TÌM HIểU SƠ LƯợC TRANH CHấP NHậT-TRUNG Về QUầN ĐảO ĐIếU NGƯ

Tìm hiểu sơ lược tranh chấp Nhật-Trung về quần đảo Điếu Ngư

Trương Nhân Tuấn

Thu, 09/16/2010 – 02:59

http://www.x-cafevn.org/node/971

Trương Nhân Tuấn gửi 15.09.2010

Tranh chấp hai bên Nhật-Trung về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư trở nên căng thẳng từ tuần lễ đầu tháng 9. Quần đảo này hiện do Nhật quản lý nhưng Trung Quốc và Đài Loan cùng dành chủ quyền. Trung Quốc (và Đài Loan) chỉ mới lên tiếng đòi hỏi chủ quyền quần đảo này đầu thập niên 70, sau khi Hoa Kỳ trả lại cho Nhật quần đảo Nam Tây (Nansei, tức chuổi đảo kéo dài từ Đài Loan đến đảo Kyūshū, bao gồm quần đảo Điếu Ngư). Việc tranh chấp ngày càng thêm gay gắt sau khi có dự đoán vùng thềm lục địa khu vực các đảo Điếu Ngư có trữ lượng dầu khí lớn. Từ năm 1982, luật Quốc Tế về Biển lại cho phép các đảo có vùng biển “kinh tế độc quyền – ZEE – Zone Economique Exclusive” và thềm lục địa riêng. Do đó các đảo này trở nên rất quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn về chiến lược (đối với tham vọng ra “biển xanh” của Trung Quốc).

Sự việc căng thẳng những ngày gần đây nguyên nhân bắt nguồn từ một chiếc tàu “đánh cá” của Trung Quốc bị Lực lượng bảo vệ hàng hải của Nhật bắt. Toàn bộ thuyền viên đều bị giam giữ. Tàu này đã xâm phạm hải phận của Nhật (tại đảo Điếu Ngư) và do đã có những hành động chống cự, như chủ động đụng vào một chiếc tàu thuộc lực lượng phòng vệ của Nhật, làm chiếc tàu này bị hư hại nhẹ. Vấn đề hiện đang ầm ĩ trên mặt trận “ngoại giao”. Báo chí loan tải là các thuyền viên Trung Quốc đã được Nhật trả tự do, ngoại trừ viên thuyền trưởng. Nhiều lãnh đạo ở Bắc Kinh đã đăng đàn tuyên bố mạnh mẽ, mang đầy tính đe dọa. Ta thấy phía Trung Quốc đang muốn làm lớn chuyện, vì sự việc lý ra sẽ chỉ giải quyết ở tầm đại sứ.

Bài này thử tìm hiểu lịch sử chủ quyền của quần đảo Điếu Ngư, thử phân tích hồ sơ của hai bên Nhật Trung, đồng thời thử tìm hiểu ý đồ của Trung Quốc qua các sự việc đã gây ra từ nước này, bắt đầu từ vùng biển theo bản đồ chữ U chín gạch (biển hoa Nam) cho đến “biến cố” Điếu Ngư (biển Hoa Đông) vừa mới xảy ra.

1. Sơ lược địa lý:

Quần đảo Senkaku (tiếng Nhật Senkaku shotō, 尖閣諸島, phiên âm Hán Việt là Tiêm Cát chư đảo), hay 釣魚台 – Diàoyútái (tiếng Hoa), tức Điếu Ngư Đài, có nghĩa là “bục câu cá”, có tọa độ vị trí 25° 47′ 53″ Bắc 124° 03′ 21″ Đông, gồm có 5 đảo chính và một số đá, diện tích tổng cộng khoảng 7km², cách bờ biển Phúc Kiến khoảng 320km, cách chỏm đông-bắc Đài Loan 190km, cách nhóm đảo Yaeyama của Nhật là 150km. Đảo lớn nhất có diện tích 4,3km², có tên Nhật Uotsuri-jima, tên Hoa 釣魚島, tức Điếu Ngư Đảo. Các đảo thuộc quần đảo này thì không có người ở.

Quần đảo Senkaku hiện nay do Nhật quản lý, sát nhập hành chính cùng với một số quần đảo khác, vào tỉnh (hay huyện?) Okinawa, tạo thành quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).

Quần đảo Ryukyu, ở phía nam, cùng với quần đảo Satsunan (Satsunan shotō – Tát Nam chư đảo – trực thuộc tỉnh lỵ Kagoshima), ở phía bắc, tạo thành chuổi đảo (theo hình 1) mang tên Nansei (Nansei Shoto – Nam Tây chư đảo). Quần đảo Nam Tây trải dài từ phía nam đảo Kyūshū cho đến Đài Loan, phía tây là biển Hoa Đông (Mer de Chine Orientale), phía đông là biển Phi Luật Tân (Mer des Philippines), là một phần quan trọng trong “chuổi đảo thứ nhất” chặn Trung Quốc đi ra “biển lớn”. Tuy nhiên, mỗi khi nhắc quần đảo Nansei (Nam Tây) thì mọi người chỉ liên tưởng đến quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu).

.

Hình 1: Quần đảo Nansei (Nam Tây) gồm hai quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu) và Satsunan (Tát Nam), trải dài từ Đài Loan cho đến Kyūshū, tạo thành một hàng rào thiên nhiên chặn Trung Quốc ra “biển lớn”. Quần đảo Senkaku không ghi trên bản đồ vì quá nhỏ, chỉ mà một chấm nhỏ về phía bắc quần đảo Yaeyama. Nguồn Wikipédia.

http://farm5.static.flickr.com/4083/4991903293_ca4f6de6de.jpg

.

Quần đảo Satsunan gồm có các quần đảo:

Quần đảo Ōsumi, gồm có các đảo: Tanega-shima, Mage-shima, Yaku-shima, Kuchino-erabu-jima, Take-shima, Iō-jima, Kuro-shima,

Quần đảo Tokara, gồm có các đảo: Kuchino-shima, Nakano-shima, Suwanose-jima, Taira-jima, Akuseki-jima, Kotakara-jima, Takara-jima,

Quần đảo Amami, gồm có các đảo: Amami-ōshima, Kakeroma-jima, Yoro-shima, Uke-shima, Kikaiga-shima, Tokuno-shima, Okinoerabu-jima, Yoron-jima,

Quần đảo Lưu Cầu – Ryūkyū gồm có 2 nhóm quần đảo Okinawa và Sakishima:

Quần đảo Okinawa, gồm có các đảo: Okinawa Hontō, Ie-jima, Izena-jima, Iheya-jima, Tonaki-shima, Agunijima, Kume-jima.

Quần đảo Kerama, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo: Tokashiki-jima, Zamami-jima, Aka-jima, Geruma-jima.

Quần đảo Daitō, thuộc nhóm Okinawa, gồm có các đảo: Kitadaitō và Minamidaitō

Quần đảo Sakishima, gồm có các quần đảo:

Quần đảo Miyako, gồm có các đảo: Miyako-jima, Ikema-jima, Ogami-jima, Irabu-jima, Shimoji-jima, Kurima-jima, Minna-jima và Tarama-jima.

Quần đảo Yaeyama, gồm có các đảo: Ishigaki-jima, Taketomi-jima, Kuro-shima, Kohama-jima, Yubu-jima, Iriomote-jima, Hatoma-jima, Aragusuku-jima, Hateruma-jima và Yonaguni-jima.

Quần đảo Senkaku, đã nói trên.

Ngoại trừ các đảo thuộc Senkaku, tất cả các đảo thuộc các quần đảo trên đều có người ở.

.

Hình 2: quần đảo Điếu Ngư – Senkaku. Nguồn http://www.globalsecurity.org/military/world/war/images/senkaku-map0.gif

.

2. Lược sử tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư:

Trường hợp tranh chấp quần đảo Điếu Ngư, tương tự như nhiều vùng đất bị Nhật chiếm đóng sau Thế chiến thứ hai, vấn đề chủ quyền hoàn toàn bị đặt lại từ khi Hòa ước San Francisco 1951 được ký kết.

Sau khi Nhật đầu hàng đồng minh tháng 8 – 1945, theo các kết ước trước đó giữa Tưởng Giới Thạch và các lãnh đạo đồng minh, như Tuyên Bố Caire tháng 11 năm 1943 cũng như theo nội dung Hòa ước San Francisco 1951, thì Nhật sẽ từ bỏ chủ quyền đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Mặc dầu điều khoản này mù mờ vì không xác định là Nhật sẽ trả các đảo đó cho ai, nhưng Hòa ước ký kết giữa Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Nhật, được ký tại Đài Bắc ngày 28-4-1952, nội dung đã ghi rõ việc hủy bỏ hiệp ước Shimonoseki 1895. Hiệp ước Shimonoseki buộc Trung Hoa phải nhượng vĩnh viễn Đài Loan và quần đảo Bành Hồ cho Nhật. Như vậy Nhật đã hàm ý trả Đài Loan và quần đảo Bành Hồ lại cho Trung Hoa (nhưng không xác định trả cho phe nào, quốc hay cộng?). Hòa ước 1952, cũng như hiệp ước Shimonoseki 1895, không hề nhắc đến quần đảo Điếu Ngư.

Theo Trung Quốc quần đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc từ lâu và quần đảo này phụ thuộc Đài Loan. Họ cho rằng quần đảo này do nhân dân Trung Hoa khám phá từ thế kỷ thứ 15, được sát nhập Trung Quốc vào thế kỷ 16, dưới thời nhà Thanh.

Trung Quốc nhấn mạnh rằng quần đảo này nhượng cho Nhật theo hiệp ước Shimonoseki 1895 cùng với Đài Loan và quần đảo Bành Hồ. Điều này có nghĩa, nếu Nhật phải từ bỏ chủ quyền ở Đài Loan thì cũng đồng thời từ bỏ chủ quyền tại quần đảo Điếu Ngư.

Lập luận của Trung Quốc như thế là dựa trên lịch sử.

.

Trong khi lập luận của Nhật dựa trên pháp lý. Họ cho rằng trước năm 1895 thì quần đảo Điếu Ngư thuộc loại đất “vô chủ – terra nullius” và không có người ở. Từ năm 1884 ngư dân Nhật đã bắt đầu khai thác lông chim và phân chim ở các đảo này nhưng không hề gặp một trở ngại nào từ phía triều đình Trung Quốc, cũng như không gặp một người Hoa nào sinh sống hay khai thác kinh tế ở đây. Nhật đã tiến hành thủ tục sát nhập chủ quyền quần đảo này vào tháng giêng năm 1895, tức trước hiệp ước Shimonoseki 3 tháng.

Điểm quan trọng về pháp lý khác, củng cố cho lập luận của Nhật, là mặc dầu hai phía Trung Quốc (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa) và Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc) đều không tham dự hội nghị San Francisco 1951, nhưng phía Đài Loan sau này được Nhật lựa chọn là đại diện chính thức của Trung Hoa, ký kết hòa ước năm 1952. Riêng về phía Trung Quốc, bị gạt đứng ngoài, do đó không công nhận nội dung Hòa Ước San Francisco 1951. Nhưng nội dung tuyên bố của Chu Ân Lai về việc không công nhận Hòa Ước San Francisco thì không hề đề cập đến quần đảo Điếu Ngư. Mặt khác, đại diện quyền lợi của Trung Quốc tại hội nghị là ông Gromyko, đại sứ của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc, đã đưa đề nghị 12 điểm, trong đó có khoản dành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Quốc. Đề nghị này bị hội nghị bác bỏ. Nhưng ta thấy đề nghị của Gromyko cũng không hề nói đến quần đảo Điếu Ngư. Việc này rõ ràng hơn khi ta xét qua tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc năm 1958. Tuyên bố này xác định bề rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ bờ, “áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…”. Văn kiện này nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa, mặc dầu hai quần đảo này thuộc về Việt Nam, nhưng không hề nhắc đến “Điếu Ngư Đài”. Do đó về mặt pháp lý, lập luận của Nhật thuyết phục hơn Trung Quốc.

.

Trung Quốc chỉ để ý đến quần đảo Điếu Ngư sau khi các cuộc khảo sát năm 1965 và 1969 cho thấy vùng thềm lục địa đảo Điếu Ngư có mỏ dầu khí có thể khai thác được. Cùng lúc đó, tháng 12 năm 1969, Hoa Kỳ hứa hẹn sẽ trả lại cho Nhật quyền quản lý các đảo đã giao cho Hoa Kỳ quản lý từ sau Thế chiến thứ II.

Thật vậy, quần đảo Điếu Ngư từ năm 1945 đến 1972 được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ.

Trong Thế chiến thứ II, Hoa Kỳ đã hy sinh rất nhiều binh lính để chiếm lần lượt các đảo thuộc chuổi đảo Nansei của Nhật. Gay go nhất là trận chiếm quần đảo Okinawa. Quân lính Nhật đã chiến đấu tại đây cho đến viên đạn cuối cùng, sau đó xáp lá cà theo lối tự sát, do đó sau khi trận chiến kết thúc thì không còn một người nào sống sót. Điều kinh hãi hơn, dân chúng sống ở một số đảo thuộc quần đảo Ryukyu, như tại quần đảo Okinawa, đã nhảy xuống vực tự sát, sau khi quân Nhật thất bại, chứ không để “lọt” vào tay quân Hoa Kỳ.
Sau khi Nhật đầu hàng tháng 8 năm 1945, theo nội dung của Hòa ước San Francisco năm 1951, tất cả các đảo đã chiếm của các nước trước đó thì Nhật phải khước từ chủ quyền vĩnh viễn. Đồng thời một số các đảo khác, theo nghị quyết năm 1947 của ONU, nếu Hoa Kỳ xét thấy có quan trọng về chiến lược, thì được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ. Quần đảo Nansei được xếp vào trong trường hợp này. Nghị quyết ONU 1947 được khẳng định qua điều 3 của Hòa Ước San Francisco. Theo đó quần đảo Nansei, bắt đầu từ phía nam vĩ tuyến 29, tức toàn bộ quần đảo Ryukyu, sẽ thuộc quản lý của Hoa Kỳ.

Trong thời gian quản lý các đảo này, quần đảo Điếu Ngư được Hoa Kỳ sử dụng như vùng quân sự, dùng vào việc thực tập ném bom, huấn luyện cho các phi công.

Điều ghi nhận khác, mặc dầu được đặt dưới quyền quản lý của Hoa Kỳ nhưng Nhật vẫn giữ được chủ quyền trên pháp lý – souveraineté résiduelle, do đó dân chúng sống tại các đảo do Hoa Kỳ quản lý vẫn giữ quốc tịch Nhật mà không có quốc tịch Hoa Kỳ.

Sau khi Hoa Kỳ tuyên bố sẽ trả lại quyền quản lý các đảo cho Nhật vào tháng 12 năm 1969, thì phía Đài Loan, vào tháng 7 năm 1970 chấp thuận cho hai công ty khai thác dầu của Hoa Kỳ đặc quyền khai thác vùng thềm lục địa thuộc phạm vi quần đảo Điếu Ngư. Lập tức Nhật lên tiếng phản đối. Phía lục địa thì bắt đầu vào tháng 12 năm 1971, ra tuyên bố cho rằng “quần đảo Điếu Ngư từ lâu phụ thuộc Đài Loan, cũng như đảo này, từ lâu là những vùng đất bất khả tách rời của Trung Quốc… Nhân dân Trung Hoa sẽ giải phóng Đài Loan. Nhân dân Trung Hoa sẽ lấy lại đảo Điếu Ngư cũng như tất các các đảo khác phụ thuộc vào Đài Loan”.

Như thế hai phía Trung Quốc (và Đài Loan) đều lên tiếng rất trễ về chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư.

Về quan điểm của Hoa Kỳ thì tùy theo hoàn cảnh mà họ giải thích, vì e ngại phật lòng đồng minh Đài Loan cũng như đối tác lớn là Trung Quốc. Theo nội dung của Hòa Ước San Francisco 1951 thì quần đảo Điếu Ngư phụ thuộc quần đảo Ryukyu, là phần phía nam của quần đảo Nansei, thuộc quyền quản lý của Hoa Kỳ (vùng đảo phía nam vĩ tuyến 29). Như thế nội dung Hòa Ước San Francisco công nhận quần đảo Ryukyu thuộc Nhật. Điểm khác, theo nội dung hiệp ước an ninh hỗ tương Nhật-Mỹ năm 1960, chiếu theo một bản ghi nhớ của Nhật đính kèm hiệp ước, thì Hoa Kỳ sẽ không chỉ bảo đảm an ninh cho các đảo của Nhật mà còn mở rộng ra ở các vùng biển của các đảo này, nếu thấy vùng biển này đe dọa an ninh của Nhật. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chính phủ Obama đã khẳng định việc bao gồm vùng biển thuộc Điếu Ngư vào hiệu lực của Hiệp định hỗ tương an ninh Nhật-Mỹ 1960. Như thế, quan điểm của Hoa Kỳ là quần đảo Điếu Ngư thuộc về Nhật. Đây là một điều đáng ghi nhận nếu so sánh với các hiệp ước an ninh hỗ tương giữa Hoa Kỳ và các nước khác. Với Đài Loan, hiệp ước an ninh hỗ tương ký tháng 12 năm 1952 nhưng chỉ bao gồm đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ gần đó. Hiệp ước này không bao gồm các đảo khác thuộc Đài Loan như Kim Môn, Mã Tổ ở sát bờ biển Trung Quốc, thuộc tỉnh Phúc Kiến. Tuy nhiên, những lúc Trung Quốc pháo kích các đảo này, e ngại bị chiếm, hạm đội Hoa Kỳ cũng trợ giúp bằng cách đảm nhận việc tải lương cho hải quân Đài Loan. Hiệp ước an ninh hỗ tương với Phi cũng có những khoảng tương tự, hiệu lực chỉ giới hạn ở một số đảo chính và không bao gồm các đảo thuộc Trường Sa. Do đó vụ Trung Quốc chiếm rạng san hô Vành Khăn của Phi, mặc dầu có sự yêu cầu của chính phủ Phi đối với Hoa Kỳ, nhưng đã không được sự đáp ứng thích hợp. Riêng trường hợp miền Nam VN, thời VNCH, năm 1974 khi Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa, chính phủ VNCH có kêu cứu nhưng Hoa Lỳ đã không đáp ứng vì lý do miền Nam và Hoa Kỳ không có ký hiệp ước an ninh hỗ tương nào cả. Trường hợp đặc biệt khác, vào thời điểm Trung Quốc xâm lăng các đảo thuộc Trường Sa của Việt Nam, trong lúc VN và Liên Xô có ký kết hiệp ước an ninh hỗ tương, nhưng Liên Xô đã quyết định không giúp VN. Có nhiều lý do giải thích, trong đó có lý do về kinh tế. Nhưng có lẽ lý do chính là thái độ của nước này lúc đại diện cho quyền lợi của Trung Quốc tại Hội Nghị San Francisco. Theo đó lập trường của Liên Xô là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc. Vì thế, xét lại nội dung Hiệp ước an ninh hỗ tương Mỹ-Nhật 1960, ta thấy lớp lãnh đạo của Nhật có tầm nhìn rất xa. Nguyên văn hiệp ước không ghi việc bảo về các vùng biển của Nhật nhưng các văn bản ghi nhớ của Nhật gởi đính kèm khi ký kết hiệp ước, đã yêu cầu Hoa Kỳ bảo vệ kể cả các vùng biển ở các đảo xa xôi, cho dầu không có người ở và Hoa Kỳ đã chấp thuận việc này. ĐÂY là một bài học mà các thế hệ lãnh đạo VN nên ghi nhớ.

.

3. Phương hướng giải quyết:

Với hồ sơ về chủ quyền thiếu cơ sở vững chắc, người ta không ngạc nhiên trước đây về các đề nghị “gác tranh chấp cùng khai thác” của các cấp lãnh đạo Trung Quốc, bắt đầu từ thời Đặng Tiểu Bình. Đề nghị này dĩ nhiên không được sự hưởng ứng tích cực của Nhật. Khác biệt giữa Nhật và Trung Quốc về vùng biển thuộc quần đảo Điếu Ngư đã đưa đến sự chồng lấn theo bản đồ như sau:

.

Hình 3: đòi hỏi ZEE của Trung Quốc và Nhật. Nguồn: http://www.eia.doe.gov/cabs/East_China_Sea/images/ECS-Dispute_for_web_pa…

.

Theo hình dưới đây ta thấy Nhật chủ trương các đảo của họ, dầu rất nhỏ và không có người ở, đều hưởng đầy đủ vùng ZEE 200 hải lý đúng theo qui định của luật Biển 1982. Vùng ZEE của đảo Oki-no-Tori thì bị Trung Hoa phản đối, mặc dầu việc này khiến Trung Quốc tự mâu thuẫn với những đòi hỏi của mình về vùng biển và hiệu lực các đảo đá mà họ chiếm của VN tại Trường Sa. (Việc phản đối này mang tính chiến lược. Vì giả sử sau này Trung Quốc thâu hồi Đài Loan, thì cửa ngõ ra “biển lớn” của họ sẽ bị vùng ZEE của đảo Oki-no-Tori cản trở). Hiệu lực của quần đảo Điếu Ngư cũng không ngoại lệ, Nhật đòi hỏi đầy đủ vùng ZEE, đề nghị phân chia theo lối “đường trung tuyến” với Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc đòi hỏi ZEE và thềm lục địa của họ cho đến hố đại dương Okinawa (tức hố chạy dọc theo quần đảo Ryukyu), tức bao gồm quần đảo Điếu Ngư. Lập trường của Trung Quốc dựa trên sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa trong khi lập trường của Nhật là áp dụng các nguyên tắc của luật Biển 1982.

Vì quần đảo Điếu Ngư nằm trên thềm lục địa Trung Quốc, do đó nước này cũng thường đưa ra luận điểm vì quần đảo Điếu Ngư nằm trên thềm lục địa của nước họ, do đó đảo này thuộc về Trung Quốc. Nhưng luận điểm này, theo thực tiễn cũng như công pháp quốc tế, thì không thuyết phục. Có nhiều trường hợp cho thấy một đảo nằm chỉ cách bờ của một nước chỉ vài thước, nhưng chủ quyền đảo này thuộc một nước khác.

(Lập trường của Nhật về hiệu lực ZEE của các đảo hoàn toàn trái ngược với Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ và đảo Cồn Cỏ của Việt Nam trong vịnh Bắc Việt, diện tích tương đương với các đảo Điếu Ngư nhưng có người sinh sống, nhưng Việt Nam lại nhượng bộ Trung Quốc quá lố, chấp nhận cho hai đảo này một hiệu lực hầu như không đáng kể. Trong khi các đảo của Nhật, và cũng như của nhiều nước khác (như của Hoa Kỳ) trong tấm hình ở dưới, nhiều đảo không lớn hơn một đá nhỏ của Trường Sa, nhưng chúng đều được đầy đủ hiệu lực ZEE 200 hải lý, thậm chí một số còn được hiệu lực của thềm lục địa mở rộng. Điều này cho thấy chủ trương của VN về Hoàng Sa và Trường Sa. Vì lo ngại không đòi được các quần đảo này từ tay Trung Quốc, do đó Việt Nam muốn tạo một tiền lệ với Trung Quốc, hy sinh những quyền lợi lớn lao của tổ quốc, đề nghị các đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ có hiệu lực giới hạn (12 hải lý). Đây là hậu quả của các thế hệ lãnh đạo của Việt Nam (Nam cũng như Bắc), những người này đã không có tầm nhìn xa như các lãnh đạo của Nhật, khiến các thế hệ tương lai của Việt Nam sẽ ở thế hạ phong trong việc giải quyết Hoàng Sa và Trường Sa.)

.

Hình 4: chụp từ trang 147, cuốn “Atlas Géopolitique des espaces maritimes”, của các tác giả Didier Ortolland và Jean-Pierre Pirat. Edition Technip, 2008.

http://farm5.static.flickr.com/4127/4991903809_cb86a2c9b7.jpg

.

Nhưng sự phát triển kinh tế liên tục của Trung Quốc từ ba thập niên, trong năm qua đã đưa nước này vượt qua Nhật và trở thành đại cường kinh tế thứ hai. Trong khi liên thuộc kinh tế giữa hai nước Nhật-Trung rất lớn. Trung Quốc đã trở thành khách hàng lớn nhất của Nhật từ 2004. Đầu tư của Nhật vào thị trường Trung Quốc, chỉ riêng năm 2007 đã lên đến 58 tỉ đô la, tương đương 10% lượng đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc. Nói cách khác, phát triển của Trung Quốc trở thành động cơ phát triển kinh tế của Nhật, cứu vãn nước này thoát khỏi sự suy trầm từ hai thập niên qua. Mặt khác, lực lượng hải quân của Trung quốc được hiện đại hóa, với ba đội hải quân (biển Bắc, biển Đông và biển Nam) gồm nhiều tàu ngầm và khu trục hạm tối tân. Tình hình ngày hôm nay xem ra không khác với tình hình các năm cuối thế kỷ 19, lúc trước hiệp ước Shimonoseki, Trung Quốc đang phát động phong trào “Dương vụ vận động” nhằm hiện đại hóa hải quân của họ. Hải quân của Nhật lúc đó cũng vừa qua hiện đại hóa, nhưng đã thắng được hải quân Trung Quốc ở trận Áp Lục, quyết định thắng bại cho cuộc chiến. Nhưng nếu có sự đụng độ giữa hai nước ngày hôm nay, việc thắng bại chưa biết nhưng hậu quả sẽ rất tai hại cho Nhật.

Trung Quốc và Nhật, từ năm 1995, bắt đầu bước vào thuơng lượng phân định hải phận vùng kinh tế độc quyền, vấn đề quần đảo Điếu Ngư cũng nằm trong hồ sơ thuơng lượng này. Từ năm 2007 hai bên đã có những thái độ mềm dẽo, đều tỏ thiện chí mong muốn kết thúc việc phân định, nhưng toàn bộ các vùng biển vẫn còn nhiều trở ngại do khác biệt quan điểm của đôi bên.

.

4. Thử tìm hiểu ý đồ của Trung Quốc qua những vấn đề biển Đông, Đài Loan và Điếu Ngư:

Trung Quốc đã tận dụng mọi phương tiện quốc gia để phát triển kinh tế, kết quả liên tục từ ba thập niên nền kinh tế nước này tiến rất nhanh, mặc dầu phải hy sinh về một số mặt như môi trường bị hủy họa, xã hội bất công, hố sâu giàu nghèo ngày càng to lớn. Thành phần được hưởng nhiều nhất thành quả kinh tế là quân đội Nhân Dân Giải Phóng. Ngân sách dành cho quốc phòng cứ mỗi năm tăng đều đặng, trung bình 15% một năm, là số chính thức, con số thật thì có thể lớn hơn rất nhiều (từ 100 đến 150 tỉ $US), trong khi những nhu cầu gay gắt khác về xã hội, hay những chính sách phát triển cho các tỉnh nghèo nàn trong nội địa, thì ngân sách luôn eo hẹp. Phe quân đội vì thế có thế lực lớn, gần đây luôn tạo áp lực trong đảng để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, hải phận với các nước lân bang bằng quân sự. Thái độ của Trung Quốc về việc đòi hỏi chủ quyền, như ở quần đảo Điếu Ngư (hay Trường Sa) ngày càng cứng rắn. Ở Đài Loan, Trung Quốc đã nhắm hơn 2.000 hỏa tiễn tấn công, đe dọa dập nát đảo quốc này. Một số hỏa tiễn số lượng không kém đã được dàn trải ở vùng Quảng Tây, hướng về các nước Đông Nam Á. Đó là chưa kể đến một số lớn hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân cũng dàn trải ở đây. Trong vài năm qua Trung Quốc đã ráo riết xây dựng các căn cứ hải quân, các căn cứ tàu ngầm hạt nhân mang trang bị hỏa tiễn chiến lược (liên lục địa) tại các đảo Hải Nam hay Phú Lâm (Hoàng Sa). Vô hình chung Ấn Độ cũng như các nước Đông Nam Á bị đặt trong tầm đe dọa hạt nhân của Trung Quốc. Chắc chắn việc này sẽ tạo lý do để các nước cảm thấy bị đe dọa, kể cả các nước có ký Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, công khai trang bị vũ khí hạt nhân. Việc này chỉ làm cho khu vực càng thêm mất an ninh cho dầu việc trang bị vũ khí hạt nhân ở các nước bị đe dọa là một việc chính đáng.

Nhưng đối với Nhật, việc đe dọa của Trung Quốc không hề làm nước này nao núng. Trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư, Nhật có đủ lý do để nói “không” với mọi đe dọa hay đòi hỏi quá mức của Trung Quốc cũng như có thừa khả năng để bảo dảm lập trường của mình. Lực lượng bảo an cũng như đội hải quân phòng vệ của Nhật tuy không nhiều nhưng rất tinh nhuệ, vũ khí cực kỳ tối tân, lại thường xuyên thay thế bằng những những sản phẩm mới nhất, tối tân nhất, tinh vi nhất. Vả lại Nhật còn được “cây dù” của Hoa Kỳ che chở.

Tuy vậy căng thẳng Nhật-Trung do biến cố Điếu Ngư kỳ này có nhiều lý do làm người ta lo ngại. Người ta thấy Trung Quốc hiện đang cố ý làm ồn ào sự việc này. Những viên chức cao cấp lãnh đạo ở Bắc Kinh đã cất tiếng gay gắt lên án và hàm ý đe dọa Nhật, khác hẵn lời lẽ cũng như cách thức cư xử thông thường. Như đã nói, người ta e ngại là vì nhóm lãnh đạo tại Bắc Kinh, dưới áp lực của phe quân đội, đang có một kế hoạch quân sự nhằm giải quyết cùng lúc các vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, (như vấn đề Đài Loan, quần đảo Trường Sa và vùng biển chung quanh, cũng như quần đảo Điếu Ngư và vùng biển chung quanh) bằng vũ lực.

Trở lại tuyên bố mới đây của Trung Quốc, cho rằng quần đảo Trường Sa cùng toàn thể vùng biển giới hạn qua tấm bản đồ chín khúc hình chữ U, là vùng thuộc “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, cho thấy nước này đang chuẩn bị một kế hoạch “chiến tranh phòng vệ” toàn diện.

Chính sách an ninh quốc phòng của Trung Quốc được biết qua “sách trắng quốc phòng” của nước này. Theo đó Trung Quốc theo nguyên tắc phòng thủ, không tấn công nếu không bị tấn công trước. Nguyên tắc phòng thủ của Trung Quốc là tấn công phòng vệ, nhằm bảo vệ lãnh thổ và anh ninh quốc gia.

Khi đưa biển Đông vào danh sách “lợi ích cối lõi” của nước này, tức biển Đông có lợi ích ngang hàng với Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng, là những vùng lãnh thổ “bất khả tách rời” của Trung Quốc, là họ đã sắp đặt để việc đánh chiếm các đảo Trường Sa và biển Đông trở thành một cuộc chiến “tự vệ”. Hình thức “tấn công tự vệ” đã từng xảy ra nhiều lần, Việt Nam có nhiều kinh nghiệm về việc này. Năm 1975 khi chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã ra sức tuyên truyền trước quốc tế về một cuộc “giải phóng”, đem Hoàng Sa về “tổ quốc”. Năm 1979, cuộc chiến biên giới Việt Trung, Trung Quốc cũng rầm rộ tuyên truyền cho đó là cuộc chiến tự vệ. Trung Quốc cho rằng Việt Nam xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Năm 1988, khi đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa, Trung Quốc cũng cho rằng đó là cuộc chiến tự vệ. Theo họ bộ đội hải quân Việt Nam “đánh” trước.

Do đó tuyên bố của Trung Quốc đưa biển Đông vào vòng “lợi ích cốt lõi” sẽ là một cảnh báo nghiêm khắc cho Việt Nam.

Về vấn đề Đài Loan, như người viết đã trình bày hơn một lần, Trung Quốc không thể “giải phóng” Đài Loan mà không khơi động chiến tranh tại các khu vực khác, như Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Ngược lại, giải quyết biển Đông (theo tấm bản đồ chữ U chín gạch), thì Trung Quốc cũng phải đối đầu với các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản (và Đại Hàn) và dĩ nhiên, Đài Loan.

Một câu hỏi đặt ra, thời điểm nào sẽ thuận tiện cho Trung Quốc (mở cuộc chiến gọi là tự vệ)? Nhiều dự đoán trước đây cho rằng Trung Quốc sẽ chỉ có thể dùng vũ lực “thống nhất” Đài Loan sau Thế Vận Hội 2008 và Expo Thuợng Hải 2010. Trước đó Trung Quốc đã từng có kế hoạch phong tỏa biển Hoa Đông và đổ bộ lên Đài Loan vào năm 1996, nhưng trước sự quyết liệt của Hoa Kỳ, qua việc cho đệ thất hạm đội đi vào eo biển Đài Loan, kế hoạch này bị bãi bỏ. Năm 2001, nhân vụ 9-11, nội bộ Hoa Kỳ đang bị lúng túng vì bị khủng bố tấn công một đòn chí tử, phe quân đội Trung Quốc đã lên kế hoạch “giải phóng” Đài Loan, nhưng việc này bất thành. Các chi tiết này được tiết lộ qua các viên chức cao cấp trong hàng ngũ lãnh đạo của Trung Quốc.

Việc thống nhất Đài Loan là mục đích lớn nhất của đảng CS Trung Quốc hiện nay, vì nó sẽ khẳng định tính chính đáng lãnh đạo của đảng này. Bằng mọi cách và bằng mọi giá đảng CS Trung Quốc sẽ phải thâu hồi đảo này về “đất mẹ”. Tất cả những nỗ lực hiện đại hóa quân đội, nhất là không quân và hải quân, lãnh đạo Bắc Kinh luôn viện dẫn lý do “giải phóng” Đài Loan. Đã nhiều lần các chuyên gia Đài Loan báo động là lực lượng quốc phòng của Trung Quốc đã vượt quá xa Đài Loan. Nhiều tướng lãnh Hoa Kỳ cũng đã báo động về tiềm năng của quân đội Trung Quốc, trong khi bộ ngoại giao nước này đặt nghi vấn về mục đích gia tăng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc.

Bởi vì, về phía đối ngoại, Trung Quốc luôn cho rằng sự phát triển của Trung Quốc là sự phát triển “hòa bình”, theo khẩu hiệu “hòa bình phát triển”.

Nhưng nếu phát triển hòa bình thì đâu cần một quân đội quá lớn, một ngân sách quốc phòng bất cân xứng như vậy?

Thực ra trước đó, thời Đặng Tiểu Bình, khẩu hiệu này là “hòa bình quang phục”. Người ta đặt câu hỏi làm thể nào Trung Quốc có thể “quang phục”, tức lấy lại những gì đã mất, bằng phương pháp hòa bình được? Những gì “đã mất” của Trung Quốc được xác định gồm các nước “chư hầu” (như Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, v.v…) và vị trí đại cường của Trung Quốc trước khi bị liệt cường xâu xé vào thế kỷ 19. Khẩu hiệu này bị phê bình, do đó đến thời Giang Trạch Dân đổi thành “hòa bình phát triển”. Nhưng việc gia tăng ngân sách quốc phòng, trang bị cho hải quân, không quân… những vũ khí hiện đại nhất, cho thấy mục tiêu của Trung Quốc không thay đổi: sẽ “quang phục” Trung Quốc bằng mọi giá.

Tuy nhiên lên kế hoạch “tấn công phòng vệ” bao gồm ba mặt: Đài Loan, Điếu Ngư và biển Đông, Trung Quốc sẽ phải huy động toàn lực lượng. Đến nay nhiều chuyên gia quốc tế cho rằng tiềm năng của quân đội Trung Quốc đã rất lớn, có thể cùng một lúc phong tỏa Đài Loan và mở các mặt trận cần thiết tại Đông Hải và Nam Hải. Tháng tư vừa qua, hai lần hạm đội của Trung Quốc đã vượt qua chuổi đảo nhứ nhứt, qua eo biển Myako, để tiến vào khu vực biển Đông (vùng Trường Sa). Hạm đội Trung Quốc cũng thường xuyên có mặt tại vùng biển ở ngoài khơi Somalie đẻ cùng các nước khác chống hải tặc. Trung Quốc cũng đặt được căn cứ hải quân tại Miến Điện và trên một vài hòn đảo khác cũng của nước này. Các việc này cho thấy sức mạnh của Trung Quốc có khả năng vương đi xa. Nhưng sự quyết tâm của Hoa Kỳ cũng như thái độ ngả về phía nào của Nga sẽ quyết định cho cuộc chiến (tại biển Đông).

Trung Quốc và Nga hiện có ký hiệp ước hữu nghị, nhưng không bao gồm hỗ tương an ninh như hiệp ước đã ký vào thập niên 50, dưới thời Liên Bang Xô Viết. Nhưng Trung Quốc và Nga cùng một số nước khác ở Trung Á đều là thành viên của nhóm Thuợng Hải.

Trung Quốc hiện nay nắm con bài Bắc Hàn, nếu thời cơ đến, họ sẵn sàng sử dụng con bài này, như châm ngòi lại cuộc chiến như đầu thập niên 50. Hạm đội Đông Dương và Bắc Dương sẽ phụ trách chiến trường, thừa cơ chiếm quần đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Biển Hoa Nam (tức biển Đông của Việt Nam) sẽ do hạm đội Nam Dương phụ trách việc phong tỏa và đánh chiếm.

Nhưng “thời cơ” đó là lúc nào?

Thời điểm dự đoán có thể là lúc Hoa Kỳ (cùng các nước đồng minh hay ONU) quyết định trừng phạt Iran trong vấn đề vũ khí hạt nhân bằng vũ lực, mà việc này sẽ có thể xảy ra trong một ngày gần đây. Đó sẽ là “thời cơ vàng” của Trung Quốc.

.

5. Kết luận:

Nói chung, trong thời gian qua, đã nhiều diễn biến đan xen phức tạp. Ý đồ của các nước lớn ví như một bàn cờ mà mỗi con cờ là một nước nhỏ thuộc vùng ảnh hưởng. Ta thấy, đồng thời với những hăm dọa của Bắc Hàn trước các cuộc tập trận của Hoa Kỳ và Nam Hàn, là thái độ quyết liệt của Trung Quốc không cho phép hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ vào tập trận chung với hải quân Nam Hàn ở Hoàng Hải. Rốt cục Hoa Kỳ nhượng bộ. Trong khi Hoa Kỳ làm cứng trước tuyên bố của Trung Quốc về biển Đông hồi tháng 7. Sau đó lại khẳng định hiệu lực của hiệp ước hỗ tương Mỹ-Nhật 1960 ra đến vùng biển quần đảo Điếu Ngư. Thì lại mới đây Hoa Kỳ đã lựa chọn nhà thầu Trung Quốc để xây dựng hệ thống xe lửa cao tốc tiểu bang California.

Bàn cờ chiến lược của nước lớn đã bày ra những tương nhượng quyền lợi khá lộ liễu. Ngoại giao giữa các nước lớn, bề mặt hay bề trong của mỗi sự việc đều có thể chi phối do động lực quyền lợi kinh tế.

Có người đã nói: “nếu chính trị mà có đạo đức thì đã không đặt ra bộ ngoại giao”. Điều này thật là chính xác. Các nước nhỏ do đó muốn vươn lên thì phải thật là khôn khéo. Mà điều này thì các thế hệ lãnh đạo của Việt Nam chưa bao giờ thấy chứng tỏ.

Trương Nhân Tuấn

.

Tài liệu tham khảo:

Jean-Pierre Cabestan, “Chine-Taiwan la guerre est-elle concevable?”, nxb Economica 2003.
J.P. Cabestan và Benoît Vermander, “La Chine enquête de ses frontières”, nxb Sciences Po., 2005.
J.P Cabestan, “La politique internationale de la Chine”, nxb Sciences Po., 2010.
Didier Ortolland và Jean-Pierre Pirat, “Atlas Géopolitique des espaces maritimes”, Edition Technip, 2008.

.

.

.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d người thích bài này: