Archive for Tháng Mười Một, 2010

KHI NHỮNG “THIÊN THẦN” BỊ NGƯỢC ĐÃI (Trần Minh Quân)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Khi những ‘thiên thần’ bị ngược đãi

Trần Minh Quân

Tháng Mười Một 27, 2010

http://tranminhquan.wordpress.com/2010/11/27/khi-nh%E1%BB%AFng-thien-th%E1%BA%A7n-b%E1%BB%8B-ng%C6%B0%E1%BB%A3c-dai/

 

Những hình ảnh tắm cho trẻ bằng cách giẫm đạp, nắm tóc, dùng nồi nhôm múc nước tạt vào mặt bé Hồ Thị Thúy Ngân một cách thô bạo được dư luận lên án trong clip được phát tán trên mạng của bà bảo mẫu Trần Thị Phụng (52 tuổi, huyện Thuận An, Bình Dương) thực sự gây sốc cho rất nhiều người.

Hiện tượng đối xử thô bạo đối với trẻ em dường như không thuyên giảm mà còn biến tướng bằng nhiều cách “khôn ngoan” hơn của những bảo mẫu mất hết tính người như bà Phụng vẫn đang diễn ra. Sự việc này thực sự là hồi chuông cảnh báo của lương tri con người đối với cộng đồng và xã hội cần nhìn nhận một cách chính xác và ngăn chặn kịp thời.

 

Chăm sóc trẻ “kiểu mới”!?

Rất nhiều sự việc đau lòng đã xảy ra quanh câu chuyện nuôi dạy trẻ được dư luận phát hiện. Những sự việc này có lẽ chỉ là phần nổi của tảng băng chìm khi mà nhiều nhà trẻ tự phát của những bảo mẫu không có chuyên môn liên tiếp mọc lên và đang hoạt động ở khắp nơi. Các nhà trẻ kiểu này đặc biệt nhiều và có đất sống mãnh liệt, nhất là ở những vùng ven đô, quanh các khu công nghiệp và các khu đô thị.

Hiện tượng các nhà trẻ tự phát đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu. Tuy nhiên sự việc mới thực sự được dư luận quan tâm trong thời gian gần đây.

Năm 2007, sự việc bé Đỗ Ngọc Bảo Trân (18 tháng tuổi) gửi tại lớp Cháo nát, trường Mầm Non tư thục Thiên Thơ, Quận Gò Vấp, TP.HCM đã tử vong suy khi bị cô giáo Lê Thị Lê Vy dùng băng keo dán vào miệng.

Sau khi bé Bảo Trân khóc nhiều vì đòi mẹ, cô giáo Lê Thị Lê Vy đã có một “sáng kiến” chết người nhằm làm cho bé hết khóc bằng cách lấy cuộn băng keo và cắt miếng băng (kích thước 4x15cm) dán vào miệng Trân để cháu… ngưng khóc. Sau khi đặt bé Trân nằm xuống chiếu, đắp một tấm khăn lên ngực cho bé ngủ. Khoảng 5 phút sau, khi cháu Trâm bắt đầu ngạt thở, tím tái Lê Thị Vy mới tá hỏa đưa đi cấp cứu. Do bị ngạt quá lâu nên Trân đã rơi vào tình trạng hôn mê sâu, chết não và sau gần 1 tháng thì bé tử vong.

Gần đây hơn chút, hành động “chăm sóc” trẻ em của bảo mẫu Quảng Thị Kim Hoa (SN 1967, ở phường Quyết Thắng, Biên Hòa, Đồng Nai) cũng đã làm cho dư luận hết sức phẩn nộ với phương thức “độc đáo” của mình. Khi cho các bé ăn, đi kèm với mỗi miếng cơm là một hoặc hai cái tác như trời giáng được Kim Hoa “khuyến mãi” kèm theo vào miệng các em. Độc ác hơn, có trường hợp bà Hoa nắm tóc một bé gái giật ngược ra phía sau rồi liên tiếp tát hàng chục cái vào mặt, dùng tô cơm đập vào cằm và miệng cháu bé để ép cháu ăn cơm, đồng thời kèm theo đó là liên tục những lời mắng chửi.

Gần đây là sự việc bé Lê Quang Vinh bị cô giáo trường tư thực Hoa Lan (Tân Phú, TP HCM) bỏ vào thang máy gây thương tích nặng nề với mục đích chỉ để … “dọa cháu ăn”.

Các phương pháp “chăm sóc” trẻ được dư luận phát hiện và lên án nêu trên đây lại liên tiếp xảy ra với các phương pháp vô cùng mới mẽ và dưới nhiều hình thức đa dạng. Có thể nói đây là phương pháp nuôi dạy trẻ “kiểu mới” cần được kịp thời lên án và ngăn chặn.

 

Vai trò và trách nhiệm của xã hội

Với sức hút lao động và nhu cầu tìm kiếm công ăn việc làm, người dân nhập cư từ các tỉnh thành khác có xu hướng đổ xô về các khu đô thị và những nơi tập trung những khu công nghiệp. Đối tượng này thường có thu nhập thấp nên đang phải đối mặt với những thiếu thốn về vật chất lẫn sự chăm sóc về y tế, giáo dục.

Ngoài ra sự quá tải ở các trường công lập và những rào cản về hộ khẩu luôn luôn là gánh nặng đối với họ. Khi đó sự chấp nhận phải gửi con vào các cơ sở nuôi dạy trẻ tự phát đã, đang và sẽ xảy ra như một quy luật tất yếu “có cung thì có cầu”.

Phải chăng xã hội chỉ đang rất cần nguồn lao động từ nhiều đại phương trên phương diện mua sức lao động mà không cần có những chính sách quan tâm tạo điều kiện cho họ thực sự an tâm sinh hoạt.

Xét một cách công bằng thì công nhân nhập cư, những người có thu nhập thấp là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất và con cái của họ cũng vậy, các đứa trẻ bị ngược đãi rồi sẽ lớn lên như thế nào trong khi tuổi thơ các em đang bị “giam cầm” và đối xử một cách tồi tệ đến vậy?

Khi để những sự việc đáng tiếc như trên xảy ra, ngoài việc xử phạt một số người bảo mẫu không có lương tri thì cần xem xét lại vai trò của xã hội đối với sự việc này một cách công bằng.

Một điều đáng chú ý là tất cả sự việc trên đây đều do các cơ quan truyền thông hoặc người dân sống lân cận phát hiện, trong khi những người quản lý nhà trẻ và chính quyền gần đó thì lại không hề hay biết.

Cũng giống như những sự việc trước đó được phát hiện. Trước khi sự việc bé Hồ Thị Thúy Ngân bị đối xử thô bạo được phát hiện, những người có trách nhiệm tại địa phương hầu như không hề hay biết.

Mới đây, sự việc bốn em nhỏ phải trốn chạy khỏi nhà mở Đồng Nai cũng nói lên thực trạng này. Khi được dư luận phát hiện và lên tiếng các em nhỏ mới thực sự được sống trong vòng tay yêu thương của mọi người. Tại sao trong lúc các em rất cần tình thương khi đang ở trong những “ngục tù” này lại không được phát hiện và sẻ chia?

Đây thực sự là một vấn đề cần được làm rõ trách nhiệm của những cơ quan chuyên môn trong cong tác kiễm tra, thanh tra và chính quyền đại phương tại những nơi đã diễn ra những sự việc đau lòng trên.

 

Chuyện con mèo ở Anh và sự nghiêm minh của pháp luật

Rồi đây những bảo mẫu mất nhân tính kia sẽ được đưa ra vành móng ngựa. Tuy vậy nhiều người vẫn chưa thực sự bị thuyết phục bởi những án phạt quá nhẹ, không đủ tính răn đe cho những hành vi thô bạo này.

Bản án 12 tháng tù giam cho Quảng Thị Kim Hoa và 3 năm tù cho cô bảo mẫu Lê Thị Lê Vy chưa qua trường lớp đào tạo nghiệp vụ nào được đánh giá là quá “nhân đạo”. Những hành động trên đây không chỉ tạo ra những thương tật trên thân thể bé bỏng của các em mà còn là niềm tin, là lương tri, đạo đức của người “thầy giáo”.

 

Nhân đây cũng nên nhắc lại câu chuyện về con mèo ở nước Anh bị ngược đãi.

Bà Mary Bale hồi tháng 08/2010 đã bị “bắt quả tang” ném con mèo Lola 4 tuổi vào thùng rác, đóng nắp thùng lại và thản nhiên bỏ đi. Hành động của bà này đã bị các camera an ninh ghi lại. Hành động của bà Mary Bale  đã bị Tổ chức bảo vệ động vật hoàng gia (RSPCA) của Anh đã buộc tội bà Bale, một nhân viên ngân hàng 45 tuổi, phạm 2 tội danh hành động độc ác với động vật. Với hành động này bà Bale đã phải ra toà tại Coventry, miền trung nước Anh với các cáo buộc gây tổn thương vô cớ cho một con mèo và không cung cấp môi trường thích hợp cho động vật. Cả hai tội danh trên, theo Luật quyền lợi động vật, đều có thể bị phạt tù và bị cấm nuôi giữ động vật suốt đời.

 

Nhắc lại câu chuyện trên đây để thấy rằng, khi không còn hy vọng nhận được tình thương của một người nào đó thì các chế tài về xử phạt cần được thể hiện.

Khi so sánh chuyện đối xử với con mèo ở Anh và chuyện bạo hành trẻ em ở Việt Nam đã thực sự làm cho chúng ta nhiều suy ngẫm.

Trẻ em là tương lai của đất nước, là tương lai của giống nòi. Nhất là trong thời đại phát triển, trẻ em ngày nay còn cần được quan tâm chăm sóc nhiều hơn. Tuy vậy những sự việc trên vẫn liên tiếp xảy ra như đang thách thức dư luận.

.

.

.

TÌM HIểU CÁC MÔ HÌNH MốC GIớI ĐƯợC CắM TRÊN ĐƯờNG BIÊN GIớI VIệT TRUNG

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Tìm hiểu các mô hình mốc giới được cắm trên đường biên giới Việt Trung theo các công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 

Trương Nhân Tuấn

Sat, 11/27/2010 – 12:56

http://www.x-cafevn.org/node/1365

 

Những ngày vừa qua, trên một số trang blog và báo chí, có đăng tải một số hình ảnh và phụ chú theo đó phía Trung Quốc đang có phong trào đào lấy các cột mốc biên giới cắm theo công ước Pháp Thanh 1887 để đưa vào viện bảo tàng. Đây là một việc làm khuất tất vì các cột mốc này là các di vật lịch sử, thuộc chủ quyền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc (ngoại trừ một số mốc kép cắm dọc theo sông Ka Long ở vùng giáp ranh Móng Cái). Phía Trung Quốc không thể đơn phương tự tiện lấy các mốc này làm của riêng.

Tuy nhiên, không thể loại trừ trường hợp Hiệp ước phân định biên giới mà hai bên Việt-Trung ký năm 1999 đã làm thay đổi đường biên giới lịch sử, khiến những cột mốc này nằm sâu vào trong lãnh thổ Trung Quốc. Nếu các mốc này đã nằm sâu trong lãnh thổ của TQ thì họ có thể có quyền làm các việc này.

 

Dư luận từ lâu nay cho rằng nhà nước CSVN “nhượng đất, nhượng biển” cho Trung Quốc. Việc nhổ mốc đã xảy ra từ tháng 5 năm 2010 mà bộ Ngoại Giao VN không lên tiếng phản đối. Rõ ràng hành vi của phía Trung Quốc khẳng định việc đồn đãi của dư luận. Việc nhổ đi các mốc giới lịch sử còn mang ý nghĩa xóa bỏ vết tích lịch sử, từ nay không còn ai có thể kiểm chứng được hai đường biên giới 1887 và 1999 trên thực địa.
Phải chăng phía Việt Nam đồng lõa với phong trào nhổ cột mốc lịch sử của Trung Quốc?

 

Trong bài viết nhỏ này người viết mô tả sơ lược về hình thể và nội dung của các cột một được cắm theo công ước 1887. Từ đó, mọi người có thể quan sát các tấm hình các mốc bị đào lên (được đăng trên BBC hay blog Phạm Viết Đào), để có thể đoán cột mốc ấy ở đâu, vùng nào, từ đó suy luận đường biên giới ở các nơi đó phía VN có bị thiệt hại hay không.

 

Đường biên giới giữa hai nước Việt-Trung đã được phân định rõ rệt theo hai công ước:

 

1/ Công ước phân định biên giới giữa Trung Hoa và Bắc Kỳ (Convention relative à la délimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin) do ông Constans ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887

2/ Công ước bổ túc do ông Gérard cũng ký tại Bắc Kinh ngày 20 tháng 6 năm 1995.

 

Người Pháp thay mặt triều đình nhà Nguyễn ký kết với nhà Thanh (Trung Hoa) các kết ước này chiếu theo tinh thần điều 1 của Hiệp ước bảo hộ (Traité Protectorat): “L’Annam reconnaît et accepte le Protectorat de la France. La France représentera l’Annam dans toutes ses relations extérieures. Nước An Nam nhìn nhận và chấp nhận sự bảo hộ của nước Pháp. Nước Pháp sẽ đại diện cho An Nam trong mọi liên hệ với các nước khác”.

 

Theo “Convention sur le Droit des Traité de Vienne – Công ước về Luật của các kết ước ký tại Vienne (thủ-đô Áo-Quốc) ngày 29 tháng 5 năm 1969 – (Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties): một nước có thể ngưng thi hành một kết ước đã ký cũng như có thể hủy bỏ toàn bộ nội dung các kết ước nầy do tính bất bình đẳng của nó (trường hợp các kết ước ký dưới thời một nước bị bảo hộ). Tuy nhiên, Ðiều 11 của Công ước Vienne có nội dung:

“Boundary regimes: A succession of States does not as such affect: (a) a boundary established by a treaty; or (b) obligations and rights established by a treaty and relating to the regime of a boundary.”

“Thể lệ về biên giới: Một sự kế tục của Quốc Gia không đặt lại vấn đề về: a) biên giới xác định do một hiệp ước và b) nghĩa vụ và quyền lợi xác định do một hiệp ước có liên hệ với một thể lệ về biên giới.”

Ðiều nầy cho thấy, trên quan điểm công pháp quốc tế, các kết ước về biên giới Việt-Trung ký giữa Pháp và nhà Thanh năm 1887 và 1895 vẫn còn giá trị pháp lý, nếu hai bên Việt-Trung không có các kết ước khác thay thế. Mặt khác, ngoài một số địa phương đã bị Pháp nhượng cho Trung Hoa để được quyền lợi về kinh tế, đường biên giới này thể hiện thực tế lịch sử giữa hai nước Việt-Trung từ nhiều ngàn năm qua.

 

Nhà nước CSVN đã ký lại Hiệp ước phân định biên giới trên đất liền với Trung Quốc vào tháng 12 năm 1999 vì nhiều lý do: “Do lời văn công ước 1887 mô tả đơn giản, không rõ ràng, do nội dung không phù hợp với thực địa, bản đồ tỷ lệ nhỏ, nhiều địa danh, khu vực không thể hiện… nhiều khu vực chưa được phân giới cắm mốc hoặc cắm mốc quá thưa. Ngoài ra, qua hơn trăm năm, hệ thống mốc cũng bị hư hại, xê dịch, phá hủy do chiến tranh và thời gian…”

 

Những lý do này đưa ra thì phù hợp với thực tế. Nhưng việc có cần phân định lại biên giới hay không và phân định trên căn bản nào thì còn nhiều điều cần bàn luận (nhưng không phải là chủ đề viết ở bài này).

Việc phân định lại biên giới năm 1999 làm vô hiệu hóa hiệu lực các kết ước lịch sử 1887 và 1895 về biên giới.

 

Nhưng theo điều I của hiệp ước 1999: “Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt – Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước.”

 

Các công ước lịch sử liên quan đến biên giới hai nước chỉ gồm có hai công ước 1887 và 1895. Theo nội dung điều I, đường biên giới 1999 như thế sẽ trùng hợp với đường biên giới 1887 ở những đoạn (hay điểm) mà nó thể hiện rõ ràng. Dĩ nhiên ngoại trừ những đoạn (hay điểm), mặc dầu thể hiện rõ ràng trên thực địa, nhưng đã được dời đổi theo các “thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán” giữa hai bên Việt-Trung.

 

Các mốc giới được cắm theo các công ước Pháp-Thanh có nhiều mô hình khác nhau. Tùy theo (a) vùng biên giới, (b) thời kỳ cắm mốc, hay (c) đoạn biên giới mà hình thức các mốc giới hoàn toàn khác nhau.

 

(a) Vùng biên giới:

Có ba vùng biên giới: vùng tiếp giáp các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam. Ở thời kỳ phân định và cắm mốc 1885-1897, vùng tự trị Choang tỉnh Quảng Tây chưa thành lập. Phủ Khâm Châu thuộc tỉnh Quảng Đông.

– Vùng biên giới thuộc tỉnh Quảng Đông: bắt đầu từ biển (Trúc Sơn-Trà Cổ) cho đến Bắc Cương Ải.

– Vùng biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây: từ Bắc Cương Ải cho đến “Nham Động Hà Ca” là giao điểm hai vùng biên giới Quảng Tây và Vân Nam.

– Vùng biên giới thuộc tỉnh Vân Nam: từ Nham Động Hà Ca cho đến sông Cữu Long. Theo tinh thần của công ước Gérard 1895 thì Lào thuộc về Việt Nam.

 

(b) Thời kỳ phân giới: Có hai thời kỳ:1/ phân định và 2/ phân giới và cắm mốc:

– Thời kỳ phân định: Bắt đầu buổi họp phân định biên giới lần đầu tiên tại Đồng Đăng ngày 12 tháng 1 năm 1886 và chấm dứt ở ngày ký công ước 26-6-1887.

– Thời kỳ phân giới và cắm mốc: chia làm 5 thời kỳ. 1/ thời kỳ do ông Chiniac de Labastide (1889-1890) làm chủ tịch ủy ban Pháp, phân định vùng biên giới Quảng Đông. 2/ Thời kỳ do ông Frandin (1890-1891) làm chủ tịch, phân định vùng Quảng Tây. 3/ Thời kỳ do ông Servière (1892-1893) tiếp tục công trình của Frandin. 4/ Thời kỳ do Galliéni (1893-1894) làm chủ tịch, kết thúc phân giới, cắm mốc và công nhận công trình của các ủy ban trước (vùng Lưỡng Quảng). 5/ Thời kỳ do Pennequin (1895-1897) làm chủ tịch, phân giới, cắm mốc vùng Vân Nam và kết thúc công trình phân giới toàn bộ, qua việc trao đổi giác thư (nghị định thư) công nhận đường biên giới ngày 2 tháng 10 năm 1897.

Các cột mốc cắm ở các thời kỳ 1, 2 đều là cột mốc tạm vì lý do các viên chức phụ trách (De Labastide, Frandin…) thì không có thẩm quyền. Các kết quả cắm mốc phải đưa về Bắc Kinh để Tổng Lý Nha Môn (tương đương bộ ngoại giao) và Đặc sứ toàn quyền Pháp phê duyệt. Các công trình của ông Frandin sau này được công nhận bởi ông Galliéni, do đó các biên bản mô tả vị trí các cột mốc do ê-kíp Frandin phụ trách thì có giá trị và hiệu lực pháp lý. Các thời kỳ sau (thời Galliéni và Pennequin), người phụ trách có toàn quyền quyết định mà không cần phải đưa về Bắc Kinh nữa.

 

(c) Các đoạn biên giới:

 

– Vùng biên giới tỉnh Quảng Ðông chia làm hai đoạn. Đoạn 1 từ biển cho đến hợp lưu sông Ka Long, đoạn này trung tuyến dòng sông là đường biên giới. Gồm có 20 cột mốc, mỗi bên có 10 cột mốc (mốc kép) được cắm dọc theo hai bờ sông, được đánh số từ 1 đến 10, theo thứ tự từ đông sang tây, do ủy ban Chiniac de Labastide thực hiện năm 1890.

Đoạn 2 từ có 23 cột mốc được cắm, theo thứ tự từ đông sang tây.

Mô hình cột mốc vùng Quảng Đông, cắm bên phía bờ Việt Nam:

Trên mốc có ghi chú: Frontière Sino-Annamite, 1890, Đại Nam (chữ Hán)

http://farm6.static.flickr.com/5008/5209297361_5f40909dcf.jpg

 

Cột mốc cắm phía bờ Trung Quốc:

Trên mốc ghi: Hàng giữa ghi: Đại Thanh Quốc Khâm Châu Giới. Hàng phải: Quang Tự Thập Lục Niên Nhị Nguyệt Lập (làm năm Quang Tự thứ 16, tháng hai). Hàng trái: Tri Châu Sự Lý Thọ Đổng Thư (do tri châu Lý Thọ Đổng viết).

http://farm5.static.flickr.com/4145/5209896496_c32ccd9413.jpg

 

– Vùng biên giới tỉnh Quảng Tây được chia làm hai đoạn. Ðoạn 1 từ Bình Nhi, trên sông Kì Cùng, cho đến biên giới Quảng Ðông có 67 cột mốc, cắm từ Tây sang Ðông. Ðoạn thứ 2 từ Bình Nhi đến biên giới Vân Nam có 140 cột mốc, cắm từ Ðông sang Tây.

Sơ đồ mô hình mốc giới vùng Quảng Tây do ủy ban Frandin thực hiện:

 

Ký tên trên sơ đồ mốc giới là đại úy Didelot ngày 30 tháng 3 năm 1891 tại Bình Nhi.

http://farm5.static.flickr.com/4085/5023962512_f513df90f9.jpg

 

Nội dung mốc được ghi theo hình sau:

 

Trên mốc có ghi: hàng trên chữ Pháp Frontière Sino-Annamite (Biên giới Trung-Việt). Hàng dưới chữ hán: An Nam Quốc Biên Giới. Năm 1891.

http://farm3.static.flickr.com/2277/2195862912_5b35134de8.jpg

 

Hình dưới đây là mô hình một loại cột mốc khác cắm trên vùng Quảng Tây.

http://farm3.static.flickr.com/2188/2195863246_f748ae3cbe.jpg

 

Hình này chụp từ cuốn “Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si” của Commandant Famin. Trên mốc có ghi: Trung Quốc Quảng Tây Giới.

 

– Vùng biên giới tỉnh Vân Nam: Trên vùng biên giới Vân Nam thì được phân chia ra làm năm đoạn .

Vùng hữu ngạn sông Hồng, là đoạn thứ 5, được phân định lại theo công ước Gérard năm 1895. Theo công ước nầy, phần thượng Lào thuộc về Việt Nam. Từ Sông Hồng đến sông Ðà (Rivière Noire) thì không cắm mốc. Từ sông Ðà đến biên giới Lào có 4 cột mốc được cắm theo thứ tự từ Ðông sang Tây. Cột thứ 1 ở mệng núi Phúc Ngỏa, cột thứ 2 ở miệng núi Chỉ Sưởng, cột thứ 3 giáp Mường Sa và Mường Bun, cột thứ 4 ở cửa trại Sông Mặc Ô. Vùng nầy đã được ông Auguste Pavie, trong lúc nhận công tác nghiên cứu vùng thượng Lào để chuẩn bị cho một Quốc Gia trái độn (Etat tampon), thì đã vẽ họa đồ. Vùng tả ngạn sông Hồng thì được chia làm bốn tiểu đoạn. Ðoạn thứ nhứt, từ hợp lưu của sông Hồng với sông Lũng Pô qua sông Nậm Thi, biên-giới là dòng sông thì không cắm mốc. Ðoạn 1 đến sông Kosso (Qua Sách) thì có 21 cột mốc. Ðoạn hai từ sông Qua Sách đến Cao Mã Bạch có 19 cột mốc được cắm. Ðoạn 3 và 4 từ Cao Mã Bạch đến biên giới Quảng Tây gồm có 24 cột mốc được cắm. Như thế tổng cộng gồm có: Từ sông Hồng đến biển có 314 cột mốc. Từ sông Hồng đến biên giới Lào có 4 cột mốc. Tức là có 318 cột mốc tất cả.

Mô hình cột mốc vùng Vân Nam:
Trên mốc có ghi: Hàng trên số mốc, hàng kế Chine-Annam, hai hàng (viết dọc) ở dưới bằng chữ Hán, hàng phải: Đại Pháp Quốc Việt Nam; hàng trái Đại Thanh Quốc Vân Nam.

http://farm6.static.flickr.com/5205/5209297055_c2a588fae0.jpg
Các cột mốc được làm bằng xi măng, vôi, gạch, đá… tùy theo có sẵn ở địa phương. Ngoài ra còn có một số mốc thiên nhiên làm bằng những tảng đá lớn, trên đỉnh núi hay đèo.

 

Kết luận:

Quan sát các cột mốc đăng trên BBC: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/pictures/2010/11/101125_china_border_mar

 

Hình thứ nhất mốc có đề chữ Hán: Đại Nam. Theo ghi chú trên BBC thì mốc này ở Đông Hưng (Quảng Tây). Thực ra mốc này là mốc kép, cắm dọc theo sông Ka Long, phía bờ Việt Nam, thuộc đoạn biên giới Quảng Đông (nay thuộc Quảng Tây) giáp ranh với Đông Hưng. Phía Trung Quốc cho người đào như thế cho thấy vùng đất này thuộc về họ, mặc dầu theo công ước 1887 là trên đất Việt Nam (nếu cột mốc còn ở đúng vị trí cũ).

Hình thứ 4, chụp cột mốc số 17. Theo nội dung và hình dáng thì cột mốc thuộc vùng biên giới Vân Nam như không biết đoạn nào vì có đến 3 cột mốc cùng mang số 17 sau đây:

Ðoạn thứ 1: Từ hợp lưu sông Long Bác (Lũng Pô) (龍賻) với sông Hồng (紅河) đến sông Qua Sách (戈索河)

Cột số 17: ở giữa đèo, trên đường từ Nhai Đầu (崖頭) đến Ðường Tử Biên (塘子邊).

Ðoạn biên-giới thứ 2: Từ Qua Sách Hà (戈 索 河 ) đến Cao Mã Bạch (膏 馬 白 ) thuộc Bắc Kỳ và Tân Nhai (新 崖) thuộc Vân Nam.

Cột số 17: đường từ Thạch Duẫn (石筍) đến Tie-Tchang.

Các đoạn biên giới thứ 3 và thứ 4: Từ Tân Nham 新 岩 (Trung Hoa) và Cao Mã Bạch 高 馬 白 (Việt Nam) đến biên giới Quảng-Tây廣 西.

Cột số 17: trên đèo, trên con đường nối Long Qua Ca 龍 戈 卡 (Trung-Hoa) với Long Cô 龍 姑 (Việt Nam).

Trong nhất thời ta không thể xác định cột mốc trong hình thuộc về đoạn biên giới nào, nhưng điều chắc chắn là mốc này, theo công ước 1887, thì nằm trên biên giới và thuộc chủ quyền của hai nước.

Hình thứ 5: mốc có ghi Đại Thanh Quốc Khâm Châu Giới. Mốc này là mốc kép, cắm dọc theo sông Ka Long, cắm ở phía bờ Trung Quốc.

 

Trương Nhân Tuấn

 

Tài liệu tham khảo: Tập tài liệu “Biên Giới Việt-Trung 1885-2000 Lịch sử thành hình và những tranh chấp” NXB Dũng Châu, in năm 2005, của Nhân-Tuấn Ngô Quốc Dũng.

———————-
1. Như các vùng tổng Tụ Long (Hà Giang, diện tích 700km², có nhiều mỏ kim loại quí), Đèo Lương (hay Luông) (Cao Bằng, diện tích khoảng 300km²), các xã thuộc hai tổng Kiến Duyên và Bát Trang (thuộc Hải Ninh), vùng mũi Bạch Long (phía bắc Móng Cái…)
2. “Việt-Trung và Đường biên giới pháp lý, công bằng và hữu nghị”, nguồn
http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/01/821775/, tác giả TS Nguyễn Hồng Thao.

 

—————————

Trung Quốc bảo tồn cột mốc biên giới

BBC

Cập nhật: 14:05 GMT – thứ năm, 25 tháng 11, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/pictures/2010/11/101125_china_border_markers.shtml

Trung Quốc cho đào cột mốc theo Hiệp Ước Pháp – Thanh  (1887-1895) đem về bảo tàng. Trong hình là cột mang dòng chữ “Đại Nam Quốc Giới” tại Đông Hưng, Quảng Tây.

Hình :  http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/11/25/101125111723_bordermarkers1.jpg

Tin này được các báo và trang mạng Trung Quốc đăng tải như trang chinareviewnews.com hôm 13-8-2010.

Hình :  http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/11/25/101125111726_bordermarkers2.jpg

Được biết một số cột ở cả Quảng Tây và Vân Nam đều được đem về bảo tồn

Hình :

http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/11/25/101125111729_bordermarkers3.jpg

Cột mốc thuộc tỉnh Vân Nam còn ghi hai bên là “Trung Hoa” – “Vân Nam”

Hình :

http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/11/25/101125142742_bordermarkers5.jpg

Trên cột này còn dòng chữ “Đại Thanh Quốc, Khâm Châu Giới” .

Hình : http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2010/11/25/101125111731_bordermarkers4.jpg

Hình do Ban Tiếng Trung cung cấp từ nguồn Tân Hoa Xã 

 

—————————-

Tin liên quan :

 

Chiến dịch thủ tiêu các cột mốc biên giới VIỆT – TRUNG

Thongtinberlin.de  –  thứ hai 22.11.2010

http://thongtinberlin.de/thoisuquocte/nov/chiendichthutieucaccotmocbiengioiviettrung.htm

TRUNG QUỐC MỞ CHIẾN DỊCH THỦ TIÊU NHỮNG CỘT MỐC BIÊN GIỚI CŨ VIỆT – TRUNG 

Phạm Viết Đào  –  24-11-2010

http://phamvietdaonv.blogspot.com/2010/11/chien-dich-cua-trung-quoc-thu-tieu-cac.html

.

.

.

ÚC CHÂU VẬN ĐỘNG CHO TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM Ở VIỆT NAM

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Úc Châu: CĐNVTD vận động cho tù nhân lương tâm với Tiểu Ban Ngoại Giao của Quốc Hội

Bản Tin CĐNVTD Liên Bang 27/11/2010 

Thứ bảy, 27 Tháng 11 2010 00:26

http://www.vietvungvinh.org/index.php?option=com_content&view=article&id=1822:uc-chau-cdnvtd-van-dong-cho-tu-nhan-luong-tam-voi-tieu-ban-ngoai-giao-cua-quoc-hoi&catid=46:chinh-tri-xa-hi&Itemid=82

 

Ngày 24/11/2010 tại Canberra, 10 DB và TNS thuộc Tiểu Ban Ngoại Giao của Quốc Hội đã lắng nghe và đặt nhiều câu hỏi về 2 đề nghị của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu (CĐNVTD) nhằm tăng áp lực để bảo vệ cảc nạn nhân của nhà cầm quyền CSVN.

 

Đề nghị thứ nhất là các viên chức chính quyền Úc hãy gặp gỡ gia đình của nhiều tù nhân lương tâm, tại nhà hoặc mời họ viếng thăm toà Đại Sứ. Nếu vận động thành công thì những cuộc gặp gỡ này sẽ vừa khiến những người tranh đấu cảm thấy không bị bỏ quên, vừa sẽ là áp lực thường xuyên lên nhà cầm quyền.

 

Đề nghị thứ nhì là hãy xét lại chương trình viện trợ mang tên “Viện Trợ Nhân Quyền”, trị giá 1,2 triệu trong năm nay, để bám sát vào đề tài tù nhân lương tâm thay vì các đề tài nhân quyền khác, hầu tạo áp lực sao cho nhà cầm quyền không rảnh tay để bắt bớ.

 

Đối với cộng đồng Việt, 2 điều trên rất có lý. Nhưng hơn 10 năm nay, các đảng cầm quyền đã bác bỏ, vì họ và Bộ Ngoại Giao Úc muốn có thái độ mềm mỏng. Nay, Quốc Hội có số ghế ngang ngửa, vì vậy cộng đồng có cơ may vượt qua các trở lực này nếu làm việc tận lực.

 

Tiểu Ban Ngoại Giao (TB NG) sẽ chưa có quyết định, buổi họp này mới chỉ là cơ hội để CĐNVTD giúp các vị dân cử có mặt biết đến và bắt đầu suy nghĩ về 2 đề nghị trên. Cộng đồng còn phải thuyết phục thêm hàng chục DB & TNS khác thì mới đạt được mục tiêu.

 

Sắp tới, khi đến lúc, CĐNVTD sẽ mời gọi đồng hương lên tiếng với Dân Biểu của mình, nhất là tại Queensland nơi Ngoại Trưởng Kevin Rudd cư ngụ.

 

CĐNVTD được mời do DB Michael Danby, Chủ Tịch của TB NG. Ông là một vị DB có uy tín, nhiều năm nay đã tranh đấu cho nhân quyền. Ông thuộc đảng Lao Động, ghế của ông là Melbourne Ports, nơi số cử tri gốc Việt chỉ khoảng 0,2%.

 

Có mặt, (trái qua phải trong HÌNH) là DB Danby, DB Joanna Gash (thành viên của TB NG, cũng là Phó Chủ Tịch của Ủy Ban JSCFADT. UB này có 4 Tiểu Ban, trong đó TB NG là 1), DB Laurie Ferguson (thành viên của TB NG, cũng là Chủ Tịch của TB Nhân Quyền), TNS Russel Trood (Phó CT TB NG), DB Julie Bishop (Ngoại Trưởng Đối Lập), DB Philip Ruddock, DB Melissa Parke, TNS Mark Furner, DB Ken O’Dowd, và DB Sharman Stone. 

HÌNH : http://www.vietvungvinh.org/images/stories/201001/ThoiSu/VN_270.jpg

 

Phái đoàn CĐNVTD gồm ông Đoàn Việt Trung, thay mặt cho ông Nguyễn Thế Phong, Chủ Tịch Liên Bang, không nghỉ việc để lên Canberra được, và ông Lê Công, Chủ Tịch CĐNVTD / ACT kiêm Phó Chủ Tịch LB.

.

.

.

GIA ĐÌNH “NGƯỜI RỪNG” (phóng sự)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Gia đình “người rừng”

Thái Sinh

(26/11/2010 09:36)

http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/1/24/24/62945/Default.aspx

 

Ở một góc rừng xa xôi cuối trời Tây Bắc kia vẫn có những con người bị bỏ rơi, bị ném ra ngoài xã hội, đẩy họ về thời nguyên thuỷ.  Ấy vậy mà trên diễn đàn Quốc hội người ta đang sôi nổi bàn tới chuyện xây dựng đường tàu cao tốc, khai thác bô xít Tây Nguyên, người ta đùn đẩy trách nhiệm về con tàu Vinashin đang dần chìm xuống biển Đông. Trong khi đó, nơi đại ngàn Tây Bắc người dân vẫn sống trong sự khốn khó và ai biết rằng sau những dãy núi xanh mờ cây thuốc phiện vẫn mọc lên?…

 

————————

 

Cách nay một năm, tôi được nghe kể ở xã Làng Nhì (Trạm Tấu, Yên Bái) có một gia đình “người rừng”. Giữa thời đại văn minh này làm sao có câu chuyện hoang đường đó? Đã mấy bận tôi định lên Làng Nhì, khi thì nghe sạt lở núi tắc đường, lúc lại bận việc. Bởi thế, mãi đến hôm nay tôi mới lên được.

 

>> Nơi tận cùng gian khó

 

Chủ của gia đình “người rừng” tên là Trang A Đế, người Mông ở bản Chống Tầu, năm nay khoảng 46 tuổi. Bí thư xã Làng Nhì Mùa Sáy Tông cho biết: Do thiểu năng trí tuệ nên A Đế không đi học. Lớn lên Đế lấy vợ, không hiểu vì sao hai người bỏ nhau. Trong bản Chống Tầu có một người phụ nữ câm điếc tên là Hờ Thị Mỷ, A Đế nhập nhằng với cô ta, một lần anh trai của Mỷ bắt gặp hai người quan hệ với nhau, bèn họp anh em họ hàng lại buộc Đế phải lấy Mỷ…

Gia đình nhà Hờ Thị Mỷ có một chiếc lán canh nương ở Hang Á, cách bản Chống Tầu hơn hai giờ đi bộ. Do xấu hổ với việc làm trái với phong tục cưới hỏi của người Mông hay vì sự kỳ thị của dân bản hoặc mặc cảm việc mình làm mà Trang A Đế và Hờ Thị Mỷ rủ nhau lên lán canh nương giữa đồi núi hoang vu để ở? Họ sống tách biệt với dân bản, sinh con đẻ cái ở đó, không dịch vụ y tế, không đăng ký hộ khẩu. Tất cả những quyền tối thiểu của con người mà xã hội và chế độ dành cho, họ đều từ chối.

 

Ngôi nhà mới của gia đình “người rừng” Trang A Đế

http://222.255.28.57:2020/Upload/Image/2010/11/25/25112010144501.JPG

 

Năm tháng qua đi, kể từ ngày vợ chồng hai con người khốn khổ ấy dắt nhau lên lán ở tám năm hay mười năm, người ta cũng chỉ đoán mang máng như thế. Cứ vài năm vợ chồng ấy lại cho ra đời một đứa trẻ. Ba đứa trẻ sinh ra trong cái lán canh nương chật trội, bẩn thỉu giữa một đống chăn chiếu nhầu nát, chả khác gì một mớ giẻ rách.

Mảnh nương của vợ chồng Trang A Đế sau vài năm bị rửa trôi bạc màu, gieo lúa lúa không lên, tra ngô ngô không mọc. Đế ngày ngày vào trong rừng chặt cây, hay đẽo những cành và gốc cây pơ mu mà lâm tặc khai thác bỏ lại mang bán, kiếm mỗi ngày vài ba chục ngàn lấy tiền đong gạo, mua dầu, muối…nuôi vợ con. Buổi sáng, Đế dậy vác rìu vào rừng từ khi tờ mờ đất, tối mịt mới trở về “nhà”.

Còn Hờ Thị Mỷ sáng dậy dắt lũ con vào rừng kiếm rau măng, đào củ rừng, gõ trứng kiến… kiếm được gì thì ăn cái nấy, chả khác gì cuộc sống của con người thuở hồng hoang. Bí thư Mùa Sáy Tông bảo: Trang A Đế là người lười lao động, mặc dù bố mẹ vợ có chia cho con gái một ít ruộng nương, nhưng Đế không cho vợ làm, anh ta cũng chẳng làm, chỉ thích lên rừng kiếm cái ăn ngay thôi…

Vì không biết nói, Mỷ chỉ biết ra hiệu, vợ chồng cũng chỉ ra hiệu với nhau nên những đứa con của họ không ai dạy nói, chúng cũng chỉ biết ra hiệu. Thực ra, thì chúng cũng đã bập bẹ biết nói tiếng người, đó là thời kỳ đầu khi hai vợ chồng đưa nhau lên lán ở, quanh đó có một vài lán làm nương của bà con dân bản, họ qua lại lán của vợ chồng Đế, nhờ đó mà lũ trẻ biết nói vài ba câu.

 

Trang A Vổng lủi thủi một mình ở nhà

http://222.255.28.57:2020/Upload/Image/2010/11/25/25112010144502.JPG

 

Do các đám nương mỗi năm bạc màu, người ta bỏ không làm nữa nên chẳng mấy người qua lại lán của vợ chồng Đế. Không tiếp xúc thường xuyên với mọi người trong cộng đồng, nên những câu nói mà lũ trẻ học được cũng quên dần.

Cuộc sống của gia đình “người rừng” ấy sẽ chẳng ai biết đến, nếu Trạm Tấu không tổ chức triệt phá cây thuốc phiện niên vụ 2008-2009. Trưởng ban Dân vận huyện Trạm Tấu Giàng A Lử, người dẫn đầu đội quân triệt phá cây thuốc phiện ở xã Làng Nhì khi đi qua lán của gia đình Trang A Đế, anh ngạc nhiên thấy một gia đình như thế, khi về anh báo cáo lại những gì mà anh đã nhìn thấy với lãnh đạo huyện. Ngay lập tức huyện Trạm Tấu chỉ thị cho xã Làng Nhì tổ chức đưa gia đình Tráng A Đế trở về hoà nhập với cộng đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã Trang A Xay đèo tôi bằng xe máy lên nhà Trang A Đế. Nhà A Đế nằm ở đầu bản Nhì trên, cách trụ sở UBND xã chừng 2 cây số, nhưng phải vượt qua mấy cái dốc mặt ngựa. Nhà của A Đế được làm bằng nguồn vốn theo Quyết định 167 của Chính phủ, ban đầu nhà dựng gần với ba hộ dân đầu bản. Nhưng vì những hộ đó không muốn ở gần vợ chồng Đế, ngược lại vợ chồng Đế cũng không muốn ở gần ai, bởi họ đã quen sống biệt lập nên xã lại phải di chuyển nhà của A Đế cách xa ba hộ dân kia.

 Theo tay Trang A Xay chỉ, thì ba hộ hàng xóm của A Đế khuất sau cánh rừng trước mặt, có lẽ cách ngôi nhà gia đình A Đế khoảng một tầm hú? Ngôi nhà của A Đế thấp lè tè nằm lọt thỏm giữa bốn bề cây rừng, cỏ mọc rườm rà khắp các lối đi, vắng lặng như thể nhà hoang. Trang A Xay cho hay, khi chuyển gia đình A Đế từ lán trên nương xuống được vài tháng thì vợ A Đế mất, chị mất khi chửa đứa thứ tư.

Gia đình A Đế được chính quyền đón về tái hoà nhập với cộng đồng, nhưng không một mảnh nương, không một thước ruộng cuộc sống của cả nhà vẫn trông vào đôi bàn tay A Đế vào rừng đẽo gỗ. Thành ra cuộc sống của họ chẳng khác gì những năm tháng sống trên rừng. A Đế cho thằng con lớn năm nay chừng 10 tuổi cho một gia đình anh em ở xã Pá Lau nuôi, khi vợ chết họ hàng vận động A Đế cho đứa con gái út Trang Thị Ca năm nay chừng 6 tuổi cho gia đình người anh em tên là Trang Pla Dơ nuôi hộ. Bây giờ Đế chỉ nuôi thằng Trang A Vổng, năm nay chừng 8 tuổi.

 

Trang A Xay ngồi nói chuyện và ra hiệu với thằng bé

http://222.255.28.57:2020/Upload/Image/2010/11/25/25112010144503.jpg

 

Khi chúng tôi tới, cửa nhà A Đế đóng im ỉm, Trang A Xay vạch tấm ván cửa ngó vào phía trong bảo: Thằng này đi rừng từ sớm, chắc tối mới về. Chỉ một mình thằng Vổng ở nhà, anh có vào không? Tôi lách qua chiếc cửa hẹp vừa bằng chiều ngang tấm ván bước vào nhà. Vách nhà thưng bằng những tấm ván hở hông hốc, vì nhà quá thấp, mặc dù lúc này đang là giữa trưa nhưng trong nhà chỉ nhìn thấy mờ mờ, phải một lúc sau mắt tôi mới quen.

Bếp nấu ăn đặt ở giữa nhà, dường như lửa đã tàn từ đêm qua, bên phải là một đống chăn nhàu nhĩ cùng những chiếc quần áo, đen bẩn vứt lung tung chồng lên nhau chả khác gì búi giẻ rách. Thằng Vổng cựa quậy trong đống chăn, nó từ từ nhô cái đầu tóc bù xù ra, chả khác gì lông con gấu, đen nhánh bết vào nhau bởi mồ hôi và khói bếp. Hai mắt mở to nhìn tôi sợ hãi, mũi và hai bên má ngoa nghếch lở loét đỏ lòm.

Trang A Xay ngồi xuống bên đống chăn, giọng anh nhẹ nhàng: Vổng à, cán bộ đến thăm Vổng đấy…Rồi anh khẽ lật tấm chăn lên, thằng bé vội co tấm chăn lại. Thì ra cu cậu không mặc quần áo, chẳng biết thằng bé có quần áo hay không, nó co rúm lại quấn chặt tấm chăn vào người. A Xay cho tôi biết, sau hai năm đưa gia đình A Đế về đây, mấy đứa trẻ đã biết nói tiếng người, thằng Vổng ở với bố không tiếp xúc với trẻ con hàng xóm, nó thui thủi ở trong nhà chơi với mấy cái ống bơ thịt hộp mà bố nó nhặt ở trên rừng về, còn bố nó thì suốt ngày vắng nhà, nên thằng bé nói chưa được nhiều. Anh hỏi, nó chỉ ừ và gật.

Trên đường trở về, Trang A Xay cho tôi hay: Mấy người anh em muốn đón thằng Vổng về nuôi, cho đi học, nhưng Trang A Đế không nghe. Có một cái gì đó cay cay trong khoé mắt tôi. Tôi tự hỏi: Với cuộc sống mà thằng bé đang sống, thì không hiểu tương lai của nó rồi đây sẽ ra sao?

 

Tôi mở vung lần lượt 8 chiếc nồi đặt quanh bếp lửa, tất cả trong đó đều chẳng có gì, mấy chiếc bát đen đúa chồng đống lên nhau, duy nhất một chiếc bát có một nhúm muối. Bố thằng Vổng lên rừng từ lúc mờ đất, chắc từ sáng đến giờ thằng bé chưa ăn một thứ gì vào bụng. Tôi nhìn khắp nhà, không thấy một bao gạo, một bắp ngô hay một củ sắn, nồi xoong thì nhẵn thín, chắc nó đợi đến tối bố nó mới mang thức ăn về cho.

Nhìn mấy người lạ vào nhà, thằng Vổng kéo chăn trùm kín đầu, tôi gọi: Vổng à, cán bộ cho tiền để mua gạo ăn này… A Xay dịch lại lời tôi bằng tiếng Mông, thằng bé khẽ nhô đầu ra, tôi đưa cho nó tờ 100 ngàn đồng. Nhìn thấy tờ giấy bạc xanh xanh có nhiều hoa văn, thằng Vổng vội lật chăn ra nó cầm đồng tiền như một thứ đồ chơi lần đầu tiên nó thấy. Nó ngắm nghía, đưa đồng tiền lên soi, rồi dán vào mắt nhìn qua kẽ vách …Nó chẳng biết đó là tiền. Với nó, đó chỉ là một thứ đồ chơi.

 A Xay vừa nói vừa khum lòng bàn tay như cầm bát cơm bàn tay kia cầm đũa vừa nói vừa ra hiệu, rằng đây là tiền, tối bố về đưa cho bố để mua gạo. Thằng Vổng gật gật, rồi nó tìm chiếc túi khâu bằng khăn len cất vào rồi lại mở ra…(Hết)

.

.

.

BÁO SGGP LẠI CHƠI TRÒ BẨN

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Báo SGGP lại chơi trò bẩn 

Minh Đạt (danlambao)

Posted on 27/11/2010 by danlambaoblog

http://danlambao.wordpress.com/2010/11/27/bao-sggp-l%e1%ba%a1i-ch%c6%a1i-tro-b%e1%ba%a9n/

 

Minh Đạt (danlambao)Sau 5 bài liên tiếp từ ngày 22 đến 27 tháng 9 năm 2010 , Báo SGGP đăng loat bài: ”Bộ mt tht ca mc sư tự phong Nguyễn Hng Quang”. Dân Làm Báo đã có 2 bài viết làm rõ sự thật những bịa đặt của báo SGGP do phóng viên Đường Loan thực hiện. Sau khi bị lật tẩy thì ngày 11 đến  14 tháng 11 năm 2010 báo SGGP lại chơi tiếp trò bẩn. Lọat 4 bài tiếp theo của SGGP lần thứ nhì cũng là màn hạ cấp, nhưng lần này không dám để tên phóng viên nào chỉ ghi là ” NHÓM PVCT”. Sự thật là gì sau ”phát súng ân huệ” hèn hạ này?.

 

Dồn người ta đến bước đường cùng

Sau nhiều lần bị tù tội, bắt bớ, đánh đập, vu khống nhục mạ thì lần này nhà cầm quyền lại cướp nhà. Kế họach đền bù giải tỏa theo kiểu ăn cướp bị mục sư Quang phản ứng cùng nhân dân Quận 2 đã khiến nhà cầm quyền khó chịu và tờ ”báo cách mạng của đảng cọng sản ở Sài Gòn” lãnh ấn tiên phong tấn công nhục mạ mục sư Nguyễn Hồng Quang. Để che mờ cái tội ác cướp hơn 2000 met vuông đất đền bù với giá mà chưa mua nỗi 20 mét vuông ngay chính mảnh đất mà gia đình mục sư Quang đang sinh sống thì báo SGGP đã vu khống nhục mạ mục sư Quang không biết bao nhiêu bịa đặt: mục sư tự phong, hiếp dâm trẻ em, tham gia đảng phái chống chính quyền, lợi dụng các tù nhân chính trị… Mục sư Nguyễn Hồng Quang đang đứng trước nguy cơ mất nhà và đang đối mặt lệnh bắt khẩn cấp mới.

Cũng như trong hàng trăm lần bắt bớ trước đây sau khi báo SGGP hay các tờ công an đăng bài nhục mạ thì mục sư Nguyễn Hồng Quang lại bị bắt vào tù. Cái tàn nhẫn của nhà cầm quyền là đánh người ta với mục tiêu làm thân bại danh liệt nhưng vẫn lu loa là khoan hồng, nhân đạo. Trong các bản phúc trình gởi cho các cơ quan truyền thông hải ngoại và cả báo SGGP đề nghị đính chính và xin lỗi thì mục sư Nguyễn Hồng Quang đã chứng minh ngược lại những vu khống của Đường Loan Ma Nữ”. Thay vì xuất trình các chứng cứ để bảo vệ cho những bài viết của ma nữ vu khống thì báo SGGP lại tiếp tục mạ lỵ vô căn cứ. Nào là: ”đi ngược sư thật”, ”đòi hỏi vô lý”, ”hùng hồn nhưng trật lất”, ”kêu oan bằng cách dựng chuyện”, ”tiếp tục luận điệu vu cáo” và rõ ràng nhất là Báo SGGP giả danh một người Tin Lành đề nghị : ”bắt ngay Ông Quang”.

Trong loạt 4 bài sau báo SGGP đã thất bại khi mục sư Nguyễn Hồng Quang đòi cải chính những nội dung:

Mục sư Nguyễn Hồng Quang tự phong mục sư.

Vu khống mục sư Nguyễn Hồng Quang lấy trẻ em vị thành niên có thai.

Chụp mũ mục sư Nguyễn Hồng Quang tham gia đảng VT.

Lợi dụng các tù nhân chính trị.

Chiếm đát bất hợp pháp.

Khủng bố tấn công bằng lựu đạn thường dân.

Xúi giục các sinh viên người dân tộc chống nhà cầm quyền.

 

Ngược lại những vu khống mạ lỵ của nhà cầm quyền thì mục sư Nguyễn Hồng Quang chứng minh là ông làm mục sư có công nhận trong và ngoài nước, ”lấy cháu vị thành niên” là một công an khu vực, ông không tham gia bất cứ đảng phái chịnh trị nào… Lẽ ra mục sư Quang không cần phải đi chứng minh mình vô tội. Nhiệm vụ này là của tờ báo ngậm máu phun người SGGP phải đi chứng minh. Chứng minh không xong, và khi các cơ quan truyền thông hải ngoại can thiệp thì báo SGGP lại dựng chuyện vu khống tiếp.

 

Màn hai vụng v

Loạt 4 bài phóng sự của màn hai lấy những cái tựa rất là kêu ”Đi ngược lại sự thật”. ” Biện Minh thiếu cơ sở”, ”Tiếp tục luận điệu chống đối” và ”Ông Quang đã mắc phải trọng tội”

Ai đi ngược lại sư thật? báo SGGP nói MS Nguyễn Hồng Quang là mục sư tự phong, cũng chính báo SGGP nói mục sư Nguyễn Hồng Quang lấy trẻ vị thành niên… Mục sư Quang có bằng cấp trong và ngoài nước. Đất ông ở là mua bán hợp pháp, nuôi nấng các tù nhân cô thân cô thế mà có tội à? Rồi lấy trẻ vị thành niên. Bằng cớ đâu? Sự thật đâu? Đúng là có bụng ta suy ra bụng người. Cũng nhờ cái bài ”đi ngược lại sự thật” người ta mới biết là những kẻ nhân danh ”chính quyền” cướp 2 miếng đất của gia đình mục sư Nguyễn Hồng Quang mà đền bù với giá mua chưa được 1 cái nền nhà, lại bị ép mua chung cư. Mà đền bù xong thì người ta không đủ tiền mua nhà. Cũng nhờ cái bài ”sự thật” mà người dân Sài Gòn mới biết thêm về trang web: www.doithoaiomline.org  , biết thêm về đài Chân Trời Mới, về đài  Á Châu Tự Do  và những trang web khác. Sự thật bị bóc trần khi báo SGGP nói là nhân dân ủng hộ kế hoạch giải tỏa tuyệt đối nhưng cũng chính báo này cho biết hiện có hơn 13 người chưa chấp nhận. Vậy là gậy ông đập lưng ông.

 

Ai thiếu cơ sở? Đủ cơ sở sao không chứng minh là mục sư Nguyễn Hồng Quang phạm các tội y như vu khống của Đường Loan viết mà viết lung tung.  Nào là ”hùng hồn nhưng trật lất”  chuyện Việt nam có tự do Tôn Giáo không thì khỏi nói ai cũng biết đâu cần kêu gào chúng tôi có tự do tín ngưỡng, có cả cái Ban Tôn Giáo Chính Phủ. Chết là chỗ này. Các nước khác họ đâu có ban Tôn Giáo, hay công an tôn giáo mà mình có tự do sao nhiều ban, nhiều công an thế? Rồi thì SGGP lu loa ”Kêu oan bằng cách dựng chuyện”. Ai dựng chuyện vu không người ta? 7 cái điều anh chụp mũ vu khống đó bằng cớ đâu? Đưa ra đi chứ sao vòng vo này nọ. Những nhân chứng của báo SGGP đưa ra trong các lọat bài trước và sau thì bất nhất. Có người là cán bộ thì là nhân chứng thì sao khách quan đây. Dĩ nhiên các ”nhân chứng viết tắt tên họ ”thường mới là bịa đặt thiếu cơ sở. Công an đi làm chứng cho công an thì ”đủ cơ sở ” sao?

 

Bài 3 với tựa “tiếp tục luận điệu vu cáo “ Bài này dẫn nguồn tin trên Radio Chân Trời Mới các trả lời phỏng vấn của mục sư Nguyễn Hồng Quang hòng cố tình chụp mũ ông là VT. Trả lời phỏng vấn một cơ quan truyền thông là tham gia đảng phải chống nhà nước sao?. Sự thật thì ai vu cáo ai? Báo SGGP với giấy trắng mực đen kết tội người ta trước khi có bản án của Tòa án nhưng bằng cớ đâu? Mục sư Nguyễn Hồng Quang lấy trẻ vị thành niên có thai đâu thì bằng cớ đâu? Kích động nhân dân chống chủ trương và chính sách của đảng và nhà nước ở chỗ nào? Giải tỏa đền bù theo kiểu ăn cướp nhân dân Quận 2 đi biểu tình từ Sài Gòn ra Hà Nội thì nguyên nhân là do đâu? Mục sư Quang lúc đó đi tù chưa về sao kích động ai. Chỗ này y hệt anh Điếu Cày gần 3 năm qua tù biệt xứ mà bị bắt thêm vì tõi: “tuyên truyền chống nhà nước và chế độ”. Đây mới là cái màn chụp mũ và vu khống lấp liếm.

 

Bài 4 với tựa “Ông Quang đã mắc phải trọng tội”. Bài này công an giả danh một người tên “Thiên Ân” kết tội và yêu cầu công an bắt ngay mục sư Nguyễn Hồng Quang. Chết là chỗ này đây: Người Tin lành không kết tội ai bao giờ. Người Tin lành không muốn nhờ thế quyền can thiệp chuyện nội bộ. Và người ký tên “ Thiên Ân” có chú thích ở dưới là “một tôi tớ của Đức Giê Su”. Cái kết này mới tố cáo sự giả danh của báo SGGP. Một đầy tớ Chúa đúng nghĩa không bao giờ viết như vậy, cụm từ đó mang văn phong của công an hơn là của người có Đạo Tin lành. Trong giới Tin lành cầm bút không có ai tên này. Những từ ngữ kích động hay nhục mạ là những lời lẽ không bao giờ có trong suy nghĩ của người Tin Lành. Chủ yếu là nội dung và hành văn của bài 4 này là giọng điệu chụp mũ và kết tội nó giống trong các bài báo của báo công an hơn là một tín hữu Tin Lành. Đây mới là chuyện giả đạo tạo cớ cho công an bắt giam mục sư Nguyễn Hồng Quang hơn là tiếng nói của tín hữu nào. Hơn nữa ngày nay tên tuổi của mục sư Nguyễn Hồng Quang vượt khỏi khuôn khổ một Giáo Hội và đất nước này rồi.

 

Chấm dt ngay trò bẩn

Một cơ quan truyền thông ít nhiều có chút tự trọng của mình. Tại sao sau khi Đường Loan nhục mạ mục sư Nguyễn Hồng Quang bây giờ lại thập thò tên khác là NHÓM PVCT? Rõ ràng là mờ ám mới không dám ghi tên thật của mình chắc sợ bị chửi như “Ma nữ Đường Loan”. Muốn bắt hay cướp nhà của mục sư Nguyễn Hồng Quang thì cứ xông vào mà hành sự đâu có ai chống đối đâu? Như bắt Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ thì bắt đại vì điều 88 Bộ Luật Hình Sự đi còn bày đặt chuyện đồi trụy làm gì bị vạch mặt thêm nhục nhã. Sự thật vẫn là sự thật. Những kẻ bồi bút bán mình cho cọng sản chắc sẽ đền tội quả báo ngay chứ không cần kiếp sau, đời nữa đâu. Nhân danh nhà cầm quyền là cơ quan ngôn luận của đảng cọng sản mà đen tối và hèn hạ thế thì ai mà không khinh bỉ?

 

Chắc chắn ngày nay Việt nam có bang giao và đi ra nhiều nước, hãy làm sao để đi nước ngòai cũng ngửa mặt mà nói chuyện với người ta chứ? Đâu có trốn trong nhà mãi được đâu!

Những bài viết như 2 đợt vừa rồi của báo SGGP sẽ làm cho phóng viên của chính tờ lá cải này đi đâu cũng bị người ta dán cho nhãn hiệu BỊP BỢM và XẢO TRÁ.

 

Minh Đạt

Sài Gòn 26 tháng 11, 2010 – viết cho Dân Làm Báo

Danlambao.com

.

.

.

“CÒ” TRONG THAM NHŨNG ĐẤT ĐAI

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Đào Tuấn

Đăng ngày: 07:39 27-11-2010

http://vn.360plus.yahoo.com/tuanddk/article?mid=4967

 

62% hộ phải chi, cao nhất là 80 triệu đồng, để được giải quyết nhanh hồ sơ đất. 30,7% thừa nhận “phải bồi dưỡng” cho cán bộ. 33% doanh nghiệp nói phải có “quà lót tay” hoặc “chi phí không chính thức”. Nhưng quan trọng nhất là hai con số: 24,4% cán bộ địa chính thừa nhận có nhận môi giới, từ một số việc cho tới “dịch vụ trọn gói”. 12% cán bộ thừa nhận “bắt tay” với trung gian và 25% trung gian cho biết có “hợp tác với cán bộ”.

 

Có lẽ chưa có ở lĩnh vực nào, những chỉ số tham nhũng được nói tới rõ như trong lĩnh vực đất đai. Câu chuyện tham nhũng có nghiêm trọng hay không? Có đến mức độ “khâu nào cũng có thể tham nhũng”, “Ở đâu cũng có tham nhũng” hay không? Có lẽ tự những con số trên đã nói lên tất cả. Nhưng điều đáng quan tâm hơn cả là khía cạnh công khai của những khoản tiền “chi phí không chính thức”…. 24%  cán bộ nhận tiền làm dịch vụ, cho chính công việc mà họ đã được trả lương để có nghĩa vụ phục vụ nhân dân dường như đã xác nhận nhận định của đại diện Uỷ ban Pháp luật QH, ông Nguyễn Mạnh Quyền, rằng “Công chức nhận tiền dễ dàng, nhận nhiều thấy quen, không có thì thấy  thiếu”. Bởi khi đã dám công khai thừa nhận thì có nghĩa họ cho đó là việc bình thường, là lệ phí cần phải có. Tình trạng 12% cán bộ nhận “bắt tay” với trung gian thậm chí còn cho thấy đã có sự móc nối rất rõ ràng. Và vì vậy, có thể tin rằng đất đai là lĩnh vực gặp nhân dân gặp phải sự nhũng nhiễu nhiều nhất mà con số 85% người dân mất chi phí rất cao khi làm thủ tục lien quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất- vẫn chưa phải là tất cả

 

Những khảo sát của Thanh tra Chính phủ cho thấy 84% số hộ chuyển nhượng nói hồ sơ của mình được cho là “có trục trặc”. Để giải quyết, người chấp nhận gợi ý thì trực tiếp gặp cán bộ xin làm dịch vụ. 46% người khác đi qua cửa trung gian. Tiền nào cũng phạm luật, chỉ khác một đằng là đưa tiền trực tiếp, một đằng đưa gián tiếp. Nếu không chấp nhận “làm luật”, người dân sẽ gặp phải sự nhũng nhiễu kéo dài. Một kỷ lục thời gian về việc hộ sơ gặp trục trặc, bị lưu giữ đã được nêu ra: 3000 ngày. Chính sự nhũng nhiễu của cán bộ đã tạo ra tầng lớp trung gian mà dân chúng vấn gọi là cò. TS Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng bộ Tài nguyên và môi trường dẫn khảo sát 600 ý kiến của cả người dân, các doanh nghiệp, và cán bộ để chỉ ra rằng tham nhũng trong đất đai liên quan mật thiết đến “cò đất”. “Cò đất” sinh ra từ chính sự nhũng nhiễu, từ tham nhũng và nó tác động ngược trở lại, khiến cho trục trặc liên tục phát sinh, nhũng nhiễu trở thành căn bệnh cố hữu và tình trạng tham nhũng thêm nặng nề. Không phải vô nguyên cớ mà người dân đã tổng kết rằng ở đâu có tham nhũng, ở đó có cò. Không phải ngẫu nhiên và các vụ khiếu tố liên quan đến đất đai, với bình quân 10 vạn vụ mỗi năm, luôn chiếm trên 80% số lượng về đơn thư.

 

Cò đất ở đâu? Chúng ở bất cứ nơi đâu có cán bộ, có nhân dân và có hồ sơ lien quan đến đất. Và chỉ cần dẹp được nạn cò, chí ít nạn nhũng nhiễu, hành hạ ngừời dân sẽ giảm đi đáng kể. Những cam kết chính trị của Chính phủ về chống tham nhũng sẽ có ý nghĩa gì nếu không kèm với hành động mạnh mẽ?

 

————————-

 

Tham nhũng ở trung ương ít hơn địa phương?   (sgtt.vn)

 

Tham nhũng đất đai dẫn đến bất ổn xã hội   (RFA)

 

Đất đai tại Việt Nam, đụng đâu cũng có tham nhũng  (nguoi-viet.com)

 

Nạn tham nhũng trong lĩnh vực đất đai đã trở nên phổ biến ở Việt Nam   (RFI)

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20101125-nan-tham-nhung-trong-linh-vuc-dat-dai-da-tro-nen-pho-bien-o-viet-nam

 

Hệ thống quản lý đất đai ở Việt Nam là mồi ngon cho tệ nạn tham nhũng   (DPA) 

http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=8019

 

Nhận dạng tham nhũng trong quản lý đất  –   Đặng Hùng Võ 

(tuanvietnam.vietnamnet.vn)

.

.

.

HỆ THỒNG CHÍNH TRỊ NGA PHẢI LẮNG NGHE Ý KIẾN CỦA MỖI NGƯỜI DÂN

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Hệ thống chính trị Nga phải lắng nghe ý kiến của mỗi người dân 

Tổng Thống Dmitri Medvedev

26.11.2010, 14:16

http://vietnamese.ruvr.ru/2010/11/26/35687403.html

 

Nền dân chủ Nga chưa hoàn thiện, nhưng nó đang trên đường phát triển. Đó là tuyên bố của tổng thống Dmitri Medvedev trên videoblog  cá nhân của ông, như là cuộc “diễn tập” trước Thông điệp liên bang mà cuối tháng này ông sẽ đưa ra trước quốc hội.

 

Tổng thống Dmitri Medvedev dành nhiều chú ý cho sự phát triển hệ thống chính trị của Nga. Theo ông, hệ thống đó cần được xây dựng theo cách để sao cho “ý kiến của tất cả mọi công dân đều được lắng nghe, kể cả những nhóm xã hội nhỏ. Lý tưởng nhất là lắng nghe ý kiến của từng người”. Điều đó đòi hỏi phải nâng cao chất lượng quyền đại diện nhân dân trong các cơ quan chính quyền. Ông Medvedev cho rằng Đảng chính trị thắng cử không được biến thành diễn viên câm hoặc phần phụ của chính quyền hành pháp, mà phải tham gia đầy đủ, có trọng lượng trong việc hình thành chính quyền hành pháp đó.  Không biến thành tượng đồng và ngủ yên dưới vòng nguyệt quế. Điều đó có nghĩa là chỉ có sự cạnh tranh chính trị và đối lập xác đáng, có sức nặng mới có thể thúc đẩy đảng cầm quyền và đảm bảo sự dân chủ thực sự. Hệ thống chính trị cần phải minh bạch và nhạy cảm đối với bất kì người dân nào. Mỗi công dân cần biết rằng anh ta có những người đồng chí hướng trong các cơ quan nhà nước. Đó chính là ý nghĩa của nền dân chủ đại diện – khi mà có một người nào đó đại diện cho quyền lợi của một số người đáng kể, tổng thống nhấn mạnh. . Và các đại diện thiểu số đó cần có cơ hội phê phán đa số cầm quyền, đưa ý kiến của thiểu số đến với quan liêu và dư luận xã hội.

 

Bất cứ sự đổi mới dân chủ nào cũng không được biến thành hỗn loạn. Vì vậy các đổi mới không những cần tiến tới, nhưng phải tuần tự. Theo sáng kiến của tổng thống, những năm gần đây chính phủ đã thông qua một loạt điều luật mới nhằm cải tiến hệ thống bầu cử. Ở đây đang nói về hệ thống kiểm phiếu, quyền của các đảng tiếp cận bình đẳng với các phương tiện truyền thông đại chúng và bảo vệ quyền lợi thiểu số.

 

Theo tổng thống Dmitri Medvedev, tất cả những điều đó là những động thái đầu tiên tiến tới hình thành nền dân chủ đại diện ở Nga. Các chuyên gia coi đường lối này là đúng đắn. Trả lời phỏng vấn đài “Tiếng nói nước Nga”, nhà phân tích chính trị Aleksei Makarkin, đại diện Trung tâm công nghệ chính trị nói:

“Có hai xu thế hoàn toàn tương phản với nhau. Một là cần phải thay đổi dần dần hệ thống trì trệ, xu hướng kia là cần phải có những biện pháp quyết liệt. Đó chính là điều mà Mikhail Gorbachov đã nói từ 25 năm trước. Nước ta đã thực hiện cuộc cải tổ, đã kích hoạt đối lập. Kết quả là đất nước sụp đổ, trở nên hỗn loạn. Tổng thống cần phải tìm ra phương pháp nhân nhượng để cân bằng hai xu thế đó”.

 

Nhà chính trị cho rằng videoblog của tổng thống là sự thăm dò dư luận  trước khi gửi Thông điệp liên bang tới quốc hội. Rốt cuộc, tất cả mọi thay đổi trong hệ thống chính trị đều là lựa chọn của nhân dân. Chắc là, khi phát biểu trước các nghị sĩ, ông Dmitri Medvedev sẽ thống nhất hình dung của mình về công cuộc hiện đại hóa nước Nga với sự phát triển dân chủ.

.

.

.

 

Nền dân chủ của chúng ta chưa hoàn thiện, chúng ta hiểu rõ điều đó

Theo Chúng Ta

 

Dmitry Medvedev

Thứ Bảy, 27/11/2010

http://danluan.org/node/7154

 

Gần một năm trước, tổng thống Dmitry Medvedev công bố bài báo mang tính cương lĩnh: Nước Nga tiến lên!, trong đó ông trình bày quan điểm của mình về tương lai của đất nước chúng ta. Ông không chỉ nói mà cón kêu gọi nhân dân Nga, kêu gọi những người công dân tích cực, những người quan tâm đến số phận của nước Nga, tiến lên.

Hôm qua, ngày 23 tháng 11, qua videoblog Tổng thống lại đưa ra một thông điệp chính trị mới. Ông nói về tình hình dân chủ ở nước Nga, về những vấn đề cấp bách cũng như những việc đã làm được kể từ khi khởi động công cuộc cải cách chính trị.

Tạp chí Nga xin đăng lại bản ghi lời phát biểu này.

 

* * *

 

Các bạn thân mến!

Trong hai năm vừa qua chúng ta đã lần lượt thực hiện cương lĩnh cải tạo hệ thống chính trị của nước Nga. Mục tiêu là rõ ràng. Tôi đã nói nhiều lần rồi

Chúng ta muốn gì? Chúng ta muốn làm cho hệ thống chính trị của chúng ta đơn giản là trở nên công chính hơn. Mềm dẻo hơn, năng động hơn, cởi mở hơn đối với sự cải tiến và phát triển. Phải được cử tri tin cậy hơn. Không phải là bí mật khi nói rằng từ một giai đọan nhất định trong hệ thống chính trị của chúng ta đã xuất hiện triệu chứng trì trệ, xuất hiện nguy cơ biến sự ổn định thành tác nhân của sự đình đốn. Sự trì trệ như thế có hại cho cả đảng cầm quyền lẫn các lực lượng đối lập. Nếu phe đối lập không có một chút hi vọng nào rằng họ sẽ thắng trong cuộc đấu tranh trung thực thì họ sẽ thóai hóa và sẽ trở thành lực lượng đứng bên lề. Nhưng nếu đảng cầm quyền không bao giờ và không thua ở bất kì đâu thì đơn giản là nó cũng “vàng vọt”, và cuối cùng cũng sẽ thóai hóa, tương tự như mọi cơ thể sống mà không vận động vậy.

Vì vậy mà cần phải nâng mức độ cạnh tranh lên.

 

Nhưng nhiệm vụ chính của chúng ta, nhiệm vụ chính của mọi chế độ dân chủ là nâng cao chất lượng của các cơ quan đại diện của nhân dân. Làm mọi cách để đa số về mặt chính trị không phải chỉ là con số thống kê. Chính xác hơn, để cho nó không trở thành đa số những người chỉ biết thực hiện. Để đảng cầm quyền có quyền và trách nhiệm chứ không chỉ là tổ chức đi kèm bên cạnh chính quyền hành pháp. Để nó có thể tham gia một cách đầy đủ vào việc hình thành chính quyền hành pháp. Và cần làm điều đó không phải là để cho đảng cầm quyền cảm thấy thỏai mái. Đảng là phương tiện, là công cụ chính trị của chế độ đại diện. Đảng đại diện cho các cử tri. Còn trong trường hợp đảng cầm quyền thì là đại diện cho đa số cử tri, và thực hiện quyền của họ, tôn trọng ý kiến của họ – đấy là nguyên tắc nền tảng của chế độ dân chủ.

Đảm bảo quyền của thiểu số là nhiệm vụ không kém phần quan trọng và còn phức tạp hơn. Nhưng đây cũng là nguyên tắc dân chủ căn bản. Hệ thống chính trị phải được xây dựng sao cho nó có thể nghe thấy và tính đến ý kiến của tất cả mọi người, kể cả những nhóm xã hội có ít thành viên nhất. Lí tưởng là nghe được từng người dân một. Hệ thống này phải minh bạch và nhạy cảm đối với mọi người dân. Mỗi người cần phải biết rằng họ có những người có cùng quan điểm trong các cơ quan đại diện. Đấy chính là ý nghĩa của nền dân chủ đại diện – khi có một người nào đó đại diện cho quyền lợi của một nhóm đông người. Có những người có cùng quan điểm, cùng quyền lợi. Có những người không bàng quan với những gì diễn ra xung quanh. Những người đại diện cho thiểu số như thế có cơ hội phê phán đa số cầm quyền, đưa ý kiến và đề nghị của thiểu số lên bộ máy hành chính và đến với dư luận xã hội.

 

Và cuối cùng, tôi xuất phát từ quan điểm cho rằng cải cách chính trị không được làm cho rối lọan và làm cho tê liệt các định chế dân chủ. Tôi đã nhiều lần nói về vấn đề này: cải cách phải củng cố dân chủ chứ không phải là phá họai nó. Vì vậy mà trong bài báo “Nước Nga tiến lên!”, viết năm ngóai, tôi đã xác định phương pháp và cách thức tiến hành cải cách: cải cách phải được thực hiện từ từ nhưng liên tục.

Hôm nay tôi có thể nói rằng trong hai năm qua chúng ta đã tiến một cách từ từ đồng thời liên tục về phía mục tiêu. Và như tôi thấy, chúng ta đã tiến được khá xa.

Đầu kì họp Duma quốc gia Nga vừa qua, một loạt dự luật đã được thông qua, đấy là những dự luật do tôi đệ trình quốc hội vào năm 2009 và 2010. Tôi đã nói về sự cần thiết phải thông qua những đạo luật này trong thông điệp gửi tới Đại hội Liên Bang. Năm 2009 các đạo luật sửa đổi một cách căn bản hệ thống bầu cử và hệ thống đa đảng trên bình diện quốc gia và liên bang đã có hiệu lực. Năm nay những cải tiến tương tự trên bình diện các chủ thể liên bang cũng sẽ có hiệu lực. Tôi đã nói về điều đó và sẽ không liệt kê tất cả các đạo luật đã được thông qua vì có thể làm các bạn mệt mỏi, mặc dù về mặt chuyên môn thì đấy là điều thú vị. Nhiều đạo luật, tên gọi cũng khá kêu, nhưng mọi cử tri, mọi công dân phải hiểu được bản chất của chúng.

 

Tôi xin nói những điểm căn bản nhất

 

Thứ nhất, chúng ta đã làm được những gì. Chúng ta đã đưa nguy cơ bị lèo lái trong quá trình bầu cử đến mức tối thiểu. Không để xảy gian lận trong bầu cử, chúng ta hiểu chuyện đó. Để làm chuyện đó, đã tiến hành sắp xếp lại thủ tục bầu cử sớm và thủ tục ủy quyền rút tên khỏi danh sách ứng cử (đại diện các đảng đối lập đã nhiều lần nói với tôi về chuyện này): những hành động [phi pháp] trong việc ủy quyền rút tên như thế đã được đưa vào luật hình sự. Ở đây đã xảy ra những vụ vi phạm tồi tệ nhất.

Ngoài ra, chúng ta đã giảm vai trò tác nhân của con người trong việc kiểm phiếu. Và chúng ta sẽ tiếp tục làm như thế. Ngay trong năm nay thiết bị điện tử sẽ bảo đảm cho khỏang 5% các khu vực bầu cử. Đây là công việc rất tốn kém: năm 2012 bảo đảm cho 15%, và đến năm 2015 thì 100% các khu vực bầu cử, nhưng nó sẽ làm cho hệ thống bầu cử của chúng ta trở thành hòan thiện hơn. Đáng bỏ ra một số tiền như thế. Hi vọng rằng người đóng thuế đánh giá đúng.

 

Thứ hai, các đảng đều bình đẳng trong việc xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, cả trên bình diện liên bang lẫn khu vực, đại diện các đảng đối lập đã nói với tôi nhiều lần về chuyện này. Các ủy ban bầu cử phải kiểm tra việc thực hiện. Mà sự bình đẳng không phải trên lời nói (như trước đây) mà là thực chất, tính bằng giờ, bằng phút, thậm chí bằng giây nữa. Các đảng còn có quyền bình đẳng trong việc sử dụng phòng để họp hành và vận động tranh cử. Về vấn đề này cũng đã có rất nhiều chuyện.

 

Thứ ba, các đảng nắm đa số trong các hội đồng khu vực có quyền đề nghị với tổng thống các ứng viên thống đốc, nghĩa là những người đứng đầu các tỉnh, các khu và nước cộng hòa. Như vậy là, thông qua các đảng mà cử tri ủng hộ, cử tri có cơ hội tham gia vào việc hình thành chính quyền hành pháp ở khu vực của mình. Đảng mà bạn bỏ phiếu, cuối cùng sẽ là người đề cử với tổng thống ứng viên thống đốc và giao quyền cho ông ta. Bằng cách đó, chúng ta đã đưa nội dung cụ thể vào quyền của đa số: quyền thành lập chính quyền hành pháp tại địa phương.

 

Thứ tư, quyền của thiểu số được bảo vệ bằng một lọat biện pháp. Ngòai quyền bình đẳng trong việc tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng, như tôi đã nói bên trên, phe đối lập còn dược quyền thay thế chức vụ lãnh đạo trong các hội đồng địa phương. Số lượng chữ kí cần phải thu thập để có thể được đưa vào danh sách ứng viên cũng đã giảm. Thực tế đại diện các đảng chỉ cần thu được 5% phiếu bầu là đã có chân trong các cơ quan dân cử tất cả các cấp. Nhưng chúng ta sẽ không dừng lại ở đấy, chúng ta sẽ tiếp tục hòan thiện định chế này và mở rộng thêm cơ hội.

 

Thứ năm, chúng đã đã buộc các chủ thể của đất nước lập lại trật tự số lượng thành viên trong các cơ quan đại diện. Trước đây có khu vực một người đại biểu đại diện cho 10 ngàn người, đấy là khu vực ít người, còn khu vực khác thì một người đại diện cho 300 ngàn người. Thế là không theo tỉ lệ. Ngoài ra, nhiều đại biểu quá thì sẽ khó khăn cho ngân sách. Còn ít quá thì sẽ khó biết được ý kiến khác nhau của cử tri. Tôi hi vọng rằng chúng ta sẽ tìm được sự cân bằng.

 

Nguyên tắc đại diện trong Hội đồng liên bang cũng đã thay đổi. Bây giờ chỉ có những người đã có chân trong các cơ quan dân cử và tự quản địa phương mới là có thể trở thành đại biểu Thượng viện. Nghĩa là thành viên Hội đồng liên bang phải là người được dân chúng ủng hộ trong các kì bầu cử, dân chúng biết ông ta, và mặt khác, ông ta cũng biết các nhu cầu, biết các vấn đề của họ.

Tôi hi vọng rằng hệ thống chính trị sẽ tốt lên sau những thay đổi như thế. Tôi tuyệt đối tin tưởng rằng hệ thống chính trị sẽ cởi mở hơn và mềm dẻo hơn. Và cuối cùng là công chính hơn. Những cuộc bầu cử vào tháng mười đã cho chúng ta thấy rằng những lời phàn nàn đã ít hơn là cách đây một năm rưỡi. Cả dư luận xã hội lẫn các đảng đối lập đều đưa ra các đánh giá bình tĩnh hơn.

Dĩ nhiên là vẫn còn những lời phê phán, đấy là chuyện bình thường, phải có. Nhưng đã ít hơn. Điều đó tạo cho ta hi vọng.

 

Và còn một điều nữa, tôi đã nói cách đây chưa lâu. Nền dân chủ của chúng ta chưa hoàn thiện, chúng ta biết rõ điều đó. Chúng ta đang ở đoạn đầu của con đường. Và cái chính là chúng ta không đứng yên một chỗ. Chúng ta đang tiến lên phía trước.

 

Nguồn: Tạp chí Nga (russ.ru)

 

Tin liên quan:

TT NGA MEDVEDEV: NẾU MỘT ĐẢNG ĐỘC QUYỀN CHÍNH TRỊ, ĐẤT NƯỚC CÓ NGUY CƠ TRÌ TRỆ

http://vn.360plus.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=6941

.

.

.

VÀI DÒNG VỀ NẠN MẠI DÂM

Tháng Mười Một 27, 2010

 

Vài dòng về nạn mại dâm  

Ngô Khôn Trí

25 tháng 11 năm 2010

http://www.khoahoc.net/baivo/ngokhontri/251110-nanmaidam.htm

 

Nhân xem clip “ bắt mua bán dâm” trên mạng.

http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2010/11/3BA230BD/

 

Nghề Mại dâm  là 1 trong những nghề lâu đời nhất trong lịch sử loài người. Ngày nay, nghề này là nghề bất hợp pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhưng tại Hà Lan, Đức, New Zealand và hai tiểu bang tại Hoa Kỳ (Nevada và Rhode Island), nghề này là hợp pháp, ở Thụy Sĩ, trước đó được cho là hợp pháp nhưng năm 1998 đã bị xét lại, xem là bất hợp pháp.

 

Tại Đức có khoảng 400.000 người hành nghề mại dâm, mà phần lớn những người phụ nữ bán dâm này là những người di dân đến từ các nước Đông Âu, Colombia, Thái Lan và Phi Châu. Tại Hàn Quốc, mại dâm là bất hợp pháp, nhưng có tới 1,2 triệu phụ nữ hành nghề này, đóng góp khoảng 4% vào GDP của quốc gia này. Tại Thái Lan, nghề này đã được hợp thức hóa, hiện có tới 2,8 triệu người (nam và nữ) hành nghề mại dâm, khoảng 20.000 người là đàn ông, trị giá nghiệp vụ này lên đến 4,3 tỷ đô la / năm. Tại Nhật, vào những năm đầu hậu chiến, có rất nhiều phụ nữ làm nghề mại dâm , phần lớn là phục vụ cho lính Mỹ. Vào thời đó đã có nhiều phong trào của quần chúng biểu tình lên tiếng kêu gọi chính quyền và dân chúng cùng ra tay cứu giúp những người phụ nữ bất hạnh này. Ngày 1 /4/1958 chính phủ Nhật đã phát hành luật cấm mại dâm trên toàn quốc, các khu vực Akasen (赤線 : xích tuyến) bị đóng cửa . Akasen là những khu vực được cho phép hành nghề mại dâm trước đó. Kể từ đó những phụ nữ bán dâm trá hình biến thành những phụ nữ phục vụ trong những nhà tắm hơi (トルコ風呂) mà ngày này gọi là Sòpưranđồ (ソープランド).Bán hợp pháp?

 

Tại Việt Nam cũng vậy, mặc dù có nhiều luật phòng chống nan mại dâm đã được ban hành, là bất hợp pháp, nhưng vẫn còn phát hiện ở nhiều nơi. Không có thống kê nào cho biết số lượng phụ nữ hành nghề này là bao nhiêu và đóng góp vào mấy phần trăm GDP của cả nước?.

 

Xưa cũng như nay, mại dâm là 1 cuộc trao đổi vật chất và quyền lợi giữa người mua dâm và người bán dâm. Ở những quốc gia mà mức sống còn thấp, tiền lương không đủ bảo đảm cho những nhu cầu thiết yếu của con người (ăn , mặc, ở), thì nghề này dễ phổ biến.

 

Người bán dâm, phần lớn là các cô gái trẻ của các gia đình nghèo đói, chấp nhận hành nghề mại dâm do nhu cầu sinh nhai là chính. Họ chấp nhận những tổn thương về thể xác lẫn tinh thần. Những tổn thương này  không những đã phá vỡ nền tảng hạnh phúc gia đình của cá nhân đó mà đã trở thành tệ nạn chung cho xã hội. Mức độ nhiều hay ít tùy theo độ nghiêm ngặt thi hành luật pháp, trình độ giáo dục và đời sống kinh tế của thành phần nghèo đó trong xã hội . Xét về mặt đạo đức thì những cô gái làm nghề này thật đáng tội nghiệp hơn là khinh bỉ, bởi đa số các cô gái bán dâm không có trình độ học vấn cao, không được hiểu biết đầy đủ về mặt đạo đức xã hội cũng như những kiến thức về những căn bệnh hiểm nghèo mà họ có thể mắc phải. Suy cho cùng thì chính phủ phải có trách nhiệm về tệ nạn này.

 

Không thể dùng những hành vi bỉ ổi và ngôn ngữ thô lỗ khi xử phạt những cô gái mại dâm, mà phải dùng tình thương để an ủi và khuyên răn, dùng giáo dục để nâng cao trình độ hiểu biết về giá trị của cuộc sống, tổ chức chữa bệnh và giáo dục cách phòng ngừa những căn bệnh hiểm nghèo có thể mắc phải, dạy nghề và ưu tiên tạo cơ hội cho họ tìm được công ăn việc làm. Là những việc mà 1 chính phủ vì dân phải quan tâm hàng đầu..

 

Một chính phủ tốt là 1 chính phủ không chỉ biết lo phát triển kinh tế, mà là 1 chính phủ có khà năng khắc phục được tệ nạn mại dâm và tệ nạn tham nhũng.

Nếu so sánh tệ nạn mại dâm với tệ nạn tham nhũng, thì tệ nạn tham nhũng mới thật đáng khinh bỉ hơn, vì nó làm cho cả 1 dân tộc bị chìm đắm trong nghèo đói. Chủ tịch của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Peter Eigen, nhận xét: “Tham nhũng là nguyên nhân chính của đói nghèo khóa chặt người dân trong vòng nghèo khổ.”

 

Ở các nước ở Châu Phi, hàng năm có khoảng 148 tỷ USD bị mất hay thất thoát do tệ tham nhũng gây ra. Số tiền này tương đương với ½ của 248 tỷ USD mà Châu Phi nợ của nước ngoài. Tổng thống Mobutu SeSe Seko của Cộng hòa Dân chủ Congo biển thủ 5 tỷ đô. Cựu Tổng thống Shuharto của Indonesia có tài sản 15~35 tỷ đô, gần bằng ½ tổng sản phẩm nội địa của nước này. Cựu Tổng thống Philippines , Ferdinand Marco biển thủ 100 tỹ đô la,  và cựu Tổng thống Alberto Fujimori của Peru, biển thủ hàng trăm triệu đô.

Trên 1 mặt nào đó, nạn mại dâm tỷ lệ nghịch với nạn hiếp dâm trong xã hội, là 1 tệ nạn  không thể tiêu diệt chỉ bằng các chế tài xử phạt khi mà sự chênh lệch giàu nghèo vẫn còn tồn tại, khi mà hoạt động môi giới bán dâm ngày càng trở nên tinh vi , đa dạng và đa loại hơn. Chính vì thế mại dâm được hợp pháp hoặc bán hợp pháp ở 1 vài nơi trên thế giới ?

 

Một quốc gia tuy còn nghèo về vật chất nhưng được xếp vào hạng tốt nhất trong danh sách các quốc gia chống nạn mại dâm và tham nhũng là 1 quốc gia đáng tự hào?

 

Montréal ngày 20/11/2010

Ngô khôn Trí

 

.

.

.

TIẾP TỤC NÓI THẲNG VỀ CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH HÀ NỘI (KTS Trần Thanh Vân)

Tháng Mười Một 27, 2010

 

TIẾP TỤC NÓI THẲNG VỀ CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH HN

Trần Thanh Vân

27-11-2010

http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/11/tiep-tuc-noi-thang-ve-cac-du-quy-hoach.html

 

VẪN CẦN NÓI THẲNG VỀ CÁC DỰ ÁN QUY HOẠCH HÀ NỘI

Trần Thanh Vân

 

Trong những ngày Quốc hội bận bàn về “Tái cơ cấu Vinashin thì có các tin công bố trên báo rằng SẮP DUYỆT QUY HOẠCH CHUNG THỦ ĐÔ HÀ NỘI, HÀ NỘI TIẾP TỤC DỰ ÁN QUY HOẠCH SÔNG HỒNG, ĐƯỜNG SẮT CAO TỐC VẪN LÀM NHƯNG CHIA RA TỪNG ĐOẠN NGẮN, RỪNG BIÊN GIỚI VẪN BỊ BÁN DƯỚI HÌNH THỨC INNOVGREEN …. Nhiều người nháo nhác gọi điện thoại hỏi quan điểm của tôi. Tôi phải nhắc lại nhiều chuyện cũ để khẳng định rằng “ĐỪNG LỢI DỤNG LÚC CẢ NƯỚC ĐANG BẬN LẠI LÉN LÚT LÀM BẬY

 

Day dứt

 

Tôi là người thích nói thẳng , mặc dù lơì nói thẳng đôi lúc thật khó lọt tai , các cụ vẫn thường dậy: “Lời nói chẳng mất tiền mua / Lưạ lơì mà nói cho vưà lòng nhau ” . Quả đúng vậy, nếu chỉ cần noí xa xôi, nói nửa chừng thôi, mà người nghe đã hiểu ra, thì đâu đến nôĩ phải lớn tiếng , đúng không các bạn?

 

Hơn nưã tôi là một người phụ nữ, tôi cũng rất muốn được moị người khen rằng “Bà ta thật điềm đạm, noí năng nhẹ nhàng như rót mật vào tai …” Khốn nỗi, ngoài kia cả xã hôị đang kêu gào, đang lên án sự ngu dốt của những người có quyền có chức, tôi thấy ê chề xót xa như bị ai đó tát vào mặt. Không kìm được, tôi bỗng đứng bật dậy, đấm thùm thụp vào ngực: Tại sao để xẩy ra như vậy?.

 

Thật khốn khổ cho một Thủ đô vừa qua lễ kỷ niệm 1000 năm văn hiến, mà nhìn lại, sờ vào đâu cũng thấy lộn xộn, sờ vào đâu cũng thấy “ nát như tương Bần ”. Từ chuyện căng thẳng vì chiến dịch cắt ngọn nhà xây sai phép, vượt phép và triệt phá làng ẩm thực trong công viên cùng các nhà hàng nổi chiếm mặt hồ và xả rác bẩn trên các hồ. Chuyện đó chưa qua đi, thì rộ lên chuyện dự án xây đường hầm xuyên qua lòng Hồ Tây. Ngay sau đó là cơn đại hồng thuỷ ập đến, làm cho cả thành phố ngâm trong biển nước, khiến cả thành phố và cả nước phải lo lắng chuyện cưú người, cưú của cải và cưú đói.

 

Cuối năm 2008, những chuyện đau lòng đó vưà tạm lắng đi, thì oan hồn của những nạn nhân và những liệt sĩ đã hy sinh trong đêm toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 nhắc nhở những người con Hà Nôị có lương tri hãy làm moị cách để bảo vệ chút không gian linh thiêng đó trong lòng thành phố.

 

Chưa hết, sang năm 2009 , một làn sóng âm ỉ đưa thông tin và động viên nhau hãy lên tiếng phản đối một ung nhọt khác đang ngang nhiên phá môi trường trong lành của Hà Nội: Khách sạn SAS ở công viên Thống Nhất.

 

Cũng như toà Trung tâm thương mại 17 tầng trên nền Chợ âm phủ, khách sạn SAS được khởi động từ thời ông Hoàng Văn Nghiên và ông Nguyễn Quốc Triệu làm Chủ tịch UBND thành phố, giấy phép đầu tư đã cấp từ lâu , vì nhiều lý do tế nhị , họ tạm lẩn đi để tránh dư luận, sau đó thì họ đã đổi chủ đầu tư, họ vẫn được gia hạn giấy phép và đang hôí hả thi công để tạo ra một chuyện đã rồi , dư luận có lên án cũng không kịp nưã .Vẫn chưa hết , nhờ có khách sạn cao cấp này “cầm cơ đi tiên phong”, nên ý tưởng “ Hầm chưá xe hơi ở góc đường Trần Nhân Tông & Nguyễn Đình Chiểu ” đang sống lạ . Chắc mọi người còn nhớ, vài năm trước, nhiều người đã dại dột lên tiếng baỏ vệ công viên Thống nhất, hai cái công ty NGƯỜI HÙNG hồi đó nay tự nó đã tắt ngấm rồi? .

 

Những chuyện thiếu minh bạch?

 

Tại sao để xâỷ ra như vậy? Ông bộ trưởng Bộ xây dựng từng tuyên bố “ Quy hoạch là ý chí của quyền lực” Thế rồi, để chứng minh quyền lực, cuộc tranh cãi vừa qua lằng nhằng mãi chuyện TTHCQG ở Ba Vì & Trục Hồ Tây Ba Vì… nhưng xem ra “Ý chí của quyền lực không mạnh bằng ý chí của đồng tiền ”, chắc mọi người chưa quên, công ty Hàn quốc POSCO E&C, con ruột của tập đoàn thép POSCO giầu có, định bỏ ra 225 triệu USD ban đầu, cùng với Hà Nội làm đường hầm xuyên qua lòng Hồ Tây để kiếm được 456 triệu USD tiền lãi ( theo bản luận chứng KTKT của Posco E&C biên soạn ) . Còn Sở Du lịch Hà Nôị tuy chẳng có xu vốn nào , nhưng “ăn trộm ” được 10.000 m2 đất của công viên làm tài sản góp vốn , họ đã dụ được tập đoàn Accor nôỉ tiếng thế giơí góp vào 40 triệu USD xây nên khách sạn 4 sao có ba mặt tiền quay ra công viên. Sau khi KS bị dừng rồi, chủ đầu tư được đền hơn 7000m2 đất ở phố Nguyễn Công Trứ vẫn chưa thỏa mãn, còn đòi thêm 80 triệu USD nữa?

 

Tôi nhớ, thơì tạm chiếm Hà Nôị có một khu “mả Tây” ở cuôí phố Quán Thánh, đó là nghiã trang của người Pháp, nơi đó chuyên mai táng lính Pháp ở mặt trận đưa từ các nơi về (họ không dám mai táng ở nghiã trang ngoại thành ). Sau này hài cốt được chuyển đi, nơi đó được làm thành sân vận động quận Ba Đình,hôm nay nơi đó cũng biến thành nhà rồi. Chính quyền Hà Nội rất thích xây nhà. Còn đoạn phố ngắn ở nơi chỉ có đồng bào và chiến sĩ bảo vệ Thủ đô hy sinh trong đêm 19/12/1946 thôi . Không thể goị đó là một nghiã trang chôn cất thông thường, mà là mấy nấm mồ tập thể rất to, chôn chung mấy trăm con người một lúc, xác được cuốn trong chăn, hoặc trong chiếu, rôì vùi xuống đó. Nhiều năm sau Nhà nước ta mới chuyển họ lên Bất Bạt, lâu ngày quá rôì nên không còn nguyên vẹn hài cốt nưã, bơỉ thế nhiều người vẫn cho rằng còn rất nhiều thi thể nằm lại nơi đây. Sau khi dừng dự án, người ta đào được hàng ngàn bộ hài cốt, Công ty Thủ Đô II đã thấy mình có lỗi chưa mà sao vừa rồi lại còn ăn cắp cây cổ thụ ở nơi linh thiêng ấy?

 

Khoa học tâm linh khác mê tín

 

Tôi muốn nhắc mọi người chú ý bài viết của tiến sĩ Phạm Gia Minh, phân tích về Phong thuỷ, dạo đó anh thông báo ảnh hưởng xấu của toà nhà 17 tầng định xây , sẽ đè lên 3 công trình pháp lý ở cận kề là Toà án nhân dân tôí cao, Toà án nhân dân thành phố Hà Nôị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nôị, tôi xin bổ sung thêm rằng vơí góc độ “khách thể ”, phân tích như vậy là rất sâu và rất thoả đáng. Nay nhân việc công ty Thủ đô vừa “ăn trộm” cây cổ thụ bên cạnh 41 Hai Bà Trưng, nơi họ được Hà Nội đền cho, để xây TTTM mới chắc là cũng cao tầng. Khi chưa có toà nhà này thì khách sạn Melia và HaNoi Tower đã nhăm nhăm chĩa lưỡi mác vào cơ quan công quyền rồi, nếu có thêm toà nhà cao 70m ở sát bên cạnh , lại chắn mất một góc nhìn ở phiá Nam -Tây – Nam thì có lẽ Toà án tôí cao sẽ đến ngày mất hết quyền uy? Còn về góc nhìn “bản thể” thì xin thành thật khuyên nhà đầu tư nên suy nghĩ kỹ. Toà nhà TTTM cao lừng lững không điều hoà được âm dương , nó như cái cần ăng ten tự nó sẽ làm thoát hết dương khí , cho nên nơi đây vốn âm khí đã nặng nề sẽ trở nên nặng nề hơn . Đó là điều tối kỵ cho công cuộc kinh doanh lẫn trong cuộc sống gia đình .

Tất nhiên tôi chỉ có thể có lơì khuyên như vậy, tin hay không thì tuỳ. Một Kiến trúc sư quy hoạch cảnh quan đã nghỉ hưu, không đại diện cho quyền lực mà cũng không có tiền tài thì nói liệu có ai nghe?

 

Vẫn không thể không nói

 

Qủa thật, nói thẳng đôi khi thật khó lọt tai , nhưng nếu nói đúng và xuất phát từ lòng thành thì vẫn được xã hôị chấp nhận. Tôi cho rằng đã đến lúc phải nói rõ hết, để không đến nôĩ vài hôm lại xẩy ra sự cố.

Năm 2007, khi góp ý kiến về dự án Đô thị sông Hồng, vào ngày 21/9/2007, tôi được Tuần Việt Nam ( VNN) cho đăng bài Xây dựng Hà Nôị theo cấu trúc phong thủy , vơí lời chú thích nhã nhặn: Đây chỉ là ý kiến riêng và chỉ xem để tham khảo .

 

Tôi thật không ngờ rằng chỉ sau chưa đầy một năm, lý thuyết Phong thuỷ kinh điển TỰA NUÍ NHÌN SÔNG của Kinh đô Thăng Long, mà Vua Lý Thái Tổ đã lưạ chọn gần một ngàn năm trước, đã được con cháu trân trọng nhắc lại. Có điều đó mới chỉ nói đến trục toạ độ trên mặt phẳng nằm ngang của địa giơí hành chính .

 

Còn trục thẳng đứng?

Bốn chữ LONG BÀN HỔ CỨ (dịch là Rồng cuộn Hổ ngồi) tiếp theo, thì chưa mấy người hiểu đó là miêu tả hình ảnh con Rồng cuộn sóng sắp bay vút trời cao trên một địa thế ổn định trường tồn. Đó cũng chính là nói đến trục không gian 3 chiều của NUÍ CHẦU SÔNG TỤ đã được nhà nghiên cưú Phong thuỷ Ngô Nguyên Phi phân tích rất kỹ. NUÍ CHẦU thì rõ quá rôì, các dãy nuí chạy vòng cung hình rẻ quạt đi từ Đông Triều, Bắc Sơn, Ngân Sơn, qua Sông Gâm, Hoàng Liên Sơn, đến Sông Đà và Tam Đảo, rôì cùng đồng quy và xoáy lại tại vùng Thủ đô. Nhưng còn SÔNG TỤ? , ở đây ta cần phân biệt sự khác nhau về ngữ , nghiã của hai chữ HÔỊ & TỤ, các con sông đã gặp nhau tại Việt Trì , tức là sông đã hôị , nhưng nước sông chỉ tụ lại ở nơi sông Hồng mở ra rộng nhất rồi toả vào các hồ và các sông con, tạo ra giòng lưu thuỷ. Đó chính là vị trí của thành Thăng Long .

 

Con đê sông Hồng kiên cố được hình thành trong suốt ngàn năm, đã ngăn cản bớt giòng lưu thuỷ này , nhưng cao trình biến đổi từ Nuí Tản về đến Hồ Tây đã tự hình thành một giòng lưu thuỷ khác , khiến cho hạn hán hay mưa lũ cũng không gây ảnh hưởng xấu tơí kinh thành. Đó là vùng trũng mầu xanh có tác dụng như một hồ điều hoà cực lớn nằm giưã khoảng cách từ Hồ Tây tơí Ba Vì .

 

Nhưng đô thị phát triển tuỳ tiện , đến nay người ta đã bê tông hoá gần hết thảm xanh thiên nhiên đó, khiến trận lũ lụt đã làm cho trục đường Láng Hoà Lạc (nay gọi là Đại lộ Thăng Long) và Khu đô thị Mỹ Đình ngập trong biển nước. Người vẽ quy hoạch chỉ quan tâm đến mặt bằng mà không để ý đến cốt nền đã là chuyện nực cười rôì, nhưng người chủ đầu tư công trình cũng thật tuỳ tiện tiêu tiền thì thật đáng trách. Tôi đứng trước sảnh vào Cung Hôị nghị quốc gia và càng thắc mắc hơn khi nhìn thấy “ bậc tam cấp ” bước vào sảnh chính chỉ có một bậc và bậc đó chỉ cao chừng 8cm. Tôi không hiểu đây là do số đo nhầm, hay thi công cẩu thả, hay chủ ý khống chế chiều cao của các nhà quy hoạch? Vậy xin hỏi nếu một tận Hồng thủy nữa xây ra thì nơi trung tâm quan trọng này sẽ là cái gì?

 

Làm cách nào để cưú Thủ đô rộng lớn của chúng ta khỏi bị THUỶ TINH đe doạ đây? Ngài SƠN TINH đang đứng trên đỉnh nuí cao truyền rằng

Thứ nhất: “Hãy làm một chuôĩ hồ nước kênh mương có tổng diện tích lớn gấp đôi diện tích Hồ Tây để tự thu gom nước mưa trong mùa mưa lũ và tưới mát những ngày khô hạn ”

Thứ hai: “ Sông Hồng là cửa ngõ của thành phố, ở đây có giải đất cao chạy dọc theo bờ đê, không được xây công trình cao tầng , không được làm thoát dương khí và chắn gió từ mặt sông thôỉ tơí”

Những lời giáo huấn ấy không phải do tôi nói, sách nói, tôi chỉ là người học trò tận tuỵ dịch thành lời mà thôi .

 

Tôi không rõ người có quyền và người có tiền có thích nghe không?

——————————

 

Tác giả Trần Thanh Vân là KTS Cảnh quan.

Bài viết do tác giả gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-Blog. Xin chân thành cảm ơn tác giả.

.

.

.

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO DÂN BẰNG ẢNH BÁC HỒ

Tháng Mười Một 27, 2010

 

XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO DÂN BẰNG ẢNH BÁC HỒ

Trương Duy Nhất

Thứ sáu, ngày 26 tháng mười một năm 2010

http://motgocnhinkhac.blogspot.com/2010/11/xoa-oi-giam-ngheo-cho-dan-bang-anh-bac.html

 

         “Xóa đói giảm nghèo” cho dân bằng ảnh Bác Hồ- Một “sáng kiến” không thể nói gì hơn là: vớ vẩn và… phản động!

————————–

 

          Đó là nội dung bản tin trên báo đảng Cà Mau:

          Hơn 5.000 hộ dân của 2 xã Khánh Lâm và Khánh Hòa, huyện U Minh (tỉnh Cà Mau) được Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch tặng ảnh Bác Hồ.

          Đây là 2 xã nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ. Người dân nhận ảnh với tinh thần trân trọng, tôn kính đối với Bác và hứa sẽ giữ gìn, treo ảnh Bác nơi trang trọng nhất trong gia đình.

          Việc tặng ảnh Bác Hồ cho hộ dân ở xã nghèo góp phần tạo sức lan tỏa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mạnh mẽ hơn.  

(Nguồn: báo Cà Mau)

 

————————

 

          Một bạn đọc cho Trương Duy Nhất blog biết tin này. Mới nghe cứ nghĩ đó là tin bậy, tin… phản động. Nhưng tra trang báo điện tử Cà Mau thì giật mình khi thấy đó là tin thật, một “sáng kiến” của Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch.

 

          135 (hay đọc là: “chương trình một-ba-năm”) là chương trình mục tiêu của chính phủ nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế xã hội cho các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

 

          “Xóa đói giảm nghèo” cho dân bằng ảnh Bác Hồ- Một “sáng kiến” không thể nói gì hơn là: vớ vẩn và… phản động!

.

.

.