Từ kẻ thù đến bạn đểu – Tại sao Hoa Kỳ lại đang tán tỉnh Việt Nam (David Brown – Foreign Affairs)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Từ kẻ thù đến bạn đểu

Tại sao Hoa Kỳ lại đang tán tỉnh Việt Nam

David Brown | Foreign Affairs

Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

Thursday, July 2, 2015 at 5:10am

https://www.facebook.com/tuan.le.393/posts/998312546869402

.

Trong nhiều năm nay, vì cùng lo ngại về tham vọng của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam đã di chuyển gần hơn đến một hiệp ước thân thiện có tính chiến lược. Nhiều người ở Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ tìm cách khiến Việt Nam chống lại Trung Quốc. Nhưng quan điểm đó đã trúng mũi tên nhân quả ngược lại: Đó chính là cuộc tìm kiếm quyền bá chủ của Trung Quốc trên Biển Đông đã khuyến khích Hoa Kỳ và Việt Nam phải khôi phục mối quan hệ vốn dĩ rách nát của họ.

Một dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ và Việt Nam nghiêm túc trong việc tăng cường mối quan hệ của mình là việc Tổng thống Barack Obama đồng ý gặp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Washington vào đầu tháng Bảy. Việc một người chỉ đứng đầu một đảng phái lại được diện kiến trong Phòng Bầu Dục là điều rất hiếm hoi, nhưng có một số nguyên nhân vì sao Trọng được sự chú ý của Obama. Nguyên nhân quan trọng nhất là, vị tổng bí thư, người đã đích thân yêu cầu cuộc gặp này, từng nung nấu mối nghi ngờ về ý định của Mỹ đối với Hà Nội. Và mối lo âu này, cũng phản ánh nơi những đồng minh của ông giữa các phe phái trong Đảng Cộng sản, là trở ngại cuối cùng cho một quan hệ gần như liên minh giữa Việt Nam và kẻ thù của mình trong 40 năm trước đây.

Những nghi ngại này bắt nguồn từ khuynh hướng tư tưởng của Trọng là một chuyên gia về chủ nghĩa Mác-Lênin, khiến ông cảnh giác với các nước dân chủ cùng động cơ của họ và đã đưa ông ta đến sự nghi ngờ rằng Washington có ý định xấu với chế độ Hà Nội. Trong những năm qua, Trọng và các đồng minh của ông đã tô vẽ hình ảnh của Hoa Kỳ như một cái gì xấu xa và không quan tâm đến mong muốn của Hà Nội. Mặc dù – căn cứ sự chia rẽ giữa các phe phái đằng sau mặt tiền đoàn kết Việt Nam – đó là sự tiến bộ (nói một cách tương đối) liên kết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người dường như đang có câu trả lời tốt hơn cho các vấn đề của Việt Nam, Trọng và những người bảo thủ khác vẫn còn chỉ huy các cơ quan đảng cầm quyền. Do đó, họ có thể làm hỏng các sáng kiến cải cách mà họ không thích. Họ cũng là những người cổ vũ những lời lẽ tiêu cực chống lại Hoa Kỳ.

Bốn mươi năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, những lời lẽ tiêu cực ấy vẫn còn dẫn dắt học thuyết của đảng. Cán bộ các cơ quan an ninh nội bộ của Việt Nam khó có thể viết ra một đoạn văn về Hoa Kỳ mà không bao gồm những từ ngữ như “đập tan các âm mưu của kẻ thù” chống lại chính quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. Phương tiện truyền thông của Đảng thường xuyên cảnh báo chống lại “kịch bản diễn biến biến hòa bình”, một quan điểm cho rằng các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam (đặc biệt là những tổ chức được Washington hỗ trợ) sẽ lật đổ và kích hoạt những biến động như những gì từng lật đổ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

Về vấn đề này, Trọng và các đồng minh của ông bước lạc điệu với dân chúng của mình và thậm chí cả với nhiều đảng viên. Công dân Việt Nam muốn nhìn thấy đất nước của họ sánh hàng với Hoa Kỳ hơn là với Trung Quốc. Trong sáu năm kể từ khi Bắc Kinh bắt đầu từng bước từng bước áp đặt quyền bá chủ của mình trên Nam Hải – khu vực rộng lớn mà Việt Nam kiên trì gọi là “Biển Đông của chúng tôi” – Đa số trong hơn ba triệu đảng viên cũng kết luận rằng, một lần nữa, Trung Quốc vẫn là mối đe doạ, như đã từng trong suốt mối quan hệ của Việt Nam với người láng giềng phương Bắc.

Đối với Trọng và các đồng minh của ông, tránh dính vào sự đối đầu với Trung Quốc trong khi vẫn tham gia hợp tác với Trung Quốc ở tất cả các cấp chính quyền và cấu trúc đảng cầm quyền là cách tốt nhất để xoa dịu Bắc Kinh. Họ quan niệm rằng lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á mạnh hay yếu là phụ thuộc vào những gì khác đang khiến Washington bận tâm, còn “Trung Quốc vẫn luôn luôn ở đó,” một hiện diện khó chịu ngay sát biên giới của Việt Nam.

Chiến lược đó đã ngày càng khó được chấp nhận, kể từ khi Bắc Kinh đòi chủ quyền trên hơn một triệu dặm vuông biển khơi, trải dài từ bờ biển phía nam Trung Quốc đến tận gần Singapore. Từ 2009, mỗi khi đến mùa khô, Trung Quốc ủng hộ tuyên bố của mình bằng cơ bắp quân sự và bán quân sự ở Biển Đông. Tuy nhiên, khi gió mùa hàng năm đến, Trung Quốc lại chuyển sang chế độ đàm phán.

Mặc dù các nhà lãnh đạo đảng Việt Nam thường xuyên đi Bắc Kinh, hy vọng sửa chữa “mối quan hệ đặc biệt” và “xây dựng sự hiểu biết sâu sắc hơn,” nhưng hành vi của Trung Quốc trong những năm gần đây đã khiến ngay cả Trọng và các đồng minh ý thức hệ của ông cũng phải phật lòng. Được biết, họ đã rất ngạc nhiên bởi việc năm ngoái Trung Quốc triển khai một giàn khoan nước sâu vào vùng biển rõ ràng, hợp lý thuộc về Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Không lâu sau đó, Trọng âm thầm cho biết rằng ông muốn đi thăm Washington.

Một đảng viên bảo thủ khác, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, đã ở Washington trong tháng ba, chuẩn bị cho chuyến thăm đang chờ Trọng và đánh bóng các chính sách đối ngoại của ông trước Đại hội Đảng vào tháng Giêng năm 2016.

Sau đó, vào đầu tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter và người đồng cấp Việt Nam đã ký một thỏa thuận tại Hà Nội vốn tạo dễ dàng hơn cho Việt Nam được Mỹ thông qua việc mua sắm các thiết bị quân sự. Cho rằng nó theo sát sau Shangri La hội nghị hàng năm của trưởng an ninh châu Á, chuyến thăm ngắn ngủi của Carter đã báo hiệu rằng Mỹ và lợi ích của Việt Nam trong vùng biển Đông đang có dấu hiệu song hành.

Cụ thể, Việt Nam muốn Trung Quốc ngừng thách thức chủ quyền của mình đối với các mỏ dầu và các đảo nhỏ phía ngoài bờ biển của mình. Còn Hoa Kỳ, như Carter đã nhấn mạnh một ngày trước đó tại Singapore, muốn “nước Trung Quốc đang vươn lên” phải chơi đúng luật. Ông giải thích, cả sức mạnh lẫn sự tổn thương trong quá khứ đều không thể lý giải cho việc Bắc Kinh áp đặt chủ quyền (ví dụ như, ngăn cản quyền đi qua không gây hại) lên những vùng lãnh thổ mà họ chưa bao giờ sở hữu trong thời quá khứ đế quốc của mình; và không phải vì quyền lợi riêng của mình mà nước nào cũng có thể bỏ qua những khuôn khổ giải quyết tranh chấp được luật pháp quốc tế tạo ra.

Chắc chắn Trung Quốc đã lưu ý đến những chuyến viếng thăm này. Khi biết được chuyến đi sắp đến Washongton của Trọng, Bắc Kinh đã gửi đến Trọng một lời mời gần như ngay lập tức, mà ông chấp nhận. Do đó, trong bốn ngày đầu tháng Tư, Bắc Kinh đã trải thảm đỏ đón rước Trọng và đoàn tùy tùng của ông. Tuy nhiên, trong các lý giải về các cuộc gặp của họ, không có dấu hiệu gì cho thấy các cuộc đàm phán mang lại được bất kỳ kết quả cụ thể nào. Chỉ đơn giản là sự lặp lại của các công thức giờ đã mệt mỏi: lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình và Trọng hứa hẹn những “nỗ lực chung để kiểm soát các tranh chấp hàng hải, bảo vệ hòa bình và ổn định.”

Chuyến thăm sắp tới của Trọng đến Washington có thể chứng minh là nhiều thực chất hơn. Với Đại hội Đảng quan trọng sắp tới, chính trị Việt Nam đang thay đổi liên tục. Vì vậy, đây là thời điểm tốt cho Washington để có một cuộc đối thoại thân mật với Trọng. Bằng cách giải quyết các mối quan tâm thực sự của Việt Nam, ông Obama có thể thuyết phục Trọng (và rộng hơn: các đồng minh trong phe phái của Trọng) tin rằng người Mỹ có thể là đối tác đáng tin cậy với lợi ích tương thích. Cử chỉ đẹp với phe bảo thủ của chế độ Hà Nội có thể củng cố một lộ trình dẫn đến một hiệp ước Mỹ-Việt vốn cho đến nay vẫn tỏ ra là khó đạt được.

BÀI GỐC :

From Foe to Frenemy – Why the United States is Courting Vietnam 

By David Brown

Foreign Affairs   –   June 29, 2015

https://www.foreignaffairs.com/articles/2015-06-29/foe-frenemy

.

.

.

Luật An ninh Quốc gia Trung Quốc : Chiêu mới để thôn tính Biển Đông ? (Trọng Nghĩa – RFI)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Luật An ninh Quốc gia Trung Quốc : Chiêu mới để thôn tính Biển Đông ?

Trọng Nghĩa – RFI

Đăng ngày 02-07-2015

http://vi.rfi.fr/phan-tich/20150702-luat-an-ninh-quoc-gia-trung-quoc-chieu-moi-de-thon-tinh-bien-dong/

.

Nhiều nước đang tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Nguồn:wikipedia

http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_16x9_1024_578/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/biendong11.png

Ngày 01/07/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một dự thảo đầu tiên của bộ luật mới về an ninh quốc gia, bao trùm mọi lãnh vực trong đó Bắc Kinh tự cho mình quyền dùng sức mạnh để bảo vệ các lợi ích cốt lõi. Theo một số nhà quan sát, luật mới về an ninh của Trung Quốc có thể là một bước mới của Bắc Kinh trong ý đồ thôn tinh Biển Đông.

Khi loan tin hãng tin Anh Reuters vào hôm qua đã chú ý ngay đến việc dự thảo này, một khi biến thành luật, sẽ cho phép chính quyền Bắc Kinh sử dụng « mọi biện pháp cần thiết » để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Phát biểu trong một cuộc họp báo, bà Trịnh Thư Na, Phó Chủ tịch Ủy ban Lập pháp Thường vụ Quốc hội Trung Quốc khẳng định rằng Bắc Kinh « sẽ không từ bỏ quyền lợi chính đáng của mình và chắc chắn không hy sinh lợi ích cốt lõi của đất nước ». Vấn đề là gần đây, Bắc Kinh đã càng ngày càng nói nhiều hơn đến việc Biển Đông mà họ đòi hầu như toàn bộ chủ quyền, là thuộc diện lợi ích cốt lõi của Trung Quốc.

Không chỉ nói suông, Bắc Kinh cũng đã dùng trăm phương nghìn kế để áp đặt các yêu sách chủ quyền của họ tại Biển Đông, từ các phương cách thô bạo, dùng đến sức mạnh, cho đến những thủ đoạn ngoại giao, hay pháp lý giả hiệu.

Trong một bài viết vào hôm qua, nhật báo Mỹ International Business Times đã cho rằng luật an ninh mới sẽ giúp Trung Quốc thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông, và khiến cho tình hình vốn đã căng thẳng lại càng nghiêm trọng thêm.

Theo tác giả bài báo, cho đến giờ, Bắc Kinh chủ yếu dựa vào thế mạnh quân sự để tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông. Trung Quốc đã thành công trong việc bồi đắp các rạn san hô mà họ lấy từ tay Việt Nam và Philippines thành đảo nhân tạo, và đang xây dựng các cơ sở quân sự trên đó, mà không gặp bất kỳ sự kháng cự nào.

Trong tình hình đó, theo bà Bonnie Glaser, chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS ở Washington, luật mới về an ninh sẽ chắp cánh cho Trung Quốc quyết đoán hơn : « Trung Quốc sẽ trích dẫn luật, cùng với nhiều bộ luật nội địa khác để biện minh cho những hành động của họ ở Biển Đông ».

Trong quá khứ, Trung Quốc đã tìm cách biện minh cho các hành động của mình bằng lý do họ có chủ quyền lịch sử tại Biển Đông, viện dẫn một số bản đồ cổ để chứng minh, và sử dụng tấm bản đồ 9 đoạn để minh họa cho các đòi hỏi của mình. Vấn đề là lập luận về chủ quyền lịch sử không có cơ sở pháp lý, nhất là khi mới đây, Philippines đã công bố bản đồ cổ có từ năm 1136 cho thấy rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên bãi cạn Scarborough hay ở Trường Sa đều là giả dối.

Giới quan sát đều phê phán tính chất mơ hồ và rộng khắp của luật về an ninh quốc gia của Trung Quốc. Nhiều người cho rằng Bắc Kinh cố tình mập mờ để có thể muốn làm gì thì làm, mà vẫn có thể nói là làm đúng theo luật.

Áp dụng vào trường hợp Biển Đông, có thể nói rằng, luật an ninh mới của Trung Quốc là một bước tiến mới của Trung Quốc nhằm thôn tính vùng biển này, thoạt đầu là tuyên bố chủ quyền, kế đến là xác định đó là lợi ích cốt lõi, và bây giờ là ra luật để bảo vệ chủ quyền và lợi ích cốt lõi mà chỉ có Bắc Kinh công nhận.
.

.

.

Quốc hội Mỹ sẽ ủng hộ tiến trình bình thường hóa quan hệ Cuba- Mỹ (Thanh Hà – RFI | Phạm Trần)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Quốc hội Mỹ sẽ ủng hộ tiến trình bình thường hóa quan hệ Cuba- Mỹ

Thanh Hà – RFI |  Phạm Trần

Đăng ngày 02-07-2015

http://vi.rfi.fr/quoc-te/20150702-quoc-hoi-my-se-ung-ho-tien-trinh-thuong-hoa-quan-he-cuba-my/

.

Ngày 01/07/2015 tổng thống Barack Obama tuyên bố « thời khắc đã đến » để Washington và La Habana tái lập bang giao. Chủ nhân Nhà Trắng kêu gọi Quốc hội đồng ý bình thường hóa quan hệ với Cuba. Cùng lúc chủ tịch Raul Castro thông báo Cuba mở lại tòa Đại sứ ở Washington vào ngày 20/07/2015.

Tái lập quan hệ ngoại giao đã bị gián đoạn từ năm 1961 và xóa bỏ lệnh cấm vận được tổng thống John F. Kennedy ban hành từ năm 1962 sẽ là thành tích nổi bật về chính sách đối ngoại của Barack Obama, 18 tháng trước khi ông chấm dứt nhiệm kỳ.

Vì những lợi ích kinh tế, địa chính trị, đại đa số người dân Mỹ ủng hộ việc Washington sưởi ấm quan hệ với La Habana.

Theo phân tích của nhà báo Phạm Trần từ Hoa Kỳ, chính trường Mỹ sẽ ủng hộ tổng thống Obama trong nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Cuba.

NGHE : Nhà báo Phạm Trần – Washington 2/7/2015

.

.

.

Nếu Hy Lạp ly dị khối Euro (Ngô Nhân Dụng)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Nếu Hy Lạp ly dị khối Euro

Ngô Nhân Dụng

Thứ Tư, ngày 01 tháng 7 năm 2015

http://www.diendantheky.net/2015/07/ngo-nhan-dung-neu-hy-lap-ly-di-khoi-euro.html

.

Mười hai giờ đêm 30 tháng Sáu (2 giờ chiều ở California), Hy Lạp bước vào tình trạng vỡ nợ. Hết trợ cấp, chính phủ Hy Lạp không thể trả cho IMF €1.55 tỷ (đồng euro), gần $1.73 tỷ (mỹ kim). Khi bà Christine Lagarde, chủ tịch IMF chính thức công bố tin này, trên nguyên tắc các định chế tài chánh khác ở Châu Âu có quyền đòi Hy Lạp phải trả hết €180 tỷ đã cho vay. Làm như vậy không khác gì “rút ống dưỡng khí” của kinh tế Hy Lạp. Cho nên chưa ai làm dữ cả, mà còn hứa hẹn sẽ nói chuyện tiếp về các biện pháp cứu giúp khác. Chính phủ Alexis Tsipras sẽ thở được ít nhất đến ngày Thứ Hai tuần tới.

Thủ tướng Alexis Tsipras, 40 tuổi, đã “đánh cuộc,” còn gọi là “đánh cá.” Cuối năm 2014, đảng Syriza của ông thắng cử nhờ hứa với cử tri rằng ông sẽ xóa bỏ các chính sách “thắt lưng buộc bụng” do nước khác ở Châu Âu ép buộc. Các chính phủ trước đều phải chấp nhận các chính sách này, khi châu Âu đưa tay cứu Hy Lạp thoát khỏi bị vỡ nợ, năm 2012, là tăng thuế, cắt giảm chi tiêu, khiến người già bị giảm bớt lương hưu, người thất nghiệp sớm mất trợ cấp, công chức bị cắt lương, vân vân. Các người lãnh lương hưu đã bị cắt 45% rồi, nạn thất nghiệp đã lên tới 25%, và tổng sản lượng nội địa Hy Lạp đã giảm một phần tư kể từ năm 2010. Dân Hy Lạp, với 2 triệu rưỡi người nghỉ hưu và 600 ngàn công chức, chịu khổ cực quá, cho nên thấy đảng Syriza hứa hẹn thì hoan nghênh; chấp nhận đối đầu với các nước chủ nợ!

Ông Alexis Tsipras chắc nghĩ rằng nếu Hy Lạp cứ làm găng đến cùng, các nước khác sẽ phải nhượng bộ chứ không dám bỏ rơi nước ông. Nếu Hy Lạp vỡ nợ thật, sẽ phải rút ra khỏi nhóm 24 nước Châu Âu đang dùng đồng euro, trong đó có Vatican và Monaco. Nếu chuyện đó xẩy ra, hậu quả sẽ rất  lôi thôi, cho tất cả mọi người. Năm 2012 Liên hiệp Âu châu và IMF, Quỹ Tiền tệ Quốc tế dưới ảnh hưởng của châu Âu, đã hùn tiền giúp Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp thoát cảnh vỡ nợ. Lý do cũng vì nếu không cứu ba nước này thì thì giới đầu tư khắp nơi sẽ mất niềm tin, kinh tế cả Châu Âu, và cả thế giới, sẽ suy yếu. Cho nên ông Tsipras đánh cá rằng năm nay cũng vậy; sau cùng các chủ nợ sẽ phải cứu; không dám đá Hy Lạp ra khỏi Nhóm Euro; rồi ra khỏi Liên hiệp Châu Âu (EU) luôn.

Dân Hy Lạp có vẻ tin ông Tsipras. Một cuộc nghiên cứu dư luận cho biết 74% dân Hy Lạp muốn nước họ nằm trong khối EU, nhưng 50% vẫn hoan nghênh đường lối cứng rắn của ông Tsipras. Tức là họ tin các nước Châu Âu sẽ không dám làm dữ. Cho nên trong sáu tháng qua, chính phủ Tsipras nhất định không nhượng bộ các định chế cho vay nợ, là IMF, Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và Hội đồng Liên hiệp Châu Âu (European Commission, EC). Các chủ nợ tỏ ra rất cương quyết, nhưng ông Tsipras vẫn làm như họ chỉ dọa, “tháu cáy,” chứ không dám đẩy Hy Lạp vào cảnh vỡ nợ.

Nhưng đêm hôm qua, ông Tsipras đã chịu thua một keo. Các nước Châu Âu không “tháu cáy.” IMF không cho trì hoãn món tiền €1.55 tỷ euro. Hy Lạp đã vỡ nợ thật dù bà Lagarde không dùng từ ngữ đó. Nhưng tai họa không chỉ có thế. Đến ngày 20 tháng Bảy tới, nếu không có tiền trả €3.5 nợ đáo hạn cho Ngân hàng Châu Âu thì chắc chắn Hy Lạp coi như sẽ tự động rút ra ngoài Khối 24 nước dùng đồng Euro. Vì lúc đó các ngân hàng Hy Lạp sẽ không được trợ cấp để có tiền trả cho các trương chủ muốn rút ra.

Nói “tự động” bởi vì nội quy Nhóm Euro không có điều khoản nào về “rút ra” hoặc “bị đuổi ra.” Trước đây chưa có nước nào đã ra cả. Nhưng việc Hy Lạp rút ra, gọi là “Grexit,” nếu xẩy ra sẽ là một chuỗi các biến cố, chứ không phải một biến cố gọn gàng. Khi nào chính phủ Hy Lạp tuyên bố sẽ phát hành một đồng tiền mới, gọi tên cũ là “drachma” thì hành động đó có thể đánh dấu biến cố “Hy Lạp Ra, Grexit.”

Thứ Bảy vừa qua, ông Tsipras đánh cá một cú chót. Ông tuyên bố sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý, đặt một câu hỏi cho dân Hy Lạp là họ có chấp thuận các điều kiện mới của Châu Âu hay không? Trong tuần lễ chờ đợi, ông ra lệnh các ngân hàng đóng cửa và hạn chế số tiền dân có thể rút ra từ các máy tự động (€60 mỗi ngày).

Biện pháp cho các ngân hàng tạm nghỉ nhằm cứu cả hệ thống khỏi cảnh dân ào ạt rút tiền ra. Từ khi chính phủ Tsipras nắm quyền, số tiền dân gửi trong các ngân hàng từ €164 tỷ đã giảm một phần năm, chỉ còn €130 tỷ. Trong mấy tuần qua, số tiền rút ra khỏi các ngân hàng lên gần €10 tỷ. Người ta đoán dân Hy Lạp đang cất trong nhà khoảng €45 tỷ.

Việc tổ chức trưng cầu dân ý là một hành động “trốn trách nhiệm” của Thủ tướng Alexis Tsipras để đảng Syriza có thể rút lại các lời hứa khi tranh cử. Nếu dân chúng chấp thuận các điều kiện của Châu Âu, ông Tsipras có thể coi là ông bị bắt buộc “thắt lưng buộc bụng” ngoài ý muốn. Chắc dân Hy lạp sẽ chấp thuận, nhưng họ sẽ “trừng phạt” đảng Syriza trong cuộc bỏ phiếu sắp tới. Các đảng đang liên hiệp với Syriza sẽ làm áp lực buộc ông Tsipras phải từ chức để bàu cử lại. Hai đảng được lợi nhất trong cơ khủng hoảng này là đảng Cộng sản và đảng Cực hữu Bình Minh Vàng (Golden Dawn), khuynh hướng phát xít. Nước Hy Lạp đã từng trải qua nhiều cuộc đảo chính trong quá khứ; dân chúng sẽ lo sợ tái diễn sau cuộc khủng hoảng này!

Đây không phải là lần đầu tiên, chính phủ Hy Lạp đã vỡ nợ bẩy lần trong 200 năm qua. Năm 1830 nước này không trả được nợ cho Anh quốc khiến Hải quân Hoàng Gia phải đưa tầu đến chiếm các tài sản gán nợ! Thực ra trên thế giới hầu hết các quốc gia đã vỡ nợ, trừ năm nước là Australia, New Zealand, Thái Lan, Đan Mạch, Canada và Mỹ. Vụ Hy Lạp vỡ nợ lần này gây to chuyện vì liên can đến cả Châu Âu và đồng euro.

Người ta đã tính toán xem nếu Hy Lạp phải rút ra khỏi khối Euco thì hai bên sẽ thiệt và lợi những gì. Khi tính sổ xong, thì đối với cả hai bên, lợi bất cập hại. Hy Lạp thiệt hại nhiều, khối châu Âu thiệt hại nhẹ hơn. Nếu các nhà lãnh đạo đều suy nghĩ một cách thuần lý thì họ sẽ tìm đủ mọi cách để việc “ly dị” không xẩy ra. Nhưng chúng ta biết, ngay trong hôn nhân, nhiều khi hai người quyết định ly dị nhau mà không ai suy nghĩ chín chắn.

Trước hết, đối với nước Hy Lạp, nếu chấp nhận “vỡ nợ” thì ích lợi đầu tiên là sẽ không phải lo trả ngay những món nợ ngập đầu €320 tỷ, trong đó có €240 tỷ mới được cấp từ năm 2012 và €56 tỷ nợ nước Đức. Nhưng thực ra, việc trả các món nợ này đều rất nhẹ. Lãi suất rất thấp, số tiền trả nợ mỗi năm chỉ chiếm 3% GDP, kinh tế Hy Lạp có thể chịu đựng được. Rút ra khỏi khối Euro, Hy Lạp sẽ khó vay được nợ với lãi suất thấp như vậy, trừ khi vay chính phủ Nga hay Trung Quốc, đánh đổi với các điều kiện chính trị mà dân chúng sẽ chống đối.

Việc thay đổi đồng tiền từ euro sang drachma, đồng tiền dân Hy Lạp dùng từ năm 1830 đến năm 2001, sẽ gây nhiều rắc rối. Năm 1993, nước Slovak tách ra khỏi Tiệp Khắc, phải mất sáu tháng việc đổi tiền mới làm xong. Sẽ cần đến 430 triệu mỹ kim để in tiền mới. Đồng tiền mới khiến cho mọi bản hợp đồng thương mại, trong nước và với nước ngoài, sẽ phải được viết lại, dùng đồng tiền drachma thay euro. Nhưng các món nợ sẽ được tính theo tỷ lệ hối suất nào? Rất nhiều cuộc giao thương sẽ đình trệ khi hai bên không đồng ý với nhau về tỷ giá. Đồng drachma của Hy Lạp chắc chắn sẽ mất giá ít nhất 50% ngay khi ra đời.

Một hậu quả khi đồng tiền xuống là hàng nhập cảng sẽ lên giá. Các nhà nhập cảng có thể không bán hàng ra trong khi chưa biết họ sẽ mua hàng mới với giá nào, vì hối suất bấp bênh thay đổi. Ngược lại, mối lợi khi tiền xuống giá là hàng Hy Lạp bán ra nước ngoài sẽ được lợi vì giá hạ hơn, dễ cạnh tranh hơn. Tuy nhiên, trong nền kinh tế Hy Lạp phần ngoại thương chiếm phần nhỏ cho nên mối lợi về xuất cảng nếu có cũng không đáng kể. Trong ba năm qua chính phủ Hy Lạp đã hạ giá hàng xuất cảng rồi, khi buộc các công nhân giảm lương 16%; nhưng sau đó số hàng xuất cảng cũng không thấy tăng lên.

Ảnh hưởng kinh tế sẽ kéo dài nếu Hy Lạp rút ra. Ngay lập tức, nhiều ngân hàng sẽ phá sản vì hiện nay họ sống nhờ Ngân hàng Châu Âu bơm tiền cấp cứu. Khi đồng tiền mất giá, mọi người dân tiết kiệm đều mất tiền, có thể mất một nửa. Người dân mất niềm tin thì số tiết kiệm và đầu tư sẽ giảm, mọi việc giao thương bị trì trệ. Nhiều thanh niên Hy Lạp sẽ đi ngoại quốc, người có tiền cũng đem ra ngoài làm ăn. Giới đầu tư quốc tế sẽ ngần ngại hơn khi muốn đưa tiền vào Hy Lạp. Một quốc gia vỡ nợ sẽ bị gạt ra ngoài thị trường vốn thế giới trong một thời gian dài, hàng chục năm trở lên. Nói tóm lại, Hy Lạp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn là được lợi nếu ra khỏi khối Euro.

Đối với Liên hiệp Châu Âu việc xóa nợ cho Hy Lạp không gây thiệt hại lớn lắm. Nhưng nếu Hy Lạp rút ra thì khối Euro sẽ không vững chắc như trước nữa.

Các nước Đông Âu đã tỏ thái độ cứng rắn nhất đối với Hy Lạp trong thời gian qua, vì họ thấy không có lý do gì dân chúng nước họ chịu một mức sống thấp hơn dân Hy Lạp, mà tiền họ đóng góp cho Liên hiệp Châu Âu lại được đem giúp cho Hy Lạp. Nhưng nếu Grexit xẩy ra,  vùng bị ảnh hưởng nặng nhất nằm ở Đông Âu vì niềm tin của giới đầu tư nói chung sẽ sụt giảm. Đồng zloty của Ba Lan, đồng florint của Hungary có thể sẽ mất giá 15 đến 20% so với đô la Mỹ. Số tiền đầu tư tại các nước Đông Âu có thể xuống vì, vì người ta bớt tin tưởng.

Tuy nhiên, những mối lo trên có thể rất nhẹ và sẽ thoáng qua rất nhanh; khác với tình trạng năm 2012. Nếu năm đó Hy Lạp rút ra thì Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng ra đi. Nhưng năm nay, hai nước trên đã hồi phục, được thị trường tin tưởng hơn. Bằng cớ là chính phủ hai nước này đang vay nợ chỉ phải trả lãi suất hàng năm khoảng trên dưới 2% cho các trái khoán 10 năm; trong khi chính phủ Hy Lạp phải trả tới 10 hay 12%. Cho nên, nhiều người nghĩ rằng nếu Châu Âu dứt bỏ được một “của nợ” là nước Hy Lạp thì sau đó sẽ bớt được một vấn đề khó khăn! Đối với nước Mỹ, ảnh hưởng sẽ không đáng kể, trừ một số công ty làm ăn nhiều với Châu Âu. Thực ra kinh tế Hy Lạp còn nhỏ hơn kinh tế các thành phố lớn ở Mỹ!

Tuy nhiên, khối các nước dùng đồng Euro sẽ phải đối phó với một vấn đề mới: Việc tham gia vào khối từ nay sẽ không còn là những cam kết vĩnh viễn như trước nữa. Nếu Hy Lạp “bị đuổi ra” thì nhiều nước kinh tế yếu khác sẽ có thể sẽ phải ra đi, như Cyprus, Bồ Đào Nha; trong một cuộc khủng hoảng sau này. Tham vọng thống nhất Châu Âu sẽ mờ nhạt ít nhất mất nửa thế kỷ.

Có lẽ ông Tsipras đã đánh cá rằng khối Euro muốn tránh tình trạng đó bất cứ với giá nào. Cho nên ông mới “đánh cá” rằng Châu Âu không bao giờ dám “đuổi Hy Lạp” ra ngoài. Có điều, ông không biết nghĩ rằng một khối Châu Âu muốn tồn tại mà lại bỏ qua không tôn trọng các quy tắc tối thiểu của thị trường tài chính, thì cả khối sẽ mất uy tín và khó điều hành. Mối lo đó còn lớn hơn là chịu những thiệt hại nhỏ khi chịu mất một thành viên để bảo vệ các quy tắc tài chánh.

Nhưng dân Hy Lạp sẽ phải nhận ra rằng ông Tsipras thích đánh cá, và ông ta đã đem nền kinh tế cả nước và tương lai đất nước đặt lên bàn đánh cá! Năm 2014, kinh tế Hy Lạp thực ra đã ngưng suy thoái, bắt đầu tăng trưởng. Nhưng chính phủ Tsipras thiếu khả năng, bao cấp cho bè đảng nhiều hơn các chính phủ trước, khiến kinh tế khựng lại và nay lại đang xuống.

Chủ tịch Liên hiệp Châu Âu Jean-Claude Juncker đã mỉa mai rằng ông Tsipras tự nhận là theo chủ nghĩa xã hội; nhưng khi được yêu cầu tăng thuế các nhà giầu thì ông lại cưỡng đến phút chót mới làm. Ông Juncker kêu gọi dân Hy Lạp chấp thuận các đề nghị của các chủ nợ trong khi chính phủ Tsipras cổ động dân bỏ phiếu chống. Ông Juncker nhấn mạnh rằng các đề nghị mới của châu Âu không đòi phải cắt giảm lương và hưu bổng. Tuy nhiên, khi họ đòi Hy Lạp tăng thuế tiêu thụ (VAT) thì hậu quả là tất cả mọi người bị giảm lương! Tổng thống Pháp Francois Hollande nói thẳng rằng nếu dân Hy Lạp bỏ phiếu KHÔNG thì coi như họ muốn ra khỏi khối sử dụng đồng euro. Ngày Chủ Nhật tới, dân Hy Lạp sẽ cho biết quyết định của họ.

.

.

.

Tàu Cộng đã đưa giàn khoan HD 981 tiến vào Vịnh Bắc Bộ (CTV Danlambao)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Tàu Cộng đã đưa giàn khoan HD 981 tiến vào Vịnh Bắc Bộ

CTV Danlambao

7/03/2015    38 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/trung-cong-ua-gian-khoan-hd-981-tien.html

.

Cận kề ngày tổng bí thứ Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ, Trung Cộng đã huy động giàn khoan HD 981 đi vào hoạt động tại vịnh Bắc Bộ. So với vị trí cũ được công bố cách đây 1 tuần, giàn khoan này đã tiến sâu vào vùng biển Việt Nam thêm 27km.

Báo Năng Lượng Mới cho hay, “tính đến 5h ngày 1/7/2015, giàn khoan này đã được neo ở 109 độ 55 phút kinh độ đông, 17 độ 03 phút vĩ độ bắc”, “cách đường ranh giới phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc khoảng 1 hải lý”.

Cũng cần lưu ý, vị trí của giàn khoan HD 981 hiện nay ở gần đất liền Việt Nam hơn rất nhiều so với vị trí hạ đặt hồi giữa năm ngoái.

Nhà cầm quyền CSVN chưa đưa ra bất cứ phản ứng rõ rệt nào trước hành động leo thang gây hấn lần này.

Động thái trên rõ ràng là sự ‘răn đe’ của Trung Cộng trong hoàn cảnh TBT Nguyễn Phú Trọng sắp sang Mỹ, còn người đứng đầu bộ quốc phòng CSVN Phùng Quang Thanh thì lại không rõ sống chết ra sao.

Chống lưng phe thân Tàu 

Cả 2 nhân vật thân Tàu này đã không xuất hiện tại ‘đại hội thi đua quyết thắng toàn quân’ diễn ra hôm 1/7/2015. Đây vốn được xem là một sự kiện chính trị lớn và quan trọng của quân uỷ trung ương – nơi ông Trọng đang là người đứng đầu với vị trí bí thư quân uỷ trung ương, còn bộ trưởng Thanh là phó bí thư, giữ vị trí số 2.

Những diễn biến như trên trùng hợp với thời điểm xuất hiện tin đồn về việc thay đổi nhân sự cấp cao trong bộ quốc phòng.

Điều này cũng có thể khiến cho các thế lực thân Tàu trong đảng CS dần trở nên yếu thế, tỷ lệ thuận với sinh mạng chính trị đang thoi thóp của Phùng Quang Thanh.

Do đó, việc đưa giàn khoan HD 981 vào Vịnh Bắc Bộ cũng chính là thủ đoạn của Trung Cộng nhằm gây áp lực lên bộ chính trị CSVN.

Bắc Kinh đang tái diễn kịch bản như hồi năm 2014 buộc giới chóp bu Ba Đình chấp nhận đầu hàng vô điều kiện.

2/7/2015

CTV Danlambao 

danlambaovn.blogspot.com

38 Comments

*

*

Tàu cộng diễn tập đạn thật ở Vịnh Bắc Bộ

Nhật Phong (Danlambao)

7/03/2015            23 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/tau-cong-dien-tap-that-o-vinh-bac-bo.html#more

.

Hôm 30-6-2015, Tàu cộng đã diễn tập bắn đạn thật tại một khu vực thuộc Vịnh Bắc Bộ, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Động thái trên diễn ra ngay sau khi giàn khoan HD-981 tiến vào thăm dò và đào khoan bất hợp pháp vùng biển của Việt Nam và một ngày trước khi các tướng tá quân đội CSVN đang bám bờ ở Hà Nội và tưng bừng khai mạc Đại hội Thi đua quyết thắng lần 9.

Cuộc diễn tập lần này do Quân khu Quảng Tây tổ chức với nhiều hạng mục như bắn trúng mục tiêu di động trên biển, đánh chặn tầm xa, sử dụng vũ khí, đạn pháo ngăn chặn các đợt tấn công của địch.

Trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đã ra lệnh yêu cầu 172.000 tàu dân sự phải đảm bảo tham gia phục vụ hải quân trong trường hợp nổ ra xung đột. Đồng thời, Hạm đội Nam Hải đã triệu tập lực lượng sỹ quan tái ngũ tham gia diễn tập tại Biển Đông, nhằm tăng cường năng lực sẵn sàng chiến đấu cho Trung Quốc trong tình huống khẩn cấp.

Ngược lại, phía Hà Nội thì tiếp tục cho ngư dân mượn vốn, đóng tàu và kiên trì bám biển; trong khi quân đội, nhất là lực lượng hải quân nhất trí bám bờ để bảo vệ mối tình hữu hảo 16 vàng 4 tốt vốn là nền tảng bảo đảm nguyện vọng bám ghế của các lãnh đạo đảng.

Các động thái giàn khoan HD-981 xâm nhập vùng chủ quyền của Việt Nam và Hải quân Tàu diễn tập bằng đạn thật trên biển Đông xảy ra ngay trước chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong thời điểm Hoa Kỳ – Việt Nam kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ, và sau khi Quốc hội Việt Nam họp kín về tình hình biển Đông hôm 06 -06 nhưng không ra bất cứ tuyên bố nào. Tất cả nằm trong mục tiêu của Bắc Kinh nhàm đo lường mức độ “hèn” và “trung thành” của các đồng chí “con hoang” Hà Nội hiện nay đang ở “tầm mức” nào.

03.07.2015

Nhật Phong

danlambaovn.blogspot.com

*

*

Tàu cộng sắp hoàn tất xây dựng đường băng trên Đá Chữ Thập

CTV Danlambao tổng hợp

7/03/2015    4 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/tau-cong-sap-hoan-tat-xay-dung-uong.html

.

Hình ảnh từ vệ tinh cho thấy Bắc Kinh đã gần như hoàn tất một phi đạo dài 3 cây số tại Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa. Đá Chữ Thập là một rạn san hô với diện tích 110 km2. Hiện nay Tàu cộng đang chiếm đóng và xây dựng các cơ sở quân sự lẫn dân sự trên 7 bãi đá với diện tích 13km2 nhằm vừa biến vùng tranh chấp thành chủ quyền vừa gia tăng tiềm năng quân sự tại biển Đông.

Nỗ lực xây dựng các đảo nhân tạo và các cơ sở hạ tầng của Trung cộng trong khu vực Trường Sa đã được tiến hành từ năm ngoái nhưng chỉ được biết đến trong vài tháng vừa qua. Sau khi bị phát hiện, Bắc Kinh đã gia tăng tốc độ xây dựng và đã tạo nên mối căng thẳng với Hoa Kỳ và các quốc gia trong vùng.

Đối với các quốc gia trong vùng và nhất là Việt Nam thì biển Đông đóng vai trò quan trọng trong giao thương hàng hải và giàu có về tài nguyên bao gồm dầu hoả và khí đốt.

Đối với Hoa Kỳ, sự bành trướng và chiếm đóng của Bắc Kinh trên biển Đông sẽ làm yếu đi sức mạnh kinh tế và hải quân của Hoa Kỳ tại khu vực này. Mặc dù Hoa Kỳ đã lên tiếng cảnh báo Bắc Kinh, yêu cầu chấm dứt việc xây dựng nhưng dường như Bắc Kinh đã không có ý định để ngừng lại việc này.

Tại bãi Đá Chữ Thập, phi đạo dài 3km sẽ đủ dài để quân đội Trung cộng có thể đáp và cất cánh bất cứ loại máy bay nào của lực lượng không quân – bao gồm máy bay chuyên chở quân sự hạng nặng và các chiến đấu cơ. Sân bay này đã thực sự  gia tăng sức mạnh quân sự và khả năng khống chế biển Đông của Bắc Kinh.

Hình : https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/07/fb7fc-dachuthap-phidao3-danlambao.png

Hình vệ tinh ở trên được đăng tải bởi cơ quan Asia Maritime Transparency Initiative (AMTI) cho thấy phi đạo và chỗ đậu cho máy bay đã được xây dựng xong. Bên cạnh, theo một nhóm chuyên gia tại Washington, trên căn cứ này còn có 2 bãi đáp cho trực thăng, 10 cột an-ten-na cho để nhận sóng vệ tinh, 2 đài hải đảng và một tháp ra-da.

Hình : https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/07/cfa2e-dachuthap-phidao4-danlambao.jpg

Trước những nỗ lực bành trướng và dùng những cơ sở hạ tầng về quân sự lẫn dân sự này của Bắc Kinh để đóng dấu chủ quyền biển đảo vốn thuộc về Việt Nam, nhà cầm quyền Hà Nội cho đến nay vẫn chưa có một động thái phản đối cụ thể nào.

CTV Danlambao tổng hợp

danlambaovn.blogspot.com

4 Comments

.

.

.

Từ độc tài Nguyễn Văn Linh đến độc quyền Nguyễn Phú Trọng (Phạm Trần)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Từ độc tài Nguyễn Văn Linh đến độc quyền Nguyễn Phú Trọng

Phạm Trần

7/03/2015  2 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/07/tu-oc-tai-nguyen-van-linh-en-oc-quyen.html#more

.

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1/7/1915 – 1/7/2015, lãnh đạo CSVN đã công khai tái khẳng định sẽ tiếp tục độc tài, độc đảng và độc quyền cai trị như ông Linh đã vạch ra.

Chủ trương này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang đưa ra bằng lời nói và bài viết có cùng lập trường nhất quyết không từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản và chống đa nguyên đa đảng. Tuy nhiên cả hai người lại không có bất cứ lời nào lên án Trung cộng đang biến 7 bãi đá chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo để sinh sống và căn cứ quân sự ở Biển Đông, có lẽ vì sợ gây phiền não cho vong linh người quá cố?

Điều này dễ hiểu vì Trung cộng coi ông Nguyễn Văn Linh là người có công với Bắc Kinh tại Hội nghị bí mật Thành Đô, Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc trong hai ngày 3-4 Tháng 9 năm 1990.

Nguyễn Văn Linh đi Thành Đô cùng với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng để bàn chuyện nối lại bang giao với Tổng Bí thư, Chủ tịch nhà nước Trung Hoa Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Tại Thành Đô, theo các giới Ngoại giao của Việt Nam thời bấy giờ như cố Thứ trưởng Ngọai giao Trần Quang Cơ và Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh thì ông Linh đã chấp nhận 3 đòi hỏi quan trọng của Giang Trạch Dân để được tái lập quan hệ ngoại giao. Ba điều kiện đó là: Việt Nam phải rút quân vô điều kiện khỏi Campuchia và đồng ý một giải pháp chính trị không loại phe Khmer đỏ thân Trung cộng; công khai chỉ trích và cam kết thay đổi chính sách thân Liên Xô trước đó của Tổng Bí thư tiền nhiệm Lê Duẩn; cất chức Bộ trưởng Ngọai giao Nguyễn Cơ Thạch, người có tư tưởng độc lập với Trung cộng và loại ông khỏi Bộ Chính trị.

Vì các văn kiện Thành Đô, kể cả tài liệu quan trọng được gọi là Kỷ Yếu Hội nghị do Lý Bằng soạn cho ông Linh ký kết với phía Trung cộng chưa được bạch hóa nên không ai biết ông Linh còn cam kết dành cho Trung cộng những đặc quyền đặc lợi nào khác.

Chỉ biết những việc sau đây đã xảy ra từ sau Hội nghị Thành Đô:

– Đảng nghiêm cấm không cho tổ chức kỷ niệm hay nhắc đến cuộc chiến xâm lược qua biên giới Việt Nam của quân Trung cộng từ 1979 đến 1987.

– Không đòi lại những phần đất, khoảng gần một ngàn cây số vuông đã bị mất vào tay Trung cộng sau cuộc chiến biên giới, trong đó có nhiều điểm cao chiến lược, tiêu biểu như điểm cao 1509 mà Trung Hoa gọi là Laoshan (Lão Sơn hay Núi Đất) và Giả Âm Sơn (điểm cao 1250) ở tỉnh Hà Giang (trước là Hà Tuyên).

– Ngăn chặn mọi nỗ lực tưởng niệm hay tuyên dương 74 chiến sĩ Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến đấu chống quân Tầu xâm lược Hoàng Sa tháng 1/1974. Không có hành động đòi lại mà chỉ biết nói đi nói lại ”Hoàng Sa là của Việt Nam”.

– Chỉ cho tổ chức rất hạn chế và cục bộ để tưởng nhớ đến 64 chiến sỹ quân đội nhân dân đã bỏ mình trong trận chiến bảo vệ biển đào Trường Sa năm 1988, nhưng không có hành động nào nhằm lấy lại lãnh thổ đã mất.

– Sách lịch sử của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ nói rất sơ sài về những biến cố lịch sử này.

– Việt Nam cũng đã để mất 2/3 thác Bản Giốc và chịu nhận đường biên giới hai nước nằm ở phía nam Ải Nam Quan, thay vì phía bắc Ải này, căn cứ theo Hiệp định biên giới trên đất liền ký ngày 30/12/1999. Như vậy Ải lịch sử Nam Quan nay nằm bên phiá Tàu.

Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ từng tham gia đàm phán với Tàu cộng nói: “Căn cứ vào các tư liệu có giá trị pháp lý theo Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ mà Việt Nam và Trung Quốc ký năm 1993, thì rõ ràng đường biên giới tại khu vực này luôn nằm về phía nam Ải Nam Quan, chứ không phải đi qua Ải Nam Quan theo tiềm thức của người Việt Nam. Như vậy không có chuyện Việt Nam đã nhường Ải Nam Quan cho Trung Quốc như nhiều người suy diễn theo cảm tính và dựa vào những thông tin thiếu khách quan, không có giá trị pháp lý.” (trích Việt Nam Express, 31/01/2015)

Tuy nhiên, ông Trục đã quên rằng sách sử Việt Nam đều đã từng nói “nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu”?

– Ngoài mất mát trên đất liền Việt Nam còn đồng ý ký 2 Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hợp tác Nghề Cá với Trung cộng năm 2000 có nhiều bất lợi cho Việt Nam, theo quan điểm của một số chuyên viên của Quỹ nghiên cứu Biển Đông.

Các chuyên viên biển đảo Việt Nam ở trong nước và nước ngoài của Qũy này cho biết: “Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Tàu có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Tàu khoảng 695 km. Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Tàu) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Tàu về an ninh và quốc phòng. (Trích bài viết “Đàm phán Việt – Trung về khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ” ngày 24/02/2014).

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho biết: “Việt Nam đư­ợc hư­ởng 53,23% diện tích Vịnh và Trung Quốc đ­ược h­ưởng 46,77% diện tích Vịnh”.

Như vậy, phía Việt Nam hơn Tàu 6,46%, hay khoảng 8,205 cây số vuông, theo ước tính của Quỹ Biển Đông.

Hợp tác cùng phát triển

Đáng chú ý là trong Hiệp định này, Việt Nam đã đồng ý “hợp tác cùng phát triển”với Tàu cộng ở vùng biển này, và nay cả ở khu vực bên ngoài vịnh Bắc Bộ. Nội dung này phù hợp với chủ trương cốt lõi của Tàu từ thời Đặng Tiểu Bình đưa ra năm 1979 và được tái khẳng định bởi Tập Cận Bình năm 2013, theo đó Tàu luôn luôn coi Biển Đông là “biển của ta, gác tranh chấp để cùng khai thác”!

Việc Tàu cộng tự nhận chủ quyền trong hình Lưỡi bò chiếm ¾ diện tích 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông là một bằng chứng.

Dù Tàu cộng không giấu diếm tham vọng, nhưng vào ngày 11/10/2011, tân Tổng Bí thư đảng CSVN khóa XI Nguyễn Phú Trọng vẫn vội vã sang Tàu họp với Tổng Bí thư – Chủ tịch nhà nước Trung cộng Hồ Cẩm Đào để tái cam kết 6 điểm về“Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”. Tại Bắc Kinh, ông Trọng đã đồng ý “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này.” (điểm 5)

Sau chuyến đi của ông Trọng, phía Tàu cộng tiếp tục áp lực Việt Nam phải mau chóng thi hành những cam kết đã ký qua các chuyến qua lại của lãnh đạo hai nước, trong đó có các chuyến đến Việt Nam của Thủ tướng Lý Khắc Cường, Ủy viên Quốc vụ viện phụ trách biên giới- biển đảo Dương Khiết Trì và của Ngoại trưởng Vương Nghị.

Diễn biến mới nhất là chuyến sang Tàu của ông Nguyễn Phú Trọng từ ngày 7 đến 10 tháng 4/2015 để gặp Tổng Bí đảng Cộng sản Tàu Tập Cận Bình, trước khi ông Trọng thực hiện chuyến đi lịch sử sang Hoa Kỳ gặp Tồng Thống Barrack Obama, dự kiến từ ngày 07 đến 09 tháng 7/2015.

Tại Bắc Kinh, theo tin Việt Nam Thống tấn xã thì hai bên tái khẳng định: “Đối với vấn đề trên biển, (hai bên) nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam- Trung Quốc;” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam- Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên, bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển.”

Sau đó, khỏang 2 tuấn lễ trước ngày ông Trọng đến Hoa Thịnh Đốn, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh lại đi Bắc Kinh họp với Ủy viên Quốc vụ Quốc vụ viện Dương Khiết Trì, từ ngày 17- 19/06/2015, trong khuôn khổ của Phiên họp lần thứ 8 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt-Trung.

Ngoài Dương Khiết Trì, ông Minh còn gặp Thủ tướng Lý Khắc Cường và Bộ trưởng Ngọai giao Vương Nghị để hai bên cam kết “không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Tuy cam kết như thế, nhưng phía Tàu cộng đã và đang làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp với các hoạt động bành trướng lãnh thổ và chiêm đóng biển đảo của Việt Nam.

Đáng chú ý là không thấy ông Minh đề xuất Tàu cộng phải ngưng ngay lập tức việc xây dựng các đảo nhân tạo, thiết lập căn cứ quân sự ở Biển Đông, hay đòi chấm dứt các cuộc tấn công tầu cá Việt Nam.

Bởi vì, theo Cục Kiểm ngư Việt Nam thì “nhiều tàu cá của ngư dân ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đã bị một số lượng lớn tàu cá vỏ sắt của Trung Quốc liên tiếp đâm uy hiếp và đe dọa. Trong đó, riêng tại Quảng Ngãi, Trung Quốc đã uy hiếp, tấn công 23 tàu cá của ngư dân.” (theo Thông tấn Xã Việt Nam (TTXVN) ngày 30/06/2015)

Cùng thời gian này, nhiều tầu cá Tàu cộng đã công khai xâm nhập sâu vào vùng biển Việt Nam để đánh bắt nhưng chỉ bị cảnh cáo, xử phạt hành chính và xua đuổi đi nơi khác.

Việc làm này của phía Việt Nam trái ngược với các vụ tấn công, đánh ngư dân và tịch thu tài sản tầu cá Việt Nam của các tầu hải giám Trung cộng.

Tại sao Việt Nam lại yếu mềm và sợ Tàu trước ngày ông Trọng đi Mỹ như thế thì chỉ có lãnh đạo và nhà nước Việt Nam mới có thể trả lời được.

– Phía Việt Nam còn bị “mắc họng” khó nói với thế giới vì sao năm 1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền của Tàu ở Hòang Sa và Trường Sa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà (miền Bắc) cũng không hề lên tiếng phản đối khi quân Trung cộng chiếm Hòang Sa từ tay Quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1974. Do đó báo chí Tàu trong những ngày cuối tháng 6/2015 đã gia tăng chỉ trích Việt Nam đã quên những cam kết qúa khứ và thay đồi lập trường sau ngày thống nhất đất nước năm 1976.

– Song song với những việc làm tréo cẳng ngỗng khó hiểu này, Đại tướng Lê Đức Anh, trong chức vụ Bộ trưởng Quốc phòng, đã phạm lỗi lầm lịch sử tại mặt trận Trường Sa năm 1988, khi ông ra lệnh cho binh sĩ bảo vệ đá Gạc Ma không được nổ súng chống lại quân Tầu khi chúng xâm lược và chiếm 7 bãi đá. 64 binh sỹ của Việt Nam đã bị quân Tàu giết hạ trong cuộc chiến “bị bó tay” này!

Vì vậy ông Anh đã được phía Tàu sử dụng làm quân cờ đi đêm với Đại sứ Tàu ở Hà Nội, qua mặt Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, để phối trí đưa phái đòan Nguyễn Văn Linh đi Hội nghị Thành Đô dàn xếp chuyện Campuchia theo những điều kiện của Bắc Kinh.

Sau Hội nghị Thành Đô, Đỗ Mười, người năng nổ nhất trí với phía Tàu, sau Nguyễn Văn Linh, đã lên làm Tổng Bí thư khoá đảng VII và Đại tướng Lê Đức Anh được tưởng thưởng chức Chủ tịch nước khiến Bắc Kinh hả dạ cười tươi.

Vì vậy, trước những nhượng bộ chính trị làm mất thể diện quốc gia và tư cách lãnh đạo của các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Lê Đức Anh ở Thành Đô, ông Nguyễn Cơ Thạch đã thốt lên câu nói lịch sử: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã khởi sự.” 

Lời cảnh giác của ông Nguyễn Cơ Thạch đã dẫn chứng trong 2 Hiệp định biên giới và Vịnh Bắc Bộ bất lợi cho Việt Nam của thời Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (khoá đảng VIII). Đến thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) thì ông Mạnh lại nghe theo lời đường mật của Tàu cho họ vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên mà hiệu qủa kinh tế còn rất mờ mịt.

Theo tài liệu của Bách khoa Toàn thư mở thì Tiến sĩ Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, khẳng định: “Dự án bô- xít Tây Nguyên vừa lỗ nặng, vừa gây ô nhiễm đến môi trường cả trước mắt và lâu dài”. Cũng theo ông Trường thì “Nhà đầu tư TKV (Tập đòan Khoáng sản Việt Nam, Vinacomin), đã được Bộ Tài nguyên & Môi trường “bao cấp” không tính phí tài nguyên môi trường, Bộ GTVT “hỗ trợ” tuyến đường vận chuyển (bằng tiền ngân sách), Bộ Công Thương dự trù “biếu không” nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 để phục vụ cho dự án bô- xit… Tất cả các công trình nói trên là tiền ngân sách, thực chất là tiền thuế của dân, cần phải hết sức thận trọng, suy tính sử dụng cho có hiệu quả vì nợ công đã đến mức báo động đỏ.” 

Theo ước tính của một số chuyên gia thì tổng số tiền lỗ của mỗi năm ít nhất là 33 triệu.

Đó là “thành tích” lệ thuộc Tàu của ông Nông Đức Mạnh, sau 10 năm cầm quyền (1992 – 2001).

Chuyện bây giờ

Với bối cảnh lịch sử và những hệ lụy xảy ra sau đó cho Việt Nam từ sau Hội nghị Thành Đô trong 30 năm qua các thời đại Nguyễn Văn Linh (khoá đảng VI), Đỗ Mười (khoá VII), Lê Khả Phiêu (khoá VIII), Nông Đức Mạnh (hai khoá IX và X) cho đến Nguyễn Phú Trọng (khoá đảng XI), Việt Nam tiếp tục bị Trung cộng xỏ mũi kéo đi phiêu lưu để kiệt quệ cả nhân lực và tài lực.

Đó là hậu qủa của lời cám ơn Giang Trạch Dân của ông Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 khi ông ca ngợi quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Tàu là “vừa là đồng chí vừa là anh em” như Hồ Chí Minh đã nói, căn cứ theo tác giả Tàu là Trương Thanh, lúc đó là Vụ phó Vụ Á châu 1 Bộ Ngoại giao Tàu cộng, người tham dự hội nghị. (Tài liệu của chuyên gia về  Trung cộng Dương Danh Dy, BBC, 23/10/2014).

Nguyễn Phú Trọng- Trần Đại Quang

Vậy mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong diễn văn kỷ niệm 100 năm ngày sinh tại quê hương Hưng Yên của ông Nguyễn Văn Linh sáng ngày 30/06/2015 đã không ngớt ca ngợi lập trường kiên trì chủ nghĩa cộng sản thân Tàu của ông Linh và coi đó như khuôn vàng thước ngọc để bảo vệ quyền lực cho đảng.

Ông Trọng lập lại lời Nguyễn Văn Linh nói rằng: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng ta… Chẳng lẽ bao nhiêu thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam lại đem trao vào tay những lực lượng đưa đất nước đi vào con đường tư bản chủ nghĩa, con đường chắc chắn không thể bảo đảm độc lập thật sự cho dân tộc, tự do hạnh phúc thật sự cho tuyệt đại đa số nhân dân” 

Ông cũng không quên đọc lời ông Linh quả quyết: “Kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng một cách đúng đắn, thích hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo. Chúng ta phải đấu tranh chống những luận điệu và thủ đoạn đả kích, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ phía những thế lực thù địch, những kẻ cơ hội.  Đồng chí kịch liệt phê phán quan điểm đòi “đa nguyên, đa đảng”. Đồng chí nói: “Trong điều kiện nước ta, không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động… hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.” 

Khi ông Trọng mượn lời Nguyễn Văn Linh để nói vào thời điểm đảng CSVN chuẩn bị Đại hội đảng XII chính là ông muốn nói với đảng viên và người dân về chủ trương lạc hậu và phản dân chủ của những người cầm quyền bây giờ.

Quan điểm độc quyền cai trị của đảng CSVN và chống đa nguyên đa đảng, chống bầu cử dân chủ tự do đã được ông Trọng nói trắng ra mà không cần biết nhân dân và cán bộ đảng viên có còn muốn nghe theo hay không.

Nhưng tại sao ông Trọng lại phải mượn những lời sặc mùi bảo thủ cộng sản của ông Linh để hù họa người dân vào lúc giặc ngọai xâm Tàu cộng đã vào bên trong ngôi nhà Việt Nam từ Biển Đông đến đất liền?

Phải chăng ông muốn gửi một thông điệp cho người bạn láng giềng Tàu cộng Tập Cận Bình biết để yên tâm ông sẽ không thay lòng đổi dạ trong chuyến đi Hoa Kỳ gặp Tổng thống Obama trong những ngày sắp tới?

Song song với diễn văn của ông Trọng là bài viết của Đại tướng Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang được báo đảng CSVN phổ biến có tựa đề “Tiếp tục giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp đổi mới đất nước”. 

Bài viết cũng chỉ nhằm ca tụng quan điểm chính trị quyệt đôi trung thành với chủ nghĩa cộng sản và chống đa nguyên đa đảng của Nguyễn Văn Linh.

Ông Quang viết: “Đồng chí kịch liệt phê phán những tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, không phù hợp với cách mạng nước ta, nhất là quan điểm “đa nguyên, đa đảng”, đòi Đảng ta từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ; đồng chí kiên quyết khẳng định: “Trong điều kiện nước ta không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động, phục thù trong nước và từ nước ngoài trở về hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận.”

Ám chỉ đến tình trạng “tự diễn biến, tự chuyễn hóa” trong nội bộ đang đe dọa sự sống còn của đảng, ông Quang đã mượn hòan cảnh dao động của đảng viên thời Nguyễn Văn Linh cầm quyền (1986- 1991), đúng là lúc Nhà nước Cộng sản sụp đổ ở Nga và các nước Cộng sản Đông Âu để quyết tâm giữ vững lập trường.

Ông viết: “Lập trường, quan điểm rõ ràng, dứt khoát, không khoan nhượng của Trung ương Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vừa quyết tâm đổi mới đến thắng lợi, vừa kiên định tuyệt đối nguyên tắc cách mạng trong cuộc đấu tranh với những biểu hiện dao động, cơ hội, hữu khuynh của một số người trong và ngoài Đảng đã kịp thời chỉnh đốn về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên, đẩy lùi âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chống chủ nghĩa xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo tiền đề để sự nghiệp đổi mới đất nước tiếp tục phát triển.”

Nhưng sau 17 năm ngày ông Linh qua đời (1998), tình hình thế giới đã thay đổi, thế giới Cộng sản đã tan biến và những con người Cộng sản ở Việt Nam và Tàu cũng đã nhìn ra ánh sáng của dân chủ và tự do cần thiết cho đời sống con người như thế nào.

Nhưng ông tướng công an đã tát nước theo mưa với ông Trọng để mượn lời Nguyễn Văn Linh mà cao rao: “Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn” …Cũng không có lý do gì để chúng ta phải “lùi lại” giai đoạn dân chủ nhân dân, mà lịch sử đã vượt qua. Nếu có những việc của giai đoạn trước chưa làm xong hoặc chưa làm tốt thì chúng ta tiếp tục giải quyết nốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, nhân dân ta quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa.” 

Nhưng tại sao người cầm đầu Bộ Công an, lực lượng bảo vệ đảng thứ hai sau Quân đội phải lên giọng quyết liệt bảo vệ chủ nghĩa Cộng sản và bảo vệ đảng đến tận răng như thế vào lúc này?

Phải chăng Công an cũng đang “tự diễn biến” và “tự chuyền hoá” như Quân đội và một số không nhỏ cán bộ, đảng viên?

Hay Trần Đại Quang cũng muốn chuyển một tín hiệu qua biên giới cho Công an Tàu để họ yên tâm trước chuyến Mỹ du lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

03.07.2015

Phạm Trần

danlambaovn.blogspot.com

2 Comments

.

.

.

TÔI KHÔNG CẦN BIẾT ÔNG HỒ CHÍ MINH CÓ MẤY VỢ (FB Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

TÔI KHÔNG CẦN BIẾT ÔNG HỒ CHÍ MINH CÓ MẤY VỢ

FB Nguyễn Hưng Quốc

Monday, May 18, 2015 at 5:51am

https://www.facebook.com/hungquoc.nguyen.771/posts/1598779773731662

.

(Bài cũ đăng lại để mừng sinh nhật “bác”)

Đầu tháng 9, 2010, nhân dịp ở trong nước tổ chức rầm rộ các buổi lễ tưởng niệm 40 năm ngày Hồ Chí Minh qua đời, tôi muốn viết một bài về ông, nhưng lại lười, cứ lần khân mãi. Sau đó, mở các tờ báo mạng ra, cứ gặp mãi những bài viết về ông Minh (tôi không thích gọi ông là ông Hồ, nghe nó vô duyên làm sao!) lại đâm bực.

Bực, khi đọc những bài lải nhải khen ngợi ông. Bực cả khi đọc những bài chửi bới ông nữa.

Hầu hết các bài khen tụng hay chửi bới ông Minh đều có điểm giống nhau: Chúng đều tập trung vào đời tư của ông. Lại là những khía cạnh nhí nhách nhất trong đời tư của ông.

Người chửi, chửi thậm tệ. Theo họ, ông Minh là một kẻ giả dối. Giả dối ở mọi mặt. Tự mình viết sách khen mình… khiêm tốn và tài giỏi rồi ký tên khác (Trần Dân Tiên) rồi bắt dân chúng học tập là một sự giả dối. Gặp chị ruột, bà Nguyễn Thị Thanh, người chị duy nhất còn sống sót sau mấy chục năm xa cách mà vẫn hờ hờ hững hững để giữ tiếng vô tư và chí công là một sự giả dối. Nhưng giả dối nhất là có vợ rồi, lại là vợ Tàu nữa (Tăng Tuyết Minh), mà cứ giấu biệt. Có bồ (Nông Thị Xuân) cũng giấu giấu giếm giếm như mèo giấu cứt. Cuối cùng, bồ bị đàn em hãm hại cũng không dám mở miệng cứu giúp hay can thiệp. Nghĩa là một kẻ vừa giả dối lại vừa tàn nhẫn và hèn hạ.

Người khen, khen ông biết quan tâm và hy sinh cho người khác. Quan tâm đến đời sống cơ cực của dân chúng: Mỗi bữa, ông ăn ít hơn một chút để dành mớ gạo thừa ấy cho “đồng bào”. Quan tâm đến giấc ngủ của từng người bộ đội: Nửa đêm dậy đi dém mùng cho từng người. Quan tâm đến nỗi khách phụ nữ đến thăm, ông hỏi ngay là có mắc đái không để ông chỉ nhà vệ sinh cho!

Trong cuốn Hồi ký được phổ biến rộng rãi trên internet, Nguyễn Đăng Mạnh kể, nguyên văn:

“Năm 1965, Mỹ cho không quân ra đánh phá miền Bắc. Cầu Hàm Rồng, Thanh Hoá, là một trọng điểm oanh tạc của chúng. Anh chị em dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng phối hợp cùng với pháo binh tải đạn và bắn máy bay giặc. Nổi lên có hai nữ dân quân được tuyên dương công trạng xuất sắc: Ngô Thị Tuyển và Nguyễn Thị Hằng.

Năm ấy, tôi phụ trách một đoàn sinh viên Đại học Sư phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hoá, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo, cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ, oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp Bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội, đi đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Đến mỗi chặng, anh dẫn đường lại bảo, cô chờ ở đây, người khác sẽ đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng, anh dẫn đường nói, cô ngồi đây, Bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bác chỉ chỗ cho mà đi.”

Câu chuyện của Nguyễn Thị Hằng về chủ tịch Hồ Chí Minh hôm đó, tôi nhớ nhất chi tiết này. Chi tiết rất nhỏ nhưng nói rất nhiều về con người Hồ Chí Minh.”

Thực tình, tôi không quan tâm đến cả những lời khen lẫn những tiếng chê như thế.

Theo tôi, những chuyện ấy, ngay cả khi đúng sự thực, cũng không ảnh hưởng gì mấy đến vị thế của ông Minh với tư cách một chính khách và một lãnh tụ.

Một cái nhìn có tính chuyên nghiệp đòi hỏi chúng ta không được lẫn lộn giữa các phạm trù. Một ông thánh làm chính trị tồi thì cũng vẫn là một chính khách tồi. Ngược lại, một tên lưu manh làm chính trị giỏi, biết cách sử dụng quyền lực cho những mục tiêu lớn và tốt, thì cũng vẫn là một chính khách giỏi. Tôi thích dân Mỹ ở chỗ đó. Nhớ, trong thập niên 1990, họ, một mặt, lên án cái tật hay cởi quần bậy của Tổng thống Bill Clinton, nhưng mặt khác, lại ủng hộ các chính sách của ông, các chính sách, theo họ, có lợi cho nước Mỹ. Với họ, hai khía cạnh đời tư và công việc khác hẳn nhau.

Ở Việt Nam, chúng ta cứ hay lẫn lộn mọi thứ. Không phải chỉ với Hồ Chí Minh mà cả với Ngô Đình Diệm hay Bảo Đại trước đó nữa, người ta cũng hay tập trung vào đời tư mà rất ít khi quan tâm đến chính sách của họ, với tư cách là những nguyên thủ của một đất nước.

Trong khi đó, ở cương vị của họ, chính các chính sách mới là những yếu tố đáng bàn, thậm chí, là những yếu tố duy nhất đáng bàn vì chúng có ảnh hưởng đến cả hàng chục, thậm chí, hàng trăm triệu người, có khi từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ông Minh có nhịn ăn mỗi ngày vài chén cơm thì cũng chỉ nuôi được, may lắm, một con chó; nhưng nếu ông có chính sách kinh tế đúng đắn và hiệu quả thì cả hàng chục triệu người được tha hồ ăn no và ăn ngon. Ông có hàng tá bồ nhí thì cũng chỉ làm mấy chục người ấy khổ nhưng nếu ông có chính sách về gia đình và phụ nữ đúng đắn và có hiệu quả thì hàng chục triệu phụ nữ tránh được cảnh bị lợi dụng, lạm dụng và bạo hành. Ông có hỏi hết người này đến người khác có mắc tiêu mắc tiểu không để ông chỉ nhà vệ sinh cho thì cũng giải quyết được nhu cầu của một số người nhưng nếu ông có chính sách đúng đắn và có hiệu quả về xây dựng cơ sở hạ tầng và văn hoá tiếp dân thì không ở đâu, kể cả ở các văn phòng uỷ ban nhân dân từ trung ương xuống địa phương hay các tụ điểm công cộng, từ nhà ga đến bến xe, từ trường học đến công viên, dân chúng lại phải chịu cảnh nhịn đái nhịn ỉa hay phải chịu đựng mùi hôi thối đến kinh người như họ từng chịu đựng cả trong hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Một nhà lãnh đạo không cần những cái tốt lặt vặt. Thậm chí có khi cái gọi là tốt ấy lại còn phản tác dụng. Tại Úc, nhiều chính khách bị dân chúng mất tín nhiệm chỉ vì quá tốt bụng. Đứng trước Quốc Hội, nghe báo cáo về sự khốn cùng của thổ dân, họ khóc; nghe tin thiên tai đâu đó, họ rơm rớm nước mắt. Dân chúng cảm động ư? Ừ, thì họ cũng cảm động. Nhưng khi được hỏi sự cảm động ấy có ảnh hưởng đến lá phiếu của họ trong các cuộc bầu cử hay không, phần lớn đều lắc đầu quầy quậy: Không. Nhiều người còn cho đó là sự yếu đuối không những không cần thiết mà còn có hại. Người ta chờ đợi ở lãnh tụ một cái đầu lạnh, lúc nào cũng bình tĩnh cân nhắc tính toán chuyện lợi hại gần xa chứ không cần những người quá dễ xúc động và chỉ biết phản ứng theo tình cảm như thế.

Bởi vậy, đánh giá một người làm chính trị, chúng ta chỉ cần tập trung vào chính sách của họ.

Với ông Minh, cũng vậy.

Trước hết, cần phân biệt ở ông Minh có hai khía cạnh: một nhà cách mạng và một nhà lãnh tụ.

Với tư cách nhà cách mạng, ông Minh có thể vấp phải một số sai lầm, nhưng nói chung, các chính sách ông đưa ra nếu không đúng đắn thì ít nhất cũng có hiệu quả. Nhờ đó, ông trở thành nhà cách mạng thành công nhất ở Việt Nam trong thế kỷ 20: Ông đánh đuổi được thực dân Pháp và ông giành được chính quyền vào tay đảng của ông.

Không đồng ý với ông, thậm chí, căm thù ông, người ta cũng không thể phủ nhận những thành công vang dội ấy. Ông đã thành công ở chỗ tất cả các nhà cách mạng khác, trước ông, từ các nhà Cần Vương đến các nhà Duy Tân, từ Phan Bội Châu đến Phan Châu Trinh và tất cả các nhà cách mạng quốc gia khác, đều thất bại.

Với tư cách một lãnh tụ, hơn nữa, lãnh tụ tối cao, vừa là Chủ tịch đảng vừa là Chủ tịch nước, ông Minh có những chính sách đúng và sai, những chính sách có hiệu quả đồng thời cũng có những chính sách hoàn toàn vô hiệu, hơn nữa, cực kỳ tai hại.

Đánh giá những chính sách ấy cần có công phu nghiên cứu và sự công tâm nhất định. Đó là công việc của giới sử học. Đã có nhiều sử gia làm điều đó. Một số người làm rất tốt. Nhưng công việc ấy sẽ còn kéo dài mãi. Nếu lịch sử là những gì luôn luôn được viết lại, việc đánh giá những chính khách lớn như ông Minh sẽ không bao giờ hoàn tất cả. Mỗi thời đại hay mỗi thế hệ, trong tương lai, sẽ lại tiếp tục tìm kiếm và đặt lại vấn đề về sự nghiệp của ông.

Trong bài này, tôi chỉ xin góp một ý nhỏ: Nói đến chính sách, cần phân biệt chính sách có tính giai đoạn và chính sách có tính dài hạn.

Trong số các chính sách dài hạn, chính sách quan trọng và căn bản nhất là chính sách liên quan đến thể chế.

Trong vấn đề thể chế, có hai khía cạnh quan trọng và căn bản nhất: ý thức hệ và cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước.

Về phương diện ý thức hệ, ông Minh chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Đó là một lựa chọn có tính lịch sử; và vì có tính lịch sử, nó vừa là trách nhiệm của ông vừa không thuộc trách nhiệm của ông.

Nhưng việc lựa chọn cơ chế tổ chức guồng máy nhà nước thì hoàn toàn nằm trong tay ông. Chính ông là người quyết định nó, xây dựng nó và điều hành nó một thời gian dài. Có thể nói cái cơ chế ấy hoàn toàn là sản phẩm của ông. Là đứa con của ông.

Cái cơ chế ấy như thế nào?

Thời gian đã đủ dài để người ta nhận ra tất cả các khuyết điểm của nó. Trong đó, khuyết điểm đầu tiên là nó quá cứng nhắc, làm tê liệt hết mọi khả năng sáng tạo của ngay cả những người sáng suốt, nhiệt tình và nhiều quyền thế nhất.

Nghe nói, lúc còn tại chức, Phạm Văn Đồng thường than thở là trên thế giới không có ai làm Thủ tướng lâu như ông, và cũng không có ai làm Thủ tướng mà bất lực như ông.

Lại cũng nghe nói, trong một chuyến công du sang Úc cách đây khoảng trên dưới mười năm, Phan Văn Khải, lúc ấy đang là Thủ tướng, giữa một buổi họp mặt với giới trí thức Việt kiều, kể, đại khái, là: “Nhiều vị lãnh đạo Tây phương cứ hay nói về Việt Nam thế này thế nọ. Nhưng cứ cho họ làm Thủ tướng ở Việt Nam thử xem họ làm sao. Có khi họ làm chưa tới một ngày đã phải chạy làng rồi. Việt Nam mình nó phức tạp lắm chứ đâu đơn giản như họ tưởng. Ở Việt Nam đâu phải là Thủ tướng thì có thể làm được mọi việc!”

Lại cũng nghe nói nữa, vào những năm cuối đời, tuy ông Minh vẫn còn tại vị, nhưng thực quyền thì đã lọt hết vào tay của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ. Ông muốn làm nhiều chuyện nhưng đành bất lực. Tôi chẳng biết lời đồn ấy thực hư thế nào. Nhưng nếu đúng, ông Minh đã bị chính cái guồng máy ông lập ra nghiền nát; ông đã bị chính đứa con ông sinh ra quay lại ăn thịt ông.

Cái cơ chế chính quyền ở Việt Nam, một mặt, loại trừ khả năng sáng tạo, mặt khác, lại tạo cơ hội cho cái Ác, cái Tham và cái Ngu tha hồ nảy nở. Trong cái cơ chế ấy, không ai có thể làm điều đúng hay điều tốt được, nhưng mọi đứa ác, mọi đứa tham và mọi đứa ngu đều có thể dễ dàng tác oai tác quái.

Cái Ác, cái Tham và cái Ngu thì ở đâu cũng có. Không có một lãnh tụ nào có thể loại trừ hay tiêu diệt chúng hết được. Nhưng trong một cơ chế tốt, chúng luôn luôn bị kiềm chế; nếu có bộc lộ, chỉ bộc lộ một cách rụt rè và lén lút; và vì rụt rè và lén lút nên không thể trở thành phổ biến, hơn nữa, lúc nào chúng cũng đối diện với nguy cơ bị phát hiện và bị trừng phạt.

Trong cái cơ chế chính quyền do ông Minh sáng lập, không có những sự kiềm chế và kiểm soát. Cấp lớn có cái Ác, cái Tham và cái Ngu lớn. Cấp nhỏ thì có cái Ác, cái Tham và cái Ngu nhỏ. Ở đâu chúng cũng nghênh ngang hoành hành được. Dân chúng không những bị bịt miệng mà còn bịbịt cả tai nữa.

Bởi vậy, bất cứ cái Ác, cái Tham và cái Ngu nào ở Việt Nam lâu nay cũng đều có một phần trách nhiệm của ông Minh.

Người ta hay hỏi: Liệu ông Minh có biết những người bị giết oan trong cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950 không? Có biết những vụ trù dập dã man đối với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm không? Có biết các vụ giết người tập thể ở Huế trong trận Mậu Thân không?

Với tôi, đó là những câu hỏi vớ vẩn. Biết hay không biết, chúng cũng thuộc về trách nhiệm của ông Minh. Biết, ông có tội. Không biết, ông có lỗi. Khi cái lỗi gây thành tội ác: Cái lỗi trở thành cái tội.

Trong bất cứ một hành vi tham nhũng công khai nào, bất cứ một hành động chà đạp nhân quyền và dân chủ nào ở Việt Nam hiện nay, cho dù được thực hiện bởi một tên công an cấp phường, cấp xã, cũng đều có bàn tay ông Minh trong đó.

Ông Minh đã chết lâu rồi nhưng cái cơ chế ông tạo ra vẫn còn đó. Nó còn đó và nó tiếp tục tạo cơ hội và cung cấp phương tiện cho những sự tàn ác, tham lam và ngu xuẩn. Để cho chúng tha hồ hoành hành và tàn phá đất nước, cái đất nước mà ông bỏ gần cả đời để dành lại từ trong tay thực dân Pháp.

Đứng trước cái di sản tệ hại khổng lồ ấy, những chuyện ông còn tân hay có vợ, chuyện ông nhịn ăn để đồng cam cộng khổ với dân chúng hay lúc nào cũng phì phèo điếu thuốc lá của Mỹ, chuyện ông có nung gạch để tránh cái rét ở Paris lúc còn trẻ hay không… chỉ là những chuyện tầm phào.

Hết sức tầm phào.

(Bài này đã đăng trên Nguyễn Hưng Quốc blog trên đài VOA; sau, in trong cuốn Phản tỉnh và Phản biện do Văn Mới xuất bản 2012 và Người Việt tái bản 2013)

.

.

.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng lại bị câu lưu ! (Thụy My – RFI)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng lại bị câu lưu !

Thụy My – RFI

Thứ Năm, ngày 02 tháng 7 năm 2015

http://thuymyrfi.blogspot.com/2015/07/tien-si-pham-chi-dung-lai-bi-cau-luu.html

.


Ảnh : Nhà báo Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam (giữa) trong đám đông biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Biển Đông năm 2014 (Ảnh đăng trên báo chí chính thức của Việt Nam lúc đó, Thụy My xin mạn phép đăng lại).

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2015/07/341d9-tuanhanh.jpg

Ba giờ 5 phút sáng Paris thứ Năm 02/07/2015 (8 giờ 5 phút sáng Việt Nam). Lại một tin không lành: «Anh đang bị công an câu lưu». Tin nhắn tiếp theo: «Bị công an bắt về đồn khi đang đưa bé đi học, chưa biết khi nào thả».

Gọi lại, anh Phạm Chí Dũng bắt máy và chỉ nói được vỏn vẹn một câu: «Anh đang ở công an điều tra». Từ đó trở đi, mỗi lần gọi đến số của anh lại nghe câu «Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được, xin quý khách vui lòng gọi lại sau».

Một lần nữa, lại phải cầu nguyện cho anh được bình an !

Thụy My sẽ thông tin tiếp khi có điều kiện.

7 giờ Paris (12 giờ VN) Nhà báo Phạm Chí Dũng vừa ra khỏi cơ quan an ninh điều tra. Anh cho biết còn bị triệu tập tiếp vào thứ Năm tuần tới, và cán bộ điều tra đe dọa sẽ cưỡng chế trước mặt người thân trong gia đình nếu không đi.

Mời đọc lại :

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng bị bắt !

Công an yêu cầu TS Phạm Chí Dũng chấm dứt hoạt động Hội Nhà báo Độc lập

Được đăng bởi Thuymy Rfi vào lúc 05:39

.

.

.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nằm bệnh viện tại Pháp (Thanh Phương – RFI)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nằm bệnh viện tại Pháp

Thanh Phương – RFI

Đăng ngày 02-07-2015

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150702-bo-truong-phung-quang-thanh-nam-benh-vien-tai-phap/

.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã được đưa sang bệnh viện Georges Pompidou, Paris để được phẫu thuật một khối u phổi.

Ông Phùng Quang Thanh đã được đưa sang Pháp từ ngày 24/06/2015 và đến ngày 30/06 đã được giải phẫu tại bệnh viện Georges Pompidou, hai tháng sau khi bắt đầu bị ho ra máu.

Thông tin về việc ông Phùng Quang Thanh sang Pháp để được giải phẫu được đưa ra giữa lúc có rất nhiều tin đồn về vị Bộ trưởng này, do ông vắng mặt tại Đại hội thi đua quyết thắng toàn quân hai ngày 30/06 và 01/07. Thậm chí có tin đồn là ông đã bị ám sát tại Paris.

RFI Việt ngữ đã có liên lạc với bệnh viện Georges Pompidou, nhưng bộ phận báo chí của bệnh viện này không xác nhận, mà cũng không phủ nhận thông tin về việc ông Phùng Quang Thanh đang được điều trị tại đây.

Trước đó, theo tin của Thông tấn xã Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh vừa viếng thăm nước Pháp trong tháng Sáu và được Bộ trưởng Quốc phòng Jean-Yves Le Drian tiếp ngày 19/06/2015.

Trả lời RFI Việt ngữ ngày 02/07/2015, từ Hà Nội, giáo sư Phạm Gia Khải, Ban bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Trung ương, cho biết cụ thể về tình trạng sức khỏe của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh.

« Tôi mới gặp ông Nguyễn Quốc Triệu, làm Trưởng Ban bảo vệ sức khỏe trung ương thì được biết là ông Phùng Quang Thanh được chuyển sa ng nước Cộng hòa Pháp đến bệnh viện Georges Pompidou, được các chuyên gia Pháp ở đấy chăm nom sức khỏe, và chẩn đoán cũng như điều trị.

Trước đó, cách đây khoảng nhiều năm rồi, trong chiến tranh với Mỹ, ông ấy đi công tác ở trong nam, bị tai nạn xe ô tô. Sau đó, bị dập phổi, bị dập, nhưng mà khỏi. Nhiều năm sau không có vấn đề gì. Ngoài ra, ông có bệnh cố hữu, tức là ông ấy bị hen phế quản và hay dị ứng với nhiều thứ như thuốc men, hoặc là ăn uống hoặc là thời tiết, đôi khi nổi mẩn ngứa. Có lần, (ông bị) hen phế quản, huyết áp rất cao.

Cách đây khoảng hai tháng, ông hay bị ho ra máu, ho ít thôi, khi thì máu tươi, khi thì máu hơi đen. Chúng tôi đã xem, kiểm tra vết thương thì không thấy gì đặc biệt.

Lúc đó, chúng tôi hội chẩn qua tivi, giữa Paris với bệnh viện 108. Hôm đó, tôi không có mặt, nhưng các đồng nghiệp của tôi có mặt, thì được biết là các đồng nghiệp Pháp ở Georges Pompidou đồng ý với chẩn đoán của chúng tôi, tiến hành các bước xét nghiệm và chẩn đoán có ung thư hay không. Nhưng soi phế quản thì không có gì, sinh thiết không có gì. Nhưng không có nghĩa là không có (bệnh) gì. Bởi vì có cả một phân thùy phổi rất nhỏ thôi bị sơ hóa, không biết có gì ở trong.

Họ chủ trương mang sang họ (bệnh viện Georges Pompidou) làm sinh thiết nội soi, khoa nội soi, lấy cả phân thùy ra xem. Kết quả cắt xén đó có thể quyết định đây có bị ung thư hay không. Bởi vì cắt nhiều lớp phân thùy thì vẫn hơn là chọc một chỗ.

Tôi chưa được biết kết quả ra sao, bởi vì hôm 24/06 mới đến và nghe nói ngày 26-27/06 thì mới bắt đầu làm. Hôm nay mới 02/07.

Nhưng tôi được nghe ông Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng Ban bảo vệ sức khỏe trung ương nói lại thì nghe nói tối 30/06, có mổ ông ấy và khối u lấy ra là khối u lành.

Chúng tôi rất thận trọng trong vấn đề nhận định về kết quả. Chúng tôi chờ đợi khi nào các đồng nghiệp ở bên Pháp về cho chúng tôi biết tình hình thế nào thì chúng tôi mới dám nói. Trước mắt, toàn nghe người ta nói đi nói lại, không chắc chắn. Chỉ có cái người ta nói ông bị ám sát thì không đúng. Chuyện đùa thôi, không có đâu ». 

NGHE : GS Phạm Gia Khải- Hà Nội 02/07/2015

.

.

.

CÁCH MẠNG 1989 – Kỳ 5, 6, 7, 8, 9, 10 (Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009)

Tháng Bảy 3, 2015

.

.

CÁCH MẠNG 1989 – Kỳ 5, 6, 7, 8, 9, 10 (Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009)

Thursday, 2 July 2015

*

*

CÁCH MẠNG 1989 – Kỳ 1, 2, 3, 4 (Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009)

Saturday, 27 June 2015

http://bon-phuong.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-victor-sebestyen.html

CÁCH MẠNG 1989 (kỳ 1)

CÁCH MẠNG 1989 (kỳ 2)

CÁCH MẠNG 1989 (Kỳ 3)

CÁCH MẠNG 1989 (kỳ 4)

—————————–

CÁCH MẠNG 1989 (kỳ 5)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

 Dịch giả:  Phan Trinh

28/06/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-5.html

CHƯƠNG 3

CÔNG ĐOÀN ĐOÀN KẾT – KHỞI ĐẦU

CHỊ BÉ ANNA – 44 VỊ “TỬ ĐẠO” – BAN VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP CÔNG ĐOÀN – ĐÌNH CÔNG, NỚI, XIẾT, SA THẢI – BÊNH VỰC ANNA

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-5.html

*

*

CÁCH MẠNG 1989 (kỳ 6)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

Dịch giả:  Phan Trinh

29/06/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-6.html

CHƯƠNG 4

ANH THỢ ĐIỆN WALESA – CÔNG ĐOÀN ĐOÀN KẾT, 1980-1981

ĐÌNH CÔNG VÌ ANNA – LECH TRỞ LẠI – CHIẾM GIỮ NHÀ MÁY – LÃNH ĐẠO CÂU GIỜ – GÓI THỎA THUẬN – NGỘ NHẬN VÀ HỖN ĐỘN – LECH WALESA – RỜI QUÊ LÊN PHỐ, CÔNG GIÁO, CHỐNG NGA – “QUÝ TỘC” TỒI, TAI NẠN, NHẾCH NHÁC -GIA ĐÌNH TRONG BIẾN ĐỘNG – VỠ MỘNG VỚI LÃNH TỤ – LÀN SÓNG ĐÌNH CÔNG 1976, SA THẢI, ĐÀN ÁP – CÔNG AN TRẢ THÙ – ĐẾN VỚI TRÍ THỨC – LIÊN MINH TRÍ THỨC, CÔNG NHÂN, GIÁO SĨ – KHÔNG MUỐN LẬT ĐỔ, CHỈ CẦN ĐỘC LẬP – SAU 16/8/1980: BA TUẦN TỔNG ĐÌNH CÔNG – CÔNG ĐOÀN ĐOÀN KẾT CHÍNH THỨC RA ĐỜI – BREZHNEV LO NGẠI – LÃNH ĐẠO LIÊN XÔ GIÀ YẾU – UỐNG THUỐC VỚI VODKA – CUỐI ĐỜI PHÙ PHIẾM – CHE ĐẬY BỆNH TẬT – BỘ BA ANDROPOV, GROMYKO, USTINOV – CHỈ THỊ BA LAN PHẢN CÔNG – MOSCOW MẤT KIÊN NHẪN – TẤN CÔNG QUÂN SỰ? – CUỘC CÁCH MẠNG TINH THẦN – ÔN HÒA: “ĐỪNG ĐỐT ĐẢNG ỦY, HÃY LẬP ỦY BAN” – ĐÒI HỎI VỪA PHẢI – TIN ĐỒN “TRAI GÁI” – 1981: LIÊN XÔ CHỜ BA LAN RA TAY

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-6.html

*

*

Cách mạng 1989 (Kỳ 7)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

Dịch giả:  Phan Trinh

30/06/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-7.html

CHƯƠNG 5

“NỘI CHIẾN” – THIẾT QUÂN LUẬT Ở BA LAN

DÙNG TƯỚNG – JARUZELSKI: QUÝ TỘC BỊ LƯU ĐẦY – “TÔI VỚI HỌ LÀ MỘT” – JARUZELSKI ĐỤNG WALESA – KẾ HOẠCH THIẾT QUÂN LUẬT – CÔNG ĐOÀN BỊ ĐỘNG – BẮT BỚ TRONG ĐÊM 12/12/1981 – TRẤN AN – XIN LIÊN XÔ GỬI QUÂN CAN THIỆP – LIÊN XÔ ĐỨNG NGOÀI – CÔNG ĐOÀN TÍNH SAI – TUYÊN CHIẾN VỚI NHÂN DÂN

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/06/cach-mang-1989-ky-7.html

*

*

CÁCH MẠNG 1989 (Kỳ 8)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

Dịch giả:  Phan Trinh

01/07/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-8.html

CHƯƠNG 6

VẾT THƯƠNG RỈ MÁU – AFGHANISTAN

SẬP BẪY Ý THỨC HỆ – TÂY SỢ CÔNG, ĐÔNG SỢ HỒI – ĐẢO CHÍNH 1978 – CÁCH MẠNG LÂM NGUY – LIÊN XÔ ĐỔI Ý – CHỈ ĐÁNH NHANH RÚT GỌN – TƯỚNG LĨNH CAN NGĂN – “CHỈ BA HAY BỐN TUẦN” – DIỆT AMIN, DỰNG KARMAL – SA LẦY, MẤT MÁU

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-8.html

*

*

CÁCH MẠNG 1989 (Kỳ 9)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

Dịch giả:  Phan Trinh

02/07/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-9.html

CHƯƠNG 7

QUYỀN LỰC DÂN ĐEN – VACLAV HAVEL

GIẤC MƠ JEANS XANH – CAM CHỊU VÀ NỔI DẬY – BẮT BAN NHẠC – HUSAK KHÔNG ĐÙA – HAVEL LÊN TIẾNG – HIẾN CHƯƠNG 77 RA ĐỜI – HIỆP ƯỚC HELSINKI: “VŨ KHÍ” NHÂN QUYỀN – NHÓM QUAN SÁT HELSINKI – VACLAV HAVEL – SỰ THẬT VÀ TÙ TỘI – CỨ NHƯ LÀ – QUYỀN LỰC DÂN ĐEN – TRÍ THỨC DẤN THÂN – BỚT MAN RỢ LỘ LIỄU – “BƯỚC ĐI SAI, LỘ TRÌNH ĐÚNG” – KUNDERA ĐI, HAVEL Ở – TRÍ THỨC PHẢN KHÁNG: KHỐI U CỦA CHẾ ĐỘ – QUÊN TỰ DO, ĐƯỢC ĂN – XE HƠI: NHẤT CÁN BỘ, NHÌ BẠN CÁN BỘ – VŨ ĐIỆU TỬ THẦN: CỘNG SẢN VÀ ĐÔ-LA MỸ – TƯ BẢN LÀ THUỐC PHIỆN – KINH TẾ VỊ QUÂN SỰ: LẤY SỐ BÙ CHẤT – QUỐC PHÒNG: 40% NGÂN SÁCH

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-9.html

*

*

Cách mạng 1989 (Kỳ 10)

Victor Sebestyen, Pantheon Books, New York, 2009

Dịch giả:  Phan Trinh

03/07/2015

http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-10.html

CHƯƠNG 8

“CUNG THỦ TÀI BA” – CẬN KỀ TẬN THẾ

BÍ MẬT 1983 – ANDROPOV LÊN NGÔI, CẢNH GIÁC – SỨC KHỎE SUY NHƯỢC – ĐIỆP VỤ “RYAN” – TIN GIỚI QUÂN SỰ HƠN CHUYÊN GIA – SẴN SÀNG LÂM TRẬN – KAL-007, CHUYẾN BAY ĐỊNH MỆNH – BẮN HẠ MỤC TIÊU – TRỐN TRÁCH NHIỆM, DỐI TRÁ – KHẨU CHIẾN NÓNG BỎNG – TRÍ LỰC SUY TÀN – TẬP TRẬN NHƯ THẬT – BÁO ĐỘNG ĐỎ – THÁO NGÒI

XEM TIẾP : http://boxitvn.blogspot.com/2015/07/cach-mang-1989-ky-10.html

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 44 other followers