NÓI CHUYỆN VỚI NGUYỄN GIA KIỂNG (Việt Long – RFA / Nguyễn Gia Kiểng)

Tháng Tư 20, 2014

 

Nói chuyện với Nguyễn Gia Kiểng

Việt Long-Nguyễn Gia Kiểng

Được đăng ngày Thứ bảy, 19 Tháng 4 2014 15:00

http://www.ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=7617:noi-chuy-n-v-i-nguy-n-gia-ki-ng-vi-t-long-nguy-n-gia-ki-ng&catid=65

 

Việt Long phỏng vấn ông Nguyễn Gia Kiểng

https://farm4.staticflickr.com/3801/13913175381_b093482270.jpg

 

Việt Long: Tôi là Việt Long của đài Á châu Tự do. Xin kính chào quý vị !

Kính thưa quý vị, bên cạnh tôi hôm nay là ông Nguyễn Gia Kiểng, cựu phụ tá Tổng trưởng kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa, và là người sáng lập Tập hợp Dân chủ Đa nguyên (THDCĐN) với Nguyệt san Thông luận từ hơn 25 năm nay.

Đầu tiên, xin hỏi ông Nguyễn Gia Kiểng là hoạt động của THDCĐN cùng với Nguyệt san Thông luận hiện đã có ảnh hưởng như thế nào đối với những người ở trong nước, nhất là đối với những thành phần trẻ có học thức và những người yêu chuộng dân chủ và nhân quyền.

Nguyễn Gia Kiểng: Trung bình, ngày hơn bù ngày kém, thì trang web Thông luận của chúng tôi được 4.500 người vào tham gia, và khoảng 13.000 lượt người đọc. Tôi nghĩ, những người quan tâm đến dân chủ, một số đông đảo, có theo dõi những gì chúng tôi phát biểu. Những gì chúng tôi muốn gửi gắm đã đến với một sô khá đông đảo những anh em dân chủ và đồng bào trong nước.

 

Việt Long: Đó là về Nguyệt san Thông luận. Còn về THDCĐN, thì số người quan tâm đến THDCĐN thì như thế nào?

Nguyễn Gia Kiểng: Càng ngày thì những cảm tình dành cho THDCĐN càng tăng lên. Có lẽ đó là một thành quả của những cố gắng liên tục của một tổ chức mà sau hơn 30 năm hoạt động, không hề bị mang tiếng là đã sai phạm về mặt đạo đức, cũng không hề bị chê trách là thiếu lý luận, thiếu đường lối.

 

Việt Long: Thế còn về mặt lập trường chính trị, lập trường dân chủ thì THDCĐN được trong nước nhận xét như thế nào?

Nguyễn Gia Kiểng: Càng ngày càng có sự khai thông, anh em ở trong nước cũng như ngay cả đồng bào ở hải ngoại càng hiểu và hưởng ứng lập trường của chúng tôi. Trước đây có một số dư luận ở hải ngoại, vô tình hay cố ý đánh giá chúng tôi là muốn “bắt tay”, muốn “đi đêm” với cộng sản, muốn “thỏa hiệp” với cộng sản. Ngày hôm nay, khuynh hướng dư luận đó hoàn toàn chấm dứt. Tại vì họ đã hiểu chúng tôi là những người dân chủ ôn hòa, chúng tôi là những người chủ trương đấu tranh Bất bạo động trong tinh thần Hòa giải và Hòa hợp dân tộc, nhưng chúng tôi là những người dân chủ rất kiên trì và quả quyết. Thái độ của chúng tôi đối với chính quyền này là một sự đối đầu thẳng thắn, ôn hòa nhưng thẳng thắn và dứt khoát.

 

Việt Long: Mục đích là gì?

Nguyễn Gia Kiểng: Mục đích của chúng tôi, mà chúng tôi không hề giấu diếm từ 30 năm qua, là chấm dứt chế độ độc tài đảng trị này, thay thế nó bằng một thể chế Dân chủ Đa nguyên trong tinh thần Hòa giải và Hoà hợp dân tộc và bằng những phương pháp Bất bạo động. Việc thay thế chính quyền này bằng một chính quyền dân chủ là một điều cần thiết cho sự sống còn của chính đất nước Việt Nam. Bởi vì, một trong những khái niệm đang bị xét lại một cách gay gắt, lại chính là khái niệm “quốc gia”. Chúng ta đang sống trong một cuộc chuyển hóa lớn mà cuối cuộc chuyển hóa này, sẽ chỉ còn lại những quốc gia được hiểu như một không gian liên đới và một dự án tương lai chung. Nếu không, một quốc gia bị cai trị bởi một lực lượng chiếm đóng như tình trạng hiện nay [tại Việt Nam] thì quốc gia đó không có lí do để tồn tại. Ngày hôm nay, tình hình Việt Nam, phải nói là tình thế của đất nước Việt Nam đang rất lâm nguy. Chúng ta là một dân tộc đứng hàng thứ 13 trên thế giới [về dân số] nhưng chúng ta vắng mặt trong hầu như tất cả mọi địa hạt. Chúng ta không có một công ty nào đáng tự hào. Chúng ta là một nước nghèo, GGP của chúng ta chỉ bằng 15% GDP bình quân của thế giới. Chúng ta chậm tiến 100 năm so với thế giới. Chúng ta không có một tác phẩm văn học, nghệ thuật nào đáng được thế giới biết đến. Chúng ta không có những xí nghiệp lành mạnh. Chúng ta không có thành tích nào về khoa học, kĩ thuật và công nghiệp. Chúng ta cũng không có cả những thành tích về thể thao. Chúng ta là một dân tộc không đáng kể trên thế giới. Cho nên đất nước Việt Nam không đem lại niềm tự hào cho người dân. Vì thế đất nước Việt Nam chúng ta cần phải vươn lên nhanh chóng.

 

Việt Long: Thế thì sau hơn 25 năm hoạt động với ngày hơn ngày kém như ông vừa nói đó, thì ông có nhận xét về tình thế dân chủ ở trong nước hiện nay ra sao?

Nguyễn Gia Kiểng: Đang có một sự thay đổi lớn. Cho đến ngày hôm nay, chúng ta vẫn chờ đợi nhiều ở cộng đồng người Việt hải ngoại như là một tổ chức đấu tranh. Chúng tôi hiểu là cộng đồng người Việt tại hải ngoại đang chịu một hiệu ứng, cái mà tôi có thể gọi là “hiệu ứng của thế hệ thứ hai”. Lớn lên và trưởng thành tại hải ngoại, thế hệ đó đã hội nhập nhiều vào xã hội định cư và tình cảm với quê hương đã hao mòn đi nhiều trong khi thế hệ đầu tiên đang qua đi. Chúng ta có thể nói rằng, không nên chờ đợi quá nhiều vào cộng đồng người Việt hải ngoại như trước nữa. Chúng ta chỉ nên chờ đợi một cách vừa phải. Ngược lại, ở trong nước cũng có một sự thay đổi lớn, một sự chuyển giao thế hệ. Từ trước đến nay chúng ta chờ đợi nhiều ở những người mà chúng ta gọi là “lão thành cách mạng”, những người có vai vế ở trong đảng cộng sản. Chúng ta chờ đợi và sự thức tỉnh của họ. Nhưng mà hiện nay, sự đóng góp của họ cũng vẫn được hoan nghênh nhưng cũng sẽ ít ỏi đi. Trái lại, chúng ta đang chứng kiến sự nhập cuộc của một tầng lớp trí thức trẻ, một tầng lớp trí thức chính trị mới. Họ là sản phẩm của những phương tiện truyền thông mới, họ gặp nhau trên mạng Internet qua Facebook và Twitter. Và tôi nghĩ họ đang đi tới một đồng thuận, họ đang kết hợp với nhau ở trong không gian ảo đó. Và càng ngày họ càng lớn mạnh trên không gian ảo. Tôi nghĩ là cũng sắp sửa đến cái lúc họ dắt tay nhau từ không gian ảo tiên ra chinh phục không gian thật.

 

Việt Long: Vâng. Xin cảm ơn ông Nguyễn Gia Kiểng về cái nhìn lạc quan của ông.

Quý vị vừa nghe cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Gia Kiểng, là người sáng lập và chủ trương Tập hợp Dân chủ Đa nguyên và Nguyệt san Thông luân từ hơn 25 năm nay.

Xin cảm ơn quý vị!

 

VIDEO :

Triển vọng dân chủ VN?   (RFA)

https://www.youtube.com/watch?v=0n2XR_n6uBQ

 

 

TẠI SAO THẢ TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ & BỎ ĐĂNG CAI ASIAD 18 ? (Việt Hoàng – Thông Luận)

Tháng Tư 20, 2014

 

Tại sao thả tù nhân chính trị và bỏ đăng cai ASIAD 18?

Việt Hoàng

Được đăng ngày Thứ bảy, 19 Tháng 4 2014 20:14

http://www.ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=7636:t-i-sao-th-tu-nhan-chinh-tr-va-b-dang-cai-asiad-18-vi-t-hoang&catid=66

 

Có ba sự kiện gây chú ý cho dư luận thời gian qua, thứ nhất là việc chính quyền Việt Nam trả tự do cho 5 tù nhân chính trị: Ông Nguyễn Hữu Cầu, người tù xuyên thế kỷ. Nhà giáo Đinh Đăng Định, người phản đối dự án Bô-xít Tây Nguyên. Ông Cù Huy Hà Vũ, ông Vi Đức Hồi và anh Nguyễn Tiến Trung. Sự kiện thứ hai là quyết định không đăng cai Thế vận hội Châu Á ASIAD 18 và thứ ba là xử trùm tài phiệt ngân hàng Nguyễn Đức Kiên.

 

Việc chính quyền Việt Nam thả 5 tù nhân chính trị có phải vì mục đích nhân đạo không? Chúng tôi đồng tình với đa số ý kiến của dư luận cũng như bản thân người trong cuộc là ông Vi Đức Hồi rằng không hề có chuyện nhân đạo hay khoan hồng gì cả. Nếu có một chút nhân đạo thì chính quyền đã không chờ thầy giáo Đinh Đặng Định sắp chết mới thả về mặc dù thầy đã bị ung thư di căn giai đoạn cuối và mặc dù dư luận Việt Nam cũng như thế giới đã nhiều lần yêu cầu trả tự do cho thầy. Nếu có một chút nhân đạo thì chính quyền cũng đã thả ông Nguyễn Hữu Cầu trước Tết như đã thông báo cho gia đình chứ không dây dưa mãi đến tháng Tư. Ông Cù Huy Hà Vũ là một người nổi tiếng và sẽ gây phiền toái cho chế độ dù rằng ông không nguy hiểm đối với chính quyền. Ngạc nhiên nhất là việc phóng thích ông Vi Đức Hồi và anh Nguyễn Tiến Trung. Ông Vi Đức Hồi là một người dân chủ bất khuất, ông xuất thân là quan chức đảng và quá trình tranh đấu của ông diễn ra bằng sự nhận thức lại cái đúng cái sai, cái thực tế và cái hão huyền. Ông là người dân chủ có chiều sâu tức là có hiểu biết và kiến thức vì vậy chúng tôi tin rằng ông sẽ còn đóng góp được rất nhiều cho phong trào dân chủ Việt Nam. Nguyễn Tiến Trung cũng là một thanh niên trẻ, đầy nhiệt huyết và là thủ lĩnh của tổ chức Tập Hợp Thanh Niên Dân Chủ. Hy vọng là anh sẽ thổi một nguồn sinh khí mới cho tổ chức thanh niên này.

 

Sự kiện Việt Nam hủy việc đăng cai ASIAD 18 đã khiến nhiều người phấn chấn và tin tưởng vào ngài thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Chúng tôi rất tiếc là không có được niềm tin đó như nhà văn Nguyễn Quang Vinh với “Dấu cộng của niềm tin ở phút thứ 89 ”. Nếu ông ấy và ban tham mưu “sáng suốt”, “dũng cảm” và có nghĩ đến dân đến nước một chút thì họ đã không nhận việc đăng cai ASIAD 18 hay bất cứ một sự kiện gì tương tự. Ai cũng biết đầu tư cho những vụ đăng cai này đều thua lỗ nặng và nó chỉ có tác dụng quảng cáo cho hình ảnh và thương hiệu của một quốc gia. Hay nói thẳng ra, nó chỉ là “trò chơi của nhà giàu”. Việt Nam như thế nào thì có lẽ người dân cả nước và cả thế giới đều biết, không cần phải quảng cáo thêm. Những dự án này có chăng chỉ để quan chức có cơ hội đục khoét và tham nhũng thêm.

 

Vụ xử “bầu Kiên” một ông trùm tài chính của Việt Nam đã trục trặc ngay trong ngày đầu tiên vì một nhân chứng quan trọng đã không có mặt vì ốm là ông Trần Xuân Giá, cựu quan chức cấp cao của đảng. Vụ án này sẽ kéo dài và người dân sẽ được chứng kiến nhiều tấn bi hài kịch của giới tài chính cũng như chốn quan trường và tư pháp Việt Nam. Hình ảnh ông Nguyễn Đức Kiên nhỏ bé, tóc bạc trắng bị xích cả tay lẫn chân và bao quanh gần hai chục cảnh sát lăm lăm dùi cui, như là một thông điệp muốn gửi đến phe nhóm nào đó chăng? Bức ảnh này đã nhận được rất nhiều bình luận của người dân và không phải là không có lý của nó. Ông Kiên đã “hóa giải” sự đe dọa đó bằng một nụ cười rất tươi tắn và tự tin, ngay trong phiên đầu ông đã khẳng định là mình vô tội và yêu cầu triệu tập những nhân chứng quan trọng trong chính quyền, tòa đành phải tuyên bố hoãn để chờ …chỉ thị. Như chúng ta đã biết hệ thống ngân hàng Việt Nam vận hành một cách méo mó theo sự điều khiển của các nhóm lợi ích chứ không tuân thủ những qui định nghiệp vụ của ngân hàng. Núi nợ xấu đang đe dọa xóa sổ nhiều ngân hàng và thực tế đã có nhiều ngân hàng đã phải sát nhập, và sát nhập chỉ là một tên gọi khác của sự phá sản.

 

Chúng ta rút được gì qua ba sự kiện trên? Dù ba lĩnh vực đó là khác nhau (chính trị, thể thao và kinh tế) nhưng nó là ba miếng ghép của một bức tranh đen tối: Khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn nghiêm trọng. Vì muốn gia nhập TPP (Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) nên Việt Nam buộc phải trả tự do cho các tù nhân chính trị. Vì hết tiền nên Việt Nam phải bỏ đăng cai ASIAD 18, dù ai cũng biết là sự “kiêu ngạo cộng sản” của chính quyền là rất lớn, nhiều cái biết sai mười mươi ra đấy nhưng vì tự ái và sĩ diện nên họ vẫn cố làm bằng được, ví dụ việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Vì sợ hệ thống ngân hàng sụp đổ dây chuyền nên chính quyền muốn xử “bầu Kiên” thật nặng để răn đe giới tài chính ngân hàng…

 

Cho dù chính quyền có đưa ra những phương cách chạy chữa gì đi nữa thì căn bệnh “độc tài và toàn trị” của Việt Nam cũng giống như căn bệnh “ung thư di căn giai đoạn cuối” mà thầy Đinh Đăng Định đã mắc phải (do chế độ cố tình gieo rắc?), không sớm thì muộn nó sẽ phải kết thúc. Viễn cảnh kinh tế Việt Nam sụp đổ kéo theo sự thay đổi hệ thống chính trị cũng không còn xa, nó đã hiện hữu ngay trước mắt. Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thì nguy cơ vỡ quỹ hưu trí đã nhãn tiền . Khi nhà nước không còn bảo hiểm được cuốn sổ hưu cho cán bộ của mình thì không hiểu những người như đại tá, giáo sư Trần Đăng Thanh sẽ làm gì? Nghĩ gì?

 

Một sự kiện tuy nhỏ nhưng hậu quả khôn lường vừa xảy ra tại một làng quê nghèo khó của tỉnh Hà Tĩnh, đó là cuộc nổi dậy chống lại lực lượng công an và chính quyền của người dân Bắc Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Điểm đặc biệt nhất ở đây là những người lãnh đạo chính quyền tại địa phương như cấp thôn, cấp xã và cấp huyện đã đứng về phía người dân, công khai phản đối việc thu hồi đất canh tác của dân để giao cho công ty tư nhân làm nghĩa trang. Khi chính quyền cơ sở đã quay lưng lại với chính quyền trung ương cũng có nghĩa là nền móng của chế độ đã lung lay. Hiệu ứng này sẽ lan nhanh và không sớm thì muộn nó làm chính quyền trung ương mất kiểm soát.

 

Cho dù việc thả tù nhân chính trị của chính quyền chỉ là những bước đi chiến thuật nhằm kéo dài tuổi thọ cho chính thể nhưng nó cũng chứng tỏ được một điều quan trọng là việc thay đổi thể chế chính trị từ một nhà nước toàn trị về phía tự do dân chủ và pháp quyền là điều không thể cưỡng lại được. Đó là qui luật tất yếu của lịch sử. Biết rõ điều này để phong trào dân chủ Việt Nam và các lực lượng dân chủ Việt Nam lên kế hoạch và lộ trình tiến tới việc tập hợp đội ngũ, liên kết lại với nhau để hình thành một liên minh dân chủ. Có tổ chức và có sức mạnh, phong trào dân chủ sẽ động viên được người dân, cùng gây sức ép lên chính quyền buộc họ thay đổi về phía dân chủ. Sức ép của Hoa Kỳ hay của thế giới chỉ cứu được một vài người chứ không thể buộc Việt Nam thay đổi thể chế chính trị. Chỉ có sức ép mạnh mẽ của đa số người dân Việt Nam mới có thể buộc chính quyền thay đổi tận gốc chế độ toàn trị. Và cũng chỉ khi đó thì phong trào dân chủ và người dân Việt Nam mới nhận được sự hậu thuẫn và ủng hộ to lớn về mọi mặt của các nước dân chủ và dư luận tiến bộ trên thế giới.

 

Chính quyền Trung Quốc, kẻ bảo trợ cho chính quyền Việt Nam đã và đang đối mặt với ngày càng nhiều thác thức từ chính trong nội bộ của mình nên khó lòng can thiệp sâu rộng vào công việc nội bộ các nước khác, trong đó có Việt Nam. Một sự kiện chứng minh cho nhận định bất ổn của Trung Quốc đã lan tới tận Việt Nam là vụ tấn công ở một đồn biên phòng tỉnh Quảng Ninh khiến 7 người chết. Những người nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc đã gây ra vụ này. Theo dư luận lề trái thì những người nhập cư trái phép Trung Quốc đang cố tình nhập cảnh vào Việt Nam là những người Hồi giáo Tân Cương, họ đang trốn chạy chế độ Trung Quốc và muốn quá cảnh Việt Nam để đến một nước Đông Nam Á nào đó. Vì bị biên phòng Việt Nam bắt giữ và trao trả về Trung Quốc nên nhóm người này đã tuyệt vọng, đường nào cũng chết, họ đã cướp súng bắn chết hai sĩ quan biên phòng Việt Nam và sau đó tự sát. Cũng theo báo Dân trí thì ngay ngày hôm sau bộ đội biên phòng Việt Nam lại tiếp tục phát hiện một nhóm người Trung Quốc khác (có liên quan đến nhóm người tấn công đồn biên phòng Quảng Ninh) nên đã ngăn chặn họ và phía Trung Quốc đã bắt giữ nhóm người này. 

 

Như vậy rõ ràng là đang có một chiến dịch truy quét những người Tân Cương nổi loạn tại Trung Quốc nên họ và gia đình đang tìm mọi cách trốn chạy khỏi Trung Quốc, kể cả qua cửa Việt Nam. Trung Quốc đang có loạn chứ không hề “ổn định” như chính quyền tuyên truyền. Chiến dịch “chống tham nhũng” của chủ tịch Tập Cận Bình với việc tịch thu toàn bộ tài sản của họ hàng nội ngoại của cựu Ủy viên Thường trực Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang với số tiền khổng lồ lên đến 15 tỉ đôla đang khiến nội bộ chính quyền Trung Quốc chao đảo và bất an hơn bao giờ hết. Ai cũng lo lắng vì không biết bao giờ sẽ đến lượt mình?

Thời cơ và cơ hội đang rất thuận lợi cho phong trào dân chủ Việt Nam. Cần tập trung vào việc xây dựng các tổ chức chính trị để hình thành một “Giải pháp thay thế” cho chế độ toàn trị Việt Nam. Đừng để Việt Nam thay đổi theo kiểu nước Nga, khi thay thế một nhà nước toàn trị cộng sản bằng một nhà nước ma-phia và độc tài cá nhân.

 

Việt Hoàng

 

 

VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX : THOÁT TRUNG – THUỘC PHÁP (Đoàn Viết Hoạt)

Tháng Tư 20, 2014

 

Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX: Thoát Trung – Thuộc Tây 

Đoàn Viết Hoạt
April 19, 2014

http://www.vietthuc.org/viet-nam-dau-the-ky-xx-thoat-trung-thuoc-tay/

 

Ngày 9 tháng 6 năm 1885 là một ngày cần được ghi nhớ trong lịch sử Việt Nam nói chung, và lịch sử văn hóa-chính trị Việt Nam nói riêng. Ngày đó tuy cách đây gần 130 năm nhưng lại rất gần và rất có ý nghĩa trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung hiện nay. Đó là ngày triều đình nhà Thanh ký với Pháp Hòa ước Thiên Tân công nhận Pháp bảo hộ Việt Nam và phân định đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa.

 

Đó cũng là ngày chấm dứt việc Việt Nam lệ thuộc Trung Hoa, chấm dứt tục lệ Việt Nam triều cống thiên triều phương Bắc. Ngày đó cũng chính thức mở ra thời kỳ Việt Nam rơi vào vòng ảnh hưởng của phương Tây, khởi đi bằng Pháp thuộc để sau đó tiếp nối với ảnh hưởng Mỹ và Nga –một tiến trình đến tận hôm nay vẫn chưa thật sự chấm dứt. Chủ nghĩa Mác và chế độ CS, cũng như chủ nghĩa tư bản, là phó sản kinh tế, chính trị và văn hóa-chính trị của nền văn minh phương Tây.

 

Dưới chế độ CS, Việt Nam hiện nay vẫn chưa ra khỏi quỹ đạo Tây phương đó. Nói đúng hơn, Việt Nam hiện nay còn tròng trành giữa hai đường lối kiến quốc tư bản và cộng sản, chưa tìm được môt định hướng phát triển vừa Việt vừa thời đại, Tình trạng này thể hiện khá rõ qua một số tiêu ngữ chính trị mù mờ, gần như vô nghĩa, như “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

 

Hòa ước Thiên Tân 1885 như vậy mở đầu cho giai đoạn Việt Nam thoát khỏi trật tự thế giới “thiên triều” phương Bắc nhưng lại bị đưa dẫn vào một trật tự thế giới mới do phương Tây sắp đặt. Trung Hoa bị buộc phải “chuyển nhượng” quyền “quản lý” Việt Nam cho Pháp. Đây tất nhiên không phải là những ngôn từ được sử dụng chính thức trong hòa ước, dù có thể đã được hai quốc gia ký kết hòa ước ngầm hiểu với nhau. Trong thực tế, ngay sau khi thế chiến II chấm dứt, trong tiến trình phục hồi quyền lực và vị thế Trung quốc như một cường quốc phương Đông, cả hai chính quyền Trung Hoa, Đài Loan và Bắc Kinh, đều tìm cách lấy lại tầm ảnh hưởng và những phần lãnh thổ đã nằm dưới quyền cai quản của Trung Hoa trước khi Âu Mỹ tràn sang Á Châu và cướp đoạt mất.

 

Tưởng Giới Thạch, tại hội nghị Quốc Liên ở Washington và San Francisco năm 1945, 1946, đã lên tiếng đòi lại quyền quản lý các vùng đất mà họ Tưởng cho là trước đây thuộc Trung quốc. Trung hoa Dân quốc cũng đã đưa ra “đường lưỡi bò 9 đoạn” từ ngày đó. Chủ nghĩa bành trướng Đại Hán từ đó đã được cả hai chính thể Trung Hoa ở Đài Loan và Bắc Kinh phục hồi, trước hết bằng cách lợi dụng các thời cơ thuận lợi chiếm đóng một số hải đảo thuộc vùng biển Nam Hải. Việc Bắc Kinh ép Việt Nam CS phải ký kết Hiệp ước Biên giới đất liền Việt-Trung ngày 30 tháng 12 năm 1999 là một trong nhiều hành động cụ thể khác, thể hiện ý đồ chính trị của Trung quốc nhằm chấm dứt hiệu lực của Hòa ước Thiên Tân năm 1885, đưa Việt Nam trở về lại vị trí “quản lý” và trong tầm ảnh hưởng của Trung quốc.

Như vậy, trong hơn một thế kỷ, từ Hòa ước Thiên Tân năm 1885 đến Hiệp ước Biên giới Việt-Trung năm 1999, Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi gọng kìm của hai thế giới Trung hoa và Tây phương. Đây là một vấn nạn nền tảng nhất nếu chưa giải quyết được tận cỗi gốc thì Việt Nam chưa thể được phục hưng như một quốc gia thực sự độc lập và phát triển vững bền.

 

Chúng ta sẽ trở lại vấn đề quan trọng này vào phần cuối của loạt bài tư tưởng chính trị Việt Nam cận hiện đại.

 

Trở lại với thời Pháp thuộc, sau khi ký Hòa ước Thiên Tân với Trung hoa, Pháp đã hoàn tất quá trình kiểm soát toàn bộ Việt Nam. Nam Kỳ thuộc Pháp từ 1862. Trung Kỳ và Bắc Kỳ chính thức được đặt dưới sự bảo hộ toàn diện của Pháp từ sau Hiệp ước 1884. Nam Kỳ chịu ảnh hưởng của nền giáo dục và văn hóa Pháp sớm nhất, trong khi phải 40 năm sau Bắc kỳ và Trung Kỳ mới thực sự ra khỏi ảnh hưởng của nền Hán học.

 

Tại Nam kỳ, Pháp áp dụng chính sách trực trị, coi Nam kỳ là một phần lãnh thổ hải ngoại của Pháp. Ngay sau khi chiếm đóng toàn bộ 6 tỉnh miền Đông và miền Tây Nam kỳ, chính quyền Pháp giải tán tất cả hệ thống hành chính của triều đình Huế, thay bằng hệ thống hành chính mới của Pháp. Chương trình giáo dục và các kỳ thi Hán học bị hủy bỏ ngay từ những năm đầu tiên Pháp chiếm Nam kỳ. Chính sách chính trị và văn hóa giáo dục này đã gây ra sự chống đối quyết liệt trong thành phần sĩ phu Hán học và trong dân chúng tại vùng đất vốn đã tích cực ủng hộ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Người Pháp đã phải tốn nhiều công sức và thời gian để dẹp tan các cuộc kháng chiến. Đồng thời, sự bất hợp tác của nhân dân Nam Kỳ đối với các chương trình văn hóa, giáo dục Pháp đã khiến cho kế hoạch Pháp hóa tại Nam Kỳ không có kết quả nhanh chóng như chính quyền Pháp mong muốn. Nhiều người trong chính quyền thực dân còn cho rằng phải mất vài thế hệ mới có thể triệt tiêu được Hán học cùng với chữ Hán, để thay thế hoàn toàn bằng Pháp ngữ và văn hóa tư tưởng Pháp.

 

Trong việc tạo ảnh hưởng văn hóa và tư tưởng, ngôn ngữ là công cụ cần thiết. Để nhanh chóng loại bỏ được chữ Hán và ảnh hưởng Hán học, người Pháp dùng chữ quốc ngữ như ngôn ngữ chuyển tiếp sang Pháp ngữ. Chỉ vài năm sau khi chiếm toàn bộ Nam Kỳ, ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier đã ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn. Ý đồ của thực dân Pháp là chỉ dùng quốc ngữ như chuyển ngữ để loại chữ Nho và giúp Pháp ngữ trở thành ngôn ngữ chính thức tại Nam Kỳ trước, và sau đó, trên toàn cõi Việt Nam. Người Pháp hy vọng sau vài thế hệ Pháp ngữ sẽ giúp đồng hóa Việt Nam vào nền văn hóa và tư tưởng Pháp.

 

Điều kỳ thú của lich sử lại chính là chính sách sử dụng quốc ngữ này. Chính nhờ chính sách này mà quốc ngữ đã phát triển được. Chữ quốc ngữ mới đầu được các cố đạo Bồ Đào Nha đặt ra, ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La tinh, cũng chỉ nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất thời là dịch kinh sách Ki tô giáo để phục vụ cho việc truyền đạo. Những công trình ghi âm đầu tiên xẩy ra ngay từ giữa thế kỷ 16 khi các giáo sĩ Bồ Đào Nha đến truyền đạo tại miền Bắc Việt Nam. Năm 1651, giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre de Rhodes) đã khởi soạn và in cuốn từ điển phiên âm quốc ngữ đầu tiên. Năm 1838, giáo sĩ Jean-Louis Taberd, đã soạn và in cuốn từ điển hoàn chỉnh hơn, khá gần với chữ quốc ngữ ngày nay. Nhưng trong suốt 300 năm kể từ khi được ghi âm, chữ quốc ngữ không hề được triều đình Việt Nam biết đến, công nhận và sử dụng. Nó cứ âm thầm tự phát triển trong dân gian nhất là trong cộng đồng Ki tô giáo. Phải đợi đến khi người Pháp chiếm Nam Kỳ, chữ quốc ngữ mới chính thức được công nhận, và từ đó phát triển ngày một sâu rộng cho đến ngày nay.

 

Trương Vĩnh Ký là người Viêt đầu tiên sử dụng và phát triển chữ quốc ngữ một cách công khai rộng rãi. Ông là một trí thức uyên bác của Việt Nam lúc đó. Theo Từ Điển Văn Học, do Nguyễn Huệ Chi biên soạn, thì ông được các nước Âu Châu thời đó công nhận là một trong 18 nhà bác học trên thế giới. Theo những sử liệu khác, ông thông thạo 27 ngoại ngữ, trở thành một trong những người biết nhiều ngôn ngữ nhất Việt Nam, và có thể trên toàn thế giới, từ đó đến nay. Ông cũng không nhập quốc tịch Pháp và vẫn thường mặc quốc phục khăn đóng áo dài. Năm 1865, ông từ Âu châu về nước và xin ra tờ báo quốc ngữ mang tên Gia Định báo. Đây không những là tờ báo đầu tiên của Việt Nam mà còn là tờ báo đầu tiên dùng quốc ngữ, do Trương Vĩnh Ký làm giám đốc và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Tờ báo tồn tại suốt 30 năm, đến năm 1897 mới chấm dứt.

 

Trương Vĩnh Ký

http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2014/04/2014-APR-18-Truong_Vinh_Ky-300.jpg

 

Ngoài việc góp phần to lớn vào việc phát huy chữ quốc ngữ, Pétrus Ký còn có công giới thiệu phong tục tập quán Việt Nam cho người Pháp và tư tưởng-văn hóa Pháp cho người Việt qua các bài viết và công trình dịch thuật của ông. Với hơn 100 tác phẩm và bài viết, Trương Vĩnh Ký được nhiều người đời sau đánh giá là một trong những học giả lớn của Việt Nam đầu thời kỳ Pháp thuộc. Ông tiếp thu tư tưởng và phương pháp làm việc của Tây phương, cố gắng vận dụng kiến thức mới để giúp người Việt hiểu và vận dụng văn hóa và văn minh Pháp vào việc xây dựng đất nước. Ông không chống lại người Pháp, cộng tác với Pháp nhưng không hoàn toàn vì quyền và vì lợi riêng. Cuối đời, ông sống trong cô đơn và túng quẫn. Trên ngôi mộ của ông người ta thấy khắc dòng chữ trích ra từ Sách của Job trong Cựu Ước, “Xin hãy thương xót tôi, hỡi các anh chị là những người bạn tôi”, nói lên số phận của Job bị Thượng đế và loài người lìa bỏ. Nó cũng nói lên tâm sự của chính ông.

 

Đối với người đương thời chỉ trích ông hợp tác với Pháp, ông mượn câu cách ngôn La tinhỞ với họ mà không theo họ” (“Sic vos non vobis“) để tỏ bày quan điểm của mình. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra một số câu của một bài phú mà cho tới nay vẫn chưa biết tác giả, và khi chú thích bài phú này ông tỏ rõ tâm trạng ngậm ngùi của kẻ mất nước, và vẫn gọi Pháp là “giặc” dù lúc đó đang hợp tác với họ. Đó là bài Gia Định thất thủ vịnh.Các học giả ngày nay đã sưu tầm được trọn vẹn bài phú này, chắc chắn phải do một sĩ phu Nam bộ sáng tác, và có học giả cho là của Phan Văn Trị. Dù của ai, bài phú tuy ngắn ngủi này đã diễn tả được một cách vừa hình tượng vừa xúc cảm tình cảnh người dân, giới sĩ phu quan lại, và tình hình chính trị, xã hội nói chung trong thời kỳ đầu Pháp chiếm Nam Kỳ.

 

Xin trích dẫn một vài đoạn:

5. Inh ỏi súng rền kinh cửa Bắc, hãi hùng trăm họ dứt câu ca
Tò le kèn thổi trời Nam, mờ mịt năm canh không tiếng trống
6. Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ gió hạc lúc hư kinh
Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ cơn lúng túng.
7. Từ Bến Thành trải qua chợ Sỏi loài tanh hôi lang lệ biết bao nhiêu.
Nơi sắp tới Cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm.
8. Cầu Thị Nghè cùng nơi Chợ Quán chúa Giê-giu đắc ý vểnh râu.
Chùa Cẩm Đệm trải đến Cây Mai, Phật Bồ Tát chịu nghèo ôm bụng.

 

Trong bối cảnh dân tình hỗn mang như thế cách cai trị trực tiếp của Pháp đã gặp phải sự tẩy chay bất hợp tác của người dân. Trường học mới mở ra hầu như không có học sinh. Dân làng bị bắt buộc phải gửi con em đến học. Một quan chức Pháp thời đó cho biết học sinh được triệu tập đến trường “như tuyển mộ lính”, và đi học được coi như “một thứ thuế”. Mãi đến năm 1900 mà toàn cõi Nam Kỳ chỉ có 4000 học sinh các cấp, học như những “con vẹt” được vài khái niệm khoa học và một ít tiếng Pháp.

 

Trương Vĩnh Ký có thể coi là người tiêu biểu cho thành phần trí thức Tây học mới đầu tiên chủ trương hòa hợp với Pháp để góp phần nâng cao dân trí qua các hoạt động báo chí, văn hóa, giáo dục. Thành phần này lúc đầu còn rất ít, vừa vì nền Tây học chưa phát triển vừa vì tinh thần đề kháng chống thực dân Pháp còn rất mạnh. Dân chúng thì đa số bất mãn và giữ thái độ chống đối thầm lặng và bất hợp tác. Sĩ phu thì tổ chức kháng chiến hay cổ võ lòng yêu nước của người dân. Họ bất tuân lệnh triều đình, không chịu đầu hàng thực dân.

 

Nguyễn Đình Chiểu

http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2014/04/2014-APR-18-NDChieu300.jpg

 

Nguyễn Đình Chiểu đại diện cho thành phần sĩ phu này. Dù đui mù và sống trong túng thiếu, ông nhất định không đầu giặc, luôn sống cùng nông dân nghèo khổ, dùng văn thơ cổ võ lối sống có đạo nghĩa, khích lệ lòng yêu nước, ca ngợi cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Quan Pháp đến dụ ông hợp tác, muốn giúp ông có cuộc sống sung túc. Ông một mực khước từ và chỉ yêu cầu được tổ chức lễ tế vong hồn những người dân chết trong trận mạc, để nhân đó kích thích cuộc chiến chống giặc xâm lược. Pháp đồng ý, và trong buổi tế lễ này ông đã đọc bài văn tế do chính ông viết gây xúc động cho hàng trăm nông dân tham dự, mà theo sử liệu, đều đội khăn tang trắng xóa các cánh đồng. 

 

Nếu Trương Vĩnh Ký đại diện cho lớp trí thức mới đầu tiên theo Tây học thì Nguyễn Đình Chiểu đại diện cho tầng lớp Nho sĩ cuối cùng tại Nam Kỳ, vẫn tin và sống theo đạo lý Khổng Mạnh, dù Pháp đã chiếm Nam Kỳ, và Tây học đã thay thế Hán học. Trong bối cảnh đó Nguyễn Đình Chiểu như một ngôi sao phương Đông rực sáng lên lần cuối trước khi bầu trời phương Tây chụp xuống toàn cõi Việt Nam. Ông cũng biểu tượng cho ý chí dân tộc quyết không chịu khuất phục trước ngoại xâm, không ngừng chiến đấu chống mọi gian tà:

 

Dù đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
Dù đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình
…………
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

 

Khi Hiệp ước Thiên Tân được ký kết giữa nhà Thanh và Pháp năm 1885 thì Nam kỳ đã thuộc Pháp được 30 năm, Tây học đã bén rễ. Còn tại Bắc kỳ và Trung kỳ người Pháp áp dụng chính sách bảo hộ, cai trị gián tiếp thông qua quan lại người Việt. Nền giáo dục Hán học cổ truyền còn được giữ lại một thời gian cho đến khi các trường học mới, áp dụng chương trình giáo dục Pháp đã phát triển tương đối đủ. Các khoa thi Hán học bị bãi bỏ tại Bắc kỳ năm 1915 và tại Trung kỳ năm 1919. Kể từ năm 1920 trở đi Tây học mới hoàn toàn thay thế Hán học trên toàn cõi Việt Nam. Thời đại Tây thuộc thật sự bắt đầu, thay thế cho hàng ngàn năm Hán thuộc về mặt chính trị, văn hóa-tư tưởng và học thuật.

 

Đoàn Viết Hoạt 
(18.4.2014)

 

 

PHÁP QUYỀN hay PHÁP TRỊ ? (LS Trần Thanh Hiệp)

Tháng Tư 20, 2014

 

Pháp Quyền hay Pháp Trị?

Trần Thanh Hiệp, LS
April 19, 2014

http://www.vietthuc.org/81526/

 

Luật Sư Trần Thanh Hiệp thuyết trình tại Viện Việt Học, Little Saigon, ngày 8-5-2011

http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2014/04/2014-APR-18-tranthanhhiep300.jpg

 

 

I. Pháp quyền, pháp trị về mặt “danh” hay là mặt hình thức

 

 

“Pháp quyền”, từ ngữ mới

 

Gần đây, nhân có nhiều trao đổi ý kiến về các vấn đề đa nguyên, đa đảng, dân chủ, đổi mới, v.v… người ta thấy xuất hiện trên sách báo trong nước một từ kép mới, “pháp quyền”. Việc sửa đổi hiến pháp đã buộc các người lãnh đạo, các quan chức cộng sản phải nói tới “pháp quyền“. Năm 1992, Viện Nhà nước và Pháp luật ở Hà Nội đã xuất bản một cuốn sách nhỏ dày hơn 100 trang dưới tựa đề “Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền“, sáng tác chung của một tiến sĩ, ba phó tiến sĩ khoa học pháp lý và một luật gia. Ngoài ra, một nhân vật trí thức được coi như có xu hướng chống đảng, giáo sư Phan Đình Diệu, công khai lên tiếng cổ võ cho việc thiết lập một “Nhà nước pháp quyền“. Có lẽ thái độ chống đối tuy ôn hòa nhưng ở ngay trong lòng chế độ ấy đã gián tiếp làm cho từ ngữ “pháp quyền” được hội nhập dễ dàng vào ngôn ngữ chính trị của người Việt ở ngoài nước và bắt đầu được lác đác sử dụng trên báo chí hải ngoại. Kết quả là về một thuật ngữ, vì từ ngữ mới “pháp quyền” xen lẫn với những từ ngữ cũ “pháp trị“, “pháp luật“, người đọc không biết là có khác biệt giữa “pháp quyền“, “pháp trị“, “pháp luật” hay không và nếu có thì phải căn cứ vào đâu để nhận biết!

 

Pháp luật, trước hết là một vấn đề ngôn ngữ vì ngôn ngữ trong pháp luật là sự thể hiện của quyền lực nên phải thận trọng. Dùng “danh” (hay “cái để biểu đạt”, le signifiant) của cộng sản thì phải hiểu rõ “thực” (hay “cái được biểu đạt”, le signifié) của nó là gì. Để tránh tệ trạng chính tà, thị phi đảo lộn, làm mất công sức phục hồi sự thật như thói tục đảo điên trong sinh hoạt chính trị, văn hóa gần hai thập niên qua ở trong nước (như đã được quan sát ở hải ngoại).

 

Muốn hiểu rõ nội dung chữ “pháp quyền” thì không thể chỉ căn cứ vào nghĩa riêng của hai từ đơn “pháp” và “quyền” rồi kết luận vội vàng và đại khái – nhưng rất sai lầm – rằng “pháp quyền” có nghĩa là pháp luật với quyền cao nhất. Phải đặt chữ này vào trong hệ thống các văn bản qui chuẩn cấu thành chế độ xã hội chủ nghĩa đương hành, trong ý hệ cộng sản mới làm lộ rõ được nội dung đích thực của nó. Nếu làm như thế thì sẽ thấy ngay rằng “pháp quyền” không biểu thị loại pháp luật mà chúng ta biết và chấp nhận – nghĩa là loại pháp luật của các nước dân chủ tự do. Trái lại, nó biểu thị thứ pháp luật riêng của cộng sản hoàn toàn khác tới mức độ trái ngược với pháp luật không cộng sản. Như vậy, không có lý do gì để dùng nó.

 

 

Chữ “pháp quyền” ở đâu ra?

 

Không đi quá sâu vào địa hạt chuyên môn rất phức tạp của luật học, chỉ xin nêu lên một vài cơ sở xét đoán để giải thích tại sao không nên dùng “pháp quyền“. Điều không nên quên là các nhà lãnh đạo, các quan chức, các luật gia cộng sản không dùng pháp luật, pháp trị, lại dùng “pháp quyền“, không phải vì họ không biết đã có các chữ pháp luật, pháp trị mà tại vì họ không muốn nhượng bộ các đòi hỏi dân chủ, vì nhượng bộ thì sẽ bị lôi cuốn vào việc phải chấp nhận và áp dụng thứ pháp luật của các nước tự do dân chủ.

 

Chính vì thế mà họ đã phải mượn chữ “pháp quyền” – đã có từ trước nhưng với một nghĩa khác – mượn cách Trung Cộng đã dùng chữ này để dịch chữ “droit” của người Pháp. Ông TSIEN Tche Hao, tiến sĩ luật khoa, năm 1980 trong một cuộc hội luậncủa “Trung tâm triết học về pháp luật” ở Paris, cho biết rằng Trung Cộng đã dùng chữ “faquan” (pháp quyền) với nghĩa của chữ “droit”, như khi họ dịch chữ “droit bourgeois” là “zichan faquan, tư sản pháp quyền“. Ông còn nói thêm, “pháp quyền” hiểu theo ngữ nghĩa là quyền do luật định (pouvoir légal)”. Với mọi dự phòng sai sót và căn cứ vào những tài liệu của chính “Đảng Cộng sản Việt Nam“, tôi xin đưa ra một giả thuyết là chữ “pháp quyền” chỉ mới bắt đầu được dùng công khai, theo nghĩa mới, không sớm hơn năm 1985 (về bằng chứng, xin xem ở dưới). Trước đó, một số từ điển Hán-Việt, Hán-Pháp, Pháp-Hán xuất bản từ những năm 30 đến những năm 60 ở Hồng Kông, Thượng Hải, Hà Nội, Sài Gòn đều có ghi chữ “pháp quyền” nhưng chỉ để đối dịch chữ “juridiction” của Pháp và có nghĩa là “quyền tài phán“, tức là quyền để xét xử. Ở những thời điểm ấy, nó không hề có nghĩa tổng quát ngang với chữ “pháp luật“. Hai cuốn tự điển Pháp-Việt và Hán-Việt của Đào Duy Anh không thấy ghi chữ “pháp quyền“. Cần nhấn mạnh rằng các từ điển Việt Nam xuất bản tại Hà Nội, như “Từ điển tiếng Việt” (1977) hay “Từ điển Pháp-Việt, Dictionnaire français-vietnamien” (1981) đều không thấy ghi chữ “pháp quyền“. Cuốn từ điển thứ hai này đã dịch chữ “droit” là “luật, pháp luật” và chữ “juridiction” là quyền xét xử. Mãi đến năm 1992 cộng sản mới ghi chữ “pháp quyền” vào các từ điển của họ như cuốn “Từ điển tiếng Việt” hay “Từ điển Việt-Pháp” với những nghĩa mới. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “pháp quyền” (danh từ) là hệ thống pháp luật tiêu biểu cho quyền lực của Nhà nước, cho bản chất của một chế độ. Còn “Từ điển Việt-Pháp” thì dùng chữ “droit” để đối dịch chữ “pháp quyền” (ngoài ra, chữ này cũng còn có nghĩa thứ hai là quyền xét xử, nghĩa của chữ “juridiction”). Những điều kể trên cho phép kết luận rằng cộng sản đã dùng chữ “pháp quyền” với một nội dung rất xác định để dịch chữ “droit” của Pháp và vì thế không thể coi “pháp quyền” là tương đương với “pháp luật“, quá thông dụng và hầu như đã mất tính cách thuật ngữ để thành khẩu ngữ. Nhưng nội dung cộng sản muốn có là nội dung nào? Điểm này sẽ được quảng diễn ở phần II là phần bàn về nội dung. Xin trích dẫn ba đoạn rất tiêu biểu cho quan điểm cộng sản về pháp luật của họ tức là về “pháp quyền“.

 

Đoạn trích dẫn thứ nhất liên quan đến “pháp quyền” khi chữ này chưa được chính thức dùng để dịch chữ “droit”:

“Hiến pháp vừa phải ghi lại những thành quả đã đạt được, hợp pháp hóa” các thành quả đó, ổn định các thành quả đó thành “pháp quyền” (tức là được qui định thành pháp luật và được bảo đảm bằng pháp luật) nhưng không thể không đề cập những mục tiêu phải đạt trong tương lai, một tương lai không xa lắm…“ (Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội I985, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr.344).

 

Hai đoạn trích dẫn còn lại cho thấy dưới mắt đảng cộng sản, luật pháp nghĩa là gì:

 

1. “Luật: văn bản do cơ quan quyền lực tối cao ban hành qui định những phép tắc trong quan hệ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo “(Từ điển tiếng Việt, Hà Nội 1992, Trung tâm từ điển ngôn ngữ).

 

2. “Trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật hình sự có vị trí rất quan trọng. Nó là công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa…“ (Lời nói đầu, Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội 1985, Nhà Xuất bản Pháp lý).

 

Rõ ràng là một định nghĩa dành riêng cho pháp luật cộng sản với những mập mờ cố ý: cơ quan quyền lực tối cao theo hiến pháp là quốc hội nhưng theo thực tế thì là “Đảng“. Sử dụng chữ “pháp quyền” trong ngữ cảnh ấy như là một chữ tương đương với chữ “droit” thì không thể chủ quan đến mức coi rằng đó là cùng một thứ pháp luật hiểu theo nghĩa của luật học không cộng sản. Nếu trong thâm tâm không chấp nhận luật của cộng sản thì tốt hơn hết là đừng dùng chữ “pháp quyền“. Chữ “droit” xưa nay vốn được dịch là “pháp“, ghép hai từ “pháp“, “quyền” vào nhau cũng vẫn để dịch chữ ấy là vừa thừa lại vừa thiếu. Thừa là vì đã là pháp thì tất nhiên là có quyền (để chế tài, trừng phạt). Vấn đề là quyền ấy ở đâu ra và phải được hành sử như thế nào (trong trường hợp Việt Nam XHCN, quyền của pháp ở dưới Nghị quyết của Đảng). Như vậy, chỉ nói đến quyền không thôi, là nói thiếu. Và Nhà nước nào cai trị bằng thứ “pháp quyền” ấy cũng không thể là một nhà nước “pháp trị” theo nghĩa quen thuộc của danh từ.

 

 

II. Pháp quyền và pháp trị về mặt “thực” hay là mặt nội dung

 

Pháp trị và Nhà nước pháp trị

 

Như trên đã nói, “pháp quyền” chỉ là một nhãn hiệu cộng sản dùng để dán vào “pháp luật” tự do dân chủ mà thực chất khác xa pháp luật cộng sản. Lấy “pháp quyền” để dịch thành ngữ État de Droit là “Nhà nước pháp quyền” thay vì “Nhà nước pháp trị” là còn làm lớn thêm hơn nữa khoảng cách giữa hai thứ pháp luật ấy. Có thể nói, khoảng cách một trời một vực vì thêm vào sự khác biệt của hai thứ pháp luật, lại còn có sự khác biệt của hai loại nhà nước!

 

État de Droit, tiếng Đức Rechtsstaat, (Nhà nước pháp trị) là một đề tài luật học không đơn giản như nhiều người tưởng, nhất là nếu chỉ hiểu Nhà nước pháp trị qua định nghĩa sơ sài của pháp trị là “căn cứ vào pháp luật để trị lý quốc gia“. Cần nhấn mạnh ngay rằng “nhà nước pháp trị” nói tới ngày nay không phải là loại “nhà nước pháp trị” thuở xa xưa trước Công nguyên, vào thời của các pháp gia nổi tiếng như Quản Trọng (nước Tề), Tử Sản (nước Trịnh), Công Tôn Ưởng (nước Tần), Thận Đáo (nước Triệu), Lý Tư (nước Tần), Hàn Phi Tử (một pháp gia kiệt xuất không có dịp thi thố tài năng nhưng đã bị giết chết vì tư tưởng pháp trị của mình), v.v…

 

Với một quá trình hình thành và biến đổi, ngày càng hoàn mỹ, dài trên năm thế kỷ, Nhà nước pháp trị là thành quả của nhiều cuộc cách mạng vừa đổ máu vừa ôn hòa, là nơi tàng trữ những giá trị văn hóa phương Tây, là tinh hoa của văn minh phương Tây và trước thềm thế kỷ 21, đã trở nên kiểu mẫu lý tưởng tổ chức xã hội cho nhân loại.

 

Miêu tả đầy đủ ở đây các loại nhà nước pháp trị là điều không làm được vì khó mà bao quát hết, dù chỉ phác họa sơ qua hình thế (configuration) của tất cả các nhà nước pháp trị đã hiện hữu ở phương Tây.

 

Tuy nhiên, để tiện việc so sánh nhà nước pháp trị với “Nhà nước pháp quyền“, tưởng cũng nên nêu lên những đặc tính chung của các nhà nước pháp trị:

 

1. Nhà nước pháp trị là nhà nước sinh ra để chống chuyên chế và vì vậy có bản chất chống chuyên chế, bắt đầu bằng việc chống thần quyền, quân quyền tuyệt đối.

 

2. Nhà nước pháp trị là sự biểu lộ khát vọng của loài người muốn chinh phục phẩm giá, quyền lực cho “con Người ” (l’Homme, la Personne) nạn nhân của thần thánh, vua chúa, thiên nhiên, đồng loại, v.v…

 

3. Nhà nước pháp trị, do đó, là nhà nước của mọi con dân trong một nước (nghĩa là của quốc dân) và bởi thế nó được coi như là nhà nước của quốc gia dân tộc (la Nation) không phải của riêng của một cá nhân, một giòng họ, một tôn giáo, một giai cấp, một đảng phái, một tập đoàn cầm quyền nào, v.v…

 

4. Nhà nước pháp trị, để tồn tại mà không mất bản chất, đã thiết lập và thượng tôn một trật tự xã hội dựa trên pháp luật, trật tự pháp lý (ordre juridique)(**); trong hệ thống pháp luật (pháp chế) của trật tự pháp lý này, các quy phạm có đẳng cấp trên dưới rõ rệt (hiến pháp, luật, văn bản dưới luật, v.v…) không ai có thể tùy tiện đảo lộn hay xóa bỏ.

 

  1.  Nhà nước pháp trị, bởi vậy, đã phải phân chia quyền hành minh bạch (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và hành sử các quyền này theo đúng kỷ cương, có sự kiểm soát nghiêm mật để tránh lạm quyền, bảo đảm cho các “nhân quyền”, thành văn hay không thành văn, được thực sự tôn trọng, để cho con người, mọi người, có cơ hội hành sử tự do của mình, để cho có đa nguyên về tư tưởng, về tổ chức, v.v… Nhà nước pháp trị là nhà nước có đặc điểm nổi bật “ít nhà nước“.

 

6. Nhà nước pháp trị, kể từ thập niên 50, ngày càng có xu hướng mạnh mở rộng ra ngoài biên cương của quốc gia phạm vi hoạt động của mình (Liên Hiệp Quốc) và đến thập niên 90 thì các hệ thống pháp luật riêng đã bắt đầu có sự điều hành chung, đang có cơ đi tới thống nhất làm nền tảng cho một trật tự pháp lý toàn cầu.

 

7. Nhà nước pháp trị, nói tóm lại, là dấu tích mà loài người đã và đang lưu lại trên bước đường tiến hóa xa dài đã qua và còn đang đi tới của mình.

 

  1.  Nhà nước pháp trị, như lịch sử đã chứng minh, cho đến nay là nhà nước của dân chủ tự do (démocratie libérale), những nhà nước chuyên chính cũ để trở thành nhà nước pháp trị đều tự hủy diệt mầm mống chuyên chính, như Liên Xô cũ và các nước ở Đông Âu. Trung Quốc, Việt Nam (Cuba, Bắc Hàn chắc cũng vậy?) không nói pháp trị, chỉ nói “pháp quyền” là để tiếp tục duy trì chuyên chế (chuyên chính).

 

 

Nhà nước hiện nay ở VN không phải là Nhà nước pháp trị

 

Đến đây, có thể nêu lên hai câu hỏi. Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay tuy mang nhãn hiệu “Nhà nước pháp quyền” có phải là Nhà nước pháp trị không? Thứ hai, nếu là không, hay chưa, là nhà nước pháp trị thì trong tương lai nó có thể trở thành nhà nước pháp trị được không?

 

Để trả lời câu hỏi thứ nhất, không thể căn cứ vào quyển “Tìm hiểu về Nhà nước pháp quyền” mặc dù rằng nó là sản phẩm của Viện nhà nước và pháp luật và Nhà xuất bản pháp lý “được phép” xuất bản.

Trước hết vì đó không phải là tiếng nói chính thức của Đảng. Thứ đến, dù cho là tiếng nói của Đảng chăng nữa thì tiếng nói ấy cũng chỉ là một luận điệu trong nhiều luận điệu tuyên truyền, luận điệu dành cho dư luận ngoại quốc và quảng cáo cho trò đổi mới kiểu “Vũ như Cẩn“ ! Sau hết, tuy một mặt phải khen năm tác giả của cuốn sách đã cố gắng tỏ ra khách quan, dám nói tới một số ý kiến trước đây vẫn bị kết án là tư sản phản động nhưng mặt khác lại không thể không phiền trách họ đã đơn giản hóa quá mức các kiến thức về nhà nước pháp trị và đôi khi cố ý hay vô tình, gây một cảm tưởng rằng “nhà nước pháp quyền” là nhà nước pháp trị và nội dung cả hai chỉ có bấy nhiêu, nghĩa là như đã được “tổng thuật” trong cuốn sách của họ.

 

Muốn có cơ sở chắc chắn để quyết đoán rằng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là loại nhà nước gì, có phải là nhà nước pháp trị gọi theo ngôn ngữ cộng sản mới, “nhà nước pháp quyền” không, thì phải dựa vào những tài liệu gốc, xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin, các nghị quyết của Đảng, các sách, báo chính thống của Đảng.

 

Cái gọi là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa chính thức được Đại Hội IV cho ra đời sau khi Đảng Cộng sản cưỡng chiếm xong được miền Nam, đã phát hiện đầy đủ cả về mọi mặt bản chất của nó. Các tài liệu chính thức của Đại Hội này đã cho thấy từ Hiến pháp đến tất cả pháp luật xã hội chủ nghĩa đều qui về một mối duy nhất, đúc kết qua những đoạn trích dẫn dưới đây:

“Nội dung hệ thống pháp luật bao gồm các thể chế có mối liên lạc hữu cơ với nhau, bổ sung lẫn nhau và làm điều kiện cho nhau nhằm cuối cùng xây dựng và thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Hệ thống pháp luật của ta phải thể hiện rõ chế độ tập trung dân chủ trong quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội…
Tóm lại, hệ thống pháp luật mà chúng ta xây dựng phải thể hiện tính nguyên tắc nhất quán, nội dung qui phạm năng động, mềm dẻo nhưng chặt chẽ, rõ ràng, bảo đảm sức mạnh của chuyên chính vô sản…
” (Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ Việt Nam, Tập II, Bình luận, Hà Nội 1985, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, tr. 360-361).

 

“Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một biện pháp quan trọng nhằm tăng cường chuyên chính vô sản… ” (Trường Chinh, Tham luận tại Đại Hội Đảng lần thứ IV).

 

Quảng diễn ý kiến của Trường Chinh, các luật gia được giao chức vụ chính thức của Đảng đã nói về pháp luật (nghĩa là pháp quyền) xã hội chủ nghĩa như sau:

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại Hội lần thứ IV Của Đảng, chúng ta khẳng định rằng: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa là Nhà nước chuyên chính vô sản trên phạm vi cả nước” (Tạ Như Khuê, Những vấn đề pháp lý qua Nghị quyết Đại Hội lần thứ IV của Đảng, tr.33, Hà Nội 1978, Viện Luật học, Nhà xuất bản khoa học xã hội).

 

“Giữa nhà nước chuyên chính vô sản và Đảng có mối tương quan chặt chẽ. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, Đảng cộng sản là đảng nắm chính quyền và như mọi người đều biết, vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Đảng không thể lãnh đạo xã hội, lãnh đạo nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội nếu không có Nhà nước. Ngược lại, Nhà nước không thể làm tròn nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, không thể phát huy được mạnh mẽ và đầy đủ các chức năng của mình nếu không có sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước sẽ không phải là Nhà nước xã hội chủ nghĩa nếu không do Đảng cộng sản lãnh đạo, nếu hoạt động của nó không dựa trên đường lối Mácxít-Lêninnít của Đảng. Sự lãnh đạo của đảng là bảo đảm cao nhất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước xã hội chủ nghĩa” (Ngô Hướng Đàm, Sách đã dẫn, tr. 45).

 

Quan điểm, chủ trương về Nhà nước ở trên là sự thực thi tư tưởng Mác-Lênin:

Đảng lãnh đạo Nhà nước một cách toàn diện… Không một vấn đề quan trọng nào về chính trị hoặc về tổ chức được cơ quan Nhà nước ở nước cộng hòa chúng ta giải quyết mà không có ý kiến lãnh đạo của Đảng “ (Lênin Toàn tập, tập 41, tr. 31, Ngô Hướng Đàm trích dẫn trong sách đã dẫn).

“… một nguyên tắc tối quan trọng là bộ máy Nhà nước phải phục tùng và thực hiện mọi đường lối, chính sách và chỉ thị của Đảng… như Lênin đã viết. Cần sử dụng mọi lực lượng để đạt được một cách vô điều kiện sự phục tùng hoàn toàn của bộ máy Nhà nước đối với chính sách Đảng” (sách đã dẫn, tr. 48).

 

Lời kết luận không thể rõ rệt hơn của một luật gia khác, một luật gia “hộ Đảng”, Nguyễn văn Thảo, về Nhà nước xã hội chủ nghĩa là:

Toàn bộ đường lối, chính sách của Đảng ghi trong Đại Hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng và các Nghị quyết tiếp theo của các phiên họp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các chỉ thị của Bộ chính trị và Ban bí thư mà nội dung cơ bản, chỉ đạo mọi hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước…” (Nguyễn văn Thảo, Hiến pháp…, sách đã dẫn, tr. 263).

 

Sau khi đọc hết mấy đoạn trích dẫn trên, ai là người đủ can đảm để nói rằng “Nhà nước pháp quyền kiểu cộng sản Việt Nam là Nhà nước pháp trị kiểu phương Tây?

 

 

Nhà nước ấy trong tương lai cũng không thể trở thành Nhà nước pháp trị được

 

Để trả lời câu hỏi “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có thể trở thành một Nhà nước pháp trị được không? Quả thật không khó khăn gì. Năm 1992, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sửa đổi hiến pháp và không nói tới chuyên chính vô sản nữa. Nhưng không nói, không phải là sẽ không có chuyên chính vô sản nữa. Năm 1945, “cụ Hồ” đã công khai và chính thức tuyên bổ giải tán Đảng Cộng sản, rốt cuộc Đảng vẫn tiếp tục hoạt động và hoạt động mạnh để năm 1975 chiếm quyền trọn cả nước bằng chủ nghĩa Mác-Lê và Đảng. Mặt khác, cái khung của chuyên chính vô sản vẫn còn, Đảng vẫn nắm quyền lãnh đạo, nghĩa là nắm quyền sinh quyền sát ở trong tay, Nhà nước chỉ là công cụ cai trị của Đảng. Có gì bảo đảm và ai dám bảo đảm rằng Đảng đã tự giác ngộ, đã đi vào con đường dân chủ, nghĩa là đã từ bỏ chuyên chính, nhất là Đảng vẫn khư khư ôm lấy điều 4 của biện pháp giành cho riêng mình độc quyền lãnh đạo chính trị, vẫn thẳng tay đàn áp những người tranh đấu cho Nhơn quyền và Dân chủ ôn hòa*, vẫn lũng đoạn nội bộ các tôn giáo, trói tay văn nghệ sĩ, bưng miệng báo chí, v.v….? Chừng nào không có bằng chứng rõ rệt thì không thể không coi cái gọi là “Nhà nước pháp quyền” hiện đang cầm quyền là Nhà nước gốc chuyên chính vô sản, nhưng đã được pha chế để thị hiện dưới những hình thức ngụy trang mà thực chất đều hoàn toàn “phản dân chủ”.

 

Ls Trần Thanh Hiệp

 

 

PHÁP CHẾ CS/XHCN/VN . . . CHÚNG TA HÃY THỨ ĐỌC & HỎI TẠI SAO ? (Hoàng Thanh Trúc – Danlambao)

Tháng Tư 20, 2014

 

Pháp chế Cs/XHCN/VN… Chúng ta hảy thử đọc và tự hỏi tại sao!?

Hoàng Thanh Trúc

4/20/2014                  3 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/04/phap-che-csxhcnvn-chung-ta-hay-thu-oc.html

 

 

Thà để 10 năm oan sai tàn phá gia đình, giết chết một con người, còn hơn tốn 30 phút để xác minh ra sự thật!?

 

 

Chúng ta hãy cùng đọc, xem một sự việc mà các cơ quan điều tra và tố tụng nhân danh Pháp Chế CS/XHCN/VN đã thực hiện như một trò chơi của ấu nhi, vô trách nhiệm cực kỳ phi lý không thể nói rằng đó là lối hành xử cầm cân nãy mực trong sáng của những người điều tra và xét xử có học vấn nghiệp vụ và tri thức để nhân danh Công Lý, Pháp Luật.

 

Ngày 18-4-2014, tại trụ sở UBND phường Kỳ Bá, TP Thái Bình, VKSND và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tổ chức xin lỗi công khai gia đình nạn nhân đã qua đời, ông Vũ Thanh Hải (nguyên trưởng phòng công chứng nhà nước số 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) vì đã khởi tố oan sai đối với ông cách đây 10 năm.

 

Thay mặt các cơ quan tố tụng hình sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ông Phạm Hữu Dương thuộc VKS Tỉnh đại diện xin được nhận lỗi và trân trọng gửi lời xin lỗi đến gia đình ông Vũ Thanh Hải vì các cơ quan tố tụng của tỉnh đã sơ suất trong quá trình điều tra, khởi tố dẫn đến oan sai cho ông Hải. Ông Dương cho biết, lời xin lỗi công khai của các cơ quan tố tụng đã được đăng tải trên báo chí.

 

 

Đại diện VKSND và Cơ quan CS/điều tra Công an Bà Rịa – Vũng Tàu

https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets/proxy?url=http%3A%2F%2F3.bp.blogspot.com%2F-aWht9Kg9ak8%2FU1JQopMcGaI%2FAAAAAAAAF2Q%2FmcpJD4jVsz0%2Fs1600%2Fhtt-2.jpg&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*

 

Mẹ, và vợ con của nạn nhân quá cố, ông Vũ Thanh Hải

https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets/proxy?url=http%3A%2F%2F1.bp.blogspot.com%2F-RFyVqq-GZx4%2FU1JQ90ylK1I%2FAAAAAAAAF2Y%2FHcuNoeTIfzg%2Fs1600%2F3-dua-1.jpg&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*

 

Bà Hoàng Thị Vui (vợ ông Hải) cùng con trai đã kịp đi từ Vũng Tàu ra Thái Bình vào đêm 17- 4 để dự buổi xin lỗi này. Bà Vui cho biết: những nỗi đau oan khiên của gia đình phải chịu đựng trong suốt 10 năm đằng đẵng qua không thể nào bù đắp nổi, “niềm vui được minh oan” cũng không trọn vẹn bởi chồng bà suy sụp, trầm cảm đến phát bệnh tâm thần vì bị oan ức đã tự vẫn do không thể chịu nổi oan sai khi bị Công an cùng VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu khởi tố với tội danh thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng khi công chứng trong một vụ án kinh tế từ năm 2004.

 

Theo hồ sơ vụ việc, tháng 4-2004, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định khởi tố bị can ông Vũ Thanh Hải để điều tra hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong vụ án tranh chấp ngôi nhà số 60 đường Lê Hồng Phong, TP Vũng Tàu. Ông Hải – khi đó đang là trưởng phòng công chứng nhà nước số 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

 

Cơ quan điều tra cáo buộc ông Hải thiếu trách nhiệm vì đã công chứng vào hợp đồng mua bán căn nhà số 60 trên của ông Nguyễn Văn Tuân (TP Vũng Tàu) giúp người bán là ông Tuân chiếm đoạt căn nhà này.

 

Theo hồ sơ, năm 1993 ông Tuân được gia đình ông Nguyễn Văn Nữ (là bác ruột ông Tuân) ủy quyền cho sử dụng căn nhà số 60 đường Lê Hồng Phong, TP Vũng Tàu. Năm 1996, vợ chồng ông Tuân làm hợp đồng bán căn nhà này cho người khác. Khi mang hợp đồng ra công chứng, số nhà 60 ông Tuân viết nhầm thêm chữ A đằng sau số nhà 60 bằng bút viết tay. Hợp đồng này do ông Hải làm thủ tục công chứng.

 

Sau đó gia đình (con) ông Nữ làm đơn tố cáo ông Tuân đã gian dối, chiếm đoạt ngôi nhà này. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh BR-VT đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ông Tuân về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, khởi tố ông Vũ Thanh Hải về tội công chứng thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Tháng 4-2006, TAND tỉnh BR-VT xét xử sơ thẩm và tuyên phạt ông Tuân 11 năm tù. Sau khi ông Tuân kháng cáo, tháng 12-2006, TAND tối cao tại TP. HCM xét xử phúc thẩm đã xác định nhà số 60 và số 60A Lê Hồng Phong thực tế chỉ là một. Căn nhà này thuộc quyền sử dụng của ông Tuân, vợ con ông Nữ đã ủy quyền cho ông Tuân được quyền định đoạt. Ông Tuân có quyền hợp pháp bán căn nhà này cho người khác. Việc sửa 60 thành 60A trong hợp đồng công chứng là do sơ suất, nhầm lẫn không có gì gian dối không làm thay đổi bản chất của hợp đồng.

 

Tòa đã tuyên ông Tuân vô tội và yêu cầu TAND tỉnh BR-VT tổ chức xin lỗi công khai và bồi thường oan sai. Hành vi của Công Chứng viên ông Vũ Thanh Hải công chứng nhà 60 hay 60A cũng không cấu thành tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” nhưng việc khởi tố, điều tra đối với ông Hải đã bị đình chỉ bởi ông Hải đã chết. (Do bức xúc vì oan ức tháng 8-2004 ông Hải đã thắt cổ tự vẫn tại nhà).

 

Do ông Hải chết trong giai đoạn điều tra nên sau khi chết công an đình chỉ điều tra nhưng trong cáo trạng và bản án sơ thẩm tháng 4 – 2006 cơ quan tố tụng Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn xác định ông Vũ Thanh Hải có tội.

 

Không tin chồng có tội, bà Hoàng Thị Vui (vợ ông Hải) ròng rã đi kêu oan suốt 10 năm. Đến ngày 10/1/2014, VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu mới thừa nhận ông Hải bị khởi tố oan. Bà Vui bức xúc khi suốt một thời gian dài 10 năm kể cả khi TAND tối cao tại TP. HCM xét xử phúc thẩm (tháng 12-2006) đã xác định là oan sai nhưng VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn im lặng đến tận hôm nay mới thừa nhận là gây oan sai. Bà yêu cầu cần làm rõ trách nhiệm cá nhân gây ra vụ án này. (*)

 

Đến đây thì người gõ bài dù không muốn chút nào là kẻ “phàm phu tục tử” nhưng cũng xin phép bạn đọc cho gõ vào đây 2 từ “khốn nạn”, Vâng! Đúng như thế, thật là khốn nạn cho một bọn người gọi là “công bộc” hột cơm nhân dân thường xuyên dính kẻ răng, hàng tháng vẫn ngửa tay nhận đồng lương từ mồ hôi nước mắt nhân dân nhưng thay vì tận tâm phục vụ lại bẽ cong chân lý đày đọa người dân, ân nhân của mình, đẩy họ vào tận cùng cõi chết. 

 

Bởi, nếu biết rằng tại TP/Vũng Tàu khoảng cách để đi từ cơ quan CS/Điều Tra và Viện KSND đến căn nhà số 60 đường Lê Hồng Phong là chưa tàn một điếu thuốc lá và nếu tiết kiệm xăng nhớt, lười nhác đi thực tế xác minh thì ngồi tại chỗ 2 cơ quan này cũng không khó lắm để có được văn bản chi tiết thông tin chính thức hiện trạng căn nhà này từ phòng quản lý nhà đất Vũng Tàu hay một cách nhanh chóng cụ thể hơn là từ CA/phường khu vực nơi quản lý hộ khẩu số nhà.

 

Tuy nhiên một động tác xác minh còn nhẹ nhàng hơn cả một buổi tắm biển như thế nhưng cả hai cơ quan CS/Điều tra và Viện KSND TP/Vũng Tàu không làm nỗi để đến tháng 12-2006, TAND tối cao tại TP. HCM xét xử phúc thẩm đã xác định nhà số 60 và số 60A Lê Hồng Phong TP Vũng Tàu thực tế chỉ là duy nhất một căn nhà.

 

Vậy thì chúng ta những người đóng thuế trả lương để nuôi những công bộc nói trên, có quyền nhận định rằng trong vụ án oan khiên rơi nước mắt này các công bộc CS/Điều tra Và Viện KSND/TP Vũng Tàu nói trên cũng hăng hái điều tra xác minh tìm sự thật đấy, nhưng là sự thật của giá trị bao nhiêu tiền phải chi ra từ chữ A viết nhầm sau con số nhà 60 chứ không phải là sự thật của duy nhất một căn nhà.

 

Thật khốn nạn (xin phép lập lại) Họ đã toa rập cùng nhúng tay vào một tội ác phá tan hạnh phúc của một gia đình nhưng… vẫn không khuất phục một nhân tố trung thực, ông Vũ Thanh Hải thà chết chứ dứt khoát không “chung chi” cho phường công bộc sâu dân mọt nước và thật chí lý khi bà Hoàng Thị Vui (vợ ông Hải) nhất mực yêu cầu không chỉ là lời xin lỗi mà cần phải làm rõ trách nhiệm những cá nhân gây ra vụ án oan dẫn đến cái chết đớn đau của chồng bà.

 

Hoàng Thanh Trúc

danlambaovn.blogspot.com

 

___________________________________

 

Chú thích:

 

(*) https://tinngan.vn/Chet-10-nam-nguoi-bi-khoi-to-oan-duoc-xin-loi_5-0-461963.html

 

3 Comments

 

 

SỢI XÍCH CỦA CHẾ ĐỘ (VietTuSaiGon)

Tháng Tư 20, 2014

 

Sợi xích của chế độ 

VietTuSaiGon

Sat, 04/19/2014 – 03:05 — VietTuSaiGon

http://www.rfavietnam.com/node/2018

 

Tôi còn nhớ, lúc tôi chừng mười lăm tuổi, tôi từng bị ông bác tôi mắng vì tôi dùng sợi dây nhợ buộc chân con chim cu đất, cột nó vào gốc cây: “Mi mà buộc người ta bằng sợi xích thì chính mi đã buộc vào cổ mi cái thòng lọng. Mở nó ra ngay!”.

 

Hồi đó do sợ bị ông bác đánh nên răm rắp mở ra và lòng đầy ấm ức, cứ nghĩ rằng ông bác này ép mình, không cho mình nuôi con chim dễ thương này, không chừng mình thả nó ra thì…! Mãi cho đến bây giờ, hình ảnh con chim cu gáy vỗ cánh bần bật bay đi một lèo sau khi tôi tháo sợi dây nhợ dưới chân của nó và trước khi bay đi hẳn, nó lượn mấy vòng quanh tôi giống như đang cảm ơn… Cái hình ảnh ấy, câu nói ấy rõ mồn một trong tôi sau mấy mươi năm dài.

 

Sáng nay, lên facebook, thấy hình ảnh Bầu Kiên bị còng tay, có thêm sợi xích dài nối ra, đầu tóc ông bạc trắng, cái dáng ngũ đoản của ông như mất hút giữa đám công an vận áo xanh cao, to, tay lăm lăm súng, dùi cui và gương mặt lạnh như tiền… Tự dưng, một cảm giác thương cảm cho thân phận con người, thương cảm cho tuổi già của ông Kiên và sự kinh tởm cái sợi xích cũng như cơ chế tồn tại của nó làm tôi thấy buồn đến lạ lùng!

 

Suy cho cùng, ngành công an Việt Nam vốn là ngành có nhiều thế lực nhất trong chế độ hiện nay, và họ cũng tự hào là ngành mũi nhọn, ngành tiên phong, ngành an ninh vững vàng, mạnh nhất khu vực, xuất sắc nhất đất nước… Nói chung là bản thành tích của họ đưa ra trên các đài báo trong nước thì miễn bàn. Điều đó cho thấy họ luôn tự hào và hãnh diện về sức mạnh của họ.

 

Sở dĩ tôi phải nói như thế vì tôi đã từng đặt ra câu hỏi: Liệu có phải vì sợ Bầu Kiên có đàn em đến cứu và cướp nghi can nên người ta phải buộc xích vào tay ông và dắt đi như dắt một con vật hung tợn như thế?

 

Và câu hỏi này được mổ xẻ: Hiện tại, với lực lượng hùng hậu (trong phiên tòa), hầu như chỉ có công an và một số người liên đới vụ án, không có thế lực giang hồ nào có thể tiến tới gần vì có đến ba lớp bảo vệ bên ngoài tòa án (lớp ngoài cùng là giao thông và dân phòng, lớp thứ hai là công an cơ động và lớp thứ ba gồm các lực lượng công an đặc nhiệm. Bất kì phiên tòa có tính chất quan trọng nào cũng được bảo vệ ba lớp như thế này, trong trường hợp tòa liên quan đến người đấu tranh dân chủ thì có thêm hai lớp nữa gồm rào kẽm gai và chó nghiệp vụ. Đó là chưa muốn nói đến lực lượng quân đội và công an dự bị luôn túc trực chờ lệnh xuất kích nếu có biến). Thử hỏi, với các lớp bảo vệ như vậy, thế lực nào lọt vào được?

 

Và hơn nữa, với việc xích bị can và dắt đi như thú vật như thế, nếu vì sợ họ bỏ chạy thì chẳng khác nào la làng với thiên hạ rằng mình sợ, lực lượng của mình không đủ sức kiểm soát tình hình?! Làm như thế khác nào tự dội nước lạnh vào bộ mặt an ninh của đảng?!

 

Trên thực tế, việc xích Bầu Kiên hoàn toàn không phải vì sợ ông ta bỏ trốn, sợ đàn em ông ta đến giải cứu. Hơn nữa, với thể lực hiện tại, nếu có đàn em tới giải cứu thì cũng phải có thêm người dắt ông ta chạy, đến khi nào ông ta chạy không nổi thì cõng mà chạy, khó có chuyện ông ta thoát thân mau lẹ để phải xích tay, cùm chân như vậy.

 

Chỉ có một mục đích duy nhất, mà cái mục đích này nhằm dùng một mũi tên bắn trúng hai đích: Dằng mặt thế lực đối lập và dằng mặt những nhà đấu tranh dân chủ; Tranh thủ tỏ ra là một chế độ tôn trọng pháp luật trước nhân dân và qua mặt quốc tế.

 

Vì sao? Vì chuyện Bầu Kiên bị bắt, bị đưa ra tòa có nguyên nhân cốt lõi là sự đấu đá phe nhóm đã đến cao trào chứ không phải là nhằm làm sạch bộ máy kinh tế. Vì nếu với mục đích làm sạch bộ máy kinh tế thì không có đủ còng, xích và nhà tù để nhốt hơn ba triệu đảng viên cũng như gần sáu triệu nhân viên nhà nước đang phục vụ trong guồng máy của đảng Cộng sản. Nguyên một hệ thống không sạch thì không thể làm sạch từ vài con ốc trong bộ máy đó được!

 

Mà việc xích tay, còng chân ông Kiên là để cho phe đối phương thấy bị nhục, thấy mình bị gằng gân, bị giằng mặt. Và hình ảnh này cũng ngầm đưa ra thông điệp đe dọa các nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền, các nhà bất đồng chính kiến. Bên cạnh đó, làm cho nhân dân, dư luận thấy chế độ này là công chính, kẻ nào lam lam, làm lũng đoạn kinh tế của nhân dân thì sẽ bị trừng phạt đích đáng… Những tưởng điều này lấy điểm được với nhân dân, nhưng mà…!

 

Thế kỉ 21 không phải là thời Trung Cổ, cái cần nhất của một quốc gia là sự tiến bộ, trong sạch và quyền làm người được đảm bảo tuyệt đối, mọi giá trị liên quan đến con người cần đươc bảo vệ chứ không phải là đối xử như thú vật với con người. Rất tiếc, nhà nước Cộng sản đã quá sai lầm khi xích tay, xích chân ông Kiên và dắt đi như thú vật.

 

Bởi nếu phiên tòa hay chiến lược của một nhà nước thành công phải là phiên tòa, chiến lược lấy lại những tài sản của nhân dân bị thất thoát và phanh phui những gì có liên quan đến nó chứ không phải là hành hạ người phạm tội để rồi tài sản vẫn cứ thất thoát và bầy đàn, phe nhóm vẫn ẩn mặt trong bóng tối, tội lỗi vẫn đầy rẫy. Làm như thế chẳng khác nào thí tốt chưa đủ, hành hạ tốt cho bưa, cho thỏa cái tính khát máu, tính bạo lực.

 

Và giữa nhân loại tiến bộ, giữa thế kỉ văn minh, con người đang có khuynh hướng tìm đến sự tiến bộ, quyền làm người đang được đấu tranh hằng ngày để đảm bảo tối đa… mà dùng sợi xích buộc vào một con người rồi dắt đi như súc vật như thế, có vẻ như nhà nước Cộng sản đã quá chán chường sự tồn tại của họ nên tự tử càng sớm càng tốt thì phải?!

 

Một chế độ dùng xích buộc nhân dân như buộc chó, thì cũng có nghĩa họ đang tự đưa đầu vào thòng lọng mà đáng sợ hơn là trên cái đầu chế độ lại gắn một gương mặt gớm ghiếc, nhầy nhụa và không giống với gương mặt con người!

 

VietTuSaiGon’s blog

 

————————————-

 

 Bầu Kiên là con dao sắc nằm trong tay kẻ côn đồ (Nguyễn Lân Thắng).

 

Từ “bầu” trong “bầu Kiên” dịch sao? (PVLH).

 

 

 

TRONG CÁI XÃ HỘI MÀ ĐA PHẦN CHẠY THEO SỐ ĐÔNG (Đông Phương)

Tháng Tư 20, 2014

 

Trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông

Đông Phương

Được đăng ngày Thứ bảy, 19 Tháng 4 2014 19:17

http://www.ethongluan.org/index.php?option=com_content&view=article&id=7624:trong-cai-xa-h-i-ma-da-ph-n-ch-y-theo-s-dong-dong-phuong&catid=66

 

Đôi khi tôi muốn phát điên lên, muốn hét to lên với mọi người, đừng như thế nữa, tôi không biết nên nói gì, làm gì để thay đổi tình trạng này và có thể sẽ chẳng ai chú ý đến lời tôi nói, có lẽ đây cũng là lần cuối tôi nói với mọi người, cái cảm giác một mình một suy nghĩ, lạc lõng đến vô vọng, người ta bảo đừng chết ở tuổi 20, tôi đã 22 tuổi, còn rất nhiều thời gian để làm, có hàng tỷ câu hỏi tại sao trong đầu mà không thể trả lời thỏa đáng.

 

Tại sao những hội chợ triển lãm, hình ảnh đất nước giới thiệu ra nước ngoài lúc nào cũng là nông sản, thủy sản, nguyên liệu thô, lúc nào cũng là hình ảnh áo dài thế? Tôi biết đó là nét đẹp văn hóa đáng trân trọng của Việt Nam, nhưng thực sự tôi tham lam, tôi muốn nhiều hơn nữa, tôi muốn người Việt mình đặc biệt là giới trẻ đừng học chỉ vì muốn kiếm một cái ghế an nhàn lương cao nữa, tôi muốn Việt Nam mình giới thiệu ra được nhiều sản phẩm trí tuệ hơn nữa, sẽ có thật nhiều Giáo sư Ngô Bảo Châu nữa.

 

Có câu ngạn ngữ, đại ý là: “Nhân cách hình thành nên ý thức, ý thức hình thành nên thói quen, thói quen tạo nên tính cách, tính cách quyết định số phận bạn”. Giá như các bạn đừng nghĩ đến chuyện không qua môn thì đút lót thầy cô, giá như các bạn nghĩ học để lấy kiến thức áp dụng thực tế, tôi đã từng suy nghĩ, nếu lựa chọn giữa một bên là công việc an nhàn lương hàng chục triệu một tháng với công việc mà tôi không yêu thích với một bên cho tôi một nhà thí nghiệm đầy đủ và hiện đại, một nhà sách vô tận cho tôi được nghiên cứu thỏa thích, tôi không ngần ngại chọn phương án 2, tôi sẽ có ít tiền hơn, tôi sẽ ngủ ít hơn, tôi không kiếm được cho bố mẹ nhiều tiền hơn, nhưng tôi thấy hạnh phúc thực sự, và nhất định tôi sẽ làm bố mẹ tự hào về tôi.

 

Đọc báo tôi thấy nhiều người Việt tài năng được vinh danh ở nước ngoài, tôi thấy thật ngưỡng mộ, điều đó chứng minh người Việt mình rất thông minh, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng tiến xa hơn nữa về khoa học công nghệ, bạn có ước mơ, lòng đam mê thì phải làm đến cùng, đừng làm việc gì cũng làm cho xong, cái kiểu đốt cháy giai đoạn, nóng vội muốn kết quả ngay chỉ giết chết ước mơ trong chúng ta.

 

Có những chuyện người ta nói công khai, trở thành điều quá đỗi bình thường, muốn xin vào ngân hàng phải chạy mấy trăm triệu, muốn xin làm giáo viên cũng phải mấy trăm triệu, muốn vào Sở này Bộ kia cũng phải mấy trăm triệu, bạn có tiền, phải, bạn được nhồi nhét vào một cái ghế yên vị như thế, bạn có cơ hội nhận hối lộ nhiều, cái ghế nào càng chắc, cơ hội ăn đút lót càng cao thì càng cần nhiều tiền để chạy chọt vào, rồi chúng ta đang đào tạo ra một tầng lớp lãnh đạo như thế nào? Tôi không vơ đũa cả nắm, vì thực sự có rất nhiều con người tâm huyết thực sự đang ngày đêm miệt mài cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước, nhưng thực sự lo sợ trước sự suy đồi đạo đức của một bộ phận không hề nhỏ trong xã hội bây giờ.

 

Hình : https://farm4.staticflickr.com/3813/13916039961_4c61c63b1f.jpg

 

Giới trẻ bây giờ thế nào? Một cô ca sĩ, người mẫu nổi tiếng nước ngoài, cả một hội ùn ùn kéo vào bình luận, buông những lời vô văn hóa, tràn ngập bình luận người Việt, còn rất nhiều người, ăn mặc hở hang, phản cảm, phát ngôn gây shock để được nổi tiếng, họ trơ lì với thái độ của người khác, người khác thấy thế cũng bắt chước theo, không cần biết ngày mai thế nào, không cần biết, tất cả quá đơn giản, hàng ngày ra đổ bê tông đường nắng oi ả ai biết đến, hàng ngày lao động cực khổ kiếm vài chục nghìn ai biết đến? Hàng ngày làm việc dưới hầm mỏ nguy hiểm tính mạng ai biết đến? Hàng ngày có những người thầy, người cô lặng lẽ truyền đạt tri thức đến cho những trẻ em nghèo ai biết đến? Tôi ước gì, ai đó chịu khó giành một chút thời gian quan tâm những gì tôi nói, và suy nghĩ thật nghiêm túc, ước gì…

 

Xin lỗi, đây là lần cuối tôi nói với mọi người về vấn đề này, có thể bạn đọc xong, suy nghĩ nhưng rồi cũng nhanh chóng quên đi trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông, nhưng tôi muốn nói ra suy nghĩ của tôi, tạm biệt.

 

Đông Phương

 

 

BA NHÀ HOẠT ĐỘNG VIỆT NAM ĐẾN HOA KỲ (Chân Như – RFA)

Tháng Tư 20, 2014

 

Ba nhà hoạt động Việt Nam đến Hoa Kỳ

Chân Như – RFA
2014-04-19

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/3-vietnamese-activists-arrive-at-the-us-04192014085451.html

 

Ba nhà hoạt động Kim Chi, Ngô Nhật Đăng, Ngô Đình Hà tại phi trường quốc tế Dulles, thủ đô Washington, Hoa Kỳ vào chiều 18 tháng 4, 2014 .   RFA photo

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/3-vietnamese-activists-arrive-at-the-us-04192014085451.html/banhahoatdong.gif/image

 

Ba nhà hoạt động cho tự do và nhân quyền của Việt Nam đã vượt những chặng đường bay 25 giờ đồng hồ, từ Bangkok, sang Dubai, để đến phi trường Dulles tại Washington, Hoa Kỳ, theo lời mời của các dân biểu Hoa Kỳ và một số các tổ chức cổ súy cho tự do thông tin.

 

Nữ nghệ sĩ Kim Chi cho biết rất mệt nhưng cũng rất vui:

“Đầu tiên hết rất là vui – vui là vì mình biết là như thế chuyến đi an toàn đến nơi đến chốn để có thể làm việc tốt được”

 

Blogger Ngô Nhật Đăng tỏ lộ tâm tình:

“Trước khi đi tôi cũng tiên liệu nhiều vấn đề có thể gây khó khăn, không qua khỏi Việt Nam nên cũng phải có một chút tính toán, vì tôi nghĩ đây là một cơ hội mà mình phải cố gắng giành lấy. Không mấy khi chúng ta có cơ hội để nói trước quốc tế, nói trước chính phủ Hoa Kỳ về những vấn đề của VN, nhất là tự do báo chí, vì thế tôi cũng phải tìm những cách làm sao đến được Hoa Kỳ “

 

Bạn trẻ Nguyễn Đình Hà cho biết “rất hồi hộp…”

“Em rất vui mừng và hồi hộp vào trong những ngày kế tiếp ở hoa kỳ thì có những điều gì mới mẻ và hay ho đến với em, thì em rất là hồi hộp vì những điều như thế”

 

Hồi hộp, cảm động, vui mừng khi đã đến nơi, nhưng họ không quên những nhà hoạt động khác như các blogger Phạm Chí Dũng, Nguyễn Lân Thắng và Anna Huyền trang, khi những người này bị nhà cầm quyền Việt Nam tước đi quyền tư do đi lại. 

 

Nghệ sĩ Kim Chi cho biết:

“Tôi rất buồn và bức xúc, mà đó là chính là biểu hiện vi phạm nhân quyền của Việt Nam, rất rõ. Trong 30 quyền của con người có quyền đi lại, cho nên việc này làm cho chúng tôi cảm thấy xúc động trong những ngày chờ để bay đi tiếp.” 

 

Blogger Ngô Nhật Đăng trả lời cuộc phỏng vấn của Chân Như, RFA, tại phi trường quốc tế Dulles, Washington D.C., 18 tháng 4, 2014

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/3-vietnamese-activists-arrive-at-the-us-04192014085451.html/ngonhatdang.gif/image

 

Hỏi về niềm hy vọng trong chuyến vận động này, blogger Ngô Nhật Đăng bày tỏ:

“Tôi hy vọng lần này sang đây thì trước hết chính phủ Hoa Kỳ có thể hiểu được một  phần thực trạng báo chí VN. (Đó là) những người Việt Nam chúng tôi chỉ muốn nói lên sự thật, và chỉ vì nói lên sự thật mà chiu những cảnh đàn áp thậm chí bắt bớ tù đày. Tôi rất muốn nói lên tiếng nói nhỏ bé của mình để cho chính phủ Mỹ chú ý tới và có thể đưa ra 1 chính sách ưu tiên trong vấn đề tự do báo chí tại VN”

 

Mong muốn trình bày trước công luận Hoa Kỳ cũng như quốc tế về thực trạng tự do ngôn luận tại Việt Nam, mong muốn có được một môi trường tự do báo chí cho đất nước, đó là nguyện ước của cac nhà vận động Việt Nam, nhưng họ có lo sợ cho ngày trở về không, với những khó khăn từ chính quyền đang chực chờ?

 

(Anh Ngô Đinh Hà:) Không. Em không hề lo sợ..Nếu mà lo sợ thì em đã không đặt chân đến nước Mỹ…và khi về nước, bất chấp mọi khó khăn em vẫn quyết vì một nước Việt Nam tốt đẹp hơn.”

 

Phái đoàn sẽ có những buổi làm việc tại Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 29 tháng 4, bên cạnh nhiều cuộc hội thảo về tự do báo chí khác. Chúng tôi sẽ tiếp tục gởi đến quý vị tường trình về những hoat động ấy. Mong quý vị theo dõi.

 

————————–

 

BREAKING NEWS : 3 NHÀ HOẠT ĐỘNG TỪ VIỆT NAM ĐẾN MỸ VẬN ĐỘNG TỰ DO BÁO CHÍ (RFA) 18-4-2014

 

CÁC NHÀ VẬN ĐỘNG VIỆT NAM TỚI MỸ VẬN ĐỘNG CHO TỰ DO BÁO CHÍ (Trà Mi – VOA) 18-4-2014

 

Ý KIẾN NGƯỜI BỊ CẤM ĐI MỸ VẬN ĐỘNG CHO NỀN TRUYỀN THÔNG ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM (Gia Minh – RFA)

Tháng Tư 20, 2014

 

Ý kiến người bị cấm đi Mỹ vận động cho nền truyền thông độc lập tại Việt Nam

Gia Minh- RFA
2014-04-19

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/opinion-of-the-person-prevented-to-usa-for-the-event–for-an-independent-media-04192014114151.html

 

Gia Minh: Tiến sỹ là một người được mời đến tham dự sinh hoạt hướng đến một nền báo chí độc lập nhưng passport của ông bị giữ chưa thể đi được, vậy việc không để một người trong nước ra đi tham dự sinh hoạt hướng đến một nền báo chí độc lập như thế nói lên điều gì?

TS Phạm Chí Dũng: Càng tốt, thưa anh! Ghi thêm một điểm cho Việt Nam về biểu dạng khuôn mặt nhân quyền trong Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Việt Nam tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 11 năm 2013, và tưởng rằng đó như là một tín hiệu đáng mừng, một niềm khích lệ; nhưng ngay cả những qui định đơn giản nhất của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc về vấn đề đi lại, xuất nhập cảnh cá nhân mà cũng không được tôn trọng một cách đúng mức từ phía Nhà nước Việt Nam thì làm sao có thể nói đến những vấn đề nhân quyền lớn lao khác, như ông ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã nói Việt nam tuân thủ đến hơn 80% những khuyến nghị của cuộc Kiểm điểm Phổ quát về nhân quyền năm 2009 của Liên hiệp quốc. Tôi cho đó là một sự giả dối, và muốn chứng minh sự giả dối đó, nếu nói riêng về vấn đề quyền tự do đi lại liên quan đến Điều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, có đến hằng trăm trường hợp có thể chứng minh được tại Việt Nam. Vì hiện ở Việt Nam có ít nhất 100 nhân vật bất đồng chính kiến bị cấm xuất cảnh, trong đó khá nhiều bị thu giữ hộ chiếu. Thậm chí vào Tết vừa rồi cũng đã chính thức hình thành một Hội những người bị cấm xuất cảnh. Đó là một hội chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam.

 

Theo một nguồn tin không chính thức chưa kiểm chứng, trong chuyến đi làm việc tại Việt Nam về vấn đề nhân quyền, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Leahy cũng đã đặt vấn đề xuất cảnh của những người muốn thể hiện chứng kiến của mình, như là một trong những ưu tiên hàng đầu trong mối quan hệ song phương hàng đầu Việt Nam- Hoa Kỳ.  Và không chỉ song phương về mặt chính trị, ngoại giao, quân sự mà tất nhiên phải song phương về mặt kinh tế và trong đó tất nhiên phải hướng đến vấn đề Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP.

 

 

Gia Minh: Tiến sĩ vừa nhắc những người bị tước đi quyền đi lại như thế đã lập một hội, và họ cũng đã có hai cuộc gặp nhau gọi là ‘Cà Phê Nhân quyền’ để nói về vấn đề này. Cũng là một trong số đó, thì việc lên tiếng để đòi hỏi quyền cho bản thân và những người khác trong thời gian sắp đến sẽ ra sao nữa?

TS Phạm Chí Dũng: Thực ra đã có ba cuộc bàn về nhân quyền rồi. Cuộc gần đây nhất diễn ra vào buổi sáng hôm nay. Thông tin mà tôi nghe được lại trái ngược với hai cuộc lần trước, nghĩa là ‘quá tam ba bận’, cuộc lần này đã diễn ra đàn áp. Không hiểu như thế nào mà tại một thành phố hiền hòa, êm đềm du lịch như Nha Trang lại có thể diễn ra việc đánh đập và bắt giam hằng chục bloggers tham dự Cà phê Nhân quyền vào buổi sáng hôm nay. Đó là điều ngạc nhiên, nó trái ngược hình ảnh hai cuộc cà phê nhân quyền trước đó vào tháng hai và tháng ba tại Sài Gòn và tại Hà Nội, cơ bản không diễn ra sự trấn áp thô bạo. Không khí tương đối bình lắng, tương đối hiệu quả và tại Hà Nội thậm chí còn có sự hiện diện của một số viên chức đại diện ngoại giao nước ngoài.

 

Riêng cá nhân tôi, tôi đã và sẽ làm theo kiểu của mình; nghĩa là vấn đề cấm xuất cảnh đối với tôi trong chuyến đi Geneve, Thụy Sỹ trong tháng hai vừa rồi, theo tôi được biết là một trong những vấn đề được đánh giá rất nghiêm trọng theo quan điểm của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Vì thế họ sẽ ưu tiên cứu xét vấn đề này như là một trong những nổ lực hàng đầu.

 

Theo quan điểm một khách mời của Liên hiệp quốc mà bị một quốc gia thành viên, nơi mà khách mời đó mang quốc tịch, ngăn cản, ngăn trở thì đó là một hành vi không thể chấp nhận được. Vì thế thông qua một hãng luật có uy tín của quốc tế, trong tháng hai và tháng ba tôi đã hoàn thành bộ hồ sơ khiếu nại Nhà nước Việt Nam về việc ngăn cản chuyến đi Thụy Sỹ hồi tháng hai và thu giữ hộ chiếu vô lối, vô cớ và theo tôi là bất hợp pháp, trái ngược với Công ước Quốc tế về các quyền tự do dân sự và chính trị và trái ngược với Điều 12 của Hiến Pháp Nhà nước Việt Nam. Và tôi đã gửi toàn bộ hồ sơ cho Văn phòng của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Họ đã chấp nhận hồ sơ này và tiếp tục chuyển đến các cấp thẩm quyền của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc để xem xét, giải quyết, xử lý. Nếu xử lý thỏa đáng, tôi yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải trả lại hộ chiếu cho tôi và những trường hợp tương tự như tôi, và đồng thời phải giải quyết quyền được xuất cảnh bình thường không bị ngăn cản, ngăn trở. Chính phủ Việt Nam phải thay mặt cho toàn bộ Nhà Nước Việt Nam phải đứng ra xin lỗi những trường hợp đã ngăn cản xuất cảnh trái phép như chúng tôi.

 

 

Gia Minh: Trong thời đại Internet hiện nay có thể giúp cho sự lên tiếng đóng góp cho những sinh hoạt chung trên thế giới, dù bị ngăn cản xuất cảnh, nếu được gửi đến sinh hoạt Hướng đến một nền báo chí độc lập sẽ diễn ra ở Hoa kỳ, tiến sĩ sẽ gửi đến thông điệp gì?

TS Phạm Chí Dũng:  Nền báo chí độc lập nằm trong một xã hội dân sự độc lập, và Việt Nam trong tương lai phải cố gắng làm sao xây dựng một xã hội dân sự độc lập với Nhà Nước, để phản biện với Nhà Nước.

 

Gia Minh:Cám ơn Tiến sĩ về cuộc phỏng vấn ngắn vừa rồi.

 

 

 

LIỆU NHÀ BÁO PHẠM CHÍ DŨNG SẼ ĐƯỢC XUẤT CẢNH ĐI MỸ HAY KHÔNG ? (Thụy My – RFI)

Tháng Tư 20, 2014

 

Liệu nhà báo Phạm Chí Dũng sẽ được xuất cảnh đi Mỹ hay không ?

Thụy My – RFI

Thứ bảy 19 Tháng Tư 2014

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20140419-nha-bao-pham-chi-dung-se-duoc-xuat-canh-di-my

 

Trong khuôn khổ các hoạt động nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng Năm, một số nhà báo và blogger từ Việt Nam được mời sang tham dự buổi điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ ngày 29/04/2014 và một cuộc hội thảo vào ngày 01/05 tại Washington DC, nhằm vận động cho tự do báo chí trong nước.

 

Các khách mời này sẽ tham gia một loạt các sinh hoạt như thảo luận về những thử thách của việc khởi động một nền báo chí độc lập tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhà hoạt động cũng sẽ tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Liên Hiệp Quốc, một số dân biểu Mỹ, các tổ chức nhân quyền, công ty tin học, tham gia khóa huấn luyện về truyền thông và an ninh mạng. 

 

Được biết chủ đề của Ngày Tự do Báo chí Thế giới 2014« Tự do cho truyền thông vì một tương lai tốt đẹp hơn ». Dấu nhấn được đặt trên các vấn đề : truyền thông tự do, Nhà nước pháp quyền, báo chí chuyên nghiệp là một bộ phận của phát triển. 

 

Vừa rồi có ba nhà hoạt động đã đến Mỹ, hai người khác bị ngăn chận tại sân bay. Riêng tiến sĩ, nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, người đã từng bị cấm xuất cảnh đi Genève để tham dự một cuộc hội thảo về nhân quyền với tư cách diễn giả hồi tháng Hai, lần này cũng được mời làm diễn giả trong buổi điều trần, nhưng hộ chiếu của anh vẫn đang bị thu giữ.

 

RFI Việt ngữ đã phỏng vấn tiến sĩ Phạm Chí Dũng về các vấn đề liên quan đến khả năng xuất ngoại của anh. 

 

Nghe (05:46) :   Ông Phạm Chí Dũng  19/04/2014

 

 

 

RFI : Anh có nhận được thư mời chính thức từ Quốc hội Hoa Kỳ để tham dự buổi điều trần và hội thảo về tự do báo chí ? 

TS Phạm Chí Dũng : Đó là thư mời chính thức, ký ngày 01/04/2014 bởi một số nghị sĩ Hoa Kỳ. Tôi được mời với tư cách diễn giả và sẽ thuyết trình về những vấn đề làm thế nào để tạo dựng một nền báo chí độc lập ở Việt Nam trong tương lai. 

 

RFI : Chỉ còn ít ngày nữa là buổi điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ sẽ diễn ra, nhưng không biết Chính phủ Việt Nam đã có động thái nào trả lại hộ chiếu cho anh chưa? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi được biết Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Hoa Kỳ đã làm việc với Hà Nội về trường hợp của tôi, nhưng cho tới nay vẫn chưa có một dấu hiệu nào về việc Chính phủ Việt Nam và Bộ Công an trả lại hộ chiếu cho tôi. Hộ chiếu của tôi đã bị Cục Quản lý Xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an thu giữ vào ngày 01/02/2014 khi tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất để đáp chuyến bay đến Geneve, Thụy Sĩ cho một hội thảo bên lề cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát về Nhân quyền đối với Việt Nam. 

 

RFI : Nhà nước Việt Nam đã tham gia một số công ước quốc tế. Việc cấm xuất cảnh và thu giữ hộ chiếu của anh và những người khác có thể vi phạm các công ước này ? 

TS Phạm Chí Dũng : Chắc chắn là vi phạm, thậm chí còn vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng theo quan điểm của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc khi Việt Nam đã ngăn cản khách mời của Liên Hiệp Quốc. Chúng ta hãy nhìn lại, điểm 3 của Điều 12 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị nêu rõ các quyền đi lại của cá nhân sẽ “không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận”. 

Còn Điều 12 của Hiến pháp Việt Nam quy định “Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam … tuân thủ Hiến chương Liên Hiệp Quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…”. 

Trong khi đó, Bộ Công an chỉ đưa ra lý do chung nhất và hết sức mơ hồ để cấm nhiều người xuất cảnh là “vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”. Nhưng lại chưa có cơ quan nào, dù bằng lời nói hay bằng văn bản, chứng minh cho tôi biết rằng tôi đã vi phạm an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Nếu vậy thì làm sao có thể cấm đoán xuất cảnh đối với những người như tôi ? 

 

RFI : Được biết sau khi bị cấm xuất cảnh đi Thụy Sĩ, anh đã gửi thư khiếu nại đến Chính phủ và một số cơ quan thẩm quyền của Việt Nam. Các cơ quan này có trả lời cho anh chưa ? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi chỉ nhận được một công văn của Thanh tra Bộ Công an là đã chuyển thư khiếu nại của tôi đến Cục Quản lý Xuất nhập cảnh để “xem xét giải quyết”. 

 

RFI : Anh có hy vọng nào cho khả năng “xem xét giải quyết” ấy ?

TS Phạm Chí Dũng : Thực lòng tôi chẳng mấy hy vọng. Từ ngày vào Hội đồng Nhân quyền, cơ quan công an Việt Nam vẫn hành xử theo một não trạng và cách thức hầu như không thay đổi, tức rất thiếu tôn trọng các quyền con người. Đúng là chỉ có ai bị chế tài mới có thể thấm hiểu sâu sắc về tâm trạng và sự mất tự do của những người bị chế tài. 

Tôi chỉ hy vọng là Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam mà nghị sĩ Mỹ Ed Royce nêu ra vào cuối tháng 3/2014 sẽ sớm được thông qua ở Quốc hội Mỹ, sẽ giúp các quan chức Việt Nam nhìn nhận bản chất của việc cấm đoán không đơn giản như họ thường quan niệm và hành xử. 

 

RFI : Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc có giúp gì được cho anh và những trường hợp như anh ? 

TS Phạm Chí Dũng : Vì thật khó để hy vọng khiếu nại có kết quả đối với các cơ quan Việt Nam, tôi đã tiến hành làm hồ sơ khiếu nại Nhà nước Việt Nam và chính thức gửi đến Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Tôi yêu cầu trường hợp của tôi và của nhiều người bất đống chính kiến khác phải được Bộ Công an trả lại hộ chiếu và không ngăn cản việc xuất cảnh. Tôi cũng yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải chính thức xin lỗi vì đã để xảy ra những vụ việc vi phạm quyền đi lại như vậy. 

Hồ sơ của tôi được một tổ chức tư vấn luật pháp quốc tế có uy tín hỗ trợ, và đã được Văn phòng Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc chính thức tiếp nhận cứu xét. Theo tôi được biết, vấn đề bị cấm xuất cảnh của tôi nằm trong những ưu tiên cứu xét hàng đầu của Hội đồng Nhân quyền. Nếu việc cứu xét thỏa đáng, Hà Nội sẽ bị ghi thêm một điểm xấu về nhân quyền và Nhà nước, Chính phủ Việt Nam sẽ phải trả lời trực tiếp cho ông chủ tịch Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc về vụ việc vi phạm… Câu chuyện còn lại chỉ là thời gian. 

 

RFI : Thời gian bây giờ chỉ còn hơn một tuần nữa để kịp xuất cảnh đi Hoa Kỳ. Nếu Chính phủ và Bộ Công an Việt Nam vẫn kiên quyết không trả lại hộ chiếu, hoặc trả hộ chiếu nhưng không cho anh xuất cảnh, phản ứng của anh sẽ thế nào ? 

TS Phạm Chí Dũng : Tôi xin nhường lại mọi phản ứng cho Quốc hội và các dân biểu Hoa Kỳ – những người đã thể hiện quá đủ thiện chí và tình cảm đối với một Việt Nam đang suy sụp kinh tế cùng lối thoát không còn cách nào khác là phải được chấp nhận vào Hiệp định TPP. Nhưng tôi không dám chắc rằng Quốc hội Hoa Kỳ – địa chỉ đưa ra lời mời với tôi – sẽ phản ứng đến mức nào nếu thể diện của họ bị xúc phạm nặng nề bởi sự từ chối từ phía Chính phủ Việt Nam. 

 

RFI : Xin cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng.

 

 

 


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 38 other followers