Archive for Tháng Mười Một, 2010

PHÓ THƯỜNG DÂN (Hồn Việt Thế Kỷ 21)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

phó thường dân (1)

Hồn Việt Thế Kỷ 21

2010/11/20

http://vietsoul21.net/2010/11/20/pho-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-dan-1/

 

Thời gian trôi qua hơn 35 năm tôi mới dám nghĩ lại đến phận đời phó thường dân của mình. Chuyện cũ, chuyện mới, chuyện ngắn, chuyện dài, chuyện bên ni, bên nớ.

 

Anh Tám hồ hởi

Nhớ lại, sau 30 tháng 4 mấy anh Tám hồ hởi ló mặt, lên dây thiều cùng các anh nón cối nhận “làm đầy tớ nhân dân” trong chế độ mới. Tuyệt đại đa số người miền Nam đùng một cái từ công dân một quốc gia tự do trở thành phó thường dân trong đất nước thống nhất “anh em một nhà”.

Mấy anh Tám làm “đầy tớ” này thì lên tiếng tớ đây có quyền quyết định tất cả: đầy ải các phó thường dân ra vùng kinh tế mới và bọn “tay sai Mỹ Ngụy” vào các trại tập trung cải tạo. Đã là anh em một nhà thì nhà của em cũng là nhà của anh. Anh Tám bảo mấy em giao nhà, hiến đất, cơ xưởng để phục vụ nhân dân. Hơn nữa các anh đã dựng chòi tạo điều kiện cho các em “lao động vinh quang” còn các anh phải ở lại tiếp quản tài sản và ở trong (lòng) quần chúng nhân dân. Cách mạng là đổi đời mà.

Vì được gọi là cặn bã xã hội và được cách mạng tái sinh vào phận phó thường dân nên đa số đám trẻ Miền Nam cỡ tuổi tôi được đưa vào ngọn cờ đầu “thanh niên xung phong”. Có chăng còn vài đứa như tôi sót lại trên sàng vào được Đại Học thì lụi cụi mới hai ba năm trên ghế học đường lại được tuyển đi “nghĩa vụ quân sự” trên chiến trường ở tuyến đầu tổ quốc. Phó thường dân chúng tôi bao giờ cũng được nhà nước xã hội chủ nghĩa ưu đãi tạo cho cơ hội phấn đấu thành anh hùng kiểu liệt sĩ.

Tôi nói thôi bỏ qua đi tám, nhưng anh Tám hồ hởi không chịu bỏ qua nên đám phó thường dân đành liều bỏ chạy tứ phương, tám hướng.

 

Bác-Tôi

Đúng ra thì tôi phải gọi ông ngang cỡ “ông cố nội” nhưng vì ông thích được gọi bằng Bác thành ra Bác (bác) Tôi (tôi) chắc cũng không mích lòng gì và chẳng bị mắng là (hỗn) láo.

 

Nói thì không ai tin chứ thực ra số phận của tôi và Bác có vẻ gắn bó với nhau lắm. Bác mà không đem thiên đường cộng sản về Việt Nam thì chắc tôi và Bác chẳng mắc mớ gì đến nhau. Nếu Bác cứ xây dựng thiên đường cộng sản ngoài ấy ấy đi thì cũng chẳng đến nông nỗi nào với tôi. Nhưng mà Bác lại cứ “toàn thắng lại về ta” nên chơi luôn thằng em đàng trong.

 

Vốn dĩ được xem là “thành phần có vấn đề” nên tôi có tư tưởng phản động theo gương Bác liều mình tìm đường cứu thân (thật) thay vì cứu nước (láo) như Bác.

 

Thời đó các chiến sĩ giải phóng ta đã quyét sạch tàu Mỹ, tàu Tây mất tuyệt chẳng còn đâu ở bến Nhà Rồng để tôi lon ton lên làm bồi như Bác nên tôi phải vượt biển đi chui từ kênh rạch rặc mùi bùn. Cái mạng phó thường dân thời thuộc địa Pháp của Bác trông ngon lành hơn kiểu phó thường dân thời xã hội chủ nghĩa của tôi nhiều. Làm bồi như Bác sang hơn tôi một cái rụp. Bác sang Tây (do Bác chọn nó) còn tôi sang Mỹ (vì nó chọn tôi) nhưng mà kiểu nào thì cũng là người lưu vong cả thôi.

 

Cuộc đời của Bác thì đã được ngàn vạn đầu sách nói đến, kể cả sách của Bác (Trần Dân Tiên, T. Lan) tự họa nữa chứ chẳng phải chơi. Của đáng tội, chẳng cần Bác tự họa thì cũng đã có ngàn vạn văn nô bồi bút thổi phồng rồi, làm chi cho má nó khi (xin phép bác Tưởng Năng Tiến).

Đời phó thường dân lang thang như tôi thì có cặm cụi viết lắm cũng chưa đủ dăm trang. Ấy thế mà nó lại cứ hao hao giông giống như thế nào mới chết chứ.

 

Bác viết báo, tôi viết blog. Bác phó nhòm, tôi phó tiến sĩ (“mát” in VN kiểu cử nhân Luật anh ba Nguyễn Tấn Dũng). Bác học Lê-nin, tôi học Lin-cơn (Abraham Lincoln). Bác là cộng sản, tôi gốc cộng hòa.

Nói giông giống như vậy thôi chứ tôi thì tiền hậu bất nhất không như Bác trước sau như một. Tôi với Bác vốn trước đây cùng ở một đất nước chuyển tiếp từ thuộc địa sang hậu thuộc địa mà không có một thời gian thực sự độc lập để thoát ra khỏi cái tâm thức nô dịch.

 

Bác một dạ một lòng với ông Mác, ông Nin cung nghinh chủ thuyết cộng sản về nô dịch hóa đồng bào mình, hết cải tạo lao động, cải cách ruộng đất đến chỉnh huấn, thanh trừng theo rập khung anh cả. Bác luôn dùng bạo lực cách mạng độc tài đảng trị theo huấn thị của Quốc Tế Cộng Sản. Ngay cả cuối đời thì Bác cũng cà cuống (chết đến đít còn cay) đi gặp ông Mác ông Nin, nghe bài ca mẫu quốc Mao lần cuối. Bác hành xử “hân hoan, hồn nhiên” (à la Nguyễn Hữu Liêm trong bài “Nơi giữa Đại hội Việt kiều: Một nỗi bình an”) với tâm thức của một người thuộc địa. Hóa ra Bác, chủ tịch nước, cũng không hơn gì một phó thường dân.

 

Tôi sang đây ở xứ đế quốc Mỹ nhưng quyết học cách làm người công dân và kháng cự để không bị nô dịch hoá: tham gia biểu tình phản đối những chính sách quân phiệt, đế chế hoặc chính sách bất công thiên vị; phát biểu ý kiến đả phá chủ trương Tư Bản thống trị toàn cầu dù theo kiểu Đế quốc Mỹ hay Đại Hán Trung Hoa; cổ xuý cho việc giải thực tâm thức thuộc địa cho đồng bào bên ni và bên nớ.

Tiến trình giải thực tâm thức nô lệ không phải một sớm một chiều. Cái vòng kim cô nô dịch vô hình trên đầu thì khó gỡ hơn là cái xiềng xích nô lệ chân tay.

 

Thực dân, nô lệ, ăn mày (tựa đề một bài viết của Nguyễn Hoàng Văn)

Qua đến thời “kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa” này thì số phó thường dân không giảm đi nhưng ngược lại nó tăng vụt một cách chóng mặt.

Ở bên nớ, nông dân không chuyên nghề ở nhà gặp nhiều “sự cố ở huyện” quá đỗi nên rủ nhau biệt xứ. Họ thế chấp nhà cửa mua vé đi lậu, đi chui làm người rơm, người rừng cho bọn tư bản đế quốc dẫu viễn xứ gian truân, khó khăn trăm bề nhưng có lẽ còn có thể kiếm ăn hơn là chịu nhục chịu đói làm phó thường dân ở làng xã.

 

Dân có học thì cũng chẳng khấm khá gì. Chỉ cần tư duy độc lập không chịu làm con cừu đi theo lề phải là bị đạp xuống thành phó thường dân ngay. Ngó qua ngó lại thì cả nước chứ chẳng phải nông dân, công nhân, trí thức gì gì đều là phó thường dân[1] dưới cái chính quyền nô dịch này.

 

Đảng CSVN cầm quyền (cầm tiền) ở Việt Nam càng ngày càng lộ cái dị dạng hai đầu: vừa mang dấu ấn nội-thực-dân trong cơ chế độc tài đảng trị, vừa trao thân cho tân-thực-dân (neocolonialist) dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.”

 

Các điều khoản trong Hiếp Pháp nhà nước XHCN Việt Nam như “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai” (Điều 18 Hiến Pháp 1992), “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (Khoản 1 Điều 5 Luật Đất Đai) là hình thức che đậy cho quyền xử dụng trong tay thiểu số tập đoàn cai trị tung hoành cướp đất đồng bào[2].

 

Qua cơ chế độc tài đảng trị, bọn nội-thực-dân khai thác tài nguyên quốc gia, bán tháo bán đổ, sang nhượng cho thuê bất kể tác hại đến an ninh và môi sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng công ăn việc làm, và tước đoạt phương tiện sinh hoạt kinh tế của người dân.

 

Dưới chiêu bài “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” thì ngân sách quốc gia được đút vào các tập đoàn, tổng công ty doanh nghiệp nhà nước (DNNN), điển hình là Vinashin. Từ đó những “ông chủ trá hình” tha hồ tùy tiện xử dụng và biển thủ nguồn tài chánh này (thuế từ dân chúng, tài nguyên quốc gia, kiều hối, vay mượn nợ ngân hàng quốc tế). Với phương thức văn vẻ “cổ phần hoá” (equitization), tài sản công cộng bỗng dưng biến mất dưới bàn tay phù phép và lọt vào túi những tên tư bản đỏ nằm trong tập đoàn chính trị đầu sỏ (oliarchy)[3].

 

Mặt khác, cái tập đoàn chính trị đầu sỏ đấy lại hành xử như những người nô dịch thời thuộc địa. Họ chưa (muốn) biết làm thế nào để thoát ra được cái tâm thức nô dịch dù đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước. Vì thế các ông “đầy tớ nhân dân” với quyền lực tuyệt đối nhưng sống trong trạng thái tâm lý của kẻ vừa là nội-thực-dân vừa là tên nô dịch cho tân-thực-dân.

 

Họ vừa ở trong trạng thái trầm uất (depression) tự ti ngu dốt, thiếu khả năng hơn các chủ nhân ông tân-thực-dân, vừa huyên hoang trong chứng bệnh vĩ cuồng vị kỷ (narcicisstic grandiosity)[4]. Vĩ cuồng trong những đề án hoang tưởng Vinashin, dự án đường sắt cao tốc, và công trình lễ hội Ngàn Năm Thăng Long.

Họ hăm hở nhại lại những gì các nước Âu Mỹ thành công để tưởng rằng mình “Cũng ngang hàng với người ta, cũng nói năng đúng mức đàng hoàng …”[5] Họ biển thủ, trộn cắp muốn mua lấy phú quý, vinh quang nhưng vẫn chung quy phường mèo mả, gà đồng.[6]

 

Hoang tưởng vĩ cuồng cho mình chỉ cần (ăn ba đấu gạo) đổ bao nhiêu công phiếu, nợ nần vào Vinashin là vươn vai Phù Đổng trong khi trình độ kỹ thuật chưa làm được một con ốc đủ tiêu chuẩn công nghệ cao.

Hoang tưởng vĩ cuồng khi nghĩ rằng chỉ cần vay nợ (đời con đời cháu cũng chưa trả hết) làm đường sắt cao tốc là trở thành tân tiến trong khi hệ thống đường sắt cổ lỗ sỉ xuống cấp, vẫn còn lưới sắt chống đá, vẫn còn đổ phân xuống đường rày, và vẫn còn những đàn bò đi trên/ngang qua quốc lộ cao tốc.

 

Hoang tưởng vĩ cuồng trong khi người dân thiếu đất trồng trọt, không đủ nhà ở thì lại quy hoạch (đầu cơ địa ốc) xây dựng các sân golf, casino, và resort phục vụ những con ông cháu cha, những tân-thực-dân ngoại kiều và Việt kiều.

 

Mọi thứ đều hoành tráng bên ngoài và tạm bợ nhưng rỗng tuếch bên trong. Họ không hiểu rằng những phương tiện hào nhoáng bên ngoài này không mua được bản chất và cốt cách bền vững lâu dài.

 

Điều căn bản đáng cần làm là xây dựng hạ tầng cơ sở từng bước một vững chắc (không theo kiểu đầu voi đít chuột, nay làm mai sửa, càng sai càng sửa, càng sửa càng sai) cụ thể như nâng cao mức sống người dân (không theo kiểu từ cao nhỏ giọt xuống – “trickle-down”, làm đầy tớ cho người); nâng cao dân trí (giáo dục miễn phí, tự do ngôn luận và phản biệt) thì không thấy quan tâm.

 

Không một mảy may đầu tư vun xén cho hạ tầng cơ sở được vững chải mang tính sách lược và hệ thống hóa. Chỉ thấy “phát triển” ngoài da như đi trên mây chẳng bao giờ chạm chân chấm đất.

 

Nào là xây nhà quốc hội hoành tráng cho đa số nghị ông, nghị bà bù nhìn, gật gù cho đúng khuôn mẫu “dân chủ” kiểu “Đảng ta”. Không thấy xây nhà xí[7], xây thư viện hay lắp cầu[8] qua sông cho người nghèo đi lại, hay học sinh có phương tiện đến trường sinh hoạt căn bản. Chỉ thấy thụ động chờ xem những ai không thể bịt mắt trước đau khổ nhọc nhằn của đời phó thường dân, góp công góp của, và xắn tay vào thực hiện thì “thiên tài” Đảng ta cướp công lấy điểm là nhà nước rất “no”. Nếu không phải là một hình thức nội-thực-dân chỉ cốt phục vụ cho tập đoàn chính trị đầu sỏ và đám ăn theo thì gọi là gì?

 

Theo ông Memmi[9] thì tâm lý của kẻ thực dân là luôn coi mình có văn minh, tiến bộ, bậc thầy của người bị trị.

Phong tác thực dân luôn nhập vai vào người đô thị, thời thượng. Kiểu cách thực dân thì đương nhiên được nâng cao và phục vụ bởi người nghèo khó túi vá áo ôm. Những người bị cho là “thiếu văn hoá, văn minh” này đa phần xuất thân từ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ bị bần cùng hoá và phải đổ ra đô thị làm cửu vạn, ôsin.

 

Họ sa vào đường cùng khi phương tiện sinh hoạt kinh tế nông thôn thì đã dần co hẹp do mất đất mất nhà, chi phí sản suất thì vụt cao, giá cả nông sản thì bị dìm ẻm, và thu nhuận của họ không đủ sống qua ngày trong khi lạm phát càng lúc càng gia tăng.

 

Một số khác đành phải gia nhập đội ngũ công nhân hạng bét cho các cơ xưởng sản xuất xuyên quốc gia (transnational). Họ được gián tiếp huấn luyện trở thành nô-lệ-thời-hiện-đại phục vụ cho giới thống trị toàn cầu.

 

Đám tân-thực-dân thông đồng với giới thống trị toàn cầu này rất thính hơi với lợi nhuận. Họ nhanh chóng và thường xuyên di dịch từ đô thị này sang đô thị khác tìm mồi. Họ hớt nước cốt trong nồi súp, rồi ra vẻ tử tế thương hại để lại phần xương xẩu sót dưới đáy nồi cho người địa phương. Việt Kiều, Ngoại Kiều thì có khác gì. Cả hai đều hối hả chung tay vào khai thác và nô lệ hoá giới lao động bần cùng.

 

Ở bên ni, người có học được tiếp xúc với nền văn hóa Âu Mỹ thì đã không ít kẻ bị mờ mắt với nền khoa học, kỹ thuật tân tiến. Trí thức hải ngoại dù cánh tả hay cánh hữu cũng đều dễ bị lôi cuốn vào diễn luận trọng Âu (eurocentrism). Con đường này không chóng thì chày cũng dẫn đến góc tối thực-dân-mới.

 

Giới có học biết đòi hỏi quyền lợi cho bản thân nhưng lại rụt rè trong việc đòi dân quyền và công bằng cho tha nhân. Họ tậu công ăn việc làm, đạt an sinh cá nhân trong môi trường tự do tương đối và an thân trong vị trí đó.

 

Họ tự viện cớ ứng xử nhiều kiểu khác nhau để âm thầm trương bảng “không tham gia chính trị” như thể đó là một phạm trù có thể khoanh vùng và cô lập ra khỏi cuộc sống. Họ là những người tự nguyện làm công dân hạng hai, sẵn lòng làm phó thường dân, và chưa dám làm một công dân thực thụ trong xã hội dân chủ phương Tây.

 

Họ giữ im lặng, chẳng hề lên tiếng hoặc xác định vị thế chính trị nào trước các chính sách kỳ thị về di trú hay bất công trong vấn đề dân quyền, nhất là khi cân nhắc và biết tác động của các chính sách này không ảnh hưởng trực tiếp tới mình. Họ giữ im lặng dù biết các chính sách này vi phạm nhân quyền gây nhiều thương tổn cho các sắc dân hoặc tôn giáo thiểu số mà mình cùng sống chung.

 

Sự im lặng đáng ngạc nhiên. Vì chính mình tự kiểm duyệt mình trong một hoang tưởng an toàn như con cừu đang đứng giữa được bao bọc bởi bầy đàn và để mặc cho đồng loại bị cắn xé ngoài rìa. Họ muốn lặng lẽ quên gốc gác màu da của mình. May thay cũng có những người không im lặng (Đừng bảo tôi im vì bạn im).

 

Cũng có người ngụy biện theo chước khác. Họ dùng cái “thinh lặng của thiền định nhà Phật” để lẫn tránh vào nơi an trú. Cái thinh lặng sấm sét truớc kêu gào, rên siết. Họ không thèm hiểu hay quên hẳn rằng một số quyền và tự do tương đối họ đang hưởng là kết quả từ những đấu tranh và hy sinh của nhiều công dân đi trước – những người đã can đảm thực hiện quyền công dân thực thụ. Họ sống ẩn với triết lý và học đường tại vị, che mắt bịt tai để không phải mục kích thảm kịch dành cho giới lao động chân tay và phục dịch – một khối tuy rất đông nhưng sống trong sợ hãi chỉ lo đến miếng cơm manh áo.

 

Trong khi đó, bộ máy truyền thông bảo thủ được tài trợ bởi giới tài phiệt tư bản xuyên quốc gia biết cách chế ngự đám đông làm nỗi sợ này ngày càng gia tăng. Guồng máy này tiếp tục ra rả đem ông ngáo ộp thất nghiệp dọa dẫm giới lao động.

 

Tập đoàn tư bản nắm cái cán dao việc làm vung qua vung lại rêu rao đe dọa đóng cửa cơ xưởng, xuất khẩu việc làm, và cắt giảm lương bổng. Chúng đòi được lợi tức tối đa, miễn thuế dài hạn, và giảm bỏ các luật lệ kiểm soát an toàn để tự do tung hoành trong sản xuất.

 

Giới lao động và công đoàn thất thế, chịu bị ép buộc vào những điều kiện bất lợi. Chỉ vì mong có được việc làm trước mắt nên họ dễ dàng thuần phục theo diễn luận tân-tự-do (neo-liberalism) đánh vào nhược điểm tâm lý mình. Họ hiểu mơ hồ nghe theo ủng hộ các biện pháp có điều kiện bất lợi về lâu dài cho chính họ mà lại vô cùng thuận lợi cho giới chủ nhân ông.

 

Cả hai giới lao động tri thức và chân tay đều ít lên tiếng phản kháng chống cự vì thói quen cố hữu với phận tôi đòi, hay tránh né sợ sệt ảnh hưởng đến việc làm hay quyền lợi riêng (dù là ảo tưởng và chẳng là bao).

 

Người ta có thể đưa quốc gia ra khỏi vòng thuộc địa nhưng chưa hẳn là đã đem tâm thức thuộc địa ra khỏi quốc gia.

Những người sinh ra và lớn lên ở VN thời thuộc địa và hậu thuộc địa dù không ít thì nhiều vẫn giữ lại tâm thức người thuộc địa. Một số người ham muốn tranh giành quyền lợi vẫn tiếp tục ôm lấy lề thói xin-cho trong tương tác với quyền lực chính thống cho dù đã rời VN trước đây rất lâu.

 

Họ xun xoe xin xỏ, chọn lựa bon chen tâng bốc chức sắc chính quyền các cấp. Họ không dám đòi hỏi quyền được tôn trọng và công nhận chính danh sự hiện hữu của cộng đồng. Họ phò tá thay vì chỉ xem những viên chức chính quyền là người phục vụ[10] dân và đáp ứng nhu cầu của người công dân. Rốt cuộc, những người đồng hương lờ mờ của họ chỉ được ăn cái bánh vẽ.

 

Giới thanh thiếu niên Mỹ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên (lúc còn bé) tại hải ngoại thì lại là một hiện tượng khác. Mặc dù họ không bị vướng tâm thức nô lệ thuộc địa nhưng lại kẹt mắc vào ứng xử suy nghĩ thông đồng với diễn luận Trắng (Whiteness)[11]. Một diễn luận tạo tầng lớp nô lệ khác, đặc thù là nô lệ văn hoá.

 

Thực dân thì lắm dạng và nô lệ có nhiều kiểu.

Bản tuyên ngôn nô lệ ra đời (phê chuẩn và phổ biến) ngày 1 tháng 1 năm 1863. Nhưng 100 năm sau người Mỹ da đen qua phong trào dân quyền (civil rights movement) vẫn còn phải tranh đấu không ngừng để đòi hỏi những quyền tự do căn bản cho mình. Họ cũng chưa hẳn đã đạt được trọn vẹn quyền làm người bình đẳng bất khả xâm phạm này.

 

Mục sư Martin Luther King, Jr. từng kêu gọi người Mỹ da đen phải can đảm phải quyết tâm vực dậy tự thảo cho chính mình bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ bản thân[12]. Ông nhắc họ – những tâm hồn nô dịch và tư tưởng bị thống trị không cần gươm đao – rằng không một bản tuyên ngôn giải phóng nào có thể cắt đứt, xóa bỏ những móc xích nô lệ ngoại trừ ý thức và ý chí từ mỗi người.

 

Chúng ta, những người Việt trong và ngoài nước, cũng nên suy gẫm về điều nhắn nhủ ấy. Thay vì sống chia rẽ, kèn cựa, phân hóa, và tự cô lập thụ động – những hành động suy nghĩ chỉ có lợi cho thế thực dân thống trị mới – chúng ta nên chọn đồng lòng hợp sức thoát khỏi cơn mê chiều[12]. Chúng ta cần tự vực mình dậy mà đi, và tự viết bản tuyên ngôn nhân quyền cho chính cá nhân thì mới mong thoát khỏi cái kiếp lê thê, ê chề của nô lệ ăn mày.

 

———————

 

[1] Hà Văn Thịnh, Tôi sai. 

[2] RFA, Khiếu kiện đất đai gia tăng tại Việt Nam. (Video)

[3] RFA, Đằng sau những tập đoàn kinh tế

[4] Alschuler, L. R. (2006). “The psychopolitics of liberation”, Chapter 3 – Decolonization and Narcissism, p.43

[5] Nguyễn Minh Triết “Lòe” Việt Kiều.

[6] danlambao.com, Bí thư Tỉnh ủy Đinh Văn Hùng lấy đâu tiền mua trống 1,2 triệu USD?

[7] Nhà quốc hội hay nhà xí?

[8] VnExpress (2010, August 29). Người lái đò bỏ tiền xây cầu cho dân nghèo. Dân Trí (2010, June 13). Xác định vị trí xây cầu Khuyến học & Dân trí vượt sông Pô Kô.

Tin 180.com (2010, February 14). Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương.

[9] Memmi, A. (1957). “The colonizer and the colonized”.

[10] Tiểu Sài-gòn (Seattle) yêu cầu Thị trưởng: lời nói đi đôi với việc làm, (Little Saigon asks the Mayor to walk the talk), International Examiner, 2009

[11] Cooks, L. (2003). Pedagogy, Performance, and Positionality: Teaching about Whiteness in Interracial Communication. Communication Education, 52(3), 245-257.

Cooks defines whiteness as “a set of rhetorical strategies employed to construct and maintain a dominant White culture and identities” (p. 246). In addition, McLaren defines in his article, Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism whiteness as “a refusal to acknowledge how white people are implicated in certain social relations of privilege and relations of domination and subordination” (p. 9) [See McLaren, P. (1997). Decentering Whiteness: In Search of a Revolutionary Multiculturalism. Multicultural Education, 5(1), 4-11.]

[12] Martin Luther King, Jr. Speech “Sign your own emancipation” (Ký bản tuyên ngôn giải phóng của bạn)

[13] Hoàng Hạc (2010, February 5). Cơn Mê Chiều, nhạc phẩm thống thiết viết từ bối cảnh Mậu Thân. Trong bài hát “Cơn mê chiều” sáng tác bởi Nguyễn Minh Khôi có đoạn mở đầu sau đây: “Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn. Đàn con nay lớn khôn, mang gươm đao vào xóm làng”

.

.

.

CUỘC CHIẾN TÌNH BÁO MỸ – TRUNG

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Cuộc chiến tình báo Mỹ – Trung  

Thục Miên 

8:45, 14/09/2010

http://antg.cand.com.vn/vi-vn/hosomat/2010/7/73315.cand

 

Một băng video của FBI tiết lộ, việc chuyển giao các tài liệu quân sự mật cho một điệp viên Trung Quốc trong tháng 2 năm nay đã cho thấy nước Mỹ đang phải chống chọi với thế giới ngầm của mạng lưới gián điệp nước ngoài. Băng video cho thấy Gregg Bergersen, quan chức ở Cơ quan Hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ (DSCA), đã nhận tiền để trao thông tin quân sự mật của Mỹ cho gián điệp Trung Quốc Tai Shen Kuo.

Trong vụ án gián điệp này, Bergersen lĩnh án 5 năm tù, còn Kuo 15 năm tù. Cũng trong tháng 2/2010, một gián điệp Trung Quốc khác bị tuyên án 15 năm tù vì tội đánh cắp những bí mật nhạy cảm từ những cựu nhân viên của mình – làm việc cho hai tập đoàn hàng không lớn của Mỹ là Boeing và Rockwell International – và chuyển giao về.

Kỹ sư Dongfan “Greg” Chung, 73 tuổi, người Mỹ gốc Hoa, bị kết tội cung cấp những bí mật thương mại về tàu con thoi, máy bay quân sự và cả dự án tên lửa Delta IV của Mỹ cho phía Trung Quốc.

Chi Mak, cựu kỹ sư hợp đồng làm việc trong một cơ quan quốc phòng và người giúp trao tài liệu mật cho Chung, cũng bị tuyên án 15 năm tù giam vì tội chuyển giao công nghệ quân sự nhạy cảm cho Trung Quốc, trong đó bao gồm thông tin về tàu chiến, tàu ngầm hạt nhân v.v… của Mỹ.

Những vụ án trên cho thấy ngày càng có thêm nhiều điệp viên Trung Quốc đang hoạt động ngầm trên đất Mỹ. FBI đã bắt giữ hàng chục người Hoa ở Mỹ trong những năm gần đây vì liên quan đến những hoạt động gián điệp có lợi cho Trung Quốc. Theo nhiều báo cáo khác nhau, có gần 500 vụ án tương tự đang trong quá trình điều tra.

 

Dĩ nhiên, chính quyền Trung Quốc luôn khăng khăng phủ nhận sự dính líu đến những vụ án gián điệp này và thậm chí còn cho rằng, những vụ án trên được Mỹ “thiết kế” nhằm bôi nhọ nước họ. Trung Quốc cũng phủ nhận sự dính líu đến những cuộc tấn công hệ thống mạng của Mỹ xảy ra trong thời gian gần đây.

Roger Faligot, tác giả người Pháp của hàng chục cuốn sách về đề tài gián điệp, tuyên bố có nhiều điệp viên Trung Quốc làm việc ở nước này. Trung Quốc có nhiều cơ quan tham gia thu thập thông tin tình báo – trong đó bao gồm nhiều cơ quan tình báo quân sự, nhiều cơ quan gián điệp kinh tế, chính trị, công nghiệp v.v… 

 

Trong báo cáo năm 2007 gửi đến Quốc hội Mỹ về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng nhấn mạnh mạng lưới gián điệp của nước này là mối đe dọa rất lớn cho nước Mỹ.

Báo cáo giải thích: Một vài vụ án đã cho thấy những nỗ lực của Trung Quốc nhằm sở hữu những công nghệ nhạy cảm của Mỹ một cách bất hợp pháp bằng việc tuyển dụng những doanh nhân và nhà khoa học làm việc trong những vị trí nhạy cảm làm gián điệp. Cơ quan Phụ trách hải quan và di trú Mỹ (ICE) đánh giá mạng lưới gián điệp Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu cho công nghệ của Mỹ.

 

Từ năm 2000, ICE tiến hành hơn 400 cuộc điều tra liên quan đến xuất khẩu bất hợp pháp vũ khí và công nghệ Mỹ đến Trung Quốc. Gián điệp Trung Quốc chống Mỹ đã có từ lâu. Vào cuối thập niên 90 thế kỷ trước, Trung Quốc đã sở hữu được một số lượng lớn thông tin nhạy cảm nhất của Mỹ, bao gồm những thiết kế vũ khí nhiệt hạch của Mỹ.

Nhưng Trung Quốc không chỉ tìm kiếm những bí mật chính quyền và quân sự. Gián điệp kinh tế đã trở thành một yếu tố gây bất lợi rất nhiều cho nền kinh tế Mỹ. Hiện nay khó đánh giá được chính xác mức độ tổn thất của kinh tế Mỹ trước sự xâm lăng của gián điệp kinh tế nước ngoài, nhưng Giám đốc FBI Robert Mueller cho biết, trong năm 2003 “bọn ăn cắp bí mật thương mại và những công nghệ mang tính đột phá – những gì mà chúng ta gọi là gián điệp kinh tế – gây tổn thất cho Mỹ đến 250 tỉ USD/năm”.

Và Trung Quốc là vấn đề hàng đầu. Những ví dụ về gián điệp kinh tế của Trung Quốc cũng không là mới. Từ xâm nhập những công ty Mỹ ở thung lũng Silicon cho đến ăn cắp phần mềm độc quyền từ các công ty nước ngoài đóng ở Trung Quốc.

 

Một số nhà phân tích, như là chuyên gia an ninh mạng Alan Paller của Viện SANS (SysAdmin, Audit, Network, Security), tuyên bố mỗi công ty nước ngoài ở Trung Quốc đều có hệ thống  máy tính bị nước này gây tổn hại. Vào đầu năm nay, Công ty phần mềm tư nhân Mỹ Cybersitter đã tiến hành một vụ kiện cấp liên bang chống Trung Quốc về việc nước này ăn cắp phần mềm chống khiêu dâm độc quyền của công ty. Trung Quốc đã sử dụng phần mềm độc quyền của Cybersitter một cách bất hợp pháp để kiểm duyệt Internet ở quốc gia này. “Tôi không ngờ lại có một vụ ăn cắp trắng trợn đến như thế”, một luật sư của công ty nói. Thiệt hại ước tính cho Cybersitter là trên 2 tỉ USD!

 

Vậy thì mục đích của các hoạt động gián điệp của Trung Quốc là gì? Mỗi chuyên gia đều có ý kiến khác nhau. Charles Viar, cựu quan chức phản gián và Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu tình báo (CIS), giải thích: “Người Trung Quốc thu thập một “bản đồ” toàn diện về kinh tế và chính quyền Mỹ đồng thời ăn cắp công nghệ cao của chúng ta phục vụ cho những mục đích kinh tế và kỹ nghệ của nước họ”. Mục đích là, Charles Viar nói, “giành quyền bá chủ toàn cầu – trong hòa bình, nếu có thể. Nếu không nói là với cái giá quân sự ở mức tối thiểu”.

Roger Canfield, tác giả vài cuốn sách về Trung Quốc và các hoạt động gián điệp của nước này, nói: “Người Trung Quốc đang hướng đến việc xây dựng một tàu sân bay, thiết lập các cảng ở khắp mọi nơi và lập những hệ thống tên lửa và vệ tinh tiên tiến. Canfield cho biết mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là hiện đại hóa quân sự đến mức có thể thách thức với sức mạnh quân sự của Mỹ. Không ít chuyên gia đã đề cập đến khả năng nguy hiểm này”.

Cựu Thứ trưởng phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Canada nói: “Tuyệt đối chắc chắn mục đích lâu dài của họ (Trung Quốc) là thống trị thế giới và đặt nước Mỹ – càng nhiều càng tốt – ra khỏi thương trường, và trở thành một siêu cường duy nhất trên thế giới. Họ muốn cai quản cả hành tinh!”.

Nên nhớ là năm 2005, mạng lưới gián điệp kinh tế Trung Quốc đã gây thiệt hại cho Canada khoảng 1 tỉ USD mỗi ngày. Các quan chức quân sự hàng đầu của Trung Quốc đã công khai bàn luận về khả năng hủy diệt những thành phố nước Mỹ bằng vũ khí hạt nhân, nhất là nếu Mỹ can thiệp quân sự bảo vệ Đài Loan.

Phần đông các chuyên gia phân tích cho rằng chính quyền Mỹ hành động chưa đủ mức để đối phó với mối đe dọa từ phía Trung Quốc. Charles Viar nói: “Phản gián Mỹ – FBI – chống lại Trung Quốc không hiệu quả, trong khi Trung Quốc đã mua chuộc rất nhiều nhân viên FBI được triển khai để chống lại họ”.

 

FBI đánh giá có tới 3.200 công ty bình phong của người Trung Quốc đang hoạt động trên đất Mỹ và âm thầm thu thập thông tin mật về chính quyền và các công ty của Mỹ. Và chỉ một số nhỏ gián điệp trong số này bị phát hiện. Bộ Tư pháp Mỹ đã buộc tội 44 cá nhân trong 26 vụ án kể từ tháng 3/2008 và số người này hiện bị giam giữ trong các nhà tù liên bang Mỹ, theo tờ Washington Post.

 

Vụ án gián điệp nổi tiếng nhất và gây ấn tượng nhất có lẽ là vụ liên quan đến Larry Wu Tai Chin – người từng phục vụ cho CIA trong 30 năm, từ năm 1985. Tai Chin bị buộc tội bán các tài liệu mật cho Trung Quốc từ năm 1952. Trong khi đang chờ tuyên án, Chin kêu gọi Trung Quốc giúp giải cứu ông. Nhưng Bắc Kinh lên tiếng phủ nhận mọi sự liên quan đến Tai Chin.

Và không lâu sau khi nhận án tù chung thân vào ngày 22/2/1986, Chin – một trong những gián điệp nổi tiếng nhất của Trung Quốc – được phát hiện đã tự sát chết. Nguyên do thật sự về cái chết của điệp viên Trung Quốc Tai Chin  hiện  vẫn còn trong vòng bàn cãi. 

 

Từ sau vụ này, FBI cảm thấy bất an về sự xuất hiện ngày càng nhiều của điệp viên Trung Quốc. Ví dụ, nữ nhân viên FBI Katrina Leung bị phát hiện là điệp viên hai mang vào năm 2003 và từng quan hệ tình dục với ít nhất 2 đặc vụ FBI! Bắc Kinh luôn phủ nhận sự liên quan đến bất cứ vụ án gián điệp nào hay bất cứ mối quan hệ nào với những cá nhân bị buộc tội, do đó hậu quả là tất cả những gián điệp Trung Quốc này phải ngồi tù mọt gông hoặc chết trong những hoàn cảnh khó hiểu.

Điều này hoàn toàn tương phản với những nỗ lực khó nhọc của tất cả các quốc gia khác nhằm giải cứu điệp viên của mình, bao gồm cả Liên Xô và nước Nga hiện nay. Mỹ không là quốc gia duy nhất gánh chịu mạng lưới gián điệp khổng lồ của Trung Quốc với mục đích moi những thông tin bí mật về chính trị, quân sự và kỹ nghệ.

Ví dụ, có hơn 1.000 điệp viên và người đưa tin Trung Quốc hoạt động ở Canada, trong khi Ủy ban An ninh công cộng quốc gia của Nhật Bản phát hiện một nữ điệp viên người Trung Quốc kiểm soát 30.000 điệp viên Trung Quốc khác ở Nhật Bản – theo  tạp chí Shukan Post của nước này.  Sự phát hiện các mạng lưới gián điệp Trung Quốc lan tràn đang tiếp tục được tiết lộ trên thế giới và chính quyền nhiều quốc gia hiện nay đang hết sức cảnh giác đề phòng trước mối đe dọa bí mật chưa từng có này.

Thục Miên (tổng hợp)

———————————-

 

Một cựu sĩ quan cao cấp CIA bị buộc tội làm gián điệp và rửa tiền (19/11)

“Điệp viên” Muslim Brotherhood đã thao túng chính quyền Mỹ như thế nào? (18/11)

 

.

.

.

WIKILEADS SẮP TIẾT LỘ HÀNG TRIỆU TÀI LIỆU – NGÀNH NGOẠI GIAO CHỜ ĐỢI BÃO TỐ (RFI)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

WikiLeaks sắp tiết lộ hàng triệu tài liệu. Ngành ngoại giao chờ đợi “bão tố”

Trọng Nghĩa   –  RFI

Thứ bảy 27 Tháng Mười Một 2010

http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20101127-wikileaks-sap-tiet-lo-hang-trieu-tai-lieu-nganh-ngoai-giao-cho-doi-bao-to

 

Sau 400.000 tài liệu v Irak, 300.000 tài liu v Afghanistan, WikiLeaks dự kiến s đưa lên mng vào cui tun này hay đu tun ti, khong ba triu tài liệu mt ca M đã b rò r. Đây ch yếu là các đin thư liên quan đến các giao dịch vi nước ngoài hay các đánh giá ca M v các đi tác.  

 

Sự kiện hàng triệu tài liệu sắp được WikiLeaks tiết lộ đã gióng lên những hồi chuông báo động về tác hại tiềm tàng của các tiết lộ này, nhất là đối với ngành ngoại giao Mỹ. Theo hãng tin Pháp AFP, tầm mức vụ việc này được coi là nghiêm trọng đến mức mà các nhà ngoại giao Mỹ trên thế giới đã được yêu cầu bỏ qua kỳ nghỉ cuối tuần nhân dịp Lễ Tạ ơn Thanksgiving, một ngày lễ hết sức quan trọng của người Mỹ.

Họ phải sẵn sàng trực chỉ bộ Ngoại giao của các nước sở tại khi cần thiết, để xoa dịu nỗi giận dữ có thể bùng lên một khi những nhận xét “thiếu ngoại giao” về một nhân vật hay một nước nào đó chẳng hạn, bị phơi bày công khai. Theo AFP, các văn thư trao đổi nội bộ nhiều khi chứa đựng những lời lẽ đó.

 

Ông James Jeffrey, đại sứ Hoa Kỳ tại Irak thừa nhận : “WikiLeaks là mt trở ngại thc s khng khiếp cho công vic ca tôi, vn dĩ là phi có được các cuc thảo lun trong tinh thn tin tưởng ln nhau vi đi tác. Tôi thc s không hiu nổi đng cơ ca vic phát hành các tài liu này”, Các tài liệu bị tiết lộ đó, theo ông, “Sẽ không giúp đ, mà ngược li s phá hoi kh năng công tác ca Hoa Kỳ tại Irak”.

 

Trong bài phỏng vấn dành cho đài truyền hình CNN, sẽ phát sóng hôm 28/11, Đô đốc Mike Mullen, một chỉ huy quân sự hàng đầu của Mỹ, cũng kêu gọi WikiLeaks đình chỉ kế hoạch công bố các tài liệu bị ông đánh giá là “cực kỳ nguy hiểm”.

 

Theo AFP, các tài liệu mà Wikileaks dự trù tiết lộ có thể liên quan đến các nước như Úc, Anh, Canada, Israel, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Philip Crowley nói rằng Hoa Kỳ đã dự phòng “các trường hợp xấu nhất” và đã thông báo cho các chính phủ về khả năng các tài liệu bị tiết lộ.

 

Nhật báo Nga Kommersant cho biết là trong các tài liệu đó, có ghi lại các cuộc đàm thoại giữa các nhà ngoại giao Mỹ với các chính trị gia Nga và những nhận xét “không hay” về một số người trong giới này. Còn Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov thì lên án vụ tài liệu sắp được tiết lộ mà thủ phạm bị ông coi là “những tên trộm nhỏ chạy trên mạng Internet”.

 

Báo chí Thổ Nhĩ Kỳ cũng tiết lộ một vài nội dung « tế nhị » của các tài liệu sắp công bố, trong đó có thông tin về việc Ankara đã giúp các chiến binh Al-Qaeda tại Irak hay là việc Hoa Kỳ đã giúp phiến quân người Kurdistan tại Irak chống lại Thổ Nhĩ Kỳ. Cả hai điểm này đều có khả năng phá hoại quan hệ giữa hai đồng minh . Trên đài CNN, Ahmet Davutoglu, Bộ trưởng Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ cho biết ông không biết gì về nội dung các tài liệu.

 

Các quốc gia như Israel, Canada, Ý, Úc, Anh, Đan Mạch, Iceland, Na Uy, Thụy Điển đều đã được Hoa Kỳ cảnh báo về vụ rò rỉ thông tin sắp diễn ra.

 

Trước đây, Wikileaks đã từng tiết lộ hàng trăm ngàn tài liệu mật về Afghanistan và Irak, nhưng không nhậy cảm lắm. Theo giới phân tích, vụ tiết lộ lần này sẽ đẩy Washington vào tình thế khó xử do nội dung rất tế nhị của các tài liệu trên nguyên tắc chỉ lưu hành nội bộ mà thôi. 

 

——————————

  

US briefs governments on WikiLeaks ‘dump’ (Financial Times)

 

Hoa Kỳ lo ngại tài liệu Wikileaks ảnh hưởng đến quan hệ đồng minh  (RFA)
Lo ngại Wikileaks công bố ồ ạt bí mật ngoại giao Mỹ   (RFI) 

 

Mỹ cảnh báo về khả năng tiết lộ tài liệu của WikiLeaks   (VOV)

 

WikiLeaks tuyên bố tiếp tục đưa lên mạng các tài liệu mật   (VOV)

.

.

.

.

.

BA CÁI NHÌN TỪ PHƯƠNG TÂY VỀ TRUNG QUỐC (Đoàn Hưng Quốc)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Ba cái nhìn từ Tây Phương về Trung Quốc

Đoàn Hưng Quốc

Đăng ngày 27/11/2010 lúc 10:14:33 EST

http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=5357

 

Mối quan tâm về Hoa Lục ngày càng tăng theo những bước phát triển về kinh tế, chính trị và quân sự của nước này. Người viết xin chọn và giới thiệu ba nghiên cứu của các tác giả nhìn từ nhiều khía cạnh khác nhau:

1. Chính trị địa dư: bài báo 18 trang The Geography of Chinese Power. Tác giả Robert D. Kaplan đăng trên tập san Foreign Affairs số tháng 05/2010.

2. Kinh tế và xã hội: bài báo 21 trang In China, Cultivating the Urge to Splurge. Tác giả David Leonhardt đăng trên nhật báo The New York Times ngày 24/11/2010.

3. Chính trị, văn hoá và lịch sử: sách dài 435 trang When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order Tác giả Martin Jacques xuất bản vào tháng 11/2009.

Người viết có vài nhận xét tổng quát trước khi vào chi tiết:

o Tương quan trong khu vực Đông Á thay đổi rất nhanh, nhất là từ sau khi ngoại truởng Hillary Clinton khẳng định mối quan tâm của Hoa Kỳ tại vùng Đông Nam Á, và động thái khiêu khích của Bắc Hàn qua việc bắn chìm tàu chiến và pháo kích sang Nam Hàn ở Bắc Á. Hai sự kiện khiến một số nhận xét của hai tác giả Robert Kaplan (5/2010) và Martin Jacques (11/2009) phải thay đổi ít dù chỉ mới ấn hành trong vòng 1 năm trước đây.

o Với cái nhìn của một người từ Á Châu dù có đồng ý hay không với các tác giả thì chúng ta cũng nên ghi nhận rằng các quan điểm này phản ảnh lăng kính của giới quan sát và ảnh hưởng lên chính sách từ phương Tây.

 

***

 

Bài báo dài 18 trang mang tựa đề The Geography of Chinese Power của Robert D. Kaplan đăng trên tập san Foreign Affairs số tháng 05/2010, trình bày cái nhìn tổng thể trên góc cạnh Điạ lý chính trị (geo-politics) giữa Hoa Lục và các nước láng giềng (Nga – Ấn – Đông Nam Á – Hàn – Nhật), cùng những khu vực lợi ích chiến lược (Tân Cương – Tây Tạng – Đài Loan – biển Đông). Tác giả cho rằng Trung Quốc có lợi thế vừa là một đại quốc trên đất liền (land power) lẫn duyên hải (sea power – với vùng ven biển dài hơn 9000 dặm). Hai mục tiêu chính của Hoa Lục là :
(a) tìm tài nguyên tại các vùng thưa dân nhưng giàu khoáng sản như Trung Á, Mông Cổ, và xa hơn nửa là Phi Châu và
(b) bảo đảm con đường hàng hải từ Ấn Độ Dương sang qua biển Đông.

Sự bành trướng của Trung Quốc tất yếu sẽ va chạm với các nước lớn trên lục địa gồm Nga – Ấn, cùng các thế lực biển khơi gồm Mỹ – Nhật – Đài Loan – Đông Nam Á.

 

***
Bài báo dài 21 trang mang tựa đề In China, Cultivating the Urge to Splurge của David Leonhardt đăng trên nhật báoThe New York Times ngày 24/11/2010 phân tích tương quan giữa kinh tế thị trường và mô hình chính trị độc đảng. Nhà cầm quyền không bị chi phối bởi nhiều khuynh hướng của đa đảng nên một mặt đã thành công tập trung nhân lực, vật lực cho các bước phát triễn ngoạn mục, nhưng bù lại phải trả giá đắt qua sự chênh lệch giàu nghèo và huỷ hoại môi trường. Tác giả đánh giá rằng Bắc Kinh hiện tích trữ một khoảng ngoại tệ khổng lồ (2500 tỷ USD) nên đủ khả năng giải quyết mọi thử thách trong vòng 5-10 năm tới đây, những sau đó sẽ rơi vào khủng hoảng trầm trọng nếu vẫn không giải quyết các mâu thuẩn nội tại về chính trị và xã hội. Nói cách khác, Hoa Lục dù không cần vội vã thay đổi chính sách nhưng thời gian cũng cạn dần!

Theo nhận xét của người viết thì đây là một bài báo rất giá trị, cách trình bày cân đối và chuyên môn đồng thời tránh được cảm tính khen chê thường thấy khi bàn về một đề tài tế nhị như Trung Quốc.

 

***

Quyễn sách dài 435 trang mang tựa đề When China Rules the World: The End of the Western World and the Birth of a New Global Order là một công trình nghiên cứu đáng kể của Martin Jacques về ảnh hưởng của nền văn hoá và lịch sử Trung Hoa khi đất nước này tiến lên hàng siêu cường. Một cách ngắn gọn, tác giả phân tích vào chi tiết câu nói của Napoleon Bonaparte 200 trước đây: “Hãy để Trung Hoa ngủ yên vì thế giới sẽ rung chuyển khi nước này thức dậy”

Martin Jacques đã tìm hiểu về ảnh hưởng của Khổng Giáo và quan niệm về Hán tộc để nhận xét rằng xã hôi Trung Quốc dù canh tân hoá vẫn mang đậm sắc thái phong kiến và truyền thống, và va chạm với những các quan niệm về tự do và dân chủ của Tây Phươngi.

Điểm mạnh của quyển sách là tác giả bỏ nhiều thời gian sinh sống và tìm hiểu về tập quán tại Hoa Lục nên có thể được dùng cho các thanh niên gốc Á Châu đọc và hiểu thêm về nền văn hoá của nước này.

Khuyết điểm là tác giả không đề cập đến các mâu thuẩn xã hội đòi hỏi Bắc Kinh phải giải quyết các thách thức nội tại này; viết về nền văn hoá truyền thống nhưng lại không phân tích đâu là các giá trị phổ cập mà nhân loại đã bỏ ra 200 năm để tìm đến; phác hoạ rất mông lung những nét về sự hài hoà giữa cái cũ và mới – thật sự có lẻ không riêng gì tác giả mà cũng không ai biết xã hội Trung Hoa sẽ đi về đâu trong vòng 10-20 năm tới đây!

***

 

Nhìn chung, trên đây là các công trình nghiên cứu đứng đắn và cân đối, vượt lên trên những biến cố thời sự để mang lại cách nhìn lâu dài và toàn diện về một trong những vấn đế quan trọng nhất của thế kỷ 21.

Đoàn Hưng Quốc

© Thông Luận 2010

.

.

.

VIỆT NAM – TRUNG QUỐC ĐỐI THOẠI CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG (RFA)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Việt Nam – Trung Quốc đối thoại chiến lược quốc phòng

RFA

27.11.2010

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/China-vietnam-hold-defense-security-consultation-11272010091036.html

 

Sau 2 ngày thảo luận, cuộc đối thoại chiến lược quốc phòng lần thứ tư giữa Việt Nam và Trung Quốc đã kết thúc ở Hà Nội hồi chiều nay.

 

Tin tức chúng tôi ghi nhận được cho biết trong cuộc họp, hai bên đã bàn thảo về tình hình khu vực, về mối quan hệ song phương và những gì cần làm để xây dựng phát triển quan hệ quân sự.

 

Đây là lần đầu tiên hai nước đối thoại chiến lược quốc phòng ở cấp thứ trưởng. Đại diện cho Việt Nam là Trung Tướng Thứ Trưởng Nguyễn Chí Vịnh, và đại diện cho Trung Quốc là Phó Tổng Tham Mưu Trưởng Mã Hiếu Thiên.

 

Cũng cần nhắc lại cuối tháng Tám vừa qua, 2 vị trưởng đoàn đã gặp nhau ở Bắc Kinh. Sau cuộc gặp, Tướng Nguyễn Chí Vịnh nói với báo chí là Việt Nam khẳng định quan điểm 3 không về quốc phòng, gồm không liên minh quân sự, không cho phép bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước khác.

 

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.

—————————————-

Đưa hợp tác quốc phòng Việt-Trung đi vào chiều sâu 

TTXVN

27/11/2010 | 19:08:00

http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/www.vietnamplus.vn/Dua-hop-tac-quoc-phong-VietTrung-di-vao-chieu-sau/5276499.epi

 

Chiều 27/11, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đã tiếp thân mật Đoàn đại biểu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc do Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham mưu trưởng dẫn đầu.

Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang nhiệt liệt hoan nghênh Đoàn đại biểu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc sang thăm Việt Nam, đánh giá cao kết quả hợp tác thiết thực giữa hai Bộ Quốc phòng và quân đội hai nước trong thời gian qua.

Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang nhấn mạnh hợp tác quốc phòng là một nội dung quan trọng trong quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước; mong muốn Bộ Quốc phòng và quân đội hai nước đẩy mạnh giao lưu, hợp tác thiết thực, thực hiện tốt các thỏa thuận đã đạt được, đưa quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước đi vào chiều sâu, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị Việt-Trung phát triển toàn diện lên tầm cao mới, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Thường trực Ban Bí thư khẳng định Đảng, Nhà nước và quân đội Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc và là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Thượng tướng Mã Hiểu Thiên bày tỏ ấn tượng mạnh mẽ trước những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân Việt Nam đã giành được trong công cuộc đổi mới, cũng như những phát triển mới tích cực của mối quan hệ hữu nghị giữa hai Đảng, hai Nhà nước và quân đội hai nước trong 60 năm qua.

Thượng tướng Mã Hiểu Thiên giới thiệu một số nét lớn về tình hình đất nước và quân đội Trung Quốc thời gian gần đây; báo cáo kết quả tích cực đạt được giữa hai bên tại hội nghị đối thoại lần này, đánh giá việc tổ chức Hội nghị đối thoại chiến lược về quốc phòng-an ninh giữa hai nước là cơ chế hợp tác quan trọng, góp phần tích cực vào tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa quân đội hai nước.

Thượng tướng cũng khẳng định mong muốn trong thời gian tới, hai bên tiếp tục đẩy mạnh giao lưu, trao đổi đoàn và hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng-an ninh liên quan, qua đó tăng cường thực chất quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc-Việt Nam.

Đoàn đại biểu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đang ở thăm Việt Nam và dự Hội nghị Đối thoại chiến lược về quốc phòng-an ninh lần thứ nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Cùng dự cuộc tiếp có Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Nguyễn Mạnh Hùng; Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng./.

(TTXVN/Vietnam+)

.

.

.

TỰ TỬ BẰNG MANH CHIẾU TẠI TRẠI GIAM CÔNG AN KHÁNH HÒA ?

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Công an trấn áp dân lành

Posted on 28/11/2010 by danlambaoblog

http://danlambao.wordpress.com/2010/11/28/cong-an-tran-ap-dan-lanh/

 

“Sáng nay thấy các chú công an còng m, em chy ra đ can ngăn thì có mt người phụ n ôm ngang bng, hai người đàn ông cm hai tay, hai người cm hai chân, trong năm người này có mt người dùng cùi tay đè đu em. Khi em c thoát chy thì mọi người kéo em li không cho đi. Sau đó, mt chú công an ly còng còng tay phải em vào ca s nhà. S vic xy ra t 9h30 đến 11h thì em được th, sau đó em đau quá được mọi người đưa vào bnh vin. Trong s hai chú công an, thì em có biết mt người tên là Long còng tay em vào ca s”.  – Trần Thị Khánh Huyền (18 tui)

—————————-

 

Chưa đền bù đã “cưỡng chế” giải tỏa    

n Thủy  –   bee.net.vn

26/11/2010 11:24:03  

http://bee.net.vn/channel/1987/201011/Cong-an-cong-tay-dan-de-giai-phong-mat-bang-1780445/

 

Theo lời ch Lê Th Khanh (40 tui), trú ti số nhà 1, đường Trưng N Vương, phường Phú Bài, th xã Hương Thy, Tha Thiên – Huế, vì không cho gii ta khi chưa nhn được tin đn bù đt, ch và con gái bị công an phường còng tay, khiến con gái nhp vin còn m b ngt xu.

Chị Lê Thị Khanh kể lại sự việc: “Khoảng 9h ngày 25/11, lực lượng công an, dân phòng, một số cán bộ phường và cán bộ giải phóng mặt bằng đến yêu cầu giải tỏa. Tôi yêu cầu: Các anh viết cho mấy chữ rằng đã lấy 26,7m2 đất để thi công nhưng chưa đền bù đất. Sau lời yêu cầu của tôi, họ trả lời không văn bản gì hết.

Và một số người vào ôm lại, người cầm tay, có một anh công an còng hai tay tôi đưa sang một căn nhà hoang bên kia đường từ 9h đến 11h. Do mấy hôm nay tôi bị bệnh xoang nên bị ngất, sau đó mọi người đưa vào bệnh viện”.

Cũng theo chị Khanh, vào năm 2009 dự án mở đường 2/9 triển khai, nhà chị có 26,7m2 bị giải tỏa. Chị đã ký vào văn bản giao đất cho ban đền bù giải phóng mặt bằng nhưng đến nay chưa có tiền đền bù nên không cho giải toả.

“Trước đó, mở đường Trưng Nữ Vương nhà tôi cũng bị giải tỏa một phần đất nhưng cũng không được đền bù, tôi đã viết đơn thư đi nhiều nơi nhưng chưa được giải quyết” – chị Khanh trình bày.

Gia đình chị Khanh, chồng mất sớm chỉ có 4 mẹ con nuôi nhau sống qua ngày.

Em Trần Thị Khánh Huyền (18 tuổi, con gái chị Khanh) đang được các bác sĩ theo dõi và điều trị tại buồng điều trị 1, Khoa ngoại, Bệnh viện Đa khoa thị xã Hương Thủy, kể lại sự việc:

“Sáng nay thấy các chú công an còng mẹ, em chạy ra để can ngăn thì có một người phụ nữ ôm ngang bụng, hai người đàn ông cầm hai tay, hai người cầm hai chân, trong năm người này có một người dùng cùi tay đè đầu em.

Khi em cố thoát chạy thì mọi người kéo em lại không cho đi. Sau đó, một chú công an lấy còng còng tay phải em vào cửa sổ nhà.

Sự việc xảy ra từ 9h30 đến 11h thì em được thả, sau đó em đau quá được mọi người đưa vào bệnh viện. Trong số hai chú công an, thì em có biết một người tên là Long còng tay em vào cửa sổ”.

Trao đổi với PV về những thông tin trên, Trung tá Nguyễn Sỹ Hùng, Trưởng Công an phường Phú Bài  xác nhận: Ủy ban phường có yêu cầu lực công an và lực lượng dân phòng đi với bên thi công để giải tỏa đất đai ở nhà chị Khanh.

Công an phường cử hai Thiếu úy Trần Đình Long và Nguyễn Cửu Thành Nhân và ba cán bộ dân phòng. Tôi có phổ biến, lực lượng công an, dân phòng đi cùng bên thi công làm việc để lỡ khi người dân ném đá, dùng hung khí tấn công đoàn thì lực lượng công an, dân phòng trấn áp.

Tuy nhiên, ông Hùng nói: “Tôi khẳng đnh chắc chn, vic công an còng tay, đè bà Khanh và con gái là vic ca h nói, lc lượng công an không làm vic đó. Gia đình bà Khanh đã nhiu ln chng đi vic giải phóng mt bng đ thi công con đường Trương N Vương và này là đường 2/9“.

Một bác sĩ ở bệnh viện cho biết: Bệnh nhân Khánh Huyền bị chấn thương phần mềm ở vai và cổ tay, hiện bệnh viện đang theo dõi và điều trị.

 

———————

 

Tin được không: Tự tử bằng… manh chiếu?

Posted on 28/11/2010 by danbao1

http://danlambao.wordpress.com/2010/11/28/tutu-bang-manh-chieu/

 

Danlambao – Ngày 24 tháng 11 vừa qua, anh Nguyễn Nam Hà, 32 tuổi, trú TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, đã đột tử tại trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa. Theo công an thì trong phòng giam của anh Hà có sợi dây treo cổ làm từ sợi lõi rút ra rừ manh chiếu, một đầu buộc vào chấn song của ô thông gió, cách mặt đất khoảng 2,5m.

Gần đây chúng ta thường thấy xuất hiện nhiều vụ “tự tử”  hay “đột tử” trong nhà tù hay trại tạm giam ,  sự thật đằng sau những cái chết bi thương đó đến nay mãi mãi là một câu hỏi “rơi vào thinh không”. Điển hình như:

 

Ngày 9 tháng 9 năm 2010 ông Trần Ngc Đường, 52 tuổi, chết trong khi bị công an tạm giữ tại trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai chỉ trong vài giờ sau khi khi bị bắt vì cãi cọ với hàng xóm. Công an thông báo với gia đình nạn nhân rằng ông treo cổ tự tử. Vợ nạn nhân không tin nguyên nhân dẫn đến cái chết của chồng bà là do tự tử. Bà cho biết ông Dương bị phát hiện chết trong tư thế ngồi, với sợi thắt lưng da cuốn quanh cổ nhưng không có vết hằn trên cổ.

 

Ngày 30 tháng Sáu năm 2010, Vũ Văn Hiền ở Thái Nguyên chết trong đồn công an sau khi bị bắt vì xô xát với mẹ mình. Kết quả pháp y cho thấy nạn nhân tử vong vì xuất huyết não, đa chấn thương, vỡ xương hàm và gãy xương sườn.

Ngày 2 tháng Bảy, 2010 anh Nguyn Thành Năm ở Giáo xứ Cồn Dầu, thành phố Đà Nẵng, trong khi bị dân phòng tạm giữ đã bị đánh trầm trọng và bị trói ngoài ruộng. Anh Năm sau đó chết tại nhà vì chấn thương vào ngay ngày hôm sau, mồng 3 tháng Bảy.

Ngày 23 tháng Bảy, 2010 anh Nguyn Văn Khương, 21 tuổi, bị đánh chết trong khi bị công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tạm giam vì vi phạm giao thông. Sau cuộc biểu tình khổng lồ ở Bắc Giang, một cán bộ công an đã bị bắt vì tội “làm chết người trong khi thi hành công vụ” theo điều 97 Bộ luật hình sự. Ba cán bộ công an khác bị tạm đình chỉ công tác để điều tra, nhưng không có tin tức gì thêm về diễn tiến của cuộc điều tra này trên các phương tiện truyền thông.

Ngày 8 tháng 8 năm 2010 anh Trần Duy Hải, 32 tuổi, chết trong khi bị công an giam giữ ở tỉnh Hậu Giang, sau khi bị bắt một hôm trước do tình nghi cướp giật sợi dây chuyền vàng của một phụ nữ. Ngày 12 tháng Tám, giám đốc công an tỉnh Hậu Giang tuyên bố rằng giám định pháp y kết luận Hải chết vì treo cổ tự tử. Chỉ vài tiếng đồng hồ sau khi chết, thi thể nạn nhân được hỏa táng, khiến không thể điều tra gì thêm nữa. Trên báo chí không có thông tin gì về việc nhà chức trách phản ứng ra sao đối với khiếu nại của gia đình nạn nhân đã được chuyển đến công an tỉnh và Viện Kiểm sát.

Vào cuối năm 2009, anh Đng Trung Trịnh cũng đã chết trong đồn công an xã Tiên Động, Hải Dương. Cái chết của anh Trịnh là do… xuất huyết mạch mạc treo ruột, chảy máu ổ bụng là do… xơ gan. Phòng giám định pháp y – Bệnh viện đa khoa Hải Dương đã đưa ra những lý lẽ phi lý, sai lệch quá nhiều so với thực tế đã dẫn đến tình trạng khiếu kiện của gia đình nạn nhân.

danlambao.com

—————

 

Khánh Hòa : Một bị can chết trong trại giam

Mai Khuê  –  Báo Mới

http://www.baomoi.com/Info/Khanh-Hoa-Mot-bi-can-chet-trong-trai-tam-giam/104/5260074.epi

(Dân Việt) – Rạng sáng 24-11, bị can Nguyễn Nam Hà, 32 tuổi,, trú TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, đã đột tử tại trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa.

Trong phòng giam của Hà có si dây treo c làm từ sợi lõi rút ra r manh chiếu, một đầu buộc vào chấn song của ô thông gió, cách mặt đất khoảng 2,5m.

Nguyễn Nam Hà đã bị Công an tỉnh Khánh Hòa bắt tạm giam từ ngày 15-11, để điều tra vụ án buôn bán trái phép chất ma túy.

Mai Khuê  

.

.

.

CHIẾN LƯỢC LỚN CỦA TRUNG QUỐC TẠI BIỂN ĐÔNG

Tháng Mười Một 27, 2010

 

CHIẾN LƯỢC LỚN CỦA TQ TẠI BIỂN ĐÔNG

Nguồn yuanheping1@sohu, ngày 7/7/2010

Dương Danh Dy giới thiệu

27-11-2010

http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/11/chien-luoc-lon-cua-tq-tai-bien-ong.html

 

Đột phá hai chiến lược lớn của Trung Quốc tại Biển Đông 

 

Trung Quốc xác định Biển Đông thuộc lợi ích cốt lõi của mình là điều tất nhiên, nhưng cũng rất không bình thường. Bởi vì điều này tiêu chí chiến lược Biển Đông của Trung Quốc hay là nói chiến lược hải dương của Trung Quốc đã có sự thay đổi vô cùng trọng đại, có sự đột phá vô cùng then chốt. Sự thay đổi và đột phá này được thể hiện ở hai điểm then chốt sau:

 

1 Có sự thay đổi và đột phá trọng đại về chiến lược “Gác tranh chấp cùng khai thác” Biển Đông của Trung Quốc.

Khách quan mà nói, chưa bao giờ Trung Quốc từ bỏ chủ quyền Biển Đông mà thậm chí vì việc bảo vệ chủ quyền Biển Đông đã làm rất nhiều nghĩa cử anh dũng. Ví dụ như giữa những năm 70 của thế kỷ trước, Trung Quốc đã không để mất thời cơ chiếm lại quần đảo Hoàng sa nằm trong tay Nam Việt, và trong cải cách mở cửa lại chờ dịp củng cố và chiếm về 6 đảo bãi ngầm trong quần đảo Trường Sa, đồng thời còn thường xuyên dùng các phương thức khác nhau để công khia biểu thị chủ quyền Biển Đông; tháng 4 năm 2001, máy bay Mỹ xâm phạm vùng trời Biển Đông trung Quốc, máy bay Trung Quốc khẩn cấp bay lên gây ra máy bay đâm nhau tại Biển Đông nổi tiếng, Vương Vỹ anh hùng không quân quân giải phóng Trung Quốc mất tích hy sinh, phía Trung Quốc trải qua 11 vòng đàm phán buộc Mỹ phải 5 lần sửa chữa thư xin lỗi, thêm vào nội dung “chưa được phép đã bay vào vùng trời Trung Quốc” và chịu để phi công bị bắt giữ đến lễ Phục sinh mới được thả; ngày 8 tháng 3 năm 2009, tầu giám sát hộ vệ Mỹ chưa được Trung Quốc cho phép đã “hoạt động phi pháp” tại hải phận kinh tế Trung Quốc, bị 5 tầu Trung Quốc vây chặn, cuối cùng buộc phải cuống quít tháo chạy…

Thế nhưng Trung Quốc hoặc là không làm gì hoặc là xuất phát từ suy tính chiến lược mang lợi ích lớn nhất, hoặc là xuất phát từ sự cần thiết của tình thế lớn giấu mình chờ thời, lâu nay đã không đưa vấn đề Biển Đông vào khuôn khổ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc như Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương mà đồng thời với việc kiên trì chủ quyền Biển Đông đã chế định ra chiến lược “gác tranh chấp cùng khai thác “ Biển Đông.

Tuy vậy chủ trương thiện ý “gác tranh chấp cùng khai thác” đã bị các quốc gia có liên quan xâm chiếm và có ý đồ xâm chiếm lãnh thổ Biển Đông của Trung Quốc khinh thường, bọn họ không những không thấy được thiện ý trong chiến lược Biển Đông của Trung Quốc và bước ngoặt giải quyết vấn đề, không thấy được tấm lòng nước lớn của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, mà ngược lại còn lợi dụng cơ hội, ào ào kéo tới trắng trợn xâm lược các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc, đề xuất yêu cầu lãnh thổ càng thêm vô lý tại Biển Đông Trung Quốc, thậm chí ảo tưởng vào thế lực nước ngoài ra sức chiếm đoạt tài nguyên Biển Đông của Trung Quốc.

Cần nói thẳng ra là, chủ trương thiện ý “gác tranh chấp cùng khai thác” không được sự hưởng ứng của thế lực nước ngoài được hưởng lợi, trên thực tế “gác tranh chấp cùng khai thác” đã trở thành nguyện vọng tốt đẹp đơn phương của Trung Quốc, trở thành sự cướp đoạt đơn phương của thế lực nước ngoài, trở thành nỗi đau ngầm đơn phương của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông.

Trung Quốc là đất nước lễ nghĩa có lịch sử lâu dài, trong giao thiệp ngoại giao, trong việc bảo vệ lợi ích thiết thân của mình, vốn mang sẵn truyền thống tốt đẹp tiên lễ hậu binh. Lịch trình khúc khuỷu nhiều năm của vấn đề Biển Đông Trung Quốc là thuyết minh rất tốt cho việc này.

Tất nhiên mềm mà không được thì cứng phải đến, tất nhiên văn mà không xong thì vũ phải đến.

Trung Quốc đưa Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi” của vấn đề lãnh thổ hoàn chỉnh quan trọng, đã biểu đạt sự thay đổi trọng đại của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, đã biểu đạt sự điều chỉnh và đột phá trọng đại chiến lược Biển Đông của Trung Quốc, và thể hiện trước lập trường và phương thức xử lý vấn đề Biển Đông của Trung Quốc sẽ không bảo thủ, mềm yếu nhẫn nhịn như trước đây mà sẽ có lập trường rõ ràng, phương thức mới mẻ, thái độ cứng rắn nhưng linh hoạt biến hóa để xử lý vấn đề Biển Đông.

Những tên cường đạo cho rằng câu kết với thế lực nước ngoài khoan mấy mũi khoan dầu tại lãnh hải Trung Quốc là có thể cướp đoạt tài nguyên Trung Quốc lâu dài, những tên đầu trâu mặt ngựa cho rằng chỉ cần cử mấy tên lính mấy chiếc tầu đến là chủ quyền các hải đảo của Trung Quốc sẽ là của chúng, những tên hoang tưởng cho rằng quốc hội nước chúng chỉ cần trưng ra một số văn bản là có thể thu được lợi ích lãnh thổ, những nước lớn siêu cường cho rằng có thể can thiệp vào chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc bất cứ lúc nào và mãi mãi, cuối cùng sẽ nhận được thất bại nhục nhã trước nhân dân Trung Quốc ngày càng hùng mạnh.

 

2 Sức mạnh quân sự tầm xa của hải không quân bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải Trung Quốc đã có sự thay đổi và đột phá trọng đại.

Trong suy nghĩ của mọi người việc Trung Quốc đưa Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi” của vấn đề lãnh thổ hoàn chỉnh quan trọng dường như có chút chậm trễ, và điều này cũng thường khiến các dân mạng hoài nghi, trong đó có một nguyên nhân rất đáng làm rõ.

“Không phải là ta không làm mà là ta khó làm”, nói ra điều này là một việc vô cùng đau khổ và trong rất nhiều tình hình thường là bất đắc dĩ mà thôi. Đúng như tâm tình giải phóng Đài Loan của lãnh tụ khai quốc chủ tịch Mao Trạch Đông, sau thất lợi của chiến dịch Kim Môn, 9.000 tráng sĩ anh dũng hy sinh, đã rất nhanh ý thức được rằng sự yếu kém của lực lượng vượt biển Trung Quốc và lực chiến đấu đánh chiếm các hải đảo ở xa không đủ nên bất đắc dĩ phải đem việc giải phóng Đài Loan biến thành niềm tin kiên định ở nới sâu thẳm trong lòng, biến thành những lời yêu cầu không dứt và cứng rắn trên câu chữ, biến thành sự chuẩn bị dẫm chân trên thực địa, còn hành động thực tế với ý nghĩa chân chính chỉ có thể là sự đau khổ nhẫn nại lâu dài chờ tìm cơ hội khi điều kiện chưa chín muồi.

Thể hiện trên vấn đề Biển Đông của Trung Quốc liên hệ chặt chẽ với thực lực hải không quân đặc biệt là lực chiến đấu tầm xa.

Hải không quân Trung Quốc đều xây dựng trên cơ sở một nghèo hai trắng, đều là từ giai đoạn ban đầu vô cùng nguyên thủy từng bước phát triển lên, cho dù tốc độ kinh người nhưng so sánh với các cường quốc quân sự có hải không quân hiện đại thì luôn luôn có khoảng cách to lớn nhất, lực chiến đấu tầm xa củaTrung Quốc trong thời gian dài hơn nữa vẫn không ở trong cùng một tầng nấc, nói trắng ra là không có khả năng chống lại đối thủ lớn mạnh, càng không đủ khả năng đả kích tầm xa và khả năng củng cố trận địa tầm xa. Có thể có người đưa ra câu hỏi, chống Mỹ viện Triều ở xa đất nước, đả kích là Mỹ, nước lớn mạnh nhất trên thế giới lúc đó, sao không quân Trung Quốc lại có thể giành thắng lợi! Điều này là sự thực không cần tranh cãi, nhưng có hai điểm cần làm rõ, một là mặc dù chiến trường Triều Tiên là ở nước ngoài nhưng chỉ cách lãnh thổ Trung Quốc một con sông, điều kiện bảo đảm hậu cần của Trung Quốc tốt hơn ở Biển Đông nhiều, khoảng cách chi viện đường dài của Trung Quốc ngắn hơn ở Biển Đông nhiều hơn nữa tại thời kỳ chiến tranh giải phóng cách đó không lâu quân dân Trung Quốc đã sáng tạo ra kinh nghiệm chi viện tiền tuyến bằng đường bộ vô cùng có hiệu quả, bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu Trung Quốc cũng không thể nào so sánh với khoảng cách xa xôi của Biển Đông hiện nay; hai là mọi người đều biết rất rõ khoảng không sau lưng các máy bay chiến đấu của Trung Quốc cũng như sự ủng hộ kỹ thuật chiến đấu trên không của chúng trên thực tế đã có sự bảo đảm của Liên Xô cũ, không hề thua kém sức chiến đấu của Mỹ lúc đó.

 

Trong một khoảng thời gian rất dài từ giai đoạn đầu xây dựng đất nước cho tới bây giờ, ngoài chiến tranh Triều Tiên ra, những trận không chiến và hải chiến mà Trung Quốc tham gia về cơ bản đều có tính chất phòng ngự, đều được tiến hành với khoảng cách không xa lãnh thổ Trung Quốc. Cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974 được chế định trong tình hình Mỹ đã hạ quyết tâm vứt bỏ chính quyền Nam Việt Nam, còn Bắc Việt lại không tiện ra tay giúp đỡ, là một trận hải chiến được tiến hành ở khoảng cách tương đối xa và đội tầu có tải trọng tương đối nhỏ, và Trung Quốc đã giành được thắng lợi huy hoàng. Trước những năm 80 của thế kỷ trước, máy bay Mỹ đã từng xâm phạm vùng trời Trung Quốc mấy ngàn lần khiến Trung Quốc phản đối tới hàng vạn lần nhưng cũng chỉ có thể xua đuổi hoặc bắn rơi một ít thôi, phần lớn mắt nhìn thấy chúng chạy trốn mà chẳng làm gì được.

Trải qua những nỗ lực gian khổ tuyệt vời trong 60 năm xây dựng đất nước, sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã có sự phát triển chưa từng có, nhất là trong mấy năm gần đây, năng lực viễn dương của hải quân Trung Quốc và sức chiến đấu tầm xa của không quân Trung Quốc đã có sự phát triển như tên bắn, mọi người có thể chú ý tới mấy sự thực cơ bản dưới đây:

Đã trang bị hàng loạt lớn máy bay chiến đấu kiểu J10 cho bộ đội, đã hình thành sức chiến đấu thực tế hùng mạnh

Kỹ thuật tiếp dầu của Trung Quốc đã có đột phá, bán kính tác chiến của máy bay Trung Quốc đã mở rộng nhiều lần.

Máy bay báo động trên không của Trung Quốc đã xuất hiện nhân dịp 60 năm xây dựng nước, báo động trên không và khả năng chỉ huy của Trung Quốc không chỉ che phủ được diện tích toàn quốc và còn có thể vươn xa hơn nữa theo yêu cầu .

Đội tầu bảo vệ đường hàng hải đến vịnh Aden của hải quân Trung Quốc đã tới lượt thứ sáu, khả năng viễn dương của hải quân Trung Quốc ngoài ngàn dặm đã được thử thách nghiêm túc.

Đội tầu ngầm chiến lược của Trung Quốc bao gồm cả tầu ngầm hạt nhân đã lên tới hơn 60 chiếc, không chỉ là một đội tầu ngầm hùng mạnh chỉ đếm trên đầu ngón tay trên thế giới mà còn đặt cơ sở vững chắc cho khả năng đánh đòn thứ hai của lực lượng hạt nhân Trung Quốc.

Biên đội hải quân loại lớn do 10 hạm tầu tổ thành của Trung Quốc đã diễu qua vùng biển Okinawa mà không hề có cản trở rồi đi vào hải phận quốc tế, lực chiến đấu thực tế của hải quân Trung Quốc đã có sự nâng cao về chất.

Số tấn của quân hạm loại lớn của Trung Quốc đã cao tới vài vạn tấn, trên thực tế hàng không mẫu hạm của Trung Quốc cũng sắp đóng xong.

Cùng với những điều trên còn có, những chiếc tầu giám sát biển có tải trọng lớn của Trung Quốc đã có thể thường xuyên đến những nơi tương đối xa tại Biển Đông để bảo vệ cá, bảo vệ tầu, hiển thị và bảo vệ chủ quyền.

 

Tóm lại, qua những điều nói trên có thể thấy sức mạnh quân sự tầm xa của hải, không quân Trung Quốc trong việc bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải của mình đã có những thay đổi và đột phá quan trọng. Trên vấn đề Biển Đông Trung Quốc có khả năng thực hiện nhiều hành động hơn nữa .

Ta có thể làm vì sao lại vui vì không làm! Bây giờ là lúc hợp thời cơ để Trung Quốc ra tay trên vấn đề Biển Đông.

Tất nhiên, cuối cùng những thay đổi và đột phá của Trung Quốc đều thể hiện bằng nguyên tắc và lập trường, và không có nghĩa là mọi việc đều yêu cầu vũ lực, đều phải giải quyết bằng phương thức chiến tranh. Phương thức chủ yếu để giải quyết vấn đề Biển Đông của Trung Quốc giống như vấn đề Đài Loan, dưới tiền đề không vứt bỏ uy hiếp vũ lực vẫn là lấy phương thức hòa bình làm chính.

 

Dương Danh Dy giới thiệu

* Nguồn yuanheping1@sohu, ngày 7/7/2010

 

——————————

ĐƯỜNG “LƯỠI BÒ” CÓ HỢP PHÁP KHÔNG?

Hoàng Việt

Quỹ Nghiên cứu Biển Đông

Cập nhật: 09:50 GMT – thứ ba, 19 tháng 5, 2009

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/05/090515_china_sea_dispute.shtml

 

Đường lưỡi bò

http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/05/13/090513085915_south_china-sea_bbc466.gif

 

Trước ngày 13 tháng 5 là hạn cuối để các nước gửi hồ sơ báo cáo về thềm lục địa mở rộng lên Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã gửi Báo cáo về thềm lục địa mở rộng của mình lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc trước hạn định.

Sau đó 24 giờ, Trung Quốc đã chính thức gửi công hàm phản đối Báo cáo về thềm lục địa của Việt Nam, kèm theo đó Trung Quốc gửi một bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” trên Biển Đông và cho rằng trong báo cáo của mình, VN đã “xâm phạm trắng trợn chủ quyền của Trung Quốc”.

Có lẽ, đây là lần đầu tiên Trung Quốc đã yêu sách một cách chính thức về chủ quyền của họ trên biển Đông dựa theo bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của họ.

 

Lịch sử “đường lưỡi bò”

Tháng 12 năm 1947, một viên chức Trung Hoa Dân quốc tên là Bai Meichu (Bạch My Sơ?), có thể do thiếu kiến thức về luật hàng hải quốc tế cộng với nhu cầu thôi thúc chống lại yêu sách của Pháp đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đã trình bày về đường này trong một atlas của riêng mình.

Sau đó, thấy có lợi, nên năm 1948, chính quyền Cộng Hoà Trung Hoa đã cho in bản đồ chính thức lần đầu có “đường lưỡi bò” dựa theo bản đồ của Bai Meichu.

Trong bản đồ này, “đường lưỡi bò” là một đường đứt khúc có 11 đoạn, được thể hiện bao trùm xung quanh các nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa), bãi ngầm Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa) và bãi cạn Scaborough (Trung Quốc gọi là Hoàng Nham).

Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác.

Năm 1949, nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa ra đời, chính quyền Bắc Kinh cũng nối tiếp chính quyền trước đó trong việc xuất bản bản đồ có “đường lưỡi bò”, nhưng tới năm 1953, bản đồ có “đường lưỡi bò” do Bắc Kinh xuất bản chỉ còn 9 đoạn.

Mặc dù cùng cho xuất bản bản đồ có “đường lưỡi bò” nhưng cả chính quyền Trung Hoa Dân quốc trước đó lẫn Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa sau này đều chưa bao giờ chính thức yêu sách hay giải thích gì về “đường lưỡi bò” này cả.

 

Tính chất pháp lý

Về mặt pháp lý, yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền đối với vùng biển nằm bên trong “đường lưỡi bò” có những điểm bất hợp lý như sau:

 

1. Một số học giả Trung Quốc cho rằng “đường lưỡi bò” biểu thị “đường biên giới quốc gia”của “vùng nước lịch sử của Trung Quốc tại biển Đông”. Vùng biển trong “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc yêu sách chiếm gần 80% diện tích biển Đông.

Chưa có một yêu sách nào về một vùng nước lớn như vậy là “vùng nước lịch sử” trong cộng đồng quốc tế. “Đường lưỡi bò” này không thể là “đường biên giới quốc gia” được, vì theo nhiều án lệ quốc tế (cụ thể nhất là vụ phán xử đền Preah Vihear do ICJ năm 1962) cho thấy, đường biên giới phải là “đường ổn định và dứt khoát”, trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế, còn “đường lưỡi bò” là những đường đứt khúc được mô tả một cách tuỳ tiện, thiếu ổn định , trước đây có 11 đoạn, sau phải bỏ đi 2 đoạn trong vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý.

Thêm nữa, nó không dứt khoát vì nó chưa bao giờ có toạ độ chính xác để có thể xác định được một cách rõ ràng.

 

2. Sẽ áp dụng quy chế pháp lý nào cho vùng biển bên trong “đường lưỡi bò”? Trung Quốc vẫn đưa ra yêu sách đối với vùng biển bên trong đường lưỡi bò như là “vùng nước lịch sử” của họ. Theo quy định của luật quốc tế, có thể có các quy chế đối với vùng nước được coi là “vùng nước lịch sử” bao gồm: Nội thuỷ; lãnh hải; vùng nước quần đảo.

Tuy nhiên, áp dụng vào trong trường hợp này, với các hành động đã xảy ra của Trung Quốc trong việc thực thi các yêu sách từ khi xuất hiện bản đồ chính thức lần đầu từ 1948 đến nay, chưa thể đi đến kết luận là vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” này có thể áp dụng được quy chế pháp lý nào cho nó.

Hiện nay, các học giả Trung Quốc cũng đang lúng túng và không nhất trí được với nhau về chế độ pháp lý của vùng biển bị bao bọc bởi “đường lưỡi bò” này.

Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:

“Chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả.”

Như vậy, Tuyên bố 1958 của Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là “vùng nước lịch sử”.

Trong Pháp lệnh về lãnh hải và vùng tiếp giáp của của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định “vùng nước lịch sử”.

Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15/5/1996 của Trung Quốc, áp dụng với cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho thấy việc Trung Quốc yêu sách một vùng nội thuỷ nằm trong một vùng nước lịch sử có cùng chế độ nội thuỷ là một mâu thuẫn lớn trong lập trường của họ.

Có thể nói rằng những tuyên bố và các đạo luật của chính quyền Trung Quốc, đặc biệt Tuyên bố năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không phù hợp với yêu sách lịch sử được phân định bởi “đường lưỡi bò” .

 

3. Từ khi xuất bản bản đồ chính thức vào tháng 2 năm 1948 cho đến trước sự kiện Trung Quốc phản đối báo cáo về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam mới đây, cả chính quyền Trung Hoa Dân quốc cũng như Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đều chưa bao giờ chính thức yêu sách hay giải thích gì về “đường lưỡi bò” cả, cho nên các quốc gia khác trước đây không lên tiếng về vấn đề này là đương nhiên.

Sự im lặng đó không phải là “mặc nhiên thừa nhận”.

 

Hơn nữa, tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là “đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận.

Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.

Cuối cùng, qua sự phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng: yêu sách về “đường lưỡi bò” của Trung quốc là “không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó”.

 

Yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền đối với hầu hết Biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể coi là một vấn đề pháp luật nghiêm chỉnh.

——————————

Ông Hoàng Việt là giảng viên Đại học Luật TP HCM và thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

.

.

.

NHẬN DIỆN GIỚI LÃNH ĐẠO ĐÔNG Á (Kishore Mahbubani)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Nhận diện giới lãnh đạo Đông Á  (Phần 3)

Kishore Mahbubani 

27-11-2010

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-24-nhan-dien-gioi-lanh-dao-dong-a

 

Thanks

1Hành động của người lãnh đạo là nhân tố có tính quyết định đến sự thành bại trong phát triển của mỗi quốc gia. Vấn đề là làm sao tạo ra được sự chuyển biến trong nhận thức của tầng lớp lãnh đạo đối với việc điều hành một xã hội.

 

Là một trong những học giả hàng đầu về Đông Á, Vogel đã cố gắng tìm hiểu cội rễ sâu xa của những đặc thù của tầng lớp lãnh đạo khu vực Đông Á (mặc dù ông chú trọng nhiều vào nghiên cứu Nhật Bản và bốn con hổ Châu Á hơn cả). Trong những nét đặc thù này, ông chú ý vào bốn điểm chung chính như sau (Vogle 1991, 93-101):

– Những nhà lãnh đạo tài năng và tâm huyết: Theo Vogel, trách nhiệm của tầng lớp quan lại trong xã hội thời Khổng Tử lớn hơn so với ở phương Tây và giới quan lại cũng được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi hơn. Họ cảm thấy phải có trách nhiệm đối với sự an nguy của xã hội nói chung cũng như khía cạnh về mặt đạo đức trong xã hội.

Trong thời hiện đại, những người tài năng nhất trong xã hội được lựa chọn. Họ tiếp tục phát huy năng lực của mình để phục vụ cho những lợi ích công và lợi ích tư thì chỉ duy trì ở mức độ rất hạn chế. Chính những mối quan tâm tới lợi ích của xã hội nói chung hơn là vì những lợi ích cá nhân đã thúc đẩy họ nỗ lực không ngừng để có thể nhân rộng cơ hội cho tất cả mọi người.

Hệ thống tuyển dụng thông qua thi đầu vào: Thi cử là một hình thức cần thiết để tuyển lao động vì những kỹ năng ngày càng trở nên quan trọng. Đó cũng là cách thức quan trọng để có thể hạn chế được nạn “con ông cháu cha” trong việc tuyển dụng. Tất cả những thành viên trong xã hội do đó đều được trao những cơ hội như nhau để được trọng dụng và có thu nhập cao hơn.

Vai trò quan trọng của tập thể: Xã hội Đông Á không bị ràng buộc quá nhiều vào những nguyên tắc của luật pháp như ở các nước phương Tây nhưng họ có nguyên tắc cụ thể riêng về cách hành xử của từng cá nhân trong một tập thể. Vogel nhấn mạnh đến sự trung thành, sự đáp ứng của từng cá nhân trong một tổ chức đối với những yêu cầu chung của tập thể và khả năng dự đoán được hành vi của mỗi cá nhân trong môi trường tập thể. Đặc điểm đó đã trở nên rất thích hợp đối với nhu cầu công nghiệp hóa, đặc biệt là cho những quốc gia đang cố gắng để bắt kịp với các nước khác.

– Khả năng tự trau dồi học hỏi: Đây cũng là một điểm tương đồng với những người Tin lành khi họ cố gắng để nâng cao khả năng của mình. Sự tự trau dồi học hỏi bắt nguồn từ mong muốn của mỗi người muốn kiểm soát tốt hơn những cảm xúc của mình. Nó đòi hỏi phải học tập và phản xạ. Nó có thể được nâng lên thành một hành vi mang tính mục đích và chủ động thông qua việc nâng cao những kỹ năng trong công việc như là học thêm ngoại ngữ, sử dụng máy tính hoặc là tìm hiểu về thị trường nước ngoài.

Từ những cá nhân, khả năng này sẽ tác động lên kết quả công việc chung của tập thể. Những khát vọng hoàn thiện bản thân không ngừng vượt xa hơn cả những nhu cầu về vật chất và mang tầm chiến lược lâu dài.

Vogel đã lựa chọn bốn đặc điểm này để phân tích về nét đặc thù của giới lãnh đạo Đông Á. Trong đó hành vi của giới lãnh đạo có vai trò quan trọng. Đó có thể là nhân tố quan trọng nhất lý giải việc tại sao Đông Á lại có thể phát triển trở thành một xã hội hiện đại. Hãy xem Vogel miêu tả cụ thể thế nào về đặc điểm này:

Hệ thống công quyền trong xã hội hiện đại đóng vai trò quan trọng công nghiệp hóa… Thực tế là giới chức lãnh đạo đã được lựa chọn dựa trên tài năng và nhân cách đạo đức… Chính sự quan tâm đối với những ổn định xã hội nói chung đã khiến họ rất chú trọng đến tình trạng bất bình đẳng trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hóa và cũng khiến họ nỗ lực không ngừng để tạo ra cơ hội có thu nhập cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội (Vogel 1991, 95)

Danh sách liệt kê những tố chất lãnh đạo có thể được sử dụng như một bài kiểm tra đơn giản cho những quốc gia mà cho đến thời điểm này vẫn thất bại để tạo ra một lực đẩy tích cực trên con đường phát triển: Có bao nhiêu nước trong số này có được những nhà lãnh đạo có phẩm chất giống như vậy?

Rất nhiều những nhà nghiên cứu về phát triển đã gặp rất nhiều khó khăn khi tìm cách lý giải tại sao các quốc gia lại thất bại trong phát triển. Gần đây như năm 2003, chuyên gia kinh tế trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF, Raghuram Rajan cũng đã nhận thấy rằng:

Tình thế tiến thoái lưỡng nan trong phát triển chính là khó khăn kinh tế lớn nhất mà thế giới sẽ phải đối mặt trong dài hạn. Và sẽ không có một giải pháp nào là đơn giản. Đó không chỉ đơn thuần là đổ thêm tiền vào nền kinh tế. Chúng ta cần phải hiểu rằng làm thế nào mô hình phát triển lại thành công ở một số nước. Thực tế, một trong những lĩnh vực khiến tôi băn khoăn nhất đó là việc thiếu hẳn kim chỉ nam trong kinh tế để làm thế nào chúng ta có thể khởi động được nhận thức về phát triển ở các nước nghèo nhất trên thế giới. (IMF 2003, 363)

Bí mật thực sự của việc khởi động những nhận thức đó không nằm ở việc bắt buộc một quốc gia phải chấp nhận theo mô hình của một nước khác. Điều đó là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều quan trọng hơn là làm sao tạo ra được sự chuyển biến trong nhận thức của tầng lớp lãnh đạo đối với việc điều hành một xã hội. Ví dụ như sẽ rất có ích nếu như chúng ta xây dựng được chỉ số đánh giá quốc tế về quản trị tốt trong đó có thể đánh giá được năng lực của những lãnh đạo dựa trên những đặc điểm mà Vogel đã chỉ ra trong những nghiên cứu về giới lãnh đạo ở Đông Á đã đề cập trên đây. Hành động của người lãnh đạo là nhân tố có tính quyết định đến sự thành bại trong phát triển của mỗi quốc gia.

 

Một môi trường thuận lợi

Việc nhấn mạnh đến hành động của các nhà lãnh đạo có thể gây khó khăn cho các học giả phương Tây đương thời khi tiến hành nghiên cứu. Những luồng quan điểm chính trị mang tính chuẩn xác đang bao trùm khắp châu Âu khiến việc có một phân tích tương đối cân bằng về vấn đề này trở nên khó khăn hơn. Yếu tố chính trị ở đây là các giá trị về dân chủ như người phương Tây vẫn thường nhắc đến thật đáng buồn là không thể giúp cải thiện điều kiện sống ở những nước như Haiti. Một sự thật rất đơn giản. Nhưng khi điều đơn giản  này không được đề cập đến thì rất nhiều những vấn đề sẽ nảy sinh ngăn cản những cố gắng để có những nhìn nhận khách quan hơn về vấn đề này.

Vấn đề về quan điểm chính trị chính xác này đã được người Mỹ hết sức coi trọng từ những giả thuyết vàng từ thời kỳ Kennedy đến những giải thuyết về tối giản dưới thời Reagan về quản trị. Chính quyền Kennedy tin tưởng rằng những xã hội tốt đẹp chỉ có thể được tạo nên bởi những chính phủ do những người tài năng lãnh đạo. Họ có thể mắc sai lầm nhưng họ vẫn có một niềm tin chắc chắn vào vai trò của những lãnh đạo trong việc thay đổi xã hội. Ở một thái cực khác, thời Reagan người ta lại nhận thức rằng một chính phủ tốt là một chính phủ tối giản nhất. Mục tiêu là phải làm sao để đơn giản hóa bộ máy làm việc của chính phủ và giảm thiểu vai trò của những người lãnh đạo trong chính phủ với giả thuyết rằng thị trường sẽ vận hành theo đúng cách của mình nếu như chính phủ đứng ngoài cuộc chơi.

Thật may mắn là Đông Á chịu ảnh hưởng nhiều của những giả thuyết chính trị của Kennedy hơn là Reagan. Tất cả những nhà lãnh đạo châu Á đều tin rằng một bộ máy nhà nước và đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đóng vai trò then chốt trong việc lãnh đạo và thay đổi xã hội. Giả thuyết này thực ra là rất nhất quán với truyền thống văn hóa. Tuy nhiên thì những giả thuyết trong thời kỳ của Kennedy đã cung cấp một đòn bẩy tâm lý cho nhận thức này.

Và thực tế thì những gì mà thời đại Kennedy mang lại không chỉ là đòn bẩy tâm lý mà còn là một môi trường thuận lợi. Hãy hình dung xem nếu như các nước Đông Á cố gắng thực hiện những chính sách của những năm 1960 trong bối cảnh năm 1860s thì chắc chắn họ đã gặp phải cản trở rất lớn từ tham vọng thực dân của những cường quốc Châu Âu lăm le mở mang bờ cõi ở khu vực Đông Á.

Trái ngược hoàn toàn, thời đại Kennedy vào những năm 1960 (tất nhiên có rất nhiều lý do để lý giải điều này, trong đó bối cảnh chiến tranh lạnh cũng là một nguyên nhân quan trọng) lại muốn được thấy sự thành công ở Đông Á. Chính quyền Kennedy hiểu rõ những thiệt hại mà chiến tranh thế giới II đã gây ra.

Do đó, họ mong muốn giữ vững cam kết về trật tự thế giới đa cực hình thành năm 1945, trong đó có có những nguyên tắc ủng hộ cho việc hình thành nên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Hiệp định chung về Thuế và Thương mại (GATT)  những định chế mà sau này đã trở thành một sân chơi chung cho tất cả các nền kinh tế tiếp tục phát triển.

Vì vậy mà sẽ là sai lầm nếu chỉ nhắc đến vai trò của Khổng Tử trong câu chuyện thành công của Đông Á.  Đạo Khổng chính là gốc rễ tạo nên các giá trị văn hóa thuận lợi cho sự phát triển. Nhưng không kém phần quan trọng phải kể đến vai trò lãnh đạo về chính trị và kinh tế của Mỹ trong những năm 1960 đã tạo động lực thúc đẩy vai trò của các nhà lãnh đạo Đông Á. Thời gian tại nhiệm của Kennedy thật ngắn ngủi tính đến ngày ông bị ám sát tuy nhiên bằng ấy thời gian ngắn ngủi đó cũng đủ để ông có thể tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng tới một trào lưu mới. Và chính trào lưu đã giúp thổi nguồn năng lượng vào sự phát triển của Đông Á ngày nay.

Tôi viết ra tất cả những điều này dựa trên những cảm nhận mang tính cá nhân. Những năm 1960 cũng là những năm tháng quan trọng nhất và nhiều dấu ấn nhất trong cuộc đời tôi. Lớn lên ở Xinh-ga-po, chúng tôi có thể cảm nhận một cách sâu sắc những biến động về kinh tế và chính trị. Mặc dù vậy chúng tôi cũng có thể thấy rõ những tia hy vọng mới đang mở ra cho cuộc đời mình. Chúng tôi cảm nhận được rằng chúng tôi đang vận động để đi tới một tương lai tốt đẹp hơn.

Và sự lạc quan này đã được kiểm chứng. Giai đoạn hậu chiến tranh thế giới II có lẽ là kỷ nguyên tươi sáng nhất mà các nước Đông Á đã trải qua. Và người Mỹ chính là những người đặt nền móng. Và vì thế, câu chuyện về Đông Á mà tôi kể cho các bạn nghe ngày hôm nay có thể được phác họa như là một cuộc hành trình từ Khổng Tử tới Kennedy.

Và một tin tức thực sự tốt lành đối với Đông Á là hành trình này mới chỉ bắt đầu. Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng có thể cùng tham gia. Nhân tố cốt lõi là vai trò của những nhà lãnh đạo mà thôi. Với những con người lãnh đạo tài năng, tất cả các nước đều có cơ hội tiến bộ và thành công.

 

Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg

———————————-

Chú thích

1: Trích dẫn trong Nishikawa (1993) trang 8 được đăng tải lại trên website của Cơ quan giáo dục quốc tế (International Bureau of Education, Tổ chức giáo dục, kho học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO, Paris) tại địa chỉ http://www.ibe.unesco.org/publications/ThinkersPdf/fukuzawe.pdf. Nguyên văn được lấy từ Fukuzawa (1885) và do Sinh Vinh dịch trên Fukuzawa Yukichi nenkan (Annals) 11, Mita, Tokyo, Fukuzawa Yukichi koykai 1984.

2. Chaebols: là những tập đoàn kinh tế lớn tại Hàn Quốc.

 

Tài liệu tham khảo:

Elegant, Simon, and Michael Elliot. 2005. “Lee Kuan Yew Reflects”. Time Asia 166 (24), on the Web on December 5. http://www.time.com/time/asia/covers/501051212/lky_intvu6.html.

Fukuzawa, Yukichi. 1885. “Datsu-A Ron” [Our Departure from Asia]. Jiji-shimpo, March 16.

Goh Keng Swee. 1995a. “Public Administration and Economic Development in LDCs.” In

Wealth of East Asian Nations: Speeches and Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low,

128-45. Singapore: Federal Publications.

—. 1995b. “The Vietnam War: Round 3.” In Wealth of East Asian Nations: Speeches and

Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low, 313-32. Singapore: Federal Publications.

—. 1995c. The Economics of Modernization. Singapore: Federal Publications.

IMF (International Monetary Fund). 2003. “Interview with Raghuram Rajan: Top Economist

Calls for Rethink of IMF’s Role.” IMF Survey 32 (22): 361-64. http://www.imf.org/external/

pubs/ft/survey/2003/121503.pdf.

Lee Kuan Yew. 1998. The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Singapore: Times

Editions.

—. 2000. From Third World To First: The Singapore Story, 1965-2000. Singapore: Times

Media Private Ltd.

McNamara, Dennis L. 1990. Colonial Origins of Korean Enterprise, 1910-1945. Cambridge:

Cambridge University Press.

Nishikawa, Shunsaku. 1993. “Fukuzawa Yukichi.” Prospects: The Quarterly Review of

Comparative Education XXIII (3/4): 493-506.

Vogel, Ezra F. 1991. The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia.

Cambridge, MA: Harvard University Press.

.

.

.

MÔ HÌNH QUẢN TRỊ ĐÔNG Á : LẶNG LẼ HỌC HỎI (Kishore Mahbubani)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Mô hình quản trị Đông Á: Lặng lẽ học hỏi   (Phần 2)

Kishore Mahbubani 

26/11/2010 04:00 GMT+7

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-24-trang-page

 

Mối quan tâm lớn nhất với họ chính là sự an nguy của quốc gia chứ không phải số phận của bản thân họ. Mong muốn cháy bỏng của họ là làm sao đất nước mình không phải cúi đầu, quỵ lụy

 

Sau thất bại khi xây dựng một mô hình xã hội mang nặng tính quân sự trong nửa đầu thế kỷ 20, Nhật Bản rất nỗ lực duy trì cam kết về một mô hình dân chủ trong giai đoạn nửa sau của thế kỷ. Ngày nay, câu chuyện về sự thần kỳ của nền kinh tế Nhật Bản phần nào đã bị lu mờ bởi sự thành công vượt bậc của người láng giềng Trung Quốc, quốc gia đang duy trì một nền kinh tế chuyển đổi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Hàn Quốc cũng bắt đầu giai đoạn phát triển kinh tế thần tốc dưới sự nắm quyền của Park Chung Hee trong khi Hồng Kông phát triển trong thời gian nằm dưới sự cai trị của thực dân Anh. Bỏ qua những sự khác biệt rất lớn về hệ thống chính trị, đâu là điểm chung trong sự phát triển của Đông Á?

Để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trên đây, có lẽ chúng ta nên bắt đầu từ việc tìm hiểu xem Nhật Bản đã làm thế nào để khơi dậy làn sóng học tập trong những nhà lãnh đạo.

Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở Đông Á thức tỉnh sau nhiều thập kỷ chìm trong giấc ngủ say. Chính những chuyến đi của người phương Tây, đặc biệt là chuyến thám hiểm của đại tá hải quân Perry vào năm 1853 đã khiến Nhật Bản nhận thức được điểm yếu và sự tụt hậu của mình so với thế giới bên ngoài.

Nhìn sang các nước láng giềng, người Nhật thấy rõ sự nhu nhược của Trung Quốc trước phương Tây và họ hiểu rằng họ cũng sẽ chịu chung số phận nếu không tiến hành những cải cách sâu rộng. Một nhóm những nhà cải cách trẻ tuổi đã dũng cảm đứng lên lật đổ chế độ cai trị của Tokugawa Shogunate và khôi phục vai trò hoàng đế cho Minh Trị.

Cuộc cách mạng này đã đánh dấu sự khởi đầu cho quá trình cải cách tại Nhật Bản. Fukuzama Yukichi, một trong những người lãnh đạo nhóm cải cách đã nói: “Việc ngay lập tức chúng ta phải làm là không thể mất thời gian chờ đợi lâu hơn nữa sự trỗi dậy của các nước láng giềng để cùng với họ tạo nên một châu Á phát triển. Tốt hơn hết là chúng ta cần phải tự tìm ra con đường riêng của mình và phải thử vận may từ những nước văn minh phương Tây. Chúng ta cần phải hợp tác với họ chính xác như cách người phương Tây đang làm với chúng ta.”1 Nhật Bản vì thế đã trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Á nhận thức được rằng học tập phương Tây là yếu tố cơ bản để phát triển một cách thành công.

Điều gì đã thôi thúc những nhà cải cách Minh Trị hành động trong bối cảnh cuối thế kỷ 19?

Mối quan tâm lớn nhất với họ trong giai đoạn bấy giờ chính là sự an nguy của quốc gia chứ không phải số phận của bản thân họ. Mong muốn cháy bỏng của họ là làm sao đất nước mình không phải cúi đầu, quỵ lụy trước những người phương Tây. Chính điều đó đã tạo ra động lực để họ tìm đến mọi ngõ ngách trên thế giới để tìm ra chân lý làm nên một quốc gia hùng cường.

Những nhà cải cách đã thể hiện một tinh thần rất thực tế khi đem áp dụng những gì mình đã học hỏi. Thay vì cố gắng tìm ra một hệ thống các công thức hay bài học từ một xã hội, họ rất hứng khởi trong việc kết hợp những thực tiễn thành công từ rất nhiều nguồn.

Iwakura Tomomi, một trong những nhà cải cách Minh Trị, đã có chuyến đi kéo dài hai năm tới 54 vùng lãnh thổ trên khắp thế giới. Những gì họ được mắt thấy tai nghe thực sự làm họ vô cùng kinh ngạc và khiến họ nhận ra được yêu cầu phải thay đổi xã hội một cách toàn diện.

Ví dụ trong lĩnh vực giáo dục, người Nhật đã áp dụng hệ thống giáo dục giống như của Pháp nhưng chương trình giảng dạy lại theo mô hình của người Mỹ. Họ tập trung vào việc phổ cập giáo dục tiểu học và nhân rộng giáo dục bậc trung học cơ sở. Mô hình này cũng cho phép những học sinh tài năng có thể tiếp tục tiến xa hơn.

Người Nhật cũng vận dụng hệ thống tuyển dụng công chức theo kiểu của người Đức thông qua các kỳ thi đầu vào.

Trong lĩnh vực chính trị, Nhật Bản tiến hành những nghiên cứu sâu rộng về hệ thống luật của phương Tây. Các nhà cải cách Minh Trị cũng học hỏi được kỹ thuật làm nông nghiệp của phương Tây để giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.

Goh Keng Swee, một trong những người được coi là “công thần khai quốc” của Singapore cũng đã đánh giá: “Bằng việc học hỏi kỹ thuật của phương Tây, chiêu mộ những chuyên gia phương Tây và tạo ra những giống mới thông qua những thử nghiệm, nền nông nghiệp Nhật Bản đã tạo ra những bước tiến vượt bậc và không ngừng đến mức mà ngay cả ngày nay, khi số lượng nông dân ở Nhật Bản dù là rất nhỏ so với giai đoạn đầu Minh Trị thì sự gia tăng dân số cũng không gây ra áp lực nào cho ngành nông nghiệp hiện đại” (Goh 1995a, 139)

Goh Keng Swee đã nỗ lực không mệt mỏi trong việc tìm hiểu về mô hình cải cách thời Minh Trị. Cùng với Lý Quang Diệu và S. Rajaratnam, Goh Keng Swee được biết đến là một trong những người làm nên sự thành công như ngày nay của Singapore. Và ông luôn nhắc đến những nhà cải cách thời Minh Trị trong rất nhiều những bài viết của mình. Khi ông có bài phát biểu để tưởng nhớ Harry. G Johnson tại Royal Society, London ngày 28/7/1983 với chủ đề “Hành chính công và phát triển kinh tế ở các nước kém phát triển nhất”, ông đã thảo luận rất nhiều bài học từ câu chuyện thành công của Nhật Bản, đặc biệt là những cải cách thời Minh Trị (Goh 1995).

Một điều có thể dễ dàng nhận thấy là Goh Keng Swee đã cố gắng áp dụng những bài học từ những nhà cải cách Minh Trị để phát triển Singapore. Thực tế, sự cống hiến của ông cho sự phát triển của Singapore là không hề nhỏ. Lý Quang Diệu, người sau này trở thành Thủ tướng của đảo quốc sư tử cũng đã kể lại rằng bất cứ lúc nào ông gặp những khó khăn trong việc điều hành đất nước, ông luôn đặt Goh Keng Swee vào vị trí đó.

Lý Quang Diệu đã từng mô tả về Goh Keng Swee như sau: “Trong suốt quá trình làm việc 21 năm cho đến ngày ông ấy nghỉ hưu khi giữ cương vị Phó Thủ tướng vào năm 1984, ông ấy luôn là người bạn tri kỷ của tôi, luôn hoài nghi, luôn đi đến ngọn ngành của mọi vấn đề để tìm ra cái sai của nó và giúp tôi thay đổi nó. Ông ấy là một con người rất uyên bác và một người đấu tranh quả cảm” (Lee 1998, 510).

 

Goh Keng Swee đã từng giữ trọng trách là bộ trưởng tại rất nhiều bộ khác nhau, từ Bộ Quốc phòng cho đến Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục, Ngân hàng Trung ương trong suốt sự nghiệp chính trị của mình. Không mắc một sai lầm nào, ông đã vượt qua hết khó khăn này đến khó khăn khác. Ông cũng đã để lại dấu ấn đậm nét của mình trong mỗi cương vị mà ông đã từng kinh qua. Một cách đáng kinh ngạc là ông có thể xử lý mọi khó khăn dù lớn hay nhỏ.

Vườn chim Jurong, Vườn thú Singapore (cả vườn thú ban ngày và ban đêm), Dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Singapore và Viện Đông Á (trước đây đã từng là viện nghiên cứu đạo Khổng) vẫn tiếp tục phát triển và trưởng thành dựa trên chính những nền tảng mà ông đã dày công xây dựng.

Tôi đã một lần được tháp tùng Goh Keng Swee trong cuộc gặp gỡ của ông với Paul Volcker, người sau này đã giữ chức Chủ tịch Ban Lãnh đạo của Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) vào năm 1985. Trước chuyến thăm, chúng tôi có thảo luận về vai trò của Fed. Tôi có thể thấy rõ ràng là chỉ trong có vài phút ngắn ngủi, Goh đã nắm bắt được về Fed và hệ thống tiền tệ của Mỹ một cách rất sâu sắc.

Trên thực tế, ông đã áp dụng mô hình tương tự của phương Tây ở Singapore, Cơ quan Tiền tệ của Singapore (MAS) một cách rất khôn ngoan và hoàn toàn không phải là bản sao lệ thuộc vào phương Tây. Đó đã trở thành nguyên tắc trong quản lý của Goh: học hỏi từ thực tiễn thành công của tất cả các nước trên thế giới và áp dụng vào điều kiện rất đặc thù của Singapore. Để làm được điều đó, ông đã hành động đúng như những gì mà những nhà cải cách Minh Trị đã từng làm ở Nhật Bản gần 100 năm trước đây.

Nếu như Goh học hỏi và áp dụng từ người Nhật thì bản thân ông cũng là người truyền cảm hứng cho một quốc gia khác, đó là Trung Quốc. Ít ai biết được rằng chính Trung Quốc trong giai đoạn đầu dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình đã nỗ lực rất lớn để học hỏi và áp dụng mô hình thành công của Singapore.

Đặng Tiểu Bình xứng đáng được vinh danh là một những nhà lãnh đạo xuất sắc của mọi thời đại vì những đóng góp to lớn của ông trong việc cải thiện đời sống cho một tỷ người Trung Quốc. Ngay cả những những triết gia người Anh theo trường phái học thuyết thực thế kỷ 19 cũng phải ca ngợi những cống hiến của ông đối với xã hội Trung Quốc. Điều kỳ diệu là ở cách ông thay đổi đất nước đông dân nhất trên thế giới đơn giản như cách người ta xoay mặt một đồng xu và biến Trung Quốc từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu xã hội chủ nghĩa thành một nền kinh tế thị trường tự do.

Ngay cả khi đến ngày nay, những thành công to lớn của Đặng Tiểu Bình đã được công nhận thì cũng không có nhiều người hiểu được những nhận thức về thế giới của ông đã chuyển biến như thế nào trên suốt chặng đường đó.

Suốt từ khi 20 tuổi cho đến khi đã về già ở độ tuổi 75, thời điểm ông bắt đầu cho tiến hành chính sách Bốn hiện đại hóa, ông vẫn luôn là một người cộng sản chân chính. Ông cũng là một chứng nhân lịch sử của Công cuộc đại nhảy vọt thất bại vào những năm 1958-1960 và cả Cuộc Đại cách mạng Văn hóa vào năm 1966-1967. Đã từng có hai lần ông bị Mao Trạch Đông và những người thân cận với Mao thanh trừng ra khỏi Đảng Cộng sản, do đó, hơn ai hết ông ý thức rõ hơn cả những sai lầm của mô hình kinh tế kiểu xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên điều gì đã đưa ông đến việc quyết định chuyển đổi mô hình kinh tế theo những nguyên tắc của thị trường tự do?

Câu chuyện này có lẽ chưa một ai được biết đến. Nhưng nếu chúng ta quay ngược thời gian để tìm hiểu về những thách thức ông phải đối mặt vào thời điểm vừa được phục chức và bắt đầu quay lại làm việc vào tháng 7 năm 1977 có lẽ chúng ta sẽ tìm ra được một phần câu trả lời.

Ngoài việc phải giải quyết những hậu quả nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng xã hội do cuộc Đại Cách mạng văn hóa gây ra, ông cũng phải đối mặt với một cục diện địa chính trị nhiều rối ren chưa từng thấy. Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1978, sau khi kí hiệp định với Moscow ngày 3/11 cùng năm trong đó có điều khoản Moscow sẽ đảm bảo an toàn cho Hà Nội trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công. Đặng Tiểu Bình đã thân chinh đến Washington vào tháng Một năm 1979 để giải thích với Tổng thống Carter việc tại sao Trung Quốc cần phải phản ứng chống lại hành động của Việt Nam. Trong ký ức của Zbigniew Brzinski, cố vấn an ninh quốc gia của Carter, người đã có mặt trong cuộc gặp gỡ năm đó, hình ảnh về Đặng Tiểu Bình vẫn vô cùng sống động. “Đó là hiện thân ấn tượng nhất của quyền lực chính trị mà tôi từng gặp trong suốt 4 năm làm việc tại Nhà Trắng”, ông nói (Goh 1995b, 325).

Chúng ta cũng nên nhớ lại rằng cũng trong chuyến thăm đó, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra một quyết định rất mạnh mẽ để biến xã hội Trung Quốc trở nên thịnh vượng giống như Hoa Kỳ. Đây thực sự là một rủi ro chính trị rất lớn bởi nó đã chứng minh một điều gần như ngược lại với những nhận thức đã ăn sâu vào tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc rằng người dân Mỹ rất nghèo khổ và luôn phải chịu đàn áp. Tuy nhiên ông Đặng đã đánh cược cả sự nghiệp chính trị của mình vào canh bạc đó.

Quyết định mang tính lịch sử đó cũng đã cởi trói cho sức mạnh của Trung Quốc. Điều họ học được từ người Mỹ chính là một cuộc sống tốt đẹp hơn đang chờ đợi nếu như họ chấp nhận chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường tự do.

Cũng không thể trách được bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào nếu họ chỉ chăm chăm vào giải quyết những thách thức nảy sinh từ cục diện địa chính trị trong bối cảnh rất nhiều khó khăn như lúc bấy giờ (đó cũng là những gì mà những nhà Lãnh đạo Xô-viết đã từng làm trong thời điểm đó). Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình đã lựa chọn cho mình một hướng đi khác khi ông đã tập trung gần như tất cả sức lực của mình vào việc cải cách kinh tế trong nước, những gì mà Trung Quốc phải tiến hành.

Đồng thời, ông Đặng đã quyết định đi thăm một số nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Singapore. Những chuyến thăm này đã giúp ông mở mắt để thấy được những phát triển kinh tế thần kỳ đang diễn ra trong khu vực.

Tháng 12 năm 2005 khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Thời đại Châu Á, Lý Quang Diệu đã nhớ lại những phản ứng của ông về chuyến thăm của ông Đặng tới Singapore: “Tôi có thể thấy được rằng chuyến thăm của ông ấy tới Bangkok, Kuala Lumpur và Singapore vào tháng 11 năm 1978 đã thực sự gây sốc cho ông ấy. Cái ông ấy từng hình dung trước đó là hình ảnh về những thành phố thuộc thế giới thứ 3 nhưng những gì ông ấy thấy lại là hình ảnh về những thành phố của thế giới thứ hai phát triển hơn nhiều so với Thượng Hải hay Bắc Kinh. Khi cánh cửa chuyên cơ của ông ấy đã đóng lại, tôi quay sang nói với các đồng nghiệp của mình, những trợ lý của ông ấy giờ này có lẽ đang phải chịu trận vì họ đã đưa cho ông ấy những báo cáo sai lệch.”

 

Trong vài tuần tiếp theo, tờ Nhân dân Hàng ngày đã thay đổi những lời lẽ khi viết về Singapore, Singapore không còn là con chó trung thành chỉ biết chạy theo người Mỹ nữa; đất nước đó giờ đây là một thành phố xinh đẹp, xanh tươi, sạch sẽ và rất nhiều công trình nhà ở xã hội chất lượng cao đã được xây dựng. Họ đã thay đổi luận điệu. Còn ông ấy thì đã chuyển sang chính sách “mở cửa”. Suốt cả một đời là một người cộng sản tận tụy, ở độ tuổi 74, ông ấy đã thuyết phục những người trong Đảng hướng đến mô hình kinh tế thị trường. (Elegant and Elliot 2005, 6)

Sau chuyến thăm tới Singapore, Đặng Tiểu Bình đã làm hết sức để thúc đẩy việc cải cách kinh tế. Để công cuộc cải cách có thể lan tỏa tới một tỷ người dân, ông Đặng luôn phải giữ một quan điểm rất rõ ràng, như ông ấy đã từng mô tả một cách rất đơn giản rằng: “Không quan trọng là mèo trắng hay mèo đen, miễn là nó có thể bắt chuột thì đấy vẫn  là một con mèo tốt.” Ông ấy muốn truyền cho người Trung Quốc quan điểm theo hướng thực tiễn chủ nghĩa chứ không phải cách tiếp cận duy ý chí như trước đây dưới thời Mao Trạch Đông.

Ông ấy cũng muốn đem đến cho người dân Trung Quốc một hình mẫu mà họ có thể tin trưởng. Nhật Bản hay bốn con hổ châu Á (Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan) đều có thể là những hình mẫu đó. Tuy nhiên Nhật Bản và Hàn Quốc nằm ngoài sự lựa chọn bởi những đối đầu về chính trị do ảnh hưởng của thời kỳ chiến tranh lạnh.

Xét từ góc độ văn hóa, cũng không dễ dàng để người Trung Quốc chấp nhận đi theo Hàn Quốc hay Nhật Bản (đến nay vẫn được xem là những vệ tinh của văn hóa Trung Quốc). Hồng Kông hay Đài Loan cũng không thể được tính tới bởi chừng nào những bộ phận lãnh thổ đó còn tách rời khỏi Trung Quốc, chừng đó người Trung Quốc còn coi đó là một nỗi hổ thẹn trong lịch sử của dân tộc mình và Trung Quốc lúc bấy giờ vẫn đang phải từ từ hồi phục sau những thất bại đó. Vì thế mà gần như mặc định, Singapore trở thành hình mẫu mà người Trung Quốc rất coi trọng.

Ông Đặng đã có chuyến đi thị sát quanh một loạt các địa phương trong nước để bảo đảm rằng Trung Quốc có thể học được một hay hai bài học từ những kinh nghiệm phát triển của Singapore. Như Lý Quang Diệu đã kể lại trong cuốn hồi ký của mình, thái độ của Trung Quốc đối với Singapore đã thay đổi đáng kể chỉ ngay sau chuyến thăm của ông Đặng năm 1978.

Ông Lý đã trích dẫn lời của Đặng Tiểu Bình trong bài phát biểu vào tháng 10 năm 1979 (2000, 668-69): “Tôi đến Singapore để học cách làm thế nào họ sử dụng nguồn vốn từ nước ngoài. Singapore đã được hưởng lợi từ việc để người nước ngoài vào xây dựng nhà máy tại nước mình: thứ nhất, những công ty nước ngoài này sẽ trả 35% lợi nhuận ròng của mình vào thuế, tất nhiên là nhà nước thu được khoản tiền này; thứ hai là người lao động có thu nhập; và thứ ba là những khoản đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy các ngành dịch vụ. Tất cả những khoản thu nhập này đều có lợi cho nhà nước“.

Ông Lý còn nói thêm rằng: “Tất cả những gì ông Đặng thấy được ở Singapore đã trở thành một điểm tham khảo cho những gì nhỏ nhất mà người Trung Quốc cần phải đạt được”.

 

Chính phủ Trung Quốc tiếp tục theo đuổi việc học hỏi bằng cách mời Goh Keng Swee làm việc với vai trò như một cố vấn kinh tế cho Ủy ban Nhà nước của Trung Quốc về phát triển vùng ven biển từ năm 1985 đến giữa những năm 1990. Chúng ta sẽ không có cách nào biết được đầy đủ những gì mà Tiến sỹ Goh đã cố vấn cho Chính phủ Trung Quốc. Hầu hết những thông tin này là bí mật.

Nhưng có lẽ TS. Goh cũng đã đề cập với phía Trung Quốc rằng những gì ông học được hoặc là từ những nhà cải cách Minh Trị hoặc là áp dụng hình mẫu phát triển của phương Tây. Ông đã có lần mô tả về kinh nghiệm phát triển của Singapore như thế này: “Nếu như kinh nghiệm của chúng ta có thể được sử dụng làm kim chỉ nam cho chính sách ở các nước đang phát triển thì bài học ở đây là ở chỗ hệ thống kinh doanh tự do, được định hướng đúng đắn và quản lý một cách khéo léo có thể trở thành  một công cụ rất quyền lực và linh hoạt để phát triển kinh tế.” (Goh 1995c). Ông Goh chắc hẳn cũng đã chia sẻ suy nghĩ đó với Chính phủ Trung Quốc.

Câu chuyện về một người đàn ông học hỏi từ những cải cách thời Minh Trị, áp dụng những bài học đó vào Singapore và sau đó chia sẻ kinh nghiệm với Trung Quốc cách thức quản lý Singapore có lẽ chỉ là một minh họa rất nhỏ để thấy rằng giữa những nhà lãnh đạo Đông Á đã có rất nhiều sự trao đổi, học hỏi qua lại trong suốt quá trình họ nỗ lực để thúc đẩy sự phát triển đi lên trong xã hội. Tất nhiên sẽ còn rất nhiều những dẫn chứng hùng hồn khác nhưng sẽ còn phải có thêm thời gian cho những nghiên cứu sâu hơn.

Tuy nhiên một số trong những câu chuyện này có thể sẽ mãi mãi là bí mật. Ví dụ như ai cũng biết rằng sự thành công của nền kinh tế Hàn Quốc là dựa trên sự phát triển từ những gì học được từ mô hình của Nhật Bản. Một cách thông thường thì sẽ không có gì phải bàn nếu như người Hàn Quốc công khai công nhận điều đó.

Tuy nhiên lịch sử chính trị hiện đại của mối quan hệ Hàn Quốc và Nhật Bản là rất phức tạp và khó lường. Giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc từ những năm 1910 đến 1945 vẫn là những trang lịch sử đầy đau buồn và tàn khốc. Người Hàn Quốc thậm chí còn không được phép nói tiếng nói của dân tộc mình trong thời kỳ bị chiếm đóng. Mọi thứ còn trở nên tồi tệ hơn khi mà ngay cả đến ngày nay, Nhật Bản cũng vẫn né tránh đề cập đến những đau đớn mà họ đã gây ra cho Hàn Quốc.

Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Hàn Quốc trong một động thái tương tự luôn tránh phải công nhận những đóng góp tích cực của Nhật Bản cho sự phát triển của mình. Vết thương vẫn chưa được hàn gắn. Sẽ phải mất rất nhiều thời gian để hai bên có thể tìm được tiếng nói chung về khía cạnh tích cực hơn của mối quan hệ đầy phức tạp này.

Tuy nhiên không thể phủ nhận được những mối liên hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản. Bên ngoài người ta vẫn thấy thái độ hằn thù đối với Nhật Bản ở Hàn Quốc là một hiện tượng phổ biến bởi những quá khứ đau buồn về thời kỳ bị Nhật chiếm đóng vẫn ám ảnh người Hàn Quốc. Tuy nhiên, đằng sau sự hằn thù đó vẫn là một thái độ trân trọng các giá trị văn hóa và những thành tựu của Nhật Bản ẩn sâu bên trong.

Nhiều nhà phát triển kinh tế chỉ ra rằng vào năm 1960, GDP bình quân thu nhập đầu người ở Hàn Quốc thậm chí còn thấp hơn cả những nước đang phát triển khác trong khu vực với khoảng 80 USD.

Con số này ở Ghana là 200 USD và Argentina là 2700 USD. Ngày nay, trong khi Hàn Quốc đã đạt đến mức 13900 USD thì Ghana mới chỉ dừng lại ở 380 USD và Argentina là 3700 USD. Liệu người Nhật có đóng góp gì cho sự phát triển này của Hàn Quốc hay không?

Những nhà sử học Hoa Kỳ, những người không bị ảnh hưởng bởi khía cạnh cảm xúc trong quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc, đã nỗ lực tổng kết những bài học mà Hàn Quốc đã học được từ Nhật Bản. Dennis L. McNamara, một nhà nghiên cứu xã hội tại trường Đại học Georgtown tìm hiểu sự khởi đầu của mô hình tư bản ở Hàn Quốc và mô hình những chaebols2 (McNamara 1990) và đã được Ezra Vogel bổ sung như sau:

Sau chiến tranh thế giới II, chỉ có chính phủ Hàn Quốc và Singapore là nghiên cứu rất nghiêm túc về những kinh nghiệm của Nhật Bản một cách chi tiết tuy nhiên những điểm chính về chiến lược phát triển của Nhật Bản đều đã được các con rồng châu Á tìm hiểu. Họ đều hiểu rằng Nhật Bản khởi đầu từ những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và sử dụng thu nhập từ xuất khẩu trong các ngành này để mua mới các trang thiết bị, máy móc, cùng lúc đó Nhật cũng từng bước tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực và phát triển công nghệ trong các lĩnh vực năng suất cao có thể tạo ra thu nhập cao hơn cho người lao động.

Họ cũng thấy được vai trò then chốt của chính phủ trong việc dẫn dắt những thay đổi này. Những gì họ thấy được từ mô hình của Nhật Bản đã cho họ  một niềm tin rằng họ cũng có thể thành công và những gì họ cần phải theo đuổi. (Vogel 1991, 91).

 

Còn tiếp…

Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg

——————————-

Chú thích

1: Trích dẫn trong Nishikawa (1993) trang 8 được đăng tải lại trên website của Cơ quan giáo dục quốc tế (International Bureau of Education, Tổ chức giáo dục, kho học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO, Paris) tại địa chỉ http://www.ibe.unesco.org/publications/ThinkersPdf/fukuzawe.pdf. Nguyên văn được lấy từ Fukuzawa (1885) và do Sinh Vinh dịch trên Fukuzawa Yukichi nenkan (Annals) 11, Mita, Tokyo, Fukuzawa Yukichi koykai 1984.

2. Chaebols: là những tập đoàn kinh tế lớn tại Hàn Quốc.

 

Tài liệu tham khảo:

Elegant, Simon, and Michael Elliot. 2005. “Lee Kuan Yew Reflects”. Time Asia 166 (24), on the Web on December 5. http://www.time.com/time/asia/covers/501051212/lky_intvu6.html.

Fukuzawa, Yukichi. 1885. “Datsu-A Ron” [Our Departure from Asia]. Jiji-shimpo, March 16.

Goh Keng Swee. 1995a. “Public Administration and Economic Development in LDCs.” In

Wealth of East Asian Nations: Speeches and Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low,

128-45. Singapore: Federal Publications.

—. 1995b. “The Vietnam War: Round 3.” In Wealth of East Asian Nations: Speeches and

Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low, 313-32. Singapore: Federal Publications.

—. 1995c. The Economics of Modernization. Singapore: Federal Publications.

IMF (International Monetary Fund). 2003. “Interview with Raghuram Rajan: Top Economist

Calls for Rethink of IMF’s Role.” IMF Survey 32 (22): 361-64. http://www.imf.org/external/

pubs/ft/survey/2003/121503.pdf.

Lee Kuan Yew. 1998. The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Singapore: Times

Editions.

—. 2000. From Third World To First: The Singapore Story, 1965-2000. Singapore: Times

Media Private Ltd.

McNamara, Dennis L. 1990. Colonial Origins of Korean Enterprise, 1910-1945. Cambridge:

Cambridge University Press.

Nishikawa, Shunsaku. 1993. “Fukuzawa Yukichi.” Prospects: The Quarterly Review of

Comparative Education XXIII (3/4): 493-506.

Vogel, Ezra F. 1991. The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia.

Cambridge, MA: Harvard University Press.

.

.

.

TỪ KHỔNG TỬ TỚI KENNEDY : CẮT NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÔNG Á (Kishore Mahbubani)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Từ Khổng Tử tới Kennedy: Cắt nghĩa sự phát triển Đông Á   (Phần 1)

Kishore Mahbubani 

25/11/2010 04:00 GMT+7

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-24-tu-khong-tu-toi-kennedy-cat-nghia-su-phat-trien-dong-a

 

Đông Á lúc bấy giờ bị nhìn nhận như một bài học về sự thất bại trong câu chuyện phát triển. Thật may mắn là chỉ chín năm sau, Đông Á đang từng bước xây dựng được niềm tin và vị thế của mình.

 

Câu chuyện về sự phát triển luôn kích thích trí tò mò. Trong thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ II khi mà sự lạc quan vì vừa thoát ra khỏi chủ nghĩa thực dân đang lên cao, cả thế giới lúc bấy giờ đều chia sẻ một quan  điểm chung rằng tất cả các quốc gia đều có tiềm năng để trở thành những quốc gia phát triển. Sự kết hợp giữa một trật tự kinh tế quốc tế tương đối hài hòa, những chính sách kinh tế mở cửa thị trường tự do đúng đắn và ít lệ thuộc vào sự giúp đỡ từ các nước phát triển là công thức cho bất cứ quốc gia nào mong muốn gia nhập vào hàng  ngũ các nước công nghiệp phát triển.

Nửa thế kỷ trôi qua, sự lạc quan này đã không còn, mà thay vào đó là sự một sự hoài nghi và bi quan vào tương lai. Trong thâm tâm, không ít người đã bắt đầu tin rằng có lẽ chỉ các quốc gia phương Tây mới có thể thành công và tiếp tục phát triển.

Ngày nay, khu vực duy nhất trên thế giới dường như có khả năng thoát khỏi định kiến này là Đông Á. Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á những năm 1997-1998 đã khiến các nền kinh tế Đông Á bị ảnh hưởng trầm trọng do hiệu ứng đô-mi-nô. Không ai dám lên tiếng khẳng định nhưng những tiếng xì xào đã lan ra khắp nơi rằng sự “thần kỳ” của Đông Á giờ đây đã chỉ còn là một ảo ảnh xa xôi.

Cũng giống như các khu vực đang phát triển khác trên thế giới như châu Á, châu Phi hay Mỹ Latinh, Đông Á lúc bấy giờ bị nhìn nhận như một bài học về sự thất bại trong câu chuyện phát triển.

Thật may mắn là chỉ chín năm sau cuộc khủng hoảng đó, Đông Á đang từng bước xây dựng được niềm tin và vị thế của  mình. Đông Á đang cố gắng chứng minh cho thế giới rằng mình đang quay lại đúng quỹ đạo của sự phát triển kinh tế thần tốc. Rất nhiều nước trong khu vực hiện nay đã ra nhập hàng ngũ các nước phát triển cùng với Nhật Bản và điều kỳ diệu là ở chỗ thành tựu này đạt được chỉ trong giai đoạn của một thế hệ trong khi người phương Tây phải trải qua rất nhiều thế hệ mới có thể đạt được.

 

Sự khác biệt mấu chốt: Những nhà lãnh đạo Đông Á

Mọi quan điểm đều nhất trí rằng Đông Á là một khu vực phát triển khá thành công tuy nhiên lại có sự chia rẽ trong các luồng quan điểm là tại sao lại có sự thành công ấy.

Các học giả phương Tây  về chính trị và phát triển kinh tế không thể giải thích được sự trỗi dậy của Đông Á. Vấn đề ở đây nằm ở chỗ không phải dân chủ hay thể chế chính trị là những nhân tố quyết định cho sự phát triển. Sự tham gia vào thị trường kinh tế phát triển tự do là một yếu tố cần, nhưng chưa đủ để làm nên sự thành công của Đông Á. Vai trò của nhà nước trong sự phát triển kinh tế trong khu vực Đông Á có rất nhiều khác biệt. Tất cả những điểm trên đưa chúng ta tới một điều là đã đến lúc phải có một cách nhìn hoàn toàn khác về sự phát triển của Đông Á. Đó là lý do tại sao bài viết này của tôi đến tay quý vị.

Sự khác biệt mấu chốt giữa châu Á và phần còn lại của thế giới chính là nằm ở đặc tính của hàng ngũ những nhà lãnh đạo, những người đang quản lý rất thành công các quốc gia của mình. Về cơ bản, họ là những người làm việc thực sự hiệu quả chứ không lệ thuộc vào người khác. Mặc dù con đường đến với quyền lực có khác nhau, họ gặp nhau ở một điểm là hướng tới sự phát triển quốc gia và xã hội trong thời gian đương nhiệm.

Ngoài hai sự ngoại lệ duy nhất là Hồng Kông (Trung Quốc) và Xinh-ga-po, không quốc gia, vùng lãnh thổ nào trong khu vực tránh khỏi vấn nạn tham nhũng. Mặc dù vậy, mối quan tâm chính của những người lãnh đạo vẫn là tạo ra những sự thay đổi tốt đẹp cho xã hội hơn là chỉ lo giữ đặc quyền, đặc lợi cho mình. Đặc điểm chung này có thể tìm thấy ở rất nhiều nơi trong khu vực từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đến Đài Loan (Trung Quốc) và Xinh-ga-po.

Để hiểu rõ nhất về sự thành công của Đông Á, không có cách tốt hơn là làm phép so sánh về giới lãnh đạo của khu vực này và khu vực Mỹ Latin. Cũng giống như Đông Á, Mỹ Latin khởi đầu thế kỷ 20 và giai đoạn hậu thế chiến thứ II với những kỳ vọng thậm chí còn vượt xa cả Đông Á. Ác-hen-ti-na vào năm 1900 được xếp trong top 10 những quốc gia giàu nhất trên thế giới. Sự có mặt của giới lãnh đạo xuất thân từ châu Âu ở Mỹ Latin là lý do rất tốt để tin rằng những con người này sẽ học hỏi và chuyển giao những kinh nghiệm tốt nhất từ xã hội châu Âu sang Mỹ Latin.

Tuy nhiên đến những năm cuối cùng của thế kỷ 20 khi mà Xinh-ga-po, một quốc đảo nhỏ bé không có tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Á đã nổi lên thành một biểu tượng của sự phát triển thì ở bên kia bán cầu, Haiti cũng là hiện thân của một biểu tượng khác nhưng là một biểu tượng hoàn toàn đối lập. Ngay cả sự bảo trợ của người Mỹ cũng không thể giúp Haiti thoát khỏi tình trạng lún sâu vào nghèo đói và kém phát triển.

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nhà lãnh đạo Đông Á lại có thể làm tốt hơn những người đồng nhiệm của mình ở Mỹ Latin? Câu trả lời đầy đủ nhất cho câu hỏi trên chỉ có thể được tìm thấy khi đi vào tìm hiểu một cách sâu xa tính phức tạp của Đông Á. Và văn hóa là một phần không thể thiếu của câu trả lời.

Kể từ thời Khổng Tử cho đến nay, trách nhiệm đối với xã hội đã trở thành một phần không thể tách rời khi nói đến đạo đức của mỗi con người trong xã hội Đông Á. Tuy nhiên đặc điểm tương tự cũng có thể tìm thấy ở những nước Thiên chúa giáo hay Hồi giáo.

Đặt lợi ích của xã hội lên trước lợi ích của cá nhân không chỉ là tư tưởng duy nhất đối với người Đông Á. Bắt đầu từ thời kỳ Minh Trị tại Nhật Bản, xã hội Đông Á dần dần nhận thức ra một điều, đặc biệt là trong những năm 1960 và 1970 rằng chỉ có bằng việc học hỏi những kinh nghiệm thành công của các nước phương Tây thì mới có thể giúp đất nước mình tiến lên phía trước. Vì thế mà một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy ở các nhà lãnh đạo Đông Á là tư tưởng rất cởi mở với phương Tây.

Hàng ngàn người trong số đó đã từng theo học tại các trường đại học của Mỹ trong những năm 1950, 1960. Hành trang theo họ về nước là một sự tin tưởng hiếm thấy vào câu chuyện  nước Mỹ hậu thế chiến thứ II rằng một xã hội thành công có thể được tạo ra bằng sự can thiệp của chính con  người.

Sự lạc quan vô hạn của thế hệ thời Kennedy cũng có những tác động không nhỏ đến Đông Á. Do đó có thể nói rằng những giá trị đạo đức từ thời Khổng Tử cùng với đó là những tác động từ quan điểm của Kennedy đã tạo ra sự trỗi dậy của Đông Á mặc dù không thể phủ nhận rằng quan điểm của hai nhân vật này có vẻ như ở thái cực hoàn toàn khác nhau.

Đặc điểm nổi bật của các nhà lãnh đạo Đông Á chính là thái độ sẵn sàng học hỏi những gì tốt nhất từ phương Tây và sau đó biến đổi và áp dụng nó cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở quốc gia mình. Về mặt lý thuyết, việc sao chép mô hình của phương Tây có thể làm rấy lên nỗi sợ hãi về việc có thể đánh mất bản sắc văn hóa.

Tuy nhiên trong thực tiễn, các nhà lãnh đạo này đã thành công trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình, học hỏi nhưng không làm mất các giá trị riêng. Do đó có thể nói rằng khả năng học hỏi và tự tin áp dụng những gì học được từ phương Tây là những nhân tố trung tâm của câu chuyện thành công ở Đông Á.

Một khía cạnh thường vẫn chưa được hiểu thấu đáo về sự thành công của Đông Á là sự nổi lên của một số lượng đông đảo các nhà lãnh đạo xuất chúng trong khu vực. Việc duy trì tốc độ phát triển ở một xã hội đã phát triển ổn định có lẽ không đòi hỏi phải nhiều nỗ lực. Đó là lý do tại sao mà những thành viên của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) không bị ảnh hưởng nhiều cho dù đội ngũ lãnh đạo chỉ thường thường bậc trung thậm chí không muốn nói là kém cỏi.

Ở một khía cạnh khác, thực tế chứng minh rằng không một quốc gia, vùng lãnh thổ nào có thể thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói kém phát triển để trở thành phát triển hiện đại mà không cần đến các nhà lãnh đạo kiệt xuất. Sự thần kỳ của Nhật Bản có dấu ấn rõ nét từ những nhà cải cách từ thời Minh Trị. Trung Quốc tự hào có Đặng Tiểu Bình. Người Hàn Quốc luôn nhắc đến Park Chung Hee. Sự phát triển của Đài Loan cũng nhờ phần lớn vào tài lãnh đạo của Chiang Ching-kuo. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng là  những nhà lãnh đạo xuất chúng này luôn có bên cạnh mình những người trợ thủ đắc lực để có thể cùng với họ đưa đất nước đi lên.

Rất tiếc là cho đến nay chưa một nghiên cứu lớn nào tập trung vào so sánh ảnh hưởng của vai trò lãnh đạo đối với sự phát triển của Đông Á.

Hãy xem xét hai câu chuyện phát triển đối lập giữa Hàn Quốc và Phi-líp-pin. Sau chiến tranh thế giới II, Phi-líp-pin khởi đầu một thời kỳ mới với những kỳ vọng còn vượt xa cả Hàn Quốc: thu nhập bình quân đầu  người cao, đội ngũ lãnh đạo được đào tạo tốt, dễ dàng thâm nhập thị trường Mỹ và một cộng đồng kiều bào rất tài năng đang định cư ở khắp nơi trên thế giới.

Tuy nhiên do ảnh hưởng từ thời phong kiến hacienda và yếu kém trong lãnh đạo cả dưới chế độ dân chủ và độc tài đã khiến Phi-líp-pin không thể tận dụng được những lợi thế vượt trội của mình so với Hàn Quốc. Hàng chục thập kỷ chiến tranh và bị xâm lược đã phá hủy đất nước Hàn Quốc. Tuy nhiên Hàn Quốc có một tài sản vô giá là những nhà lãnh đạo xuất chúng và tâm huyết với công cuộc phát triển đất nước chứ không vì lợi ích cá nhân. Câu chuyện phát triển của Hàn Quốc và Phi-líp-pin đã cho thấy một điểm rõ ràng rằng tài năng của những nhà lãnh đạo chính là nhân tố then chốt để đánh giá về số phận và tài sản của quốc gia.

 

Còn tiếp….

Dương Ngọc Quyến biên dịch theo spp.edu.sg

————

 

Chú thích

1: Trích dẫn trong Nishikawa (1993) trang 8 được đăng tải lại trên website của Cơ quan giáo dục quốc tế (International Bureau of Education, Tổ chức giáo dục, kho học và Văn hóa của Liên hợp quốc – UNESCO, Paris) tại địa chỉ http://www.ibe.unesco.org/publications/ThinkersPdf/fukuzawe.pdf. Nguyên văn được lấy từ Fukuzawa (1885) và do Sinh Vinh dịch trên Fukuzawa Yukichi nenkan (Annals) 11, Mita, Tokyo, Fukuzawa Yukichi koykai 1984.

2. Chaebols: là những tập đoàn kinh tế lớn tại Hàn Quốc.

 

Tài liệu tham khảo:

Elegant, Simon, and Michael Elliot. 2005. “Lee Kuan Yew Reflects”. Time Asia 166 (24), on the Web on December 5. http://www.time.com/time/asia/covers/501051212/lky_intvu6.html.

Fukuzawa, Yukichi. 1885. “Datsu-A Ron” [Our Departure from Asia]. Jiji-shimpo, March 16.

Goh Keng Swee. 1995a. “Public Administration and Economic Development in LDCs.” In

Wealth of East Asian Nations: Speeches and Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low,

128-45. Singapore: Federal Publications.

—. 1995b. “The Vietnam War: Round 3.” In Wealth of East Asian Nations: Speeches and

Writings by Goh Keng Swee, ed. Linda Low, 313-32. Singapore: Federal Publications.

—. 1995c. The Economics of Modernization. Singapore: Federal Publications.

IMF (International Monetary Fund). 2003. “Interview with Raghuram Rajan: Top Economist

Calls for Rethink of IMF’s Role.” IMF Survey 32 (22): 361-64. http://www.imf.org/external/

pubs/ft/survey/2003/121503.pdf.

Lee Kuan Yew. 1998. The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Singapore: Times

Editions.

—. 2000. From Third World To First: The Singapore Story, 1965-2000. Singapore: Times

Media Private Ltd.

McNamara, Dennis L. 1990. Colonial Origins of Korean Enterprise, 1910-1945. Cambridge:

Cambridge University Press.

Nishikawa, Shunsaku. 1993. “Fukuzawa Yukichi.” Prospects: The Quarterly Review of

Comparative Education XXIII (3/4): 493-506.

Vogel, Ezra F. 1991. The Four Little Dragons: The Spread of Industrialization in East Asia.

Cambridge, MA: Harvard University Press.

.

.

.