ÔNG ĐINH LA THĂNG VỚI SÀI GÒN (FB Song Chi)

Tháng Hai 11, 2016

 

 

ÔNG ĐINH LA THĂNG VỚI SÀI GÒN

FB Song Chi

Wednesday, February 10, 2016 at 5:09am

https://www.facebook.com/songchi09/posts/10201688687656620

 

Có nhiều người đang hy vọng ông Đinh La Thăng sẽ trở thành “Nguyễn Bá Thanh của Sài Gòn”. Nhưng liệu có được như vậy?

Thứ nhất, hoàn cảnh xuất thân, vị trí hai người với mỗi thành phố rất khác nhau. Ông Nguyễn Bá Thanh là người Đà Nẵng, sinh ra, lớn lên, làm việc nhiều năm ở Đà Nẵng trước khi trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng trong 7 năm, rồi Bí thư Thành ủy Đà Nẵng từ năm 2003, không lâu sau đó ông cũng đươc bầu vào chức vụ Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Nẵng cho tới ngày rời Đà Nẵng ra Hà Nội năm 2012. Nghĩa là cả cuộc đời ông Nguyễn Bá Thanh gắn bó với Đà Nẵng. Sở dĩ ông làm được nhiều việc cho Đà Nẵng (bên cạnh đó cũng có nhiều cái chưa làm được, và nhiều ân oán với nhân dân trong những lần giải tỏa đất đai, mà điển hình là vụ giáo xứ Cồn Dầu, những tai tiếng như vụ án tướng Trần Văn Thanh, chưa kể ông cũng bị tố cáo là tham nhũng nặng nề và độc tài) là vì nói gì thì nói, ông phải có tình yêu với cái thành phố quê hương ruột thịt của ông. Ông hiểu người Đà Nẵng và có những quan hệ dây mơ rễ má chằng chịt từ trên xuống dưới tại đó, cấp dưới nghe ông răm rắp, người dân cũng nghe ông. Ở Đà Nẵng, ông là vua một cõi.

Còn ông Đinh La Thăng, tuy cũng có vẻ là người xông xáo, phát biểu mạnh miệng, nói liền “trảm” liền, nhưng thứ nhất, ông là người Bắc, dân Nam Định, không gắn bó gì với Sài Gòn (dù cũng có thời gian từng là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh). Trên đầu ông là đảng, có muốn làm gì cũng phải thông qua đảng, thông qua Trung ương, Bộ Chính trị, đối với cán bộ các cấp ngang hàng hoặc dưới thì ông chưa có những mối quan hệ chằng chịt phe nhóm để tồn tại, mà ở xứ này thì rừng nào cọp đó, không phải dễ, còn với người dân ông cần có thời gian để hiểu dân cũng như để dân hiểu và tin được ông.

Không phải là người có định kiến vùng miền, nhưng tôi vẫn nghĩ, nếu có một người lãnh đạo nào đó làm được gì cho Sài Gòn, nếu không là dân Sài Gòn thì cũng phải hiểu và yêu Sài Gòn, hiểu rõ mặt mạnh cũng như những vấn đề tồn đọng của Sài Gòn, hiểu quá khứ, và sự khác biệt làm nên thành phố này. Tốt hơn nữa là có kiến thức rộng, tầm nhìn thoáng, cởi mở, biết lắng nghe, để tiếp xúc và chơi được với nhiều tầng lớp khác nhau từ dân lao động, doanh nhân, trí thức, văn nghệ sĩ cũ mới…điều mà trước đây ông Võ Văn Kiệt đã phần nào làm được. Bởi Sài Gòn, khác với Hà Nội, Huế hay Đà Nẵng, là thành phố hội tụ mọi luồng giao thoa cũ mới, trong ngoài và của cả nước, về mặt văn hóa, xã hội: của Sài Gòn và miền Nam trước-sau 1975, trong nước và của người Việt hải ngoại…

Phải nói thẳng là ông Lê Thanh Hải, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh từ 2001-2006, Bí thư Thành Ủy Thành phố Hồ Chí Minh 2005-2010, 2010-2015 chả làm được gì bao nhiêu cho Sài Gòn ngoại trừ biến cái thành phố này thành của riêng mình và dòng họ. Bà vợ (vốn là em út của bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Phó Chủ tịch nước), em trai, 2 con trai đều nắm giữ những chỗ ngon ăn về kinh tế, riêng con trai đầu Lê Trương Hải Hiếu là Phó Bí thư Quận uỷ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 12, Đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố khóa 8 nhiệm kỳ 2011-2016; cùng với vây cánh, đàn em khắp nơi tha hồ mà ăn dày.

Dưới thời ông Lê Thanh Hải, nếu Sài Gòn vẫn ăn nên làm ra, đóng góp nhiều nhất về kinh tế và nhiều mặt cho cả nước thì là vì cái thành phố này vốn từ xưa đã là đất làm ăn, hừng hực sức sống, còn về mặt văn hóa tư tưởng, chính trị thì SG trở thành một thành phố bảo thủ hơn Hà Nội nhiều lần. Dân trí thức văn nghệ đều biết rằng có rất nhiều thứ có thể thông qua, lọt qua khâu kiểm duyệt ở Hà Nội nhưng vào đến Sài Gòn thì không, chỉ một ví dụ rất nhỏ, ca sĩ Khánh Ly có thể về biểu diễn ở Hà Nội và nhiều nơi khác nhưng Sài Gòn thì không/chưa; biểu tình chống Trung Quốc nhiều lần có thể diễn ra êm xuôi ở Hà Nội nhưng ở Sài Gòn chỉ 1, 2 lần sau đó là bị đàn áp dữ dội, công an Hà Nội còn nể dân, tùy mặt dân mà xử chứ công an Sài Gòn thì hết sức hống hách, trí thức văn nghệ họ cũng chả coi ra gì v.v…Một thành phố thoáng về làm ăn kinh tế nhưng văn hóa thì hết sức “bảo hoàng”.

Trở lại chuyện ông Đinh La Thăng. Trong niềm hy vọng mà nhiều người dân dành cho ông Đinh La Thăng, phản ánh sự tuyệt vọng chẳng khác mấy so với niềm hy vọng mà người ta từng dành cho ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng có lẽ ông Thăng cũng sẽ chẳng làm được gì nhiều, từ sự “cởi mở” hơn về mặt văn hóa, tư tưởng cho tới việc làm cho thành phố này trở nên đẹp hơn, đáng sống hơn. Trừ phi, như đã nói, phải có thực tài, có tâm, và yêu Sài Gòn. Mà chuyện tìm được người có thực tài và có tâm, ở quan chức chính khách của đảng cộng sản VN, hơi bị hiếm.

COMMENTS . . .>>>

 

 

 

ĐỂ HỘI NHẬP VĂN HÓA, HÃY THÔI SAY SƯA TỰ NGẮM MÌNH . . . (Phan Hồng Giang)

Tháng Hai 11, 2016

 

 

Để hội nhập văn hóa, hãy thôi say sưa tự ngắm minh…

Phan Hồng Giang

Viet-studies 10-2-2016

http://www.viet-studies.info/PhanHGiang_ThoiTuNgamMinh.htm

 

Từ khi xuất hiện khắp nhiều  nước các “xa lộ thông tin” băng thông rộng, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tuyến vận tải hàng không xuyên lục địa… trái đất chúng ta bỗng biến thành một “ngôi làng” thực sự – một trận động đất hay sóng thần ở Nhật Bản hay một vụ xả súng giết người hàng loạt ở Paris nước Pháp cũng ngay lập tức khiến cả nhân loại bàng hoàng. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành quá trình rộng khắp, không thể  một ai với ý muốn chủ quan, duy ý chí có thể ngăn chặn được.

Không lấy gì làm lạ khi  quá trình này diễn ra trước tiên là ở lĩnh vực kinh tế. Nhưng liền ngay sau đó, lĩnh vực văn hóa cũng bị cuốn vào quá trình này. Và ở đây ta dễ thấy ngay những phản ứng mang tính “tự vệ” của rất đông những người lo lắng cho số phận nền văn hóa dân tộc mình có thể bị thui chột. Không phải là không có lý khi nhiều người cao giọng cảnh báo về cuộc “xâm lăng văn hóa” bắt đầu từ những chiếc quần bò, áo phông, thức ăn nhanh McDonald và nước uống Coca Cola… đến các phim “ bom tấn” của Hollywood. Người ta nhắc đi nhắc lại rằng “ Để mất bản sắc văn hóa dân tộc là… mất hết !”.

Đó chỉ mới là những biểu hiện bề ngoài  của văn hóa. Không thể coi nhẹ tác động của điều kiện kinh tế, “phong thổ”  địa lý… khi bàn chung đến văn hóa một dân tộc cụ thể nào đó, tuy nhiên  vẫn phải thừa nhận rằng chính những giá trị văn hóa tinh thần thể hiện qua các cách ứng xử giữa người với người mớí làm nên  bản sắc văn hóa dân tộc ở chiều sâu xa nhất.  Từ đây nổi lên vấn đề  Thực ra bản sắc văn hóa dân tộc ta điểm mạnh, điểm yếu là  thế nào ? 

Với khuôn khổ giới hạn của một bài báo, tôi xin phép chỉ nhắc tới vài nét chính dưới góc nhìn  những con người  của dân tộc ứng xử  văn hóa như thế nào.

Chúng ta thường quen nghe nói  bản sắc văn hóa dân tộc ta là những con người chúng ta “ có lòng yêu nước mạnh mẽ, dũng cảm quên mình để bảo vệ đất nướccần cù, sáng tạo trong lao động; tính cộng đồng cao, đoàn kết tương thân tương ái; hiếu học tôn sư trọng đạo”…

Tuy nhiên, như hai mặt của tấm huân chương,  vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, không khó để thấy những mặt trái của các đặc tính nêu trên. Chúng ta có thể bộc lộ rõ phẩm chất cao quý của lòng yêu nước trong những thời khắc hiểm nghèo khi bị xâm lược, nhưng đáng tiếc là nhiều khi lòng yêu nước ấy lại bị nhạt nhòa trong cuộc sống thường ngày :  không ít người dân đã quên mất thể diện dân tộc  – quên mất quốc sỉ – khi chạy theo chèo kéo khách du lịch nước ngoài mua hàng, chặt chém, lừa đảo họ; ra nước ngoài thì chen lấn xô đẩy, không chịu xếp hàng, nói cười hô hố nơi đông người, lấy thừa mứa thức ăn rồi bỏ dở, thậm chí còn dở thói tắt mắt trộm vặt ở các siêu thị, khiến nước chủ nhà phải treo những tấm bảng cảnh báo bằng tiếng Việt.

Chúng ta hài lòng tự khen mình là “ thông minh,cần cù, sáng tạo…”, nhưng có mấy khi tự hỏi mình rằng ta đã có những phát  minh, sáng chế gì đáng kể cho nhân loại và vì sao từ xưa đến nay  ta vẫn chưa bao giờ không nghèo nàn, lạc hậu, và cho đến nay vẫn chưa làm nổi một con ốc vít đạt chuẩn ?!

“Tính cộng đồng đoàn kết” đã biến đi đâu khi không hiếm thấy ở nhiều thôn xã dòng họ này chèn ép dòng họ kia, tranh giành những chức quan nhỏ ? Tình trạng đấu đá nội bộ ở nhiều cơ quan đã không còn hiếm gặp. Nhiều thương nhân thì tranh mua, tranh bán, tạo điều kiện cho thương lái nước ngoài đồng lòng ép giá…

“Tinh thần tương thân tương ái” lặn mất tăm khi người đi đường bỏ mặc ai đó bị tai nạn giao thông, hay nhào vô hôi của khi hàng hóa của ai đó bị vung vãi xuống đường !

Có đúng là chúng ta “hiếu học, tôn sư trọng đạo”, khi lún sâu vào cuộc chạy đua  nhồi nhét kiến thức nặng về lý thuyết ,“học để thi, học để có bằng cấp” mà coi nhẹ “học làm người, học kỹ năng sống, học để có nghề nghiệp thiết thực” ? Người lớn liệu có truyền “tinh thần hiếu học” sang con trẻ khi bắt chúng phải học thêm hết tuần này sang tháng khác, làm mất tuổi thơ lẽ ra phải rất tươi đẹp của chúng ? “Tôn sư trọng đạo “ ở đâu khi các bậc phụ huynh không giấu con trẻ những chiếc phong bì kính biếu thầy cô vào dịp lễ này, tết nọ  để mong  đánh đổi lấy sự ưu ái với con mình?…

Xin lỗi bạn đọc khi có vẻ như tôi đã hơi quá lời khi nói đến mặt trái. Nhưng quả tình là tôi đã cố gắng tự tiết chế mình vì dường như thực tế chung quanh, nhất là trong  những năm gần đây, ngày càng nhức nhối hơn thì phải.

Đã đến lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào sự thật, hãy thôi bài ca tự ca ngợi mình, hãy bỏ thói quen say sưa tự nhìn ngắm mình, – tự yêu mình thái quá -của chàng Narcissus huyền thoại thời Hy Lạp cổ đại, cùng nhau loại bỏ phần xấu, phát huy cái tốt đẹp trong con người Việt Nam  để vững bước đi vào hội nhập văn hóa quốc tế./.

Nguồn : http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/287117/hay-thoi-say-sua-tu-ca-ngoi-minh.html

 

 

 

ĐIỂM TIN NGÀY 10-2-2016

Tháng Hai 11, 2016

 

ĐIỂM TIN NGÀY 10-2-2016

.

TỰ DO DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM

http://www.tudodanchuvietnam.net/default.aspx

Điểm Tin Thứ Tư 10.02.2016

  • Quân đội Syria chuẩn bị bao vây Aleppo (RFI) – Phe nổi dậy tại Syria bị quân đội Syria và Kurdistan-Syria tấn công từ hai mặt trong khi Daech trấn giữ ở phía đông . Được không quân Nga yểm trợ không ngừng, lực lượng chính phủ từ phía nam tiếp tục tiến về Aleppo và chỉ cách biên giới Thổ Nhĩ Kỳ có 20 cây số. Trong 24 giờ qua, phe nổi dậy phải bỏ ba vị trí phòng thủ.
  • Cuộc chiến Syria xoay chiều (RFI) – Bên cạnh sự kiện châu Âu ngày càng theo xu hướng dân túy, một chủ đề thời sự đập mắt khác hôm nay 09/02/2016 trên trang nhất báo Pháp là tình hình chiến sự Syria có vẻ đang xoay chiều. Quân đội Damas, được không quân Nga yểm trợ, tiếp tục tiến quân nhằm tái chiếm Aleppo, thành phố lớn thứ hai của Syria hiện đang ở trong tay phe nổi dậy.
  • Đức lên án Nga vi phạm nghị quyết Liên Hiệp Quốc về Syria (RFI) – Bom đạn Nga tại miền bắc Syria buộc hàng chục nghìn thường dân đổ về vùng biên giới, với hy vọng sang được Thổ Nhĩ Kỳ. Trong chuyến công du Ankara hôm qua, 08/02/2016, thủ tướng Đức lên án Matxcơva vi phạm nghị quyết 2254 của Hội Đồng Bảo An, mà chính Nga đã ủng hộ.
  • LHQ nói Syria tàn sát tù nhân (BBC) – Các nhà điều tra nhân quyền của Liên Hiệp Quốc nói đã xảy ra tình trạng “tàn sát tù nhân” và “tội ác chống loài người” ở Syria.
  • Hồi giáo cực đoan xâm nhập phát triển mạnh tại Nga (RFI) – Hôm qua, 08/09/2016, an ninh Nga thông báo bắt giữ 7 thành viên của tổ chức Nhà nước Hồi giáo – Daech – đang chuẩn bị tấn công khủng bố Matxcơva và Saint-Petersbourg. Những nghi phạm khủng bố bị bắt tại Ekaterinbourg, một thành phố của Oural, nơi đang có phong trào Hồi giáo Salafi phát triển mạnh. Trong khi đó số lượng người Nga và các quốc gia Trung Á đến Syria và Irak làm thánh chiến trong thời gian qua là rất đông. Những phần tử này sẽ là mối đe dọa lớn cho an ninh của Nga một khi những người này trở về nước.
  • Khủng hoảng tị nạn Syria: Berlin và Ankara muốn NATO hỗ trợ (RFI) – Chuyến thăm Ankara hôm qua, 08/02/2016, của thủ tướng Đức Angela Merkel tập trung vào hồ sơ người tị nạn. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ cùng thủ tướng Đức đã nhất trí phải kêu gọi sự hỗ trợ của NATO để giám sát biên giới. Trong khi đó vẫn không có giải pháp nào cho số phận 30 000 người tị nạn Syria đang bị mắc kẹt ở biên giới Syria-Thổ Nhĩ Kỳ. Ankara chỉ hứa sẽ mở cửa biên giới khi nào thấy cần thiết.
  • Nga giải quyết tình hình Syria bằng quân sự (RFI) – Kế hoạch của Nga đã rõ ràng : cuộc chiến tại Syria sẽ kết thúc bằng giải pháp quân sự. Hoà đàm tại Genève, đã đình hoãn, chỉ là kế nghi binh. Trận Aleppo đang diễn ra từ một tuần nay mới là bước ngoặt. Chiếm lại được thành trì cuối cùng, cắt đường tiếp liệu của phe nổi dậy được Tây phương yểm trợ, sẽ là một chiến thắng quyết định của Matxcơva.
  • Mỹ : Bỏ phiếu đề cử ứng viên tổng thống tại New Hampshire (RFI) – Sau cuộc bỏ phiếu đề cử ứng cử viên tổng thống tại Iowa, hôm nay, 09/02/2016, đến lượt New Hampshire. Tại tiểu bang này, khoảng 40% cử tri có quan điểm độc lập, sẽ đưa ra quyết định vào giờ chót. Về phía đảng Dân Chủ, ứng viên Bernie Sanders ở thế thượng phong, trong khi đó, về phía đảng Cộng Hòa, Donald Trumps đang có lợi thế, theo các thăm dò dư luận mới nhất.
  • VN phát hiện sai phạm kinh tế 9 tỷ đô (BBC) – Một bộ trưởng VN nói với báo chí trong giai đoạn 2011 – 2015 trên 37 nghìn đợt thanh tra đã phát hiện sai phạm kinh tế trên 208 nghìn tỷ đồng.
  • Báo chí chính thống chế nhạo phong trào dân chủ trong nước (RFA) – Báo chí trong nước, đặc biệt báo do nhà nước chỉ đạo, gọi các tổ chức đấu tranh dân chủ trong nước là “vỡ tuồng dân chủ”, những thành viên trong những hội hay những nhóm đó là “bầu dân chủ” hoặc “chăn dắt dân chủ”.
  • 80 người chết do TNGT trong bốn ngày Tết (RFA) – Có hơn 80 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông trong hai ngày cuối năm và đầu năm âm lịch Bính Thân. Đó là số liệu được Ủy ban an toàn giao thông quốc gia công bố.
  • Sinh viên làm thêm trong mùa Tết (RFA) – Năm hết Tết đến, dường như với mọi giới, đây là khoảng thời gian hối hả, thúc giục tâm hồn trước sự luân chuyển của vũ trụ, trước một tuổi mới. Nhưng đây cũng là thời gian mà cái nghèo và sự giàu có hiện ra rất rõ nét.
  • Phong thủy dưới cái nhìn của một nhà nghiên cứu (RFA) – Phong thủy được phổ biến nhiều tại Việt Nam sau nhiều năm hầu như có thể nói là hoàn toàn vắng bóng trong thời chiến tranh ở miền bắc. Nhiều cơ sở quảng cáo bán các vật liệu phong thủy ra đời, cũng như nhiều người tự xưng là thầy phong thủy làm tư vấn cho người dân…
  • Làm 10 ngày Tết bằng hai tháng lương (RFA) – Mức lương cao một triệu đồng một ngày được đưa ra tại một số khu công nghiệp ở Việt Nam trong những ngày Tết khi mà nhiều công nhân nghỉ về quê ăn tết với gia đình.
  • Chứng khoán Nhật sụt giá mạnh (VOA) – Những khó khăn của Nhật hôm nay tác động tiêu cực đối với những người mua bán chứng khoán tại các thị trường khác trong khu vực mở cửa trong ngày Tết âm lịch
  • Mỹ – Thái Lan tập trận Hổ mang vàng (RFI) – Hôm nay 09/02/2016, cuộc tập trận thường niên mang tên Hổ mang vàng (Cobra Gold) do Mỹ tổ chức chung với Thái Lan bắt đầu. Khai mạc cuộc diễn tập quân sự lớn nhất khu vực, Hoa Kỳ không quên kêu gọi chính quyền quân sự Bangkok sớm tổ chức bầu cử dân chủ.
  • Ngoại trưởng Philippines Rosario từ chức (RFI) – Hôm qua, 08/02/2016, đơn từ chức của ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã được tổng thống chấp thuận. Người nỗ lực siết chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ và thúc đẩy vụ kiện Trung Quốc về Biển Đông ra tòa án quốc tế sẽ chính thức từ nhiệm kể từ ngày 07/03 tới.
  • Hong Kong: Đụng độ giữa cảnh sát và tiểu thương (RFA) – Tại Hong Kong, trong ngày mùng hai tết xảy ra vụ đụng độ giữa cảnh sát và những người bán hàng bị cho là vi phạm qui định trật tự công cộng. Đây là vụ bạo động nghiêm trọng ở đặc khu hành chánh này kể từ đợt biểu tình của phong trào ủng hộ dân chủ vào năm 2014.
  • Bắc Triều Tiên: « Không thể loại trừ khả năng quân đội làm đảo chính »(RFI) – Không ai có thể biết được bộ máy chính trị Bắc Triều Tiên vận hành như thế nào, càng lên cao thì càng nguy hiểm, không thể loại trừ khả năng quân đội tiến hành đảo chính, hoặc việc loại trừ Kim Jong Un có thể sẽ rất tàn khốc. Trên đây là các nhận định của ông Pierre Rigoulot, khi trả lời phỏng vấn báo Libération (đăng ngày 08/02/2016).
  • Hỏa tiễn của Bắc Hàn chưa thể bắn tới Mỹ (RFA) – Về vụ bắn hỏa tiễn của Bắc hàn vào ngày 7 tháng 2 vừa qua, hôm nay một quan chức quốc phòng Hàn Quốc cho biết tên lửa mà Bắc Hàn phóng đi dường như có mạnh hơn năm 2012; tuy nhiên Bình Nhưỡng vẫn chưa thể có khả năng phát triển hỏa tiễn đạn đạo bắn đến đất Mỹ.
  • Mỹ – Nhật – Hàn bàn biện pháp đối phó với Bắc Triều Tiên (RFI) – Một ngày sau khi Bắc Triều Tiên thông báo phóng thử thành công tên lửa vệ tinh, được cho là vụ thử tên lửa đạn đạo trá hình, hôm qua, 08/02/2016, lãnh đạo ba nước đồng minh Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản đã có cuộc điện đàm để tìm biện pháp tăng cường trừng phạt Bình Nhưỡng.

——————————–

ĐỐI THOẠI

https://doithoaionline.wordpress.com/

.

Đối Thoại Điểm Tin ngày 10 tháng 2 năm 2016

Posted on 10/02/2016 by Doi Thoai

  • Tin Ngoài Nước-Tín Châu
  • Tin Trong Nước-Lê Hồng Lĩnh
  • Chuyện Việt Nam-Thanh Ly

Đọc tiếp →

———————

Đài Đáp Lời Sông Núi

http://radiodlsn.com/

Thứ Tư 10-02-2016

.

Theo dõi đài Đáp Lời Sông Núi qua:

Youtube

Twitter

Facebook

.

Youtube: THẢM HỌA ĐỎ BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

.

Youtube: Sự Thật Hồ Chí Minh

.

Youtube: Ho Chi Minh, The Man and The Myth

.

Youtube: Cải cách ruộng đất

.

Youtube: Nhân Văn Giai Phẩm

.

—————————————

TTX VÀNG ANH

https://www.ttxva.net/

————————

Viet Studies

Thứ tư, 10 tháng 2, 2016

http://viet-studies.info/

Kinh tế Việt Nam

Văn Hóa & Giáo Dục

 

 

 

 

TIN & BÀI NGÀY 9-2-2016

Tháng Hai 11, 2016

 

TIN & BÀI NGÀY 9-2-2016

.

.

 

BÍNH THÂN NÓI CHUYỆN MẬU THÂN Ở SÀI GÒN (Đinh Từ Thức – Da Màu)

SỰ PHẢN BỘI TRONG CÁI BANG (Đinh Phương)

MỘT CÁI NHÌN TỪ BÊN NGOÀI CỦA NGƯỜI TÂY PHƯƠNG VÀ NGƯỜI VIỆT VỀ NƯỚC TẦU (Nguyễn Văn Lục – DCVOnline)

CON NGƯỜI NHÂN BẢN & NHÂN QUYỀN Ở THIÊN NIÊN KỶ THỨ BA (Nguyễn Tiến Cảnh – DCVOnline)

TƯ SANG GIAN HIỂM (Người Buôn Gió)

SỰ BIẾN HÓA CỦA ĐẾ QUỐC (Le Monde)

TẾT NÀY, ÔNG TẬP BUỒN LẮM (Bùi Tín)

DÂN BẮT ĐẦU LÀN SÓNG “CẠNH TRANH” QUYỀN ỨNG CỬ VỚI ĐẢNG VIÊN ? (Khánh An – VOA)

THOÁT KHỎI CỘNG SẢN LÀ NIỀM VUI LỚN LAO NHẤT CỦA ĐỜI TÔI (FB Lê Văn Sơn)

MÙA XUÂN BÙI GIÁNG (Cô Tư Sài Gòn)

DIỄN HÀNH VĂN HÓA VIỆT Ở LITTLE SAIGON (Vi Anh – Việt Báo)

[VIDEO] LỄ CÚNG TỔ TIÊN NGÀY HỘI XUÂN BÍNH THÂN 2016 (Người Việt Boston Online)

NHÀ PHÊ BÌNH THỤY KHUÊ : “VIẾT LỊCH SỬ LÀ ĐI TÌM SỰ THỰC” (Hà Thủy Nguyên thực hiện)

VUI BUỒN VỚI VIỆN ĐẠI HỌC HUẾ (Trần Bình Nam)

LỄ GIA TIÊN NGÀY TẾT (Ngô Nhân Dụng)

NHỮNG KHÚC XUÂN CA MÙA CŨ (Quỳnh Giao)

TƯƠNG LAI & HY VỌNG (Ngọc Việt – giaoduc.net.vn)

CUỘC GIẢI PHẪU HIỂM NGHÈO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN (Nguyễn Gia Kiểng)

ĐIỂM TIN NGÀY 9-2-2016

TIN & BÀI NGÀY 8-2-2016

 

 

 

BÍNH THÂN NÓI CHUYỆN MẬU THÂN Ở SÀI GÒN (Đinh Từ Thức – Da Màu)

Tháng Hai 11, 2016

 

 

BÍNH THÂN NÓI CHUYỆN MẬU THÂN Ở SÀI GÒN – PHẦN 1  

Đinh Từ Thức

08.02.2016

http://damau.org/archives/41235

.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/US-Consulate_thumb.jpg

Toà Đại Sứ Mỹ nhìn từ góc đườngThống Nhất và Mạc Đĩnh Chi, thấy rõ ba vết thủng do hoả tiễn bắn vào, và dưới chân tường rào phía ngoài, (chỗ người đứng), một lỗ thủng cỡ một mét do Việt Cộng dùng B-40 gây ra, làm lối vào bên trong. (Hình của Viện Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ)

Từ bốn mươi tám năm qua, cứ mỗi dịp Tết, lại có nhiều bài viết về vụ Mậu Thân. Nhưng phần lớn, những bài này đều nói về chuyện xẩy ra ở Huế. Có lẽ vì đó là trận địa đẫm máu nhất, tàn ác nhất. Trong khi ấy, mặt trận tại Thủ Đô Sài Gòn, nơi có hai địa điểm tiêu biểu cho chính quyền VNCH là Phủ Tổng Thống, và tiêu biểu cho Hoa Kỳ là Đại Sứ Quán Mỹ đều bị Việt Cộng tấn công, đã ít được nói tới. Đến nỗi, có nhiều người sống tại Sài Gòn thời đó, cũng không biết rõ cuộc chiến đã thực sự diễn ra như thế nào, hoặc chỉ biết với những chi tiết lờ mờ, hay sai lầm.

Thật ra, điều này cũng không lạ. Ngày Tết, mọi người đều lo ăn Tết, mấy ai đề ý tới thời sự. Đến khi có tấn công, súng nổ, thiết quân luật, mọi người đều lo bảo vệ mạng sống của mình và của người thân, làm sao biết rõ nội vụ diễn ra như thế nào. Chỉ có báo chí quốc tế, vì nhiệm vụ nghề nghiệp, và có phương tiện theo dõi cùng ghi lại những gì sẩy ra. Tại sao chỉ có báo chí quốc tế, mà không có báo chí Việt Nam? Trước hết, theo truyền thống, báo chí Việt Nam thường nghỉ Tết, ít nhất bốn ngày. Thứ đến, khi nổ ra cuộc tấn công, hoạt động báo chí Việt cũng bị tê liệt như mọi ngành sinh hoạt dân sự khác. Trong khi ấy, vụ tấn công bất ngờ Tết Mậu Thân là cơ hội hiếm có để ký giả quốc tế gửi tin nóng đi khắp thế giới. Tuy vậy, tại một đất nước xa lạ, ký giả ngoại quốc không thể hành nghề suông sẻ, nếu không được sự giúp sức đắc lực của nhà báo địa phương. Ai may mắn được sự cộng tác của người địa phương tận tâm, nhanh nhẹn, có khiếu về lãnh vực truyền thông, có cơ may thành công hơn các đồng nghiệp khác.

Trong vụ tấn công Tết Mậu Thân ở Sài Gòn, nhiều trận đánh xẩy ra cùng lúc tại nhiều địa điểm khác nhau. Bài này chỉ chú trọng tới trận đánh ở Toà Đại Sứ Mỹ. Đây không phải là trận đánh lớn nhất, nhưng tiêu biểu nhất, vì nó có vai trò làm thay đổi cục diện toàn bộ cuộc chiến Việt Nam.

Người Việt làm báo Anh bằng Dinglish

Một trong số ký giả quốc tế may mắn có sự giúp sức đắc lực của ký giả địa phương là Hugh Lunn, người Úc, quê Brisbane, tới London thử thời vận, được hãng thông tấn Reuters mướn, gửi đi Việt Nam vào cuối tháng Hai năm 1967, với thời hạn một năm. Vụ Mậu Thân xẩy ra chỉ vài tuần trước khi Hugh Lunn rời Việt Nam, sau khi đã hoàn tất thời gian phục vụ tại đây. Những gì chứng kiến tận mắt về cuộc chiến Việt Nam, kể cả trận Mậu Thân ở Sài Gòn, đã được ông kể lại trong cuốn VIETNAM: A Reporter’s War, xuất bản năm 1985. Cuốn này đã đoạt giải văn chương của Melbourne Age Book năm 1985, đã trở thành tác phẩm kinh điển, được trích giảng trong chương trình học các lớp 11 và 12. Hugh Lunn còn là tác giả của nhiều tác phẩm giá trị khác, và năm 2009, ông đã được chọn là biểu tượng của Queensland (Queensland Icon) vào dịp kỷ niệm 150 năm lịch sử của Tiểu Bang này.

Tới Sài Gòn năm 26 tuổi, chẳng biết gì nhiều về Việt Nam. Ra đón anh tại phi trường là một người Việt Nam, còn trẻ, hoạt bát, luôn nói cười, nhưng tiếng Anh của anh rất khó hiểu; chẳng những sai giọng, “lawyer” phát âm như “louser” mà cách dùng chữ và đặt câu không giống ai. Nếu một người tỏ ra sợ sệt, anh nói “He care”. Nếu nghĩ một chuyện gì đó không thể làm được, anh nói dản dị “Cannot”. Nếu cho là một việc thuộc trách nhiệm người khác, anh nói “Not my problem”. Sau này, kể với Hugh Lunn về may mắn thoát chết trong vụ VC tấn công đợt nhì, anh viết: “Very lacky to me, because if mr.  Backer not stop 1 go with Bruce to cholon, 1 think no more dinh today” (Rất may cho tôi, bởi vì nếu Ông Backer không ngăn tôi đi với Bruce vào Chợ Lớn, tôi nghĩ hôm nay không còn Đình). Ký giả ngoại quốc gọi tiếng Anh của anh là Dinglish.

Tên Việt đầy đủ của anh là Phạm Ngọc Đình, nhưng các ký giả Reuter đã làm việc từ trước ở Việt Nam đều rất quý anh, cho rằng anh là nhà báo giỏi hơn tất cả bọn họ, nên gọi anh là Gungadinh. Thật ra, “gunga” có nghĩa xấu, chỉ những thứ dơ dáy cặn bã. Nhờ nhà thơ Rudyard Kipling có bài thơ nổi tiếng Gunga Din, sau trở thành cốt truyện của một cuốn phim cùng tên do Sammy Davis jr. đóng vai Gunga Din, ca tụng một người Ấn Độ tận tâm và can đảm làm đủ thứ để phục vụ người Anh, khiến biệt danh Gungadinh thành một lời khen. Ngược lại, Gungadinh đặt tên cho Hugh Lunn là Gunsmoke, vì anh này giống một vai chính trong bộ phim chiếu trên TV Mỹ ở VN hồi đó là Gunsmoke.

Khởi đầu, Phạm Ngọc Đình chỉ là một nhân viên chạy việc vặt (messenger) cho văn phòng hãng Reuter tại Sài Gòn, anh giúp các ký giả xin hay gia hạn visa cư trú, hướng dẫn về những giao dịch với nhà cầm quyền Việt Nam, đưa ký giả mới tới khu chợ trời Dân Sinh mua quần áo nhà binh mặc để ra trận, đi cùng các ký giả tới những cuộc họp báo hàng ngày để lấy tin tức, hay ôm sẵn điện thoại để gọi về văn phòng khi có tin quan trọng, mà không ký giả nào có thể tranh với anh một trong số những điện thoại hiếm có tại nơi họp báo.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image0023.jpg

Gunsmoke và Gungadinh. Hình từ VIETNAM: A Reporter’s War

Đình không có cơ hội học cao, nhưng thông minh, nhanh trí, và quen thuộc rất nhiều về phía nhà cầm quyền Việt Nam, từ Tổng Thống Thiệu đến các tướng lãnh và viên chức cao cấp. Nhờ đó, công việc lo giấy tờ cho các ký giả anh làm rất lẹ, và không tốn tiền hối lộ. Anh mang cả thiệp chúc Giáng Sinh và Năm Mới của TT Thiệu tới văn phòng. Không phải để loè thiên hạ, anh quen lớn thật. Một hôm, tại phi trường Tân Sơn Nhất trong dịp ông Thiệu về nước sau một chuyến công du, ông đã rẽ đám ký giả, tiến lại phía Đình đang đứng với Hugh, gọi “Đình, Lại đây!”

Tại văn phòng Reuter có thông dịch viên giỏi tiếng Anh, nhưng không có khiếu làm báo. Đem một bản tin hay tuyên bố tiếng Việt về, liền được dịch sang tiếng Anh rất đúng văn phạm. Nhưng dịch xong, người dịch không có ý kiến gì về nội dung. Trong khi ấy, nếu đi với Đình tại một cuộc họp báo, có khi chỉ cần nghe nửa chừng, Đình đã quay sang bảo: “Story now”, có chuyện rồi, thế là phần đáng chú ý nhất của lời tuyên bố đã nắm được, có thể viết thành tin gửi đi ngay. Ngoài thông minh và nhanh trí, Đình còn là người tận tâm. Tuy có vợ và ba con, trừ những giờ ngủ ở nhà, bất cứ ngày đêm, Đình đều có mặt tại văn phòng, kể cả ngày Tết.

Trước Tết Mậu Thân (1968), như thông lệ, đã có thoả thuận đình chiến giữa đôi bên; thường là một tuần. Năm ấy, phía VC cũng muốn như vậy, bắt đầu từ 27 tháng 1. Nhưng phía Hoa Kỳ và VNCH không muốn phía Cộng Sản có thời gian dài như vậy để tập trung lực lượng, đã phản đề nghị, rút thời gian ngưng chiến xuống còn có 48, và cuối cùng là 36 giờ, bắt đầu từ 6 giờ chiều Thứ Hai ngày Tất Niên (29-1), đến 6 giờ sáng Thứ Tư, mùng Hai Tết (31-1).

Chiều mùng Một Tết (30-1), tuy có tin đánh nhau ở Huế và Đà Nẵng, nhưng cũng tưởng đó chỉ là chuyện vi phạm ngừng chiến thường sảy ra mỗi năm. Sài Gòn vẫn hoàn toàn yên tĩnh, ăn Tết như thường lệ. Tại văn phòng Reuter ở đường Hàn Thuyên, ngay trước Dinh Độc Lập ở phía trái, nhìn sang nhà thờ Đức Bà phía tay mặt, Hugh Lunn ngồi viết nốt bản tin về mấy vụ vi phạm ngừng chiến, trong khi bạn gái ngồi đợi, trước khi hai người đi “dung dăng dung dẻ” chung vui ngày Tết.

Đình cũng có mặt trong văn phòng, dù là chiều Mùng Một Tết, nhưng anh có vẻ đăm chiêu, không cười nói như mọi ngày. Rồi bỗng nhiên, tiến tới cạnh Hugh, nghiêm trang nói “Gunsmoke, you tell Miss go home” (Gunsmoke, hãy bảo cô ta về nhà). Hugh thường hay đùa dỡn với Đình, nhưng hôm nay cũng lịch sự hỏi lại, tại sao anh nghĩ là anh có quyền can thiệp vào sinh hoạt riêng tư của mình. Anh tới sát, nghiêm nghị nói: “Tonight the VC attack Saigon. She go home” (Tối nay VC đánh Sài Gòn. Cô về nhà). Bạn gái của Hugh là thư ký tại toà đại sứ Anh, mà Anh vẫn tin ở Mỹ là cuộc chiến sắp thắng lợi, ánh sáng đã le lói cuối đường hầm. Cô nghĩ rằng những gì Đình nói chỉ là cớ để xua đuổi, không muốn cô ngồi đợi, nên vùng vằng bỏ đi, về nhà ở cư xá dành cho người Anh.

Hugh và cả trưởng phòng Reuter là Jim Pringle rất hoang mang, không biết nguồn tin của Đình đúng hay sai. Đình không cho biết lấy tin từ đâu, nhưng nói chắc cuộc tấn công sẽ diễn ra vào lúc 1 giờ sáng. Quá đặc biệt tới mức khó tin, như chuyện đùa. Ngay thời chống Pháp, cộng sản chưa bao giờ dám, hay có khả năng mở mặt trận ngay tại Sài Gòn, làm sao có thể sẩy ra bây giờ. Nhưng Đình đã từng có những tin rất đặc biệt, và chính xác. Mới hơn năm trước, dịp Tổng Thống Johnson tới Việt Nam sau khi dự đám tang Thủ Tướng Úc Harold Holt năm 1966 là vô cùng đặc biệt. Trước đó, chưa tổng thống Mỹ nào tới mặt trận ngoài nước Mỹ. Chuyến đi đã được giữ kín tới phút chót. Trong khi tất cả ký giả quốc tế ở VN chưa biết ông Johnson có ghé đây không, khoan nói là ghé nơi nào. Nhưng vào nửa đêm 25 tháng 10, Đình gọi Hugh, cho biết Johnson sẽ tới Cam Ranh. Sau đó, JUSPAO mới điện thoại hỏi liệu Reuters có muốn cử người theo một chuyến đi sáng mai? Vẫn không cho biết đi đâu, và với mục đích gì. Sáng sớm hôm sau, khoàng 50 nhà báo gặp nhau ở phi trường, máy bay cất cánh rồi mới được cho biết là đi gặp Johnson, và máy bay hạ cánh mới biết là đến Cam Ranh.

Cho nên, nguồn tin của Đình không thể coi thường. Đình nói tạt về nhà một chút rồi sẽ quay lại. Thay vì về nhà làm hoà với bạn gái, Hugh và Jim ra ngoài, đi dọc đường Tự Do xuống phía bờ sông xem xét tình hình. Mọi chuyện vẫn bình thường, yên tĩnh. Cuối cùng, hai người ghé văn phòng New York Times xem các đồng nghiệp có biết tin gì đặc biệt không? Chẳng ai tin sẽ có chuyện động trời sắp sẩy ra. Uống bia, chuyện gẫu đến sau nửa đêm, Jim và Hugh tản bộ trở lại văn phòng Reuter. Cho rằng tin của Đình là tin vịt, Hugh gọi Đình nói anh khỏi bận tâm trở lại văn phòng, trừ trường hợp có chuyện đặc biệt. Tuy vậy, hai người vẫn ngồi đợi cho đến 1 giờ. Đến 2 giờ, vẫn không có chuyện gì, Jim chở Hugh tới nơi ở của cô bạn gái, rồi trở lại văn phòng Reuter.

Hugh vừa tắm rửa xong, định lên gường làm hoà với bạn gái thì bỗng ánh sáng ngoài cửa sổ loé lên như sét đánh, cùng với một tiếng nổ lớn và những tràng súng nhỏ. Cô bạn nhỏm dậy, như đã tin vào lời Đình từ đầu: “Bắt đầu rồi, phải không?” Hugh bị kẹt tới sáng sớm hôm sau mới trở lại văn phòng Reuter. Đang không biết ăn nói thế nào với Jim vì anh phải trải qua đêm kinh hoàng một mình, vừa nhận tin, viết tin, và tự mình gửi tin, Hugh cảm thấy thoát nạn khi Jim bảo: “Hugh tới ngay toà đại sứ Mỹ. Việt Cộng đã chiếm rồi”. Hugh phóng ra cửa, Jim nói theo: “Coi chừng bọn bắn sẻ bên kia đường”.

Trận đánh tại toà đại sứ Mỹ theo ký giả Reuter

Sau đây là lời kể của Hugh Lunn, dịch từ VIETNAM: A Reporter’s War từ trang 205 đến 210:

Tôi tạt ngang công viên đối diện Reuters để đi về phía tay mặt của con đường (Đường Thống Nhất – trước Dinh Độc Lập – chú thích của người dịch). Giống như tôi đang đi dạo vào một buổi sáng nắng ấm dưới bầu trời trong xanh, trừ âm vang của những tiếng nổ và những tràng súng máy bộc phát. Khi tôi vòng qua Thánh Đường cũ kỹ bằng gạch mầu đỏ, con đường bên ngoài Toà Đại Sứ [Mỹ] giống như một cảnh ở phim trường.

Một chiếc xe Citroen cổ lỗ đậu ngay bên ngoài, với hàng loạt lỗ đạn bắn gần chạy xéo hai bên giống như một sản phẩm của Eliot Ness: Một người Việt chết gục trên tay lái. (Eliot Ness, giới chức Mỹ nổi tiếng chống tội phạm có tổ chức như Al Capone. Mặc đầu Al Capone đã cố gắng mua chuộc nhưng không được, nhóm người của Eliot Ness được tiếng là “The Untouchables” – chú thích của người dịch). Có một chiếc xe nữa bị bắn xa hơn phía dưới, và cũng có cả một xe jeep của Quân Cảnh Mỹ, các cửa kính bị bắn vỡ tan.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image0041.jpg

Xác một VC đang được mang ra từ chiếc xe Citroen. Theo ghi nhận của Michael A. Rovedo căn cứ một phần vào “Duty Staff Log” của Tiểu Đoàn 716 Quân Cảnh Mỹ: 2:40 sáng 31 tháng 01 (mùng Hai Tết Mậu Thân), Nguyễn Văn Mười lái một xe du lịch Citroen mầu đen đi qua tòa nhà sáu tầng Đại Sứ Quán Mỹ trên Đại Lộ Thống Nhất. Anh ta mang cả một thanh kiếm Nhật để ở băng sau để lấy hên. 2:45 sáng, Đạn súng lớn bắt đầu rơi xuống thành phố. Mười lái qua lần nữa. Lần này anh hô “Tiến”! Một xe vận tải Peugeot và một xe taxi đi về phía Tây trên Đại Lộ Thống Nhất, theo bức tường phía Nam của khuôn viên rộng bốn mẫu và ngừng lại. Các công binh bắt đầu mang khí giới và khí cụ xuống, trong khi những người khác bước ra khỏi bóng tối.

————

Một bên bức tường trắng cao bọc quanh toà đại sứ sáu tầng đã bị bung ra một lỗ nhỏ làm lối vào pháo đài cho đến giờ vẫn tưởng là bất khả xâm nhập. Không thấy dấu vết của những lính gác người Việt – chòi canh nhỏ của họ ở bên ngoài trống không. Phía đường bên kia toà đại sứ có nhiều cây lớn – đàng sau mỗi cây có một người Mỹ. Nhiều người mặc quần áo ngủ, nhiều khi áo ngủ lòi ra dưới áo giáp. Họ nhắm súng M-16 về hướng toà đại sứ của mình. Phía tường trắng trước toà nhà có ba nơi bị bể bởi các loại đạn phóng.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image0061.jpg

(Hình của Viện Lịch Sử Bộ Binh Mỹ – US Army Military History Institute)

Trừ một tay bắn sẻ người ta nghĩ là đang ẩn náu trong toà nhà xây dựng dở dang phía xa tay mặt tôi, ở phía bên toà đại sứ của con đường là nơi an toàn nhất: Tất cả các toà nhà đều có tường gạch cao hay được xây sát lối đi nên không ai ở toà đại sứ có thể bắn vào điểm này. Và những lính Mỹ đang canh chừng phía đường bên kia, kể cả những người mai phục dưới những chiếc xe bị bắn, có thể chặn bất cứ ai xuống đất để bắn.

Tôi thận trọng theo tường rào xuống phía dưới, qua một Quân Cảnh Mỹ trên lề đường đang lắp thêm đạn vào súng. Gần đó hai người trong số họ nằm chết, sấp mặt trên đường. Họ đã bị bắn khi có một người Việt chặn lại, người này là Việt Cộng.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/us-consulate-skirmishes-Tet-1968_thumb.jpg

Bên cạnh xác hai binh sĩ Hoa Kỳ nằm chết ở phía trước, Quân Cảnh Mỹ nấp đằng sau một bức tường ở lối vào tòa đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày đầu tiên của cuộc tấn công Tết Mậu Thân, 31 tháng 1 năm 1968
(Hình của Hong Seong-Chan/AP – nguồn: 
Atlantic Magazine)

Mặc dầu có đầy lính tráng và súng ống, con đường này bây giờ rất yên lặng, giống như một người chiếu phim đã tắt phần âm thanh. Tôi không chắc đi bao xa nhưng tôi phải tới càng gần càng tốt, để cảm nhận được điều gì đang xẩy ra, và trở lại văn phòng để viết một bản tin. Sát tường ngay cạnh lối xe vào toà đại sứ, một nhóm người Mỹ đang nhòm quanh phía góc, súng trên cánh tay sẵn sàng nhả đạn. Một trong số họ quay sang nói với tôi là phải ra khỏi đây vì Việt Cộng ở khắp nơi, và bọn bắn sẻ, cùng với mìn. Một vài sĩ quan tôi nói truyện với cho biết Việt Cộng ở ngay trong toà nhà, nhưng không biết bao nhiêu.

Việt Cộng đã gây bất ngờ cho những người gác bằng cách đến trong những chiếc xe dân sự. Một người lính nói với tôi rằng một Việt Cộng đã bắn hai Quân Cảnh Mỹ bằng cách chặn họ lại sau giờ giới nghiêm và xin lửa hút thuốc. Tôi tới sát bức tường nhìn thẳng ra chiếc xe Citroen có đầy vết đạn thì nghe tiếng súng lại bắt đầu từ cả hai phía. Một trong nhóm binh sĩ Mỹ cùng với tôi ở gần lối vào, người bự nhất trong số họ, ghì một khẩu súng máy M-60 vào ngang hông, vừa chạy vừa bắn qua lối vào, miệng la “Tôi sẽ vào thanh toán bọn khốn kiếp này – I’m going in to get those mother-fuckers”. Nhưng anh ta chỉ chạy được chừng hai mét trên đất toà đại sứ. Sau khi anh ngã xuống, tôi vẫn còn nhìn thấy đôi bốt của anh về phía tôi ở cửa lối vào – nhưng tôi không nhìn quanh cột trụ. Tập trung hoả lực không sẩy ra vì người Mỹ không có mục tiêu để bắn. Thật mỉa mai, đại sứ quán của họ đã được thiết kế quá tốt như một pháo đài đề có thể dễ dàng chiếm lại. Chẳng ai biết bốn Cảnh Sát Việt Nam có nhiệm vụ canh gác toà nhà đang ở đâu, nhưng hai trong số ba Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ canh gác đã bị thương, và họ đã chiến đấu trong khi rút lui vào tầng trên cùng. Nhiều binh sĩ mở đường vào và chẳng bao lâu kéo được người bạn tử sĩ ra ngoài. Nằm khoảng một giờ trong khi trận đánh xẩy ra chung quanh.

Việt Cộng đánh nhau trên lãnh thổ Hoa Kỳ, tại toà đại sứ, lần đầu tiên từ khi có chiến tranh. Quân Cảnh bảo các nhà báo gần cổng tránh ra. “Có nhiều mìn ở quanh đây”, một người nói. Binh sĩ nói Việt Cộng đang giữ năm tầng dưới của toà nhà.

Tôi lẻn về văn phòng, đi sát tường, để bắt đầu giúp Pringle cạnh tranh với các hãng thông tấn khác: Việt Cộng đang trong Đại Sứ Quấn Mỹ; người Mỹ đang từ sau mọi gốc cây, chiến đấu dành lại pháo đài của mình; vẫn có một số người Mỹ còn sống bên trong; một binh sĩ cố gắng đột nhập toà đại sứ của mình bằng một khẩu súng máy. Và vẫn chưa tới giờ ăn sáng.

Bây giờ Đình đã tới được văn phòng – một chuyện thật nguy hiểm đối với một người Việt Nam trong khi trận đánh vẫn còn đang tiếp diễn khắp thành phố và người Mỹ sẵn sàng bắn bất cứ người Việt nào không mặc binh phục VNCH. May mắn cho tôi là Pringle vẫn còn bực mình vì tôi đã không trở lại đêm qua. Đình cười với anh, lắc đầu và nói: “No. No, Jim, he cannot to do” Không. Không được đâu Jim, anh ta không thể làm được. Đình đã phải đi qua khu cư xá của người Anh để tới văn phòng, nhờ đó anh có thể nói với Jim về những xác chết bên ngoài chung cư.

Sau khi viết bản tin Đình và tôi cả hai cùng trở lại mặt trận toà đại sứ. Nhưng khi chúng tôi vừa tới nơi, một lính Mỹ la to trước Đình, “OK Charlie”, rồi chĩa súng vào anh. Tôi đã chờ đợi nguy hiểm từ phía Việt Cộng, và sự bất ngờ từ phía Mỹ làm tôi cứng họng. Chỉ còn Đình đã nhanh trí la to, “I not Viet Cong, I number one anti-communist”. Tôi không phải Việt Cộng, tôi chống cộng số một. Người Mỹ hạ súng xuống, nhưng sau đó Đình nói rằng anh đã có thể nhìn thấy vẻ bối rối trên mặt anh lính Mỹ. “Vì làm sao anh ta có thể biết được? Không thể” (For how he really know? Cannot).

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image008_thumb2.jpg

Hai Quân Cảnh Mỹ áp giải một Việt Cộng từ khuôn viên Toà Đại Sứ
(Hình của Don Hirst, người chụp hình của Bộ Binh Mỹ)

Chúng tôi luồn lỏi sau từng gốc cây rồi dọc theo bức tường và, vừa lúc tới toà đại sứ, một số trong những người lính Mỹ quả cảm đã chiến đấu mở đường vào khuôn viên toà đại sứ đang mang ra một du kích quân bị bắt. Bốn lính Mỹ hùng hổ chĩa mũi súng vào lưng hắn. Khi đi qua mặt tôi, hai tay hắn giơ lên, tôi nhìn thấy vẻ mặt thách thức của hắn, rồi nhìn tới vẻ đanh lại trên nét mặt của bốn lính Mỹ. Một sĩ quan nhìn họ la lên không được bắn, giữ hắn làm tù binh. Tôi cũng đã lo một trong số họ có thể thể lẩy cò. Những bộ mặt giận dữ cho thấy họ cảm nhận thế nào khi chẳng những thấy Việt Cộng lần đầu tiên, mà còn là kẻ đầu tiên trong đám Việt Cộng đã chiếm một phần lãnh thổ Hoa Kỳ.

Sau đó ít lâu một trực thăng đáp xuống trên nóc toà đại sứ và binh sĩ bắt đầu chiến đấu mở đường xuống toà nhà, tới chỗ những người khác đang chiến đấu mở đường ra cửa trước. Chiếc trực thăng đã phải bay đi vì bị bắn lần đầu nhưng trong cố gắng thứ nhì, sức kháng cự của Việt Cộng có vẻ không còn bao nhiêu – có thể đến lúc này họ chỉ còn ít đạn, và bị mất tinh thần vì sự kiện ba thuỷ quân lục chiến đã có thể giữ vững tầng trên cùng.

Đình và tôi vội trở lại văn phòng nơi tôi đánh máy kể lại tất cả những gì chúng tôi đã nhìn thấy cho một thế giới chúng tôi tưởng tượng là đang đói tin về cuộc tấn công gây sốc. Khi chúng tôi trở lại toà đại sứ, mười chín Việt Cộng thuộc đội cảm tử bên trong đã bị giết hay bị bắt.

Lúc đó là giữa buổi sáng. Đình kéo tôi sang một bên và chỉ vào hai xác Việt Cộng nằm gần. Anh nhận xét rằng dưới bộ quần áo đen của họ là sơ mi trắng thông thường, và cả hai có đeo đồ trang sức. “Không phải Việt Cộng nông dân, mà là người Sài Gòn nằm vùng” (Not Viet Cong peasants. Saigon underground man). Đình tin rằng hai Việt Cộng này là người địa phương đã chờ đợi được gọi đi để chiến đấu cho Việt Cộng trong cuộc tấn công. “Not communist Viet Cong man, communist underground man show way”. Không phải là Việt Cộng của cộng sản, đây là cộng sản nằm vùng chỉ đường, Đình nói. Mọi người khác ở Sài Gòn bấy giờ tin rằng tất cả Việt Cộng đều từ trong rừng ra, nhưng Đình không tin như vậy. Và bây giờ tôi tin anh – cũng như đáng lẽ tôi đã phải tin anh từ đêm trước.

Nhiều nhà báo đã tới và đi trong trận này nhưng bây giờ chỉ còn vài người gần toà đại sứ. Huy hiệu của Đại Sứ Quán đã bị Việt Cộng bắn tung và nằm dưới chân lối vào. Những cánh cửa gỗ dầy mười phân bị thủng lỗ bởi hoả tiễn chống xe tăng, và bên trong, sàn nhà phủ đầy máu và mảnh vụn. Những ký giả đứng quanh quẩn, hoài nghi hơn bao giờ, không hiểu phía quân sự Mỹ sẽ nói gì bây giờ. Rõ ràng là ánh sáng đã không còn tại cuối đường hầm.

Trên toàn quốc, hầu như tại tất cả các thành phố và thị trấn tại Nam Việt nam, rất nhiều trận đánh đang diễn ra. Nơi nào đó trong Sài Gòn, Việt Cộng tại một nhà máy, tại một nghĩa trang, tại một toà nhà công sở ở Chợ Lớn, và tại trường đua. Nhưng trận đánh tại toà đại sứ là cú đấm thục mạng vào nỗ lực chiến tranh đã hao mòn của Mỹ. Ngay cà Đình cũng nói, hầu như không thể tin được, “The VC capture Pentagon East”, Việt Cộng đã chiếm Ngũ Giác Đài phía Đông.

Thật ra, vụ thất bại về tâm lý cỡ đó đã khiến bộ máy vận động quần chúng của Mỹ hoạt động ngay. Họ gọi văn phòng Reuter phủ nhận tin tức của chúng tôi nói rằng Việt Cộng đã ở bên trong toà đại sứ của họ. Tôi nói rằng chính tôi đã ở đó. Tôi mô tả cho người phát ngôn rằng Việt Cộng đã bắn ra từ trong toà nhà như thế nào và rằng toà đại sứ đã bị chính người Mỹ bắn vào vì họ không thể vào bằng cửa chính. Ông ta có vẻ nhượng bộ. Sau đó họ thay đổi câu truyện để nói rằng Việt Cộng đã vào trong nhà “nhưng không phải khu vực thực sự là toà đại sứ”, lập trường của họ suy thoái thành sự chính xác của ngữ cảnh. Nhưng người dân trên toàn thế giới, và đặc biệt là dân Mỹ, đã nhìn thấy hình ảnh, và đọc tin về Việt Cộng đã ở trong pháo đài toà đại sứ như thế nào và họ sốc, kinh hoàng: trong nhiều năm, họ đã được nghe rằng tình hình quân sự vẫn tiến triển và khá hơn mỗi tháng. Cuối cùng, thế giới đã được biết nước Mỹ đang thua cuộc chiến đầu tiên.

Việt Cộng cũng tấn công Phủ Tổng Thống đêm đó, họ gọi: “Mở cổng, chúng tôi tới giải phóng nơi này”. Tuy nhiên, họ đã không phá nổi cổng, và bị đẩy lui vào một khách sạn đang xây dở và cầm cự tại đó trong ba ngày, chống trả xe tăng và hàng trăm binh sĩ.

Võ khí đã được tàng trữ tại những chỗ như hãng làm bia tại ngoại ô Chợ Lớn, trường đua ngựa, và khu nhà máy mới xây gần phi trường từng được coi như một thành tích công nghệ hoá được kịp thời hoàn thành tại Nam Việt Nam. Cơ sở này, một nơi Việt Cộng lẩn trốn, đã bị chiến đấu cơ của chính quyền bỏ bom vài ngày sau.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image010_thumb2.jpg

Trường đua Phú Thọ ở Chợ Lớn biến thành chiến trường.

(đọc tiếp phần II)

*

*

BÍNH THÂN NÓI CHUYỆN MẬU THÂN Ở SÀI GÒN –   PHẦN 2  

Đinh Từ Thức

09.02.2016

http://damau.org/archives/41246

 

Trận đánh tại toà đại sứ theo ký giả ABC và NBC

Theo Hugh Lunn, VC đã vào trong toà nhà chính của Đại Sứ Quán, và đã chiếm năm tầng dưới trong sáu tầng. Nhưng theo hai ký giả khác, một người là Don North làm cho ABC và NBC, và người kia là Peter Arnett làm cho AP, cũng có mặt tại chỗ, đã nghe Quân Cảnh Mỹ nói với nhau qua radio là VC đã chỉ vào được tầng dưới cùng. Sau đây là lời kể của Don North (1)

Là một ký giả của ABC và NBC News ở Việt Nam, tôi đã chứng kiến Tết và phần lớn những trận đánh, từ Khe Sanh ngày 30 tháng 1 đến Huế ngày 25 tháng 2 khi Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ trấn giữ cửa đông nam vào Thành nội, chấm dứt cuộc bao vây Huế. Nhưng chính trận đánh ở Toà Đại Sứ Mỹ sáng sớm 31 tháng 1 là vụ quan trọng nhất đã xẩy ra trong toàn cuộc chiến.

Tại một tiệm sửa xe đầy dầu mỡ ở 59 Phan Thanh Giản, ngay trước khi VC tấn công Sài Gòn, 19 công binh VC lên một chiếc xe vận tải cỡ nhỏ hiệu Peugeot và một xe taxi bắt đầu một chuyến đi ngắn tới địa điểm là Toà Đại Sứ Hoa Kỳ. Mặc quần áo mầu đen, đeo băng đỏ, họ là một phần của thành phần chọn lọc gồm 250 người thuộc tiểu đoàn công binh C-10. Hầu hết họ sinh ra tại Sài Gòn và biết rõ đường phố của một thành phố đông dân.

Hai ngày trước, những xà-cạp nặng, thường dùng đựng cà chua, cũng như những thúng đựng gạo, đã được đem đến căn nhà cạnh tiệm sửa xe. Chúng chứa đầy AK-47, B-40 hoả tiễn phóng lựu và mìn bộc phá để 19 người sẽ dùng vào chiều hôm đó. Sau nửa đêm, các chiến binh được cho biết lần đầu mục tiêu của họ là Toà Đại Sứ Mỹ. Không có mô hình mẫu địa điểm, không có chỉ thị sẽ làm gì sau khi đột nhập cơ sở, không nói gì tới cứu viện hay đường tháo lui, cũng không xác nhận đây có phải là một vụ cảm tử.

(Phần chữ nghiêng trên đây, Don North viết trong bài có tựa đề “An American Reporter Witnessed the VC Assault on the U.S. Embassy During the Vietnam War” – Một phóng viên Mỹ chứng kiến VC tấn công vào Đại Sứ Quán Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam – vào tháng Hai năm 2001, cho Vietnam eContent Feature, đăng trên Vietnam magazine. Bảy năm sau, trong một bài mang tựa đề “Tet Plus 40: US-Vietnam Turning Point” – Tết cộng 40: Khúc quanh Mỹ-Việt Nam – viết cho consortiumnews.com, đăng ngày 30 tháng 01 năm 2008 như một tường trình đặc biệt nhân kỷ niệm 40 năm vụ tấn công Tết Mậu Thân, tác giả vẫn giữ nguyên cả bài như cũ, nhưng phần trên đây được thay đổi như sau):

Vào nửa đêm, tiến tới ngày định mệnh 31 tháng 01, 1968, 15 Việt Cộng tụ tập tại một gara sửa xe đầy dầu mỡ ở 59 đường Phan Thanh Giản Sài Gòn.

Mặc pydama đen và đeo băng tay đỏ, họ là một phần của nhóm 250 người khoẻ mạnh chọn lọc của Đơn vị Biệt động J-9, trước kia được biết như là tiểu đoàn công binh C-10. Phần lớn họ sinh ra tại Sài Gòn và biết đường lối trong môt thành phố đông đúc.

Chỉ có tám trong số được huấn luyện về công binh, chuyên viên đặt và gỡ mìn và chất nổ. Bảy người khác là thư ký hay đầu bếp đã gia nhập một sứ mạng nguy hiểm chỉ vì muốn thoát khỏi sự khổ cực của cuộc sống trong rừng.

Họ sẽ được giúp bởi bốn người Việt khác, là nhân viên dân sự tại toà đại sứ, kể cả một trong những tài xế của Đại Sứ Ellsworth Bunker.

Nguyen Van Giang, được gọi là Đại Uý Ba Den, là sĩ quan chỉ huy của đơn vị J-9, đã được chỉ định hướng dẫn toán đặc công. Vào buổi sáng hôm trước cuộc tấn công, Ba Den gặp Nguyen Van De, tài xế của ông đại sứ, người này chở Ba Den trên một xe Hoa Kỳ loại station wagon đi qua toà đại sứ, chỉ cho biết đó là mục tiêu bí mật cho cuộc tấn công Tết.

Biết rõ mục tiêu, Đại Uý Ba Den bị tràn ngập bởi nhận thức là hầu như chắc chắn anh ta sẽ không thoát chết vào hôm sau.

Suy nghĩ về cái chết của mình – và vì đó là chiều ba mươi Tết – Ba Den đã uống vài chai Bia 33 tại Chợ Sài Gòn và mua một tràng pháo, như anh ta đã làm mỗi dịp Tết từ khi còn nhỏ.

Rồi Ba Den đi qua đường Trần Quý Cáp, tìm căn nhà nơi anh ta đã sống với vợ và các con sáu năm trước.

Khuya đêm ấy, anh ta nhập với đồng bọn tấn công khác tại đường Phan Thanh Giản.

Đại Uý niên trưởng Bay Tuyen trình bầy cho họ về sứ mạng và phân phát võ khí. Các công binh được chỉ thị giết bất cứ ai chống cự nhưng bắt làm tù binh bất cứ ai đầu hàng. Điềm gở là họ đã không được cho biết đường thối lui (2).

Vụ tấn công toà đại sứ có thể chỉ là một phần của tiểu đoàn công binh được chỉ định mở đầu cuộc tấn công Sài Gòn, được hậu thuẫn bởi 11 tiểu đoàn khác, tổng cộng khoàng 4.000 người. Đã có ít thời gian để thực tập. Những gì họ thiếu sót trong kế hoạch sẽ được bù đắp bởi sự khẩn trương, mục đích và sự liều mạng của cuộc tấn công.

Nhiệm vụ của tiểu đoàn sáng hôm đó là chiếm sáu mục tiêu: Đại Sứ Quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Đài Phát Thanh quôc gia, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, Bộ Tư Lệnh Liên Quân VNCH tại Tân Sơn Nhất, và Toà Đại Sứ Phi Luật Tân. Quân tấn công sẽ giữ các mục tiêu này trong 48 giờ cho đến khi các tiểu đoàn VC vào thành phố thay thế. Những người thoát chết được thăng thưởng ngay.

Trong tất cả các mục tiêu, sự quan trọng hàng đầu của Toà Đại Sứ Mỹ là điều hiển nhiên. Mới hoàn thành ba tháng trước với phí tổn 2.6 triệu đô la, và toà nhà sáu tầng sừng sững ở Sài Gòn như một pháo đài bất khả nhập. Nó nhắc nhở sự hiện diện thường trực của Hoa Kỳ, uy tín và sức mạnh. Không cần để ý tới Nha Trang, Ban Mê Thuật hay Biên Hoà cũng bị tấn công sáng hôm đó. Hầu hết người Mỹ đọc tên những nơi này còn chưa được, nói chi đến sự quan trọng của chúng. Nhưng Đại Sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn? Với nhiều người Mỹ, đây là trận đánh đầu tiên của chiến tranh Việt Nam mà họ biết.

Trên đường tới toà đại sứ Mỹ, một cảnh sát dân sự người Việt nhìn thấy đám công binh này đi xe không bật đèn. Nhân viên cảnh sát thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia Nam Việt Nam này, vốn được gọi là chuột bạch, đã tránh phiền phức bằng cách lui vào bóng tối khi chiếc xe vận tải và taxi đi qua. Các lính công binh này cũng gặp may mắn tương tự khi đương đầu hàng phòng thủ đầu tiên tại toà đại sứ. Khi nghẹo vào Đại Lộ Thống Nhất họ chạm trán bốn cảnh sát, nhưng các vị này đã bỏ chạy không bắn một phát.

Lúc 2:45 sáng, đám lính công binh đến trước cổng chính Toà Đại Sứ, bắn súng liên thanh AK-47 và phóng lưu B-40. Bên ngoài lối vào toà đại sứ, hai Quân Cảnh Mỹ thuộc Tiểu Đoàn 716 — Spc. 4 Charles Daniel, 23 tuổi, ở Durham, N.C., và Pfc Bill Sebast, 20, ở Albany, N.Y. — bắn trả trong khi lui vào bên trong cửa thép nặng nề và khoá lại. Lúc 2:47, qua radio, họ phát đi tín hiệu 300 – mật hiệu của Quân Cảnh báo khi địch tấn công. Một tiếng nổ rung chuyển cả khu nhà khi lính công bình dùng mìn phá một lỗ khoảng một mét ở chân tường rào. Daniel nói vào radio Quân Cảnh, Tụi nó đang tới – giúp tôi! Rồi radio im bặt.

Hai lính công binh đầu tiên của Tiểu Đoàn C-10 chui qua lỗ được coi là hai thành viên cao cấp, Bay Tuyen và Ut Nho. Họ và hai Quân Cảnh Mỹ đều thiệt mạng trong cuộc cận chiến. Đám công binh còn lại có tới 40 pounds chất nổ plastic C-4, thừa đủ để phá đường vào toà nhà chính. Thiếu chỉ thị rõ ràng từ cấp chỉ huy đã bị giết, họ chốt tại các vị trí đằng sau những bồn hoa lớn hình tròn ở vườn cỏ toà đại sứ và bắn lại các lực lượng ngày càng đông bắn vào họ từ các nóc nhà bên ngoài toà đại sứ…

Lúc 3:30 sáng 31 tháng 1, chúng tôi ra khỏi Hotel Caravelle trên chiếc xe Jeep của ABC News. Mới ra khỏi đường Tự Do, cách toà đại sứ ba khu phố, ai đó, VC, quân VNCH, cảnh sát hay Quân Cảnh Mỹ, chúng tôi không rõ – đã nã một tràng liên thanh vào chúng tôi. Một vài viên đạn xuyên qua mui xe Jeep. Tôi vội tắt đèn quay xe lại khỏi tầm bắn, trở về văn phòng ABC chờ sáng.

Khi trời sáng khoảng 6 giờ, chúng tôi đi bộ tới toà đại sứ. Khi gần tới, chúng tôi có thể nghe tiếng súng liên hồi, với những vệt đạn xanh hay đỏ vẽ trên nền trời hồng.

Gần toà đại sứ, chúng tôi nhập bọn với một nhóm Quân Cảnh Mỹ đang đi về hướng cổng chính toà đại sứ. Tôi mở máy thu âm cho ABC radio trong khi Quân Cảnh chửi thề là đáng lẽ quân đội VNCH phải bảo đảm an ninh cho toà đại sứ. Quân Cảnh nói rằng phía Việt Nam đã bỏ chạy ngay sau phát súng đầu tiên.

Vệt đạn mầu xanh của VC đi ra từ khu toà đại sứ và từ tầng trên của những toà nhà bên kia đường. Vệt đạn đỏ bắn lại từ bên kia đường. Chúng tôi ở giữa hai làn đạn…

Nằm sát với các Quân Cảnh dưới máng xối sáng hôm đó, Arnett (hãng AP) và tôi đã không biết đám VC tấn công đóng ở đâu hay bắn ra từ đâu. Nhưng chúng tôi biết đó là chuyện lớn…

Nhiều Quân Cảnh chạy qua, một trong số họ cõng một tên VC. Tên này bị thương và đang chảy máu. Hắn ta mặc pydama mầu đen, và lạ thay, đeo một nhẫn hồng ngọc cỡ bự. Tôi phỏng vấn các Quân Cảnh và thu cuộc nói truyện qua radio của họ với đồng đội bên trong cổng toà đại sứ. Các Quân Cảnh nghĩ rằng VC đã đột nhập vào trong toà nhà chính, một cảm nhận sau này chứng tỏ là sai. Peter Arnett bò đi kiếm điện thoại gọi về văn phòng báo tin về nội dung cuộc đối thoại của Quân Cảnh. Lúc 7:25, căn cứ vào tin Arnett gọi về từ hiện trường, hãng AP đầu tiên phát đi bản tin nói rằng VC đã ở trong toà nhà chính. Bản tin nói rằng: “Việt Cộng tấn công Sài Gòn hôm Thứ Tư và đã chiếm một phần Đại Sứ Quán Hoa Kỳ. Quân Cảnh Mỹ tại chỗ nói họ tin rằng khoảng 20 Việt Cộng trong đội cảm tử đã ở trong Đại Sứ Quán và giữ một phần tầng một Toà Đại Sứ”.

Vấn đề liệu Việt Cộng đã ở trong toà nhà chính (chancery building) hay mới chỉ ở khuôn viên (compound) đóng vai quan trọng về biểu tượng. Tôi cho chạy lại cuốn băng hôm ấy vào năm 1968, và chắc chắn Quân Cảnh tin là VC đã trong toà nhà chính.

Một trực thăng đáp trên nóc toà đại sứ, và quân sĩ bắt đầu xuống các tầng dưới. Quân Cảnh Dave Lamborn nhận chỉ thị qua radio từ một sĩ quan trong khuôn viên: Đây là Waco. Bạn có thể vào cổng bây giờ không? Mang một lực lượng vào đó và thanh toán toà đại sứ, bây giờ. Sẽ có trực thăng trên nóc nhà và binh sĩ kéo xuống. Cẩn thận đừng bắn người nhà…

Tôi dẵm lên tấm huy hiệu Hoa Kỳ, đã bị bắn tung khỏi tường toà đại sứ gần lối vào bên cạnh. Chúng tôi chạy qua cửa chính vào trong vườn, nơi đã diễn ra một trận đẫm máu.

Trong khi các trực thăng tiếp tục đổ quân trên nóc nhà, chúng tôi ngồi với một nhóm Quân Cảnh trên bãi cỏ. Họ bắn về phía một biệt thự nhỏ trong khuôn viên toà đại sứ nơi họ nói là ổ VC cầm cự cuối cùng. Những bình hơi cay được ném qua cửa sổ nhưng hơi ga dội lại ra vườn. Đại Tá George Jacobson, phối hợp viên của phái bộ, cư ngụ ở biệt thự đó, và bất thình lình xuất hiện nơi cửa sổ ở lầu nhì. Một Quân Cảnh tung lên cho ông mặt nạ tránh ga, và một khẩu súng ngắn .45. Ba VC được cho là đang ở tầng một và sẽ phóng lên lầu để tránh hơi cay.

Tôi tiếp tục mô tả mọi sự chứng kiến vào trong máy thu âm, thỉnh thoảng khựng lại vì hơi cay. Tôi có thể đọc thẻ ID do toà đại sứ cấp trong ví của Nguyen Van De mà xác hắn nằm xõng xoài ngay cạnh tôi trên bãi cỏ. Nguyen sau này đã được nhận diện là một tài xế của toà đại sứ, thỉnh thoảng lái xe cho Đại Sứ Mỹ và từng làm tài xế tới 16 năm. Quân Cảnh nói với tôi là Nguyen Van De đã bắn họ lúc khởi đầu trận đánh và có thể hắn ta là nội tuyến cho đám tấn công.

Giữa lúc căng thẳng, tôi đã bị chia trí bởi một con cóc to, nhảy qua và làm tung toé những vũng máu đặc trên cỏ. Đó là một trong những hình ảnh không bao giờ đi khỏi và cứ trở lại bất ngờ.

Một tràng súng liên thanh khiến tôi bừng tỉnh. Tên VC cuối cùng còn hoạt động phóng lên lầu, nã súng vào Đại Tá Jacobson, nhưng bắn trật.

Sau này vị đại tá nói với tôi: Cả hai chúng tôi nhìn thấy nhau cùng lúc. Hắn bắn trật, tôi bắn thẳng vào hắn bằng một phát .45. Sau này Jacobson thú nhận rằng cô bạn gái Sài Gòn đã ở cạnh ông, và chứng kiến mọi chuyện từ đầu dưới tấm khăn trải gường.

Số thiệt mạng trong trận đánh toà đại sứ gồm có năm quân nhân Mỹ cùng với 17 trong số 19 công binh VC. Hai công binh thoát chết nhưng bị thương về sau được thẩm vấn và chuyển giao cho quân đội VNCH.

Trận đánh toà đại sứ Mỹ kể từ bên trong

Theo ký giả Reuter Hugh Lunn, vào sáng sớm Mùng Hai Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã chiếm năm tầng dưới trong sáu tầng toà nhà chính (chancery building) Đại Sứ Quán Mỹ ở Sài Gòn. Theo ký giả Don North của ABC và NBC News, và Peter Arnett của AP, nghe qua đối thoại của Quân Cảnh trong lúc đang đánh nhau, họ nghĩ rằng VC đã vào được tầng dưới cùng của toà nhà chính. Trong khi ấy, theo báo cáo của một viên chức ngoại giao trực đêm trong toà nhà chính, VC đã không hề có mặt bên trong toà nhà này (3).

Báo cáo của ông E. Allan Wendt, một viên chức ngoại giao (Foreign Service officer) đã được viết rất chi tiết ngay sau vụ tấn công, nhưng bị xếp vào loại tài liệu mật, mãi đến ngày 04 tháng 03 năm 1981 mới được công bố lần đầu tiên bởi báo The Wall Street Journal. Sau đây là những điểm đáng chú ý trích dịch từ báo cáo của ông E. Allan Wendt:

Tôi đã ngủ trong phòng 433, khu dành cho viên chức trực, khi toà nhà rung chuyển vì một tiếng nổ lớn ngay trước 3 giờ sáng. Tôi lăn khỏi giường và chộp điện thoại. Tiếng súng máy rền vang. Tôi gọi ông Calhoun tại nhà ổng. [John A. Calhoun là giới chức phụ trách chính trị của toà đại sứ]. Trong khi tôi đang nói, một tiếng nổ khác bung vào toà nhà. Nhớ ra cần phải núp để tránh mảnh vụn trong trường hợp có bom nổ, tôi bò vào dưới gầm giường trong khi nói với ông Calhoun.

Tôi chui ra khỏi gầm gường giữa lúc [James A.] Griffin, người trực về truyền tin, đi vào và hỏi chuyện gì đang sẩy ra. Tôi nói không biết chắc, nhưng tôi nghĩ rằng toà đại sứ đang bị tấn công. Tôi vội mặc quần áo, thu góp vài vật dụng cá nhân của tôi, rồi rút lui vào phòng truyền tin bên cạnh, nơi đó an toàn hơn phòng trực và có nhiều điện thoại hơn. Chẳng ai trong chúng tôi biết rõ về cuộc tấn công hay Việt Cộng đã vào trong toà nhà chưa. Vì thế, một trong những phản ứng đầu tiên của chúng tôi là đóng cánh cửa vòm vào phòng truyền tin.

Tôi gọi nhà ông Calhoun, và đến giờ đó ông [David J.] Carpenter thuộc khối chính trị và ông [Gilbert H.] Sheinbaum, phụ tá ông Đại Sứ đã tới đấy và thiết lập bộ chỉ huy. Tôi báo cáo rằng tôi đã chuyển sang phòng truyền tin và có thể gọi tôi qua các số phụ 321 hay 322…

Súng tự động tiếp tục bắn, thỉnh thoảng xen kẽ bởi những tiếng nổ lớn mà chúng tôi nghĩ là hoả tiễn hay moọc chê. Tất cả tiếng súng và tiếng nổ có vẻ như rất gần, đến nỗi chúng tôi sợ rằng chẳng những không tránh được chuyện toà đại sứ bị đột nhập mà ngay tính mạng của chúng tôi cũng rất nguy hiểm. Thật vậy, chúng tôi nghĩ hy vọng duy nhất của chúng tôi là đóng chặt cửa vòm vào phòng mật mã rồi ở trong đó. Chúng tôi biết rằng phải có sức công phá mạnh để phá bung cửa đó, nhưng chúng tôi không loại bỏ khả thể là Việt Cộng có thể làm chuyện đó.

Sau đó chúng tôi gọi cho Thuỷ Quân Lục Chiến gác dưới tầng trệt bên trong toà đại sứ. Chính tôi nghĩ rằng có thể anh đã chết. Tôi ngạc nhiên khi anh trả lời, và rõ ràng trong tình trạng rất bối rối, anh nói rất mạch lạc. Đây là lần đầu trong rất nhiều lần đối thoại với Trung Sĩ [Ronald W.] Harper, người mà trong tình trạng khó khăn, vẫn tồn tại như là nguồn tin duy nhất của chúng tôi về những gì đang sẩy ra trong khuôn viên.

Harper nói với chúng tôi là VC đã ở trong khuôn viên nhưng không ở trong toà nhà chính của toà đại sứ. Ảnh nói anh có thể nghe chúng nói chuyện bên ngoài toà nhà. Anh không biết chúng có bao nhiêu người. Vài phút sau, Harper nói với chúng tôi anh có một Thuỷ Quân Lục Chiến bị thương ở dưới tầng trệt. Ảnh yêu cầu chúng tôi xuống mang anh thương binh lên.

Chúng tôi thận trọng xuống tầng trệt bằng thang máy. Với sự giúp sức của Trung Sĩ Harper, tôi mang anh thương binh TQLC vào thang máy. Rồi Griffin xuống giúp tôi mang anh lên tầng bốn. (Và rồi sau đó, chúng tôi luôn khoá thang máy tại chỗ, đề nếu VC có vào trong toà nhà, thì không thể bấm nút cho xuống được). Một thoáng nhìn với sợ hãi vào tầng trệt, thấy rõ nhiều thiệt hại đáng kể đã sẩy ra. Tình trạng với chỉ một TQLC còn lại có vẻ hoang vắng. Chúng tôi khiêng anh thương binh vào lầu bốn. Chân anh có vẻ bị gẫy, và rõ ràng anh đang bị sốc…

Đến giờ này, theo sự hiểu biết của tôi, sau đây là những người có mặt trong toà nhà: Tôi, Griffin, Trung sĩ Harper, Fisher [một nhân viên truyền tin của Bộ Binh] và ba nhân viên truyền tin của OSA – Office of Special Assistant, tên của CIA ở Việt Nam, tất cả là 7 người, không kể anh thương binh TQLC…

Vào 4 giờ sáng, Thiếu tá Hudson gọi. Chúng tôi cho ông biết về những gì chúng tôi đã thấy. Ông đã được biết về một TQLC bị thương và nói một trực thăng tải thương sẽ đến chở anh đi.Chúng tôi phải mang anh lên mái nhà để chờ trực thăng. Tuy nhiên, chỉ có anh TQLC gác dưới trầng trệt có chìa khoá mở hai cửa để từ tầng sáu lên nóc nhà. Chúng tôi gọi Harper là chúng tôi cần chìa khoá. Anh bảo ai đó dùng thang máy xuống, đứng ở góc để tránh đường bắn, anh sẽ ném chìa khoá vào cho. Fisher đã làm chuyện này trong vài phút…

Thiếu tá Hudson nói trực thăng sẽ đến trong 15 phút. Sau nửa giờ, chúng tôi gọi Hudson, ổng nói trực thăng tới nhưng đã phải bỏ đi, vì trúng đạn địch. Chuyện này sẩy ra vào lúc 5:30 sáng, và đó là lần đầu trực thăng định đáp…

Một trong nhiều chuyến lên mái nhà – vào khoảng 6:15 – tôi thấy một TQLC võ trang gác ở tầng lầu dưới mái nhà, bò quanh với một khẩu súng trường. Tôi hỏi làm cách nào anh tới đây được, vì tôi tưởng chỉ có một TQLC gác trong toà nhà, là người dưới tầng trệt. Ảnh nói anh vẫn ở đó… Nửa giờ sau, trở lại mái nhà, tôi được biết trực thăng đã tới, tiếp tế đạn M6, và mang anh thương binh đi… Tôi vô cùng kinh ngạc khi được biết anh TQLC và anh lính Bộ Binh đã lên trực thăng ra đi…

Trong thời gian này đã có nhiều người gọi tới toà đại sứ. Ông Philip Habib [lúc ấy là phụ tá Phó Ngoại Trưởng Hoa Kỳ] gọi hai lần từ Phòng Tình Hình toà Bạch Ốc. Một người từ cảnh sát Việt Nam muốn nói truyện với một trong các nhân viên OSA…

Một nhân viên người Việt bị bỏ lại ở phòng truyền tin không mật dưới tầng trệt gọi và xin phép được về nhà. Ông nói đã làm việc trong nhiều giờ và mệt. Tôi nói với ông ta là tôi rất buồn nhưng ông phải ở lại tại chỗ cho đến khi ngừng bắn.

Giữa khoảng 6:30 và 7 giờ. Thiếu tá Hudson gọi để nói rằng không có hạ cánh trước khi trời sáng, vì không nhìn rõ, mặc dầu có đèn trên mái nhà.

Cuối cùng, rạng đông ló dạng. Thiếu tà Hudson nói tình trạng đã trở thành nguy kịch. Chúng tôi đồng ý. Ông ấy nói kế hoạch cuối cùng là xit hơi cay vào Việt Cộng trong khuôn viên rồi hạ binh sĩ từ mái nhà xuống. Trực thăng chở hơi cay sẽ bay đi ngay. Chúng tôi gọi ngay Trung Sĩ Harper nói cho anh biết kế hoạch này. Anh nói hãy ngừng ngay việc dùng hơi cay, vì bây giờ (khoảng 7:30) Quân Cảnh Mỹ đang đánh mở đường tiến vào khuôn viên. Có thể chúng ta sẽ xịt ga vào người của mình. Tội gọi ngay lại cho Thiếu Tá Hudson. Sau 15 phút chậm trễ, ông ấy nói có thể vẫn dùng hơi ga. Có một lúc, ông ấy nói đừng lo vì kỵ binh đang tới. Tôi đã từng nghe nhiều về không kỵ làm tôi nghĩ rằng ông ấy nói chuyện nghiêm chỉnh.

Thiếu tá Hudson, có lẽ căn cứ vào những cuộc nói truyện với Trung Sĩ Harper, đã thảo một kế hoạch cho trận đánh mà ông ấy nói chúng tôi phải gặp người chỉ huy trung đội ngay sau khi binh sĩ tới nóc nhà.

Theo kế hoạch, binh sĩ sẽ kéo xuống bằng cầu thang ở hai bên toà nhà, thay vì xuống bằng thang máy, vì ngay trong đường bắn. Khi tới tầng trệt, họ sẽ dùng các lối đi bên hông để vào khuôn viên. Những cửa này khoá đối với bên ngoài, nhưng có thể đẩy mở ra từ bên trong.

Không khí tại phòng mật mã nói chung rất nghẹt thở, pha trộn với bực bội và thất vọng. Thỉnh thoảng, mức căng thẳng giảm bớt, nhưng đôi khi, một hoả tiễn nữa lại đụng tường, khiến chúng tôi trở lại với cảnh ngộ của mình. Thỉnh thoảng tiếng súng cũng thưa thớt, nhưng chẳng bao giờ được lâu.

Sau khi trời đã sáng bảnh, những chuyến lên mái nhà cho thấy nhiều trực thăng bay lượn, tuy nhiên, chảng thấy cái nào định đáp xuống. Chúng tôi chờ đợi, luôn thắc mắc tại sao không có cái nào đáp. Khoảng 8:15, tôi trở lại mái nhà. Nhân viên truyền tin của OSA đã trở lại phòng mật mã, khiến trên mái nhà không có ai. Khi bước ra khỏi thang máy ở tầng sáu, tôi đối diện một khung cảnh lạ. Trước mặt tôi là năm binh sĩ nhảy dù trong binh phục dã chiến, thuộc sư đoàn dù 101. Họ mang súng M-16, M-79 phóng lựu, lựu đạn và dao găm. Tôi hỏi vị chỉ huy trung đội. Thiếu tá [Hillel] Schwartz tiến lên, tự giới thiệu với ông tôi là viên chức trực. Ông đưa tôi một trái lựu đạn, tôi từ chối. Ông nói có thêm 30 người nữa sẽ đáp xuống trong chốc lát. Tôi giải thích là tôi biết không có VC trong toà nhà. Trong khi vị thiếu tá ghi chép, tôi vắn tắt mô tả toà nhà, nhắc lại chỉ thị dàn quân của MACV, và nói cho ông biết về tình trạng của Đại Tá Jacobson ở phía sau khuôn viên. Tôi cũng lưu ý ông trông chừng cho một nhân viên người Việt ở tầng trệt. Thiếu tá Schwartz sợ rằng thực sự có VC trong toà nhà, đã dàn quân của ông kiểm soát từng tầng một, bắt đầu từ lầu sáu.

Tôi đưa Schwartz tới tầng bốn để ông có thể gọi TQLC gác ở tầng trệt để có những tin tức mới nhất. Sau đó, ông nhập bọn với người của ông…

Rồi tôi lên mái nhà nhiều lần để đón thêm binh sĩ nhảy dù. Khoảng 45 phút sau khi Thiếu tá Schwartz tới, tôi xuống tầng trệt. Lúc ấy tiếng súng đã ngừng được một lúc.

Tôi được cho biết có 19 VC đã chết. Tôi lên lầu chuyển tin này cho Carpenter. Rồi tôi xuống nhà trở lại.

Trong khi tôi đang quan sát những tổn thất ở tầng trệt, ai đó nói Tướng [William C.] Westmoreland [Tư Lệnh quân đội Mỹ ở VN] muốn gặp tôi ở phòng gác TQLC. Tôi tới đó, và Tướng Westmoreland nói ý kiến của ông là dọn sạch toà đại sứ càng sớm càng tốt, và nhân viên trở lại làm việc vào buổi trưa. Rồi cho biết ông muốn nói chuyện với ông Habib…

Đồng nghề, dị mộng

Trở lại với câu truyện của Hugh Lunn và Phạm Ngọc Đình, theo lời kể của Hugh trong VIETNAM: A Reporter’s War. Vụ tấn công Tết Mậu Thân sẩy ra chỉ ba ngày trước khi Hugh hết hạn một năm làm việc ở Việt Nam. Vụ này khiến ngày rời Sài Gòn của anh bị trễ. Anh vui vẻ, như thoát nạn ra đi hai tuần sau Tết, trở về quê hương của mình là nước Úc, trước khi trở lại làm cho Reuters ở Singapore.

Đình ở lại, nhập ngũ theo lệnh tổng động viên sau Tết. Nhờ quen nhiều, được việc tốt. Trong thư gửi cho Hugh Lunn, dĩ nhiên viết bằng Dinglish, đề ngày 10 tháng 7 năm 1968, anh mở đầu:

Dear Gunsmoke.

Private Dinh say helo gunsmoke, I hope you are ok. After you left saigon office one month, 1 has draft military service by our government. Three months in training near Saigon 1 work secretary for battalion headquarter. every weekend returning Saigon with 24 hour holiday. Mr. Pringle and Bruce Pigott worry when 1 left office. James go to defense ministry with his application spy war. Propaganda for 1 and he very to request 1 get job defense ministry.

You know what my job. Defense ministry reporter political and war stories. 1 would like sent letter to say thanks James but 1 d’ont know where he address now, If you know, please write to me letter…

Thân chào Gunsmoke,

Binh nhì Đình có lời thăm Gunsmoke, hy vọng anh vẫn bằng an. Một tháng sau khi anh rời Sài Gòn, tôi đã nhập ngũ theo lệnh động viên của chính phủ. Ba tháng huấn luyện gần Sài Gòn tôi làm thư ký tại bộ chỉ huy tiểu đoàn. Mỗi cuối tuần đều về Sài Gòn với 24 giờ nghỉ. Ông Pringle và Bruce Pigott lo ngại khi tôi rời văn phòng. James tới Bộ Quốc Phòng với đơn xin việc tâm lý chiến. Vận động cho tôi và cố yêu cầu cho tôi được việc tại Bộ Quốc Phòng.

Anh biết công việc của tôi là gì không? Phóng viên chính trị và phóng sự chiến trường của Bộ Quốc Phòng. Tôi muốn gửi thư để cảm ơn James nhưng tôi không biết địa chỉ ông ấy bây giờ ở đâu, nếu anh biết, làm ơn viết thư cho tôi…

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image002_thumb4.jpg

Lá thư Đình viết cho Hugh Lunn bằng Dinglish, chụp lại từ Vietnam: A Reporte’s War

Trong vụ Việt Cộng tấn công đợt hai vào tháng Năm, 1968, Đình thoát chết. Đáng lẽ đi với đám ký giả Anh, Mỹ và Úc vào Chợ Lớn săn tin, nhưng phút chót, trưởng phòng Reuters Tony Baker muốn anh đi cùng lên phía xa lộ Biên Hoà. Khi trở về, anh được tin bốn trong năm ký giả trên chiếc xe của báo TIME bị VC bắn chết ở Chợ Lớn, trong đó có hai người làm cho Reuters, bạn anh. Bất chấp nguy hiểm, qua mặt cả Việt Cộng, Đình tìm tới tận chiếc xe bị bắn, tự tay sờ ngực các nạn nhân, xem nếu họ chưa chết, chỉ bị thương, thì tìm cách cấp cứu. Ban quản trị Reuters đã ca tụng Đình về hành động can đảm này.

Trước tình hình cực kỳ đen tối vào tháng Tư 1975, Reuters đề nghị đưa ký giả yêu quý này rời khỏi Việt Nam. Chỉ đồng ý cho vợ con ra đi, Đình quyết định ở lại, vì theo anh “If a journalist see the beginning he must see the end”, nếu một nhà báo nhìn thấy khởi đầu, cũng phải nhìn thấy kết thúc.

Ngày 30 tháng Tư, Việt Cộng tới cửa ngõ Sài Gòn, Đình quyết định “Time go, war finished”, Đến lúc đi, chiến tranh đã chấm dứt. Tại JUSPAO, sáu xe buýt chở người Mỹ và những người Việt được Mỹ cho đi ra phi trường. Đình cố lên chiếc xe thứ nhì, nhưng Quân Cảnh Mỹ đẩy anh xuống chiếc thứ bốn. Không may là chỉ có hai chiếc đầu vào được bên trong phi trường. Theo Đình, tài xế bốn chiếc xe phía sau là Việt Cộng, cố tình làm cho hành khách lỡ chuyến đi. Anh mắc kẹt ở Sài Gòn.

Hôm sau ngày Sài Gòn đầu hàng, Đình trở lại văn phòng, thấy VC đặt súng trấn giữ trước cửa, Đình nói “Đây là văn phòng Reuter”, họ nói “Không, đây là văn phòng CIA”. Đình phải trải qua một tháng cải tạo, và tiếp tục tư cách phóng viên Reuter, nhưng mọi điều anh viết đều phải nộp để kiểm duyệt. Năm 1976, VN chính thức thống nhất, văn phòng Reuter phải ở Hà Nội, Đình được chỉ định ra Hà Nội, nhưng nhà cầm quyền cộng sản từ chối. Sau, Reuters lại chỉ định anh sang Singapore, rồi Bangkok, cũng đều bị từ chối.

Trong bốn năm, từ 1975 đến 1979, ngoài việc vẫn gửi tiền, Reuters tìm đủ cách để giúp Đình, nhưng cuộc sống của anh ngày càng khó khăn. Năm 1979, Bộ Trưởng Di Trú Úc viết cho Reuters, nói đã chấp thuận cho Đình sang Úc, như một trường hợp đặc biệt, vì anh đã làm một việc phi thường đối vói các ký giả Úc trong vụ tấn công 1968 ở Sài Gòn. Trước khi được rời Sài Gòn đi Bangkok vào tháng Năm 1980, anh còn bị công an vặn hỏi “Đã làm gì cho Úc, tại sao được đối xử đặc biệt?” Từ Bangkok đến Sydney, Đình đã được sứ quán Úc và các đồng nghiệp cũ ở Reuters đón tiếp và giúp đỡ tận tình, kể cả kiếm việc cho anh ở Úc. Anh ghi nhận: “Dinh and family born again second time by Reuter in Australia”, Đình và gia đình đã tái sinh lần thứ nhì bởi Reuter tại Úc.

Hugh Lunn viết trong VIETNAM: A Reporter’s War: Khi tôi gặp Đình ở Sydney, có một câu mà tôi muốn hỏi anh đến chết được: Làm thế nào anh đã biết vụ tấn công Tết sẽ khởi sự vào đêm tháng Giêng đó năm 1968? Anh trả lời rằng nguồn tin đó từ một nhà báo Việt Nam làm cho một tuần báo lớn nhất của Mỹ. Ông ta và Đình thường hay nói truyện trên lối đi bên ngoài Reuters.

Đình nhớ lại là đã được biết chỉ mấy giờ trước khi vụ tấn công bắt đầu. “Ông ta nhìn thấy tôi lúc 7 giờ chiều trên đường phố và nói: ‘Này Đình, có chuyện cho tin lớn sẩy ra đêm nay. Anh sẵn sàng chưa? Và tôi tin ông ta vì tôi biết ông ta có nguồn VC tốt. Ổng nói sẩy ra sau nửa đêm và chỉ có Việt Cộng đánh ở Sài Gòn. Tôi nói: ‘Khủng bố, bom, hoả tiễn?’ và ổng nói: ‘Không, hơn thế nữa’, rồi bước đi.

Sau khi Sài Gòn sụp đổ, Đình biết được tại sao bạn anh biết nhiều thế, và tại sao đã biết chính xác như thế. Ông ta sinh ra ở miền nam và sống ở đó, mặc dầu cha ông ta đã chọn tập kết ra Bắc khi Hiệp Định Genève chia đôi đất nước năm 1954 thành hai vùng cộng sản và không cộng sản; một chỉ dấu đáng lẽ CIA phải biết. Người bạn của Đình khởi đầu làm cho cơ quan thông tấn nhà nước VTX, ở đấy ông ta làm việc rất khá nên được gửi sang Mỹ học đại học về báo chí. Năm 1960 trở về làm phóng viên cho Reuters, rồi chẳng bao lâu được tiếng là người rất có khả năng. Chính ông ta đã dậy Đình nghề làm báo, bấy giờ, Đình khởi sự công việc ở văn phòng như một người đưa thư.

Năm 1965, trong khi Đình trở thành một nhà báo giỏi, một trưởng phòng Reuter cho người bạn của anh nghỉ việc, nói rằng bài viết của ông ta đọc rất giống Radio Hà Nội. Dầu sao, nhờ tiếng tốt, người ký giả này vẫn làm ăn khá như một phóng viên tự do, cho đến khi kiếm được việc tại tạp chí Mỹ. Ông ta nổi tiếng vì những hiểu biết về chính trị và quân sự, và có nguồn tốt. Đình thường than phiền, có lẽ với một chút ganh tị, là những ký giả ghé qua thường tạt vào văn phòng Reuter hỏi anh xem có biết người ký giả kia ở đâu không. Họ nói: “Tôi muốn ăn tối với ông ta”. “Hầu hết ký giả lớn của Mỹ phụ trách về chiến tranh trong thập niên 1960 biết rõ về ông ta”, theo Đình.

Ký giả này còn rất thân thiết với Tướng Ngô Du, tổng quản trị hành quân của Bộ Tham Mưu Liên Quân và là bạn thân của Bác sĩ Trần Kim Tuyến, cơ quan tình bào trung ương Việt Nam.

“Tất cả tướng lãnh quân lực VNCH đều là bạn ông ta”, Đình nói, giận dữ đập tay lên bàn. “Tất cả các tư lệnh quân đoàn, tổng tham mưu liên quân, ông ta biết mọi chuyện. Ngay cả toà đại sứ Mỹ. Ông ta có thể tới đó rất nhanh nếu muốn, bất cứ lúc nào. Ông ta gặp các tướng bất cứ giờ nào ông muốn. Và một số tướng lãnh Việt Nam, kể cả tư lệnh hành quân cấp cao, có thể gọi ông ta để hỏi ý kiến: ‘Quân ta di chuyển theo hướng này, bản đồ này, cái này và cái này’. Và ông ta có thể tới tổng tham mưu liên quân”.

Đình nói sĩ quan quân lực VNCH muốn giúp ký giả này vì họ làm việc cho Hoa Kỳ và muốn “vận động tốt” ở phía Hoa Kỳ.

Khoảng một năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, Đình gặp người bạn này trong một tiệm uống cà phê ở Sài Gòn. Đình ngạc nhiên gặp ông ta vì một tháng trước đó, vợ và bốn con ông ta đã được tờ báo ông ta làm việc cho di tản sang Mỹ. Tuy nhiên, họ đã trở lại Sài Gòn trong vòng sáu tháng. Ông ta nói với Đình là ông đã cho gia đình sang Mỹ vì “lo trúng đạn pháo kích ở Sài Gòn”, nhưng Đình cảm thấy là ông ta đã “chơi game” với CIA. Anh nói, họ đã trở về qua ngả Moscow, Bắc Kinh, và Hà Nội. Hỏi tại sao đã cho vợ con trở về trong khi rất nhiều người muốn ra đi, ông đã trả lời: “Tôi không muốn bọn trẻ trở thành Mỹ Con”.

Rồi Đình hỏi thẳng có phải ông ta là Việt Cộng trong thời gian chiến tranh. Ông đã không trả lời trực tiếp, nói rằng: “À, vài người cũng nói với tôi như thế, anh nghĩ thế nào?” và Đình nói, “Đương nhiên anh là một Việt Cộng”. Và bạn anh cười.

Sau đó, ông ta mời Đình tới nhà ông ở Sài Gòn, và Đình ngạc nhiên được biết đó là một căn nhà sang trọng từng là nhà của toà đại sứ Anh. Bây giờ Đình biết rằng anh đang cùng với một nhân vật rất quan trọng.

Ông ta nói với Đình: “Rất nhiều tin đồn nói tôi là Việt Cộng. Tôi không bao giờ chối hay nhận điều đó. Bây giờ tôi cho anh xem một tạp chí”. Rồi ông ta mở két bằng một chìa khoá, khiến Đình không bao giờ hết ngạc nhiên, đưa ra một tấm hình ông ta trong một tạp chí miền Bắc – chụp với Hồ Chí Minh. Chú thích viết: “Đồng chí [tên ông ta] với Bác Hồ”. Thời gian là 1969, năm sau cuộc tấn công Tết, trong khi ông ta vẫn làm việc như một phóng viên ở Sài Gòn.

“Vậy là ông ta đã xác nhận ông là Việt Cộng với quân hàm đại tá”, Đình nói. “Tôi ngạc nhiên. Và cũng ngạc nhiên là người phụ nữ nhiều lần tới kiếm ông ta tại văn phòng là thiếu tá Việt Cộng, ổng nói “sĩ quan liên lạc” của ông.

Với ánh mắt bỗng nhiên bốc lửa, Đình nói: “Làm thế nào Mỹ có thể thắng trận? Làm thế nào quân lực VNCH thắng trận? CIA đã làm gì? Một vài chuyện tham nhũng, chợ đen? Ông ta là người vô cùng quan trọng trong chiến tranh cho VC. Bất cứ chuyện gì ông ta có, tất cả thông tin ông ta đều có thể cho VC, nhưng, quan trọng hơn, ông ta có thể cung cấp thông tin cho những ký giả Mỹ chống chiến tranh Việt Nam”.

Đình nói rằng chắc chắn ông ta đã cung cấp tin tức cho Đại Sứ Quán Mỹ, “và không phải là tin tốt”.

Chỉ có một lý do khả dĩ tại sao người bạn của Đình đã đồng ý cho vợ con di tản sang Mỹ trước khi Sài Gòn sụp đổ là “để bỉ mặt (bullshit) CIA – ngoài ra tại sao Việt Cộng muốn đi Mỹ?”

Có lẽ điều nói nhiều về sự nhiêu khê của chiến tranh Việt Nam là, cuối cùng, không phải chính quyền Úc hay ảnh hưởng của Reuters đã đem người ký giả trung thành tên Đình ra khỏi Việt Nam mà là đại tá Việt Cộng này, người đã “bảo đảm” cho bạn và cũng là một học trò báo chí của ông ta, và dùng ảnh hưởng của mình để kiếm cho anh được hộ chiếu. Đình nhận định, Vì ông ta làm việc với tôi đã lâu, ông biết tôi không thân Mỹ, không thân cộng. Tôi chỉ tường trình. Tôi không làm gì trong chiến tranh”. Vì sự giúp đỡ này, Đình muốn không nêu rõ tên của ký giả này cũng như tạp chí của ông ta.

Gần ba chục năm sau, trong Website chính thức của mình, Hugh Lunn tiết lộ như dưới đây:

Bí mật về điệp viên Việt Nam từ 1980 bây giờ được tiết lộ năm 2014

Cuốn sách của tôi Vietnam: A Reporter’s War (xuất bản lần đầu năm 1985 và vẫn còn đang được ấn hành) kể một câu truyện về tôi và người bạn Phạm Ngọc Đình. Trong cuốn sách Đình tiết lộ rằng người bạn nhà báo tại Sài Gòn của anh là Phạm Xuân Ẩn, một thông tín viên cho Tạp chí TIME từ 1966 đến hết Chiến Tranh năm 1975, toàn thời gian này là một Đại Tá Việt Cộng (sau chiến tranh ông ta đã được thăng Tướng). Ẩn đã tự tiết lộ cho Đình biết ông ta là một điệp viên vào hôm trước ngày Đình rời khỏi Việt Nam (với dự giúp đỡ của Ẩn) vào năm 1980 – và Đình đã nói tất cả với tôi để tôi viết sách. Nhưng anh đã yêu cầu tôi giữ lại một phần bí mật của cuộc phỏng vấn cho đến sau cái chết của anh và của Đại Tá Ẩn. Vì thế, đây là điều không có trong sách của tôi:

Đình nói Đại Tá Ẩn đã mời Đình tới nhà của ông vào một hôm năm 1980 (năm năm sau khi Chiến Tranh chấm dứt) để xin giúp đỡ. Ẩn nói với Đình: “Khi ra khỏi nước anh cố gắng liên lạc với Robert Shaplen của báo New Yorker; Beverly Deepe của Newsweek; Anthony Lawrence của BBC, và nhà báo Mỹ Neil Sheehan và yêu cầu họ tìm ra một cách để mang tôi và gia đình ra đi”. Đình hỏi làm cách nào họ có thể làm điều đó và Ẩn trả lời: “Gặp tôi trên biển”.

Đình nói anh suy đoán rằng Ẩn đã đau khổ vì thiếu thực phẩm và trường học cho các con ông ta “và ông ta cảm thấy có lỗi vì đã mang trở về vợ và bốn con đã được tạp chí TIME lo cho di tản từ Sài Gòn sang New York năm tháng trước”. Đình nói: “Ẩn là người đã bảo đảm cho tôi rời Việt Nam. Ông ta chứng tỏ ông có thể bảo đảm cho tôi đi và bây giờ ông ấy chờ đợi tôi trả ơn”. Nhưng Đình quyết định không hành động như một tay sai của Đại Tá Ẩn và nói anh không bao giờ liên lạc với các ký giả đó trong khi anh và hai con trai nhỏ muốn bắt đầu trở lại ở Úc. Anh ta lo “từ cả hai phía” – “Cộng Sản Việt Nam hay CIA” (4).

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image004_thumb2.jpg

Bìa sách “Vietnam, A Reporter’s War”

***

Từ những gì đã trình bầy trong cả phần I và phần II, có thể đi tới vài ba nhận xét thú vị:

Trước hết, tìm bắt sự thật là điều rất khó. Ngay cả nhân chứng có mặt khi sự việc xẩy ra, cũng không biết tất cả sự thật. Hugh Lunn nói Việt Cộng chiếm năm trong sáu tầng toà đại sứ. Don North và Peter Arnett nói VC chiếm tầng dưới cùng. E. Allan Wendt ở bên trong toà nhà từ đầu đến cuối, nói VC chỉ ở ngoài khuôn viên, không tên nào vào được toà nhà chính. Người mù sờ voi, dĩ nhiên chỉ biết được một phần. Người sáng xem voi cũng chưa chắc đã nhìn thấy tất cả.

Thứ nhì là cuộc đời hai người họ Phạm: Hai người cùng họ, cùng là công dân VNCH, cùng làm với ký giả ngoại quốc, cùng được đồng nghiệp quý mến, cùng một thời làm cho Reuters, cùng quen biết nhiều trong chính quyền, cùng rất yêu nghề làm báo, cùng cho vợ con đi trước vào tháng Tư 1975. Khác biệt rõ ràng: Một người ít học, kém ngoại ngữ, “number one anti-communist”, thi hành nhiệm vụ quân dịch với cấp bậc binh nhì; một người học cao hơn, giỏi ngoại ngữ, làm gián điệp cho cộng sản, mang quân hàm đại tá rồi lên tướng. Đầu đời, người ít học học người học cao. Cả đời người học cao làm tay sai cho cộng sản, luôn sống thấp thỏm sợ bị bắt, hành động theo chỉ thị trên, chấp hành cả những quyết định đưa tới thiệt hại nhân mạng và tài sản cho dân, trong khi người ít học sống thẳng thắn, không sợ hiểm nguy, hành động theo lương tâm mình. Cuối đời người học cao cầu cứu người ít học; đã một lần phản bội miền Nam theo miền Bắc, giờ lại định phản bội miền Bắc ra đi, nhưng người ít học không chịu làm trái lương tâm. Giữa hai cách lựa chọn lối sống của mình, ai sáng dạ hơn ai?

Thứ ba, năm Mậu Thân, 17 trong số 19 đặc công VC tấn công Toà Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn đã thiệt mạng, 2 người bị bắt làm tù bình. Trước Tết Bính Thân, Tổng Bí Thư mới được tái cử Nguyễn Phú Trọng, sinh năm Giáp Thân (1944), trong dịp gặp các nhân sĩ trí thức văn nghệ sĩ dịp tất niên, đã khoe thành tích lãnh đạo của Đảng Cộng Sản VN, khoe ông được Tổng Thống Mỹ tiếp tại Nhà Trắng. Đồng thời, tiệm ăn nhanh McDonald của Mỹ mở thêm nhà hàng thứ tám tại Sài Gòn. Trong khi ấy, Đại Sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius sắm Tết và chúc Tết bằng tiếng Việt, tuyên bố ăn Tết tại quê hương thứ nhì của ông là Hà Nội. Thân nhân của những người hy sinh năm Mậu Thân nghĩ gì về những cái chết này?

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image006_thumb2.jpg

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/02/clip_image008_thumb3.jpg

VC hy sinh trong vụ tấn công Đại Sứ Quán Mỹ – TBT Trọng được tiếp tại Bạch Ốc

———————-

  1. http://www.historynet.com/don-north-an-american-reporter-witnessed-the-vc-assault-on-the-us-embassy-during-the-vietnam-war.htm
  1. https://consortiumnews.com/Print/2008/012908a.html
  1. http://adst.org/2013/07/viet-cong-invade-american-embassy-the-1968-tet-offensive/
  1. http://www.hughlunn.com.au/general/vietnam-spy-secret-from-1980-told-now-in-2014/

 

 

 

SỰ PHẢN BỘI TRONG CÁI BANG (Đinh Phương)

Tháng Hai 11, 2016

 

SỰ PHẢN BỘI TRONG CÁI BANG

Đinh Phương

Posted by adminbasam on 10/02/2016

https://anhbasam.wordpress.com/2016/02/10/6972-su-phan-boi-trong-cai-bang/

 

Với điều 4 trong Hiến Pháp – do đảng đạo diễn – đảng giành cho riêng mình cái quyền lãnh đạo đất nước. Đó là điều không tử tế, vô lễ, và bất chính! Bởi đất nước và dân tộc này đâu phải của riêng Đảng. Các vua chúa mở mang giữ gìn bờ cõi từ ngàn xưa như Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, cho đến Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… có phải là người của đảng đâu?! Đảng mới xuất hiện từ khoảng năm 1930 kia mà. Vậy thì đất nước phải là của dân tộc chứ?

—————-

Đầu năm biết nói gì đây? Thôi thì bắt vào chuyện thế thái nhân tình, cũng là chuyện liên quan đến đời sống cũa mình, chuyện mà nhiều người đang đau đáu lúc khai Xuân!

Việt Nam ta có những câu ca dao tục ngữ: “Uống nước nhớ nguồn” hay “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” v.v…

Đặc tính này rất đáng quí, nó thể hiện ân nghĩa với nhau trong quá trình cuộc sống, thể hiện tấm lòng biết ơn và tính cao thượng giữa con người với nhau. Cũng rất đáng trân trọng (và cũng rất may) là chúng ta thỉnh thoảng vẫn gặp những mẩu tin nói về đức tính cao cả này ở trong xã hội. Chúng ta đang nói về sự tử tế!

Thế nhưng sự tử tế (thường) chỉ có ở những người có tâm, có căn bản đạo đức, còn ở trong giới luôn lo giành giật quyền và lợi về cho mình thì hẳn nhiên là thiếu tăm hơi.

Đã có rất nhiều bài viết báo động tình trạng vô lương tâm của xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay. Người ta coi là tự nhiên, có thể hỉ hả công khai “thành tích” lấy được từ sự bất chính hay lừa đảo, ngay giữa ban ngày ban mặt mà không hề ngượng ngập. Điều này từ đâu ra nếu không phải từ quá trình sống, và hơn nữa, từ giáo dục cách sống trong xã hội? Sách giáo khoa, báo chí của các nước tiên tiến luôn hướng đến lòng nhân đạo rất cụ thể, rồi từ đó, lâu ngày (xem ra cũng khá lâu), họ mới có được một xã hội đầy tình người: Dân chủ, công bằng, văn minh.

Với điều 4 trong Hiến Pháp – do đảng đạo diễn – đảng giành cho riêng mình cái quyền lãnh đạo đất nước. Đó là điều không tử tế, vô lễ, và bất chính! Bởi đất nước và dân tộc này đâu phải của riêng Đảng. Các vua chúa mở mang giữ gìn bờ cõi từ ngàn xưa như Hai Bà Trưng, Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền, cho đến Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ… có phải là người của đảng đâu?! Đảng mới xuất hiện từ khoảng năm 1930 kia mà. Vậy thì đất nước phải là của dân tộc chứ? Từ sự bất chính này, (theo tính khí) nó kéo theo cả một hệ thống [chính trị] bất chính, con người quen luồn cúi, tiểu nhân. Càng có quyền chức cao lại càng vô lương rộng. Nhiều người cứ thắc mắc sao họ (những người trong đảng) không có thể nghĩ khác đi?!

Người ta đồn đoán rằng ông Nguyễn Tấn Dũng còn có rất nhiều đàn em – vì được ban bổ hưởng lợi trong quá khứ – đang còn nằm hà rầm trong hệ thống đảng, họ sẽ “phục hưng” cho ông Dũng. Căn cứ vào “quán tính” của hệ thống [chính trị] hiện nay, như đã nói ở trên, đàn em của ông Dũng, trong hệ thống, hầu hết là những người chỉ biết luồn cúi, loay hoay vì bổng lộc. Họ không có sĩ khí, và khi gió chiều nào thì theo chiều nấy, thượng đội hạ đạp. Thế nên hão huyền để mà nói rằng họ sẽ cứu ông Dũng ra khỏi u tối của đường cùng ở dưới đáy, khi mà trên mặt đất – trong buổi giao thời – đang được ráo riết tranh thủ để chiếm ghế Đảng, chiếm ghế Nhà nước. Họ có đầu óc đâu mà nghĩ về người thầy người cha đang trong cơn “hoạn nạn” của mình. Những hành động này nói cho tròn là “sự phản bội trong Cái Bang”.

Putin sau ít năm rời chính trường lại “tái xuất giang hồ”. Có thể tin được ông Dũng sẽ trở lại không? Trong bối cảnh hiện tại cùng với “nghĩa tình đồng môn” của họ, người viết vũ đoán: Sẽ là không, 100% sẽ là không!

Sau đại hội Đảng XII, vận mệnh của đất nước – tức là vận mệnh của chúng ta – sẽ đi về đâu? Câu trả lời là sẽ chẳng đi về đâu cả. Nhìn vào “triều đình mới” chúng ta thấy toàn cái cũ, thiếu điều còn đậm nét thủ cựu hơn.

Ông Tổng Nguyễn Phú Trọng – nổi tiếng kiên định XHCN – loại trừ được đối thủ là ông (Thủ) tướng Nguyễn Tấn Dũng – bị/được cho là có biểu hiện chệch hướng XHCN. Hơn thế nữa, ông Trọng còn có một cái thế là ban bệ của ông ấy với đa số đồng hương người bắc nằm trong Trung ương Đảng, nằm trong Bộ Chính Trị nên ông ấy tha hồ mà kiên định. Sự chuyển dịch nhân sự đã lộ ra một lộ trình của tương lai không mấy gì dễ thở.

Ông Tổng bí thư “mới” Nguyễn Phú Trọng đã vậy, rắp tâm một đường lối mà hết thế kỷ này chưa biết đã có chưa, sẽ dẫn chúng ta đi trên con đường vạn dặm đó. Ông Chủ tịch nước mới là ông Trần Đại Quang, sẽ theo “nghiệp” Công An của ông ấy, quen tay, tha hồ mà vũ lực với nhân dân. Ông Thủ tướng mới là ông Nguyễn Xuân Phúc có quá trình là chẳng có gì cả, sẽ điều hành đất nước về nơi vô định (thua ông Trọng là có hướng định). Bà Chủ tịch quốc hội mới Nguyễn Thị Kim Ngân rất ngoan, thuần (và cũng rất dễ thương) với vai bù nhìn lúc nào cũng toe toét cho đến hết nhiệm kỳ. Ông Bí thư thành ủy mới của thủ đô Hà Nội là ông Hoàng Trung Hải – dù có hay không tai tiếng gốc Tầu (?) – sẽ đưa Hà Nội vào quỹ đạo “4 tốt và 16 chữ vàng”. Ông Đinh La Thăng, là người miền Bắc đẩu tiên nắm chức Bí thư thành uỷ TP HCM sẽ thống soái miền nam theo đúng quy trình. Còn ai hỏi tương lai Việt Nam sẽ đi về đâu nữa không? Thiệt là chán đời, xuân xiếc gì nữa?!

Tiêu chí của những người lãnh đạo là phải lo cho dân: Từ sức khoẻ, học hành do nhà nước lo, cho đến phục vụ nhu cầu “mưu cầu hạnh phúc” của người dân. Riêng ở Việt Nam ta thì chỉ có mà mơ! Đã có khi nào “lãnh đạo” mang những nhu cầu căn bản này vào chương trình nghị sự một cách nghiêm túc chưa? Chưa bao giờ! Có chăng là chỉ lào phào lấy lệ, sau đó mèo vẫn hoàn mèo. Suốt ngày “lãnh đạo“ chỉ nói toàn những chuyện “vồ chuột sợ vỡ bình”, chuyện “còn đảng còn mình”, chuyện kiên định bám víu lấy một chủ thuyết phản tác dụng ở trên mây, thì đầu óc đâu ra để mà họ lo cho dân, cái mà người dân đang tha thiết: ĐỘC LẬP – DÂN CHỦ – TỰ DO – HẠNH PHÚC.

Cứ để yên thì hãy coi!

___

Mời xem lại bài cùng tác giả: VÁN BÀI CỦA NGƯỜI BẮC (BS).

 

 

 

MỘT CÁI NHÌN TỪ BÊN NGOÀI CỦA NGƯỜI TÂY PHƯƠNG VÀ NGƯỜI VIỆT VỀ NƯỚC TẦU (Nguyễn Văn Lục – DCVOnline)

Tháng Hai 11, 2016

 

 

Một cái nhìn từ bên ngoài của người Tây phương và người Việt về nước Tầu (1a)

Nguyễn Văn Lục

Posted on February 7, 2016 by editor — No Comments ↓

http://dcvonline.net/2016/02/07/mot-cai-nhin-tu-ben-ngoai-cua-nguoi-tay-phuong-va-nguoi-viet-ve-nuoc-tau-1a/

 

Tội của họ là tội bán nước? Công của họ là công nô bộc cho một chủ nghĩa ngoại lai. Họ vẫn tiếp tục con đường họ đã chọn.

Hiện nay, nước Tầu là cường quốc thứ nhì trên thế giới. Nước Tầu hầu như có mặt ở khắp nơi.

XEM TIẾP : http://dcvonline.net/2016/02/07/mot-cai-nhin-tu-ben-ngoai-cua-nguoi-tay-phuong-va-nguoi-viet-ve-nuoc-tau-1a/

*

*

Một cái nhìn từ bên ngoài của người Tây phương và người Việt về nước Tầu (1b)

Nguyễn Văn Lục

Posted on February 9, 2016 by editor — No Comments ↓

http://dcvonline.net/2016/02/09/mot-cai-nhin-tu-ben-ngoai-cua-nguoi-tay-phuong-va-nguoi-viet-ve-nuoc-tau-1b/

 

Cuốn “Đứng vững Ngàn năm” vẫn chỉ là một loại historiographic fantasy, một thứ tín điều, một loại bài của ban tuyên giáo dùng để tuyên truyền kích động hơn là một biên khảo lịch sử nghiêm túc.

(Tiếp theo phần 1b)

Về Địa Lý

XEM TIẾP : http://dcvonline.net/2016/02/09/mot-cai-nhin-tu-ben-ngoai-cua-nguoi-tay-phuong-va-nguoi-viet-ve-nuoc-tau-1b/

 

 

 

CON NGƯỜI NHÂN BẢN & NHÂN QUYỀN Ở THIÊN NIÊN KỶ THỨ BA (Nguyễn Tiến Cảnh – DCVOnline)

Tháng Hai 11, 2016

 

Con người nhân bản và nhân quyền ở thiên niên kỷ thứ ba

Nguyễn Tiến Cảnh

Posted on February 6, 2016 by editor — No Comments ↓

http://dcvonline.net/2016/02/06/con-nguoi-nhan-ban-va-nhan-quyen-o-thien-nien-ky-thu-ba/

 

Khoa học kỹ thuật ngày nay đã tiến những bước khổng lồ không thể tưởng tượng được, nhất là khoa học điện tử, tin học, quang học, v.v. Con người lên được mặt trăng và các hành tinh khác ngoài trái đất hoặc lơ lửng trong không gian đã trở thành chuyện đương nhiên bình thường. Từ chiếc điện thoại cầm tay nhỏ xíu có thể liên lạc với bất cứ nơi nào trên trái đất. Một năm sau, với chiếc điện thoại đó, người ta có thể nhìn thấy mặt nhau trong khi nói chuyện…

Về y khoa thì trước đây 5-10 năm, những kỹ thuật giải phẫu kể là đã tiến bộ, nhưng vẫn còn khó khăn, trở ngại và có biến chứng nguy hiểm, nhưng ngày nay nó đã trở nên dễ dàng, nhanh chóng, lại an toàn hơn nhờ kỹ thuật dùng tia laser loại IV (Light Amplification by the Stimulated Emission of Radiation, FDA Class IV hay IEC class 4). Giải phẫu buổi sáng thì buổi chiều bệnh nhân đã có thể rời bệnh viện về nhà sinh hoạt bình thường.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/02/ucm116366.gif

Giản đồ hệ thống tia laser. Nguồn: FDA

Thế kỷ 20, thiên niên kỷ II / 1900 là thế kỷ chiến tranh và xáo trộn. Chiến tranh thế giới gây biết bao cảnh điêu tàn giữa hai phe Phát Xít, trục Ý-Đức-Nhật, và thế giới. Thế giới lưỡng cực với chiến tranh lạnh Quốc-Cộng, có những lúc tưởng như thế giới chiến tranh thứ ba xẩy ra. Nhưng kết thúc phe cộng sản tự động rút lui, phá tan bầu khí ngột ngạt chiến tranh lạnh đã kéo dài gần cả thế kỷ.

Năm 2000, thiên niên kỷ III, chiến tranh ý thức hệ không còn, thế giới không chạy đua chiến tranh, nhưng chạy đua về kinh tế. Ai làm chủ kinh tế sẽ bá chủ thế giới. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Âu Châu hay Á Châu? Các quốc gia Âu Châu đã thành lập một thị trường chung thống nhất có cùng một bản vị tiền tệ. Tương lai có thể qua mặt Hoa Kỳ. Hiệp hội các nước Á Châu với những con rồng con hổ kinh tế cũng đang hiệp nhất giúp nhau phát triển kinh tế. Hai nước Ấn Độ và Trung Hoa với khối người khổng lồ chiếm hơn một phần ba dân số thế giới sẽ đạt mức phát triển kinh tế gấp đôi so với dân chúng của các quốc gia giầu có ở thiên niên kỷ tới. Chưa biết ai thắng ai. Hoa Kỳ không còn nói đến quốc gia mà thường nói đến trật tự mới thế giới.

Ở thế kỳ 20, cuộc cách mạng nông nghiệp và kỹ nghệ đã làm biến đổi ý nghĩa và cuộc sống con người. Người ta đã nói đến và tranh đấu đòi hỏi cho con người có được nhân vị, nhân bản đúng nghĩa và nhân quyền thực sự.

Qua năm 2000, bước vào thế kỷ 21 và thiên niên kỷ III, người ta sẽ vẫn còn nói đến Nhân Quyền, nhưng cuộc Cách Mạng Kiến Thức (Knowledge-based Revolution) mới là mấu chốt của thiên niên kỷ thứ ba này và sẽ sáng chói mãi mãi. Nó có khả năng mạnh mẽ vô cùng, có thể làm thay đổi và đảo ngược tất cả sinh hoạt của loài người về mọi mặt từ tư tưởng đến hành động về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đạo đức…

Yếu tố nổi bật nhất của cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng Điện Toán và Tin Học. Khoa này đã đạt mức tiến cực kỳ tối tân, hữu hiệu và nhanh chóng đến chóng mặt. Một biến cố xẩy ra ở một nơi hẻo lánh xa xôi mãi tận Phi Châu hay Nam Mỹ mà chỉ trong tíc tắc đồng hồ cả thế giới đều có thể biết được. Một mặt của cuộc cách mạng nữa là Kỹ Thuật Y Học. Người ta bắt đầu làm ra được một con cừu giống y chang con cừu mẹ theo phương cách ‘clone’ không kinh qua phương cách bình thường là phối hợp nam-nữ hoặc cái-đực (Dolly là con cừu clone đầu tiên, 5 July 1996 – 14 February 2003). Người ta cũng có thể tạo ra những hài nhi bằng cách chế ra những genes theo ý muốn và do đó có thể thay đổi mức độ thông minh của đứa trẻ (Xem thêm: công cụ CRISPR/Cas9). Người ta cũng có thể cấy những genes người vào thú vật để để phát triển các tế bào gốc phôi có thể được sử dụng để điều trị một loạt các bệnh nan y (Xem thêm: 2008 Human Fertilisation Embryology Act của UK). Người ta cũng có thể cấy đặt những điện toán ly ti (microchip, nanoCHIP, bằng 1/30 sợi tóc) vào con người để chẩn bệnh, truyền thuốc vào cơ thể con người, và những ứng dụng y học khác.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2016/02/p01rx895-1024×576.jpg

Một con chip do công ty VeriChip sản xuất trong những năm 2000 lưu trữ thông tin y tế cá nhân. Nguồn: Rhona khôn ngoan / AFP / Getty

Nếu một lúc nào đó chúng ta khám phá ra được một loại sinh vật không giống con người ở một hành tinh khác ở bên ngoài trái đất thì loài người chúng ta sẽ giữ vai trò gì trong hệ thống cấu trúc sinh vật ấy? Và, “Thế nào là Con Người Homo Sapiens?” khi có những loại con người nhân tạo hoặc đã được sửa chữa để cho thông minh hơn hoặc ngu đần đi hay có những con vật thông minh tài giỏi như con người hoặc con người mà hành động hoàn toàn do sự điều khiển của ngoại nhân? 1999 người ta đã làm được một con khỉ theo phương pháp clone (Tetra sinh năm 1999 là kết quả cloning của toán nghiên cứu do giáo sư Gerald Schatten hướng dẫn tại Trung tâm Nghiên cứu động vật linh trưởng Quốc gia tại).

Người ta cũng dự trù làm cả con người nữa. 2015 có khoảng 70 quốc gia trên thế giới cấm thực hiện việc này. Và còn rất nhiều trở ngại lớn trong xã hội về mặt luân lý học sinh vật và tôn giáo. Theo Viện Nghiên cứu Quốc gia về Gen người tại Mỹ, hiện nay chưa có bằng chứng khoa học vững chắc nào cho thấy bất cứ ai đã có thể tạo ra nhân bản vô tính phôi người.

Phải chăng con người có khả năng sáng tạo và biến hóa khoa học kỹ thuật hay khoa học kỹ thuật đã biến đổi và hóa giải con người, khiến con người phải hụt hơi chạy theo khoa học kỹ thuật? Nói một cách khác, tư tưởng và kiến thức đi trước khoa học kỹ thuật hay khoa học kỹ thuật đi trước tư tưởng và kiến thức?

Người ta thường nói: “Người là một con vật có lý trí”. Một văn sĩ nào đó lại gọi: “Người là cây sậy biết suy nghĩ.”(1) Khi định nghĩa như vậy là tác giả muốn ám chỉ con vật không có lý trí, cậy sậy không biết suy nghĩ hay không có ‘linh hồn’ theo quan niệm tôn giáo duy linh để phân biệt người với vật, cây với người. Đó là ranh giới giữa người và vật. Vì vậy mà con người đã đối sử với vật rất “không người”. Nhưng khi cuộc sống ngày càng dễ dàng hơn, văn minh thăng tiến hơn, con người đối sử với nhau cũng trở nên nhẹ nhàng hơn, đối với súc vật thì lại càng đặc biệt hơn. Ở các nước văn minh, người ta đã đặt thú vật lên một thang bậc cao hơn bình thường, cho mặc quần áo, hớt tóc, chải chuốt cho đẹp…ăn uống có khi còn sang hơn, bổ hơn cả dân nghèo ở những nước nhược tiểu chậm tiến; chết có đám tang, có người sụt sùi khóc thương, được chôn cất cẩn thận tại nghĩa trang đặc biệt dành cho thú vật. Ở Hoa Kỳ còn có hội bảo vệ súc vật. Người nào bạo hành súc vật, bỏ đói chúng có thể bị tòa xử phạt tiền hoặc ngồi tù. Nhưng ở những nước nghèo đói đang phát triển như Việt Nam, hoàn cảnh súc vật thì khác hẳn. Dĩ nhiên súc vật không được đối sử trang trọng như vậy, không có chuyện chó chết được chủ khóc thương, được chôn trong một nghĩa trang riêng.

Đó là chuyện súc vật, chuyện chó, còn chuyện người thì sao? Người ta đối xử với nhau có khi không được như súc vật, trái lại còn thâm hiểm ác độc hơn. Hãy nhìn vào các nước cộng sản, chế độ lao tù cộng sản, trại tập trung cải tạo của cộng sản, cuộc đấu tố cải cách ruộng đất ở miền Bắc năm 1954-1955 và mồ chôn tập thể ở Huế hồi Tết Mậu Thân.

Con người đã nhân hóa vũ trụ, nhân hóa cả súc vật nhưng lại vật hóa chính con người, đồng hương đồng loại với mình. Vì vậy mới có những cuộc cách mạng, những phong trào đòi hỏi độc lập tự do, đòi hỏi nhân quyền, trả lại con người những gì của con người.

Với đà tiến vượt bực của khoa học kỹ thuật hiện đại, người ta có thể làm được tất cả mọi sự trừ linh hồn. Nói đến linh hồn là đụng tới vấn đề tôn giáo. Xin để dành cho một bài khác. Nói về con người, cả triết học lẫn khoa học đều phân biệt bản thể và bản chất hay bản tính. Bản thể thì quá rõ ràng ai cũng nhận thấy. Nhưng bản chất/bản tính thì quả là phức tạp và nhiêu khê. Nó biến hóa vô lường và vô biên. Không kể bản chất bình thường và cụ thể như chuyện ăn, ngủ, làm tình, vật lộn với ngoại cảnh và đồng loại, cả với súc vật để mưu sinh, con người còn có khát vọng vươn lên những gì cao quí hơn như nhân quyền, dân quyền, nhân bản, tự do, dân chủ, công bằng, bình đẳng…mà tột đỉnh là Chân-Thiện-Mỹ.

Đã có khát vọng đi lên tất nhiên phải có dục vọng đi xuống. Nhưng khát vọng và dục vọng ở đâu mà ra? Thưa ở ngay trong con người khi vừa mới chào đời, cũng như những tư tưởng, kiến thức và khoa học kỹ thuật, chúng luôn luôn đi song hành đâu đó ở trong con người. Thắc mắc cái nào đi trước, cái nào đi sau là ám tàng nghĩ rằng hai đối tượng đó nằm ở hai phạm vi khác biệt. Thực ra chúng luôn luôn liên kết với nhau là một. Nếu thắc mắc tại sao có người có ít tham vọng có người có nhiều là chẳng qua mức độ nhận thức và khám phá ra những khát vọng của mình ở những mức độ khác nhau mà thôi. Tương tự như vấn đề khoa học kỹ thuật, tất cả mọi sự đều có sẵn trong trời đất, nhưng trí con người chưa đạt mức sắc bén đủ để có thể khám phá ra chúng. Khi khoa học kỹ thuật tiến bộ là lúc trí óc con người đã thông minh đủ để tìm ra được những điều gọi là mới lạ chưa ai biết. Vì vậy ta chỉ có thể nói ta “khám phá” ra cái này điều nọ chứ không nên nói là ta “phát minh” hay “sáng chế” ra(2). Do đó vấn đề huấn luyện, rèn tập để trí con người biết nhận thức, khám phá ra được những ‘bản chất’ người của mình là điều tối quan trọng. Nhân Quyền, Nhân Bản, Tự Do, Dân Chủ, Bình Đẳng, Chân Thiện Mỹ chính là bản chất và ước vọng của loài người. Khoa học kỹ thuật là một khía cạnh, một diện của bản chất và kiến thức con người.

http://dcvonline.net/2016/02/06/con-nguoi-nhan-ban-va-nhan-quyen-o-thien-nien-ky-thu-ba/

25 sáng chế hay nhất năm 2015. Nguồn TIME.com

Cho dù khoa học kỹ thuật có thể biến đổi con người bằng cách biến chế ra một loại gene đặc biệt hay cài cấy những ly ti điện toán vào trong con người thì con người ấy dù sao đi nữa cũng vẫn là con người; thành thử thiết nghĩ chúng ta không thể đối xử với những con người này khác biệt với người nguyên chất. Nhưng cho đến giờ, con vật clone – qua những thử nghiệm – cũng vẫn chưa có một bản thể và đời sống (life) bình thường như con vật mẹ, nguyên bản. (Xem thêm: National Human Genome Reserach Institute, https://www.genome.gov/25020028#al-8)

Trên đây chỉ là những suy tư vụn vặt. Xin quí vị trưởng thượng, các bậc đàn anh, bạn bè thân hữu, độc giả, đặc biệt những vị lãnh đạo tinh thần, tôn giáo chia sẻ, đóng góp ý kiến chỉ giáo để vấn đề được sáng tỏ hơn. Người viết chấp nhận mọi ý kiến, nhất là những ý kiến trái ngược.

Fleming Island, Florida
Fev 2, 2016

© 2016 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

Nguồn: Bài do tác giả gởi. DCVOnline biên tập, minh họa và phụ chú.

(1) Câu nói trên trích từ nhận định “Man is only a reed, the weakest in nature, but he is a thinking reed. There is no need for the whole universe to take up arms to crush him: a vapour, a drop of water is enough to kill him. but even if the universe were to crush him, man would still be nobler than his slayer, because he knows that he is dying and the advantage the universe has over him. The universe knows none of this” của Blaise Pascal, một nhà toán học, vật lý học, nhà phát minh, nhà văn và triết gia Kitô giáo người Pháp sống ở thế kỷ thứ 17.
(2) “Khám Phá” | Khám: xét nghiệm, tra xét tường tất; Phá: vỡ ra – to discover – tìm thấy những sự vật, sự kiện đã có trước đó. Thí dụ, người Viking do Leif Eriksson dẫn đầu đã khám phá ra (tìm thấy, đến) châu Mỹ cả 500 năm trước Columbus. Châu Mỹ đã hiện hữu trước đó từ lâu. [Nguồn: Russell Freedman, “Who Was First?” – Clarion Books (October 15, 2007)].
“Sáng chế” – to invent | Tạo ra một sản phẩm, một tiến trình công nghệ mới, chưa hề có trước đó. Thí dụ Alexander Graham Bell sáng chế ra điện thoại. Trước khi Ông Bell sáng chế, không hề có cái điện thoại nào hiện hữu trên thế giới.

 

 

 

 

TƯ SANG GIAN HIỂM (Người Buôn Gió)

Tháng Hai 11, 2016

 

Tư Sang gian hiểm

Người Buôn Gió

Thứ Tư, ngày 10 tháng 2 năm 2016

http://nguoibuongio1972.blogspot.com/2016/02/tu-sang-gian-hiem.html

 

Nếu nói một đồng chí trong Bộ Chính Trị bị kỷ luật thì đó chính là đồng chí Trương Tấn Sang tức Tư Sang.

Năm 2001 Tư Sang được vào Bộ Chính Trị và được phân công làm Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương. Đến năm 2003  Tư Sang bị kỷ luật vì hồi còn làm bí thư thành uỷ HCM đã  xảy ra vụ trùm xã hội đen Năm Cam tung hoành hoạt động.

https://vietbao.com/a21028/toi-phien-truong-tan-sang-bi-ky-luat-vi-vu-nam-cam

Nhưng Tư Sang không hề chi, đến năm 2006 được đôn lên cao hơn làm thường trực Ban Bí Thư rồi 5 năm sau Tư Sang làm chủ tịch nước.

Từ năm 2006 Tư Sang thấp thoáng tin dồn trong dư luận là người có ý cải cách, dân chủ. Rất nhiều cây viết ngầm tỏ ý ca ngợi Trương Tấn Sang. Tin đồn còn cho biết Sang đứng đằng sau ủng hộ nhiều nhóm diễn đàn xã hội dân sự. Có những tấm hình cho thấy Tư Sang rất gần gũi với giới trí thức cấp tiến. Cũng như Sang có nhiều phát biểu khá mạnh mẽ về đổi mới, cải cách và lên án tham nhũng, nợ công, cách điều hành của chính phủ.

Phải nói tất cả những gì Sang nói, đều đáng ghi nhận. Người ta tin tưởng Sang đến mức, nhiều vụ án người dân viết đơn gửi đến Sang trong niềm hy vọng nhờ cậy sự công minh, chính trực vị chủ tịch nước sẽ làm giảm giúp án oan.

Nếu diễn tiến cứ như thế, đến tuổi về hưu. Tư Sang đáng được vị nể hơn rất nhiều so với hàng ngũ lãnh đạo cùng thời với ông ta.

Càng về cuối nhiệm kỳ, người ta càng thấy một Tư Sang có vẻ như cay cú muốn ăn thua với Nguyễn Tấn Dũng.  Những phát ngôn của Sang về nợ công, tham nhũng mang mầu sắc của sự mưu toan hạ bệ đồng chí của mình hơn là chống tham nhũng thực sự. Nhưng điều này chẳng khiến dư luận quan tâm, chuyện các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng hại nhau còn được dân chúng đồng tình cổ vũ và khuyến khích mạnh hơn. Vì đồng chí nào chẳng có những vết nhơ, lôi ra là có. Việc Sang tấn công Dũng không phải là chuyện đáng bàn.

Nhưng Tư Sang có phải là người dân chủ, cải cách hay không thì cần phải bàn.

http://cand.com.vn/Su-kien-Binh-luan-thoi-su/Chu-tich-nuoc-Truong-Tan-Sang-tham-chuc-tet-Tong-cuc-V-Bo-Cong-an-382160/

Báo công an đưa tin ngày 5.2.2016, Tư Sang đến thăm tổng cục 5 của Bộ Công An. Cùng đi với Sang là hai thượng tướng an ninh người miền Bắc là Bùi Văn Nam và Trần Việt Tân. Hai tướng này trước kia từng là tổng cục trưởng cục 5.

Hãy nghe xem Trương Tấn Sang nói gì với tổng cục 5 trong lần chúc Tết đầu xuân này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhấn mạnh trong thời gian tới, lãnh đạo, cán bộ chiến sĩ Tổng cục V cần tiếp tục không ngừng nỗ lực cố gắng phấn đấu, phát huy những kết quả thành tích đã đạt được, bám sát sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.

Cán bộ chiến sĩ Tổng cục V cần tập trung tổ chức quán triệt, xây dựng chương trình hành động thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; chủ động, nhạy bén tổ chức tốt công tác nắm tình hình, thực hiện hiệu quả vai trò tham mưu chiến lược trong bảo vệ an ninh quốc gia; nhạy bén, sáng tạo trong công tác chiến đấu; nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch.

Những gì Sang căn dặn  Tổng cục 5 là cần phải bám sát, tức tới đây phải theo hầu và nghe chỉ bảo của Đảng ( tức Nguyễn Phú Trọn ) và Nhà nước ( tức Trần Đại Quang ) để thực hiện nghị quyết và nâng cao hiệu quả đấu tranh, ngăn chặn thất bại mọi âm mưu của thế lực thù địch ( tức các hội nhóm xã hội dân sự).

Có bao nhiêu cơ quan cần chúc Tết, nhưng đầu xuân mới, Tư Sang chọn tổng cục 5 của an ninh để đến và căn dặn những lời như vậy. Rõ cho thấy Sang rất gắn bó mật thiết với cơ quan này.

Nếu vậy, Tư Sang quá gian hiểm. Ông ta một đằng ra vẻ ủng hộ các phong trào xã hội dân sự, mặt khác ông ta chỉ đạo tổng cục 5 phá án và bỏ tù những người đấu tranh. Đến bây giờ những người có tư tưởng đấu tranh có liên quan đến Trương Tấn Sang được chia làm hai loại.

Một loại đang ở trong tù, hoặc đã ra tù sau những bản án dài khắc nghiệt. Đây là những người đấu tranh đã nhầm lẫn, hy vọng vào một ” minh chủ ”. Nhưng đến giờ kể cả ra tù, những người này vẫn chưa tỉnh ngộ để nhận ra bộ mặt của Trương Tấn Sang đã ngầm khích lệ họ xông pha , để rồi các đệ tử của Sang có thành tích, cho Sang có căn cứ để thăng cấp.

Loại thứ hai thì lửng lơ theo Sang đánh phá các đối thủ chính trị của Sang. Loại này giờ đây được Sang bàn giao lại phục vụ Nguyễn Phú Trọng. Loại này trước kia ca ngợi Sang, giờ bắt đầu quay sang ca ngợi Nguyễn Phú Trọng. Đây là lực lượng khá đông đảo mà Sang gây dựng quan hệ thời còn làm bí thư thành phố HCM, thông qua lực lượng này Sang còn phát triển các cây viết đến tận bên kia bờ đại dương. Nếu chúng ta chú ý, có những cây viết bên Hoa Kỳ bình thường chỉ bán tán chuyện không liên quan gì đến chính trị. Nhưng khi trung ương 14 đến đại hội 12 diễn ra, các cây viết này tập trung lên án Nguyễn TấN Dũng và ngầm buông lời khen Nguyễn Phú Trọng như một vị ” minh quân” hiền lành, dũng cảm, đạo đức. Nếu quan sát kỹ sẽ thấy những cây viết ở hải ngoại trên có quan hệ mật thiết với nhóm tay chân của Sang trong nước.

Hoá ra tất cả những gì Tư Sang làm trước kia, chỉ để nhằm gây loạn xã hội, khiến Nguyễn Tấn Dũng phải gặp khó khăn trong vai trò thủ tướng điều hành chính phủ. Khi hạ bệ được Nguyễn Tấn Dũng rồi, Sang ra mặt đốc thúc quân diệt nốt những  đòn bẩy mà Sang đã tạo ra. Bây giờ thì người ta không thấy Tư Sang nói gì đến dân chủ, đổi mới nữa.  Thậm chí bức thư chúc Tết đến cả nước Sang cũng không cần phải dài dòng như những năm trước. Nhà báo Bùi Hoàng Tám phải công nhận điều ấy trong bài viết trên báo Dân Trí.

Bức thư mùa xuân 2016 này, có lẽ là thư ngắn nhất trong số những bức thư của ông. Song, không vì thế mà thiếu đi sự quan tâm, sẻ chia, đặc biệt là tình cảm và trách nhiệm của ông đối với đồng bào và Tổ quốc.

http://dantri.com.vn/blog/nghi-ve-thu-chuc-tet-2016-cua-chu-tich-nuoc-truong-tan-sang-20160209015326585.htm

Hãy nhìn bức thư chúc Tết của Trương Tấn Sang cách đây vài năm, có những đoạn như này.

Tôi kêu gọi đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hành dân chủ rộng rãi với tư tưởng pháp quyền tiến bộ, tiếp tục đưa đất nước tiến lên.

http://baochinhphu.vn/Tieu-diem/Thu-cua-Chu-tich-nuoc-chuc-Tet-Giap-Ngo-2014/192044.vgp

Lời kêu gọi của Sang trước thềm năm 2014 có những lời lẽ về đổi mới, thực hành dân chủ rộng rãi, tư tưởng pháp quyền tiến bộ. Nhưng lời của Tư Sang năm 2016 lời lẽ của Tư Sang khác hẳn, ông ta nhắc đến chuyện noi gương Bác Hồ, thực hiện nghị quyết Đảng, ổn định giữ vững môi trường hoà bình.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/288803/chu-tich-nuoc-chuc-tet-binh-than-2016.html

Dịch nghĩa của bức thư chúc Tết năm 2016 của Tư Sang là phải theo bác theo đảng đến cùng, phải tránh căng thẳng với Trung Quốc để giữ hoà bình, phải trấn áp các thế lực đòi đa nguyên để giữ ổn định.

Trương Tấn Sang, kẻ đem con bỏ chợ, qua cầu rút ván, thỏ cáo hết rồi cung tên đốt bỏ. Bộ mặt giả nhân nghĩa, đạo đức, đổi mới, dân chủ của Sang ngày càng rơi rụng để lộ rõ y là một tên cộng sản nham hiểm, vì mục đích bè phái tranh quyền lực mà đặt bẫy, xúi dục người lương thiện phải vào vòng tù tội. Sau đó phủi tay đứng nhìn, leo cao nhất đến mức có thể rồi hạ cánh an toàn.

Nếu không viết những dòng này, nhều người đấu tranh vẫn cứ ngỡ Tư Sang là một minh quân.

Nhiệm kỳ cuối cùng trên cương vị chủ tịch nước, ” minh quân ” Trương Tấn Sang không hề động bút để đặc xá cho một tù nhân lương tâm, bất đồng chính kiến nào. Thậm chí đến vụ án Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh vi phạm các thủ tục tố tục của các cơ quan hành pháp rõ mười mươi. Nhưng trên cương vị chủ tịch nước nắm hành pháp, Trương Tấn Sang vẫn làm ngơ.
Được đăng bởi Thanhhieu Hieubui vào lúc 06:00

 

 

 

SỰ BIẾN HÓA CỦA ĐẾ QUỐC (Le Monde)

Tháng Hai 11, 2016

 

Sự biến hóa của Đế quốc 

Le Monde

Phạm Trọng Tri dịch

Thứ Năm, 11-2-2016

http://nhucaytrevn.blogspot.com/2016/02/su-bien-hoa-cua-e-quoc.html

 

Phóng viên Michel Lefebvre của Le Monde phỏng vấn hai sử gia Mĩ, Jane Burbank và Frederick Cooper, về sự chìm nổi của các thực thể chính trị có tênĐế quốc (Empire).

Michel Lefebvre (Le Monde): Các ông đã làm việc rất lâu về các đế quốc để viết cuốn Đế quốc, từ Trung Hoa cổ đại cho tới ngày nay, do Payot ấn hành năm 2011[i]. Các ông có thể cho biết một đế quốc thường được hình thành như thế nào?

Frederick Cooper : Quan hệ giữa các thực thể chính trị ít khi đối xứng. Khi một nhóm xã hội này mạnh hơn một nhóm khác, điều này sẽ tạo ra một trạng thái bất ổn có thể gây ra một tình trạng bất bình đẳng gia tăng về chính trị. Sẽ có một vài cộng đồng có một số lợi thế so với các cộng đồng khác về: sự gần gũi các huyết mạch thương mại, một khả năng sinh sản nhiều hơn một chút hoặc một lãnh đạo quyến rũ. Họ bắt đầu tìm kiếm các đồng minh, thông qua hôn nhân chẳng hạn, và như thế họ khởi sự một công cuộc mở rộng quyền lực. Nếu, như hầu hết mọi nơi trên thế giới, đó là các xã hội đa nguyên, không chỉ chấp nhận một nền văn hóa, người ta sẽ bắt tay vào việc tạo ra các cấu trúc đế quốc. Đó là các cấu trúc quyền lực có tính bất đối xứng và bành trướng nhằm duy trì một sự phân biệt nào đó giữa các dân tộc đã bị nhập vào trong hệ thống.

Le Monde: Trong cuốn sách có một so sánh có tính phát hiện về Trung Hoa và La Mã. Các ông có thể cho biết tóm tắt các khác biệt giữa hai đế quốc này, một ở châu Á, một ở phương Tây?

Jane Burbank : Có một thời điểm hết sức quan trọng khi La Mã quyết định trao quyền công dân cho các thần dân không phải người La Mã. Đó là sự kiện có tầm vóc lịch sử vĩ đại cho toàn bộ thế giới. Trung Hoa chưa bao giờ làm điều đó vì nó được xây dựng trên những nguyên lý khác hẳn. Chủ quyền là một thuộc tính của hoàng đế, kẻ cai trị thông qua sự trợ giúp của nhóm cận thần. Và trong lịch sử đế quốc của Trung Hoa không có ý tưởng đó, ý tưởng mà chúng ta cho là “phương Tây”, mở rộng quyền lực cho các công dân.

Frederick Cooper : Tuyên bố của Caracalla[ii] năm 212 đã mở rộng quyền công dân cho tất cả mọi cá nhân tự do thuộc sự quản lý của đế quốc, không bao gồm nô lệ và phụ nữ. Trước khi có tuyên bố này, vẫn có thể đạt được tư cách công dân nhưng khó khăn hơn. Trong các vùng bị chinh phục, để trở thành công dân La Mã, các thần dân nơi đó phải học tiếng La Tinh, hội nhập văn hóa La Mã và xây dựng quan hệ với giới chức La Mã.

Le Monde: Như thế, Trung Hoa đã đi theo một con đường rất khác, vậy điều gì là đặc biệt?

Jane Burbank : Ở Trung Hoa, tham vọng đế quốc chưa bao giờ vắng bóng ngay cả lúc đất nước không do một dòng tộc nào khống chế trong nhiều thế kỉ. Hoàng đế là người đảm bảo hòa bình, định ra luật pháp, bảo đảm trật tự. Một nét đặc biệt khác ở Trung Hoa là thiết chế quan liêu-hành chính (bureaucratie) được hình thành trước rất lâu so với các nơi khác. Trở thành quan viên, nghĩa là thành người phục vụ hoàng đế, đã là một tham vọng của giới tinh hoa. Nhưng đối với hoàng đế, hệ thống hành chính là một phương tiện để kiểm soát quyền lực địa phương và để tạo ra giới quí tộc. Người Trung Hoa đã sáng chế ra sự kiểm soát bằng hệ thống quan liêu, bởi thế họ đã cai trị thành công các vùng đất rất trù phú trong thời gian dài.

Le Monde: La Mã, thông qua việc trao quyền công dân cho các dân tộc bị chinh phục, đã sáng tạo ra một ý niệm về chủ quyền[iii] có tính đặc trưng cho phương Tây; các đế quốc khác, từ Mông Cổ cho tới Abbasside[iv], đã thu nhập nhiều dân tộc có các phong tục và tôn giáo khác nhau nhưng lại bằng một cách khác…

Jane Burbank : Chúng ta có thể nhớ đến một loạt các đế quốc “Á-Âu” được xây dựng dựa trên các văn hóa cai trị của các nhóm người du cư ở vùng hoang nguyên (Con đường Tơ lụa). Đối với người Mông Cổ hoặc người Thổ của châu Á, hoàng đế là hoàng đế của tất cả mọi người nhưng ông ta lại trao nhiều quyền cho giới tinh hoa địa phương và chấp nhận các tôn giáo khác nhau. Tính đa dạng tạo nên sự vĩ đại cho hoàng đế. Ngay cả khi đang thôn tính các đô thị ở trung Á, người Mông Cổ tránh đụng tới các giáo sỹ địa phương và giới thợ. Đối với các nhà chinh phục Mông Cổ, những người đó là những nhân vật hết sức hữu dụng. Còn khi đế quốc La Mã bị Cơ đốc hóa thì tôn giáo lại trở thành một bộ phận của văn hóa đế quốc, gây khó khăn cho sự tồn tại công khai của các tôn giáo khác. Nhưng dưới con mắt của người Mông Cổ, người Nga, người Ottoman, sự đa dạng về dân tộc trong đế quốc là điều tự nhiên và có lợi.

Le Monde: Đó cũng đúng với các đế quốc Omeyyade[v] và Abbasside?

Frederick Cooper : Các đế quốc Hồi giáo đã được sinh ra bên cạnh các đế quốc khác, đế quốc Byzantin và đế quốc Ba Tư. Đầu tiên, họ còn ở cách khá xa trung tâm quyền lực của các đại cường đó, điều này cho phép họ củng cố quyền lực trước khi đối đầu với những đế quốc cổ xưa hơn và hùng mạnh hơn họ trên phương diện quân sự. Thời kỳ lúc các caliphat[vi] tự hình thành và phát triển sau khi Mahomet qua đời, ban đầu họ chỉ là một nhóm tinh hoa rất giới hạn, hoàn toàn là người Ả Rập và tạo lập quanh một vài bộ tộc trong vùng. Nhưng họ đã đạt được sự bành trướng rất nhanh và không phải quá vất vả trong việc cải giáo các dân tộc bị chinh phục. Caliphat của Omeyyade đã sử dụng một số cấu trúc của Byzantin để cai trị một số vùng trong đế quốc của mình. Nhưng sau này, chính sách đó đã thay đổi do nhiều người tự cải sang Hồi giáo và các caliphat đã triển khai nhiều phương thức cai trị phức tạp hơn. Khi caliphat Omeyyade bị thay bằng caliphat của Abbasside vào năm 750 thì nảy sinh ra vấn đề làm thế nào để cai quản được một cấu trúc quá rộng và quá đa dạng. Đầu tiên, họ sử dụng người Ả Rập – những người thuộc dân tộc sáng lập đế quốc -, sau đó, với thời gian và nhiều thành công, họ làm theo chiều ngược lại. Ví dụ, để có các nô bộc trung thành, họ dùng những đàn ông trẻ tuổi không phải Ả Rập cũng không phải Hồi giáo nhưng phải trở thành những người lệ thuộc hoàn toàn, bị cải thành Hồi giáo và đào tạo thành các viên quản lý cho caliphat. Đó là một biến thể của giới quan lại Trung Hoa, nhưng khác biệt ở chỗ con người có nguồn cội riêng biệt trước đó trở thành lệ thuộc tuyệt đối vào caliphat.

Le Monde: Chúng ta vừa nói về các đế quốc Trung Hoa, La Mã và Hồi giáo, chúng đã biến đổi ra sao, có buộc phải biến mất hay tự tái sinh không?

Jane Burbank : Để tiếp tục tồn tại, các đế quốc đều phải điều chỉnh các chính sách để đối phó với các thách thức mới. La Mã ban đầu là một nước cộng hòa, sau đó là principat[vii] và, với thời gian, đã trở thành một đế quốc Cơ đốc. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh, đó là chính sách của đế quốc thường rất linh hoạt, rất năng động. Một đế quốc có thể mất một phần lãnh thổ nhưng không để mất tất, đó là trường hợp đế quốc Anh. Vào cuối thế kỉ XVIII, nó phải nhả các thuộc địa tại Bắc Mĩ nhưng vẫn giữ được các sở hữu ở vùng Ca Ri Bê cho tới tận những năm 1960. Những nơi đó cho sản lợi nhiều hơn các vùng ở Bắc Mĩ. Hơn nữa, Đại Anh quốc vẫn còn cả bán đảo Ấn Độ.

Le Monde: Nếu nhìn lại thế kỉ XVII, những đại cường nằm ở đâu?

Jane Burbank J.B.: Thay vì xếp các đế quốc thành tiền hiện đại hoặc hiện đại, chúng ta sẽ thấy thú vị hơn nếu tìm hiểu sự cạnh tranh giữa các đế quốc qua chiều thời gian và không gian. Vào thế kỉ XVI, đầu tiên ta có Đế quốc Ottoman[viii]. Kẻ thù chính của Charles Quint[ix] chính là Soliman Xa hoa[x]. Người Ottoman đã đoạt được một phần lớn Đế quốc La Mã và có một vị thế rất lớn trong nền kinh tế toàn cầu lúc đó. Họ là những người quyền thế ở khu vực Địa Trung Hải, ở một phần châu Âu và có nhiều lợi thế để hướng về phương Đông, đối mặt với Trung Hoa – một nơi giàu có của thế giới. Người Ottoman đã biết nhiều cách để cai quản các lãnh thổ của họ. Như chúng ta đã đề cập, họ biết biến nô lệ thành các viên quản lý cao cấp. Đồng thời họ còn tạo ra một hệ thống hậu duệ triều đại hết sức đặc biệt. Đó là những người được sinh ra chỉ từ hoàng đế với các bạn tình không giá thú để tránh được các vấn đề liên đới tới các quyền lợi hôn nhân trong giới quí tộc. Như vậy, vào thế kỉ XVI, chúng ta có các đế quốc hùng mạnh Ottoman, Habsbourg[xi] và Trung Hoa thuộc nhà Minh và sau đó là Thanh, hai triều đại đã thống nhất Trung Hoa.

Le Monde: Chúng ta đã đến từ bờ bên kia của Đại Tây Dương vào năm 1492. Các ông giải thích thế nào về việc Hoa Kì đã được sinh ra từ phong trào chống chế độ thực dân Anh rồi chính họ lại trở thành một đế quốc thực dân?

Frederick Cooper : Hoa Kì đã hiện ra từ một cuộc nổi loạn chống lại một đế quốc và cuộc cách mạng đó đã được hỗ trợ bởi một đế quốc kẻ thù của Anh, đó là Pháp. Ở châu Mĩ lúc đó còn một đế quốc thứ ba rất mạnh, đó là đế quốc Tây Ban Nha. Các nhà lập quốc Hoa Kì đã có ý thức rất sâu về các rủi ro phải sống trong một thế giới gồm nhiều đế quốc hùng mạnh; đó chính là lý do tại sao 13 thuộc địa đã quyết định không tạo thành 13 Nhà nước-dân tộc mà cùng liên kết tạo thành một liên hiệp để có thể sống sót trong một không gian đầy các đế quốc. Thomas Jefferson đã bảo vệ ý niệm “đế quốc tự do”. Nhưng ông chưa bao giờ nghĩ tới sự tự do đó cũng dành cho người nô lệ và người bản địa Indien. Đó là đế quốc tự do dành cho người Âu-Mĩ. Khái niệm đó có tính nền tảng đối với họ. Người Mĩ, người Âu, người da trắng tự cho họ quyền bành trướng lãnh thổ của họ, đó là cái chúng ta gọi là Định mệnh Khai hóa(Manifest Destiny)[xii].

Le Monde: Chúng ta đang sống trong một hệ thống chính trị còn rất mới, Nhà nước-dân tộc, trong khi các đế quốc đã có một lịch sử rất dài lâu. Một số đế quốc cổ xưa đã có những phương cách chúng ta có thể gọi là các sách lược đế quốc. Liệu các sách lược này có đe dọa các Nhà nước-dân tộc?

Jane Burbank : Đã có những trường hợp khá rõ ràng, như nước Nga. Đó là một ví dụ tốt cho thấy một đế quốc có những biến chuyển gây mất hẳn một số nguyên tắc trong suốt thế kỉ XX. Đế quốc Nga, như nó tự xưng một cách chính thức, đã bị thay thế bằng Liên Xô. Người cộng sản đã tìm được một công thức để quản lý sự đa dạng về sắc tộc – thậm chí cả về dân tộc – bằng một cách thức khá hiệu quả trong suốt 74 năm tồn tại của chế độ của họ thông qua việc tạo ra một liên hiệp các dân tộc khác nhau. Chúng ta có thể thấy lại trong đế quốc đó nguyên tắc cai trị của người Mông Cổ hoặc Á-Âu – tư duy thu nhận các dân tộc khác nhau vào một thực thể chính trị minh thị thừa nhận tính chất tạp chủng. Ngày nay, Nga vẫn còn là một liên bang và vẫn thành công trong việc tạo dựng một thực thể chính trị với nhiều tôn giáo và nhiều dân tộc khác nhau. Liên bang Nga hiện đang cố giành lại các lãnh thổ đã có ở “Đế quốc Xô Viết” cũ.

Frederick Cooper : Vấn đề dân tộc đã được đặt ra vào thế kỉ XIX. Nhưng khái niệm này liệu đã có tính quyết định cho chính trị chưa? Thế giới vẫn còn là thế giới của các đế quốc trong suốt thế kỉ XIX và ít nhất kéo dài cho tới giữa thế kỉ XX. Khái niệm thế giới gồm các Nhà nước-dân tộc, trong đó mỗi thành viên là một thực thể pháp lí tương đương với mỗi thành viên khác, là một khái niệm khá mới. Vào đầu thế kỉ XX, toàn thế giới có chưa tới 10 đại cường, tất cả đều có cấu trúc phức hợp và đa dạng, tất cả đều cạnh tranh với nhau. Trong nội bộ nhiều đế quốc lớn còn có các kình địch về dân tộc tính. Trong Đế quốc Áo-Hung, các kình địch đó ít nhiều đã được quản lí. Trong Đế quốc Đức, thực thể được hình thành vào cuối thế kỉ XIX, còn có các vùng trực thuộc nói tiếng Đan Mạch, Ba Lan, Pháp, Yiddish[xiii] và gồm nhiều thuộc địa hải ngoại tại châu Phi, Đông Á, Thái Bình Dương. Đó là một cấu trúc rất phức tạp. Đầu thế kỉ XIX, Đế quốc Ottoman bị suy yếu nhiều so với trước mặc dù vẫn rất rộng lớn và nằm ở ngay vị trí chiến lược. Đế quốc Anh có nhiều thuộc địa, nhiều vùng bảo hộ và các dominion[xiv] được quản lí bằng phương cách rất khác, trong đó chính quyền Anh phải dùng giới tinh hoa địa phương.

Thế chiến đầu tiên là cuộc chiến giữa các đế quốc, không phải giữa các dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc đã lớn lên qua cuộc chiến này. Nhưng sự kết thúc chiến tranh lại làm gia tăng quyền lực cho các đế quốc chiến thắng và phá tan các đế quốc bại trận; sự tái định hình này đã gây ra bất ổn trong nội tại cựu Đế quốc Áo và cựu Đế quốc Ottoman. Chính trong bối cảnh đó đã nảy ra một đế quốc mới – Quốc xã (nazi). Với quan điểm phân biệt chủng tộc, nó bắt đầu gây chiến chống lại các đế quốc khác, là Pháp, Anh, Xô Viết và Mĩ – những thực thể, rốt cuộc, đã chiến thắng vì biết thu nhận các dân tộc thay vì tiêu diệt họ.

Le Monde: Một phương diện khác của đế quốc, đó là khái niệm chủ nghĩa đế quốc do John Hobson, nhà nghiên cứu Anh, đề xuất, sau đó được Lê Nin dùng lại. Chủ nghĩa đế quốc về kinh tế vận hành như thế nào?

Frederick Cooper : Khái niệm chủ nghĩa đế quốc thị trường – là nhan đề của một bài báo, The Imperialism of Free Trade (chủ nghĩa đế quốc của tự do thương mại) – đã được hai sử gia, John Gallagher và Ronald Robinson, sử dụng cách đây hơn nửa thế kỉ. Đối với họ, thời điểm quan trọng là đầu thế kỉ XX, khi Đại Anh quốc trở thành một siêu cường kinh tế sau khi Napoléon thất thế và Đế quốc Tây Ban Nha bị tan rã ở Nam Mĩ. Anh là nước duy nhất có năng lực hàng hải khống chế các đại dương. Ý tưởng của các chiến lược gia Anh là thực hiện một loại soft power (quyền lực mềm) bằng cách đầu tư ra khắp thế giới. Nhưng trong cấu trúc bất đối xứng này, chủ nghĩa đế quốc tự do thương mại có thể rất nhanh chóng biến thành một dạng thuộc địa hóa kinh điển. Trong một chừng mực, đó chính là những điều đã xảy ra vào cuối thế kỉ XIX. Đầu tiên là sự thôn tính và chia chác châu Phi, tiếp theo là Thế chiến thứ nhất. Chúng ta cần phải xem xét kĩ lưỡng hơn những thay đổi trong các tương quan giữa kinh tế và quyền lực do chủ nghĩa đế quốc kinh tế, xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX, đã tạo ra.

Sau Thế chiến hai, sau thất bại của Đức và Nhật, cùng với sự bất lực của Pháp và Liên hiệp Vương quốc Anh trong việc duy trì sức mạnh quân sự và kinh tế và, cuối cùng, với sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa, người ta đã có thể nghĩ đến một nguyên tắc dựa trên sự bình đẳng giữa các Nhà nước có chủ quyền được điều chỉnh thông qua các mối quan hệ thị trường xuyên quốc gia. Đó là một viễn tưởng không tương thích với hiện thực. Hiện thực là chúng ta đang sống trong một thế giới bất bình đẳng. Chúng ta đang sống trong một thế giới trong đó có những thực thể mạnh nhất vẫn khát khao mạnh hơn. Đó là những gì Hợp Chúng Quốc đang thực hiện bằng các phương tiện kinh tế, văn hóa và quân sự. Đó là những gì đang diễn ra từ Trung Hoa, quốc gia đã thành một quyền lực kinh tế và cũng là nước có năng lực đế quốc thông qua kinh nghiệm đế quốc của riêng nó trong hai nghìn năm với các kỹ năng hành chính. Hiện nay còn có mối hi vọng phục dựng một thực thể chính trị Hồi giáo, do người theo đạo Hồi ý thức được việc họ đã mất quá nhiều, nhất là sau khi Đế quốc Ottoman sụp đổ. Đó là nơi xuất phát của ý tưởng về một caliphat mới hoặc một Tân Ottoman bên bờ Đông Địa Trung Hải. Tại châu Âu, người ta cũng đang hi vọng về một sức mạnh mới. Không phải Tân Đế quốc La Mã, mà là một cấu trúc liên bang bao gồm sự hiện tồn của tất cả mọi Nhà nước thành viên của Liên hiệp châu Âu với một chính sách mới vượt hẳn trên các Nhà nước. Đó là một giải pháp phi đế quốc, phi quốc gia.

Le Monde: Các ông muốn nói rằng các đế quốc không bao giờ chết?

Jane Burbank : Thật sự không có câu trả lời cho vấn đề cáo chung của đế quốc. Người ta có thể đã nhiều lần cho rằng đế quốc đã chết trong lịch sử Trung Hoa nhưng rồi ngày hôm nay nó đang quay lại một cách ấn tượng sau một thời kỳ suy yếu. Lịch sử quan tâm đến khoảng thời gian dài. Có thể là ý tưởng Nhà nước-dân tộc sẽ bị thay thế bằng những thực thể chính trị khác phức tạp hơn, lấy tên hoặc không lấy tên đế quốc. Chúng ta cũng nên nhớ rằng từ này trong nửa đầu thế kỉ XX mang một nghĩa tích cực. Chúng tôi đang sống ở tiểu Bang New York và cái tên gốc của nó là Nhà nước (tiểu bang) Đế quốc (Empire State), tên này có từ thế kỉ XVIII. Tòa nhà chọc trời Empire State Building được xây dựng vào khoảng năm 1931, là thời kỳ từ đế quốc vẫn còn dùng để biểu tỏ tầm quan trọng và sức mạnh của New York. Nhớ tiếc đế quốc không ích gì nhưng cần phải chú ý tới sự phức tạp trong những biến hóa của chính trị, những điều đã tạo nên hiện thực hôm nay. Sự phân chia quyền lực trên thế giới rất bất bình đẳng và sự bất bình đẳng trong nội tại mỗi quốc gia và giữa các quốc gia với nhau vẫn còn rất lớn. ⃝

Nguồn: Pour durer, les empires doivent transformer leur politique, Le Monde bản giấy, số đặc biệt, tháng 10-12/2015.

(Các chú thích là của người dịch)

[i] Bản đang nói là bản dịch tiếng Pháp. Nguyên bản Anh ngữ: Jane Burbank, Frederick Cooper, Empires in World History: Power and the Politics of Difference. Princeton: Princeton University Press, 2010. (Jane Burbank là Giáo sư về lịch sử Nga tại Đại học New York, các nghiên cứu mới nhất tập trung vào pháp luật và chủ quyền; Frederick Cooper là Giáo sư lịch sử tại Đại học New York, chuyên nghành sử châu Phi thế kỷ XX, quan tâm nhiều về các vấn đề lao động, thực dân luận, quá trình giải thực dân và tư cách công dân.)

[ii] Biệt danh nổi tiếng của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius Severus Antoninus Augustus (188 –217), trị vì trongthời gian 198-217.

[iii] Chủ quyền của nhân dân (populaire souveraineté), không chỉ vua-hoàng đế mới có uy lực, tiếng nói về quốc gia-đế quốc.

[iv] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập do Abu al-Abbas Abd Allah sáng lập, tồn tại trong khoảng 750-1258 với trung tâm quyền lực nằm tại khu vực thuộc Iraq hiện nay.

[v] Đế quốc Hồi giáo của người Ả Rập, có trung tâm nằm tại Damas (thủ đô hiện nay của Syrie) từ năm 661-750.

[vi] Thủ lĩnh Hồi giáo được cho hoặc tự cho là người nối nghiệp giáo chủ Mahomet.

[vii] Chế độ chính trị của La Mã sau khi thể chế cộng hòa bị Julius Caesar xóa bỏ. Chế độ này tồn tại trong hai thế kỷ đầu tiên của Đế quốc La Mã, đặc trưng bằng sự cầm quyền của các hoàng tử, được gọi là người công dân thứ nhất, với các thiết chế cộng hòa được khôi phục về mặt hình thức.

[viii] Đế quốc do người Thổ sáng lập, kéo dài hơn 600 năm, từ thế kỷ XV cho tới năm 1922. Thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XV, XVI, Đế quốc Ottoman có lãnh thổ bao trải trên ba châu lục, Âu, Á, Phi.

[ix] (1500-1558), một trong những người có quyền lực nhất tại châu Âu trong thế kỷ XVI, cai trị Hà Lan, trị vì Đế quốc Tây Ban Nha và Đế quốc La Mã Thần thánh.

[x]  (c.1494-1566) Hoàng đế Thổ thứ mười của Đế quốc Ottoman, trị vì trong khoảng 1520-1566.

[xi] Một dòng họ hoàng gia tại châu Âu nổi tiếng vì có rất nhiều người làm hoàng đế hoặc vua ở nhiều vùng châu Âu suốt từ thế kỷ XV – XVIII.

[xii] Manifest Destiny là thuật ngữ chỉ quan điểm có tính ý thức hệ (ideology) xuất hiện tại Hoa Kì vào giữa thế kỷ XIX, cho rằng người dân Hoa Kì có sứ mệnh và bổn phận truyền bá dân chủ và văn minh sang khắp lục địa Bắc Mĩ bằng việc xâm lấn, mở rộng lãnh thổ thêm sang phía Tây.

[xiii] Là một ngôn ngữ của một tộc người Do thái sống ở vùng Trung và Đông Âu, có sự pha trộn giữa các phương ngữ Đức trung cổ và một số tiếng châu Âu, Do Thái cổ khác.

[xiv] Các quốc gia (vùng đất) tự trị nhưng vẫn thừa nhận quyền lực của Hoàng gia Anh.

Được đăng bởi Pham Hong Son vào lúc 00:09

 

 

 

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers