Trung Quốc đứt neo : Các thị trường chứng khoán sụt giá mạnh (Nguyễn Xuân Nghĩa | VOA)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Các thị trường chứng khoán Trung Quốc sụt giá mạnh

VOA Tiếng Việt

27.07.2015

http://www.voatiengviet.com/content/cac-thi-truong-chung-khoan-trung-quoc-sut-gia-manh/2880144.html

.

Các biện pháp quyết liệt của Bắc Kinh nhằm ngăn chận sự tuột dốc của các thị trường chứng khoán Trung Quốc hôm nay bị phương hại nghiêm trọng trong lúc các chỉ số chính bị tụt mạnh với mức sút giảm trong một ngày lớn nhất trong vòng 8 năm.

Chỉ số tổng hợp Thượng Hải giảm 8,5%, trong lúc chỉ số CSI 300 của các công ty niêm yết lớn nhất ở Thượng Hải và Thâm Quyến sụt 8,6%.

Một số nhà phân tích cho rằng tình trạng này bắt nguồn từ việc các nhà đầu tư đua nhau bán chứng khoán để lấy lời tiếp theo sau những sự hỗ trợ vốn với qui mô lớn của chính phủ, là sự hỗ trợ đã giúp cho giá cổ phiếu gia tăng trong 3 tuần qua.

Những người khác nói rằng các thị trường đã phản ứng tiêu cực trước những tin tức cho rằng Quỹ Tiền tệ Quốc tế thúc giục Trung Quốc thu hồi các biện pháp can thiệp, những số liệu tệ hơn dự kiến về lợi nhuận của các công ty công nghiệp Trung Quốc, và thịt heo tăng giá.

Tuy nhiên, theo ông Dương Vũ Đình, kinh tế gia cấp cao của Tập đoàn Ngân hàng ANZ, nguyên do chính là các thị trường chứng khoán Trung Quốc đã không giảm bớt nợ.

“Bởi vì sự phô nhiễm nợ nần ở mức cao, vẫn còn ở mức cao, của các thị trường Trung Quốc, cho nên bất kỳ điều gì làm bùng ra sự sút giảm trong một thời gian ngắn như vậy cũng sẽ có những tác động dây chuyền tiêu cực.”

Trong lúc các thị trường chứng khoán ở Hoa Lục tăng mạnh trong năm vừa qua, nhiều nhà đầu tư vay tiền trên thị trường vốn không chính thức để mua cổ phiếu. Khi thị trường sụt giá, nhiều người không thể trả được nợ.

Ông Dương Vũ Đình cho rằng trong thời gian tới đây các nhà quản lý thị trường chứng khoán sẽ tiếp tục hạn chế những sự vay mượn như thế, những hạn chế mà ông cho là góp phần làm cho thị trường được lành mạnh.

Bắc Kinh đã áp dụng nhiều biện pháp quyết liệt để ngăn không cho thị trường tuột dốc, trong đó có việc tạm ngưng việc mua bán cổ phiếu của nhiều công ty, dùng ngân hàng trung ương để hỗ trợ cho việc mua cổ phiếu và bắt buộc những người có 5% cổ phiếu của một công ty không được bán cổ phiếu trong vòng 6 tháng.

Ông Lữ Tuỳ Khải, giáo sư kinh tế học của Đại học Bắc Kinh, nói rằng các nhà quản lý sẽ không thể giữ cho các thị trường không sụt giá và họ không nên tìm cách làm như vậy.

“Giá trị của các thị trường Trung Quốc tiếp tục được đánh giá quá cao, cho nên vẫn còn chỗ để điều chỉnh theo hướng hạ giảm. những biện pháp cứu nguy của chính phủ có thể ngăn chận sự tuột dốc trong ngắn hạn, nhưng không có khả năng để đảo ngược xu thế dài hạn.”

Ông Lữ cảnh báo rằng nếu chính phủ tiếp tục nới rộng các biện pháp ổn định thị trường để làm trì hoãn cho sự điều chỉnh, bong bóng đầu cơ của thị trường càng khó có thể kiềm chế.

Tin liên hệ

Giá vàng ở Châu Á rớt xuống mức thấp nhất trong vòng 5 năm

———————–

Trung Quốc đứt neo

Nguyễn Xuân Nghĩa

Monday, July 27, 2015 4:32:51 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=210894&zoneid=97

.

Khi con tàu của Tàu bị nứt

Rốt cuộc thì niềm hy vọng chỉ tồn tại được hai tuần.

Hôm Thứ Hai 27, chỉ số Phức Hợp Thượng Hải (Shanghai Composite Index, ký hiệu SHCOMP) lại mất gần 8.5%, một mức sụt giá trong ngày chưa từng thấy từ lần tuột giá trước vào ngày 27 Tháng Hai năm 2007. Các chỉ số của thị trường Thẩm Quyến và ChiNext cũng lao dốc tương tự. Biến động này chạy theo ánh mặt trời, làm các thị trường Âu Châu rồi Hoa Kỳ đều tơi tả.

Nhìn trong ngắn hạn, động cơ chính của vụ tuột giá gồm có hai yếu tố.

Thứ Sáu tuần trước, thống kê về đơn đặt hàng chế biến PMI (purchasing management index) của Trung Quốc, một chỉ số có tính cách tiên báo về sinh hoạt sản xuất trong thời gian tới, sụt nặng hơn mọi dự đoán và báo hiệu tình trạng trì trệ kinh tế sắp tới. Khi sản xuất đình đọng thì lợi nhuận không thể tăng và giá cổ phiếu vì thế sẽ giảm. Lý do thứ hai là sau khi tung mọi biện pháp bất thường để nâng giá cổ phiếu kể từ ngày “Song Thất Kinh Hoàng,” hay “Thứ Ba Đen” vào mùng bảy Tháng Bảy, lãnh đạo Bắc Kinh có thể mệt mỏi buông tay xem sự thể trồi sụt ra sao. Ít ra là giới đầu tư suy đoán như vậy và rùng rùng tháo chạy.

Nhìn trong dài hạn, cổ phiếu tại Trung Quốc được định giá quá cao so với khả năng sinh lời nên đã sụt từ đầu Tháng Bảy và sẽ còn sụt nếu không được nhà nước nâng đỡ. Nhà nước nâng giá được bao lâu? Giá sụt đến cỡ nào thì mới là vừa, là “đúng giá?” Thế nào là “thực giá?”

Chúng ta cần vài chi tiết chuyên môn cho loại câu hỏi đó.

Bài nhập môn là giá trị cổ phiều lần lượt tùy thuộc vào các yếu tố căn bản là lợi nhuận, khả năng kinh doanh, tình hình thị trường và đà tăng trưởng kinh tế. Cổ phiếu là món hàng trao đổi trên thị trường chứng khoán là nơi các doanh nghiệp tìm đến để huy động vốn kinh doanh. Một là cho vay bằng cách đưa tiền và đem về tờ giấy nợ gọi là “trái phiếu” và được hưởng phân lời trong kỳ hạn. Hai là hùn vốn bằng cách mua cổ phiếu với kỳ vọng là được chia tiền lời gọi là cổ tức và hy vọng rằng tài sản mình trao cho doanh nghiệp sẽ lên giá sau này, nếu có bán lại thì vẫn có lời.

Khi mua qua bán lại các tờ giấy gọi là trái phiếu hay cổ phiếu trên thị trường, người ta còn phải nghĩ đến tâm lý của người trong cuộc, họ mua bán bằng thông tin hay nghe ngóng và có phản ứng bầy đàn. Nếu ai cũng mua thì ta nên mua và nhiều người mua thì giá sẽ tăng, hoặc ngược lại.

Giới đầu tư có nghiên cứu – khác với giới đầu cơ chơi stock như đánh bạc – còn dùng nhiều phương pháp kỹ thuật để trắc nghiệm tâm lý của thị trường. Một phương pháp là đếm mức “trung bình di động” (moving average) của giá cổ phiếu trong 50 ngày hay 200 ngày trước, mỗi ngày mới thì lại thêm đầu và bỏ đuôi – thêm kết quả của ngày mới nhất và bỏ kết quả của ngày cũ nhất. Và đường tuyến MA đó là “mức nâng” của thị trường. Khi giá cổ phiếu sụt dưới mức đó là có vấn đề.

Tính đến hôm 12 Tháng Sáu vừa rồi, khi thị trường lên tới đỉnh và tăng 150% so với 12 tháng trước, thì giá cổ phiếu vẫn cao hơn đường tuyến MA-200 (trung bình di động của 200 ngày trước). Mà cao hơn đến 55%. Tức là định giá gần gấp đôi “thực giá.” Giới chuyên môn bèn kết luận, thường thì không sai, rằng cổ phiếu Trung Quốc có thể sẽ mất phân nửa giá và thời gian điều chỉnh ấy cũng sẽ kéo dài khá lâu, ít ra cũng 200 ngày. Tức là vẫn chưa thấy quan tài.

Nên còn đổ lệ dài dài.

Vì sao chẳng ai thấy trước điều đó rồi bây giờ mới choáng váng? Không, hỏi vậy là sai rồi!

Vì sao Bắc Kinh không thấy điều mà nhiều người đã báo trước từ lâu?

Từ nhiều năm nay, giới chuyên gia khách quan – không có quyền lợi gắn bó với sòng bài Bắc Kinh – đã nói mãi rằng công cuộc phát triển kinh tế Trung Quốc từ năm 1949 chẳng có gì là kỳ diệu. Phép lạ kinh tế Trung Quốc chỉ là một huyền thoại, điều không có mà cứ được loan truyền.

Các nước Đông Á từng áp dụng quy luật thị trường để tìm đà phát triển đều có nhiều thập niên tăng trưởng cao như vậy, rồi trước sau mỗi bước lại có khi hụt hẫng, bị biến động và khủng hoảng, nên phải cải sửa. Sau Nhật Bản, các nền kinh tế khác tại Đông Á đã từng có giai đoạn tăng trưởng mà chỉ có Nam Hàn và Đài Loan là thật sự vươn lên và vượt qua “cái bẫy của lợi tức trung bình” để trở thành công nghiệp hóa ngang hàng Tây phương và Nhật Bản. Một trong những lý do ít ai chấp nhận là hai xứ này đã duy trì được mức công bằng xã hội trong thời tăng trưởng cao và tự chuyển hóa thành quốc gia dân chủ. Còn lại là các quốc gia vẫn còn xoay trở trong cái bẫy đó.

Việt Nam là ngoại lệ tệ hại nhất trong nhóm tân tòng Đông Á vì chưa lọt được vào trong!

Dù có dân số cao nhất và được 30 năm tăng trưởng ngoạn mục từ 1949 đến 2009, Trung Quốc chưa ra khỏi tình trạng này và như nhiều xứ khác đã gặp, đang tới thời phải cải sửa, chuyển hướng, để tránh khủng hoảng. Tai họa kia là tinh thần duy ý chí của lãnh đạo.

Từ cả chục năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh thời Hồ Cẩm Đào Ôn Gia Bảo đã công nhận rằng kinh tế Trung Quốc không cân đối, thiếu phối hợp, chẳng công bằng nên không bền vững. Nhưng họ sửa không được mà còn lao vào khủng hoảng với núi nợ khổng lồ tựa trái bóng. Và họ trao lại nhiệm vụ chuyển hướng cho thế hệ Tập-Lý, Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, lên lãnh đạo từ sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012.

Sau bốn Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương – mỗi năm hai kỳ – chi tiết về đường hướng cải cách đã được đề ra mà không chấp hành. Sau khi thấy thị trường địa ốc bị xì thì họ lại bơm tiền vào thị trường cổ phiếu với kết quả là bóng lại bể làm thị trường mất gần bốn ngàn tỷ đô la. Nhà nước Bắc Kinh lại bít lỗ hà thì ra lỗ hổng. Là chuyện Thứ Hai 27 vừa qua khi bàn tay thô bạo của nhà nước bị bàn tay vô hình của thị trường bẻ thêm một ngón. Còn chủ trương cải cách để áp dụng quy luật thị trường như thế hệ Tập-Lý đã hứa hẹn trở thành một khẩu hiệu lạc lõng.

Đâm ra thị trường lại trở thành đấu trường và trong những tháng sắp tới, chúng ta sẽ còn theo dõi trận đấu ngoạn mục này. Nếu người Hà Nội có ngủ quên mà vẫn coi mô hình Trung Quốc là mẫu mực thì sẽ còn bẽ bàng dài dài…

Viễn ảnh?

Một con tàu như Titanic thì không chìm lỉm trong chớp mắt như cái xuồng lá và khi chìm thì cũng gây ra một vòng xoáy nguy hiểm ở chung quanh.

Các thị trường quốc tế đang nhìn vào vòng xoáy đó để tìm ra mối liên hệ gần xa khi một đại gia như Trung Quốc bị đắm. Lạc quan thì bị suy trầm – có đà tăng trưởng thấp hơn – nặng thì bị suy thoái là tăng trưởng âm, tức là bị khủng hoảng và vỡ nợ dây chuyền. Tình trạng này có thể kéo dài nhiều năm.

Ngay trước mắt, khi kinh tế suy trầm thì yếu tố cung cầu khiến các nước bán nguyên nhiên vật liệu cho kinh tế Trung Quốc đều lâm nạn. Yếu tố ấy giải thích vì sao các thương phẩm đều sụt giá mạnh, kể cả dầu thô. Hoa Kỳ chẳng lệ thuộc nặng vào xuất cảng, như Đức hay Trung Quốc, mà còn chóng mặt vì dầu thô sụt giá – mất toi 150 ngàn công việc kể từ đỉnh cao năm ngoái. Nếu kinh tế Đức và Trung Quốc cùng suy trầm, chưa kể hiệu ứng Hy Lạp vẫn còn đe dọa, Mỹ kim là nơi ẩn trốn an toàn hơn cả, đô la lại lên giá và Hoa Kỳ sẽ lại là bãi đáp an toàn hơn cả…

Và đấy cũng là mối nguy khác cho Bắc Kinh vì lỡ neo đồng bạc vào tiền Mỹ. Thoi thóp còn dài.

.

.

.

Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Vụ Phùng Quang Thanh và truyền thông Việt Nam

Nguyễn Hưng Quốc

28.07.2015

http://www.voatiengviet.com/content/vu-phung-quang-thanh-va-truyen-thong-vietnam/2880289.html

.

Mấy tuần qua, trên các phương tiện truyền thông xã hội, đặc biệt là facebook, tin tức khiến người ta chú ý và bình luận nhiều nhất là về Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng của Việt Nam. Thoạt đầu, có tin ông bị ám sát, sau đó, tin ông chết vì ung thư phổi trong bệnh viện Georges Pompidou của Pháp.  Mà không phải chỉ có người Việt Nam. Ngay cả hãng thông tấn Đức Deutsche Press-Agentur (DPA) cũng loan tin ông qua đời. Chính quyền Việt Nam phải lên tiếng cải chính. Mới đây, báo chí trong nước loan tin ông Phùng Quang Thanh đã bay từ Pháp về Việt Nam với tình trạng sức khoẻ rất tốt. Tuy vậy, tin đồn về cái chết của ông vẫn tiếp tục râm ran trong dư luận. Người ta vạch ra những sự mơ hồ và không đáng tin cậy trong các bản tin đăng trên báo chí Việt Nam: Chỉ có những lời tường thuật chung chung chứ không có một bức ảnh nào của Phùng Quang Thanh cả. Thật ra, cũng có. Có một bức ảnh ông đứng sau chiếc xe Lexus ra phi trường đón. Nhưng trong bức ảnh ấy, hình của Phùng Quang Thanh rất mờ. Người ta nghi ngờ đó không phải là ông.

Thực tình, tôi không quan tâm đến chuyện Phùng Quang Thanh chết hay sống. Ông chết hay sống, tình hình chính trị Việt Nam, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc, cũng không có gì thay đổi. Người này mất thì người khác lên thế. Chính sách của Việt Nam ít khi lệ thuộc vào một người, ngay cả khi người ấy đang ở một vị thế rất cao là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Điều khiến tôi quan tâm nhiều nhất là vấn đề truyền thông của Việt Nam. Về phương diện này, có mấy vấn đề cần được chú ý:

Thứ nhất, chúng ta thấy rất rõ sự vụng về của giới truyền thông Việt Nam. Trước sự vắng mặt của Phùng Quang Thanh trong các buổi lễ lớn tại Việt Nam và trước sự ngạc nhiên và tò mò của dư luận, người ta hoàn toàn im lặng. Mãi đến khi tin đồn về cái chết của ông lan rộng, người ta mới lên tiếng cải chính. Nhưng sự cải chính cũng không thuyết phục. Ai cũng thấy một điều: Chỉ cần đưa một bức ảnh mới của Phùng Quang Thanh trong bệnh viện, mọi người sẽ an tâm ngay tức khắc. Vậy mà người ta không làm. Ngay cả khi loan tin Phùng Quang Thanh đã về nước, người ta cũng không đăng một bức ảnh nào cụ thể cả khiến dư luận vẫn tiếp tục xôn xao và thắc mắc. Nếu mục tiêu chính của bộ máy truyền thông nhà nước là để tuyên truyền và an dân, trong mấy tuần vừa qua, có thể nói bộ máy ấy hoàn toàn thất bại.

Thứ hai, mặc dù nắm trong tay hơn 800 tờ báo các loại cũng như tất cả các cơ quan truyền thông chính thống khác (như truyền thanh và truyền hình), chính quyền Việt Nam cũng không làm chủ được dư luận. Hơn nữa, càng ngày họ càng ở thế bị động. Thường, họ không phải là người loan tin mà chủ yếu là người cải chính. Bởi vậy, khi có điều gì thắc mắc, nơi dân chúng tìm kiếm tin tức không phải là các cơ quan ngôn luận lề phải mà là báo chí thuộc lề trái, nhiều nhất là trên mạng internet. Tôi có một số bạn, khá đông, hầu hết đều thuộc giới trí thức, ở Sài Gòn có và Hà Nội cũng có, nói giống nhau: để nắm tin tức hàng ngày, điều họ thường làm nhất là vào facebook hoặc các blog nổi tiếng chứ không phải là mở các trang báo của đảng. Những chuyện họ bàn tán nhiều nhất những lúc gặp nhau cũng vẫn là những chuyện được đề cập trên những trang mạng ấy. Có thể nói chính quyền Việt Nam đã thua cuộc ngay trên chính sân chơi mà họ muốn hoàn toàn độc quyền.

Thứ ba, như là hệ quả của đặc điểm thứ hai ở trên, càng ngày các phương tiện truyền thông xã hội càng phổ biến và càng quan trọng. Ngoài các tin tức liên quan đến Phùng Quang Thanh, một ví dụ tiêu biểu nhất về tầm ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội là vụ chặt cây xanh ở Hà Nội cách đây mấy tháng. Dư luận ồn ào đến độ chính quyền Hà Nội phải ra lệnh ngưng ngay việc chặt cây và sau đó, tiến hành kiểm điểm và kỷ luật một số cán bộ liên hệ. Có thể xem các trang truyền thông xã hội ấy là một đối trọng của ngành truyền thông nhà nước. Nghe nói hiện nay ở Việt Nam có khoảng một phần ba dân số, tức khoảng 30 triệu người, thường xuyên sử dụng internet. Chắc không phải ai cũng lên internet để đọc tin tức. Nhưng con số ấy chắc cũng không ít. Điều rất dễ thấy: với số người đọc đông đảo như vậy, internet sẽ là một trận tuyến quan trọng của trào lưu dân chủ hoá Việt Nam.

Thứ tư, trong cuộc chiến giữa báo chí chính thống và truyền thông xã hội, nhà nước Việt Nam chỉ có một cách duy nhất để chiến thắng: minh bạch. Lý do khiến nhiều người tìm kiếm tin tức trên internet là vì họ không tìm thấy ở đâu khác. Lý do khiến cái gọi là báo lề trái thu hút sự quan tâm của dân chúng hơn báo lề phải là vì trên báo chí lề phải người ta chỉ thấy toàn những sự dối trá. Lý do khiến người ta tin và lan truyền các tin đồn, đôi khi hoàn toàn sai sự thật, là bởi vì người ta không tin vào các cơ quan truyền thông chính thống. Sống ở Tây phương đã lâu, tôi chưa bao giờ thấy dân chúng đồn đãi bất cứ chuyện gì trong đời sống chính trị nước họ. Tất cả những gì họ bàn luận đều là những chuyện được công khai hoá trên các cơ quan truyền thông chính thức. Giới chính trị gia biết rõ điều đó nên họ thường xuyên tổ chức các cuộc họp báo để cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc của dân chúng.

Có thể nói chính sự thiếu minh bạch làm nảy sinh các tin đồn và sự lan rộng của các tin đồn dần dần bào mòn sự tin tưởng của dân chúng đối với chính phủ. Cũng có thể nói sự tồn tại phổ biến của các tin đồn về chính trị là một trong những bằng chứng rõ nhất tố giác một xã hội thiếu dân chủ.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

.

Tướng Thanh xuất hiện, sẽ ở lại Bộ Quốc phòng và ‘không về nhà riêng’ (CTV Danlambao)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Tướng Thanh xuất hiện, sẽ ở lại Bộ Quốc phòng và ‘không về nhà riêng’

CTV Danlambao

7/28/2015    296 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/ai-tuong-phung-quang-thanh-tai-xuat.html#more

.

Đại tướng – bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh vừa xuất hiện trong buổi giao lưu văn nghệ ‘Khát vọng đoàn tụ’ đang diễn ra tại hội trường Bộ Quốc phòng.

Chương trình đang được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, bắt đầu từ lúc 20 giờ tối ngày 27/7/2015.

Đại tướng Phùng Quang Thanh được ‘vinh dự’ ngồi ngay sát bên cạnh bà Tòng Thị Phóng, phó chủ tịch quốc hội, tại hàng ghế đầu cùng nhiều quan chức cấp cao khác.

Khi được giới thiệu đến tên mình, ông Thanh ngay lập tức đứng bật dậy, rồi quay người chào các quan khách theo kiểu nhà binh.

Đây là lần xuất hiện đầu tiên của ông Thanh trước công chúng kể từ ngày 19/6/2015 đến nay, tức sau hơn một tháng hoàn toàn mất tích với lý do ‘sang Pháp chữa bệnh’.

‘Không về nhà riêng’

Mặc dù đã xuất hiện và chứng minh còn sống sót, nhưng tương lai chính trị của vị bộ trưởng quốc phòng vẫn còn là điều khó nói trước.

Ngoài ra, một thông tin rất đáng chú ý nói rằng tướng Thanh sẽ ‘ở lại trụ sở bộ quốc phòng chứ không về nhà riêng’.

“Để hạn chế việc tiếp khách nhiều, đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ ở lại trụ sở Bộ Quốc phòng chứ không về nhà riêng, báo Thanh Niên Online dẫn lời thiếu tướng Ngô Quang Liên, trợ lý của bộ trưởng bộ quốc phòng cho biết.

Còn theo lời trung tướng Vũ Văn Hiển, chánh văn phòng quân uỷ trung ương:“Theo yêu cầu của các bác sĩ, đại tướng Phùng Quang Thanh sẽ hạn chế đến nơi đông người, dễ tiếp xúc vi trùng vi khuẩn có trong không khí”.

Hai phát biểu trên cho thấy nhiều điểm bất hợp lý, vì trụ sở bộ quốc phòng là nơi để làm việc và có đông người qua lại, không phù hợp để chăm sóc cho người bệnh.

Trong hoàn cảnh của ông Thanh, việc dưỡng bệnh ở nhà bên cạnh người thân sẽ là điều hợp lý hơn.

Hiện không ai biết rõ điều gì đang xảy đến đối với sinh mạng chính trị của vị bộ trưởng quốc phòng đương nhiệm. Phải chăng, tướng Thanh đang bị ép buộc ở lại Bộ Quốc phòng, hoặc do chính bản thân ông này không dám về nhà?

27/7/2015

CTV Danlambao
danlambaovn.blogspot.com

——————————————-

TIN TRÊN BÁO CHÍ VN :

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh tại chương trình Khát vọng đoàn tụ (Thanh Niên)

Đại tướng Phùng Quang Thanh dự chương trình Khát vọng đoàn tụ (Thanh Niên)

Đại tướng Phùng Quang Thanh dự chương trình truyền hình trực tiếp (Tuổi Trẻ)

Buổi tối xúc động với Đại tướng Phùng Quang Thanh (VietnamNet)

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh dự chương trình ‘Khát vọng đoàn tụ’ (VietnamNet)

.

.

.

Tổng tuyệt thực (Phạm Đình Trọng – Danlambao)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Tổng tuyệt thực

Phạm Đình Trọng

7/28/2015    1 Comment

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/tong-tuyet-thuc.html#more

.

“Tổng tuyệt thực thực sự là cuộc tập dượt tập hợp nhân dân. Người dân Việt Nam đang bị áp bức nặng nề. Quyền con người, quyền công dân bị tước đoạt. Quyền công dân quan trọng nhất là quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân không có. Quyền tư hữu quan trọng nhất, cơ bản nhất là quyền tư hữu đất đai, người dân cũng không có. Không có quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân thực chất chỉ là nô lệ, là công cụ của lực lượng thống trị xã hội. Không có quyền tư hữu đất đai, người dân như sống tạm, sống nhờ trong chính căn nhà của mình và có thể bị cưỡng chế đuổi ra khỏi nhà bất cứ lúc nào. Khắp đất nước Việt Nam hôm nay nơi nào cũng có những đám đông người dân mất đất, mất nhà đi khiếu kiện vật vờ trước cửa quan như những hồn ma. Người dân Việt Nam đang bị áp bức cả đời sống vật chất, cả đời sống tinh thần. Có áp bức, có đấu tranh…”

  1. Hài hước hay vô liêm sỉ

Tổng tuyệt thực chỉ là cách người dân nặng lòng yêu nước thương nòi ôn hòa bộc lộ chính kiến, bộc lộ mong muốn chính đáng bằng cách bảo nhau cùng nhịn ăn để được dư luận và những người có trách nhiệm quan tâm đến mong muốn chính đáng của họ.

Tổng tuyệt thực cũng là quyền tự do ngôn luận của người dân, một thứ ngôn luận vô thanh, một hành vi mang triết lí khổ hạnh của nhà Phật, mang đức hi sinh âm thầm khổ nạn của đấng cứu thế.

Âm thầm bộc lộ mong muốn chính đáng và khẩn thiết bằng nhịn ăn khổ nạn trong lặng lẽ hiền hòa, trong không gian riêng tư khép kín, chẳng động chạm đến ai, chẳng gây hại gì cho chính quyền, thể chế. Theo dự định, thứ bảy ngày 25 tháng bảy, 2015, tổng tuyệt thực mới diễn ra. Vậy mà ở Sài Gòn, từ ngày 23. 7. 2015 công an đã huy động tổng lực lượng đến tận nhà nhiều người đã đăng kí tham gia tổng tuyệt thực bủa vây, ngăn chặn không cho họ ra khỏi nhà. Ngôi chùa khuất nẻo cô quạnh rìa thành phố được chọn là nơi những người tham gia tổng tuyệt thực đến đó cùng nhịn ăn cũng bị phong tỏa tầng tầng, lớp lớp.

Vậy mà mới mấy ngày trước có người Việt Nam đến nước Mỹ, mảnh đất của tự do dân chủ, hùng hồn trên diễn đàn: Chưa bao giờ người dân Việt Nam được sống trong không khí dân chủ như hiện nay. Nhơn nhơn nói như vậy là người có tính hài hước hay là người vô liêm sỉ?

  1. Nhìn lại tổng tuyệt thực 25.7.2015

Cuộc tổng tuyệt thực 24 giờ của người Việt Nam trên toàn cầu đã kết thúc. Nếu nhìn nhận theo tư duy và ngôn từ của tuyên truyền nhà nước cộng sản thì có thể viết: Cuộc tổng tuyệt thực ngày 25.7.2015 của người Việt trên toàn thế giới đòi nhà nước cộng sản Việt Nam trả tự do cho những người tù chính trị đã kết thúc thắng lợi, thành công rực rỡ. Người trung thực và lương thiện không cần thứ thắng lợi AQ như vậy nhưng cũng có thể nói rằng cuộc tổng tuyệt thực đã kết thúc đẹp, trọn vẹn và đạt yêu cầu.

Tuy tiêu chí đưa ra là đòi nhà nước cộng sản Việt Nam trả tư do vô điều kiện cho những người tù chính trị, những người sử dụng quyền tư do ngôn luận được Hiến pháp bảo đảm, đấu tranh ôn hòa cho đời sống đất nước có tự do, dân chủ đã bị những bản án phi pháp cầm tù, nhưng những người khởi xướng cuộc tổng tuyệt thực không ngây thơ đến mức tin rằng cuộc tổng tuyệt thực sẽ lay động được lòng trắc ẩn của nhà nước ra đời từ bạo lực, tồn tại bằng bạo lực, quen xài bạo lực đến thành nghiền như con bệnh nghiền ma túy.

Một nhà nước đã chà đạp lên Hiến pháp do chính họ soạn thảo để bỏ tù những tiếng nói tự do dân chủ thì cuộc tổng tuyệt thực của đám dân thường dù có đến vài triệu người Việt trên khắp thế giới cũng chẳng có ý nghĩa gì với nhà nước đó. Trong thời đại văn minh, con người được giải phóng, quyền con người được nhìn nhận, những con sóng dân chủ đang dồn dập và mạnh mẽ xô tới, buộc nhà nước cộng sản Việt Nam phải xác nhận quyền tự do ngôn luận của người dân trong Hiến pháp. Cực chẳng đã phải run rảy xác nhận vài quyền cơ bản, thông thường của người dân trong Hiến pháp rồi nhà nước đó liền đưa ngay vào bộ luật Tố tụng hình sự điều 79; 88; 258 buộc tội người dân sử dụng quyền tư do ngôn luận mà Hiến pháp đã ghi nhận. Chà đạp lên Hiến pháp bằng những điều luật vi Hiến. Chà đạp lên Hiến pháp bằng cả bộ máy công cụ bạo lực khổng lồ không biết đến Hiến pháp, pháp luật. Nhà nước đó nào có coi ra gì tiếng nói của người dân!

Nhưng không thể không ghi nhận tác động xã hội tích cực của tổng tuyệt thực.

Cuộc tổng tuyệt thực đã đánh thức, lay động, nhắc nhở cả xã hội về hiện thực ngục tù ngột ngạt, tăm tối của đất nước, của nhân dân trong chế độ độc tài cộng sản.

Từ ngàn xưa dân gian đã có câu “Được ăn, được nói, được gói, được mở” Được ăn là quyền được sống. Được nói là quyền được bộc lộ chính kiến, được biểu đạt tư tưởng, tình cảm. Được gói là quyền được giữ bí mật riêng tư. Được mở là quyền được giao lưu, tiếp nhận thông tin, quyền được xê dịch, di chuyển, đi lại ở trong nước và ra thế giới. Tất cả những quyền cơ bản, đương nhiên này của con người đã được Hiến pháp của nhà nước cộng sản Việt Nam, từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 ghi nhận, bảo hộ. Tự do ngôn luận, tự do bộc lộ chính kiến là quyền cơ bản, đương nhiên của con người. Nhưng với những điều luật vi Hiến 79; 88; 258, mọi người dân Việt Nam đều có thể bị bắt, bị kết án tù bất cứ lúc nào vì bộc lộ tư tưởng chính kiến khác biệt với nhà nước độc tài.

Thực tế trong suốt lịch sử cầm quyền của đảng cộng sản, hàng triệu người dân Việt Nam, phần lớn là trí thức ưu tú, tinh hoa của dân tộc Việt Nam vì biểu đạt chính kiến, tư tưởng đúng đắn, khác biệt với lí tưởng xã hội chủ nghĩa sai lầm tệ hại của đảng cộng sản cầm quyền mà bị bắt bớ, tù đày, đàn áp, thủ tiêu. Với ý chí của nhà nước cộng sản Việt Nam quyết dùng sức mạnh bạo lực đàn áp những tiếng nói đòi tự do dân chủ, đòi đa nguyên đa đảng, giữ độc quyền thống trị xã hội của đảng cộng sản Việt Nam, những người tù vì tự do ngôn luận, vì ôn hòa đòi tự do dân chủ là một con số khá lớn. Đó là nỗi đau của dân tộc Việt Nam, nỗi nhục của lịch sử Việt Nam.

Tạo ra cuộc sống ngột ngạt, khốn cùng, không có tự do, dân chủ, nhà nước cộng sản Việt Nam đã tạo ra dòng người bỏ nước ra đi, liều chết vượt hàng ngàn cây số biển thẳm trên những con thuyền mỏng manh, giao mạng sống cho sóng dữ và cướp biển. Dòng người Việt Nam khốn khổ tị nạn nối dài trong thời gian cuối thế kỉ 20 đã tạo cho ngôn ngữ loài người một từ ngữ mới: boat people, thuyền người. Và dòng người tù vì những điều luật vi Hiến nối dài trong các nhà tù trên khắp đất nước Việt Nam lại bổ xung, làm phong phú thêm khái niệm về một từ ngữ mới của loài người: Prisoner of conscience, tù nhân lương tâm. Tù nhân lương tâm là những người bị nhà nước độc tài kết án tù vì ôn hòa bộc lộ niềm tin theo khát vọng, lương tâm của họ. Thành ngữ “tù nhân lương tâm” xuất hiện từ giữa thế kỷ 20, thời độc tại hiện đại, trên đất nước độc tài, nhà tù mọc lên như nấm. Tôi không muốn dùng từ “tù nhân lương tâm” vì nó vừa loảng xoảng âm Hán Việt, vừa chung chung, trừu tượng, không cụ thể, rõ ràng. Ở Việt Nam, những người tù bởi những điều luật 79; 88; 258 phải được gọi đúng tên là người tù chính trị.

Số người tù chính trị trong nhà nước cộng sản Việt Nam, từ những người đầu tiên như ông Tôn Thất Tần đến những người bị bắt gần đây nhất như ông Nguyễn Hữu Vinh, bà Nguyễn Thị Minh Thúy là một con số không nhỏ với những số phận vô cùng oan khiên, bi tráng nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam tìm mọi cách bưng bít, xóa dấu vết cuộc đời của họ, coi như họ không có mặt trên cõi đời, coi như không có tù chính trị và xã hội cứ vô tư, thờ ơ, vô cảm chấp nhận. Tổng tuyệt thực đòi tự do cho những người tù chính trị đã đánh thức dư luận xã hội về những trái tim yêu nước, về những khí phách hiên ngang đang bị lãng quên trong ngục tối của nhà nước cộng sản Việt Nam, đưa những số phận oan khiên bi tráng đó trở về với đời sống chính trị đất nước, trở về có mặt trong xã hội, có mặt trong đội ngũ những người đấu tranh cho tự do dân chủ.

Tổng tuyệt thực thực sự là cuộc tập dượt tập hợp nhân dân. Người dân Việt Nam đang bị áp bức nặng nề. Quyền con người, quyền công dân bị tước đoạt. Quyền công dân quan trọng nhất là quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân không có. Quyền tư hữu quan trọng nhất, cơ bản nhất là quyền tư hữu đất đai, người dân cũng không có. Không có quyền tự do ứng cử, bầu cử, người dân thực chất chỉ là nô lệ, là công cụ của lực lượng thống trị xã hội. Không có quyền tư hữu đất đai, người dân như sống tạm, sống nhờ trong chính căn nhà của mình và có thể bị cưỡng chế đuổi ra khỏi nhà bất cứ lúc nào. Khắp đất nước Việt Nam hôm nay nơi nào cũng có những đám đông người dân mất đất, mất nhà đi khiếu kiện vật vờ trước cửa quan như những hồn ma. Người dân Việt Nam đang bị áp bức cả đời sống vật chất, cả đời sống tinh thần.

Có áp bức, có đấu tranh. Đấu tranh dù ôn hòa, bất bạo động cũng là một hoạt động chính trị. Tổ chức, tập hợp nhân dân thành đội ngũ, thành sức mạnh là một quá trình từ nhỏ đến lớn cần được thực tế cuộc sống thử thách, rèn luyện để phát triển. Không có thực tế thử thách, tập dượt, không thể có sự lớn mạnh.

Cuộc tổng tuyệt thực ngày 25.7.2015 đã diễn ra rộng khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam và người trẻ tham gia có tỉ lệ khá cao. Đây là nét rất tích cực của tổng tuyệt thực 25.7.2015. Tổng tuyệt thực là bài học vỡ lòng về đấu tranh chính trị của những người trẻ, giúp họ vượt qua tuyên truyền lừa dối của hệ thống giáo dục và truyền thông nhà nước cộng sản để nhận ra hiện trạng đau buồn của đất nước, thân phận ai oán của dân tộc và giúp họ nhận ra trách nhiệm lịch sử của thế hệ trẻ hôm nay.

28/7/2015

Phạm Đình Trọng

danlambaovn.blogspot.com

1 Comment

.

.

.

Sự vắng mặt cần thiết (Người Buôn Gió))

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Sự vắng mặt cần thiết

Người Buôn Gió

Thứ Hai, ngày 27 tháng 7 năm 2015

http://nguoibuongio1972.blogspot.com/2015/07/su-vang-mat-can-thiet.html

.

Rút cục thì thông tin về ông Phùng Quang Thanh vẫn mơ hồ như một tháng trước đây.

Không ai dám chắc là ông đã chết hay còn sống. Tuy nhiên một điều rõ ràng, nếu theo như báo chí đưa tin về  tình trạng sức khoẻ của ông, thì sự nghiệp của ông Phùng Quang Thanh đã chấm dứt. Ông sẽ không đủ điều kiện sức khoẻ để ứng cử đảm nhiệm vị trí lãnh đạo cao cấp trong Bộ Chính Trị vào đại hội 12 tới đây.

Câu hỏi là, nếu con đường quan lộ của ông Thanh đã chấm dứt, tại sao ĐCSVN cần gì phải úp mở về thông tin số phận của ông. ?

Có ý kiến cho rằng Đảng CSVN sợ dư luận, nên phải che đậy như vụ ông Nguyễn Bá Thanh.

Có những ý kiến cũng cho rằng ĐCVN chưa phân chia xong miếng bánh mà Phùng Quang Thanh để lại, nên chưa thể công bố.

Ít nhiều thì hai ý kiến trên đều có cơ sở.

Nhưng hãy xét đến một khía cạnh khác.

Đó là sự mờ mịt thông tin về tính mệnh Phùng Quang Thanh của ĐCSVN là nhằm đối phó với Trung Quốc.

Ông Phùng đi chữa bệnh tại Pháp hồi tháng 6, đầu tháng 7 TBT ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng có công du đến Hoa Kỳ, tại Hoa Kỳ trong cuộc gặp tổng thống Obama. ĐCSVV đã có những bước đi nâng tầm quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam, đặc biệt trong hai lĩnh vực là kinh tế và quân sự. Trong hai lĩnh vực này ngay lập tức đã được cụ thể một cách nhanh chóng bằng hàng trăm triệu usd .

Đó như một lời cam kết vững chắc về việc thực hiện các điều khoản khác trong tương lai trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ.

Đặc biệt sự quan hệ hợp tác quân sự với Hoa Kỳ được nhấn mạnh trong khu vực biển Đông. Điều tất nhiên sẽ làm Trung Quốc nổi giận.

Nhìn lại mối quan hệ Việt Trung cho thấy sự gắn bó được tạo nên bởi thế lực chính là Đảng và Quân đội.  Nhưng giờ sau chuyến đi của ông Trọng đến Mỹ, cho thấy ĐCSVN ít nhiều đã có thay đổi quan điểm trong việc bang giao với Hoa Kỳ, cũng như nhìn lại quan hệ Việt – Trung cảnh giác hơn.

Thế còn quân đội VN thì sao?  Hãy xem ông Phùng nói gì khi dẫn phái đoàn quân sự cấp cao sang Trung Quốc hồi năm ngoái.

”Đáp lại, người đứng đầu ngành quốc phòng của Hà Nội nói đảng cộng sản và quân đội Việt Nam coi trọng bang giao với Bắc Kinh.

Báo chí Trung Quốc dẫn phát biểu của ông Phùng Quang Thanh tại cuộc họp nói rằng Việt Nam kỳ vọng quân đội đôi bên sẽ trở thành cột trụ chính duy trì tình hữu nghị song phương.”

http://www.voatiengviet.com/content/quan-doi-viet-trung-nhat-tri-giai-quyet-thoa-dang-tranh-chap-hang-hai/2486997.html

Không đặt vấn đề ông Phùng là một người thân cận với Trung Quốc hoặc ông ghét bỏ Hoa Kỳ.

Nhưng những lời nói, cam kết của ông Phùng với Trung Quốc sẽ là khó khăn cho quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn này khi nhận sự hỗ trợ về tài chính, huấn luyện, phương tiện từ quân đội Hoa Kỳ.

Hãy xem một phát biểu nữa của ông Phùng với Thường Vạn Toàn bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc mới đây.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/237355/cai-bat-tay-chat-cua-bo-truong-quoc-phong-viet-trung.html

”Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh đây là việc cụ thể hóa, thực hiện thỏa thuận, sự chỉ đạo của lãnh đạo cấp cao giữa hai Đảng, hai nhà nước – tăng cường tiếp xúc cấp cao giữa Bộ Quốc phòng hai nước, tăng cường hợp tác hữu nghị biên giới giữa lực lượng bảo vệ biên giới, thể hiện tinh thần đoàn kết, tin cậy chính trị, thể hiện hợp tác ngày càng thiết thực và đi vào chiều sâu của quân đội hai nước ”

Cụm từ ” tin cậy chính trị ” là một cụm từ nhẽ ra không có ở một người đứng vị trí bộ trưởng quốc phòng. Đó là lời của Ban đối ngoại trung ương hoặc của bộ ngoại giao.

Nếu đã tin cậy quân đội Trung Quốc tại sao quân đội Việt Nam còn đi nhận giúp đỡ của quân đội Hoa Kỳ.?

Hãy cứ cho ông Thanh là ngọn núi lửa phủ đầy tuyết, là một vị tướng tài giỏi giữ hoà bình mà không cần thiết phải có chiến tranh như một số người ca ngợi. Ông Thanh nói và làm thế là do thống nhất chỉ đạo từ toàn Đảng CSVN.

Nhưng thực tế thì lúc này quân đội Việt Nam đang nhận giúp đỡ từ quân đội Hoa Kỳ. Nên việc vắng mặt ông Thanh lúc này là cần thiết.

Nếu ông khoẻ mạnh, ông phải đứng ra để thúc đẩy tiến triển đang bị gián đoạn hợp tác giữa hai quân đội hai nước.

Nếu ông chết, thì ĐCSVN phải đưa ngay người khác lên thay. Người đó sẽ phải làm gì với những lời ông Thanh đã nói với Trung Quốc.?

Cách hay nhất là ông đang điều trị bệnh, nhưng vẫn làm việc. Mà khi ông đang điều trị,  thì ông chưa thể đôn đốc việc ” tin cây chính trị ” của quân đội Việt Nam với Trung Quốc. Nhưng ông cũng chưa chết để người khác phải thay, ông vẫn điều hành được những việc nào đó qua điện thoại. Riêng việc hợp tác với Trung Quốc thì chờ ông khoẻ hẳn, việc này phải đích thân ông đứng ra, không thể điều hành qua điện thoại được.

Ngày 15/7 phía Trung Quốc sốt ruột vì những động thái Việt Nam gia tăng gắn bó quân sự với Hoa Kỳ. Nên đã điều phó thủ tướng Trương Cao Lệ ( con rể của kẻ từng chủ trương dùng quân sự đánh Việt Nam là Đặng Tiểu Bình ) sang hối thúc Việt Nam tiếp tục bày tỏ ” tin cậy chính trị ”.

Câu trả lời của Việt Nam được thể hiện qua những thông tin về ông Thanh những ngày qua. Người phụ trách việc đó đang điều trị, sức khoẻ tiến triển, ông định đi nơi này , nhưng lại đột xuất bận, chưa biết khi nào ông ấy sẽ thực hiện. Xin cứ thư thả chờ đợi dăm bữa nữa.

Được đăng bởi Thanhhieu Hieubui vào lúc 04:11

.

.

.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp? (Lê Ngọc Thống – Soha News)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Nước cờ sai lầm đẩy TQ phải đối đầu với đối thủ mạnh truyền kiếp?

Lê Ngọc Thống – Soha News

27/07/2015 15:58

http://soha.vn/quoc-te/nuoc-co-sai-lam-day-tq-phai-doi-dau-voi-doi-thu-manh-truyen-kiep-20150726204227257.htm

.

Sự nôn nóng cùng dã tâm “nuốt trọn” Biển Đông đã khiến Bắc Kinh mù quáng và vô hình trung tự tay “tháo xích” cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh – Nhật Bản.

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự.

Họ, quân đội Nhật Bản, có thể tác chiến bất cứ nơi đâu, với bất cứ ai khi an ninh của Nhật Bản, của đồng minh, bạn bè của Nhật Bản bị tấn công, đe dọa…

Được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây là hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

  1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.

Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào.

Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe – một người được Mỹ ủng hộ – lên làm Thủ tướng Nhật Bản.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc.

Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế.

Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối “quốc nhục” 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: “Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường.”

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là “chiến trường chính” của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi.

Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã “đuổi” được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” (‘Tao guang yang hui’ Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng, Bắc Kinh cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả.

Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ.

Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần “ngay và luôn”.

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành “vùng nóng”, có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.

Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông – một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới – cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh “bóp méo” là thách thức, tuyên chiến.

Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Subic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc “giãy lên như đỉa phải vôi”.

Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay “tuần tra” trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự.

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung.

Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Lê Ngọc Thống, Kỹ sư chỉ huy-Hoa tiêu, nguyên sỹ quan Tham mưu Hải quân.

.

.

.

Đổi Trục: Chiến lược triệt hạ Trung Cộng của Hoa Kỳ (LT.Ton, Việt Đại Kỷ Nguyên)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Đổi Trục: Chiến lược triệt hạ Trung Cộng của Hoa Kỳ

Tác giả: LT.Ton, Việt Đại Kỷ Nguyên

Dịch giả: ĐKN

18 Tháng Bảy , 2015

http://vietdaikynguyen.com/v3/69353-doi-truc-chien-luoc-triet-ha-trung-cong-cua-hoa-ky/

.

Những động thái chiến lược của Mỹ tại Biển Đông mới đây, nhất là việc Nga bán tên lửa Klub cho Việt Nam, Mỹ sắp bán máy bay F16 cho Việt Nam, Mỹ sẽ chính thức đưa hạm đội tàu chiến đến hải cảng Cam Ranh làm cho Trung Cộng (TC) vô cùng lo sợ. Thậm chí, Trung Cộng cho mình là ‘nạn nhân lớn nhất’ trong tranh chấp Biển Đông!

  1. Trung Cộng tức giận vì Nga bán tên lửa Klub cho Việt Nam.

Trang web tin tức quân sự Mỹ, Strategy Page, đã đăng một bài báo vào ngày 31 tháng 5 với tiêu đề “Tàu ngầm: Trung Quốc phản đối việc mua tên lửa Klub”, tuyên bố rằng Bắc Kinh đã đưa ra lời phản đối Nga, Việt Nam và Mỹ sau khi Moscow đồng ý bán cho Việt Nam 50 tên lửa 3M54 Klub được phóng từ tàu ngầm, theo trang Global Times của Trung Quốc.

Trích dẫn VĐKN: Nga bán tên lửa Klub cho Việt Nam

Bài báo đăng trên Strategy Page cho biết, trong khi Nga và Việt Nam cố gắng giữ im lặng về thỏa thuận thì 28 tên lửa Klub đã được chuyển giao cho Việt Nam. Trung Quốc đặc biệt lo lắng vì tên lửa Klub có thể được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên mặt đất. Bài báo cho rằng các tàu ngầm ở Ấn Độ, Algeria và Việt Nam hiện đang sử dụng những tên lửa rất hiệu quả, mặc dù tên lửa này trước đây phải đối mặt với những vấn đề liên quan đến vụ thử tên lửa của Ấn Độ trong năm 2007.

  1. Trung Cộng lo sợ Việt Nam sắp có máy bay F16 của Mỹ.

Thời gian qua, trong khi thông tin việc Mỹ gỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, Trung Quốc lo ngại trước việc Việt Nam có thể mua máy bay F-16 của Mỹ để sử dụng cho mục đích bảo vệ Trường Sa và Hoàng Sa.

Các bài phân tích của truyền thông Trung Quốc cho rằng, nếu Việt Nam mua được F-16 kể cả là cũ từ Mỹ sẽ tạo ra ưu thế vượt trội so với J-15 hay Su-30MK2 của Trung Quốc.

Lâu nay, TQ thường vỗ ngực tự hào quảng bá rằng các vũ khí do họ sản xuất là có tính năng ngang ngửa thậm chí vượt trội so với vũ khí của Nga hoặc Mỹ, nhưng khi đề cập đến những vũ khí Mỹ có thể bán cho Việt Nam, trong đó có F-16C/D thì Trung Quốc cũng không khỏi giật mình lo sợ.

Mặc dù, F-16 là hàng cũ nhưng khi được tân trang sẽ có sức mạnh vượt trội và đóng vai trò xoay chuyển tương quan về lực lượng không quân ở biển Đông.

  1. Tin đồn Mỹ đưa hạm đội tàu chiến đến hải cảng Cam Ranh làm cho TC hoảng hốt.

Tình hình Biển Đông liên tục nóng lên. Trung Cộng ngang nhiên đòi chủ quyền đối với 90% diện tích Biển Đông, trong đó có cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Từ tháng 3/2014, Trung Cộng bị khám phá xây đắp đảo nhân tạo với mục đích biến chúng thành căn cứ quân sự tại quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Theo các bằng chứng mà Mỹ đưa ra, Trung Cộng đã cải tạo khoảng 2.000 mẫu Anh (hơn 800 ha) các đảo nhân tạo tại Biển Đông.

Khi hoàn thành các căn cứ quân sự tại Trường Sa, Trung Quốc sẽ trở thành mối họa đối với quân đội Hoa Kỳ.

Biết được nguyên nhân và hậu quả của những động thái trên đây của TC có thể giúp làm sáng tỏ chiến lược Đổi Trục của Hoa kỳ và Việt Nam.

Trước viễn tượng đen tối của nội tình Trung Cộng, xoay quanh cuộc đàn áp đẫm máu và diệt chủng Pháp Luân Công hiện đang tiếp diễn, mà Trung Cộng không còn cách nào để che dấu được, Chủ tịch Tập Cận Bình đã liều lĩnh chơi nước bài “vừa ăn cướp vừa la làng” nói trên, là để đánh lạc hướng, che mắt thế giới khỏi nhòm ngó vào nội tình đen tối của mình. Đó là nguyên nhân.

Còn hậu quả là do đó mà Mỹ cũng như các đồng minh tại Á châu/Thái Bình Dương đã bị báo động khẩn cấp và sẵn sàng chuẩn bị chiến lược liên minh để đối phó. Vậy, chiến lược Đổi Trục không có gì mới lạ. Nó chỉ là một bước chiến lược hợp lý trong chiến lược toàn cầu của Ngũ Giác Đài.

  1. Ngũ Giác Đài đã có sẵn kịch bản để khai triển hải quân tới khu vực này.

Nếu Hoa Kỳ–Trung Cộng rơi vào cuộc chiến trên Biển Đông, Ngũ Giác Đài đã có sẵn kịch bản để khai triển hải quân tới khu vực này. Ba thế lực quân sự của Hải Quân Hoa Kỳ từ 3 khu vực khác nhau sẽ vượt qua những điểm nóng để đến được nơi xảy ra xung đột.

Đây là những nhận định mà Viện Nghiên cứu Chính sách Ngoại giao (FPRI: Foreign Policy Research Institute) đưa ra trong bài viết: “Sẵn sàng cho một cuộc chiến?: Mỹ sẽ phản ứng bằng cách nào với một cuộc khủng hoảng Biển Đông?”. (“Ready for a Fight?: How America Could Respond to a South China Sea Crisis”.)

  1. Báo động biến cố mới nhất về Trung Cộng hà hiếp ngư dân Việt Nam:

11 ngư dân trên tàu cá Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc đâm chìm đã được đưa về đến bờ an toàn ngày 15/7. Thêm một bằng chứng gây hấn nữa của TC.

Thông tin trên được ông Phan Huy Hoàng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi, xác nhận với BBC hôm 16/7.

Trước đó, báo điện tử Dân Trí hôm 10/7 dẫn lời Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi cho biết tàu cá số hiệu QNg 09559-TS của ông Trương Văn Đức, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn đã bị tàu Trung Quốc tấn công khi đang đánh bắt gần đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa.

Theo đó, tối 9/7, hai tàu Trung Quốc đã “dùng còi hú, đèn công suất lớn xua đuổi các tàu cá Việt Nam”. Các tàu cá Việt Nam được nói là đã “chạy né tránh”.

“Trong lúc tàu cá di chuyển chậm, bất ngờ tàu Trung Quốc đâm vào tàu cá QNg 90559-TS và gây chìm tàu. Sau đó, tàu Trung Quốc bỏ đi”, theo Dân Trí.

Cũng báo này cho biết các ngư dân trên tàu sau đó đã bám vào phao cứu sinh, thúng nhỏ và được tàu cá QNg 95248-TS của ngư dân Lê Văn An ở gần đó cứu giúp.

Những người này sau đó đã được chuyển lên một tàu cá khác, số hiệu QNg 95779-TS, và được đưa về bờ.
Hôm 10/7, Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS) đã ra thông cáo phản đối việc làm “phi nhân đạo của phía Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam”.

“Việc làm này vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, gây tổn hại đến tài sản và nguy hại đến tính mạng của ngư dân Việt Nam,” thông cáo viết.

“Yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt hành động phi pháp trên.”

VINAFIS cũng đề nghị các cơ quan chức năng “tăng cường lực lượng để hỗ trợ ngư dân hoạt động trên biển, ngăn chặn hành động vi phạm của phía Trung Quốc” đồng thời yêu cầu phía Trung Quốc bồi thường tài sản cho các ngư dân Quảng Ngãi.

Nhiều tàu cá khác từ xã Bình Châu cũng đã bị tàu Trung Quốc tấn công trong thời gian qua.
Trích dẫn: BBC tiếng Việt

Chiến lược Đổi Trục.

Đúng vào lúc Trung Cộng đang lo sợ trước những động thái quân sự mới đây của Mỹ tại Biển Đông, tiếp theo cuộc viếng thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây, có nhiều lời đồn đoán cho rằng Việt Nam đang thảo luận với Mỹ về Chiến Lược Đổi Trục, một chiến lược liên hoàn Mỹ-Việt theo đó Mỹ muốn kéo Việt Nam ra khỏi quỹ đạo Trung Cộng và Việt Nam muốn sử dụng Mỹ như là một thế lực kiềm chế Trung Cộng (TC).

Hoa Kỳ muốn trở lại vùng Á châu và Thái Bình Dương vì lý do bảo vệ an ninh của thế giới đang bị Trung Cộng đe dọa. Đây là thời cơ cho VN, một tia hy vọng cho VN thoát khỏi vòng tay kiềm tỏa của Trung Cộng.

Đồng thời, những sự kiện trên xảy ra đúng vào thời điểm nội tình của TC rất là đen tối: cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) và sự suy thoái kinh tế trầm trọng của TC.

– Cuộc đấu đá tranh giành quyền lực trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như chỉ muốn củng cố quyền lực bằng cách thanh toán phe đối lập qua chiêu bài chống tham nhũng. Ông không thực sự muốn bất cứ cải cách gì có lợi cho người dân. Lại còn cứng rắn hơn đối với những phong trào dân chủ, nhân quyền, và tiếp tục đàn áp tôn giáo, diệt tận gốc nền văn hóa truyền thống để thay vào Văn Hóa Đảng làm cho nền tảng xã hội bị lung lay vì không có sự hậu thuẫn của dân chúng và những phong trào dân chủ đối lập, và các tôn giáo mà Trung Cộng ra tay đàn áp vì rất lo sợ thế lực chống lại chủ nghĩa vô thần của chế độ độc tài đảng trị của Trung Cộng.

Xu thế cách mạng đang xảy ra chậm rãi nhưng chắc chắn. Xã hội Trung Quốc đang bị xói mòn, vì nhà nước sử dụng bừa bãi những nguồn lực xã hội, tạo ra mâu thuẫn giữa các tầng lớp, và suy đồi đạo đức. Theo thời gian, cách mạng trong nhân dân lớn dần lên, và chờ cơ hội để bùng phát.

– Suy thoái kinh tế trầm trọng.

Thời điểm cho thị trường chứng khoán của Trung Quốc tan vỡ đã chín muồi, bắt buộc phải xảy ra kế tiếp theo quả bóng địa ốc sắp vỡ tan.

Nhân tố dễ thúc đẩy cách mạng nhất ở Trung Quốc là khủng hoảng tài chính. Mặc dầu Trung Quốc đã ban hành một vài chính sách tài chính để cứu vãn thị trường chứng khoán, nhưng hiệu quả từ những chính sách này vẫn cần được xem xét. Tình trạng nền kinh tế thế giới là cực kỳ khó đoán, và có thể gây ảnh hưởng lớn đến Trung Quốc.

Theo bài bình luận trên mạng: Tình hình TC đen tối, nền Kinh tế của TC đang sụp đổ. Nhưng chỉ vì chính quyền cộng sản tìm đủ cách để ếm nhẹm và bịp bợm các nhà đầu tư ngoại quốc, hậu quả của quả bóng địa ốc nổ tung ra nhưng chưa lan rộng lắm. Tuy nhiên, sự tan vỡ kinh tế của TC chính là thị trường chứng khoán sụp đổ trong mấy tuần lễ vừa qua mà chính quyền Trung Quốc không che giấu được.

“Một khi quả bóng địa ốc vỡ tan và thị trường chứng khoán bị sụp, kinh tế sẽ đi vào suy thoái nặng nề. Trường hợp Nhật Bản thập niên 80 đã có kinh nghiệm này và mất đến hơn 20 năm vẫn chưa ra khỏi được suy thoái. Dĩ nhiên các chiến lược gia của Hoa Kỳ cũng hy vọng lịch sử sẽ tái diễn với Trung Hoa đi vào suy thoái nặng và mất đi tiềm năng kinh tế với việc sụp đổ vừa qua.”, theo bài bình luận.

Chủ tịch TQ Tập Cận Bình không muốn thấy thị trường giảm sút thêm nữa, vì nó sẽ tạo cơ hội cho các đối thủ chính trị có cơ hội phản công, lật ngược thế cờ trong cuộc đấu đá tranh giành quyền lực đang diễn ra. Xem chi tiết.

Tình hình xấu đi trên đây của TC là cơ hội tốt cho cả Mỹ và Việt Nam liên kết nhau trong chiến lược “Đổi Trục”.
Nhất là đối với VN, một nước nhỏ ở vị trí địa lý bất lợi có cùng biên giới với một nước CS phương bắc khổng lồ rất hiếu chiến. VN vốn đã bị TC thôn tính nhiều lần, kinh qua bao nhiêu năm tủi nhục với bài học mà Đặng Tiểu Bình dạy VN khi TC phát động cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979. Đó là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Sau khi cho VN “một bài học”, Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên. Mục tiêu của Trung Quốc buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia không thành, nhưng cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Ngậm đắng nuốt cay hơn mấy thập niên! Quả thật là bài học đích đáng nhưng nó vạch trần bộ mặt phách láo của một đàn anh đã ăn ở với nhau qua nhiều thập kỷ thân thiết như “răng với môi”!

Đến nay mới có chút hy vọng rút ra khỏi vòng tay của TC, thì dĩ nhiên VN phải chộp lấy cơ hội. Nhưng liệu TC có để yên cho? Điều này còn quá sớm, chưa có thể đoán trước được.

Tính khả thi của chiến lược Đổi Trục, Xoay Trục hướng về nhau.

Chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ mới đây, theo một vài nhà bình luận, là một chỉ dấu cho thấy sự thay đổi chiến lược, mà dư luận gọi là “xoay trục chiến lược” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh Trung Cộng đang gia tăng các hành động nhằm khẳng định yêu sách chủ quyền gần như toàn bộ khu vực Biển Đông, trong đó bao gồm khu vực mà Việt Nam có tuyên bố chủ quyền.

Trong khi đó, truyền thông quốc tế nhận định sự kiện này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai phía, khi Hoa Kỳ với chiến lược “xoay trục về châu Á” đang cần có sự hiện diện nhiều hơn trong khu vực Biển Đông mà Hoa Kỳ cũng đang có lợi ích trong đó.

“Chuyến đi Mỹ lần đầu tiên của một người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam đã thu hút khá nhiều sự chú ý của dư luận tại hai nước và quốc tế. Báo chí quốc tế gọi đây là chuyến đi “lịch sử” và cho rằng Mỹ đang cố gắng lôi kéo Việt Nam về phía mình trong khi Việt Nam sử dụng Mỹ như là một lực lượng đối trọng để đối phó với Trung Quốc”. (Trích Dẫn VĐKN)

Phó Tổng thống Joe Biden trong buổi tiếp đãi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trưa ngày 7 tháng 7 cũng khẳng định:

“Khi chúng tôi tiếp tục chiến lược tái cân bằng về khu vực châu Á Thái Bình Dương thì những đối tác như Việt Nam chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này. Chúng ta chia sẻ lợi ích về hòa bình và ổn định trong khu vực, chia sẻ lợi ích trong khối ASEAN thịnh vượng và tăng cường quan hệ giữa hai nước chúng ta.”

Tuy nhiên, có dư luận nghi ngờ tính khả thi của chiến lược Đổi Trục dựa trên những khó khăn sau đây của Mỹ:

  • Theo các chuyên gia quân sự Mỹ, để kiềm chế Trung Quốc, Mỹ phải duy trì cam kết của mình trong khu vực và phải có nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược này.
  • Dân chúng Mỹ chỉ muốn Tổng Thống Obama giải quyết các vấn đề nội bộ. Nhân dân Mỹ hình như không muốn Tổng Thống dính líu vào một cuộc chiến tranh khác nữa. Bài học của chiến tranh VN cho thấy Mỹ thua trận là do phong trào phản chiến. Lịch sử có thể lặp lại chăng?
  • Khó khăn tài chính và cắt giảm quốc phòng, cắt giảm nợ. Đây là một vấn đề an ninh quốc gia và cũng là vấn đề kinh tế trong nước. Câu hỏi là với kế hoạch cắt giảm ngân sách quốc phòng 500 tỷ USD trong 10 năm tới, liệu Quốc hội Mỹ có thể thông qua một ngân sách để Nhà Trắng theo đuổi chiến lược tái cân bằng hay không?
  • Các nước đồng minh Á châu-TBD còn ngần ngại, không muốn “làm mất lòng” TC, đang còn hy vọng hợp tác kinh tế với TC.

Ngoài ra, còn có yếu tố chính trị nội bộ của Việt Nam, phe thân Trung Cộng tuy yếu dần nhưng cũng là một cản trở đáng kể.

Chú thích: Quan điểm thể hiện trong bài viết này là ý kiến của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Đại Kỷ Nguyên.

.

.

.

Bài viết đặc biệt: Đảng Cộng sản Trung Quốc vùng vẫy trước nguy cơ sụp đổ đang đến gần (Tác giả: NTDTV)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Bài viết đặc biệt: Đảng Cộng sản Trung Quốc vùng vẫy trước nguy cơ sụp đổ đang đến gần

Tác giả: NTDTV 

Dịch giả: Daniel Nguyen

27 Tháng Bảy , 2015

http://vietdaikynguyen.com/v3/70374-bai-viet-dac-biet-dang-cong-san-trung-quoc-vung-vay-truoc-nguy-co-dang-den-gan/#

.

Trận cuồng phong báo trước ngày tận diệt của ĐCSTQ

Từ khi làn sóng thoái xuất khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu dấy lên cũng là lúc sự diệt vong tất yếu của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) được ấn định. Trong giai đoạn biến đổi trọng đại này của lịch sử, tầng lớp lãnh đạo cấp cao của ĐCSTQ cũng đã xuất hiện một vài động thái lớn. Gần đây, giới chức cấp cao đã bỏ phiếu thông qua việc thực thi tuyên thệ trước Hiến pháp mà không đoái hoài gì đến “Đảng”, các cơ quan chính phủ còn đề xuất “dũng cảm thừa nhận, tiếp thu sự thật về sự biến chất thoái hóa của đảng”, điều này cho thấy các  cơ quan này đang phát đi một số tín hiệu nào đó. Hiện tại khí số của ĐCSTQ hầu như đã tận, cuốn sách “Cửu Bình” được phổ biến rộng rãi đã giúp cho dân chúng hiểu rõ được bản chất tà ác của đảng, đây chính là thời khắc quan trọng trong sự kiện thoái xuất khỏi ĐCSTQ, sắp có sự biến hóa lớn về mặt bản chất. “Trung quốc Cộng sản Đảng vong” đã trở thành thiên ý, là quy luật của lịch sử, là trào lưu chung đại diện cho các giá trị dân chủ phổ quát của thế giới, dân tộc Trung Hoa sẽ vượt khỏi kiếp nạn và bước đến một kỷ nguyên mới của sự phục hưng vĩ đại, không ai có thể ngăn cản nổi.

  1. Giải thể ĐCSTQ là tất yếu của lịch sử

Gần đây, các cơ quan chính phủ Bắc Kinh đã có một động thái quan trọng, không ngừng phát đi những tín hiệu muốn vứt bỏ ĐCSTQ. Ngoài việc tầng lớp lãnh đạo cấp cao thông qua biểu quyết không tuyên thệ trước đảng, cũng có người cho rằng, ĐCSTQ nên đổi một cái tên khác. Truyền thông nhà nước cũng đưa tin rằng chính phủ đang có sự sắp xếp, sắp phải cải cách chế độ.

Ông Tập Cận Bình gần đây đã có một lời phát biểu khá hiếm hoi trong kỳ đại hội vừa rồi: “Cần dũng cảm đối mặt với thực tế khắc nghiệt; thừa nhận, tiếp thu sự thật tha hóa biến chất có nguy cơ dẫn đến vong đảng vong quốc”. Trong báo cáo của ông Tập không hề có chút “kỵ húy” mà liệt kê ra những sáu nguy cơ lớn có thể dẫn đến “vong đảng”, đồng thời chỉ ra những nguy cơ tiềm ẩn trong nội bộ, xã hội đã bạo phát một cách phức tạp và có chuyển biến xấu. Sáu nguy cơ bao gồm cả chính trị, kinh tế, xã hội, tín ngưỡng và nhiều lĩnh vực khác. Điều này cho thấy sự hủ bại trong thể chế ĐCSTQ đã hết thuốc chữa, cũng như không còn đủ sức để vu hồi. Các ý kiến bên ngoài cho rằng, một sự đổi thay to lớn sắp xảy ra, ĐCSTQ sắp đứng trước nguy cơ – điều này khiến đảng không thể không thực hiện những động tác vứt bỏ chủ nghĩa cộng sản.

Vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều có một quá trình thịnh suy nhất định, một trái táo hư thì phải vứt đi, một chính quyền cũng có quá trình sinh – hưng –thịnh – suy – nguy – vong. Thời xưa, những vương triều nào xuất hiện phong bế chuyên quyền, tàn bạo, hủ bại thì vương triều ấy không thể tồn tại lâu dài – đó chính là quy luật phát triển của lịch sử, trên thế gian không có triều đại nào là vạn cổ trường lưu. Trong lịch sử Trung Quốc, triều đại tồn tại lâu nhất là nhà Chu với hơn 800 năm trị vì, nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi cái vận diệt vong. Hiện nay, một chính quyền hủ bại bất kham như ĐCSTQ cũng đã bước vào chặng cuối của con đường phế diệt.

Tần Thủy Hoàng sau khi lập vị, đã dùng mọi phương cách để cầu trường sinh bất lão, cuối cùng cũng chỉ là vọng tưởng. Sau đó ông ta lượm lặt được một cuốn “Tiên thư”, trong sách viết “vong Tần giả, Hồ dã” (diệt nước Tần là Hồ vậy). Tần Thủy Hoàng đọc xong, cứ ngỡ “Hồ” ở đây là chỉ Hung Nô, bèn sai đại tướng Mông Điềm xuất lĩnh ba mươi vạn quân tiến về phương Bắc chinh phạt Hung Nô để diệt hậu họa vong quốc. Sau đó còn cho đắp thêm Vạn Lý Trường Thành để ngăn bước người Hồ tiến về phía Nam. Tần Thủy Hoàng băng hà, bọn Lý Tư tự sửa di chiếu, lập con thứ Hồ Hợi lên ngôi đế, tức Tần nhị thế. Tần nhị thế bạo ngược vô đạo, dẫn đến quốc phá gia vong, ứng nghiệm theo lời sấm “Vong Tần giả, Hồ dã”. Chẳng qua, “Hồ” ở đây không phải là tộc Hồ (Hung Nô) như Tần Thủy Hoàng vẫn nghĩ mà chính là “Hồ” Hợi.

Thế cho nên một triều đại tự diệt cũng là vì đó là quy luật không thể tránh khỏi, hoặc là do thiên ý, đến lúc kiếp số đã tận, không cần biết phòng bị tốt thế nào, sử dụng bao nhiêu thủ đoạn, bạo lực mạnh tay đến đâu cũng không thể kéo dài được. ĐCSTQ tự tạo kẻ địch cho mình ở khắp nơi, đó cũng là dấu hiệu bị tận diệt.

Trong lúc xã hội Trung Quốc đang xuất hiện làn sóng thoái đảng, rất tự nhiên ĐCSTQ cũng đứng trước nguy cơ diệt vong. Hệ thống chấp pháp của cơ quan Chính Pháp Ủy thậm chí còn có thể cưỡi lên đầu pháp luật, bạt mạng “duy trì ổn định”, đả kích và áp chế nhân sĩ trong mọi giới, thậm chí quay mũi giáo về đoàn thể tu luyện; dùng những phương thức vô cùng bạo lực, tà ác và lưu manh để kéo dài hơi tàn của đảng cộng sản.

Thời Minh có một bộ phận thị vệ mang tên “Đông tập sự xưởng”, gọi tắt là “Đông Xưởng”, trụ sở đặt ở một con hẻm ở Bắc Kinh, là cơ quan đặc vụ tình báo đầu tiên trên thế giới, cơ quan này đã tạo ra vô số những án oan.

Khi triều đình hội thẩm những án lớn, Cẩm y vệ ở Bắc Trấn phụ trách tra khảo trọng phạm, Đông Xưởng đều phái người đến nghe hội thẩm. Tất cả các vệ môn trong triều đình đều có người của Đông Xưởng ngồi trực, giám sát từng cử động một của quan viên. Đến cuối thời Minh, cũng là thời kỳ hoạn quan chuyên quyền lên đến đỉnh điểm trong lịch sử Trung Quốc. Tên hoạn quan Ngụy Trung Hiền được triều đình hủ bại vô năng trọng dụng, lúc hắn ta ra ngoài, xe cộ cờ phướn giống hệt (có khi còn hơn) hoàng đế. Sĩ phu đại thần các bậc đều phải quỳ hai bên đường tung hô thiên tuế. Lúc Ngụy Trung Hiền chuyên quyền, đặc vụ của các xưởng vệ càng thêm phóng túng ngạo mạn, khiến cho mâu thuẫn xã hội cuối thời Minh càng thêm kịch liệt, chính trị bại hoại, kinh tế phá sản, trật tự xã hội đảo lộn, tình thế càng lúc càng khó cứu vãn, đẩy nhanh nguy cơ sụp đổ của nhà Minh.

Hoàng đế Càn Long nhà Thanh có lời bình về triều Minh như sau: “Cái nguyên nhân diệt vong của nhà Minh không phải là vì giặc cướp, mà vì Thần tông quá hoang đường, mở đường cho hoạn quan chuyên quyền, các đại thần thì chí để ở tiền bạc, bá quan ở các chức vụ cũng a dua đục khoét. Ngôi vua vẫn còn, hoạn quan có thể trị, nhưng xét về cái thế của thiên hạ đã như chỗ đất sông lở thì không thể sửa móng, cá ươn thì không cất giữ được”.

Tuy rằng Tập Cận Bình đã hạ bệ “Chính Pháp sa vương” Chu Vĩnh Khang, người được mệnh danh là hạt nhân trung tâm quyền lực thứ hai của ĐCSTQ, thậm chí nếu cuối cùng rồi sẽ hạ bệ Giang Trạch Dân, nhưng sự chuyên quyền, ham lộc vị, tiền tài, đục khoét, a dua… đã ăn sâu vào trong mọi mắt xích, toàn bộ cơ thể ĐCSTQ đã thối rữa, chỉ dựa vào “đả hổ” không thôi cũng chẳng thể trừ được cái gốc hủ bại. Các cơ quan của hai họ Tập – Lý dù tận lực đến mấy cũng chẳng thể xoay chuyển nổi thể chế của ĐCSTQ, bởi vì thời đại cần sự tiến bộ, những giá trị phổ quát của thế giới đã dần đi sâu vào lòng người, nếu không thay đổi triệt để tất sẽ dẫn đến diệt vong.

Thật ra, Trung Quốc cũng đã từng tiến hành qua những thay đổi to lớn, Đặng Tiểu Bình đã đem cuộc Cách Mạng Văn Hóa của Mao Trạch Đông chuyển hóa thành “con đường đặc sắc của Trung Quốc”, nhưng trên thực chất không hề tiến hành thay đổi nào, cũng chỉ là cải cách trong nội bộ thể chế, vẫn cứ tiếp tục duy trì đảng. Do đó, đến khi “con đường đặc sắc của Trung Quốc” đi đến chặng cuối, ĐCSTQ lại đứng trước nguy cơ sụp đổ. Cuối thời Thanh, triều đình cũng từng trải qua một vài cải cách thay đổi luật pháp và duy tân, nhưng không hề tiến hành thay đổi gì về mặt bản chất, do đó, vương triều ấy cũng không tránh khỏi số mệnh diệt vong.

Những năm cuối triều Thanh, súng ống phương Tây đã bắn vỡ cánh cổng triều đình, văn hóa phương Tây và các dạng trào lưu ý thức cuồn cuộn du nhập vào. Một bộ phận quan viên và phần tử trí thức Trung Quốc đã nhận thức được: không cải cách thì Trung Quốc không có cách nào đối mặt với thách thức mới. Những người thuộc phái duy tân như Khang Hữu Vi, Lương Học Siêu chủ trương cải cách nội bộ thể chế, thay đổi chế độ xã hội chính trị dưới quyền lực của hoàng đế. Chủ trương này đã được sự ủng hộ của vua Quang Tự, phái duy tân đã triển khai cuộc cải cách Mậu Tuất. Năm 1898, khi cuộc cải cách Mậu Tuất thất bại, Từ Hy thái hậu lại tiếp tục chuyên quyền tiếm vị, hoàng đế Quang Tự bị quản thúc tại Doanh Đài ở Trung Nam Hải.

Thanh triều sụp đổ, hoàn toàn không có bóng dáng ngoại địch, không có nguy cơ kinh tế, cũng không có khởi nghĩa nông dân trên quy mô lớn. Cách mạng Tân Hợi chẳng qua chỉ là một cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Vũ Xương, rồi sau đó dân chúng các nơi nườm nượp hô ứng, kết quả đế quốc Đại Thanh tan tành như ngói vỡ. Có thể nói số vận Đại Thanh đã tận, và tất nhiên, trước đó Tôn Trung Sơn cũng đã nhiều lần phát động khởi nghĩa vũ trang làm bước đệm.

Nguyên nhân chủ yếu là chế độ chính trị của nhà Thanh đã không còn phù hợp với kết cấu xã hội, không thể gánh vác sản lực của nền sản xuất tiên tiến. Đó cũng là lúc Trung Quốc dấy lên trào lưu ý thức của giai cấp tư sản đòi hỏi phải thích ứng với thế giới, ý thức này xung đột sâu sắc với sự hủ bại và bảo thủ của quý tộc Đại Thanh. Nhà Thanh đã không thích ứng được với hình thế mới, trào lưu mới. Đối diện với biết bao nguy cơ từ trong ra ngoài và cuộc cải cách không thể tránh khỏi, cuối cùng triều Thanh đã đi đến diệt vong.

Giống như Trụ vương thời Ân, toàn bộ quá trình và nguyên nhân diệt vong đã cảnh cáo người đời là thiên ý không thể trái được, thần linh không hề biến mất. Lịch sử Trung Quốc nói với chúng ta một điều, thịnh suy của từng triều đại là đều có quy luật. Tất cả mọi điều trên thế giới đều có thiên ý. Đảng Cộng sản tồn tại trên thế giới đã hơn 100 năm, bản chất tà ác của nó đã được con người nhận thức rõ, do đó việc giải thể Đảng Cộng sản đã trở thành dòng chảy tất yếu của lịch sử, một sự thay đổi lớn đang xuất hiện trên sân khấu Trung Quốc.

  1. Giải thể Đảng Cộng sản là dòng chảy chung của thế giới

Trong lịch sử tư tưởng của thế giới, một trăm năm trước, một âm hồn mang tên Cộng sản đã xuất hiện và vật vờ ở bầu trời châu Âu. Từ bản “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” Marx đã sáng lập ra học thuyết chủ nghĩa Cộng sản, nọc độc của học thuyết này đã được truyền đi trong suốt lịch sử cận đại, hiện đại, ảnh hưởng đến toàn cục của thế giới hiện nay. Sau khi thế giới nhận thức được bản chất bạo lực tà ác của Đảng Cộng sản, độc tố của nó vẫn còn di căn tại một số quốc gia.

Kể từ sau thế chiến thứ hai, cuộc vận động của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới đã đi đến đỉnh điểm, Liên Xô trong 10 năm ngắn ngủi đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu, lớn thứ hai thế giới. Nhưng đây chỉ là một biểu hiện tạm thời, theo sự thay đổi của thời gian, rất nhiều tệ đoan đã xuất hiện. Thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa của Đảng Cộng sản là một thể chế tập quyền tập trung cao độ. Loại thể chế này hoàn toàn đi ngược với quy luật phát triển của nền kinh tế hiện đại, đè bẹp tính tích cực của địa phương, xí nghiệp và người lao động, lại thêm sự hủy diệt các phần tử tri thức bất đồng chính kiến và đàn áp các đảng phái đối lập chính trị, dẫn đến sự khống chế chặt chẽ về hình thái ý thức. Khiến cho xã hội sau khi có sự đột phá ở bề mặt ban đầu liền lập tức sa vào trạng thái chết cứng, phong bế và lộn xộn.

Trong cục diện của thế giới hiện đại, chủ nghĩa cộng sản đã có một trận tuyến khá rộng lớn, từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc len lỏi đến các quốc gia bần cùng ở thế giới thứ ba, thậm chí là thế giới Ả Rập, cho đến cả đầu giường của Saddam Hussain cũng chất đầy những tuyển tập của Stalin và Mao Trạch Đông. Hễ quốc gia nào theo bước của Liên Xô và Trung Cộng, thì đó sẽ là một quốc gia bạo lực về chính trị, bần cùng về kinh tế.

Do đó, với con đường chung của thế giới là dần hướng theo hòa bình và phát triển, dạng thể chế này khiến cho kinh tế phát triển chậm chạp, gây mất cân bằng trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng thêm nghiêm trọng. Những tệ đoan mang tính chất chế độ lần lượt nổi cộm như: hủ bại chính trị, tàn sát bằng bạo lực, bịt miệng dư luận, khống chế tín ngưỡng…, điều này đã không còn phù hợp với nhịp độ của thế giới hiện đại và các giá trị phổ quát được cộng đồng quốc tế công nhận. Chủ nghĩa cộng sản buộc phải tìm kiếm con đường thoát thân.

Một làn sóng lật đổ chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới do đó đã dần dần xuất hiện, bắt đầu từ năm 1989, bao gồm cả những quốc gia thuộc thế giới Cộng sản cùng với Trung Quốc, đã phát sinh làn sóng dân chủ lật đổ nền thống trị chuyên chế của Chủ nghĩa Cộng sản, những quốc gia Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông và Trung Âu đã phát sinh những biến đổi kịch liệt và to lớn.

Ngày 6 tháng 10 năm 1989, Đảng Công nhân Xã hội Hungari đã tổ chức sớm kỳ đại hội đại biểu lần thứ 14 (một biểu hiện bất thường). Hội nghị đã thống nhất đổi tên Đảng Công nhân Xã hội thành đảng Xã hội, đề xuất ý kiến thiết lập thể chế được gọi là “Dân chủ xã hội chủ nghĩa”.

Năm 1989 cục diện chính trị ở Đông Đức xảy ra biến động. Ngày 9 tháng 11 năm 1989, bức tường Berlin sụp đổ.

Tháng 12 năm 1989 Ủy ban Mặt trận Cứu quốc Romania đã thay thế Đảng Cộng sản Romania lên nắm quyền.

Ngày 10 tháng 11 năm 1989, Chủ tịch Zhivkov nước Bulgaria bị buộc phải từ chức. Tháng 2 năm 1990, Đảng Cộng sản Bulgaria đã bỏ cơ chế độc đảng cai trị.

Năm 1989, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc đã chứng kiến cuộc Cách mạng Nhung. Đảng Cộng sản trong cơn vô vọng vẫn tiếp tục thao túng quân đội, cảnh sát và các cơ cấu quốc gia khác, cuối cùng Đảng Cộng sản vẫn phải trao lại chính quyền.

Sau năm 1990, các quốc gia thuộc Liên bang Cộng hòa Nam Tư đều tiến hành tuyển cử đa đảng, đảng Cộng sản đã không thắng cử và đánh mất vai trò chấp chính.

Cuối năm 1990, Albania cũng bắt đầu tuyên bố thực hiện thể chế đa đảng, đất nước này cũng dần bước vào nền chính trị đa nguyên hóa cùng con đường dân chủ nghị viện.

Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Tổng thống Liên Xô Gorbachev tuyên bố từ chức, Hội đồng Tối cao Liên Xô trong ngày kế tiếp đã thông qua quyết định tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của khối Liên Xô, lịch sử 69 năm của Liên Xô đến đây đã kết thúc.

Tại Trung Quốc, làn sóng tư tưởng dân chủ của dân chúng đã bắt kịp cùng với nhịp đập chung, điều này đã góp phần quan trọng trong việc hình thành làn sóng bài Cộng tại đất nước này. Trong các nước cộng sản đương thời, Ba Lan là đất nước đầu tiên nổ ra cách mạng, ngày 4 tháng 6 năm 1989 họ đã tổ chức tổng tuyển cử bầu ra thủ tưởng đầu tiên không thuộc thành phần trong đảng. Cũng trong ngày hôm đó, Trung Quốc cũng xảy ra cuộc vận động mang tên “Lục Tứ”, cuộc vận động này mau chóng đã biến thành một bể máu ngay tại quảng trường Thiên An Môn. Sau khi những sự kiện này xảy ra, kế tiếp đó là những cuộc cách mạng và phản kháng lan rộng khắp các quốc gia Cộng sản, khiến cho các nước Đông Âu thuộc khối Liên Xô nườm nượp giải thể. Cục diện chính trị trên toàn thế giới phát sinh một sự thay đổi cực lớn, kết thúc một thời đại, cũng là dấu hiệu kết thúc chiến tranh lạnh.

Trong những quốc gia đã giải thể thành công chủ nghĩa Cộng sản, trừ cuộc tắm máu ở Romania, các quốc gia khác đều thông qua con đường tuyển cử tự do, Đảng Cộng sản tại quốc gia đó đều trao lại chính quyền một cách hòa bình. Trong số các quốc gia ở Đông Âu, Albania là quốc gia cuối cùng kết thúc chế độ Cộng sản.

Khi làn sóng giải thể chủ nghĩa cộng sản đang cuồn cuộn trên toàn thế giới, cũng là lúc mà dân ý ở Trung Quốc đòi hỏi giải thể ĐCSTQ lên đến cao độ. Là quốc gia có dân số đông nhất thế giới, nhưng Đảng Cộng sản tại Trung Quốc vẫn chưa bị giải thể. ĐCSTQ đã không thuận theo dòng chảy của lịch sử, mà đã “trông nhà” bằng những thủ đoạn bạo lực đẫm máu, thực hiện những cuộc tàn sát thảm khốc vô nhân đạo để đổi lấy sự thống trị. ĐCSTQ đã đề xuất khẩu hiệu vô nhân tính “giết 200 ngàn giữ Đảng 20 năm”. Học thuyết của Marx là một học thuyết tà giáo đầy tội ác, máu tanh và bạo lực đã chiếm lĩnh được đất Trung Hoa, thống trị và nô dịch dân tộc Trung Hoa. ĐCSTQ phải có được bản chất vô nhân tà ác ấy mới có thể phóng đao đại sát con dân xứ Trung Hoa một cách không gớm tay.

Từ khi giành được chính quyền năm 1949 cho đến nay, ĐCSTQ trong quá trình vận động chính trị và vì các nguyên nhân chính trị khác đã khiến cho một lượng lớn người tử vong một cách bất bình thường; đàn áp và tàn sát các dân tộc thiểu số. Tiến hành trấn áp, bức hại và tàn sát đối với các tổ chức dân vận, học viên Pháp Luân Công, tín đồ tôn giáo, nhân sĩ bất đồng chính kiến. Trong vòng hơn 60 năm, số người chết dưới tay ĐCSTQ được thống kê có đến 80 triệu sinh mạng. Con số này đã vượt quá xa so với tổng số người thiệt mạng trong Thế chiến thứ II.

Từ đó có thể thấy, chủ nghĩa Marx vốn là một tà thuyết dị đoan, phóng đao đại sát đối với sinh mệnh loài người, điều này còn tàn khốc hơn cả trận đại chiến của toàn thế giới! Bản chất của học thuyết bạo lực cách mạng đó là dùng lời dối trá và chuyên chế để thay cho dân chủ và tự do, dùng thể chế độc tài cộng sản thay cho chế độ dân chủ pháp quyền. ĐCSTQ đã thông qua con đường cưỡng chế và bạo lực để bảo vệ chính mình. ĐCSTQ đã bỏ lỡ cơ hội giải thể vào năm 1989, nhưng bản thân nó vẫn đang sống trong sự sợ hãi cực độ từ phong trào Lục Tứ.

Từ khi sự kiện Lục Tứ diễn ra cho đến nay, những cuộc cải cách mở cửa của ĐCSTQ mặc dầu trên bề mặt thể hiện sự phồn vinh phát triển nhưng nó cũng bắt đầu lộ ra những tệ đoan, đồng thời sản sinh ra một nhóm xã hội mới: giai cấp tư sản quyền quý. Nhóm này khiến cho các phương diện chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc lâm vào những nguy cơ nghiêm trọng. Tiền đồ và vận mệnh của ĐCSTQ kể từ sau cuộc Cách Mạng Văn Hóa liên tục bị dồn vào những ngõ cụt, lần này ĐCSTQ lại bước đến ngõ cụt thêm lần nữa.

  1. Giai cấp tư sản quyền quý Trung Quốc

Sau cuộc tàn sát Lục Tứ, ĐCSTQ hò hét khẩu hiệu “giết 200 ngàn giữ 20 năm!”, trên mạng vẫn còn lưu truyền một tin tức được tiết lộ từ một nhân vật biết rõ sự tình ở Trung Nam Hải nói rằng, Đặng Tiểu Bình vì con đường phía trước của đảng nên đã bắt tay an bài từ trước. Tháng 7 năm 1992, Đặng Tiểu Bình đã triệu tập một hội nghị bí mật bao gồm con cháu trong dòng dõi nhà ông ta để nói về sự an bài tương lai 20 năm sau khi ông ta chết. Cuộc hội nghị ấy đã tuyên bố: “Chúng ta đã không còn lựa chọn nào khác, hiện giờ chỉ còn một con đường duy nhất là giải thể ĐCSTQ. Như thế mới không bị thanh toán, con cháu của chúng ta sau này mới được an toàn”. Đặng Tiểu Bình còn yêu cầu không nên ngần ngại tích cóp tiền của vì công cuộc giải thể đảng trong tương lai.

Người viết cho rằng, việc Đặng Tiểu Bình mở cuộc mật đàm để bàn về giải thể đảng có độ xác tín không cao, việc ông ta muốn giải thể ĐCSTQ cùng với việc sát hại và lấp liếm sự kiện Lục Tứ là khác nhau, công tội rõ ràng, lịch sử vẫn sẽ lưu lại món nợ Lục Tứ, tất cả những người có trách nhiệm đều phải nhận lấy phán xét. Nhưng nói bọn họ không ngại tích cóp tiền của lại là sự thật, Đặng Tiểu Bình cũng công khai đề xuất khẩu hiệu “để cho một bộ phận người giàu lên trước”. Từ sau sự kiện Lục Tứ, các gia tộc tập quyền của ĐCSTQ đã bắt đầu những hành động tích cóp điên cuồng, mà “bộ phận người giàu lên” ấy đều là những con cháu của những  người nắm quyền cao chức trọng, thái tử Đảng, ai ai cũng nứt khố đổ vách. Cũng vì chính sách “để một bộ phận người giàu lên trước”, nên sau sự kiện Lục Tứ, Trung Quốc lại sản sinh ra một nhóm mới: giai cấp tư sản quyền quý.

Đây là điều độc nhất vô nhị tại Trung Quốc, một quốc gia Cộng sản lớn nhất vẫn còn tồn tại sau Chiến tranh lạnh, tuy rằng đã vượt lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới nhưng đó cũng là quốc gia có sự cách biệt giàu nghèo nghiêm trọng nhất. ĐCSTQ vẫn còn giơ bảng hiệu của chủ nghĩa cộng sản, nhưng lại thực hiện một mô hình chuyên chế tư bản quyền quí. Cải cách mở cửa chỉ tạo ra sự phồn vinh trên bề mặt, tiếp theo đó là càng nhiều những bong bóng kinh tế xuất hiện, số người thất nghiệp tăng nhanh, khoảng cách giàu nghèo thêm sâu sắc. Đối với thể chế tư bản quyền quý độc đảng mà nói, trên phương diện chính trị chỉ trọng dụng con ông cháu cha, quan trường câu kết, đồng thời cắm rễ sâu vào thế giới thương mại, ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế và xã hội.

Một bản báo cáo điều tra từ cơ quan nghiên cứu của ĐCSTQ tiết lộ. Suốt 60 năm đảng cầm quyền ở Trung Quốc đại lục, trong số hàng trăm triệu phú hào có tài sản vượt qua 100 triệu tệ, 90% đều có xuất thân là con cháu của “hồng nhị đại”, “quan nhị đại” (tiếng lóng chỉ con cái các cán bộ đảng, quan chức), những của cải ấy đều từ đồng thuế xương máu của nhân dân, từ tài sản của quốc gia.

Giai cấp tư sản quyền quý trước mắt đã nắm giữ những huyết mạch kinh tế trọng yếu của Trung Quốc, thậm chí thị trường cổ phiếu cũng có thể chịu sự khống chế của họ, cũng có nghĩa là chỉ cần họ giậm chân một cái cũng có thể đảo loạn cả một nền kinh tế, cả thị trường cổ phiếu của Trung Quốc, khiến cho bá tánh ở đất nước này lãnh đủ, thậm chí có thể giật đổ cả đảng.

ĐCSTQ dưới chiêu bài “đặc sắc riêng kiểu Trung Quốc” đã tạo ra một nhóm gia tộc – chủ nghĩa tư bản quyền quý trước giờ chưa hề có trong lịch sử, nhóm này dựa vào quyền lực có trong tay tước đoạt của cải từ mồ hôi nước mắt của dân chúng, vơ vét tài phú cho riêng mình. Công cuộc đả hổ của Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn đã cho người ta thấy được một sự hủ bại đã lên đến đỉnh điểm, mục rữa vô hạn độ của một đảng chấp chính.

Tình trạng này rất giống với khối Liên Xô trước ngày giải thể, trong quá trình thống trị của mình, Liên Xô cũng đã sản sinh ra một nhóm phú hào tư bản quyền quý. Nhóm này được đặt trên cả quyền lực, nảy nở ra hàng mớ hủ bại. Mối mâu thuẫn giữa dân chúng và tầng lớp tư bản quyền quý này ngày một dâng cao, chính trị, kinh tế cũng xuất hiện nhiều nguy cơ. Mâu thuẫn tích lũy đến một mức độ đỉnh điểm, khối Liên Xô liền bị giải thể trong nháy mắt.

Nhóm tư bản quyền quý Trung Quốc so với Liên Xô chỉ có chỗ hơn chứ không kém, đầu tiên là sự hủ bại của những gia tộc – tư bản quyền quý đã dẫn đến sự hủ bại của cả hệ thống đảng; những vấn đề môi trường và cung ứng năng lượng đã để lại cho xã hội những hậu họa khôn lường; số người thất nghiệp tăng cao, khoảng cách giàu nghèo thêm sâu sắc, mâu thuẫn giữa các giai tầng xã hội thêm kịch liệt. Hệ thống pháp chế của ĐCSTQ chỉ phục vụ cho nhóm tư bản quyền quý này dẫn đến mâu thuẫn quan – dân, ĐCSTQ bịt miệng ngôn luận, tùy ý trấn áp tín ngưỡng và các nhà bất đồng chính kiến. Dân chúng phản đối không ngớt, các chi phí “duy trì ổn định” vượt quá chi phí quốc phòng. Trung Quốc xuất hiện những bong bóng kinh tế và muôn vàn nguy cơ, luôn luôn ngấp nghé bờ vực đổ vỡ. Con đường chính trị lâm vào ngõ cụt, đấu đá nội bộ gay cấn chưa từng thấy.

ĐCSTQ đã đi đến con đường cuối cùng của ngày hôm nay, thậm chí còn tệ hơn cả cục diện của Liên Xô trước ngày giải thể, do vậy, ĐCSTQ cũng đã sớm ý thức được nguy cơ của chính mình. Truyền thông Hồng Kông trong năm 2008 đã tiết lộ một tin tức có liên quan về việc ĐCSTQ tính “chỉnh đốn Đảng” như thế nào, nhằm vớt vát sinh mệnh của đảng trước nguy cơ giải thể. Bài viết đặc biệt nhấn mạnh, nguyên Thường ủy Bộ Chính trị, cựu chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc Lý Thụy Hoàn trong buổi sinh hoạt đoàn thể phát biểu, ông ta đã suy nghĩ trong thời gian dài, không biết là nên đổi tên Đảng Cộng sản thành Đảng Nhân dân hay Đảng Xã hội.

Lần chỉnh đốn này diễn ra là vì ĐCSTQ đã nhận thức được nguy cơ chính trị, hi vọng thông qua con đường chỉnh đốn có thể cứu vãn được vận mệnh của Đảng, ngoài ra còn là để cho cuộc “tiếp quản” của ông Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường vào kỳ đại hội lần thứ 18 diễn ra trong năm 2012 tương đối được trơn tru. Ông Hồ Cẩm Đào trong lúc tham gia buổi tọa đàm của Trung ương Đảng với các đoàn thể dân chủ từng trả lời cho những nghi vấn về vấn đề xã hội đang dần dần hình thành “giai cấp tư sản quan liêu, giai tầng đặc quyền quan liêu”, ông Hồ nói: “Xã hội có những đánh giá như vậy, ở một mức độ nào đó cũng đã khiến cho xã hội lên tiếng, đối với Đảng Cộng sản đó là một tín hiệu báo trước nguy cơ, nếu như một ngày nào đó, Đảng Cộng sản cũng trộn lẫn với giai tầng đặc quyền quan liêu, tư sản quan liêu đó thì điều này chứng minh Đảng Cộng sản đã thoái hóa biến chất, nhất định sẽ tiêu vong”.

Gần đây, ông Tập Cận Bình lại có một bình luận hiếm thấy: “Cần dũng cảm đối diện với sự thật khắc nghiệt, thừa nhận, tiếp thu thực tế thoái hóa, biến chất, đi đến nguy cơ vong quốc vong đảng”.

Tầng lớp lãnh đạo cấp cao của ĐCSTQ hiểu rõ hiện trạng và nguy cơ của chính mình, bất cứ ai cũng không thể cứu vãn nổi, ai ai cũng đều biết không có đường lui. Sau sự kiện Lục Tứ, đành rằng ĐCSTQ đã bỏ đi bộ phận thực chất của chủ nghĩa Marx, dựng nên một chủ nghĩa tư bản hữu danh vô thực, nhưng sau quang cảnh của 20 năm, hiện tại đã đến lúc cả hai đều sụp đổ, toàn bộ thể chế ĐCSTQ đang ngấp nghé bờ vực diệt vong.

Ngoài ra, ĐCSTQ còn phát động cuộc trấn áp lên các học viên Pháp Luân Công, làm sản sinh rất nhiều hậu quả to lớn trên khắp các phương diện như chính trị, kinh tế, văn hóa và nhiều nguy cơ không thể lường trước được. Không chỉ phong trào thoái đảng được đẩy mạnh, thế đối lập với các giá trị Chân – Thiện – Nhẫn còn mang lại cho dân tộc Trung Hoa những kiếp nạn liên quan đến đạo đức. ĐCSTQ không thể dẫn dắt dân chúng trong nước, cũng không thể đối diện với xã hội quốc tế, bị cả thế giới tẩy chay, không ai thông cảm nổi, ĐCSTQ bạo ngược bị toàn thế giới khoác cho chiếc áo “ác ma” phản nhân loại ngàn năm một thuở. Như thế ĐCSTQ có lý do để tồn tại trên cõi đời này chăng?

Do sự sợ hãi của các quan chức ĐCSTQ trước bờ diệt vong, rất có khả năng sẽ xuất hiện những hành động không lý trí. Trước kỳ đại hội thứ 18, ông Tập Cận Bình vẫn còn phấn chấn tự tin để tiếp quản chức chủ tịch nước do đảng giao phó, nhưng từ lúc chưa chính thức hiện diện trên vũ đài chính trị, ông Tập đã phát hiện ra rằng: tập đoàn chính biến Giang Trạch Dân đang muốn đánh sập mình xuống. Ông Tập buộc phải “lì lợm” thượng đài, điều này đã khẳng định trong nội bộ cấp cao của đảng sẽ bốn bề dậy sóng. Đây chính là khúc dạo đầu cho cuộc giải thể của ĐCSTQ.

Trong thời khắc biến đổi trọng đại của lịch sử, đứng trước xu thế tất yếu phải giải thể, những người đưa ra quyết sách của ĐCSTQ, đó là những người như ông Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường, và những cơ quan chính phủ Bắc Kinh phải ứng đối như thế nào đã trở thành chủ đề nóng hổi thu hút sự quan tâm của mọi giới.

  1. ĐCSTQ vùng vẫy trước thời khắc diệt vong

Trước kỳ đại hội thứ 18, ông Tập Cận Bình đã có những chuẩn bị để tiếp quản chiếc ghế chủ tịch, nhưng trong lúc vẫn chưa chính thức nhậm chức, ông Tập đã phát hiện những sự kiện khiến bản thân phải thất kinh biến sắc: Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang đang âm mưu liên thủ với nhau để thực hiện đảo chính, đánh bật ông ta khỏi vũ đài chính trị.

Phụ thân ông Tập Cận Bình, ông Tập Trọng Huân là một trong những nguyên lão của ĐCSTQ, trước giờ người ta vẫn cho rằng ông ta thuộc phái cải cách trong nội bộ đảng. Nhưng không ai nói đến bối cảnh của ông Tập Cận Bình, cũng không biết ông Tập có bổn ý là muốn giải thể ĐCSTQ hay không, nhưng rõ ràng là những động thái của ông Tập khi đối phó với tập đoàn chính biến này đã dấy lên những trận phong ba trong nội bộ cấp cao của Đảng, mà trận phong ba này lại là khúc dạo đầu cho cuộc giải thể ĐCSTQ.

“Quân yếu thần tử, thần bất tử bất trung” (vua bảo quan chết, quan không chết là không trung), xưa có câu như vậy. Chứ nào có cái lý “thần” bắt “quân” chết, “quân” ngồi đó đợi chết? Ông Tập Cận Bình vừa lên đài, đã lấy đoản binh mà chế trường trận, dùng con bài chống tham nhũng để xét xử những “đại thần” có mưu đồ cấu kết, “phản nghịch” như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, còn đánh gục hết mấy trăm “đại lão hổ”, nhưng ông Tập vẫn chưa có cách nào để nhổ tận gốc cả tập đoàn của Giang Trạch Dân, cũng không thể nào xóa bỏ được mưu đồ lăm lăm tiếm quyền của tập đoàn này.

Từ cổ chí kim, phương cách xử lý các tập đoàn chính biến đều là “tru sát” kẻ chủ mưu hoặc kẻ cầm đầu, nhưng canh bạc của ông Tập và tập đoàn chính biến ấy đã triển hiện ra một bức tranh muôn màu muôn vẻ. Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai những người phát động chính biến đều đã bị xét xử, đã bị tống vào nhà tù, nhưng trên thực tế bản án âm mưu lật đổ này vẫn chưa khép lại được. Bởi vì hai họ Bạc – Chu đằng sau vẫn còn cả một tập đoàn của ông Giang, khiến cho ông Tập và ông Vương phải chọn phương thức “đả hổ” để dọn đường. Mở đường máu tiến thẳng đến hổ vương Giang Trạch Dân và nhìn thấy một sự thật, Giang Trạch Dân không phải là người mà là “Đảng”. Ông Giang Trạch Dân trốn ngay sau lưng đảng nên không thể hạ thủ. Nhưng nếu không hạ thủ thì sẽ bị hổ vương vồ lại, người anh hùng đả hổ sẽ bị lâm vào tử địa, đây chính là vấn đề cốt lõi mà ông Tập Cận Bình phải đối mặt.

Cái mà ông Giang Trạch Dân gọi là lý luận “ba đại biểu” đã được ĐCSTQ liệt vào “tư tưởng trọng yếu”, vào kỳ đại hội thứ 16, tháng 11 năm 2002 đã được thông qua và viết vào cương lĩnh của Đảng. Do đó, ông Giang cũng là một bộ phận quan trọng của Đảng. Nói cách khác, nếu như phán ông Giang là tội phạm, thì cương lĩnh của ĐCSTQ cũng sẽ bị xé bỏ toàn bộ, thế thì đảng sẽ thống trị bằng cái gì? Nói theo ngôn ngữ của đảng thì chính là “vong đảng”.

Các cơ quan dưới quyền ông Tập Cận Bình không thể không có những động thái nhất định, trước ngày ĐCSTQ xử kín Chu Vĩnh Khang, ngày 21 tháng 5, phương tiện truyền thông của đảng đăng bài viết “Cuộc chống tham của Đảng đang mở rộng cục diện”. Bài viết có đề cập trong vòng hai năm “đập ruồi đả hổ”, công cuộc chống tham nhũng của trung ương đang bước vào giai đoạn mới: “cần phải triệt để diệt trừ hủ bại của chế độ” như thế thì cuộc chống tham nhũng này mới có thể được lưu danh trong sử sách. Hiện tại một ván cờ lớn đang bày ra trước mặt trung ương, nó còn đáng để cho người khác quan tâm hơn là câu hỏi “lão hổ tiếp theo là ai”.

Muốn được “lưu danh sử sách” đòi hỏi phải có những hành động khá kinh thiên động địa. Nếu có dọn dẹp được Tăng Khánh Hồng, Giang Trạch Dân, chẳng qua cũng chỉ là đánh gục được một vài “lão hổ”, lịch sử cùng lắm sẽ ghi lại rằng nội bộ đảng đã có một cuộc ác đấu như thế như thế, muốn “lưu danh sử sách” trừ khi lật đổ cả ĐCSTQ.

Điều đáng chú ý ở đây là, trong ngày tuyên xử Chu Vĩnh Khang, ông Tập Cận Bình đã hội kiến với chính trị gia người Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi, là một biểu tượng mới của “dân chủ”. Lần hội ngộ này của ông Tập Cận Bình với một nhân vật đứng đầu Đảng Liên minh Quốc gia vì Dân chủ này là một động thái khá rõ ràng, đó không phải là sự câu thông giữa hai quốc gia để phát triển kinh tế, cũng không phải là giải quyết vấn đề chiến sự ở Bắc Miến, mà là một sự trông đợi hay mục đích gì đó về mặt chính trị. Ông ta dường như đang tìm kiếm một con đường và hướng đi, đồng thời cũng dò xét xem nội bộ ĐCSTQ sẽ phản ứng như thế nào trước vấn đề nhạy cảm này.

Tiếp theo đó ông Tập Cận Bình cũng chẳng nói chẳng rằng, chỉ lẳng lặng hoàn thành một loạt các hành động. Buổi trưa ngày 1 tháng 7 cũng là ngày thành lập đảng, Ủy ban Thường trực Đại hội Nhân dân Bắc Kinh đã thông qua việc thực thi tuyên thệ trước hiến pháp cho tất cả các Ủy ban trong toàn quốc. Trong đó hoàn toàn không có lời thề “trung với đảng”, cũng có thể nói các viên chức không còn tuyên thệ trước đảng nữa. Thậm chí có người còn cho rằng, ĐCSTQ nên đổi tên gọi.

Đành rằng ông Tập đã dọn dẹp khá nhiều “lão hổ” ở các cơ quan cấp quốc gia, cùng vô số “ruồi nhặng”. Nhưng tình thế của cuộc chống tham nhũng vẫn luôn luôn có sự bế tắc giữa “quân tham nhũng” và “quân chống tham nhũng” trong từng giờ từng khắc, hình thức vô cùng khốc liệt. Có thể nói rằng, hai họ Tập – Vương đang từng bước từng bước dùng kế “rút củi đáy nồi” để dập tắt tập đoàn khổng lồ Giang Trạch Dân, xem ra khá là khó khăn, so ra thì việc giải quyết tập đoàn Giang Trạch Dân từ phương diện chế độ có phần dễ hơn.

Ngày 26 tháng 6, ông Tập Cận Bình thông qua một quy định liên quan đến vấn đề quan chức “có lên chức có xuống chức”, “trọng điểm là giải quyết vấn đề xuống chức”. Có kênh truyền thông còn nói rằng, danh sách nhân sự bí mật do ông Tập Cận Bình an bài sắp được tầng lớp lãnh đạo cấp cao trong Đảng “thảo luận” trong hội nghị Bắc Đới Hà, bản danh sách bí mật còn bao gồm cả những Ủy viên hiện tại trong Bộ Chính trị. Còn nói, Ủy viên Bộ Chính trị Trương Cao Lệ cũng ở trong danh sách này, còn có những tâm phúc của Giang Trạch Dân hiện ở bên ông Tập là Lưu Vân Sơn, Trương Đức Giang…

Nếu như ông Tập có thể sử dụng phương thức “có lên có xuống” này, thì đây quả là một nước cờ hay để rút mất quyền lực của tập đoàn ông Giang, để cho ông Giang, một nhân vật chưa xuống ngựa, có thể ngoan ngoãn với cái cớ “không đủ năng lực” mà tự động xuống yên, còn không sẽ bị Ủy ban Điều tra Kỷ luật Trung ương gõ cửa. Từ đó, hai họ Tập – Vương có thể đánh vỡ tập đoàn của ông Giang. Các cơ quan này đầu tiên sẽ gỡ bỏ cái nền mà “bầy hổ” đã vun đắp bấy lâu, đồng thời không ngớt bắn đi những lời thị uy như “án hình sự không động tới thường ủy”, “Thiết Mạo Vương tử”, “Khánh Thân Vương”, “không nể cấp bậc”… để ám chỉ Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng, như thế mới khởi được một tác dụng trấn áp rộng lớn. Xem ra, “đả hổ” không phải là mục đích, mà đó là sách lược.

Đối với những người có quyền lực chống lưng như ông Giang Trạch Dân, ông Tăng Khánh Hồng mà nói, “quân sĩ” của ông ta bị mất đi quyền lực là điều rất đáng sợ. Sau những động thái lớn của ông Tập Cận Bình, hiển nhiên, tập đoàn của ông Giang Trạch Dân rất bất lợi trên trường chính trị. Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng nhất định sẽ trả đòn trong cơn quẫy chết, do đó, họ bắt đầu rút ra con bài kinh tế, làm đảo lộn nền kinh tế Trung Quốc trước thềm hội nghị Bắc Đới Hà, đó có lẽ là con át chủ bài lớn nhất mà hai họ Giang – Tăng đánh trả lại ông Tập.

Trên trường chính trị, Giang Trạch Dân không chỉ bảo vệ mình trong cái “boong-ke đỏ”; về phương diện quân sự, ông ta sử dụng phương thức “bức cung” cùng với hình thức “trưởng lão chấp chính” để tiếp tục lưu nhiệm, tiếp tục nắm giữ quyền hành. Trên phương diện kinh tế, ông ta cũng giăng ra muôn kiểu bủa vây, hi sinh những lợi ích to lớn của quốc gia, kiến lập tại trong và ngoài nước những tập đoàn cổ phiếu. Trước mắt, những thế lực chính trị và quân sự đã bị những cơ quan dưới quyền ông Tập Cận Bình tróc rễ, hai bên đang chuẩn bị có những cuộc chiến nảy lửa trên mặt trận cổ phiếu.

Kỳ thực, hai họ Giang – Tăng sớm đã rút quân át kinh tế ra để uy hiếp. Khi bản án của Chu Vĩnh Khanh đột nhiên bị đem ra xét xử, Giang – Tăng bắt đầu đã có những động thái thật sự. Truyền thông mạng còn đồn đoán rằng, chính gia tộc của ông Giang Trạch Dân và ông Tăng Khánh Hồng đã tung ra mấy trăm tỉ cổ phiếu rỗng để đảo lộn nền kinh tế và dấy lên những bất ổn trong xã hội, như thế mới có cơ hội thực hiện sách lược chính biến đã nung nấu bấy lâu nay. Do vậy, những cơ quan của ông Tập không thể không xuất thủ, lập tức phái Thứ trưởng Bộ Công An mang lực lượng thu thập chứng cớ, điều tra làm rõ đường dây bán cổ phiếu và cổ phần rỗng. Nguồn tin cho hay, chính quan chức cấp cao trong ngành công an trực tiếp dẫn lực lượng thâm nhập vào thị trường cổ phiếu, đây là lần đầu tiên trong lịch sử cổ phiếu của Trung Quốc. Mọi thứ đang hướng về sào huyệt cũ của ông Giang Trạch Dân ở Thượng Hải.

Ông Tập Cận Bình đã đánh gục khá nhiều “hổ” lẫn “ruồi” của bang phái nhà họ Giang, nhưng vẫn chưa giành được cục diện áp đảo, huống chi tập đoàn chính biến của ông Giang vẫn đang lăm lăm lật đổ ông Tập. Hai họ Tập – Vương muốn dọn dẹp được “hổ vương” trước phải dồn đối thủ vào thế chết, sau đó xem thử đối thủ xuất chiêu gì, sau này ông Giang Trạch Dân vẫn còn âm mưu quỷ kế gì thì vẫn phải chờ hồi sau phân giải. Nhưng, bất kể đôi bên giằng co như thế nào, kết quả vẫn là ĐCSTQ tự lật đổ chính mình. ĐCSTQ đang đứng trước xu thế diệt vong, không ai có thể thay đổi được.

Đặng Tiểu Bình làm theo chủ nghĩa tư bản, nói đó là xã hội chủ nghĩa đặc sắc kiểu Trung Quốc mà cũng không dám vứt đi cái áo khoác ĐCSTQ; sau khi Lý Thụy Hoàn đề xuất sửa đổi tên đảng thì cũng biệt tăm biệt tích trong muôn vàn chướng ngại. Ngoài ra, những người như Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương, Kiều Thạch đều là những người mang hơi hướng cải cách dân chủ kiểu phương Tây nhưng tất cả đều không thành công.

Những bước đi của ông Tập Cận Bình đến ngày hôm nay, không có máu đổ, cũng không có những động thái khuynh đảo hay kinh thiên động địa gì. Chỉ là toàn số phiếu thông qua quyết định viên chức nhà nước sẽ tuyên thệ trước hiến pháp, không tuyên thệ trước đảng nữa, đem đảng tống vào lãnh cung, trước đây điều này đã khó tưởng tượng, chứ đừng nói là có ai muốn nhắc tới. Ngoài ra, truyền thông Hồng Kông cũng đưa ra tin tức, vào tháng 6, ông Tập Cận Bình phát biểu tại đại hội của Bộ Chính trị nói rằng, ĐCSTQ đang đối mặt với vô vàn nguy cơ từ các phương diện chính trị, kinh tế, cần “dũng cảm thừa nhận, tiếp thu thực tế thoái hóa biến chất của đảng”. Câu nói này đã làm chấn kinh tứ bề hội nghị, hầu như là một dấu hiệu của việc vất bỏ đảng cộng sản.

Cũng có thể, chính phủ Bắc Kinh không có ý muốn giải thể đảng cộng sản, tiếp theo ĐCSTQ có thể đem cuộc giải thể Liên Xô nâng lên thành tiến bộ của thời đại, thành bước phát triển tất yếu của lịch sử, xem đó là một “bài học lịch sử”, không dám đề cập đến. Nhưng dòng chảy lịch sử chẳng phải là ý muốn của con người, những sự kiện phát sinh liên tiếp ở Trung Quốc trong những năm gần đây, một cuộc đọ sức giữa những âm mưu chính biến và những đòn phản kích đã phát triển qua những động thái của ông Tập Cận Bình, cuối cùng dù muốn hay không cũng sẽ dính đến những vấn đề nhạy cảm cốt lõi của ĐCSTQ. Trong trận đấu một mất một còn này, ĐCSTQ sẽ lật đổ chính mình.

Đây chính là đích đến tất yếu của lịch sử và dòng chảy chung của thế giới, số mệnh của ĐCSTQ hầu như đã tận; một mặt khác cũng là nhờ cuốn “Cửu bình” đã giúp dân chúng hiểu được bản chất tà ác của ĐCSTQ. Các cơ quan chính phủ trong thời khắc biến động của lịch sử nên thuận ứng theo dòng chảy thời đại, vứt bỏ chế độ chuyên chế của ĐCSTQ, kết thúc nền chuyên chính độc đảng, để bước vào một chế độ dân chủ với các giá trị phổ quát. Đó mới là thuận ứng theo lòng dân, mới có thể triệt để nhổ sạch hủ bại, mới có thể “lưu danh sử sách”.

Trước mắt, số người thoái xuất khỏi đảng đã vượt qua con số 200 triệu, cuộc cách mạng lịch sử phế bỏ ĐCSTQ đã bắt đầu từ sớm. Giải thể ĐCSTQ là một tất yếu của lịch sử, là dòng chảy chung của thế giới, là điều mà nhân tâm hướng đến, là con đường để dân tộc Trung Hoa thoát khỏi kiếp nạn, tiến đến một kỷ nguyên phục hưng vĩ đại, không ai có thể ngăn cản! Giải thể ĐCSTQ chính là thiên ý: “Trung Quốc Cộng sản đảng vong!”

.

.

.

Rắc rối về ‘đường biên giới hiện trạng’ (Trương Nhân Tuấn gửi BBC)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Rắc rối về ‘đường biên giới hiện trạng’

Nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn

Gửi cho BBCVietnamese.com

27 tháng 7 2015

http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2015/07/150727_cambodia_border

.

Thế nào là «đường biên giới »?

Quan niệm « biên giới – frontière, boundary » trên tinh thần công pháp quốc tế là một quan niệm rất mới, chỉ có từ đầu thế kỷ 20, sau khi quan niệm « quốc gia – Etat » được hình thành.

Theo đó đường biên giới được định nghĩa như là « vỏ bao bọc liên tục một tập hợp không gian của một quốc gia », là « điểm chấm dứt thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ ».

Học giả Michel Foucher trong tập « Fronts et Frontières » (Tiền tuyến và Biên thùy) có nói rằng : «Phải có hai bên mới vẽ được đường biên giới».

Trường hợp biên giới Việt Nam-Cambodge (sau này là Kampuchia), biên giới thực ra chỉ có «một bên» đứng ra hoạch định là Pháp. Đó là đường biên giới «thuộc địa».

Đường biên giới (thuộc địa) này, đáng lẽ sau khi hai bên thiết lập lại nền độc lập, trở thành đường biên giới «quốc tế» theo tinh thần « uti possidetis » của công pháp quốc tế.

Nhưng ông hoàng Sihanouk đã không nhìn nhận cơ sở pháp lý này và yêu cầu Pháp trả lại lãnh thổ Nam kỳ cũng như đảo Phú Quốc về phía Cambodge. Biên giới của Sihanouk là «biên giới lịch sử», nhưng ông đã bỏ qua giai đoạn lịch sử dưới triều Minh Mạng lãnh thổ Cambodge đã thuộc về Việt Nam.

Yêu cầu của Sihanouk phi lý, không ai có thể thỏa mãn được.

Vấn đề của nhiều bên

Chiến tranh Việt Nam bùng nổ. Vấn đề biên giới không thuộc phạm vi của hai bên (Việt Nam Cộng hòa và Cambodge), mà trở thành vấn đề của nhiều phía.

Các nguyên tắc quốc tế về sự «biên giới bất khả xâm phạm», «không can thiệp vào nội bộ quốc gia khác»… đã bị xóa bỏ.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng Miền Nam lợi dụng lãnh thổ Cambodge để lập chiến khu (vùng Mỏ Vẹt, tức tỉnh Svay Rieng). Mỹ và VNCH truy kích Việt Cộng phải xâm phạm lãnh thổ Cambodge.

Trong khi Trung Quốc, tính toán từ xa, đã sử dụng vấn đề dân tộc chủ nghĩa và biên giới để tố cáo Mỹ đồng thời kềm hãm các phía VN.

Người ta chỉ cần hai bên để vẽ đường biên giới. 6 bên (Mỹ, Trung Quốc, VNDCCH, MTGPMN, VNCH và Cambodge) là quá nhiều, trong khi phía Cambodge lại có nhiều khuynh hướng khác nhau mà Sihanouk chỉ đại diện cho một phía.

Biên giới trở thành chiến trường, đúng như ý nghĩa tựa đề của tập tài liệu « Fronts et Frontières » (Tiền tuyến và Biên thùy). Chữ «front» ở đây còn có nghĩa là «mặt trận».

Ý nghĩa tựa đề tập sách là «biên giới» luôn đi kèm với việc xung đột, đối đầu. Tựa đề tập sách phản ảnh thực tế của biên giới VN và Cambodge. Đường biên giới có nguy cơ thay đổi do «tương quan lực lượng».

Trong tình trạng đó, lo ngại lãnh thổ bị mất kiểm soát do chiến tranh, Sihanouk đề nghị chính quyền Ngô Đình Diệm nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng – frontière actuelle».

Chính thức vào ngày 3-8-1959, Sihanouk sang Sài Gòn đề nghị với Tổng thống Ngô Đình Diệm trao đổi «quyền lịch sử của Cambodge» để được VNCH nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng» của Cambodge.

«Đường biên giới hiện trạng» của Sihanouk đề nghị được thể hiện trên bộ bản đồ do Sở Địa dư Đông dương ấn hành (trước năm 1954).

Điều này bị ông Diệm từ chối.

Không phải vì ông Diệm không có thiện chí mà vì hai lý do: Về an ninh, phía Cambodge đã chứa chấp các thành phần chống lại chính quyền VNCH. Khu vực Mỏ Vẹt, tức tỉnh Svay Rieng, là chiến khu của MTGPMN, là điểm cuối của đường mòn Hồ Chí Minh.

Vùng này chỉ cách Sài Gòn có 80km. Ông Diệm yêu cầu Sihanouk không được chứa chấp các thành phần chống lại chính quyền VNCH. Yêu cầu của ông Diệm được Mỹ ủng hộ.

Trong khi đó «đường biên giới hiện trạng» của Sihanouk nộp cho LHQ không hoàn toàn đúng với những tấm bản đồ do Sở Địa dư Đông dương của Pháp ấn hành (trước 1954). Trong đó một số đoạn có sửa chữa (gồm 9 điểm), dành khoảng 100km² về cho Cambodge. Ngoài ra, các đảo Thổ Chu, quần đảo Hải Tặc ũng thuộc về Cambodge.

Lập trường của Ngô Đình Diệm (và Mỹ) là phù hợp với tập quán quốc tế. Trong trường hợp này đường biên giới «uti possidetis» đã thay đổi cũng như phía Cambodge đã đồng lõa và dung chứa thành phần phiến loạn xâm nhập lãnh thổ và đe dọa lật đổ chính quyền.

VNCH (và Mỹ) không thỏa mãn Sihanouk, ông này quyết định ủng hộ VNDCCH và MTGPMN.

‘Đường biên giới hiện trạng’

Ngày 31-5-1967 MTGPMN ra tuyên bố nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng» của Sihanouk. Tiếp theo, ngày 8-6-1967, VNDCCH cũng ra tuyên bố ủng hộ và nhìn nhận đường biên giới này.

Vấn đề là cả hai bên đều không có bảo lưu về những thay đổi cố ý ở một số tấm bản đồ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông dương (SGI) cũng như số phận một số đảo trong vịnh Thái Lan.

Trên quan điểm công pháp quốc tế, các tuyên bố của VNDCCH và MTGPMN nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng» của Cambodge đều không có giá trị ràng buộc.

Hiệp định Genève 1954 qui định «quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất ba miền và toàn vẹn lãnh thổ». Điều này được khẳng định lại theo nội dung Hiệp định Paris 1972. Điều này có nghĩa là hai miền VNCH và VNDCCH (cũng như MTGPMN) chỉ là «một thành phần» của quốc gia VN.

Trong tập «La Statut Juridique des Etats Divisés» (Tình trạng pháp lý của các quốc gia bị phân chia) của tác giả Gilbert Caty có đưa ra lý thuyết về «Etat Partiel – quốc gia chưa hoàn tất».

Tác giả đã xếp hai miền Việt Nam cũng như Đài Loan và Lục địa, hai miền Đại Hàn và hai miền nước Đức vào chung thể loại các «quốc gia bị phân chia».

Thuật từ «etat partiel – quốc gia chưa hoàn tất» ra đời. Theo đó «quốc gia chưa hoàn tất» không phải là «quốc gia» thực sự, đơn giản vì nó không có thẩm quyền trên dân chúng và thẩm quyền về lãnh thổ ở những vùng đất không (hay chưa) kiểm soát.

VNDCCH không có thẩm quyền để tuyên bố nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng» do Sihanouk nộp ở LHQ vì nó không thuộc thẩm quyền của thực thể chính trị này. MTGPMN cũng vậy.

Đường biên giới mà Sihanouk yêu sách vừa không phù hợp với đường biên giới trên thực địa (do việc di dân, tị nạn do chiến tranh), vừa không đúng với đường biên giới thuộc địa (trở thành đường biên giới quốc tế do hiệu quả uti possidetis).

Sau cuộc chiến 10 năm, hòa bình thiết lập lại trên đất Kampuchia, cũng như Việt Nam đã thống nhất đất nước. Điều kiện đã hội đủ. Ngày 27-12-1985 hai bên VN-Kampuchia ký kết Hiệp ước « Hoạch định biên giới quốc gia ».

Dầu vậy đến nay 30 năm sau, việc cắm mốc vẫn chưa hoàn tất. Nguyên nhân do đâu ?

Nguyên nhân là hai bên cùng nhìn nhận «đường biên giới hiện trạng».

Mới đây, ngày 6-7-2015, Thủ tướng Hun Sen của Kampuchia gởi thư yêu cầu LHQ cho tham khảo các tấm bản đồ do Sihanouk nộp năm 1964 để kiểm soát lại vị trí các cột mốc vừa được cắm. Theo Sam Rainsy thì Việt Nam đã lấn đất ở khu vực tỉnh Svay Rieng.

Vấn đề là hai bên, Việt Nam và Kampuchia, đã có quan niệm khác nhau về «đường biên giới hiện trạng».

Phía Việt Nam, theo nội dung Hiệp định 1985, đường biên giới thể hiện trên bộ bản đồ SGI trước 1954, tỉ lệ 1/100.000 gồm 26 tấm.

Điều đặc biệt là hai bên cùng nhìn nhận sử dụng 40 tấm bản đồ quân sự của Mỹ 1/50.000, đối chiếu từ bộ bản đồ SGI. Các bản đồ 1/50.000 của Mỹ sau đây thuộc biên giới thuộc tỉnh Svay Rieng, nơi luôn xảy ra tranh chấp từ hơn thế kỷ nay giữa Việt Nam và Kampuchia, dẫn lại dưới đây cho thấy tiêu biểu biên giới Việt Nam và Kampuchia theo hiệp định 1985, tái xác định theo hiệp định 2005.

Ta thấy sự chính xác gần như 100% so sánh với bản đồ SGI.

Nhưng phía Kampuchia, qua yêu cầu LHQ của Hun Sen, “đường biên giới hiện trạng” thể hiện trên bộ bản đồ SGI trước 1954 được Sihanouk nộp lưu chiểu tại LHQ.

Vấn đề là đồ tuyến biên giới ở một số tấm bản đồ này đã được Sihanouk sửa chữa, đem lại cho Kampuchia khoảng 100km² đất.

Vừa qua TS Trần Công Trục, trên báo chí có nói đến một số tấm bản đồ SGI nộp LHQ đã bị cạo sửa. Vấn đề là VNDCCH và MTGPMN đã nhìn nhận (năm 1967) đường biên giới (có sửa đổi) này của Sihanouk.

Nguyên nhân khiến Hun Sen yêu cầu LHQ dĩ nhiên đến từ phía ngoài, làm áp lực lên VN trong lúc ông Nguyễn Phú Trọng đi Mỹ.

Nhưng các tấm bản đồ mà Sihanouk nộp LHQ không có giá trị pháp lý, một mặt vì hai bên VN và Kampuchia đã ký hiệp định (1985 và 2005) cùng nhìn nhận 26 tấm bản đồ SGI trước 1954 không sửa chữa, đối chiếu qua 40 tấm bản đồ 1/50.000 của quân sự Mỹ. Thứ hai, VNDCCH không có thẩm quyền về lãnh thổ để nhìn nhận đường biên giới này, như đã phân tích ở trên.

Yêu cầu của Hun Sen vì vậy không có ý nghĩa, ngoài việc gây trở ngại cho việc phân định biên giới đồng thời dấy lên lòng căm thù một cách phi lý từ hai dân tộc.

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm của tác giả, nhà nghiên cứu sống tại Pháp.

.

.

.

Việt Nam xích lại gần với Hoa Kỳ (Peter Drysdale, EAF)

Tháng Bảy 28, 2015

.

.

Việt Nam xích lại gần với Hoa Kỳ

Peter Drysdale, EAF

Việt Khôi chuyển ngữ, CTV Phía Trước

Posted on Jul 28, 2015

http://phiatruoc.info/viet-nam-xich-lai-gan-voi-hoa-ky/

.

Chuyến thăm ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Phú Trọng tới Washington theo lời mời của Tổng thống Obama đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc hành trình lâu năm hướng tới sự thắt chặt quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Chuyến thăm đánh dấu kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ ngoại giao và dỡ bỏ một số lệnh cấm vận sau khi kết thúc chiến tranh Đông Dương cách đây gần 20 năm trước. Nhìn chung lại, đã phải mất một thế hệ để hai nước chính thức hàn gắn vết thương chiến tranh và những vết sẹo thất bại của Hoa Kỳ khi Bắc Việt đã toàn thắng trước miền Nam Việt Nam.

Buổi tiếp đón ông Trọng, ông Hoàng Bình Quân – ủy viên Ban Trung ương và Chủ tịch Ban Đối ngoại Đảng Cộng sản Việt Nam – viết trên tờ Washington Post rằng chuyến thăm biểu hiện sự tôn trọng của Hoa Kỳ đối với chính thể của Việt Nam. Bằng lời mời một Tổng Bí thư ĐCSVN, một vị trí mà không hề có vị trí tương xứng trong hệ thống chính phủ Hoa Kỳ, Washington cuối cùng cũng đã mở rộng sự tôn trọng đối với các lựa chọn chính trị của Việt Nam. Hệ thống chính trị của Việt Nam có thể khác nhiều với hệ thống chính trị của Hoa Kỳ, nhưng giờ đây Việt Nam cũng đang tìm kiếm hướng đi trên cùng một đường như Hoa Kỳ – đó là kinh tế thị trường, bảo hộ đầu tư nước ngoài và cũng có những tham vọng vì hoà bình và ổn định trên chính trường quốc tế. Ông Quân còn viết thêm: “Những đồng minh mạnh – cũng như những người bạn tốt – không nhất thiết phải là những người giống nhau nhất mà là những người có thể chấp nhận nhau và đối thoại thẳng thắn về sự khác biệt đó.”

Mọi người ăn mừng, ở Hà Nội cũng như ở Washington, chủ yếu tập trung vào mối quan hệ đã tiến xa như thế nào và nó sẽ đi tới đâu, chứ không quan tâm nhiều về tiến trình dài đằng đẵng để có được ngày hôm nay.

Tiến xa hơn khỏi cái mà Tổng thống Obama gọi là “khó khăn lịch sử” giữa hai nước đã mất thật nhiều thời gian, đối ngược lại hoàn toàn với sự chóng vánh của quá trình làm hòa của hai nước trong chuyến thăm này. Chỉ trong một thập kỷ, Hoa Kỳ có những đồng minh sâu sắc với các sức mạnh của phe Trục cũ như Đức, Nhật, sau khi hai nước này thất bại trong Đệ nhị Thế chiến. Việt Nam thì khác. Nước này đã làm tan nát trái tim Hoa Kỳ và chia rẽ nội bộ Hoa Kỳ một cách sâu sắc. Việt Nam đã bị khép tội và ném trải buồng giam do Hoa Kỳ lập ra nếu không có một nổ lực đáng kể nào nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Đối ngược với quan hệ thời hậu chiến tranh giữa Hoa Kỳ đối với Việt Nam là trường hợp của Úc. Úc cũng bị dính vào chiến tranh Việt Nam như nhiều nước khác. Sự tham gia và thất bại của nước này cũng đã bị chia rẽ nội bộ sâu sắc. Tuy nhiên, Úc đã mở quan hệ bang giao với Việt Nam ngay từ 1975, nhanh chóng tháo bỏ rào cản kinh tế; hoan hỉ khi Việt Nam gia nhập ASEAN vào 1995 và Liên hiệp An ninh năm 1998 – cho dù Úc là một trong những nước đón tiếp nhiều nhất thuyền nhân từ Việt Nam.

Có lẽ không cần phải kể ra nhiều những bằng chứng để chứng minh cho quan hệ kinh tế mạnh mẽ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như thế nào nữa. Năm ngoái, Murray Hieber chỉ ra rằng giao dịch giữa hai nước đạt 36 tỉ USD, tăng 12 lần so với năm 2001 khi hai nước lần đầu kí hiệp định tự do thương mại. Hai quốc gia đã đồng ý hợp tác trong chín lĩnh vực, trong đó có quan hệ chính trị, kinh tế, an ninh, nhân quyền và các vấn đề môi trường.

Có hai lý do chính dẫn tới sự thành công này.

Thứ nhất, cho dù bị cấm vận và bị tàn phá bởi chiến tranh, Việt Nam vẫn khởi sắc hơn nhiều người ở Hoa Kỳ phỏng đoán sau những đổi mới từ những năm 1980. Có lẽ Hoa Kỳ cũng chẳng thèm để ý tới Việt Nam nếu như Việt Nam không gia nhập ASEAN và phát triển những mối quan hệ tốt đẹp với các láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Úc và các quốc gia khác trên thế giới, như châu Âu chẳng hạn. Việt Nam dần dần trở thành một quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp và càng ngày càng tham gia sâu sắc hơn vào nền kinh tế thế giới.

Thứ hai, cả hai quốc gia đều có những quan ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Giờ đây cả hai nước này đều đang tham gia vào ký kết hiệp định TPP với sự tham gia của 12 nước tất cả. Nếu hiệp định này thành công, Việt Nam sẽ có được những ưu tiên hơn hẳn các quốc gia khác trong khu vực châu Á, ví dụ như tại thị trường dệt may của Hoa Kỳ. Tiến triển về việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sẽ còn tùy thuộc vào những cải thiện trong vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Tất nhiên Hoa Kỳ sẽ không bỏ qua vấn đề này mà sẽ còn đưa ra các cuộc đàm phán với Việt Nam cho tới khi nào bằng lòng mới thôi. Hoa Kỳ muốn các đối thủ của họ phải giống họ nhiều hơn, như Đức hay Nhật chẳng hạn. Nếu Việt Nam cũng được như vậy thì nỗi đau thất bại trước đây mới được xóa nhòa, những giọt máu và mất mát mới phần nào được vơi đi.

Tuy nhiên, David Brown kết luận, mô hình chính trị tại Việt Nam không giống như Hoa Kỳ hay các quốc gia dân chủ đa đảng khác, cũng chẳng phải Trung Quốc: đó chính là Singapore, một quốc gia nhỏ bé đã thực hiện mô hình «độc tài hiệu quả» một cách thành công. Dù cho đó là một giai đoạn trong sự phát triển chính trị, hay đó là điểm đến cuối cùng, thì Việt Nam vẫn còn còn đường dài trước khi đến đích.

© 2007–2015 Bản tóm lược tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 44 other followers