état » nằm trong một liên bang có nghĩa là « tiểu bang » chứ không phải là « quốc gia ». Các « état – tiểu bang », như California, của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Các tiểu bang này cũng có quốc hội, ngân sách, chính quyền… riêng nhưng « chủ quyền » (tức quyền chủ tể) của nó lại thuộc về Liên Bang. Tức là những quyết định manh tính « tối cao », như về quân sự, ngoại giao… thuộc về chính quyền liên bang.

VNDCCH chỉ là một vùng lãnh thổ, giới hạn ở Bắc Kỳ, thẩm quyền của ông Hồ thấp hơn Toàn Quyền Pháp. VNDCCH không phải là một « quốc gia độc lập », tức quốc gia có chủ quyền.

Điều may mắn là cả hai bên đều xem hiệp ước này chỉ là « giai đoạn », không có ý muốn tôn trọng. Ông Hồ ký kiệp ước vì muốn Trung Hoa rút đi. Còn Pháp ký hiệp ước vì muốn trở lại miền Bắc. Phía thiệt hại nhiều nhứt là các đảng phái quốc gia. Theo một số dữ kiện từ văn khố Pháp, ông Giáp có quan hệ với mật thám Pháp. Cả hai bên nhờ vả trao đổi tin tức cho nhau để tiêu diệt phe quốc gia chống đối.

Một số sử gia cũng biện hộ « nền độc lập » của VNDCCH bằng cách đề cao tuyên bố độc lập của Bảo Đại ngày 12-3-1945. Nền độc lập của VNDCCH kế thừa nền độc lập của quốc gia « Đế Quốc VN » của Bảo Đại. Trên công pháp quốc tế lý lẽ này không thuyết phục. Như đã nói trên quốc gia « Đế quốc VN » của Bảo Đại không có thực quyền. Mặt khác, theo quyết định của phe Đồng minh thắng trận thì Nhật phải từ bỏ chủ quyền ở các vùng lãnh thổ đã chiếm trước chiến tranh đồng thời các chính quyền ở các nơi đây thì không được nhìn nhận. Quốc gia « Đế quốc VN » nằm trong tình trạng này.

Nền độc lập của Đế quốc VN không nước nào nhìn nhận. « Quốc gia » VNDCCH làm thế nào kế thừa cái mà không được ai nhìn nhận ?

Dầu vậy đó là điều may cho VN. Bởi vì, nếu « Đế quốc VN » của ông Bảo Đại là một quốc gia độc lập có chủ quyền thì VN sẽ bị Đồng minh xếp vào loại quốc gia « hợp tác với phát xít Nhật ». Lúc đó VN sẽ bị đối xử như là quốc gia bại trận. Hệ quả thế nào không ai có thể lường được.

Nền « độc lập » của VNDCCH chỉ có thật từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Hiệp định Genève 1954 ký kết chia đôi đất nước thành hai vùng lãnh thổ : VNDCCH và Quốc gia VN (sau này là VNCH). Nhưng nền độc lập này không hoàn hảo vì theo qui định của hiệp định Genève 1954, VNDCCH chỉ là một phần của quốc gia VN. VNDCCH trở thành một « quốc gia chưa hoàn tất ».

Publié par Nhan Tuan Truong à 20:52

.

.

.

Cảng Quy Nhơn tê liệt vì công nhân đình công (Huyền Trang – VietNamNet)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Cảng Quy Nhơn tê liệt vì công nhân đình công

Huyền Trang – VietNamNet

29/08/2015 21:50 GMT+7

http://vietnamnet.vn/vn/xa-hoi/259248/cang-quy-nhon-te-liet-vi-cong-nhan-dinh-cong.html

.

Sáng 29/8, hoạt động sản xuất ở công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn bị tê liệt khi các tổ, đội bốc xếp tổ chức đình công.

Theo tìm hiểu, không khí lãn công, bỏ việc manh nha từ 15h30 ngày 28/8 đến 7h ngày 29/8, thì bị đẩy lên cao trào.

http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2015/08/29/21/20150829213926-11111111.jpg

Nhiều công nhân bộ phận xếp dỡ hàng hóa của công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn tụ tập trước khu vực cổng công ty để đình công

Theo nhiều công nhân (CN), thời gian qua, công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn đã giảm lương; trong khi khối lượng công việc và thời gian làm việc khá nặng, không đảm bảo thu nhập; hơn nữa, tiền thưởng hàng quý chưa có, tiền thưởng dịp lễ Quốc khánh 2/9 năm nay quá chậm và thấp hơn các năm trước, tạo tâm lý bất an cho hàng trăm CN đang làm việc tại đơn vị.

Để “hạ nhiệt” không khí căng thẳng, trưa 29/8, chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần Cảng Quy Nhơn Nguyễn Quý Hà đã lên tiếng xin lỗi CN, hứa sẽ điều chỉnh những nội dung bất hợp lý.

Sau gần 2 giờ tổ chức đối thoại với CN, có 4 vấn đề khúc mắc chính dẫn đến việc đình công được rút ra. Thứ nhất, nhiều CN cho rằng tiền lương hiện nay khá thấp, không đảm bảo cuộc sống; thứ hai, tiền thưởng dịp Quốc khánh 2.9 chi trả chậm; thứ ba, đồ bảo hộ lao động chưa được trang bị (đối với công nhân mới vào làm việc); thứ tư, đơn giá tiền lương hiện nay không cao, công nhân đề nghị phía công ty xem xét lại.

“Ngay trong sáng 29/8, tôi đã quyết định chi 6 tỉ đồng để chi trả kịp thời các khoản lương, thưởng cho anh em; hình thức chi trả bằng tiền mặt thay vì chuyển qua thẻ ATM như trước đây. Qua đối thoại cũng như những cam kết giải quyết kịp thời các khúc mắc, hầu hết anh em CN đã thỏa mãn và hứa sẽ sớm trở lại làm việc bình thường” – ông Hà cho biết.

http://imgs.vietnamnet.vn/Images/2015/08/29/21/20150829214052-2222.jpg

Xe tải xếp hàng dài chờ vào cảng để vận chuyển hàng nhưng do công nhân đình công nên xảy ra tình trạng ách tắc giao thông trước cổng cảng Quy Nhơn

Tuy nhiên theo quan sát của PV, đến chiều 29/8, hàng trăm CN bộ phận xếp dỡ hàng hóa của công ty vẫn chưa đồng ý trở lại làm việc, dẫn đến tình trạng ách tắc hàng hóa tại cảng.

Hơn mười tàu hàng vận chuyển dăm gỗ, xi măng, phân bón…tại cảng Quy Nhơn đang chờ bốc xếp bị ngưng trệ từ 1h sáng 28/8, đến chiều 29/8 vẫn chưa được bốc dỡ.

Đến chiều tối ngày 29/8, PV nhận được thông tin từ ngày 1/9, công ty cổ phần cảng Quy Nhơn, cảng sẽ triển khai phương thức làm việc “3 ca 4 kíp” để tái tạo tốt hơn sức lao động cho CN. Cụ thể, thay vì 2 đội bốc xếp làm việc trong 4 ca như hiện nay, cảng sẽ chia làm 3 đội làm việc trong 4 ca. Điều này có lợi cho CN.

Đến 18g ngày 29/8, khoảng 100 CN bộ phận xếp dỡ hàng hóa và bộ phận cơ giới của Cảng Quy Nhơn đã làm việc trở lại sau 16g đình công.

Huyền Trang

.

.

.

Hãy một lần xuống với công nhân (Đào Tuấn – Lao động Online)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Hãy một lần xuống với công nhân

Đào Tuấn – Lao động Online

27/08/2015 10:31

http://nld.com.vn/cong-doan/hay-mot-lan-xuong-voi-cong-nhan-20150827101841198.htm

.

Năm 2013, một quan chức Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội bấm ngón tay tính rằng, đã 20 năm những nhà làm lương vẫn đang mải mê cuộc tranh luận “lương tối thiểu đáp ứng được đời sống tối thiểu”. 2013 cũng là năm mà Bộ luật Lao động có hiệu lực, trong đó có quy định là mức lương tối thiểu sẽ phải đảm bảo nhu cầu tối thiểu của người lao động (NLĐ). Mà luật định có nghĩa là “Không nói nhiều”, không tranh luận nữa.

Khái niệm thế nào là “lương tối thiểu” năm đó cũng được Oxfam đưa ra: Mức lương đủ sống phải đảm bảo đủ mua một giỏ hàng lương thực thực phẩm (LTTP) cần thiết và một giỏ hàng hóa phi LTTP (mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đi lại, hỗ trợ bố mẹ già, quan hệ xã hội, khoản tiết kiệm nhỏ…).

Đấy, con người thì không thể chỉ cần đầy dạ dày như con vật!

Nhưng cũng ngay trong năm 2013, NLĐ bị giội nước lạnh khi những người “làm lương” xin “có lộ trình”, xin hoãn thời gian “đủ sống” đến 2015.

Đến năm 2015, cái bánh vẽ tái xuất hiện “đến năm 2017”. Lý do vẫn chỉ một: DN “sẽ khó trụ, có thể sẽ phá sản hàng loạt” trong… “bối cảnh hiện nay”.

“Bối cảnh hiện nay” sao mà giống cái bối cảnh năm 2003, y như cái bối cảnh 2013, và có lẽ giống luôn cả bối cảnh 2017! Đó là cái bối cảnh mà cứ động đến quyền lợi là người ta phủ sạch trơn những bản thành tích tràn đầy “tăng trưởng, phát triển, cải thiện, đảm bảo” vẫn ưỡn ngực đọc mỗi cuối năm. Đó là cái bối cảnh bất chấp thực tế lương tối thiểu thấp rất xa nhu cầu tối thiểutrong một sự so sánh mà trọng tài luôn là “bối cảnh hiện tại”.

Ngày 25-8, sau cuộc thương lượng bất thànhPhó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Mai Đức Chính nói cực thẳng thắn rằng: Chúng ta làm chính sách mà ngồi phòng máy lạnh thì không bao giờ thấy được nỗi khổ của công nhân. Và ông mời các vị trong Hội đồng Tiền lương Quốc gia một lần xuống với công nhân.

Xuống đi, thưa quý vị!

Xuống, để thấy cái “lương tối thiểu” đang quá thấp mà điều chỉnh bao nhiêu lần vẫn luôn có kết quả “không đủ sống”!

Xuống, để nghe thấy lời than của 9,4 triệu NLĐ đang đóng BHXH trước nguy cơ trở thành “những người nghèo mới” ngay sau khi nghỉ hưu.

Xuống, để thấy sự bạc bẽo trong bữa cơm đạm bạc của những người đang đóng góp hơn 60% tổng sản phẩm xã hội và 70%ngân sách nhà nước.

Xuống, để thấy cái lắc đầu ngày 25.8 nó y như sự bỏ mặc cuộc sống của 17 triệu lao động, của mấy chục phần trăm dân số!

Xuống, để thấy cái bánh vẽ 20 năm đang khiến những NLĐ phải xa con cái. Còn con cái thì không phụng dưỡng nổi cha mẹ chỉ khi đó là những khoản chi đột xuất mà nhiều người đã không còn có thể bóp mồm bóp miệng thêm được nữa.

theo Đào Tuấn – Lao động Online

.

.

.

Nửa tạ muối 1 bát phở: Bữa sáng ‘nặng đô’ của nông dân (Ngọc Hà/ Vietnamnet)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Nửa tạ muối 1 bát phở: Bữa sáng ‘nặng đô’ của nông dân

Ngọc Hà/ Vietnamnet

Chủ Nhật, ngày 30 tháng 8 năm 2015

http://danquyenvn.blogspot.com/2015/08/nua-ta-muoi-1-bat-pho-bua-sang-nang-o.html

.

50 kg muối đổi được một tô bún, 40kg chanh không bằng một ổ bánh mì, 2 kg khoai lang bằng ly trà đá, 20kg dưa hấu mới mua được bát phở,… chưa bao giờ, nông sản Việt lại rơi vào tình huống trớ trêu đến vậy. Nông dân chỉ biết khóc ròng.

Một bài báo mới đây thông tin, giá muối ở Bình Định rớt xuống thấp nhất trong vòng 5 năm qua, khiến những người dân các xã ven biển thuộc các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Tuy Phước… cảm thấy đắng chát. Ai cũng mong “được mùa” nhưng cũng sợ nhất là vế câu đi kèm “mất giá”, bởi miếng cơm manh áo hàng ngày của họ đặt cược cả vào đồng muối. Trong khi, bán một tạ muối chỉ được chừng 50.000 đồng, đủ mua 2 tô bún!

Năm 2014, ở đồng muối Bạc Liêu, diêm dân tính toán để mua một bát phở Hà Nội cần phải bán những 50 kg muối!?

Muối chỉ là một trong số những mặt hàng luôn bị xếp vào bảng danh sách những sản phẩm nông nghiệp rẻ mạt nhất hiện nay. Trước đó, như báo chí đưa tin, nông dân Đồng Tháp đang bán những sọt chanh 40kg có 6.000-8.000 đồng. Cứ tưởng tượng, cả một sọt chanh lớn, gom hái từ chục cây, được bà con chăm bón trong cả năm trời, giờ không bằng một ổ bánh mì lót dạ buổi sáng.

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/08/83438-congnhanngheo3.jpg

Bán một tạ muối chỉ được chừng 50.000 đồng, đủ mua 2 tô bún!

Không ngờ, một bán phở, tô bún 30.000 đồng; ổ bánh mì 10.000 đồng hay ly trà đá 3.000 đồng,… những bữa ăn sáng thường ngày của dân thành phố, lại trở nên có giá trị, dùng để quy đổi với những mặt hàng nông sản, lẽ ra, đã thu về cho người nông dân số tiền gấp nhiều lần như thế.
Một cách ví von gần gũi, quá đủ để thấy sự bấp bênh về thu nhập và số phận của bà con nông dân.

Điều đáng ái ngại, giá muối ở nơi sản xuất có 500 đồng/kg, thì tại Hà Nội, người Thủ đô phải mua muối với giá đắt gấp hơn 10 lần, tức 5.000-6.000 đồng/kg. Chanh ở nơi trồng chỉ 300 đồng/kg mà tại Hà Nội và TP.HCM, nó đội giá lên 15.000-20.000 đồng/kg. Dưa hấu ở nơi trồng được thì đổ bỏ, cho bò ăn, còn dân thành phố phải mua với giá trên 10.000 đồng/kg,…

Còn rất nhiều loại nông sản khác của Việt Nam giá từng rớt thảm hại, khiến những hình ảnh ví von trở nên chua xót, như 2 kg khoai lang bằng ly trà đá (3.000 đồng), 20kg dưa hấu đổi được một bát phở, còn hành tím bán cả yến, ổi bán 30kg cũng không mua nổi bát phở,… Chưa kể, hết dưa hấu, hành tây,… đến thanh long, cà chua,… phải đổ bỏ cả tấn.

Rõ ràng, ngoài số ít mặt hàng nông sản có giá trị, bươn chải xuất khẩu thu về tỷ đô như cá tra, con tôm, gạo, cà phê, điều,tiêu,… thì còn rất nhiều sản phẩm khác đang chịu cảnh tiêu thụ bế tắc, thừa mứa, rẻ bèo.

Ngoài sự lãng phí, người ta nhìn thấy ở đó là một nền nông nghiệp sản xuất manh mún, không theo nhu cầu thị trường, cả về số lượng và chất lượng; sự bế tắc trong việc điều tiết tiêu thụ nông sản và phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc; sự bị động đến tội nghiệp của nông dân khi không biết phải làm thế nào để kết nối được với hệ thống phân phối bán lẻ mà phải trông cậy cả vào thương lái,…
Bao mồ hôi nước mắt, tiền của, kỳ vọng,… của bà con nông dân giờ vỡ vụn. Gần đây, những phong trào thiện nguyện, kêu gọi người dân tiêu thụ giúp đã diễn ra ở nhiều nơi, với một số mặt hàng, nhưng không thể trông chờ mãi vào việc hỗ trợ kiểu thụ động – cách điều hành thị trường kiểu con tim – như vậy.

Chính vì thế, sẽ không có nhiều ngạc nhiên khi một công bố gần đây cho thấy, thu nhập bình quân của người dân nông thôn một năm chỉ có 200 USD/người (khoảng 4,5 triệu đồng), tức mỗi tháng chưa đầy 400.000 đồng, so với bình quân cả nước là 1.600 USD/người, thua tới 8 lần.

Trong khi đó, có tới 70% dân số cả nước vẫn sống bằng nghề nông. 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 20% GDP. Do đó, họ cũng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ con số đó.

Hệ lụy, theo kết quả điều tra của Viện Chiến lược và Chính sách PTNN-NT, có tới 47,4% hộ nông dân không hài lòng với cuộc sống hiện tại.

Tại một hội thảo mới đây về “Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”, các chuyên gia đã chỉ ra nhiều biện pháp, trong đó yêu cầu cấp bách là sự thay đổi cách tiếp cận truyền thống, chuyển từ chú trọng sản lượng sang chất lượng và giá trị, phát triển một nền nông nghiệp hiện đại; thoát ra khỏi tư duy của nền kinh tế nông nghiệp khép kín, hướng tới một nền nông nghiệp sản xuất lớn; đặc biệt là làm sao thu hút và hấp dẫn được các doanh nghiệp.

Nói nghe có vẻ to tát, nhưng thực tiễn gần đây cho thấy, với sự đầu tư mạnh mẽ của các tập đoàn lớn vào nông nghiệp, với một quy trình khép kín, đã giúp nhiều nông dân, nhiều vùng nông thôn đổi đời. Chẳng đâu xa, nhờ sự điều tiết của các cơ quan chức năng và sự vào cuộc của doanh nghiệp, lần đầu tiên, vải thiều đã thoát khỏi chu kỳ được mùa rớt giá, thu về nhiều ngàn tỷ.

Chúng ta đã thành công trong việc cứu giá cho vải thiều, thì không phải là quá khó khi triển khai với các mặt hàng nông sản khác.

Nguồn: Theo Ngọc Hà/ Vietnamnet

.

.

.

Bộ TT&TT đã làm sai nguyên tắc pháp lý, vi phạm các chuẩn mực về bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. (FB Trương Nhân Tuấn)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Bộ TT&TT đã làm sai nguyên tắc pháp lý, vi phạm các chuẩn mực về bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

FB Trương Nhân Tuấn

Sunday, August 30, 2015 at 2:08am

https://www.facebook.com/nhantuan.truong/posts/1009244412440694

.

Bài báo dưới đây có tựa đề « Trung Quốc đã đi quá đà ở Biển Đông ? » vừa qua đã bị bộ Thông tin và Truyền thông phạt 38 triệu đồng. Đây là một dấu hiệu đáng lo ngại vì độc lập và chủ quyền của quốc gia Việt Nam trong chừng mực đã bị thuơng tổn.

Tôi dẫn lại link bài viết (vì không tiện đăng lại toàn bộ bài báo này) để biểu lộ tinh thần liên đới và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với tờ báo, cũng như với tác giả bài viết.

Nguyên nhân tờ báo bị phạt là « thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng ».

Bài báo thực ra là một bài nghiên cứu. Những dữ kiện mà tác giả tổng hợp là có thật, có thể kiểm chứng được. Kết luận của tác giả là một nghi vấn « Trung Quốc đã đi quá đà ở Biển Đông ? », chứ không phải là một kết luận.

Bộ Thông tin và Truyền thông dựa vào đâu để kết luận bài viết « thông tin sai sự thật » ?

Thực ra không cần thiết để tác giả phải đặt dấu chấm hỏi « Trung Quốc đã đi quá đà ở Biển Đông ? ». Sự thật cho thấy TQ đã đi quá đà.

Vì nếu Trung Quốc không « đi quá đà » thì Phi đâm đơn kiện TQ làm chi ? và Hoa Kỳ cũng đâu có mõi miệng lên tiếng phản đối TQ ngày một ? Lại còn VN và các nước chung quanh gia tăng vũ trang. Điều này để làm gì nếu không phải là để ngăn ngừa tình trạng « đi quá đà » của Trung Quốc ?

Việc phạt vạ bài báo này cho thấy bộ Thông tin và Tuyên truyền đã làm sai nguyên tắc pháp lý. Bộ TT&TT không đưa ra được bằng chứng nào để có thể qui tội tác giả « viết sai sự thật».

Ngoài ra hành vi của bộ TT&TT trong chừng mực đã vi phạm các chuẩn mực về bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

____

Trung Quốc đã đi quá đà trong căng thẳng ở Biển Đông?

Đăng Nguyễn Người Đưa Tin

24.07.2015 | 07:22 AM

http://www.nguoiduatin.vn/trung-quoc-da-di-qua-da-trong-cang-thang-o-bien-dong-a199226.html

Trung Quốc luôn nói rằng muốn duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông nhưng lại đơn phương tiến hành những hoạt động quân sự khiến căng thẳng gia tăng trong khu vực.

Cục Hải sự Trung Quốc thông báo nước này tiến hành diễn tập tại khu vực bao trùm các đảo, đá phía đông bắc gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ ngày 22 đến 31/7. Đây không phải lần đầu tiên Bắc Kinh tiến hành các hoạt động đe dọa các nước láng giềng và tạo nên đối đầu đầy rủi ro với Mỹ.

Trang mạng The Christian Science Monitor dẫn lời bà Zhang Jie, người đứng đầu chương trình An ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Viện Khoa học Xã Hội Trung Quốc cho biết: “Bắc Kinh tự tin với những bước đi nhằm theo đuổi tham vọng thống trị khu vực”.

“Trung Quốc đã theo đuổi mục tiêu này từ lâu. Và giờ đây Bắc Kinh có nguồn lực và nhân lực để hiện thực hóa tham vọng này”, bà Zhang Jie nói thêm.

http://xmedia.nguoiduatin.vn/thumb_x500x/260/2015/7/24/su%20bi.jpg

Tàu Trung Quốc đang bồi đắp đảo nhân tạo và khơi luồng trái phép ở đá Subi. Hoạt động cải tạo đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông đang được xúc tiến với cấp độ lớn chưa từng có.

Những hành động biến đá và đảo san hô trở thành căn cứ quân sự trong khi Trung Quốc phớt lờ các quốc gia khác ở Biển Đông đã khiến lo ngại vượt qua khu vực Vành đai Thái Bình Dương.

Chuyên gia Hong Nong đến từ viện Nghiên cứu Quốc gia về Biển Đông cho rằng, Trung Quốc cần phải thiện chí hơn nữa trong việc thuyết phục thế giới về chính sách “nâng cao hòa bình”.

Mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc cho rằng việc xây dựng đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông sẽ đem đến hai thành công. Đó là việc nâng cao vị thế của Bắc Kinh trong tranh chấp chủ quyền với các nước láng giềng cũng như sử dụng quyền lực để tiến sâu vào trung tâm vùng biển có kim ngạch thương mại 5 tỷ USD mỗi năm.

“Đây rõ ràng là một bước tiến rất bất ngờ nhằm tái cân bằng quyền lực giữa Trung Quốc và Mỹ”, ông Zhu Feng, người đứng đầu trung tâm nghiên cứu Biển Đông ở Đại học Nam Kinh cho biết.

Những quốc gia ở Biển Đông đều có mối quan hệ thương mại gắn kết với Bắc Kinh nhưng với những hành động gần đây, Trung Quốc đã khiến các nước láng giềng tìm kiếm mối quan hệ mới với Washington.

Như vậy, các nước Đông Nam Á giờ đây có thể xây dựng mối quan hệ thân thiện với Mỹ trong khi vẫn duy trì quan hệ với TQ. Điều này chỉ có thể thay đổi nếu Trung Quốc thao túng Biển Đông, Giáo sư Peter Dutton đến từ trường Cao đẳng Hải Chiến Mỹ nhận định:. “Washington sẽ không ngăn cản Bắc Kinh nhưng cũng không lùi lại vì lợi ích và chiến lược trong khu vực”.

Bắc Kinh đã đi quá đà trong căng thẳng Biển Đông?

Theo luật sư Zheng Zhihua, người đứng đầu Viện Luật pháp và Lịch sử Hàng hải tại Thượng Hải: “Các yêu sách trên biển của Trung Quốc rất mơ hồ”. “Quyền lịch sử” của Bắc Kinh có tính chất không rõ ràng.

Việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo không tạo nên sự khác biệt. “Những theo quan điểm chiến lược, điều này lại tạo ra ảnh hưởng lớn”, ông Zheng bình luận.

7 đảo nhân tạo của Trung Quốc sẽ “nâng cao khả năng triển khai sức mạnh của Bắc Kinh tại khu vực phía Nam, mở rộng phạm vi cạnh tranh với Mỹ’, ông Peter Dutton nhận định.

Bắc Kinh hoàn toàn có thể triển khai các hoạt động chống tàu ngầm, tiếp dầu trên không, cảng quân sự và radar cảnh báo sớm ở Biển Đông để thiết lập vùng Nhân dạng phòng không (ADIZ).

Viễn cảnh này khiến Mỹ và cường quốc trong khu vực lo ngại. Các máy bay P-3C của Nhật bản đã tham gia tập trận cùng Philippines trong khi Tokyo để ngỏ khả năng tham gia tuần tra Biển Đông.

Australia cũng có thể tiến hành các hoạt động nhằm đảm bảo an ninh và tự do hàng hải trên Biển Đông cùng lực lượng Mỹ. Trong khi đó, Ấn Độ đã lên tiếng bày tỏ quan ngại về mối đe dọa ở Biển Đông cũng như Ấn Độ Dương.

“Trung Quốc đang phô trương sức mạnh. Họ đang tự tạo nguy cơ hình thành một liên minh bao vây, chống lại Bắc Kinh”, Giáo sư Goldstein, chuyên gia Nghiên cứu về Trung Quốc tại Đại học Pennsylvania (Mỹ) nhận định.

Điều này rõ ràng đi ngược lại chính sách “Vành đai, Con đường” mà Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở khu vực Á-Âu.

Biển Đông liệu có phải là lợi ích cốt lõi của Bắc Kinh tiếp như Bắc Kinh vẫn tiếp tục gây ra căng thẳng trong khu vực, nhiều học giả Trung Quốc đặt câu hỏi.

Theo bà Zhang Jie, “Dường như chính phủ Trung Quốc vẫn chưa có quyết định cuối cùng”.

Tại cuộc họp báo hôm 23/7 tại Hà Nội, ông Lê Hải Bình – người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, tuyên bố rằng cuộc thao diễn quân sự của Trung Quốc “xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, ngăn cản đà phát triển quan hệ hai nước, đe doạ an ninh an toàn hàng hải trong khu vực”.“Việt Nam yêu cầu Trung Quốc thực hiện những hành động có trách nhiệm và dừng ngay những hành động làm căng thẳng trong khu vực”.

Tình hình Biển Đông mới nhất sẽ được báo điện tử Người đưa tin liên tục cập nhật.

Đăng Nguyễn

.

.

.

Sách có nội dung nhảm nhí, thô tục: “Mất dạy chứ giáo dục cái gì” (Xuân Quang – GDVN)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Sách có nội dung nhảm nhí, thô tục: “Mất dạy chứ giáo dục cái gì”

Xuân Quang GDVN

30/08/15 06:53

http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Sach-co-noi-dung-nham-nhi-tho-tuc-Mat-day-chu-giao-duc-cai-gi-post161365.gd

.

(GDVN)- Các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, tâm lý cho rằng, việc phát hành, giảng dạy các loại sách có nội dung nhảm nhí, thô tục là cách giáo dục phản giáo dục…

Giáo dục hay phản giáo dục?

Câu chuyện về những cuốn sách dành cho trẻ em với nội dung được cho là nhảm nhí, thô tục, kích động bạo lực đang thu hút sự quan tâm từ phía dư luận.

http://img.giaoduc.net.vn/w500/Uploaded/nguyentoan/2015_08_30/Hoi_dap_nhanh_tri_2.jpg

Sách “Hỏi đáp nhanh trí”, do Đức Trí sưu tầm biên soạn (ảnh: Trí thức trẻ)

Dư luận từng tranh cãi về nội dung cuốn sách “Thực hành kỹ năng sống dành cho học sinh lớp 1” do Tiến sĩ Phan Quốc Việt làm chủ biên, với bài học đi trên thủy tinh để rèn luyện… lòng dũng cảm.
Không những thế, nhiều cuốn sách có nội dung hỏi đáp, kiểm tra tư duy các em bằng những câu hỏi đầy tính bạo lực, đã được phát hành tràn lan, cũng đang bị dư luận lên án.

Hẳn người ta còn nhớ, tháng 11/2014, trên thị trường xuất hiện cuốn sách “Hỏi đáp nhanh trí”, do Đức Trí sưu tầm biên soạn, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin ấn hành, với nhiều hình ảnh ngôn từ được cho là không phù hợp với lứa tuổi học đường.

Theo đó, trang 29 cuốn sách này có nội dung trắc nghiệm: “Anh A bị chặt đầu lúc 40 tuổi, vậy con cái anh A bị làm sao?”.

Minh họa cho câu hỏi này là hình một người đàn ông đang nằm trên máy chém với khuôn mặt sợ hãi.

Tương tự là một câu chuyện khác: “Một người sau khi bị chặt đầu sẽ như thế nào?”. Đáp: “Biến đổi chiều cao”.

Mới đây, thêm một trang sách được cư dân mạng chia sẻ với tất cả sự hoang mang, nghi ngờ về giá trị giáo dục của nó.

Trong trang sách được độc giả chia sẻ, xuất hiện một bức tranh vẽ quang cảnh của khu vệ sinh, trong đó không gian của các cháu học sinh nam – nữ được gộp chung lại làm một.

Kèm theo hình ảnh là câu hỏi được đặt ra cho các trẻ: “Cách đi tiểu của bạn trai, bạn gái trong tranh có gì khác nhau nhỉ?”

Thật khó để đánh giá giá trị thực tiễn từ những cuốn sách này mang lại. Nhưng thực tế cho thấy, nhiều phụ huynh tỏ vẻ lo lắng khi con em mình được trang bị những kiến thức về  “lòng dũng cảm”, cách ứng xử theo kiểu… chẳng giống ai.

Thu hồi thôi chưa đủ

Cơ quan có thẩm quyền sau khi phát hiện các cuốn sách có nội dung giáo dục không phù

hợp đã thực hiện thu hồi…

Cũng liên quan tới nội dung phản ánh nêu trên, hôm 28/8, trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý, giáo dục cho rằng, việc phát hành tràn lan, đưa vào giảng dạy các loại sách thiếu nhi, có nội dung không phù hợp với tâm lý lứa tuổi là cách giáo dục phản giáo dục.

Do đó, việc xử lý những sai sót phải xuất phát từ tư duy của nhà giáo dục và đơn vị quản lý.

http://img.giaoduc.net.vn/w500/Uploaded/nguyentoan/2015_08_30/trinhtrunghoa.jpg

Chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa (ảnh: Báo Sức khỏe và Đời sống)

“Các ví dụ khi đưa ra giảng dạy, thực nghiệm phải mang tính giáo dục. Tôi chưa thấy ở đâu người ta đưa các hình ảnh quá bạo lực, thô thiển…. để dạy trẻ. Càng không nên đưa các em ra “thí nghiệm” để minh chứng cho bài học của mình.

Tôi lấy ví dụ, trong khi chúng ta đang giáo dục trẻ yêu thương bố, mẹ, yêu thương đồng loại, thì người ta lại đưa ra vấn đề bố bạn A, bạn B bị chặt đầu để hỏi các em, như thế thì giáo dục cái gì? Đó là phản giáo dục chứ không phải giáo dục…”, chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa, Trung tâm tư vấn tâm lý Linh Tâm dẫn chứng.

Cũng theo chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa, cách thức giáo dục này rất dễ khiến trẻ “ảo giác” về sức mạnh, tính bạo lực trong học đường… gây ra những hệ lụy khó lường.

“Đến khi người ta rút được kinh nghiệm thì mọi thứ có thể đã muộn.

Do đó, vấn đề nội dung giáo dục trẻ nói chung cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng ” chuyên gia tâm lý Trình Trung Hòa lưu ý.

Trong khi đó, PGS. Văn Như Cương, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Trường Lương Thế Vinh (Hà Nội) cho rằng, từ sự việc trên có thể thấy, tư duy giáo dục của chúng ta đang có vấn đề.

“Tôi cho rằng, người viết ra những cuốn sách này có vấn đề về chuyên môn. Họ chưa nghiên cứu kỹ trẻ cần gì và những bài học có lồng ghép nội dung bạo lực, nhảm nhí như thế có tác động như thế nào tới tâm lý trẻ em?

Do đó, tư duy, định hướng giáo dục của người biên soạn, phát hành cần phải xem xét lại”.

Nói về nguyên nhân chính dẫn đến những sai sót nêu trên, PGS. Văn Như Cương cho rằng: “Việc biên soạn, thẩm định, phát hành những cuốn sách như đã nêu không được đơn vị xuất bản kiểm duyệt một cách cẩn thận.

Do vậy, để xảy ra những lỗi đáng tiếc thế này có phần lỗi từ người biên soạn và đơn vị quản lý xuất bản”.

Đồng quan điểm trên, chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa nêu giải pháp, vấn đề xử lý sách có nội dung không phù hợp phải được thực hiện trước tiên từ khâu quản lý.

“Bây giờ không thể cứ cho phát hành, rồi thấy sai sót lại thu lại.

Tôi cho rằng, cần làm chặt chẽ từ khâu kiểm duyệt, in ấn trước khi phát hành. Mặt khác, cũng cần xử lý kỷ luật cá nhân, tập thể để xảy ra sai sót khi thực hiện trách nhiệm…”

XUÂN QUANG

.

.

.

Cuộc Cách mạng giáo dục đến từ mỗi chúng ta (Hà Thủy Nguyên – Book Hunter)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Cuộc Cách mạng giáo dục đến từ mỗi chúng ta

Hà Thủy Nguyên  – Book Hunter

28-8-2015

http://bookhunterclub.com/cuoc-cach-mang-giao-duc-den-tu-moi-chung-ta/

.

Bạn đang trông chờ một cuộc Cách mạng thay đổi nền giáo dục? Bạn nghĩ rằng cuộc Cách mạng này sẽ đến từ những nhà nghiên cứu giáo dục hay đến từ các phong trào đấu tranh? Cuộc Cách mạng thay đổi nền giáo dục chỉ đến từ chính bạn: Khi bạn nói không với hệ thống giáo dục đang ngày một thối nát… Khi bạn sẵn sàng đương đầu với cuộc sống mà không cần sự thừa nhận của xã hội… Khi bạn dũng cảm lựa chọn cho mình một con đường tự chủ và độc lập trong nhận thức…

Tại nơi chúng ta đang sống, không phải trở thành một người có nghề nghiệp là điều đáng quý trọng, mà là cuộc chạy đua vào cổng trường đại học. Đó là một nghịch lý mà chúng ta ai cũng nhận ra, nhưng chẳng mấy ai dám khước từ tấm bằng vô nghĩa ấy. Bạn tin không? Bạn có thể trở thành một chuyên gia tư vấn Luật mà không cần phải học Đại học Luật. Bạn có thể chế tạo ra một bộ máy mà không cần phải là sinh viên Bách Khoa. Bạn có thể trở thành một nhà báo mà không cần phải học khoa Báo chí… Tất cả những điều đó đến từ quá trình lựa chọn và tự chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.

Con đường đại học không làm nên phẩm giá, không làm nên vị thế xã hội, không giúp bạn kiếm sống dễ dàng hơn. Bạn sẽ lãng phí 5 năm cuộc đời cho một sai lầm. Thế là quá nhiều! Trong 5 năm ấy, bạn có đủ thời gian để trở thành một đầu bếp hay một thợ may lành nghề, thậm chí là một doanh nhân thành công. Nghề nấu nướng và chuyên gia hóa sinh, có gì khác nhau về đẳng cấp? Nghề thợ may và nghề nghiên cứu mỹ thuật, có gì khác nhau về đẳng cấp?

Các bạn chọn con đường đại học vì tất cả mọi người xung quanh bạn đều ngưỡng vọng nó. Các bạn đang đua đòi vào một căn nhà chật hẹp và gò bó bởi các quy tắc. Nếu muốn trở thành một nhà lý thuyết, các bạn có thể vào đại học và chìm đắm trong sách vở và tri thức. Nhưng những bạn trẻ đã và đang lao đầu vào cổng trường kia, bao nhiêu người yêu sách và quý trọng tri thức nhân loại? Trường đại học là nơi đào tạo ra những con người gìn giữ tri thức ngàn đời, không phải nơi đào tạo ra những kẻ nương nhờ vào bằng cấp để kiếm sống. Bạn dám đánh đổi cả cuộc đời mình để gìn giữ tri thức hay đánh đổi nhân phẩm của mình để quy đổi tri thức ra tiền? Tôi không có ý nói công việc gìn giữ tri thức cao quý hơn một đầu bếp, tôi muốn nói rằng, nếu bạn lựa chọn điều gì, hãy có trách nhiệm với điều ấy.

Chúng ta đã quên đi mục đích của việc học: Học để thành nghề và học để thành người. Lựa chọn theo đám đông ngu ngốc, theo các chuẩn mực xã hội, học để lấy điểm gạo, các bạn vừa không thành nghề mà cũng chẳng thành người. Các bạn trở thành những con gà béo tốt nuôi một hệ thống lừa dối kiếm chác dựa trên sự a dua của các bạn. Đừng trở thành con gà béo, các bạn là con người, các bạn có Internet và cơ hội tiếp cận kiến thức với số lượng lớn chưa từng có trong lịch sử, vậy các bạn có thể nói “Không” với cổng trường Đại học nếu thấy nó không cần thiết cho cuộc đời của bạn.

Thay vì oán trách và trông chờ, các bạn có thể lựa chọn cho mình một con đường phù hợp với sở thích, đam mê và hoàn cảnh. Hãy dành nhiều thời gian cho con đường ấy, tìm thày giỏi hướng dẫn, mày mò đọc thêm kiến thức mở rộng từ Internet, kết giao bạn bè trong lĩnh vực đó để trao đổi và học hỏi.  Cho dù bạn có học đại học hay học nghề, bạn vẫn không thể không tự học. Vì tự học chính là biểu hiện rõ nét nhất, quyết liệt nhất con đường mà bạn chọn. Tự học, chính là cuộc Cách mạng giáo dục thật sự!

Cuộc Cách mạng Tự học sẽ khiến cho những hệ thống đối xử với bạn như con gà ngày một suy yếu và rạn nứt. Cuộc Cách mạng này sẽ giúp nảy sinh ra rất nhiều ngành nghề mới lạ đến từ nhu cầu thiết yếu thật sự của cuộc sống. Cuộc Cách mạng Tự học là cuộc Cách mạng của kiến tạo, khi mỗi người đều nhận thức được rằng điều quan trọng nhất của một con người trong phận vị xã hội đó là kiến tạo ra giá trị mới chứ không phải đạp bỏ các giá trị cũ.

Tự chọn lựa và chịu trách nhiệm về  con đường cho mình, bỏ qua mọi định kiến và thang bậc xã hội, đó là bước đi liều mạng nhưng cần thiết trong lúc này. Đó là con đường tự cứu mình. Sẽ mất mười đến hai mươi năm đê thật sự có thay đổi tích cực trong nền giáo dục nếu Bộ giáo dục thay đổi đúng đắn từ bây giờ, chúng ta không có nhiều thời gian đến thế. Bạn có thể mất nhiều thời gian để oán thán, hoặc đứng dậy, quay lưng với nền giáo dục để sống cuộc đời của chính mình chứ không phải cuộc đời của ai đó vẽ ra cho bạn.

Một người không tham gia vào cuộc chạy đua ấy, cuộc đời người ấy sẽ bị cô lập. Một trăm người từ chối cuộc đua, số lượng này sẽ có cơ hội được nhân rộng. Một nghìn người có thể tự quyết định lựa chọn con đường riêng cho mình mà không cần bằng cấp, các giá trị vật chất sẽ được kiến tạo một cách hiệu quả hơn. Một trăm nghìn người, một triệu người… Bộ giáo dục sẽ đứng trước nguy cơ đóng cửa, nhiều nền tảng xã hội khác như tuyên truyền chính trị, kinh tế, nội vụ… sẽ dần dần bị phá hủy.

Một trật tự mới sẽ được hình thành, khi mà mỗi chúng ta đều là con người có ích và tự chủ, khi mà giá trị kiến tạo được đánh giá cao hơn giá trị bằng cấp, thang bậc xã hội không còn phân biệt giữa các nghề nghiệp với nhau, khi trường đại học không còn là cái chuồng gà mà trở lại làm những thánh đường của tri thức.

Hà Thủy Nguyên

_______

PS: Tôi bỏ đại học từ năm thứ 3, không phải vì tôi học sai ngành, mà vì tôi thấy cả tôi và trường đại học đều không thể chịu đựng được nhau. Cho đến nay, tôi vẫn làm công việc tôi đeo đuổi, bằng cấp chẳng đóng bất cứ một giá trị gì trong sự nghiệp của bản thân tôi. Và tôi tin, các bạn nếu dám lựa chọn và dám chịu trách nhiệm thì cổng trường đại học không phải con đường duy nhất!

*

Bài cùng chủ đề:

  1. Chúng ta không cần một cuộc Cải cách giáo dục rầm rộ
  2. Thế giới chưa thực sự có Cách mạng trong giáo dục (1)
  3. Thế giới chưa thực sự có Cách mạng trong giáo dục (2)
  4. Cuộc Cách mạng tình dục
  5. Mặt trái của cuộc cách mạng kỹ thuật số
  6. Thần Shiva – động lực cách mạng

*

Giới thiệu về Hà Thủy Nguyên

Hà Thủy Nguyên, Nhà văn, Biên kịch
Sở thích : Sáng tác văn chương, nghiên cứu tôn giáo và tâm linh, các vấn đề về văn hóa – văn minh
Các dự án đã tham gia
– Tác giả tiểu thuyết dã sử “Điệu nhạc trần gian” (NXB Phụ Nữ – 2004); Tiểu thuyết dã sử “Cầm thư quán” (NXB Phụ Nữ -2007); Tiểu thuyết giả tưởng “Thiên mã” (NXB Kim Đồng); Tập truyện ngắn “Bên kia cánh cửa” (Nhà sách Bách Việt)
– Biên kịch phim “Vòng nguyệt quế” (2008 – VTV1); “Blog nàng dâu” (2009- VTV3); “Nếp nhà” (2010)
– Founder & Content manager trang nghethuatyeu.net (2011-2012)
– Founder nhóm tình nguyện Mảnh ghép
– Founder and Content manager tại Book Hunter Club

.

.

.

Giáo dục là vấn đề an ninh (Tony Blair, Project-Syndiate)

Tháng Tám 31, 2015

.

.

Giáo dục là vấn đề an ninh

Tony Blair, Project-Syndiate

Phạm Nguyên Trường dịch

Posted on Aug 31, 2015

http://phiatruoc.info/giao-duc-la-van-de-an-ninh/

.

Tháng 11 năm ngoái, sau 13 năm, lần đầu tiên tôi lại có buổi nói chuyện ở Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc. Ấn tượng nhất là tâm trạng đã khác xa ngày xưa. Tháng 12 năm 2000, thế giới dường như khác hẳn. Lúc đó chúng tôi đang cố gắng thiết lập trật tự an ninh mới cho thập kỉ sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Dĩ nhiên là lúc đó cũng có những thách thức. Nhưng bầu không khí nhẹ nhàng, thậm chí là tích cực, khi chúng tôi thảo luận về việc xóa đói nghèo trong thế giới đang phát triển.

Lần này, tâm trạng nặng nề. Và những ngày đầu tiên của năm 2014 làm cho nó còn nặng nề hơn. Lướt trên màn hình tổng quan tin tức của bất cứ ngày nào bạn cũng sẽ tìm thấy những câu chuyện về khủng bố và bạo lực xảy ra từ quan niệm sai lầm về tôn giáo. Một số là do những tác nhân bên ngoài nhà nước; nhưng tất cả đều được thực hiện trong bối cảnh của sự chia rẽ và xung đột do sự khác biệt của niềm tin tôn giáo mà ra.

Đây là cuộc chiến đấu mới trong thế kỉ XXI. Chúng ta sẽ không thể thắng được nó, trừ phi chúng ta chiến đấu với nguyên nhân gốc rễ của nó cũng như khắc phục những hậu quả khủng khiếp của nó.

Hôm nay, trong vòng cung kéo dài từ Viễn Đông, qua Trung Đông, tới các đường phố ở châu Âu và nước Mĩ, chúng ta đều gặp những tai họa giết chết những con người vô tội, chia rẽ cộng đòng và làm mất ổn định đất nước. Có nguy cơ là nó liên tục tiến hóa, phát triển và biến đổi nhằm đối đầu với cuộc chiến đấu của chúng ta.

Những kẻ cực đoan đang phát tán nạn bạo hành có mạng lưới có thể tiếp cận với thanh niên và chúng biết sức mạnh của giáp dục, dù là giáo dục chính thức hay phi chính thức. Những kẻ cực đoan đang nhồi nhét vào đầu óc thanh niên rằng bất cứ ai không đồng ý với chúng đều là kẻ thù – không phải kẻ thù của chúng mà là kẻ thù của Chúa.

Cuộc tranh luận về an ninh lại thường tập trung vào hậu quả. Sau vụ tấn công, các quốc gia liền xem xét các biện pháp an ninh. Bọn khủng bố bị săn đuổi. Sau đó chúng ta trở về với cuộc sống thường nhật, cho đến khi một vụ khủng bố khác xảy ra.

Nhưng thay đổi kéo dài lại phụ thuộc vào việc giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố. Đương nhiên là chính trị có vai trò của mình. Và những kẻ cực đoan rất giỏi nắm lấy những bất bình về mặt chính trị. Nhưng mảnh đất mà họ trồng những hạt giống của hận thù lại được tưới bón bằng sự thiếu hiểu biết.

Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải bắt đầu nghĩ rằng giáo dục là vấn đề an ninh.

Những kẻ cực đoan nói rằng chúng giết người là nhân danh Chúa. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn niềm tin tôn giáo đích thực. Và là mối đe dọa cho cả những thiệt hại mà nó trực tiếp gây ra cũng như sự chia rẽ và chủ nghĩa bè phái mà nó gián tiếp nuôi dưỡng. Mỗi vụ giết người đều là một bi kịch của nhân loại. Nhưng nó còn gây ra phản ứng dây chuyền của sự đau khổ và hận thù. Những cộng đồng bị chủ nghĩa cực đoan quấy nhiễu bao giờ cũng có sự sợ hãi, sợ hãi làm tê liệt cuộc sống bình thường và làm cho người ta xa cách nhau.

Toàn cầu hóa làm gia tăng và nhân rộng chủ nghĩa cực đoan. Không bị giới hạn bởi đường biên giới quốc gia, nó có thể nổi lên bất cứ chỗ nào. Hiện nay chúng ta có nhiều mối liên kết hơn bất kỳ điểm nào khác trong lịch sử nhân loại, và ngày càng nhiều người tiếp xúc với những người khác với mình. Vì vậy, nhu cầu tôn trọng một người hàng xóm không giống như bạn cũng ngày càng gia tăng, nhưng cơ hội để coi người đó là kẻ thù cũng lớn hơn

Và đây không chỉ là chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo. Có hành những động cực đoan nhằm chống lại người Hồi giáo vì tôn giáo của họ, và ngày nay có các tín đồ Công giáo, Do Thái giáo, Ấn giáo, và Phật giáo cuồng tín, xuyên tạc bản chất thật sự của đức tin của họ.

Đó là lý do vì sao giáo dục trong thế kỷ XXI là vấn đề an ninh đối với tất cả chúng ta. Thách thức là giới trẻ, những người dễ bị ngả theo lời kêu gọi của những kẻ khủng bố rằng có cách tốt hơn làm cho tiếng nói của họ được người ta nghe, có cách hiệu quả hơn nhằm tương tác với thế giới.

Tin vui là chúng ta biết cách làm việc này. Tôi xin sử dụng Quĩ Đức tin (Faith Foundation) của tôi làm ví dụ. Chương trình của các trường học của chúng tôi thúc đẩy đối thoại xuyên văn hóa trên toàn thế giới, giữa các học sinh tuổi từ 12 đến 17. Tiếp cận với học sinh tại hơn 20 quốc gia, chương trình của chúng tôi kết nối những học sinh với nhau thông qua một trang Web an toàn, họ tương tác với nhau từ các lớp học dưới sự hướng dẫn của giáo viên đã được huấn luyện.

Thông qua hội thảo trực tuyến, học sinh thảo luận các vấn đề toàn cầu, từ những tôn giáo và quan điểm tín ngưỡng khác nhau. Họ nhận được những kỹ năng đối thoại cần thiết nhằm ngăn ngừa xung đột bằng cách phá vỡ các khuôn mẫu mang tính tôn giáo và văn hóa. Đối với các trường ở các khu vực nghèo nhất, chúng tôi phải có những sắp xếp đặc biệt, bởi vì họ không thể truy cập được mạng Internet.

Chắc chắn là, chúng tôi chỉ là một giọt nước trong biển cả. Nhưng bây giờ chúng tôi có kinh nghiệm trong hơn một nghìn trường học, trên 50.000 học sinh đã được dạy, và chúng tôi đang làm việc ở các nước khác nhau như Pakistan, Ấn Độ, Mỹ, Jordan, Ai Cập, Canada, Ý, Philippines, và Indonesia. Tôi đã được may mắn chứng kiến ​​những học sinh này thoải mái khi tiếp xúc với các nền văn hóa, tôn giáo, và niềm tin đang truyền cảm hứng cho biết bao nhiêu con người trên thế giới.

Có nhiều ví dụ tuyệt vời khác về công việc này. Nhưng họ thiếu các nguồn lực, mức độ ảnh hưởng và sự công nhận mà họ cần.

Chúng ta cần phải huy động để đánh bại chủ nghĩa cực đoan. Và chúng ta cần phải hành động trên toàn cầu. Tất cả các chính phủ phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm của mình nhằm giáo dục thanh niên chấp nhận và tôn trọng những người thuộc các tôn giáo và những nền văn hóa khác nhau.

Không có vấn đề nào cấp bách hơn. Có một nguy cơ thực sự là các xung đột tôn giáo sẽ thế chỗ cho các cuộc đấu tranh ý thức hệ của thế kỷ trước dưới một hình thức tàn phá cũng chẳng khác gì trước kia.

Tất cả chúng ta phải chỉ cho mọi người thấy rằng chúng ta có ý tưởng tốt đẹp hơn bọn cực đoan – đấy là học hỏi lẫn nhau và sống cùng nhau. Và điều này cần phải trở thành thành phần cốt lõi của công tác giáo dục thế hệ trẻ.

_______

Tony Blair là thủ tướng Anh từ năm 1997 đến năm 2007, là đại diện đặc biệt của Bộ tứ ở Trung Đông (Middle East Quartet). Sau khi rời chức vụ thủ tướng ông đã thành lập quĩ Tony Blair Faith Foundation và Quĩ the Faith and Globalization Initiative.

Trích từ blog Phạm Nguyên Trường

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 44 other followers