Archive for Tháng Bảy, 2010

CON VUÔNG MẸ MÉO (Các bà mẹ VN biểu tình tại Pháp)

Tháng Bảy 31, 2010

Con vuông mẹ méo  

Huỳnh Tâm
Đăng ngày 31/07/2010 lúc 15:13:37 EDT

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4976

Ngày 10-6-2010 vừa qua, tại quảng trường Bastille, quận 4 thủ đô Paris, Pháp Quốc, người ta thấy có nhiều bà mẹ trẻ Việt Nam bồng bế con thơ xuống đường, yêu cầu nhà nước Pháp hợp thức hoá qui chế định cư. Những cuộc xuống đường này không phải tình cờ, họ biết chính phủ Pháp không thể trục xuất họ ra khỏi nước một khi chứng minh được đã sinh con tại Pháp. Họ còn biết sẽ có nhiều hội đoàn thiện nguyện Pháp bênh vực và che chở họ nếu bị đàn áp.

Có lẽ đây là lần đầu tiên di dân Việt bất hợp pháp xuất hiện công khai trong những cuộc xuống đường đòi hợp thức hoá sự hiện diện của họ trên đất Pháp. Trước đó, được các hội đoàn thiện nguyện và nhân đạo khuyến khích và hỗ trợ, cộng đồng người Châu Phi da đen, Ả Rập và Trung Quốc đã nhiều lần xuống đường đòi hợp thức hoá tình trạng nhập cư bất hợp pháp của họ và yêu cầu chính phủ Pháp cung cấp giấy tờ để tìm việc và hội nhập. Lần này, những bà mẹ trẻ Việt Nam đã bồng bế con thơ xuống đường, như những bà mẹ trẻ Trung Quốc và Châu Phi đã từng làm trước đó, vì biết rằng lực lượng an ninh sẽ không đàn áp và các cơ quan truyền thông và báo chí sẽ bênh vực họ. Cái không may của đoàn người này là đã xuống đường đòi quyền lợi vào một thời điểm không thuận lợi, do đó đã diễn ra trong sự dửng dưng, không được cơ quan truyền thông nào chú ý tới. Nước Pháp đang bị suy thoái kinh tế và ưu tư của các công đoàn và dư luận tập trung vào dự luật cải cách tuổi về hưu. Chỉ thấy xe cộ ồ ạt qua lại và khách bàng quan tò mò đứng nhìn.

Tuy vậy, cuộc xuống đường này đã được nhóm phóng viên tự do người Việt chúng tôi chú ý. Sự chú ý của chúng tôi không nhắm vào đoàn người xuống đường mà số trẻ thơ bị mang xuống đường làm dụng cụ thương thuyết. Trẻ em, tuổi từ một tháng đến một năm được bồng bế trên tay hay nằm trên những xe đẩy với hơn 45 phụ nữ, tuổi từ 20 đến 30, có lẽ là mẹ của những trẻ em này. Không hiểu số trẻ em này được sinh ra vào lúc nào và trong những điều kiện nào trên đất Pháp?

Dĩ nhiên không thấy xuất hiện bóng một nam nhân Việt Nam nào, mặc dù những trẻ em này đều da vàng, tóc đen, mũi tẹt. Những người cha đã ẩn mặt để cho vợ, người tình xuống đường đòi quyền lợi và sẽ xuất hiện khi thành công và lẩn trốn khi thất bại. Cách tính toán này quả là khôn ngoan cho kẻ ném đá giấu tay, nhưng không danh dự gì cho người trục lợi. Từ muôn đời bà mẹ Việt Nam nào cũng là những kẻ thiệt thòi, chỉ biết hy sinh và chịu đựng. Lần này sự chịu đựng diễn ra tại Châu Âu, trên quảng trường Bastille, thủ đô nước Pháp, khiến sĩ diện và danh dự cộng đồng người Việt tị nạn trên đất Pháp bị xúc phạm.

Từ năm 1975 đến nay, cộng đồng người Việt tị nạn đã xây dựng được cho mình một hình ảnh tốt đẹp trong dư luận người Pháp: những con người đàng hoàng, tôn trọng pháp luật, bầu cử danh dự, cần cù làm việc, biết khuyến khích con cái học hành, và nhất là không làm mất danh dự tập thể. Nhưng từ một vài năm trở lại đây, phong trào di dân bất hợp pháp của người Việt trên đất Pháp đã làm hoen ố hình ảnh này. Dư luận người Pháp không phân biệt cộng đồng người Việt di dân sau 1975 và hiện nay, họ gọi chung là người Việt bất hợp pháp (les clandestins vietnamiens). Nhất là sau vụ một phụ nữ Pháp bị bắt quả tang đưa người Việt sang Anh và những thiên phóng sự về những nhóm người Việt bất hợp pháp trong các khu rừng miền Bắc nước Pháp chờ dịp sang Anh trồng cần sa.
Thực ra những phụ nữ này chỉ là nạn nhân của một đường dây đưa người bất hợp pháp vào đất Pháp mà ai cũng biết có sự đồng loã, nếu không muốn nói là có sự tiếp tay của Tòa đại sứ Việt Nam tại Pháp. Nếu không được cấp giấy thông hành, làm sao những người này qua được nước Pháp? Nếu không có nơi chứa, làm sao những người này có thể ăn ở và mang thai rồi sinh con đẻ cái? Qua điều tra, chúng tôi được biết họ là nạn nhân của một đường dây có tổ chức do nhà nước chỉ đạo: Xuất khẩu lao động. Những phụ nữ này, sau khi nộp đủ thứ tiền cho các cơ quan dịch vụ, được đưa sang Pháp. Sau khi đến Pháp, những phụ nữ này mới biết mình bị lừa thì đã quá muộn. Họ được đưa đi ẩn náu trong các thành phố ngoại ô phía Đông Paris để chờ được đưa sang Anh định cư. Khi đường dây sang Anh bị đổ bể, những phụ nữ này được khuyến khích sinh con đẻ cái tại Pháp để được hưởng quyền định cư hợp pháp. Nói họ nhẹ dạ thì có hơi quá đáng, nhưng rõ ràng họ là nạn nhân của một đường dây buôn người do nhà nước cộng sản Việt Nam tổ chức. Nếu không có tổ chức thì làm sao hơn 45 phụ nữ sàn sàn cùng lứa tuổi, không biết ở đâu và có con cùng độ tuổi đến gặp nhau tại quảng trường Bastille đúng ngày, đúng giờ để biểu tình đòi quyền lợi? Còn cha của những em bé này là ai nếu không phải là những thanh niên Việt Nam được đưa sang Pháp bằng đường du lịch hay du học sinh, và muốn được hợp thức hoá giấy tờ để ở lại?

Hay tin người Việt xuống đường tại Quảng trường Bastille, Paris, ngày 10/6/2010 đòi hợp thức hoá tình trạng cư trú, nhóm phóng viên chúng tôi liền đến tìm hiểu và thăm hỏi sự tình.
Qua trao đổi, người dân Paris cho biết, họ rất thắc mắc: Nước Việt Nam đang phát triển không thua gì Trung Quốc, tại sao lại có tình trạng người Việt di dân bất hợp pháp ra nước ngoài? Người Việt nổi tiếng thương con và tự trọng, tại sao lại đem chúng xuống đường yêu sách đòi hợp thức hoá một tình trạng bất hợp pháp?
Một người Việt sống lâu năm ở Paris thì phát biểu: Kẻ mù cũng thấy sau lưng những người này có bàn tay của đảng cộng sản Việt Nam xúi gịuc, họ là nạn nhân của bọn mafia nhà nước.

Xưa nay văn hoá Việt Nam có rất nhiều hình ảnh lưu truyền nói về tình mẫu tử, như câu ca dao: “Con dại cái mang”. Con làm điều bậy thì cha mẹ gánh chịu. Thế mà từ ngày chế độ cộng sản được thiết đặt trên toàn lãnh thổ Việt Nam thì câu ca dao này đã đổi thay ngược dòng đời: “Cái dại con mang”. Cha mẹ làm điều bậy thì con gánh hết, âu cũng do xã hội Việt Nam ngày nay đổi thay không thể chấp nhận được.

Những bà mẹ Việt thời nay, bồng bế con thơ đi biểu tình tại Paris có những suy nghĩ không chính xác và thiếu thực tế về xã hội phương Tây, nhất là về hội nhập. Họ cứ tưởng rằng nếu sinh con đẻ cái trên đất Pháp thì sẽ được hợp thức hoá tình trạng cư trú tức khắc, do đó đã xuống đường yêu cầu nhà nước Pháp Quốc hiểu hoàn cảnh và lắng nghe tiếng nói của họ.

Trước đây, chúng tôi đã từng chứng kiến nhiều đoàn biểu tình của người di dân bất hợp pháp gốc Châu Phi, xin hợp thức hoá định cư, nhưng chẳng mấy ai có được kết quả.
Phải biết rằng luật di trú Pháp đã rất rõ ràng: một người con có cha mẹ thuộc diện di dân bất hợp pháp muốn hợp thức hoá giấy tờ phải chờ đến năm 18 tuổi mới được làm đơn xin gia nhập quốc tịch. Những bậc cha mẹ phải làm gì trong suốt 18 năm chờ đợi đó? Và cũng nên biết rằng, trong suốt 18 năm đó, khi bị xét hỏi và khám phá cha mẹ, kể cả đứa con, không có giấy tờ hợp lệ thì cả gia đình có thể sẽ bị bắt giữ để trục xuất về nước liền tức thì. Trong trường hợp may mắn, sau khi đứa con đã đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) và được chấp thuận làm công dân nước Pháp thì bà mẹ đã ngoài 40 tuổi, tuổi rất khó tìm việc tại Châu Âu vì xem như hết sức lao động. Không lẽ sau 18 năm chờ đợi, tương lai của mẹ lẫn con lại bấp bênh đến thế sao ?

Chân dung bà mẹ
Mẹ Việt Nam thông qua tập quán ở quê nhà, là mẫu mực của sáng tạo, người lập ra mái ấm gia đình và kỷ cương sống, người con chào đời thụ hưởng thương yêu, hiếu đức, lương thiện. Bà mẹ ấy là chân dung của đức cần cù nhẫn nại. Mẹ là sự sống của từng khắc giây hy vọng, cho con cái thành nhân chí mỹ, mẹ cho con tình yêu vào đời rất vĩ đại.
Cũng có trường hợp đớn đau như những bà mẹ trẻ Việt Nam xuống đường tại Paris đòi quyền lợi. Tương lai của họ sẽ như thế nào? Qua tìm hiểu sơ lược chúng tôi được biết một số những bà mẹ trẻ này không quan tâm gì đến tương lai của con cái họ. Các bà chỉ mong sao có giấy tờ để thực hiện những dự án làm giàu khác, như kiếm chồng có địa vị, có tài sản để được sống trong sự sung túc và giàu sang. Không ai có dự án đầu tư nào cho con cái, các bà mẹ đều nói con cái họ sẽ được nhà nước Pháp nuôi nên không phải lo lắng gì cho lắm. Trước mắt chúng tôi chỉ thấy các em bé này chuẩn bị tiếp nhận sự bất hạnh mà các bà mẹ định dành cho. Ít ai tự hỏi tương lai của những em bé này ra sao và sẽ nghĩ gì về những toan tính của mẹ dành cho mình ?

Sau lưng bồng bế con thơ xuống đường
Trong buổi biểu tình, sự chú ý của chúng tôi hướng về hai phụ nữ, một người trạc tuổi 30, bồng một con nhỏ, và người đứng kế bên, ăn mặc thanh lịch, tay cầm cây dù màu thiên thanh che cho em bé.
Tôi đến gần và gợi chuyện với người phụ nữ ăn mặc thanh lịch. Quan sát kỹ, tôi thấy người này không phải là người nhập cư bất hợp pháp vì dáng người sang trọng, ăn mặc đúng kiểu phương Tây, trang điểm thanh lịch, nhưng khuôn mặt được che lấp bởi bảy lớp phấn dầy nên trông rất trẻ. Thêm vào đó, vành môi của bà ta đươc tô đen một cách gợi tình. Những nam thanh niên yếu bóng vía sẽ bị lửa tình thiêu đốt khi bị tia chớp từ đôi mắt huyền chiếu vào.
Càng gợi chuyện, tôi càng ngạc nhiên. Sự khám phá về người phụ nữ này rất là lý thú. Thoạt đầu tôi gọi bằng cô xưng tôi, sau khi biết tuổi của nhau cách xưng hô trở nên thân thiện hơn, chúng tôi gọi nhau bằng bác và cháu rất là thân mật.

Tôi hỏi:
— Cháu Hồng à, bằng cách nào cháu biết địa chỉ này mà đến tham dự biểu tình? Ai chỉ dẫn cháu yêu cầu nhà nước Pháp hợp thức hoá thủ tục định cư?
Suy nghĩ một hồi, với một giọng nói ngồ ngộ miền Nam, cô Hồng chậm rãi nói:
— Thưa bác, câu hỏi này rất khó trả lời, nhưng cháu tin bác là không có ác ý gì, bởi thế cháu không thể nào nói dối với bác. Thưa bác, cuộc biểu tình hôm nay là do cháu tự nguyện tổ chức. Còn những chị em từ xa đến đây tập hợp cũng do cháu đài thọ mọi chi phí như di chuyển và ăn trưa. Sau buổi biểu tình này cháu không hy vọng nhà nước Pháp đồng ý chấp nhận hợp thức hoá định cư. Tuy nhiên đây là tiếng chuông báo hiệu trước, lần sau cháu sẽ tổ chức rầm rộ hơn.

Tôi không hiểu nổi. Nguyên nhân nào xuất hiện một cô Hồng tại Paris và ai đứng sau lưng cuộc biểu tình này? Khi vừa đến đây, tôi đã nghi ngờ thực chất của cuộc biểu tình này vì chỉ thấy toàn người Việt và không có một hội đoàn thiện nguyện hay nhân đạo người Pháp nào. Sau khi dò hỏi, tôi biết chắc chắn có bàn tay hay âm mưu nào đó của chính quyền cộng sản Việt Nam ở đằng sau.

Muốn tìm hiểu một mẫu người xa lạ và huyền bí như cô Hồng, quả thật không dễ. Tôi chỉ biết để lộ sự chân tình và để cho cô Hồng tự nguyện kể lại từng hành động, từng sinh hoạt và cuộc đời riêng. Để bắt đầu tôi gợi ý bằng một câu hỏi, như một người thân đứng tuổi:
— Cô Hồng có lẽ đã sinh sống ở Pháp từ lâu lắm rồi phải không? Công ăn việc làm có khó nhọc không? Sinh hoạt gia đình có bị chật vật gì không? Còn an sinh xã hội đối với chồng con thế nào, nếu trung bình thì bác đây vui mừng cho cháu, cũng như quý chị em đang biểu tình?

Cô Hồng nhìn về phía xa xăm thổ lộ:

— Thưa bác, thực ra cháu chỉ vừa đến Paris hơn được một năm. Khi còn ở quê nhà cháu đã có mang thai rồi, đến Pháp mới sinh được một con trai, hôm nay con của cháu đã được 8 tháng. Quê cháu ở Sài Gòn, trước nhà thờ Huyện Sĩ, đường Ngô Tùng Châu.
Tôi liền ngắt lời của cô Hồng:
— Nhà của bác ở đầu hẻm Ngô Tùng Châu đó cháu ạ.
Đôi mắt cô Hồng như bừng sáng, khuôn mặt thể hiện sự thiện cảm và gương mặt của cô Hồng để lộ sự chân thật. Quả nhiên bản tính con người đều mang tính thiện, nhất là khi gặp được người đồng hương hay láng giềng ở xứ lạ, cô Hồng để lộ một niềm vui khôn tả, nói tiếp:
— Thưa bác, cháu nhớ ra rồi, căn nhà ấy lúc nào cũng tấp nập bạn bè ra vào.
Rồi chuyển qua những câu hỏi của tôi, cô Hồng nói tiếp:
— Thưa bác, cháu không ngại nói ra đây để bác tường. Cháu nguyên là vợ bé thứ mấy, trẻ tuổi nhất của một nhân vật hàng đầu ban lãnh đạo trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Cháu ăn ở với người này cũng vì tiền mà thôi, chứ tình yêu gì với một lão già! Đối với cháu, một lão già nua thì khó ăn cỏ xanh một cách tự nhiên. Lúc ấy bất ngờ cháu mang thai với một người tình cũ, thế là cháu báo tin cho lão tình già biết, đã cấn thai một tháng. Lập tức lão tình già tin tưởng có thêm vốn lời, liền cho cháu đi du lịch sang Pháp rồi ở luôn từ đó đến nay. Cháu sống trong một biệt thự lộng lẫy tại Chatou, ngoại ô phía tây cách Paris 30 km, có ba người hầu và một người làm vườn. Đặc biệt có một chị người gốc Hoa, làm tài xế và thông dịch, nói thông thạo bốn thứ tiếng, Quan Thoại, Việt, Anh và Pháp.

Lòng tôi bồi hồi thật lâu, không biết có nên tin những lời nói này, thật là bán tín bán nghi. Lời nói có vẻ chân thực, nhưng không biết lấy gì đo lường sự thành thật của người phụ nữ trước mặt! Tôi chỉ nghe trong lòng vang lên sự bực tức: Con mẹ đảng cộng sản chúng nó, đục khoét đất nước Việt Nam, bán đất, bán dân, bán rừng, bán biển và tham nhũng để lấy tiền nuôi một con bồ nhí. Thảo nào đất nước Việt Nam ngày nay không giống ai cả!

Tôi chợt định thần trấn tĩnh lại trước một cô Hồng, đương là phu nhân nhỏ của một nhân vật lãnh đạo trung ương của đảng cộng sản Việt Nam, cũng là kẻ nắm quyền sinh tử trên tay 86 triệu dân Việt Nam. Như vậy cô Hồng không phải là một người phụ nữ chân chất, bởi cô đã biến lão tình già của đảng cộng sản thành nạn nhân của kế mỹ nhân, do đó lời nói của cô Hồng này rất là khó tin. Đang lúc thâm tâm còn phân vân, tôi liền quyết định tránh xa kẻ xấu để cho tâm hồn được bình an và không muốn nghe tiếp một lời nào từ một người xuất thân từ chế độ xã hội chủ nghĩa này ra.
Sau một hồi nhìn trời mây nước, giả vờ quan sát những người biểu tình, mãi một lúc lâu sau tôi mới lấy quyết định, thà chịu bẩn lỗ tai để khám phá thâm cung bí sử của đảng cộng sản Việt Nam hơn là nhắm mắt bịt tai trước sự thật. Hơn nữa đây cũng là một dịp hiếm hoi để tìm hiểu đảng cộng sản nên không thể làm ngơ.

Sau buổi biểu tình, tôi mời cô Hồng và người đi theo dùng cơm chiều. Tôi nghĩ, muốn tìm hiểu mẫu người phụ nữ có lớp áo bí ẩn này thì nên tiếp xúc tại nhà hàng ở trước quảng trường Bastille. Cô Hồng đồng ý chấp thuận lời mời của tôi. Vào nhà hàng, tôi nhờ người chạy bàn cho ba phần ăn bình thường trên thực đơn, kèm theo rượu vang. Cô Hồng liền phất tay và xin phép người chạy bàn đổi thực đơn theo ý của cô. Người đi theo liền gọi khai vị, tiếp theo thực đơn chính là hải sản và tráng miệng.

Tôi liền hỏi:
— Cô Hồng có để ý thực đơn của em bé không ?
Cô ta đáp:
— Thưa bác, yên chí cháu đã có thực đơn chính hiệu cho bé rồi.
Tôi cười mỉm:
— Thì ra cháu bé đã có thực đơn thiên nhiên rất tốt đấy, chính ở điểm này thôi đã nói lên tình thâm mẫu tử rồi. Đúng là cha mẹ thương con như biển trời lai láng, dù sau này cha mẹ có lỗi lầm gì người con cũng tha thứ tất cả.

Trong buổi cơm, sự thân mật đến một cách tự nhiên, lời ăn tiếng nói không còn đắn đo suy nghĩ như trước. Tôi trình bày về khía cạnh nhân đạo của nước Pháp để cô Hồng có khái niệm và tránh những điều không hay, và cũng nhân thể báo tin cho cô Hồng đừng nghe những gì từ kẻ xúi giục, để rồi mất thời gian mà không đem lại kết quả.
— Cô Hồng ạ, nói về đất nước Pháp thì họ có tinh thần nhân đạo nhất thế giới, nhưng năm tháng ngày dài cả thế kỷ nhân đạo cũng đã đến thời kỳ cùng cạn, dù đất nước Pháp lúc nào cũng cổ vũ nhân dạo, cho nên tất cả những ai muốn lên làm lãnh đạo quốc gia cũng thực hiện theo ý nguyện của dân. Nhà nước Pháp đã từng thành công chương trình di dân, vì trước đây tất cả người di dân quyết tâm hội nhập, cùng với người dân bản xứ, họ thi nhau đóng góp nền kinh tế phồn thịnh, trong số đó có cộng đồng Việt Nam. Tính từ con số 5 cuối, như 1945 lính thợ, 1955 hồi tịch, 1975 di dân. Ở thời điểm 1975 tại Pháp mới thực sự có mặt cộng đồng người Việt Nam, đến nay trên dưới 450.000 người Việt định cư tại Pháp (Theo tư liệu của bộ Nội Vụ Pháp Quốc), kể cả số người nhập cư lậu. Tôi được biết Chương trình di dân cũng đã thay đổi theo thời gian, nay không còn rộng lượng và bao dung như ngày xưa nữa, trong thập niên 1990.

Theo Bộ Di Trú Pháp cho biết, truyền thống nhân đạo của chính phủ Pháp đang bị xét lại, do phía người ngoại quốc có những trá hình nhập cư bất hợp pháp, vượt quá đường ranh nhân đạo mà luật pháp đã quy định.
Để dẫn chứng, tôi nói đến nhiều trường hợp nhập cư bất hợp pháp khác nhau như:
1. Chương trình hôn nhân và bảo lãnh thân nhân.
2. Chương trình bảo lãnh bệnh nhân nan trị.
3. Du lịch và thăm viếng thân nhân.
Trong ba chương trình trên, yếu tố nhân đạo bao trùm lên tất cả và người nhập cư bất hợp pháp đã lợi dụng yếu tố này để nhập cư bất hợp pháp. Như một người vào nước Pháp xin uống một hớp nước, thấy nguồn nước trong lành người đó ở lại luôn. Không những thế họ còn bắt buộc chủ nhà nuôi ăn và nuôi ở, và còn phải trả tiền bồi dưỡng ở nhà nuôi con. Thử hỏi có gia đình nào, chứ đừng nói quốc gia nào còn hứng thú để tiếp nhận những loại di dân như thế không? Ngày nay chính quyền Pháp đã đặt ra rất nhiều tiêu chuẩn nhập cư.

Từ thập niên 1990 trở lại đây, nước Pháp đã phải đối đầu với làn sóng di cư kinh tế, qua nhiều dạng bất hợp pháp khác nhau. Điển hình là chương trình hôn nhân, mỗi năm Pháp cho nhập cư ít nhất 2.530 người, trong số đó có người Việt Nam. Rồi kéo theo một đoàn công-voa bảo lãnh thân nhân, làm số người nhập cư lên tăng bội.
Chương trình bảo lãnh bệnh nhân nan trị khoảng 1.360 người, đa số đã chọn ở lại và bảo lãnh thân nhân sang chăm sóc, ăn theo v.v.
Đặc biệt là chương trình du lịch và thăm viếng thân nhân tại Pháp. Tạm tính mỗi năm có trên 45.500 người Việt sang thăm nước Pháp, trong số đó số người Việt Nam ở lại Pháp không phải là nhỏ, chuyến du lịch nào cũng báo cáo danh sách mất tích. Phần lớn những người đi du lịch và quyết định ở lại này cấu kết với thành phần nhập cư bất hợp pháp mà sau lưng là những tổ chức hoạt động xã hội trá hình như hội đoàn thiện nguyện, tín ngưỡng v.v., có tổ chức là cánh tay nối dài của tổ chức mafia Việt Nam. Một số người Việt Nam du lịch đến Pháp tìm mọi cách để chứng minh là có thân nhân tại Pháp rồi ở lại, trừ khi không có ai bảo đảm mới trở về cố quốc. Sự xuất hiện của họ từ phía các quốc gia nghèo, vì họ khao khát đổi đời, nhưng đại thể vô tình lại nuôi béo mập mafia.
Du lịch để tạm cư ở Pháp cũng không phải là cách hay, họ lấy quyết định ở lại Pháp do suy nghĩ đơn thuần, lúc nào họ cũng tìm cơ hội để lập gia đình với người đồng hương hay bất cứ với màu da khác, nếu là người Pháp thì bảo đảm hơn, bởi vậy họ trả giá cho cuộc đời riêng tư rất lớn để rồi tâm hồn không bao giờ yên lặng.

Khi được Bộ Di Trú chấp thuận cho định cư chinh thức, họ lập tức chuẩn bị ly hôn. Cũng có những hôn nhân sống bằng hồ sơ, nhà ai nấy ở, chờ đúng năm tháng theo luật pháp quy định, lúc ấy họ mới chuẩn bị hồ sơ ly hôn. Có những phiêu lưu khác, phụ nữ tìm nam giới để cấy giống, bởi họ không còn con đường nào khác để được ở Pháp. Cũng như vừa qua rất đông người Việt du lịch lấy Pháp làm quá cảnh, rồi đến cảng Calais vượt biên vào Anh Quốc để trồng cần sa. Ôi sao mà làm đời nghèo lắm xót xa !

Nói chung, người Việt không am tường luật di trú của Pháp Quốc, cho nên suy nghĩ đơn giản, như khi được ở Pháp rồi thì tìm được công ăn việc làm và có điều kiện sẽ bảo lãnh thân nhân tại quê nhà. Thực tế tất cả những tính toán trên của người muốn ở lại Pháp hoàn toàn sai, vì Pháp không thể tạo công ăn việc làm cho thành phần nhập cư bất hợp pháp. Nhất là kinh tế toàn cầu đang suy thoái, Pháp vẫn chưa ra khỏi sự trì trệ kinh tế như hiện nay. Nước Pháp lo cho dân họ đã là một gánh nặng và người dân Pháp đang gánh nền kinh tế quốc gia với những phiền muộn nên sẽ không tha thứ cho bất cứ chính quyền hay cấp lãnh đạo nào nuôi ăn, nuôi ở một kẻ lạ không thân thuộc và không đóng góp nào vào kinh tế Pháp.

Tôi nói tiếp:
— Cô Hồng à, tôi trình bày đơn sơ, như một báo cáo của kẻ ít biết về nước Pháp, tôi hơi lắm chuyện xin cô cảm thông.
Miệng tôi nói, mắt quan sát để tìm phản ứng của cô Hồng, tuyệt nhiên thấy cô bình thản, hình như vô tư. Tôi thấy cũng lạ, hỏi:
— Cô Hồng, có cảm tưởng nào, qua câu chuyện tôi vừa trình bày không ?
Cô Hồng nhìn bâng quơ ra quảng trường Bastille, đáp:
— Thưa bác, cuộc phiêu lưu của cháu hoàn toàn khác với đồng hương vì cháu không hề chuẩn bị. Hôm nay cháu chỉ biết bảo vệ quyền sở hữu vì tương lai con của cháu, còn việc xin định cư thì cháu có cách khác. Cũng có thể cháu thong thả chịu được 20 năm hay hơn nữa với một gia tài đã ổn định.
Tôi nghe cô Hồng nói đến gia tài ổn định, liền không thể bỏ cơ hội, hỏi:
— Cô Hồng à, dù có gia tài thế nào ngồi ăn không cũng phải lở.
Cô Hồng không do dự, đáp:
— Thưa bác, bác không hiểu đâu, tài sản của cháu là đồ thừa thãi của lão tình già, cháu lấy tiền của lão cũng vì đánh mất hạnh phúc cá nhân nay mới có được, những thứ tiền tham nhũng đó không phải là mồ hôi nước mắt của lão tình già. Cháu không lấy tiền của lão tình già thì người khác cũng lấy vậy thôi. Tuy cháu có độc ác với lão ấy thực, nhưng bù lại cháu âm thầm thực hiện chương trình khuyến học từ tiểu học đến trung học tại quê nhà, mỗi năm cháu phải chi trên 50.000 euros. Thà cháu bất nhân với một kẻ, nhưng cháu lương thiện với muôn người.
Bác xem, sở dĩ cháu có được như vậy là vì phải trả giá bằng trinh tiết đời con gái và lão tình già cũng không mất mát gì bởi tiền đó do tham nhũng. Cháu rất vui là lão tình già vẫn đinh ninh là bản sao y chính hiệu một mặt con. Bây giờ mỗi tuần lễ, lão tình già cứ phải rót tiền vào ngân hàng tài khoản công ty xuất nhập khẩu và tài khoản riêng của cháu. Hiện cháu sử dụng đồng tiền đó bằng cách mua bất động sản ở hải ngoại.

Tôi rất kinh ngạc khi cô Hồng thổ lộ về mãnh lực đồng tiền, liền trách:
— Cô Hồng không suy tính kỹ, tại sao lại nói toạc móng heo như vậy, không sợ đảng cộng sản hay sao? Phải chăng nay cô vô tình hay cô ý làm trung gian rửa tiền cho đảng cộng sản Việt Nam?
— Thưa bác, sợ cái gì! Bọn cộng sản đều cá mè một lứa cả lũ! Thời phong kiến một ông vua muôn trăm ngàn bà vợ, dân đã khổ lắm rồi. Còn thời nay dân khổ cao ngất trời xanh cũng do đảng cộng sản cha và con thi nhau làm vui, ngự trị trên đầu dân tộc Việt Nam, mỗi ông đảng tự xem là vua chúa quyền hành bá đạo, tranh nhau cướp tài sản của dân giữa ban ngày, tạo ra các công trình để tham nhũng, buôn bán trẻ em gái tơ, xuất khẩu lao động. Đảng cộng sản Việt Nam khuyến khích đảng viên vay tiền nhà nước để kinh doanh, rồi quỵt luôn vốn. Đây là hình thức cướp tài sản của quốc gia. Nếu cháu được làm trung gian rửa tiền cho đảng cộng sản Việt Nam thì là trúng số rồi. Rất tiếc là họ tín nhiệm thân nhân và tư vấn rửa tiền, cùng những tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam trên thế giới, ngoài ra còn có một số tổ chức tôn giáo nhận rửa tiền cho họ.

Không ngờ trong người cô Hồng chất chứa một vốn phẫn nộ. Tôi liền hỏi qua hướng khác:
— Cô Hồng đã có dự định ngày nào để tổ chức biểu tình xin hợp thức hoá thủ tục định cư ?
Cô Hồng thở một hơi dài rồi bảo người phụ nữ đi theo:
— Nhờ chị Lình bồng bế cháu đi lấy xe, để chuẩn bị về.
Lúc này tôi mới biết tên của người phụ nữ gốc Hoa là Lình và hiểu được ý của cô Hồng muốn nói những lời trong tâm khảm, nhưng không cho cô Lình biết. Khi cô Lình ra khỏi cửa thì cô Hồng mới nói nhỏ với tôi:
— Thưa bác, một lần là đã ngã ngựa rồi bác ạ, cháu bị chị Lình này xui khiến đến nỗi cháu phải tự ái dân tộc, đành đứng ra tổ chức. Không ngờ tinh thần của cháu bị người lợi dụng, bây giờ cháu mới biết thì đã muộn, tên Lình này cháu phải cho nghỉ việc trong tuần này.
Cháu cũng lo ngại không biết từ đâu tên Lình này có một danh sách của chị em sinh con nhỏ tại Pháp trên trăm người Việt lẫn Hoa. Cháu có hỏi tên Lình: Từ đâu có danh sách này, thì Lình bảo là những người Việt Nam đồng ký tên trong danh sách nhờ chúng ta vận động định cư.
Từ đó cháu nghi ngờ chính là sứ quán Trung Hoa và Việt Nam có mưu đồ nào đó. Có thể cuộc biểu tình hôm nay do cộng sản Việt Nam đã thành công trên mặt quảng cáo, ít nhất họ tạo ra một viễn tượng có hy vọng và đầy hứa hẹn cho những người Việt thiếu thông tin về di trú tại Pháp Quốc, cũng là cơ hội để mafia Việt Nam thử nghiệm thị trường Mẹ Bồng Con.

Sau buổi cơm thân mật cô Hồng đưa thẻ ngân hàng Thuỵ Sĩ cho người hầu bàn tính tiền. Tôi ngạc nhiên liền nói một cách rất kín đáo:
— Tôi mời, nhưng cháu lanh tay trả tiền trước, cảm ơn hẹn dịp khác.
Miệng tôi nói chuyện, nhưng mắt thoáng qua thấy thẻ ngân hàng không phải tên Hồng. Rồi liền nói qua chuyện khác:
— Năm nay cô Hồng có dự định đi nghỉ hè ở đâu không?
— Thưa bác, cháu không có dự định nghỉ hè. Tuy nhiêu mỗi tháng cháu ở mỗi nơi, tháng này ở Pháp, tháng sau ở thủ đô Berne Thuỵ Sĩ. Mỗi lần như vậy thì cả 3 chị làm việc cùng đi theo.

Cô Hồng còn cho biết nguyên là phó giám đốc của công ty xuất nhập khẩu Vinacon với cổ phần trong tay 49%. Cô Hồng đã giãi bày hết những việc có thể thật, nhất là sự tham nhũng của tầng lớp lãnh đạo đảng viên cộng sản Việt Nam.
Trước mắt chúng tôi có thể dự ước được về cô Hồng có sở hữu tài sản như một lâu đài tại Chatou Pháp Quốc, một lâu đài tại Berne Thuỵ Sĩ và một công ty xuất nhập khẩu. Còn riêng tiền ký gửi ngân hàng Thuỵ Sĩ thì đố ai biết được!

Khi chuẩn bị chia tay, cô Hồng hỏi:
— Bác đi về đâu, và bằng phương tiện gì ?
Tôi không ngại nói đùa:
— Tôi có cổ phần xe Métro, cho nên đi không cần tài xế và bãi đậu.
Cô Hồng cười rất vui vì biết tôi nói đùa. Cô Hồng hỏi địa chỉ và tên họ tôi để liên lạc, tôi cho địa chỉ E-mail: tam.tamtam@online.fr và địa chỉ tòa thị chính Gennevilliers.
— Mời bác Ba–Tam đi cùng với cháu .
— Vâng cảm ơn cô Hồng.
Tôi bước theo sau và ngồi vào xe Lexus SC430 Convertible 2010.
Khi đến Gennevillers tôi xuống xe, trong lòng bân khuâng về những gì biết được từ một cuộc chuyện trò thật hãn hữu.

.

Paris 23-7-2010
Huỳnh Tâm

© Thông Luận 2010

.

.

DỊCH VỤ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THEO KIỂU MAFIA CỘNG SẢN VIỆT NAM    (Huỳnh Tâm)

NGƯỜI VIỆT PHIÊU LINH XỨ LẠ (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2202/2202

LẬT NGỬA CON BÀI MAFIA VIỆT NAM (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2201/2201

NHẬP CƯ BẤT HỢP PHÁP TẠI CẢNG CALAIS (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2200/2200

DỊCH VỤ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THEO KIỂU VIỆT NAM TA ! (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2199/2199

ĐI ĐƯỜNG CỎ, BỎ MẠNG ĐƯỜNG XA! (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2198/2198

NHỮNG BƯỚC ĐỔI ĐỜI GIAN NAN (Huỳnh Tâm)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2197/2197

BUÔN NGƯỜI : KHI NGƯỜI RƠM LÀ PHỤ NỮ

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/buon-nguoi-khi-nguoi-rom-la-phu-nu.html

SỰ THẬT VỀ “XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG” DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM (Phần 1)   (Viễn Đông)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2195/2195

SỰ THẬT VỀ “XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG” DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM (Phần 2)    (Viễn Đông)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2194/2194

.

.

.

VÀI NHẬN ĐỊNH TỔNG QUAN về THỰC TRẠNG NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Tháng Bảy 31, 2010

Một vài nhận định tổng quan về thực trạng nhân quyền ở Việt nam.( Bài 1)

Lê Trần Luật

Jul 25, ’10 10:33 PM

http://lsletranluat.multiply.com/journal/item/14

Nhân quyền hay còn gọi là quyền con người, nói một cách vắn tắt là quyền được sống đúng như một con người. Đó là quyền căn bản của mọi con người trong mọi dân tộc, mọi quốc gia.

Để đạt được chân lý tưởng chừng đơn giản đó, lòai người đã phải trả giá bằng cả máu và sinh mạng của hàng triệu người. Biết bao triều đại, bao chế độ chính trị đã sụp đổ vì đi ngược lại mong muốn đó của lòai người.

Ngày 2- 9- 1945 Hồ Chí Minh, trong tuyên ngôn độc lập đã nhắc lại chân lý này: “ Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do….”. Tư tưởng đó đã phản ánh rằng quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc của con người là chân lý, là ước mơ của tòan bộ nhân lọai. Chân lý này hòan tòan không phụ thuộc vào quan điểm hay thể chế chính trị. Quyền con người là tự nhiên, là ắt có và hằng có, là bất khả xâm phạm, tồn tại độc lập và không phụ thuộc vào việc có hay không thể chế nhà nước.

Kể từ sau tuyên ngôn này của Hồ Chủ Tịch, những nhà lãnh đạo Việt nam đã “ thay đổi” quan điểm, phủ nhận tính tự nhiên và tồn tại độc lập của quyền con người với thể chế chính trị. Họ cho rằng quyền con người phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và chính trị. Quyền con người không những mang tính phổ quát được nhân lọai thừa nhận mà có tính riêng biệt, phụ thuộc vào đặt tính văn hóa của từng dân tộc. Quan điểm này nhằm bảo vệ cho sự tồn tại của một chế độ chính trị độc tài. Họ đặt sự tồn tại của đảng cộng sản trên các giá trị nhân quyền đã được cả nhân lọai thừa nhận. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho hệ thống pháp luật lũng cũng và mập mờ, mang tính hình thức và thiếu khả năng thực thi trong thực tiễn. Hầu hết các các giá trị quyền con người nhà nước Việt nam đều thừa nhận bằng cách tham gia họăc ký kết các điều ước quốc tế . Nhà cầm quyền Việt nam cũng cố gắng thể hiện sự thừa nhận các quyền con người của mình trong các hiến pháp. Tuy nhiên, bản thân các hiến pháp, đặt biệt là Hiến pháp hiện tại chứa đựng quá nhiều xung đột giữa quyền con người và chế độ chính trị. Các văn bản luật dưới Hiến pháp luôn có khuynh hướng ưu tiên cho sự tồn tại của chế độ, làm mất khả năng thực thi các quyền con người trong thực tiển.  Sự cản trở này là nguyên nhân chủ yếu gây ra các xung đột giữa chính quyền với người dân. Tạo ra các hiện tượng phản kháng xã hội.

Bảo đảm và phát triển các quyền con người là bảo đảm cho người dân của mình có quyền mưu cầu hạnh phúc và tự do.

Thực trạng về nhân quyền ở Việt nam có thể nhìn thấy qua các nhận định sau:

1- Đối với nhóm quyền về kinh tế xã hội, bao gồm các quyền: quyền lao động ; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu hơp pháp về tài sản; quyền được bảo vệ sức khỏe; quyền bảo vệ về hôn nhân gia đình; quyền mang tính ưu tiên như quyền trẻ em; quyền phụ nữ.                                                                                                  

         Quyền lao động, đó là sự tự do lựa chọn nghề nghiệp phù hơp với mình. Không thể nói nhà nước đã bảo đảm quyền này khi mà gần 70% dân số việt nam sống bằng nông nghiệp, mà tư liệu sản xuất là đất đai bị nhà nước nắm giữ. Hệ thống các cơ sở công đòan mang nặng tính hình thức, không dám đấu tranh cho quyền lợi của người lao động.

            Quyền tự do kinh doanh là quyền tự do lựa chọn các nghành nghể kinh doanh không bị nhà nuớc cấm. Trước năm 1999, nhà đầu tư muốn kinh doanh phải xin phép nhà nuớc. Năm 2000, khi cho ra đời luật doanh nghiệp, nhà nước không buộc nhà đầu tư phải có đơn xin phép nữa mà chuyển sang  đơn đăng ký kinh doanh. Mặc dù thay đổi ngôn từ từ “ xin phép” sang “ đăng ký” nhưng bản chất xin – cho vẫn tồn tại thông qua hồ sơ và trình tự đăng ký kinh doanh. Đó là bước đầu thành lập, khi vào kinh doanh nhà đầu tư phải vựơt qua

hàng lọat giấy phép con khác, do các bộ, các nghành quản lý tự đặt ra. Năm 2000, thống kê chính thức của nhà nuớc cho thấy Việt nam có trên 300 lọai giấy phép kinh doanh khác nhau. Khi đó chính Thủ tướng phải ra lệnh bãi bỏ trên 100 lọai giấy phép, nhưng đến nay thì lại hình thành gần 400 lọai giấy phép khác nữa. Với một “ rừng” giấy phép như  “ thiên la điạ võng” như vậy làm sao nói Việt nam có quyền tự do kinh doanh. Mặc khác khi nói đến tự do kinh doanh không thể không nói đến sự cạnh tranh lành mạnh, điều này không thể có với nền kinh tế thị trường theo định hướnh XHCN.

            Quyền sở hữu tài sản hợp pháp là quyền sơ đẳng nhất bảo đảm cho điều kiện sinh tồn của con người. Đất đai, nhà cửa là một trong những điều kiện đó, ngòai ra nó còn lài tài sản có giá trị lớn, là hành hóa luân chuyển, và đặt biệt là tư liệu sản xuất chủ yếu của đa số người dân Việt nam. Nhà nước cho đến nay vẫn chưa cho người dân có quyền sở hữu về đất đai. Giao quyền sử dụng đất đai như một sự ban phát, nhà nước có thể thu hồi bất cứ lúc nào. Đây là nguyên nhân chủ yếu của hàng lọat vụ xung đột giữa nhà nước và người dân. Ngòai ra còn rất nhiều lọai tài sản khác, nhà nước bắt người dân phải đăng ký để quản lý. Các định chế về quản lý hành chính vô hình chung tước đọat và hạn chế quyền tự định đọat tài sản hợp pháp của người dân.

            Quyền đươc bảo vệ sức khỏe, ứng với quyền này là nghĩa vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng của nhà nước. Trước tiên phải thấy rằng hệ thống bệnh viện từ trung ương đến địa phương đã xuống cấp trầm trọng. Các bệnh xá ở vùng cao, vùng xa hết sức sơ sài và lạc hậu, cá biệt có nhiều nơi không có bệnh xá. Hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế còn nhiều bất cập, hay thay đổi gây nhiều bất lợi cho người dân, đặt biệt người dân nghèo gần như không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế công.

            Quyền bảo vệ hôn nhân và gia đình. Nói đến quyền này không thể không nói đến trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn. Đặt biệt là kết hôn với người nuớc ngòai. Với 19 lọai giấy tờ khác nhau, hồ sơ đăng ký kết hôn với người nước ngòai trở thành ‘ác mộng” với những cặp trai gái  yêu nhau và muốn thành vợ chồng. Cá biệt có cặp phải chia tay nhau vì không thể nào hòan thành đủ 19 lọai giấy tờ đó. Chưa hết, sau khi hòan tất hồ sơ, phải trãi qua một cuộc thẩm vấn. Nhiều câu hỏi thẩm vấn hết sức vô duyên của cán bộ cộng chức làm đôi trai gái ngượng đỏ cả mặt, không dám trả lời. Mà không trả lời xem như không thể thành vợ thành chồng.

.

.

Một vài nhận định tổng quan về thực trạng quyền con người ở Việt nam ( Bài 2)

Lê Trần Luật

Jul 30, ’10 8:04 PM

http://lsletranluat.multiply.com/journal/item/16/16

Đối với nhóm quyền tự do cá nhân, bao gồm: qưyền tự do đi lại và cư trú; quyền ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chổ ở; quyền được an toàn và bí mật về thư tín;quyền khiếu nại tố cáo.

Quyền tự do đi lại và cư trú. Chế độ “hộ khẩu” vẫn còn ám ảnh từng người dân cho tới bây giờ. Nó mặc nhiên tước bỏ quyền tự do đi lại và cư trú của 86 triệu dân Việt nam. Có thời kỳ chế độ “ hộ khẩu” là đề tài tranh luận sôi nổi của công luận. Rồi Quốc hội cũng tham gia để bàn xem có nên bỏ chế độ hộ khẩu hay không. Người dân thì muốn bỏ để bớt phiền toái và tự do hơn, Nhà nước thì sợ mất “ hộ khẩu” thì sẻ không “quản” người dân được. Cuối cùng, Luật cư trú cũng ra đời, và công cụ quản lý bằng hộ khẩu vẫn được giữ nguyên. Mỗi khu phố đều có “ nơi đăng ký tạm trú, tạm vắng”, “điểm đăng ký tạm trú tạm vắng”. Nói là “đăng ký” nhưng bản chất của sự xin cho vẫn còn đó. Hằng đêm, lực lương công an, dân phòng vẫn lùng sục từ khách sạn sang trọng cho đến hang cùng, ngõ cụt để kiểm tra sự cư trú của người dân.

Quyền ra nước ngoài. Nói là quyền nhưng nếu không được sự cho phép của Nhà nước thì sẽ bị khởi tố hình sự. Thời gian gần đây dư luận phát hiện ra rất nhiều trường hợp bị cấm ra nước ngoài. Có nhiều người khi đến sân bay mới biết mình nằm trong danh sách “cấm xuất cảnh” của Bộ Công an. Danh sách này được giữ bí mật. Lý do bị cấm rất đơn giản nhưng cũng rất trừu tượng : liên quan vấn đề an ninh quốc gia. Đó là người có hộ chiếu, còn người chưa có hay hết hạn thì sẽ không được cấp nếu bị liệt vào danh sách có liên quan đến an ninh quốc gia. Với lý do an ninh quốc gia, rõ ràng danh sách bí mật này của Bộ công an sẻ càng lúc càng dài hơn, có thể một lúc nào đó, toàn bộ dân Việt Nam đều bị cấm vì tất cả đều có thể liên quan đến an ninh quốc gia.

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Bộ luật hình sự đã dành hẳn một chương để bảo đảm các quyền này. Tuy nhiên, vấn đề làm cho dư luận rất bức xúc hiện nay đó là sự xâm phạm đến từ những người làm nhiệm vụ bảo vệ các quyền này. Đặt biệt là lực lượng công an. Nhiều cái chết oan ức, từ người già đến trẻ em, đã ngã xuống dưới họng súng của những người này. Chưa kể nhiều thanh niên đang khỏe mạnh, bị áp giải đến đồn công an, chỉ sau vài tiếng, đã lăn đùng ra chết một cách hết sức bí mật. Tra tấn, bức cung, nhục hình cũng là một hiện tượng phổ biến. Rất nhiều phiên tòa, bị can, bị cáo phản cung công khai tố cáo sự tra tấn của công an, nhưng tòa vẫn không xem xét vì cho rằng thiếu chứng cứ.

Danh dự, nhân phẩm là cái gì đó rẻ rúm, nếu như người đó có “ liên quan đến an ninh quốc gia” hoặc “bất đồng” với Nhà nuớc. Từ trí thức giáo sư tiến sĩ cho đến các bậc tu hành khả kính, nếu liên quan an ninh quốc gia đều bị truyền thông Nhà nước “đập” cho tã tơi. Sự nhục mạ và bôi bác tràn lan trên các mặt báo, có khiếu nại hay tố cáo cũng vô ích vì không ai giải quyết.

Quyền được an toàn và bí mật về thư tín. Các Bưu điện, các công ty truyền số và dữ liệu vẫn do Nhà nước quản lý và kiểm soát. Hiện tượng bị nghi ngờ và bị nghe lén các thiết bị điện thoại không phải là cá biệt. Các công ty truyền số và dữ liệu sẵn sàng cung cấp bí mật của khách hàng cho cơ quan công an. Nhiều thông tin bí mật mà công ty cung cấp đã trở thành chứng cứ tại tòa để buộc tội “ khách hàng” của mình, nhất là các vụ án về an ninh quốc gia.

Quyền khiếu nại và tố cáo. Đây là quyền rất đặc biệt, nó cho phép người dân tự hành động để bảo vệ các quyền khác. Chưa có con đường tố tụng nào đau khổ bằng con đường khiếu nại của người dân Việt nam. Sự thờ ơ vô trách nhiệm của cán bộ công chức là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự đau khổ này. Lẽ ra, ứng với quyền khiếu nại của người dân là nghĩa vụ phải giải quyết của Nhà nước nhưng đa số cán bộ công chức đều tự cho mình cái quyền giải quyết khiếu nại hay không. Hiện tượng khiếu nại kéo dài từ năm này sang năm khác vẫn không đươc giải quyết là rất phổ biến ở tất cả các tỉnh thành trên cả nước. Có nhiều gia đình khiếu nại từ đời cha cho đến đời con với hàng ngàn lá đơn gửi từ trung ương đến địa phương. Tất cả đều rơi vào im lặng! Không thể không nhắc đến hiện tượng khiếu nại đông người hiện nay, có nơi trở thành các cuộc biểu tình phản đối cách làm việc của cơ quan nhà nước. Nhiều người chẳng những không được giải quyết khiếu nại mà còn bị kết tội gây rối trật tự công cộng, tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ.v.v.v.

.

.

.

NGUYỄN TRƯỜNG TÔ và NHỮNG ĐÁM MÂY MÙ MƯU TOAN

Tháng Bảy 31, 2010

Nguyễn Trường Tô và những đám mây mù mưu toan

Lê Diễn Đức

Tháng Bảy 30, 2010

http://ledienduc.wordpress.com/2010/07/30/nguy%e1%bb%85n-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-to-va-nh%e1%bb%afng-dam-may-mu-khu%e1%ba%a5t-t%e1%ba%a5t-bao-quanh/

.

Trong bài viết của mình, “Nguyễn Tường Tô bị cách chức, khoan hãy nói hai chữ đáng đời, tôi đã muốn rung chuông cảnh báo với dư luận. Có lẽ điều cảnh báo không thừa.

Trước hết, chúng ta phân tích cuộc phỏng vấn luật sư Trần Đình Triển, người bảo vệ hai nữ sinh trong vụ mua bán dâm tại Vị Xuyên, Hà Giang ngày 07/07/2010, với tựa đề “Phải xem xét trách nhiệm hình sự với ông Nguyễn Trường Tô” trên tờ “Dân Trí”, do Phương Thảo thực hiện (những chữ nghiêng là lời của luật sư Trần Đình Triển).

.

1. Ngay từ đầu vụ án, Đảng và Nhà nước CS Việt Nam đã tìm cách bao che kẻ phạm tội, cố tình lật ngược vấn đề, đánh tráo Thiện, Ác.

Thực sự, tôi tham gia vụ án của hiệu trưởng Sầm Đức Xương, lúc đầu cũng chỉ muốn bảo vệ 2 học sinh Thúy, Hằng theo hướng không có tội bởi các cháu còn nhỏ, bị người lớn đe dọa, ép buộc quan hệ tình dục mà lại bị truy tố tội môi giới mại dâm.

Nhưng khi tôi vào trại giam gặp (khi đó án sơ thẩm đã xử), các cháu khóc và tỏ thái độ thiếu tin tưởng. Hỏi kỹ, các cháu mới nói, đã khai ra việc có nhiều cán bộ lãnh đạo tỉnh liên quan nhưng cơ quan điều tra bỏ ra ngoài hết rồi bắt ký vào những bản khai trắng, đạo diễn lại thành vụ án khác hẳn”.

.

2. Đủ cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự với ông Nguyễn Trường Tô, chính xác hơn: Cơ quan điều tra phải căn cứ trên các dữ liệu, lời khai của các nhân chứng chuyển qua Viện kiểm sát đề nghị khởi tố.

Tôi cho rằng có đủ căn cứ khởi tố…”

“Đây không chỉ là tội quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên vì tội này thì quá rõ. Tôi cho rằng, nghiêm trọng hơn, đó là tội cưỡng dâm. Tại phiên tòa vừa qua, cháu Thúy đã khai về việc quan hệ với ông Tô”.

“Ông Tô không chỉ có quan hệ với cháu Thúy, cháu Hằng. Theo tài liệu thu thập được của tôi thì còn những nữ sinh, đối tượng khác mà tôi đã từng gửi kiến nghị trực tiếp với cơ quan bảo vệ pháp luật Trung ương. Có những cháu khi quan hệ còn dùng điện thoại để quay, chụp ảnh lại được”…

.

Như vậy, theo nhận định của luật sư Trần Đình Triển, ông Nguyễn Trường Tô đã có hành vi phạm tội khó chối cãi.

Năm 2000, sau một quá trình dài thực hiện Bộ luật Hình sự, các nhà lập pháp CHXHCN Việt Nam đã kết luận như sau:

Các hành vi này không có án treo, mà nhẹ nhất cũng là “tù ngồi” và cần lưu ý là cho dù được sự đồng ý hay không được sự đồng ý của đứa trẻ bị phạm tội nhưng nếu đứa trẻ đó dưới 13 tuổi thì mọi hành vi giao cấu đều được coi là hành vi hiếp dâm và bị phạt tù ít nhất là 12 năm, cao nhất là tử hình. Còn việc thực hiện hành vi giao cấu giữa những người đủ 16 tuổi trở lên với người chưa đủ 16 tuổi, dù có sự nhất trí hoặc thoả thuận giữa hai bên hay không, cũng đều được coi là phạm tội, và tuỳ mức độ và hành vi phạm tội mà sẽ phạm vào một trong các tội hiếp dâm, cưỡng dâm hoặc giao cấu với trẻ em”.

.

Thế nhưng, theo đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung Ương, đến nay ông Nguyễn Trường Tô chỉ mới bị cách chức và khai trừ khỏi Đảng. Sau động tác hoàn toàn mang tính “xử lý nội bộ” này, cho thấy nhiều điều cần phải được làm sáng tỏ.

Nếu gia đình và luật sư Trần Đình Triển cũng như dư luận không kiên trì đấu tranh đến cùng cho công lý, thì kẻ phạm pháp sẽ được che chở và chuyện đâu lại vào đấy và sẽ bị chìm vào im lặng đáng trách.

Vấn đề không chỉ nằm ở chỗ trừng phạt công bằng, mà quan trọng hơn là trách nhiệm chung của xã hội phải lên tiếng bảo vệ cho các nạn nhân vị thành niên đang bị giam giữ.

Hai em Thúy, Hằng và gia đình hoàn toàn gánh chịu hậu quả của sự ăn chơi sa đọa, phi đạo đức của người lớn có quyền, có tiền, mang danh đại diện cho nhân dân. Các em và gia đình phải được bồi thường thiệt hại, ít nhất về mặt tinh thần. Nhà nước không thể cư xử với các em như hiện nay, vừa bị ngồi tù lại vừa bị ép cung, đe dọa và chưa thể lường hết các rủi ro khác, trong khi kẻ gây tội thì nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

.

Rõ ràng đến nay, chưa có tín hiệu nào khác từ phía chính quyền chứng minh họ muốn giải quyết tới đầu tới đũa, ngoài việc thi hành kỷ luật về mặt hành chính và Đảng. Ngược lại, những động tác từ phía chính quyền cho thấy việc xử lý kỷ luật miễn cưỡng, vì không còn cách nào khác để lấp liếm trước sức ép của công luận.

Ông Nguyễn Trường Tô bị kỷ luật nhưng vẫn tiếp tục làm việc ở Văn phòng Ủy ban tỉnh Hà Giang. Đây là hiện tượng bất thường, không thể chấp nhận trong một cơ quan công quyền. Thông thường tại các cơ quan Việt Nam, trong những trường hợp tương tự, sau khi có quyết định cách chức, khai trừ, ông Nguyễn Trường Tô phải bàn giao công tác ngay lập tức và Ủy ban tỉnh Hà Giang phải cho thôi việc. Nhẹ nhất thì tạm cho thôi việc được hưởng lương cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra.

.

Trong bài “Không có mâu thuẫn nội bộ ở Hà Giang”, trả lời báo giới (Tuấn Anh của “VnExpress” ghi) hôm 28/07/2010, ông Hoàng Đình Châm, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh và ông Hoàng Trung Luyến, Trưởng ban tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Giang ông Hoàng Đình Châm nói:

Từ giờ phút này, đồng chí Tô là công dân thường không phải là Đảng viên. Các chức danh cũng không còn. Công việc tới đây của đồng chí Tô ra sao, Ban thường vụ Tỉnh ủy chưa xem xét. Tôi nghĩ khuyết điểm là khuyết điểm, công việc là công việc”.

Việc Giám đốc Công an tỉnh tố cáo Chủ tịch và ngược lại đã được Ủy ban Kiểm tra trung ương kết luận, còn một số việc công an tiếp tục xác minh”.

Vụ án Sầm Đức Xương đang trong giai đoạn điều tra lại từ đầu, chưa có kết luận chính thức để chuyển sang cơ quan tố tụng. Quan điểm của tỉnh, cán bộ nào có vi phạm pháp luật sẽ xử nghiêm. Do chưa hoàn tất điều tra nên thông tin về đồng chí Tô tôi chưa thể nói được”.

.

Từ những câu nói trên chúng ta có quyền đưa ra một số câu hỏi:

- Trong thời gian “công an tiếp tục xác minh”, ông Tô đã bị thi hành kỷ luật hành chính, bị khai trừ ra khỏi Đảng, tại sao người ta vẫn để ông Tô ngồi lại trụ sở Ủy ban Tỉnh, làm việc ở Văn phòng và vẫn được những người lãnh đạo cao nhất gọi là “đồng chí”? Nói theo quán tính? Tôi không tin như vậy, bởi vì khi đặt câu hỏi, các nhà báo luôn sử dụng danh xưng “ông Tô“.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng, với một mối quan hệ chằng chịt, chén chú chén anh một thời, với quyền lực bao trùm Ủy ban và Tỉnh ủy nhiều năm nay, sự có mặt của ông Tô sau khi bị kỷ luật gây cản trở lớn cho hoạt động của một cơ quan nhà nước, vì đặt các cán bộ, nhân viên vào tình trạng khó xử, khó làm việc bình thường.

- Phải chăng đây là chiến thuật tạm rút, trấn an dư luận, tìm cách gỡ, rồi tiếp tục nâng đỡ?

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy “chưa xem xét”, vậy thì đến bao giờ mới tiến hành và có thông báo cho dư luận?

- Bao giờ thì công an cho biết kết quả xác minh cuối cùng, cho dù sự việc đã được xác minh rồi, hai em Thúy, Hằng đang ngồi tù và các chứng cớ thu được đã dẫn tới việc phải thi hành kỷ luật ông Tô?

Những điều khuất tất, khó hiểu như đang có đám sương mù với những mưu toan không lương thiện đang bao quanh nhân vật Nguyễn Trường Tô.

Không ai khác là gia đình các em Thúy, Hằng, luật sư Trần Đình Triển và dư luận xã hội có thể cắt nghĩa chính xác, tìm ra lời giải đáp cho những nghi vấn trên. ■

Ngày 29/07/2010

.

* Tham khảo thêm bài “Dư luận Hà Giang sau khi ông tô bị bãi nhiệm” của  Vietnamnet ngày 29/07/2010 tại link: http://www.vietnamnet.vn/tinnhanh/201007/Du-luan-Ha-Giang-sau-khi-ong-To-bi-bai-nhiem-925501

.

.

.

TỔ QUỐC và THƠ (Hà Sĩ Phu)

Tháng Bảy 31, 2010

Tổ quốc và Thơ

Hà Sĩ Phu

Đăng bởi bvnpost on 31/07/2010

http://boxitvn.wordpress.com/2010/07/31/t%e1%bb%95-qu%e1%bb%91c-v-th%c6%a1/

(gửi đăng nhân dịp chuẩn bị Đại hội Hội Nhà văn lần thứ VIII)

.

Tổ quốc và Thơ! Đề tài quá lớn này xin dành cho các nhà lý luận văn học chuyên nghiệp. Ở đây tôi chỉ nhặt ra một mảnh, nhưng là một mảnh gương lồi, tuy nhỏ nhưng cũng đủ thu gọn một khuôn hình về xã hội và Tổ quốc Việt Nam trong thơ.

Mảnh gương rơi vào tay tôi là một bài thơ chuyền tay có nhan đề như một câu hỏi “Thế này là thế nào…”, ký tên Trần Ái Dân. Ái Dân chắc hẳn là một bút danh, bút danh chưa xuất hiện bao giờ và không được giới thiệu thì tạm coi là ẩn danh vậy.

Bài thơ ngắn và dân dã.

.

Nhưng muốn hưởng hết thi vị của bài thơ dân dã này, lại phải khai vị bằng một bài thơ “bác học”, cũng mở đầu từ một câu hỏi, cũng phác họa một chân dung đất nước. Ấy là bài thơ nổi tiếng “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”của Chế Lan Viên mà rất nhiều người đã thuộc lòng vì nó hoành tráng, nó đã từng bơm cho mọi người bay lên cùng “Tổ quốc”.

Từ nhà viết Hồ Tây năm 1965 Chế Lan Viên thấy cuộc đời, thấy xã hội Việt Nam đang đẹp quá rồi (cứ cho là ông nghĩ thế thật), nhưng nghĩ rằng cái đẹp hoành tráng ắt phải phát ra từ sông từ núi, ông bèn gọi Sông Hồng ra làm kẻ phát ngôn:

Hỡi Sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?

Sông Hồng bèn đáp ngay tắp lự:

“Chưa đâu! Ngay cả trong những ngày đẹp nhất…”

Rồi Sông Hồng nói rất cụ thể: Những thời đẹp nhất của Việt Nam từ trước đến nay với những chiến công hiển hách của Nguyễn Trãi, Hưng Đạo, Quang Trung, với những kiệt tác như Kim Vân Kiều… cũng chưa thể sánh với cái đẹp hôm nay!

Thực ra hỏi để mà hỏi thôi, chứ Chế thi sĩ thừa biết Sông Hồng sẽ trả lời như thế nên mới hỏi. Sông Hồng nói như Đảng nói. Khi Đảng đã tuyên bố với cả núi sông rằng Đảng quyết thực hiện “sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối” thì Sông Hồng chứ “ông cụ thân sinh” ra Sông Hồng cũng không dám nói khác.

Thế là Chế thi sĩ bắt đầu yên tâm và triển khai.

Là “nhà thơ trí tuệ” bậc nhất, ông hiểu linh hồn của Tổ quốc chính ở nơi con người, nên bên cạnh những vẻ đẹp của những “chiến công”, những “sự nghiệp” (như đánh thắng tướng Đờ Cát, những cánh đồng hợp tác lúa vàng bội thu, những mùa nhãn Hưng Yên, những mẻ thép Thái Nguyên, những công trình thủy điện…), ông tập trung ca ngợi vẻ đẹp của những con người. Những con người hiện ra trước mắt ông toàn là những người sung sướng, yêu thương nhau, anh hùng và vĩ đại.

Ruộng đoàn tụ nên người thôi chia cắt
Đêm no ấm, giọng chèo khuya khoan nhặt

Mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười!

“Vóc nhà thơ” thì “đứng ngang tầm chiến lũy”. Thậm chí “Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt”, cũng tức là có khả năng thành một Phù Đổng Thiên vương!

Khi từng bộ mặt “con người mới xã hội chủ nghĩa” đều đẹp như thế thì mặt trời cũng muốn thức dậy thành người Việt Nam:

Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…

“Ca” nhau tài đến thế là cùng!

.

Xúc động nhất khi ta thấy nhà thơ mủi lòng “Thương thay những thế kỷ vắng anh hùng”! Ở một xã hội mà châu báu đã dư thừa (ra ngõ gặp anh hùng) thì lòng thương vẫn thường “bao la” như thế!

Thế là cái thực tế trước mắt thì vô cùng tươi đẹp rồi, nhưng Chế Lan Viên lại tài hơn Tố Hữu ở chỗ chưa coi đó là “Thiên đường của các con tôi” chưa coi đó là “đỉnh cao muôn trượng” mà còn mở triển vọng ra đến vô tận:

Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn

Theo ông dưới sự lãnh đạo của Đảng thì ngày tháng nào cũng đẹp, và càng ngày càng đẹp (chỉ có đẹp trở lên thôi), nhưng ông chọn cái hôm nay là đẹp nhất chỉ vì đây là “buổi Đảng dựng xây đời, mắt được thấy dòng sông ra gặp bể”.

Mới ở cửa bể mà đã đẹp thế này, thì khi vẫy vùng ngoài biển lớn sẽ sung sướng đến chừng nào, ai mà hình dung ra được nhỉ? Tài thật.

.

Nhưng đọc một bài thơ ca ngợi chế độ tài tình như thế, ta không khỏi thắc thỏm một mối lo: xã hội (năm 1965-66) mới đẹp đến mức này nhưng may mắn có một thi sĩ thiên tài như thế để mô tả, nếu mai sau lại còn đẹp hơn nữa thì lấy đâu ra thiên tài thứ hai mà ca ngợi cho xứng đây? Xã hội thì hàng ngày hàng giờ cứ bay lên như Phù Đổng, thử hỏi 40 năm sau chẳng hạn thì sự vĩ đại sẽ kinh khủng đến nhường nào, và lúc ấy ai sẽ là người mô tả nổi nó đây?

Câu hỏi khó thế mà thời đại cho câu trả lời ngay nhỡn tiền: Thì đây, đúng 40 năm sau, năm 2006, với bài thơ “Thế này là thế nào…” mối lo ấy đã được giải đáp.

*

Đã xong bài thơ khai vị, tôi xin trở lại với bài thơ chính mà tôi đã giới thiệu lúc đầu để cùng nhau “nhấm nháp”. (Xin cứ nhắp một ngụm rượu Chế Lan Viên khai vị, rồi lại nhắm một miếng thơ dân dã Ái Dân cho hai thứ song hành, đối chiếu, quyện vào nhau mà nâng thi vị của nhau lên).

Thế này là thế nào…
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Làm xịt lốp xe – đinh rải đầy đường sá
Giữa phố đông người rạch mặt người
Khách tàu hỏa tha hồ ăn đá
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Các cô gái ra đường mông phải độn các-tông
Sợ những mũi kim tiêm cắm phập
Kim bết si-đa đâu phải vô trùng
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Đến cục cứt cũng là cứt rởm
Nông phu phải miết tay, phải ngửi kiểm tra
Người ta luyện đất sét giống cứt người ghê gớm
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Trò giữa lớp phang Thày, Con nện Cha trước bàn thờ Tổ
Thịt lợn quay bôi véc ni đỏ lự
Foóc-môn ngâm xác người pha bánh phở cho ngon
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Xương trâu bò thế xương liệt sĩ
Trâu bò lên ngôi “Tổ quốc ghi công”
Được toàn dân dâng hoa, quỳ bài bái lễ
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Vua xuất xứ từ một anh hoạn lợn
Diễn văn eng éc tiếng lợn kêu
Đất nước tàn tạ xót xa
Triều đình cắn xé thối tha
Vua vẫy tai nhởn nhơ, hếch mũi lên hơn hớn
Thời buổi thế này là thế nào hả giời
Trần Ái Dân

.

Lặp đi lặp lại một câu hỏi nhức nhối “Thế này là thế nào”? Bức chân dung thật của nhân dân mình, hình hài thật của Tổ quốc mình là thế nào đây?

Câu hỏi ấy nhà thơ thượng thặng Chế Lan Viên đã hỏi rồi, và đã được núi sông giải đáp rồi, sao Ái Dân còn phải băn khoăn hỏi lại?

Phải hỏi lại vì sách vở gì, văn thơ gì cũng không đánh đổ được thực tế. Những khuôn mặt của những kẻ rải đinh, ném đá, cắm kim tiêm bết máu si-đa, những khuôn mặt trò phang thày, con nện cha, nặn cứt giả và hài cốt liệt sĩ giả, những khuôn mặt cắn xé nhau tranh bả cung đình… kinh tởm thế, liệu mặt trời kia còn có thể “ghé môi hôn” được không? Không lẽ mặt trời cũng xạo? Nên phải hỏi xem “Thế này là thế nào hả giời”. Con người đầy ắp tình yêu thương, đoàn kết, anh hùng, giàu lý tưởng… hay ty tiện, gian trá, lọc lừa, lì lợm, tàn ác, lưu manh, vô giáo dục, lòng người chai lỳ, thất vọng và ly tán? Hay hiện thực nằm trong cả hai bài thơ, “hiện thực xã hội chủ nghĩa” và “hiện thực dân gian”?

.

Bảo Ái Dân cường điệu ư? Không đâu, Ái Dân chỉ mới đưa ra vài nét chấm phá, thực tế còn khủng khiếp gấp vạn lần.

Những ngư dân Hậu Lộc đói rách quanh năm, phải đánh cá với chiếc thuyền nát tại lãnh hải của Tổ quốc mình, bị người ta bắn chết để thị uy và vu cho tội xâm phạm lãnh hải của người ta để ăn cắp lưới, mà các cấp chính quyền trên dưới đều ra rả hùa theo. Dư luận về mười sáu tấn vàng không cánh mà bay, nhân dân không được biết tung tích. Chuyện Mục Nam Quan, Thác Bản Giốc và bao nhiêu cao điểm quân sự để phòng thủ đất nước bỗng dưng chui về lãnh thổ người ta… Tất cả những dấu hỏi như thế mà cả mấy trăm nghị sĩ mũ cao áo dài không một ai dám hé răng, không một cánh tay dám giơ lên chất vấn, mà lại kênh kiệu rủ lòng “thương” cho “những thế kỷ vắng anh hùng” thì thật là những não trạng điên loạn.

Ở những xứ sở “vắng anh hùng” chắc chắn những vấn đề ấy đã có nhiều người lên tiếng chất vấn. Đáng “thương” chăng là “thương” cho giới cầm quyền của các nước ấy: làm Tổng thống, Thủ tướng mà chẳng được quyền tự tung, tự tác, quyền trói tay bịt miệng nhân dân, quyền tự do lùa dân đi hướng này hướng nọ như “dắt trâu bò” (chữ của chủ tịch Hồ Chí Minh).

Có nghe không tiếng khóc của những gia đình ngư phủ chết oan, của những em gái ngây thơ bị phơi trần cho thiên hạ chọn, hay bị bán thử một đêm cho những tên vô lại nước ngoài…, có nghe không những tiếng rên la của người dân bị cướp nhà cướp đất, những lời uất nghẹn của hàng nghìn vụ án oan sai mỗi năm…? Hay chỉ nghe thấy “giọng chèo khuya khoan nhặt”, thấy “mỗi trang thơ đều dội tiếng ta cười” (và tự hào rằng tiếng cười ấy là do Nguyễn Văn Trỗi dạy cho!), nghe tiếng “chim cu gần, chim cu gáy xa xa”, và nghe cả “tiếng hát bốn nghìn năm” của Sông Hồng nữa?

.

Đừng thắc mắc sao Sông Hồng lại “hát” những lời y như một cán bộ tuyên huấn của Đảng, vì Chế Lan Viên đã giải thích ngay:

Ta tựa vào Đảng ta, lên tiếng hát!

À ra thế, phải tựa vào Đảng mà hát, chứ có phải cứ đứng thẳng giữa trời mà hát được đâu? Đứng trong dàn đồng ca của Đảng, dẫu là Lịch sử, là Sông Hồng, hay là Trường Sơn gì nữa thì cũng phải hát theo bè, theo cánh tay người bắt nhịp chỉ huy.

Nên ta chẳng trách chi một thi sĩ có tài như Chế Lan Viên. Chẳng qua trong dàn đồng ca, ông có chất giọng tốt hơn thì phải lĩnh xướng. Cái quý của ông là sau giờ lĩnh xướng ông đã bùi ngùi nghĩ về thân phận “xướng ca”của mình. Ông đã biết tự phủ định mình trước khi bị thực tế phủ định.

Một trí tuệ mẫn cảm như Chế Lan Viên đã biết trước sẽ có ngày “Những người ấy nhắc những bài thơ tôi làm, mà tôi xấu hổ”. Ông đã tự nhủ thầm những tác phẩm tô hồng như bài “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” chẳng qua chỉ là “Bánh vẽ”.

Chỉ một bài thơ “Bánh vẽ”, một bài “Trừ đi”, một bài “Ai, tôi!” trong phần di cảo Chế Lan Viên đã đủ để hậu thế cảm thông cho ông, xóa hết cho ông mọi lỗi lầm mà về một mặt nào đó có thể coi là bất khả kháng. Ông vẫn là một bậc thầy của thi ca. Chỉ có phần bùi ngùi tiếc cho ông thôi. Dẫu có lấy nhãn quan đời sau mà phê phán ông, vẫn không thể không dành lại một phần mến yêu và khâm phục tài thơ.

*

Non sông, Tổ quốc là hình tượng thiêng liêng cao quý của mỗi dân tộc. Loài người đã định nghĩa Tổ quốc từ nghìn đời rồi, thiết nghĩ chẳng cần nói lý thuyết làm chi. Nhưng hễ cái gì là thiêng liêng cao quý là y như rằng có kẻ muốn chiếm đoạt, muốn dùng làm của riêng, thậm chí còn muốn đổi tên Tổ quốc, gò Tổ quốc vào cái khuôn thể chế chính trị nhất thời của mình.

Năm nay là năm Con Lợn. Nghĩ đến câu Tổ quốc là Mẹ hiền (ngôi Mẹ hiền để dành cho Tổ quốc, anh nào tự xưng Mẹ hiền là hỗn với Mẹ đấy), bất giác tôi hình dung một cách ngộ nghĩnh Tổ quốc Mẹ hiền như con Lợn mẹ thanh thản nằm kềnh ra cho đàn con bú sữa. Đàn con tranh nhau, những con nhỏ yếu hơn thì bị những con khỏe hơn đẩy bật ra để chiếm lấy núm vú nhiều sữa nhất. Loài vật nó tranh nhau là lẽ thường, loài nào chẳng vậy.
Thế mà có một lần, tôi được chứng kiến cảnh một con Lợn mẹ hất đứa con khỏe nhất đàn ra, dành vú cho một con yếu nhất.
Tôi cứ nhớ mãi đến tận bây giờ.

HSP
(Viết từ tháng 12-2006, tháng 7-2010 có sửa lại)

.

.

.

CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ MỘT BỘ PHẬN CỦA CHÍNH QUYỀN TRUNG QUỐC?

Tháng Bảy 31, 2010

Hai lá thư của bạn đọc cùng xoay quanh một câu hỏi mà lời giải đáp ngọn ngành vẫn… còn phải chờ đợi

Đăng bởi bvnpost on 31/07/2010

http://boxitvn.wordpress.com/2010/07/31/hai-l-th%c6%b0-c%e1%bb%a7a-b%e1%ba%a1n-d%e1%bb%8dc-cng-xoay-quanh-m%e1%bb%99t-cu-h%e1%bb%8fi-m-l%e1%bb%9di-gi%e1%ba%a3i-dp-ng%e1%bb%8dn-ngnh-v%e1%ba%abn/

Lá thư thứ nhất

.

Kính gửi: BBT Bauxite Việt Nam
Thầy giáo Hà Văn Thịnh

Cháu tên là Lê Văn Công, hiện đang là sinh viên của một trường cao đẳng tại HN. Ngày hôm nay cháu ra quán Internet công cộng vào mạng, theo như thói quen mấy tháng nay cháu vào trang mạng Bauxite Việt Nam để đọc các thông tin về phong trào 6 chữ vàng HS-TS-VN. Đọc xong bài viết :”Đôi lời với sinh viên Thanh Hóa, Ninh Bình, Bình Dương…” của nhà giáo Hà Văn Thịnh cháu rất vui mừng vì thầy đã dám công khai nói lên lời ủng hộ phong trào yêu nước của chúng cháu.Trước đây cháu vào mạng chỉ cốt dùng máy tính chơi game nên không hề hay biết về sự xâm chiếm biển đảo của Trung Quốc và phong trào này. Trong một lần vào quán Internet chơi game vô tình thấy trang mạng BVN còn trên máy tính của ai trước đó đã vô ý hay hữu ý để lại trên máy, nhờ đó cháu biết đến trang mạng BVN và phong trào yêu nước của sinh viên. Bài viết của nhóm thanh niên hành động vì đất nước kêu gọi thanh niên yêu nước hãy vẽ chữ HS-TS-VN đã đánh thức nhiệt huyết trong con người cháu, nên cháu nảy ra ý định phải mua sơn về vẽ mấy chữ này tại một số nơi ở HN. Nhưng ngay lúc ấy cháu có đọc một số bài viết nói ai vẽ những chữ đó mà bị phát hiện sẽ bị công an bắt và xử phạt rất nặng; công an có thể sẽ thông báo tới nhà trường ra quyết định đuổi học.

.

Đọc xong tin đó cháu đâm lo sợ, nếu như mình vẽ mà bị phát hiện, bị đuổi học, bao nhiêu công sức để thi được vào một trường cao đẳng tất sẽ là “xôi hỏng bỏng không”. Sau một đêm trằn trọc không thể ngủ cháu trở trăn suy nghĩ: nên sống vì Tổ quốc hay chỉ sống ích kỷ cho bản thân mình? Nếu cứ im lặng và hèn nhát như vậy thì đất đai biển đảo sẽ bị Trung Quốc chiếm hết, đất nước Việt Nam sẽ trở thành thuộc địa Trung Quốc, nhân dân Việt Nam sẽ thành nô lệ, mất nước sẽ mất tất cả, những bằng cấp, địa vị xã hội bấy giờ sẽ trở thành vô nghĩa một khi nước mất nhà tan. Cháu từng nghe người thân, hàng xóm nói chính quyền VN hiện nay đã không còn quan tâm đến chủ quyền đất nước và nhân dân nữa mà chỉ quan tâm làm sao tham nhũng được thật nhiều tiền để thỏa mãn những dục vọng xấu xa của họ mà thôi. Còn người dân bây giờ thì không ít người đã trở thành những nô lệ kiểu mới cho người Trung Quốc, Đài Loan và nhiều nước khác. Tại các khu công nghiệp họ bị bóc lột sức lao động hết sức thậm tệ mà không hề được Nhà nước bảo vệ. Mới đây cháu có đọc trên báo đài Á châu tự do về việc giải cứu công nhân xuất khẩu lao động tại Jordan, đọc những bài viết của chị Phương Anh kể lại hoàn cảnh những người lao động bị ức hiếp bóc lột bên ấy cháu đã phải rơi nước mắt thương xót cho họ.

.

Sau một đêm không ngủ cháu đã vượt lên nỗi sợ hãi, liền chuẩn bị sơn và chổi chờ đến tối cháu bèn bạo dạn mang đi viết 6 chữ HS-TS-VN tại 3 địa điểm, viết xong cháu ra về trong lòng vui vẻ phấn khởi vì mình đã làm được một hành động nhỏ bé góp phần nói lên tinh thần yêu nước của sinh viên Hà Nội giống như các bạn tại Ninh Bình, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Sài Gòn, Bình Dương v.v. Rất tiếc, niềm vui của cháu không tồn tại lâu. Vui bao nhiêu thì lại thất vọng bấy nhiêu sau 2 ngày quay trở lại xem hàng chữ cháu viết thì đã bị chính quyền cho người đến dùng màu sơn khác xóa mất. Nhìn những vết tích bị xóa cháu hụt hẫng vô cùng!!!

.

Sao Đảng Cộng sản lại không cho người dân thể hiện tấm lòng yêu nước? Tổ quốc là của cả dân tộc chứ có phải của riêng Đảng Cộng sản đâu! Sao Đảng Cộng sản phải ra lệnh cho người khác xóa đi hàng chữ yêu nước cháu vẽ, trong khi những hình vẽ bạo lực, dâm ô, câu chữ tục tĩu bên cạnh đó lại để lại không xóa? Phải chăng họ cố tình tiếp tay ủng hộ cái đó? Có phải họ chỉ muốn thanh niên chúng cháu bây giờ mê đắm vào những việc chơi game bạo lực, cả những chuyện sex…, để chúng cháu không bao giờ tỉnh ra cho họ dễ dàng nhường đất biển của Tổ quốc cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm?

.

Tuần trước cháu có dịp đi Lạng Sơn chơi và đã đến cửa khẩu Tân Thanh. Tại đấy cháu tận mắt chứng kiến những đồng bào dân tộc Nùng, Tày, trong đó có những người già 60, 70 tuổi vẫn phải kham khổ thồ hàng, cõng hàng thuê cho chủ hàng Trung Quốc. Qua cửa khẩu Tân Thanh sang bên thị trấn Pò Chài Trung Quốc thì cháu càng đau lòng hơn vì bên đó có hàng dãy phố đèn đỏ với những thiếu nữ nông thôn nghèo Việt Nam bị lừa bán sang đó làm gái mại dâm, bị các chủ chứa bắt ăn mặc thiếu vải, vẫy tay chào mời những người đàn ông Trung Quốc đến mua vui. Ôi, sao người dân Việt Nam lại phải khổ đau và bất hạnh đến như vậy!

.

Cháu viết email với hy vọng sẽ có nhiều nhà giáo, nhiều nhà trí thức khác trực tiếp hay gián tiếp lên tiếng ủng hộ phong trào vẽ 6 chữ vàng để khuyến khích các bạn tại các tỉnh thành khác tỉnh ngộ, dũng cảm đứng lên hưởng ứng phong trào yêu nước này. Có như vậy mới hy vọng những nhà lãnh đạo đất nước biết ra cái sai của mình, quay lại đứng về phía người dân, để khỏi bị lịch sử đào thải như thầy giáo Hà Văn Thịnh đã nói. Nhân đây cháu cũng thầm cảm ơn người mà chắc không phải vô tình để lại trang web Bauxite Việt Nam tại máy tính quán Internet công cộng, nhờ vậy cháu mới biết đến hiện trạng của Tổ quốc Việt Nam, và từ đó thay đổi cách nhìn đời, cách sống của con người cháu.

Cháu xin tạm tâm sự tới đây thôi.
Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam!
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2010
Lê Văn Công

.

.

Lá thư thứ hai: HS-TS-VN

Kính gửi Giáo Sư Nguyễn Huệ Chi,
Thưa Giáo sư,
Sau khi đọc những bài báo trên mạng nói về các hoạt động của giới trẻ, bằng cách này cách khác, một cách can đảm, nói lên tiếng nói bảo về sự toàn vẹn lãnh thổ, đặc biệt là xác nhận Trường sa, Hoàng sa là của Việt Nam, tôi vừa vui vừa buồn nhưng thú thực là buồn nhiều hơn vui, và có nhiều điều không hiểu nổi, nên có thư này dám mong Giáo sư giải thích giùm.
Điều đầu tiên là vì sao người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, khi tập hợp lại, để lớn tiếng nói với toàn thế giới một sự thật rằng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam, thì họ lại bị chính quyền Việt Nam đàn áp, bắt bớ giam cầm?
Vì sao người Việt Nam, sống trên đất nước Việt Nam mà không dám viết những biểu ngữ rõ rằng rằng “Trường Sa-Hoàng Sa là của Việt Nam” mà chỉ dám viết một cách lén lút rằng “HS-TS-VN”?
Đã vậy khi dán lên lại bị an ninh Việt Nam gỡ xuống hoặc xóa đi.
Vậy thì thưa Giáo sư, xin Giáo sư có thể nào giải thích giùm tôi cũng như chắc là có nhiều người cũng đang thắc mắc là chính quyền Việt Nam hiện nay là chính quyền của nhân dân Việt Nam, hay chỉ là một bộ phận của chính quyền Trung Quốc?
Nếu chính quyền này thật là của nhân dân Việt Nam thì tại sao thay vì vận động toàn dân đứng lên sẵn sàng bảo về sự vẹn toàn lãnh thổ, họ lại thẳng tay bóp chết mọi ý chí cũng như lòng yêu nước của người dân Việt Nam?
Xin Giáo sư nếu có thể giải thích giùm những thắc mắc này.
Cảm ơn Giáo sư và trang mạng Bauxite Việt Nam rất nhiều.
Kính thư
Huỳnh Anh

.

.

.

THEO ĐÓM ĂN TÀN (VỤ VEDAN)

Tháng Bảy 31, 2010

Theo đóm ăn tàn

Lê Quốc Trinh

01/08/2010 | 1:00 sáng

http://www.talawas.org/?p=22954

.

Sự kiện công ty Vedan thải chất độc ra sông Thị Vải gây ô nhiễm môi trường kéo dài từ hơn hai năm nay, báo chí trong nước ỳ sèo, hai bên (Nhà nước và tập đoàn lãnh đạo Vedan) giằng co suốt mấy tháng trời, tưởng chừng không có giải pháp khả thi nào để hỗ trợ dân nghèo bị thiệt hại. Mới tháng trước đây, hàng trăm hộ dân nghèo đã muốn tỏ ý rút lui, bãi bỏ khiếu kiện, chỉ vì án phí Nhà nước quá cao, và chẳng thấy ma nào lên tiếng ủng hộ họ, chỉ còn một ông nông dân còn bám trụ (ông Nguyễn Lam Sơn) và hình như chỉ có một vị luật sư quả cảm dám đứng ra hỗ trợ cho ông này!

.

Thế nhưng, khi Hoa Kỳ tuyên bố nhảy vào vòng chiến trên Biển Đông, siêu hàng không mẫu hạm USS G. Washington vừa mới tham gia tập trận trên vùng Hoàng Hải được mấy hôm, bà ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton vừa đọc diễn văn hùng hồn ở thủ đô Hà Nội xong thì… đột nhiên ngọn gió tâm lý đã đổi hướng 180 độ ngay. Trong khi Trung Quốc hung hăng thực hành tiếp cuộc tập trận lần thứ hai trên biển Hoàng Hải, thì tại Việt Nam, công ty Vedan bắt đầu xuống giọng và đề nghị tăng tiền bồi thường lên gấp đôi (từ 56 tỷ lên đến 130 tỷ đồng), và … Ôi chao! Cả chục luật sư ào ào xông ra đòi biện hộ cho các gia đình nông dân.

.

Ngoạn mục hơn nữa là chính ông Bộ trưởng Tài nguyên Phạm Khôi Nguyên cũng “nóng máu” làm ngay một buổi họp báo, tuyên bố dứt điểm với Vedan vì nắm chắc phần thắng “trăm phần trăm”. Ra là thế đấy, Vedan chịu tăng tiền bồi thường lên gấp đôi, cả trăm tỷ đồng, đâu có ít, cho nên người ta phải lợi dụng thời cơ nhảy vào “đớp hít” chứ, cơ cấu Xã Hội Chủ Nghĩa chạy theo mô hình kinh tế thị trường mà lỵ!

.

Tuy nhiên, không ai chịu khó nhìn xa hơn một chút, để thấy rằng Vedan cũng chỉ là một hình ảnh điển hình cho “hình thức đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam”. Đất nước Việt Nam nghèo, mới thoát xong chiến tranh điêu tàn, rất cần đến đầu tư tiền bạc và kỹ thuật của ngoại quốc vào để phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xã hội. Nhà Nuớc Việt Nam nên biết rằng các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam để tìm lợi nhuận, họ đem nhà máy, thiết bị sang đây để sản xuất, đương nhiên sẽ gây vấn đề ô nhiễm môi trường, nhưng họ đâu thể bỏ hết vốn liếng ra để lo toàn bộ vấn đề ô nhiễm, vì như thế họ sẽ lỗ chỏng gọng, không có lý do gì hiện hữu nữa. Một khi họ quyết định đóng cửa toàn bộ nhà máy thì cả ngàn nhân công, kỹ sư, cán sự Việt Nam sẽ lâm tình trạng thất nghiệp dài dài, có tốt đẹp gì cho kinh tế Việt Nam đâu. Nếu các ông ty ngoại quốc khác nhìn thấy cách cư xử “cạn tàu ráo máng” của Nhà nước Việt Nam thì họ sẽ nghĩ sao? Đừng trách tại sao Việt Nam đã bị thế giới hạ thấp điểm trong vấn đề tín dụng thương mại!

.

Theo kinh nghiệm ở những nước tư bản như Canada, chính phủ họ đã khéo léo hỗ trợ các công ty này bằng cách gửi kỹ sư, cán sự vào học nghề, đi vào nhà máy để cùng nhau tìm phương án giải quyết vấn nạn môi trường. Vừa làm, vừa học, vừa trau dồi kinh nghiệm để sau này, hết hạn BOT (Xây dựng – Khai thác – Chuyển giao), thì chính các kỹ sư Việt Nam này sẽ đảm nhiệm toàn bộ sản xuất, thay thế người ngoại quốc. Đó là hình thức học và làm để duy trì cơ sở sản xuất, tạo công ăn việc làm. Thế nhưng sự kiện Vedan đã chứng tỏ Nhà nước không nhìn ra được vấn đề thâm sâu cho thế hệ tương lai. Khi cần mời mọc các công ty ngoài vào Việt Nam, các ông cán bộ Nhà nước một mực khúm núm, thiếu điều lạy lục, sẵn sàng đặt bút ký văn bản, chịu nhiều điều kiện vô lý của người ngoài, cốt sao bản thân các ông kiếm được một chút “cơm thừa, canh cặn” trong các dự án này là đủ để tận hưởng giàu sang phú quý. Đến khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá sức trầm trọng, các ông cũng chỉ biết dương mắt ếch ngồi nhìn, người dân nghèo có bị thiệt hại mùa màng, tài sản thì các ông cũng chỉ biết “ậm ờ” cho qua, không có lấy một giải pháp kỹ thuật hay kinh tế nào dám đưa ra. Các ông sợ bể nồi cơm, nhất là công ty Vedan lại trực thuộc tập đoàn Đài Loan. Nói cho rõ rằng các ông sợ bóng vía thiên triều Trung Quốc mà đành ngậm miệng. Trung Quốc càng diệu võ dương oai ngoài biển Đông thì các ông càng co rúm người lại, chưa nói là có kẻ trong hàng ngũ các ông lại nuơng nhờ “bóng mây đen” mà sẵn sàng dâng đất, hiến tài nguyên cho “kẻ địch”.

.

Đến khi Hoa Kỳ chính thức nhập cuộc trong màn tranh chấp Biển Đông, thì chính các ông lại “trở cờ theo gió”, lợi dụng thế lực Mỹ để bắt chẹt Vedan và xúm xít nhảy và tranh giành “xôi thịt”. Nếu các ông thật sự nghĩ cho nước non, thì sự kiện đã được giải quyết từ lâu rồi, chẳng phải chờ đợi đến ngày nay. Ông Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên đã giải quyết xong vấn đề Bauxite Tây Nguyên đâu? Ông đã tìm được phương án tối ưu cho vấn nạn bùn đỏ độc hại chưa? Hàng ngàn công nhân Trung Quốc lao động phổ thông (nghề tạp dịch) vẫn còn đóng quân trên “nóc nhà Đông Dương” đấy, Nhà nước đâu dám hó hé? Còn bà Bộ trưởng Thương binh Lao động, bà lặn đi đâu rồi? Luật pháp Việt Nam đâu có cho phép lao động phổ thông (tạp dịch) nước ngoài vào cướp đoạt “miếng cơm manh áo” người dân Việt Nam trong nước, hở bà?

Kết luận: Đúng là “cháy nhà mới ra mặt chuột”, theo dõi sát tình hình mới thấy khả năng tư duy của các vị cán bộ Nhà nước quá sức thấp kém, tất cả không khác gì một bè lũ chỉ biết chạy “theo đóm ăn tàn” mà thôi.

Buồn thay cho vận mệnh nước nhà!

.

Tài liệu dẫn chứng: Vào Tuổi trẻ online, gõ hai chữ Vedan thì sẽ đọc được toàn bộ hồ sơ “pháp lý”, kỳ kèo giá cả giữa hai bên.

.

Canada 30-07-2010

© 2010 Lê Quốc Trinh

© 2010 talawas

.

.

.

KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ và NHÀ Ở tại VIỆT NAM 2009

Tháng Bảy 31, 2010

Công bô kêt qủa Tổng điều tra Dân số và Nhà ở tại Việt Nam

Kiều Liên & Trần Nhật

http://vietcatholic.net/Media/200728KetQuaDanSo.pdf

Theo kết quả điều tra, vào thời điểm o giờ ngày 1-4-2009 dân số Việt Nam là 85.846.977 người, ytong đó có 42.413.143 nam (chiếm 49,4%) và 43.433.854 nữ (chiếm 50,6%)

Xem tiếp : http://vietcatholic.net/Media/200728KetQuaDanSo.pdf

.

.

.

ĐẢNG CHIA HAI, SỨC MẠNH QUYỀN LỰC NHÂN ĐÔI ?

Tháng Bảy 31, 2010

Đảng chia hai, sức mạnh quyền lực nhân đôi?

Giấc Mơ Xanh

Tháng Bảy 1, 2010

http://giacmoxanh.wordpress.com/2010/07/01/d%E1%BA%A3ng-chia-hai-s%E1%BB%A9c-m%E1%BA%A1nh-quy%E1%BB%81n-l%E1%BB%B1c-nhan-doi/

Đọc bài viết Chia hai là nhân đôi” của ông Nguyễn Thanh Giang, mô tả và ca ngợi quan điểm chính trị của ông Luật sư Trần Lâm làm tôi ngạc nhiên và bối rối quá.

Hai ông đều thừa nhận sự tha hoá, tồi tệ của Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Điều đó ai cũng thấy rõ, nhưng mức độ hiểu biết vấn đề thì có lẽ ở mỗi người khác nhau.

Theo ông Nguyễn Thanh Giang, “ông Trần Lâm cho rằng Đảng suy thoái là do lãnh đạo suy thoái và không xứng tầm”, “cha truyền con nối”; còn ông Nguyễn Thanh Giang thì nhận định “không phải là thiếu sót của một ai. Đó là những vấn đề của lịch sử”.

.

Theo tôi hiểu, suy thoái nghĩa là trước đây tốt đẹp, còn giờ trở nên xấu xa. Tôi không cho rằng Đảng suy thoái. Bản chất của Đảng từ trước tới nay vẫn vậy, hoàn toàn không thay đổi. Trong quá khứ, Đảng đã là tác giả của bao nhiêu chuyện tày đình với nhân dân đó thôi? Nào là Cải cách ruộng đất nồi da nấu thịt, làm băng hoại đạo đức xã hội; Nào là đánh Tư sản mại bản: triệt tiêu mọi quyền tư hữu và động lực phát triển; Rồi Nhân văn Giai phẩm: bóp chết trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng khoáng đạt và coi rẻ chất xám của nhân dân; Tiêu thổ kháng chiến: hy sinh tài sản của người dân cho mục đích riêng của Đảng; Thảm sát Mậu Thân: “Bài ca của những xác người” (Trịnh Công Sơn). Ngay cả cuộc chiến tranh “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” mà nhiều người cho rằng chẳng khác một cuộc nội chiến đẫm máu, Đảng cũng đã dùng sinh mạng của hàng triệu người dân hai miền Nam – Bắc để phục vụ cho tham vọng thống trị quyền lực tuyệt đối của Đảng đấy thôi? Ít ra, sau khi hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút khỏi miền Nam, Đảng có bao giờ đưa ra ý định tổng tuyển cử, hoà hợp thống nhất hai miền trong dân chủ và hoà bình đâu?

Vậy thì giờ đây, những hành động, quyết định của Đảng vẫn thể hiện bản chất coi thường dân tộc như trước đây mà thôi, vì tôn chỉ mục đích của Đảng thực chất là đặt quyền lợi thống trị của mình lên trên quyền lợi nhân dân mất rồi.

Đó hoàn toàn không phải là vấn đề của lịch sử như ông Nguyễn Thanh Giang nói. Lịch sử là cái gì khi con người là nhân vật trung tâm, bởi chính con người đã làm nên các sự kiện tạo thành lịch sử? Lịch sử không phải mơ hồ và càng không thể đổ tại lịch sử được. Nói như vậy là lảng tránh sự thật, không nhìn thẳng vào nỗi đau của dân tộc, không nhìn thẳng vào tội ác của kẻ đã gây ra nỗi đau ấy.

.

Mọi “tiêu cực”, “tham nhũng” mà hai ông Nguyễn Thanh Giang và Trần Lâm nêu ra đều xuất phát từ sự độc quyền thống trị của Đảng. Thiết nghĩ, không riêng gì Đảng Cộng sản, bất cứ đảng nào nắm giữ vị trí độc quyền cũng vậy cả. Muốn có một môi trường chính trị lành mạnh cho Việt Nam phát triển trong tương lai thì sự độc quyền ấy bắt buộc phải bị xoá bỏ bằng mọi giá.

Cho nên, phỏng có ích gì khi tách Đảng hiện nay ra làm hai đảng khi mà tôn chỉ mục đích và bản chất của cả hai Đảng ấy vẫn chỉ là một và không thay đổi? Tách một Đảng ra làm hai chỉ làm cho nó thêm sức mạnh và tạo ra một môi trường chính trị dân chủ giả tạo. Liệu có gì đảm bảo sẽ không xảy ra khả năng hai Đảng có cùng một tư tưởng ấy hoặc sẽ tranh ăn với nhau, hoặc sẽ bắt tay nhau tạo thành một liên minh, tham nhũng nhiều hơn, đàn áp và bóp nghẹt sự hoạt động của các đảng phái khác dã man hơn và củng cố quyền lực vững chắc hơn? Không thể có dân chủ thực sự khi không có nhiều luồng tư tưởng chính trị hoàn toàn khác biệt, nhiều đảng phái chính trị với những tôn chỉ mục đích khác nhau song song cùng tồn tại trong một xã hội.

.

Tại sao ông Trần Lâm lại cho rằng không có đảng nào khác đủ thực lực? Nhận định đó có chủ quan quá không khi mà từ trước đến nay, bất cứ một ý tưởng chính trị tiến bộ nào ở Việt Nam đều bị diệt từ trong trứng nước? Tôi tin rằng, nếu cho Việt Nam một môi trường tự do, cởi mở, dân chủ thì ắt sẽ có những bộ óc đủ sức kêu gọi, thành lập và lãnh đạo những đảng chính trị, phục vụ quyền lợi người dân tốt hơn nhiều cái Đảng cầm quyền hiện thời.

.

Ông Trần Lâm và ông Nguyễn Thanh Giang đưa ra ý định tách Đảng để “giữ được ổn định xã hội. Luật pháp giữ nguyên, bộ máy giữ nguyên, mọi hoạt động vẫn bình thường”, “Hai Đảng cùng kết nạp thêm người mới, đó là sự thay máu làm cho Đảng khỏe khoắn, tươi trẻ, bừng bừng sức sống”.

Tôi không nghĩ cái xã hội Việt Nam hiện tại đang ổn định, đó chỉ là cái vỏ bề ngoài. Bên trong nó là một sự hỗn loạn, bất ổn bởi mọi giá trị bị đảo lộn, nhân phẩm con người bị chà đạp. Một xã hội với những cuộc biểu tình, đình công bị đàn áp và không được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng thì không thể gọi là ổn định được. Một xã hội mà sự bất mãn ngày càng tăng, nỗi oan ức và căm phẫn của người dân không được đáp trả bằng công lý mà bằng sự đe dọa và tù ngục thì không thể gọi là ổn định được. Cái vẻ ổn định giả tạo ấy không đáng để giữ nữa. Mặt khác, có cuộc cách mạng thật sự nào mà không có thiệt hại, không làm biến đổi mạnh mẽ cuộc sống xã hội đâu?

.

Chính ông Trần Lâm cũng nhận xét “Nhà dột từ nóc”. Vậy cái nóc dột nát, mục ruỗng ấy thì còn giữ lại làm gì? Sao không vứt bỏ nó và xây một cái nóc mới? Hai ông Nguyễn Thanh Giang và Trần Lâm vẫn muốn duy trì sự thống trị quyền lực của Đảng và điều 4 Hiến pháp để làm gì? Pháp luật ở Việt Nam hiện nay chỉ là công cụ thống trị của Đảng mà thôi. Không những điều 4 Hiến pháp mà cả cái Hiến pháp lẫn hệ thống Pháp luật ở Việt Nam đều đáng bị đào thải. Hiến pháp cần được viết lại toàn bộ. Hệ thống hoạt động Pháp luật từ Quốc hội đến Toà án cũng phải bị xoá sổ để xây dựng một hệ thống Pháp luật mới, hoàn toàn độc lập với hệ thống chính trị. Bất kể đảng phái nào lên nắm chính quyền cũng phải tôn trọng nó.

.

Ông Trần Lâm mong muốn Quốc hội sẽ trở thành đối trọng với Đảng, đó là điều phi logic. Một Quốc hội dân chủ có nhiệm vụ đưa tiếng nói của người dân vào các quyết định lớn của đất nước và hoạt động Lập pháp. Nó hoàn toàn không có tính chất và vai trò chính trị tương đương với Đảng. Đối trọng với một đảng phái này phải là một hay nhiều đảng phái khác. Quốc hội phải có vai trò và vị trí độc lập riêng của mình.

Còn vấn đề “thay máu” cho Đảng mà ông Trần Lâm nêu ra thì chỉ là sự tưởng tượng khôi hài. Từ bao năm nay, Đảng vẫn kết nạp Đảng viên mới mà có “thay máu” được đâu? Bởi tư tưởng đứng trên dân tộc của Đảng vẫn được duy trì, lý thuyết Marcist của Đảng vẫn được dùng làm lá chắn cho lũ Đảng viên sâu bọ. Đảng chẳng thể nào tự “thay máu” được mình khi không có động lực nào để làm vậy. Chỉ có sự cạnh tranh khốc liệt với những đảng phái khác mới có thể làm cho Đảng Cộng sản phải thay đổi- tất nhiên cũng chỉ là hình thức- mà thôi.

.

Trong vấn đề đối ngoại, hai ông Trần Lâm và Nguyễn Thanh Giang cho rằng cần bắt tay với cả Trung Quốc và Mỹ để Việt Nam được độc lập bởi “Người Mỹ thì rõ ràng, thẳng thắn, họ biết hàn gắn quá khứ, họ biết tranh thủ cả một dân tộc”. Tôi lại nghĩ Mỹ hay Trung Quốc cũng đều là ngoại bang cả. Vận mệnh và quyền lợi của nhân dân Việt Nam phải do chính người Việt Nam tự quyết định và tạo dựng. Không thể dựa dẫm hay trông chờ vào bất cứ thế lực bên ngoài nào, cho dù Mỹ có nền dân chủ tiên tiến hay ông anh láng giềng Trung Quốc phát triển kinh tế hùng mạnh. Chiêu bài “dân chủ” của Mỹ đang áp dụng cho Việt Nam chẳng qua để làm suy yếu Đảng cầm quyền, từ đó nuôi dưỡng những đảng phái chính trị khác thân Mỹ hơn. Giả sử Đảng Cộng sản đổi tên khác và chấp nhận cúi đầu làm chư hầu cho Mỹ để Mỹ được lợi về chính trị và kinh tế thì chắc gì Mỹ đã kêu gào “dân chủ” cho Việt Nam nữa? Hay Mỹ lại dung túng cho một chế độ độc tài, nhằm đem cả dân tộc Việt Nam phục vụ cho quyền lợi nước Mỹ? Hãy nhìn vào Trung Đông để thấy vấn đề này. Mỹ sẵn sàng làm ngơ trước thể chế chính trị độc tài một đảng ở các quốc gia Ả Rập, miễn sao vẫn được khai thác dầu với giá rẻ đấy thôi?

.

Tôi cho rằng, Việt Nam chỉ độc lập thật sự khi coi cả Mỹ và Trung Quốc là người đem lại cơ hội cho mình- chứ không phải đồng minh- trong đường lối ngoại giao. Lịch sử đã chứng minh, không có ai là bạn mãi mãi và không có ai là kẻ thù mãi mãi. Điều gì sẽ xảy ra nếu đến thế kỷ 22, Mỹ và Trung Quốc không còn là cường quốc trên thế giới nữa? Khi ấy, Việt Nam sẽ “nắm tay” ai?

Giấc Mơ Xanh

.

.

.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CÒN LẠI GÌ

Tháng Bảy 31, 2010

Chủ nghĩa xã hội còn lại gì

Leszek Kolakowsi

Trần Quốc Việt dịch

31/07/2010 | 12:00 chiều

http://www.talawas.org/?p=22859

Lời người dịch: Leszek Kolakowsi (1927-2009) là một triết gia Ba Lan nổi tiếng thế giới, có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào phản kháng ở Đông Âu, đặc biệt tại Ba Lan. Ông bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Ba Lan năm 1966 và bị cấm dạy tại Đại học Warsaw năm 1968, sau khi ông phê phán chủ nghĩa Stalin qua các bài viết được lưu hành bí mật. Từ đó ông bắt đầu cuộc đời lưu vong, và lần luợt giảng dạy tại các đại học như Berkeley, Yale, Chicago, và cuối cùng Oxford. Trong năm thập niên, ông viết hơn 30 cuốn sách, chủ yếu về triết học, nổi bật nhất và có tầm ảnh hưởng lớn nhất là bộ sách 3 tập, Main Currents of Marxism: Its Rise, Growth and Dissolution (1976). Tác phẩm này là “giấy khai tử” về trí thức của tư tưởng Mác-xít viết ra 13 năm trước khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu đi vào nghĩa trang lịch sử năm 1989. Các nhà lãnh đạo phong đoàn Công đoàn Đoàn kết tranh đấu bền bỉ dựa trên các tư tưởng chống Mác-xít của ông. Ông nhận được rất nhiều giải thưởng lớn, là người đầu tiện nhận Giải thưởng John W. Kluge, trị giá 1 triệu đô-la, được xem như là Giải Nobel cho các ngành nhân văn và xã hội. Ông là “người đánh thức hy vọng của con người” và là một Socrates của Ba Lan trong thế kỷ hai mươi .

_______________

.

Karl Marx – một khối óc lớn, một người rất thông thái, và là một tác giả Đức có tài – mất cách đây 119 năm. Ông sống trong thời đại hơi nước; trong đời mình ông chưa bao giờ nhìn thấy xe hơi, điện thoại, hay bóng đèn điện chứ đừng nói gì đến những máy móc kỹ thuật sau này. Những người hâm mộ ông và những tín đồ của ông đã thường nói và một số người hiện giờ vẫn hay nói: điều đó không quan trọng, những lời dạy của ông vẫn còn hoàn toàn quan hệ đến thời đại của chúng ta vì hệ thống ông  phân tích và đả kích, tức chủ nghĩa tư bản, vẫn còn hiện diện ở đây. Chắc chắn Marx vẫn đáng đọc. Tuy nhiên, vấn đề là: Phải chăng lý thuyết của ông thực sự giải thích được bất kỳ điều gì trong thế giới của chúng ta và phải chăng lý thuyết ấy tạo ra một cơ sở cho bất kỳ sự tiên đoán nào? Câu trả lời là: Không. Một câu hỏi khác là đã có một thời các lý thuyết của ông có ích lợi hay không. Câu trả lời, rõ ràng là: Có; những lý thuyết này đã hoạt động thành công như là một loạt khẩu hiệu được xem là để biện minh và tôn vinh chủ nghĩa cộng sản cùng với sự nô lệ tất yếu đi kèm với nó.

.

Khi chúng ta hỏi những lý thuyết đó giải thích được gì hay Marx khám phá được gì, chúng ta có thể chỉ hỏi về những tư tưởng riêng của ông, chứ không phải những chuyện tầm thường thiết tưởng ai cũng hiểu. Chúng ta không nên biến Marx thành trò cười khi gán cho ông sự khám phá rằng trong tất cả các xã hội không nguyên thuỷ có những nhóm xã hội hay giai cấp do có các quyền lợi xung đột nhau nên đấu tranh lẫn nhau; điều này các nhà lịch sử thời cổ đại đã biết đến. Chính Marx cũng không dám tuyên bố đã khám phá ra điều này; như ông viết trong lá thư gởi Joseph Weydemeyer vào năm 1852, ông không khám phá ra đấu tranh giai cấp, mà đúng hơn là đã chứng minh rằng đấu tranh giai cấp dẫn đến chuyên chính vô sản, rồi cuối cùng lại dẫn đến xoá bỏ các giai cấp. Ta thật không thể nào khẳng định được tại đâu và bằng cách nào ông “đã chứng minh” được lời tuyên bố to tát này trong các tác phẩm của ông vào trước năm 1852. Để “giải thích” điều gì là đặt các sự kiện hay các quá trình vào các định luật; nhưng “các quy luật” hiểu theo nghĩa của Marx lại không phải là các định luật trong các môn khoa học tự nhiên, là nơi các định luật được hiểu như là các công thức khẳng định rằng trong các điều kiện được xác định rõ ràng, các hiện tượng được xác định rõ ràng luôn luôn xảy ra. Những gì Marx gọi là “các quy luật” thực ra chỉ là những khuynh hướng có tính lịch sử. Do vậy trong các lý thuyết của ông không có sự phân biệt rạch ròi giữa giải thích và tiên đoán. Ngoài ra, ông tin rằng ta có thể hiểu được ý nghĩa của cả quá khứ lẫn hiện tại nhờ suy ra từ tương lai, mà ông tuyên bố biết trước được. Vì thế, đối với Marx, chỉ những gì không (chưa) tồn tại có thể giải thích những gì hiện đang tồn tại. Nhưng ta nên nói thêm rằng đối với Marx, tương lai hiện đang tồn tại, theo cách nhìn biện chứng Hegel kỳ lạ, cho dù tương lai ta chẳng thể nào biết được.

.

Tuy nhiên, tất cả các tiên đoán quan trọng của Marx hoá ra đều không đúng.

.

Đầu tiên, ông tiên đoán sự phân cực giai cấp ngày càng tăng và sự biến mất của giai cấp trung lưu trong các xã hội dựa trên nền kinh tế thị trường. Karl Kautsky nhấn mạnh đúng rằng nếu sự tiên đoán này sai, toàn bộ lý thuyết của Marx sẽ sụp đổ tan tành. Rõ ràng điều tiên đoán này chứng tỏ là sai, hay ngược lại thì đúng hơn. Giai cấp trung lưu ngày càng phát triển, trái lại giai cấp lao động theo nghĩa Marx muốn nói đã co dần lại trong các xã hội tư bản đang ở giữa thời tiến bộ về kỹ thuật.

.

Thứ hai, ông tiên đoán sự bần cùng không chỉ tương đối mà còn tuyệt đối của giai cấp lao động. Điều tiên đoán này đã sai ngay chính trong đời ông. Thật ra, ta nên lưu ý rằng tác giả của bộ Tư bản đã cập nhật trong lần tái bản lần thứ hai những số liệu và thống kê, nhưng không phải những số liệu và thống kê liên quan đến tiền lương của công nhân; giá mà được cập nhật, những số liệu đó sẽ mâu thuẫn với lý thuyết của ông. Ngay cả những người theo chủ nghĩa Marx giáo điều nhất trong những thập niên gần đây cũng không cố gắng bấu víu vào điều tiên đoán rõ ràng là sai này.

.

Thứ ba, và quan trọng nhất, lý thuyết của Marx tiên đoán sự tất yếu của cách mạng vô sản. Một cuộc cách mạng như thế chưa từng bao giờ diễn ra ở bất kỳ đâu. Cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga chẳng liên quan gì đến những lời tiên đoán của Marx. Động lực của cuộc cách mạng ấy không phải là sự xung đột giữa giai cấp lao động công nghiệp và tư bản, mà đúng hơn là được tiến hành theo những khẩu hiệu không có nội dung xã hội chủ nghĩa, chứ đừng nói đến nội dung chủ nghĩa Marx: Hoà bình và ruộng đất cho nông dân. Thiết tưởng không cần nhắc rằng những khẩu hiệu này về sau đã bị đảo ngược lại. Trong thế kỷ hai mươi, biến động được xem là gần giống nhất cuộc cách mạng của giai cấp lao động là những sự kiện diễn ra ở Ba Lan từ năm 1980 đến 1981: phong trào cách mạng của những công nhân công nghiệp (vốn được giới trí thức ủng hộ rất mạnh) chống lại những kẻ bóc lột, tức là nhà nước. Hơn nữa trường hợp duy nhất này của cuộc cách mạng của giai cấp lao động (thậm chí nếu ta xem đây là cuộc cách mạng) là nhằm chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa, và được tiến hành dưới dấu thánh giá, kèm theo sự ban phúc của Đức Giáo hoàng.

.

Thứ tư, ta phải nhắc đến điều tiên đoán của Marx về sự suy giảm tất yếu của tỷ suất lợi nhuận, một quá trình được xem là cuối cùng sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế tư bản. Không khác với những tiên đoán khác, tiên đoán này cũng hoàn toàn sai lầm. Ngay cả theo lý thuyết của Marx, đây không thể nào là một tỷ suất cố định bình thường hoạt động tất yếu, vì chính sự phát triển kỹ thuật làm giảm đi một phần tư bản khả biến trong chi phí sản xuất cũng làm giảm đi giá trị của tư bản bất biến. Vì thế tỷ suất lợi nhuận có thể vẫn không thay đổi hay thậm chí còn tăng lên, nếu điều mà Marx gọi là “lao động sống” cho một sản phẩm giảm. Và ngay cho dù “quy luật” này có đúng chăng nữa, cơ chế mà qua đó sự hoạt động của nó sẽ gây ra sự suy yếu và tàn lụi của chủ nghĩa tư bản cũng không thể nào khả thi được, vì sự sụp đổ tỷ suất lợi nhuận có thể xảy ra một cách hợp lý trong những điều kiện mà số lượng tuyệt đối của lợi nhuận đang tăng lên. Tuy có thể không có giá trị, song điều này đã được Rosa Luxemburg lưu ý đến, và bà đã nghĩ ra một lý thuyết của riêng mình về sự sụp đổ không thể nào tránh được của chủ nghĩa tư bản, nhưng rồi lý thuyết ấy cũng chứng tỏ sai không kém.

.

Khía cạnh thứ năm của chủ nghĩa Marx đã chứng tỏ sai lầm là điều tiên đoán rằng thị trường sẽ cản trở sự tiến bộ về kỹ thuật. Rõ ràng hoàn toàn ngược lại mới đúng. Các nền kinh tế thị trường đã chứng tỏ cực kỳ hữu hiệu trong việc kích thích sự tiến bộ về kỹ thuật, trái lại “chủ nghĩa xã hội hiện thực” hoá ra trì trệ về kỹ thuật. Do không thể nào phủ nhận được rằng thị trường đã tạo ra sự dư thừa của cải lớn nhất chưa từng được biết đến trong lịch sử nhân loại, một số người Tân Mác-xít đã buộc lòng thay đổi cách nhìn của họ. Một thời, chủ nghĩa tư bản tưởng chừng đáng ghê sợ vì nó tạo ra cảnh bần hàn khốn khổ; về sau, nó cũng lại đáng ghê sợ vì nó tạo ra cảnh dư thừa đến mức giết chết bản sắc văn hoá.

Những người Tân Mác-xít hay than vãn về điều họ gọi là “chủ nghĩa tiêu thụ” hay “xã hội tiêu thụ”. Trong nền văn minh của chúng ta quả thực có nhiều hiện tượng đáng báo động và đáng than phiền liên quan đến mức tiêu thụ gia tăng. Tuy nhiên, vấn đề là nền văn minh mà chúng ta biết như là một sự lựa chọn khác với nền văn minh này còn cực kỳ xấu xa hơn nhiều. Trong tất cả các xã hội cộng sản, những cải cách kinh tế (nếu may ra có đạt được kết quả gì chăng nữa) đều luôn luôn theo cùng một hướng: khôi phục phần nào thị trường, nghĩa là, thị trường của “chủ nghĩa tư bản”.

.

Về cái gọi là quan niệm duy vật về lịch sử, cách hiểu này đã cho chúng ta một số gợi ý và thấu hiểu bất ngờ lý thú, nhưng nó không có giá trị giải thích. Theo cách giải thích cứng ngắc, kiên định về quan niệm này, mà ta có thể thấy được đề cao đáng kể trong nhiều tác phẩm kinh điển, quan niệm này ám chỉ rằng sự phát triển xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào cuộc đấu tranh giai cấp mà cuối cùng, qua trung gian của những “phương thức sản xuất” thay đổi, được quyết định bởi trình độ kỹ thuật của chính xã hội ấy. Hơn thế nữa, quan niệm này cũng ám chỉ rằng luật pháp, tôn giáo, triết học, và những nhân tố khác của văn hoá hết thảy đều không có lịch sử riêng của mình, vì lịch sử của chúng là lịch sử của các mối quan hệ về sản xuất. Đây là một tuyên bố hoàn toàn vô lý, hoàn toàn thiếu cơ sở lịch sử.

Nếu, mặt khác, lý thuyết ấy được hiểu theo nghĩa hời hợt, hạn hẹp, thì nó chỉ nói lên rằng lịch sử văn hoá phải được nghiên cứu sao cho ta nên xem xét đến các cuộc đấu tranh xã hội và đến các quyền lợi xung đột, rằng các thể chế chính trị, phụ thuộc, một cách ít ra là tiêu cực, phần nào vào sự phát triển kỹ thuật và vào các xung đột xã hội. Tuy nhiên, điều này lại là chuyện tầm thường chẳng đáng tranh cãi mà người ta đã biết trước Marx từ lâu. Và vì thế, quan niệm duy vật về lịch sử hoặc là vô lý hoặc là tầm thường.

.

Một nội dung khác trong lý thuyết của Marx cũng thiếu khả năng giải thích là lý thuyết lao động của ông. Marx đã thêm hai điều quan trọng vào các lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Thứ nhất, ông cho rằng trong mối quan hệ giữa công nhân và tư bản, công nhân bán sức lao động, chứ không bán lao động; thứ hai, ông phân biệt giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Cả hai lý luận này đều không có bất kỳ cơ sở thực nghiệm nào, và cả hai cũng không được cần đến để giải thích các cuộc khủng hoảng, sự cạnh tranh, và xung đột quyền lợi. Các cuộc khủng hoảng và các chu kỳ kinh tế có thể hiểu được bằng cách phân tích sự vận động của giá cả, và lý thuyết về giá trị của ông không đóng góp thêm gì vào sự hiểu biết của chúng ta về những điều này. Có vẻ như giả sử Marx không sinh ra đời thì khoa kinh tế thời ông, phân biệt với ý thức hệ kinh tế, cũng sẽ chẳng khác gì nhiều với khoa kinh tế thời nay.

.

Những khía cạnh mà tôi đề cập đều không được chọn một cách ngẫu nhiên: chúng tạo thành cái sườn của học thuyết Marx. Mà nghĩ lại, trong chủ nghĩa Marx hầu như chẳng có điều gì khả dĩ đưa ra lời giải cho nhiều vấn đề trong thời đại của chúng ta, chủ yếu vì cách đây một thế kỷ các vấn đề này không cấp bách như hiện nay. Về vấn đề sinh thái, ta sẽ tìm thấy ở Marx chỉ một vài điều tầm thường lãng mạn về sự thống nhất giữa con người với tự nhiên. Còn các vấn đề dân số thì hoàn toàn vắng bóng, ngoại trừ việc Marx từ chối tin rằng các vấn đề như bùng nổ dân số theo nghĩa tuyệt đối lại có thể xảy ra. Những vấn đề lớn lao bất ngờ của Thế giới thứ Ba cũng chẳng thể tìm thấy được lợi ích gì từ trong lý thuyết của ông. Marx và Engles rất tôn sùng châu Âu; họ coi thường các nền văn minh khác, họ còn ca ngợi những thành quả tiến bộ của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc (ở Ấn Độ, Algeria, và Mexico). Đối với họ điều quan trọng là sự chiến thắng của nền văn minh phát triển cao hơn đối với các nền văn minh lạc hậu; lý tưởng về quyền tự quyết dân tộc đối với Engels chỉ là trò hề.

.

Điều chủ nghĩa Marx ít có khả năng giải thích nhất là chủ nghĩa xã hội toàn trị, cái chủ nghĩa đã phong Marx là đấng tiên tri của nó. Nhiều người Mác-xít phương Tây thường nói rằng chủ nghĩa xã hội như đã tồn tại một thời ở Liên Xô chẳng liên quan gì đến lý thuyết của Marx, và dù có thể đáng bị lên án, nhưng nó được giải thích tốt nhất theo những điều kiện cụ thể ở Nga. Nếu điều này đúng, làm sao có chuyện là rất nhiều người trong thế kỷ mười chín, nhất là những người theo trường phái vô chính phủ, đã tiên đoán khá chính xác rằng chủ nghĩa xã hội dựa trên các lý luận của Marx rồi cuối cùng sẽ biến thành – cụ thể, chế độ nô lệ nhà nước. Proudhon qua lý lẽ đã khẳng định rằng lý tưởng của Marx sẽ biến con người thành tài sản của nhà nước. Còn theo Bakunin, chủ nghĩa xã hội của Marx sẽ là sự cai trị của những kẻ phản bội lại chính giai cấp cai trị, và nó sẽ dựa trên sự bóc lột và áp bức còn tàn tệ hơn những gì con người đã từng biết qua. Hay theo nhà công đoàn chủ nghĩa chủ trương vô chính phủ người Ba Lan Edward Abramowski, nếu nhờ phép lạ nào đấy, chủ nghĩa cộng sản sẽ chiến thắng được trong những điều kiện đạo đức của xã hội đương thời, thì nó sẽ dẫn đến sự phân chia giai cấp và sự bóc lột còn tàn tệ hơn nhiều những gì tồn tại vào thời ấy (vì những thay đổi về thể chế không thay đổi những động cơ con người và hành vi đạo đức.) Benjamin Tucker tuyên bố rằng chủ nghĩa Marx chỉ biết một cách chữa cho các độc quyền, đó là một độc quyền duy nhất.

.

Những tiên đoán này được đưa ra vào thế kỷ mười chín, hàng chục năm trước cuộc Cách mạng Nga. Phải chăng những người này có tài nhìn thấu đến tương lai? Không. Đúng ra, ta có thể đưa ra những lời tiên đoán như thế một cách hợp lý, và từ bao kỳ vọng của Marx ta có thể suy đoán ra được chế độ nô lệ toàn xã hội ấy. Tất nhiên, thật vô lý khi cho rằng đây là ý định của đấng tiên tri này, hay chủ nghĩa Marx là nguyên nhân, tác nhân đã sinh ra chủ nghĩa cộng sản trong thế kỷ hai mươi. Chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản Nga là kết quả của một loạt sự kiện ngẫu nhiên phi thường. Nhưng ta có thể khẳng định rằng lý thuyết của Marx đã góp phần rất lớn vào sự ra đời của chủ nghĩa toàn trị, và đồng thời ban cho nó hình thức ý thức hệ. Lý thuyết ấy đã dự trù trước sự quốc hữu hoá phổ quát tất cả mọi thứ, và như thế quốc hữu hoá luôn cả con người. Chắc chắn, Marx lấy từ những người theo trường phái Saint-Simon khẩu hiệu là trong tương lai sẽ không còn nhà nước, mà chỉ còn quản lý sự vật; tuy nhiên, ông không chợt nghĩ xa hơn rằng ta không thể quản lý sự vật nếu không dùng người cho mục đích đó, vì thế quản lý toàn bộ sự vật có nghĩa là quản lý hoàn toàn con người.

.

Điều này không có nghĩa là tác phẩm của Marx không đáng đọc; tác phẩm của ông là một phần văn hoá châu Âu mà ta nên đọc như ta đọc nhiều tác phẩm cổ điển khác. Ta nên đọc các tác phẩm bàn về vật lý của Descartes, nhưng quả là phi lý khi đọc các tác phẩm này như là sách hướng dẫn có giá trị về cách nghiên cứu vật lý thời nay. Tuy hiện giờ ở các nước cộng sản cũ, người ta ghét cay ghét đắng Marx và các sách vở Mác-xít, nhưng sự ghét này theo thời gian rồi cũng có thể qua đi; thậm chí cuối cùng những tác phẩm của Marx vẫn sẽ có người đọc như tàn tích của một thời quá khứ. Một trong những nguyên nhân khiến chủ nghĩa Marx được ưa chuộng nhiều trong giới có học là ở chỗ rằng chủ nghĩa Marx, dưới một hình thức đơn giản, lại rất dễ hiểu; đến cả Sartre cũng nhận thấy rằng những người Mác-xít là lười biếng. Đúng vậy, họ thích có một chiếc chìa khoá mở tung ra tất cả cánh cửa; một sự giải thích có thể áp dụng phổ quát cho tất cả mọi thứ, một công cụ giúp họ có thể nắm vững toàn bộ lịch sử và kinh tế mà chẳng thật sự phải nhọc công học môn nào.

.

Phải chăng cái chết của chủ nghĩa Marx mặc nhiên đồng nghĩa với sự cáo chung của truyền thống chủ nghĩa xã hội? Không nhất thiết như vậy. Mọi sự, dĩ nhiên, đều phụ thuộc vào ý nghĩa của từ “chủ nghĩa xã hội”, và những ai vẫn còn dùng đến từ ấy để bày tỏ tín ngưỡng của mình đều miễn cưỡng nói lên điều họ muốn nói, ngoại trừ những điều chung chung trống rỗng. Do thế ta cần có một số phân biệt. Cái khó là niềm ao ước phát hiện ra “những quy luật lịch sử” đã làm cho nhiều người tưởng tượng “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội” là hai “hệ thống” toàn cầu, hoàn toàn đối chọi lấn nhau. Nhưng chẳng có gì so sánh. Chủ nghĩa tư bản đã phát triển một cách tự nhiên và hữu cơ từ sự mở mang thương mại. Chẳng ai đặt kế hoạch cho nó và nó cũng chẳng cần đến một ý thức hệ bao trùm lên tất cả, ngược lại chủ nghĩa xã hội là một sự kiến tạo ý thức hệ. Cuối cùng, chủ nghĩa tư bản là bản chất con người đang phát tác, tức là lòng tham của con người được cho phép đi đến tận cùng con đường của nó, trái lại chủ nghĩa xã hội là một cố gắng thể chế hoá và áp đặt tình huynh đệ. Đến giờ đây, tưởng chừng như hiển nhiên rằng một xã hội mà trong đó lòng tham, bất chấp tất cả các khía cạnh ghê tởm và đáng lên án của nó, là động cơ chính của những hành vi của con người, thì vẫn cực kỳ tốt hơn một xã hội dựa trên tình huynh đệ cưỡng bức, dù trong chủ nghĩa xã hội dân tộc hay trong chủ nghĩa xã hội quốc tế.

.

Quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một “xã hội thay thế” cho chủ nghĩa tư bản chung quy vẫn là quan niệm về chế độ nô lệ toàn trị; việc xoá bỏ thị trường và quốc hữu hoá toàn diện không thể tạo ra bất kỳ kết quả nào khác đi được. Niềm tin rằng ta có thể tạo dựng nên sự bình đẳng hoàn toàn trong xã hội bằng biện pháp thể chế cũng độc hại không kém. Thế giới từng biết đến nhiều nơi có sự bình đẳng tự nguyện, được duy trì ở trong những tu viện nào đó và ở trong một số các hợp tác xã thế tục. Tuy nhiên, bình đẳng dưới sự cưỡng bách tất yếu phải dùng đến phương cách toàn trị, mà chủ nghĩa toàn trị lại hàm nghĩa sự bất bình đẳng cực độ vì nó đưa đến sự bất bình đẳng về quyền được có thông tin và quyền được có quyền lực. Thực tế mà nói, bình đẳng trong việc phân phối hàng hoá vật chất cũng không thể nào có được khi mà quyền lực chỉ được tập trung vào tay của một thiểu số nắm quyền đứng trên luật pháp. Vì vậy bình đẳng là điều xa vời chưa từng bao giờ tồn tại trong các nước xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng này vì thế tự chuốc lấy thất bại. Chúng ta biết rõ tại sao nguyên tắc kế hoạch toàn diện là thảm hoạ về mặt kinh tế, và có quá đủ các bằng chứng từ kinh nghiệm của tất cả các quốc gia cộng sản không có ngoại lệ để khẳng định những chỉ trích của Friedrich von Hayek về điểm này. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này có nghĩa rằng sự trấn áp ngăn cản nhân dân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào có ích lợi cho xã hội trừ phi theo lệnh của nhà nước.

.

Tuy nhiên, truyền thống chủ nghĩa xã hội phong phú và đa dạng, và truyền thống này bao gồm nhiều chủ nghĩa khác nhau ngoài chủ nghĩa Marx. Một số các tư tưởng xã hội chủ nghĩa quả thực đã có khuynh hướng toàn trị cố hữu. Điều này áp dụng cho phần lớn chủ nghĩa xã hội không tưởng thời Phục hưng và Khai sáng, và cho cả Saint-Simon. Song một số tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ các giá trị tự do. Ngay khi chủ nghĩa xã hội, vốn khởi đầu như là một ảo tưởng ngây thơ, trở thành một phong trào chính trị thực sự, không phải tất cả các biến thể nào của nó cũng đều có quan niệm về một “xã hội thay thế”, và trong số những biến thể có quan niệm như thế, nhiều biến thể lại không xem trọng quan niệm ấy.

Mọi sự rõ ràng hơn vào trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất. Những người theo chủ nghĩa xã hội và cánh tả thời ấy nói chung không những muốn một nền giáo dục phổ cập, bắt buộc, bình đẳng, dịch vụ y tế xã hội, thuế luỹ tiến, và tự do tín ngưỡng, mà còn muốn một nền giáo dục thế tục, xoá bỏ kỳ thị chủng tộc và quốc gia, phụ nữ được bình đẳng, tự do báo chí và tự do hội họp, quy định pháp lý về các điều kiện lao động, và hệ thống bảo hiểm xã hội. Họ đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa Sô-vanh. Những nhà lãnh đạo chủ nghĩa xã hội châu Âu trong thời kỳ Đệ Nhị Quốc tế, những người như Jaurès, Babel, Turati, Vandervelle, và Martov, là hiện thân những gì tốt đẹp nhất trong đời sống chính trị châu Âu.

Nhưng mọi sự đã thay đổi sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, khi cái từ “chủ nghĩa xã hội” (và phần lớn nghĩa của từ “cánh tả”) bắt đầu hầu như bị chủ nghĩa xã hội Leninist-Stalinist độc chiếm hoàn toàn, qua đó đã bóp méo đa số những đòi hỏi và những khẩu hiệu này theo nghĩa ngược lại. Đồng thời, đa số những lý tưởng “xã hội chủ nghĩa” trên thực tế đã lại trở thành hiện thực ở các nước dân chủ hoạt động trong khuôn khổ nền kinh tế thị trường. Than ôi, các phong trào chủ nghĩa xã hội phi toàn trị trong nhiều thập niên đã bị bế tắc về ý thức hệ và thiếu can đảm để tố cáo và đấu tranh kiên trì chống lại hệ thống chính trị sát nhân nhất và tàn bạo nhất trên thế giới (ngoài chủ nghĩa Quốc xã). Chủ nghĩa cộng sản Xô-viết, dù sao, vẫn được coi là một dạng của chủ nghĩa xã hội, nhưng nó tự tô điểm bằng văn phong nhân văn và quốc tế thừa hưởng từ truyền thống chủ nghĩa xã hội. Thế là chế độ chuyên chế Leninist đã ăn cắp được cái từ “chủ nghĩa xã hội”, và những kẻ theo chủ nghĩa xã hội phi toàn trị là tòng phạm trong vụ trộm này. Đành rằng có một vài ngoại lệ cho lẽ thường này, nhưng không nhiều.

.

Dù thế nào đi nữa, các phong trào chủ nghĩa xã hội đã đóng góp rất nhiều cho việc thay đổi cảnh quan chính trị theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Các phong trào này đã tạo ra một số các cải cách xã hội mà nếu không có chúng thì nhà nước phúc lợi đương thời, mà đa số chúng ta coi là dĩ nhiên, sẽ là điều không tưởng. Do thế thật đáng tiếc nếu chủ nghĩa cộng sản sụp đổ dẫn đến sự cáo chung của truyền thống chủ nghĩa xã hội nói chung và sự lên ngôi của chủ nghĩa Darwin Xã hội như là ý thức hệ chủ đạo.

Dù thừa nhận rằng một xã hội hoàn thiện chắc chắn sẽ không bao giờ hiện hữu trong tầm tay với của con người và rằng con người sẽ luôn luôn tìm ra đủ mọi lý do để đối xử tàn nhẫn với nhau, chúng ta không nên vì thế mà vất bỏ đi khái niệm “công bằng xã hội”, cho dù nó có thể bị Hayek và những tín đồ của ông chê cười. Chắc chắn khái niệm này không thể nào được định nghĩa theo thuật ngữ kinh tế. Ta không thể nào suy ra từ lời diễn đạt “công bằng xã hội” ấy câu trả lời cho những câu hỏi như trong những điều kiện có sẵn hệ thống thuế cụ thể nào là tốt về phương diện kinh tế và đáng nên áp dụng, những phúc lợi xã hội nào là chính đáng, hay cách nào là tốt nhất để các nước giàu trợ giúp cho những vùng nghèo nàn hơn trên thế giới. “Công bằng xã hội” chỉ diễn đạt một thái độ đối với các vấn đề xã hội. Đúng là khái niệm “công bằng xã hội” hay được sử dụng bởi những cá nhân hay toàn thể các xã hội từ chối nhận lấy trách nhiệm về cuộc đời của mình. Nhưng, như lời người xưa dạy, đừng vì sự lạm dụng mà từ bỏ sự hữu dụng.

.

Với tất cả sự mơ hồ của nó, “công bằng xã hội” giống khái niệm “nhân phẩm”. Thật khó định nghĩa nhân phẩm là gì. Nhân phẩm không phải là nội tạng mà ta khám phá bên trong cơ thể, nhân phẩm không phải là ý niệm thực thể nhưng nếu không có nhân phẩm chúng ta không thể nào trả lời nổi một câu hỏi đơn giản: tại sao chế độ chiếm hữu nô lệ là sai? Tương tự như thế, khái niệm công bằng xã hội là mơ hồ và nó có thể được dùng để làm công cụ ý thức hệ của chủ nghĩa xã hội toàn trị. Tuy nhiên khái niệm này là trung gian hữu ích giữa sự khích lệ với từ thiện, với phát chẩn, và với khái niệm công bằng phân phối; công bằng xã hội không giống như công bằng phân phối vì nó không nhất thiết bao hàm sự thừa nhận lẫn nhau. Công bằng xã hội cũng không đơn thuần là  kêu gọi lòng từ thiện, vì nó bao hàm, dù không chính xác, những yêu cầu giúp đỡ nào đấy có thể xứng đáng. Khái niệm công bằng xã hội không hàm nghĩa là có một điều như số phận chung của nhân loại, trong đó tất cả mọi người đều dự phần, nhưng nó gợi ý rằng khái niệm nhân loại là phạm trù rõ ràng dễ hiểu – không phải là phạm trù động vật mà đúng hơn là phạm trù đạo đức.

.

Không có thị trường, nền kinh tế chắc chắn sụp đổ (thực ra, trong “chủ nghĩa xã hội hiện thực” hoàn toàn không có nền kinh tế, chỉ có chính sách kinh tế). Nhưng người ta cũng thường thừa nhận là thị trường không tự nhiên giải quyết được hết tất cả các vấn đề thúc bách của con người. Khái niệm công bằng xã hội được cần đến để biện minh cho niềm tin rằng có một “nhân loại” – và rằng chúng ta phải xem những cá nhân khác là thuộc về tập thể này, và đối với tập thể này chúng ta có những bổn phận đạo đức nhất định.

Là triết học về xã hội hay về đạo đức, chủ nghĩa xã hội đã dựa trên lý tưởng về tình huynh đệ con người, mà có thể không bao giờ thực hiện được bằng biện pháp thể chế. Chưa từng bao giờ có, và sẽ không bao giờ có một biện pháp thể chế nào bắt buộc con người phải trở thành anh em với nhau. Tình huynh đệ bị ép buộc ấy là ý tưởng độc hại nhất mà con người đã nghĩ ra trong thời hiện đại; nó là con đường tất yếu dẫn tới chế độ chuyên chế toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo ý nghĩa này chẳng khác gì toàn là dối trá lọc lừa. Tuy nhiên, đây không phải là lý do để ta từ bỏ ý tưởng về tình huynh đệ con người. Nếu ý tưởng này là điều trong thực tế chúng ta không thể đạt được qua con đường xây dựng xã hội, thì nó vẫn hữu ích như là lời tuyên bố về các mục tiêu. Tư tưởng xã hội chủ nghĩa như ta biết qua kế hoạch cho một “xã hội thay thế” đã chết. Nhưng như là lời tuyên bố đoàn kết với những nạn nhân cô thế của bất công và những phận người bị áp bức, như là sự thôi thúc chống lại chủ nghĩa Darwin Xã hội, như là ánh sáng luôn soi cho chúng ta thấy một điều gì đấy cao quý hơn sự cạnh tranh và lòng tham, chính vì tất cả những lý do này, chủ nghĩa xã hội, về lý tưởng chứ không phải hệ thống, vẫn còn có ích.

Nguồn: “What is left of socialism”, tạp chí First Things, số tháng Mười năm 2002

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Quốc Việt

Bản tiếng Việt © 2010 talawas

.

.

.

TIN & BÀI của NGÀY 30-7-2010

Tháng Bảy 31, 2010

TIN & BÀI của NGÀY 30-7-2010

 

HỌC 40 NGÀY GIÁM ĐÔC SỞ LẤY BẰNG THẠC SĨ

BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN LÀM GÌ THẾ NÀY ?

ĐÀM VĨNH HƯNG KHÔNG CHỈ LẬU THUẾ MÀ CÒN KẾT HÔN GỈA  

NHA TRANG : DÂN KÉO XUỐNG ĐƯỜNG ĐẢ ĐẢO BỌN CƯỚP NGÀY  

HOA KỲ VẪN XEM BIỂN ĐÔNG THUỘC VỀ QUYỀN LỢI QUỐC GIA  

HOA KỲ và MẶT TRẬN BIỂN ĐÔNG

TRUNG QUỐC CÓ THỂ DÙNG QUÂN SỰ TRONG VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG  

VIỆT NAM : RÀO CHẮN MỐI HỌA TRUNG QUỐC

MỸ DỨT KHOÁT CAN DỰ VÀO BIỂN ĐÔNG

LÈO LÁI GIỮA BIỂN TRANH CHẤP

SỨC MẠNH MỀM CỦA TRUNG QUỐC LÀ MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI PHƯƠNG TÂY  

CÔNG TY TRUYỀN HÌNH INTERNET GIÚP CHỐNG LẠI SỰ KIỂM DUYỆT CỦA BÁC KINH  

TRẺ SƠ SINH ĐANG CÒN SỐNG BỊ XỬ LÝ NHƯ LÀ CHẤT THẢI Ở QUẢNG ĐÔNG

ĐỐI PHÓ VỚI SỨC MẠNH TÀI CHÍNH CỦA TRUNG QUỐC

TẨY CHAY KÝ GIẢ LÀM LỢI CHO CỘNG SẢN

NGÀY ĐI BỘ QUỐC TẾ NIJIMEN – HÒA LAN (NGÀY 3 / 22-7-2010)  

NGÀY ĐI BỘ QUỐC TẾ NIJIMEN – HÒA LAN (NGÀY 4 / 23-7-2010)  

30 NĂM HỘI NGỘ NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN TẠI NUERNBERG và TRI ÂN NƯỚC ĐỨC

NGƯỜI TÙ CỦA CUỘC CHIẾN CÁCH ĐÂY 35 NĂM

ĐỌC “NHỮNG CƠN MƯA MÙA ĐÔNG” CỦA LỮ QUỲNH

PHAN KHÔI, MỘT NỬA CUỐN SÁCH

GIỚI NGHIÊM INTERNET : CHUYỆN THẰNG CAM CON QUÝT

HAI DÂN BIỂU GỐC VIỆT LÊN ÁN CSVN CHÀ ĐẠP NHÂN QUYỀN  

HAI NHÂN VIÊN CAO CẤP HÃNG QANTAS ĐƯỢC GIẢI THOÁT KHỎI VN  

NGƯỜI TRÍ THỨC BỊ RUỒNG BỎ – NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

LÀN SÓNG DÂN CHỦ

LỖI CHÍNH TẢ TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT GẤP 8 LẦN CHUẨN  

HỘI THẢO HÈ 2010 : MỤC LỤC CÁC THAM LUẬN

LẠI THÊM MỘT LÀN SÓNG NGẦM TRONG THANH NIÊN, BLOGGẺ VIỆT  

BỤNG RỖNG CÒN SỢ ĐÓI

ĐÔI LỜI CĂN DẶN CÁC BẠN SINH VIÊN YÊU NƯỚC (Nguyễn Huệ Chi)  

TÂN CHỦ TỊCH và PHÓ CHỦ TỊCH HÀ TĨNH DÙNG BẰNG GIẢ

BÁO CHÍ VIỆT NAM và CÁI NHÌN LỆCH LẠC VỀ GIỚI TRẺ  

THI ĐUA TÀN PHÁ RỪNG THÔNG ĐÀ LẠT (4)

GIẢI PHÁP ĐỂ CỨU NƯỚC: TRƯỚC HẾT LÀ SÁM HỐI

.

.

.


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 38 other followers