Archive for Tháng Bảy, 2011

TẠI SAO TRUNG QUỐC PHẢI XUỐNG NƯỚC VỀ VẤN ĐỀ QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA (Walden Bello, Philippines Inquirer)

Tháng Bảy 6, 2011

 

Tại sao Trung Quốc phải xuống nước về vấn đề quần đảo Trường Sa

Why China has to Climb Down on the Spratlys Issue

Walden Bello

Philippines Inquirer   –   July 3, 2011

http://opinion.inquirer.net/7193/why-china-has-to-climb-down-on-the-spratlys-issue

 

Bản dịch của Viet-studies

http://www.viet-studies.info/kinhte/WaldenBello_Interview.htm

 

(Thời báo Hoàn cầu của Chính phủ Trung Quốc gần đây đã liên lạc với tác giả thực hiện một cuộc phỏng vấn bằng thư điện tử về vụ tranh cãi dai dẳng Trường Sa – Biển Tây Philippines.  Sau khi tôi gửi bài trả lời, tôi không nhận được hồi báo hay thông tin liên lạc thêm nữa từ tờ,.có thể vì các câu trả lời tôi đã không theo đúng ý thích của tờ báo Theo nguyên tắc không bao giờ để cho một bài phỏng vấn tốt bị bỏ phí,. tôi in lại nó như là một bài viết của tôi ở đây.)

 

Bạn thấy cuộc khủng hoảng ở Biển Nam Trung Quốc hiện nay ra sao? Nó sẽ tiếp tục leo thang?

Vâng, tôi sợ rằng căng thẳng sẽ tăng lên và có thể vuột ra khỏi tầm tay, và lỗi không nằm ở Philippines và các nước Đông Nam Á khác.

 

Đối với vấn đề Biển Nam Trung Hoa, Trung Quốc đã được luôn luôn ủng hộ nguyên tắc gác tranh chấp và cùng hợp tác phát triển, theo ý kiến của bạn, đó là một cách thích hợp để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông?

Cùng phát triển mà không có phân định rõ ràng về biên giới là một công thức cho các cuộc xung đột trong tương lai.

Cách thích hợp để giải quyết vấn đề là thông qua đàm phán đa phương liên quan đến tất cả các bên có đòi hỏi chủ quyền trong khu vực. UNCLOS (Công ước của LHQ về Luật biển) được xây dựng nguyên tắc các nước có các vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí, và ở những nơi mà các các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) này chồng lấn nhau và ở những nơi có khu vực tranh chấp thì các cuộc đàm phán đa phương là giải pháp duy nhất khả thi cho trường hợp có nhiều nước đòi hỏi chủ quyền. Đây là một vị thế rất hợp lí. Tuy nhiên, Trung Quốc từ chối giải pháp này, và thay vào đó cố giải quyết vấn đề một cách đơn phương bằng cách xâm nhập các EEZ 200-hải lí của các nước khác, hoặc xây dựng một số kiến trúc trong những khu vực này, như trong một số bộ phận của quần đảo Trường Sa trong EEZ của Philippines. Chẳng hạn, Mischief Reef (Panganiban Reef) nơi mà Trung Quốc chiếm đóng trước sự phản đối của Philippines, cũng là nằm ngay trong EEZ 200 hải lí của Philippines và cách xa hơn 1.000 hải lí từ bờ biển Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc đã chính thức đưa ra yêu sách cho toàn bộ biển này tiến sát khu vực tiếp giáp 24 hải lí hoặc các giới hạn lãnh thổ 12-hải lí của các nước khác trong khu vực, hoàn toàn không để ý đến EEZ của những nước khác và thực tế là vùng biển và đảo Trung Quốc đòi hỏi thì cách xa vài trăm hoặc thậm chí một nghìn hải lí hay hơn nữa ngoài biên giới lãnh thổ Trung Quốc. Đó là cách hành xử của một siêu cường, và ở đây tiếc thayTrung Quốc mô phỏng các ví dụ của thực dân châu Âu và Hoa Kỳ.

 

Một số người dự đoán rằng một cuộc chiến tranh ở Biển Nam Trung Hoa là không thể tránh khỏi, bạn có đồng ý không?

Không, tôi không nghĩ như vậy, mặc dù có các va chạm về hải quân, chẳng hạn như cuộc chạm trán bi thảm vào năm 1988 giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà khoảng 70 thủy thủ Việt Nam thiệt mạng, là một khả năng. Trung Quốc thực sự phải xuống nước từ tư thế hung hăng của nó, nếu không, một chuỗi các sự kiện có thể phát sinh từ đó sẽ đi ra ngoài tầm kiểm soát. Hãy nhớ rằng, chiến tranh thế giới I là một cuộc chiến ngoài ý muốn, một cuộc chiến mà không ai mong muốn, nhưng một khi tiến hành động binh lẫn nhau thì khó có thể đưa mọi thứ vào trong tầm kiểm soát. Ngoại giao đa phương cho một giải pháp toàn diện về vấn đề biển Tây Philippines là cách tốt nhất để tránh một cuộc xung đột không mong muốn như thế.

 

Trung Quốc đã phát triển quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với nhiều nước ở Đông Nam Á bao gồm cả Philippines và duy trì quan hệ tốt với các nước này, tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa sẽ ảnh hưởng đến quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines đến mức độ nào ?

Những quan hệ kinh tế có thể chưa đi nếu các nước Đông Nam Á nhận thức rằng Trung Quốc đang bắt đầu hành xử giống như một nước bá chủ quân sự kiêu ngạo. Các nước có thể trở nên lo lắng nhiều hơn rằng quân đội Trung Quốc – hoặc sự đe dọa sử dụng nó – có thể được dùng để bảo vệ hoặc thúc đẩy đầu tư và các lợi ích kinh tế khác của Trung Quốc trong ãnh thổ của các nước này và bắt đầu áp đặt các hạn chế thương mại và đầu tư trên các luồng vốn và thương mại đổ vào Trung Quốc . Vì Trung Quốc trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào đất nông nghiệp ở Đông Nam Á để sản xuất lương thực cho dân số mình và vào tài nguyên của Đông Nam Á để nuôi ngành công nghiệp của mình, các nước chúng tôi sẽ lo lắng về những dấu hiệu của quyền bá chủ quân sự Trung Quốc. Người ta nhớ rằng Nhật Bản viện đến vũ lực để giành quyền kiểm soát đất đai và tài nguyên của Đông Nam Á 70 năm trước đây. Họ cũng nhớ rằng thương nhân Nhật Bản, các nhà đầu tư, và người định cư bắt đầu đi vào các quốc gia khác nhau của khu vực trước khi quân đội Nhật Bản đến. Tất nhiên, Trung Quốc không phải là đế quốc Nhật, nhưng các bạn không thể đổ lỗi cho người dân trong khu vực Đông Nam Á nếu họ trở nên lo lắng bởi những dấu hiệu của quyền bá chủ quân sự phô ra bởi một cường quốc Đông Bắc Á khác.

 

Bạn thấy vai trò của Mỹ trong tranh chấp Biển Nam Trung Hoa thế nào? Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tranh chấp ra sao?

Tất cả các nước có kí kết UNCLOS cam kết bảo vệ tự do hàng hải trong các tuyến đường thủy chính của thế giới, chẳng hạn như biển Tây Philippines. Philippines phải dựa vào ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) như là đồng minh then chốt của mình trong việc giải quyết vấn đề biển Tây Philippines với Trung Quốc. Tôi không đồng ý với chiến lược Philippines và Việt Nam lôi kéo Mỹ như một phương kế đầu tiên. Kéo Mỹ vào mang theo nguy cơ chuyển cuộc khủng hoảng thành một cuộc xung đột giữa các siêu cường. Tuy nhiên, tôi thực sự không thể trách hai chính phủ này thực hiện tiến trình hành động đó. Tôi trách hành vi hung hăng của Trung Quốc. Cách tốt nhất để tránh sự can thiệp của Mỹ trong tranh chấp lãnh thổ ở biển Tây Philippines đối với Trung Quốc là ngưng cách hành xử hung hăng lại và đi đến bàn ngoại giao. Một giải pháp ngoại giao tránh sự can thiệp quân sự của Mỹ là vì lợi ích tốt nhất của cả Trung Quốc và Philippines.

 

Liệu Biển Đông một cơn nhức đầu dài hạn cho các nước có liên quan và cho an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương? Điểm đột phá để giải quyết vấn đề là gì?

Vâng, nó sẽ là một cơn đau đầu lâu dài nếu chúng ta không giải quyết vấn đề thông qua ngoại giao đa phương sớm. Một biển Tây Philippines phi quân sự trong đó biên giới biển được thoả thuận theo cùng một cách mà Vịnh Bắc Bộ và biên giới đất liền Việt Nam-Trung Quốc đã được giải quyết bởi Việt Nam và Trung Quốc là sự bảo đảm tốt nhất cho hòa bình trong khu vực. Nếu Trung Quốc có thể giải quyết một cách hòa bình các đường biên giới với Việt Nam, tại sao nước này không làm điều tương tự trong các cuộc thảo luận đa phương với các nước giáp với biển Tây Philippines?

 

(Bài dịch giữ nguyên cách gọi biển Đông của người hỏi và người trả lời )

 

.

.

.

TỘI YÊU NƯỚC (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Bảy 6, 2011

 

Tội yêu nước

Nguyễn Hưng Quốc

Thứ Ba, 05 tháng 7 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/toi-yeu-nuoc-07-05-2011-125027094.html

 

Ở đời, có nhiều thứ tội. Tôi giết người. Tội cướp của. Tội ăn trộm. Tội lường gạt. Tội hiếp dâm. Tội tàng trữ hay buôn bán ma túy. Tội hành hung người khác. Tội trốn thuế. Tội lái xe quá tốc độ hoặc lúc đang say. Tội khai man hay làm giấy tờ giả (kể cả bằng cấp giả!). Tội phá rối trật tự công cộng. Tội bôi nhọ hay xâm phạm đời tư người khác. Vân vân.

Hầu hết các tội ấy đều được ghi rõ trong luật pháp với những khung án rõ ràng ở từng nước.

Riêng trong Hiến pháp, ít nhất là Hiến pháp Việt Nam, người ta còn nêu đích danh một tội: phản bội tổ quốc là tội nặng nhất (điều 76).

 

Cả trong Hiến pháp lẫn luật pháp, không những của Việt Nam mà còn của cả thế giới, tôi dám chắc không ở đâu ghi cái tội này: Tội yêu nước.

 

Vậy mà, trên thực tế, nó lại bị xem là một cái tội, thậm chí, tương đương với cái tội được ghi là “nặng nhất” trong Hiến pháp.

 

Chứ không phải sao? Thì hãy cứ nhớ lại thời Pháp thuộc mà xem. Hầu hết những người mà chúng ta xem là anh hùng của thời ấy đều là những kẻ từng bị buộc “tội yêu nước” đấy! Trong phong trào Cần Vương, ở Quảng Nam, Trần Văn Dư bị xử bắn, Nguyễn Duy Hiệu bị hành hình; ở Quảng Ngãi, Lê Trung Đỉnh bị giết; ở miền Bắc, Nguyễn Cao bị xử trảm; trong các cuộc vận động chống Pháp sau đó, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Nguyễn Thái Học, v.v… bị tử hình; Phan Bội Châu bị tuyên án tù chung thân, sau, đổi thành án quản thúc; tất cả đều bị ghép vào một tội: Tội yêu nước!

 

Dĩ nhiên, chữ “tội yêu nước” ấy là chữ của lịch sử, về sau. Thời ấy, trước tòa án, qua miệng của công tố viên cũng như chánh án, tội của họ là tội “làm loạn” hay “làm giặc”. Không ai dám nói là họ mắc “tội phản bội tổ quốc”. Nhưng thực chất ý nghĩa của “làm loạn” hay “làm giặc” thì cũng vậy.

 

Có điều, ai ghép tội và tuyên án họ? Đó là thực dân Pháp và tay sai của Pháp: kẻ thì không được quyền nói đến sự trung thành đối với tổ quốc trên đất Việt Nam và kẻ thì không được phép nói vì bản chất của họ, khi chấp nhận làm việc cho Pháp, đã không đặt ra vấn đề trung thành hay không trung thành với tổ quốc rồi. Vậy mà, suốt gần cả trăm năm, cả Pháp lẫn những người làm tay sai cho Pháp đều nhân danh lòng yêu nước, hoặc ít nhất, sự ổn định của đất nước, để xét xử những người yêu nước thực sự.

 

May, lịch sử công minh. Những sự hy sinh của bậc anh hùng dám chấp nhận ngay cả cái chết để cứu nước ấy đã được mọi người ghi nhận. Hiện nay, tên tuổi của họ còn sáng rỡ trên sử sách. Ai cũng biết rõ một điều: Họ không có tội gì cả, trừ tội yêu nước.

Không ngờ cái điều hài hước một cách cay đắng như thế bây giờ lại lặp lại.

 

Trong suốt mấy chục năm vừa qua, có vô số người bị bắt ở tù, thậm chí, bị hành hình, chỉ vì tội duy nhất: tội yêu nước.

 

Xin miễn nhắc lại những chuyện đau lòng ngay sau năm 1975 với trại tù và trại cải tạo nhan nhản khắp nơi: Tạm thời cứ coi đó là chuyện thuộc quá khứ, gắn liền với những “điều kiện lịch sử và khách quan” nhất định. Cũng xin miễn nhắc lại những vụ án gắn liền với các cuộc vận động đánh đổ chính quyền một cách bạo động: Đó là nhiệm vụ của các sử gia sau này.

Chỉ xin mọi người nghĩ và nhớ đến những người bị bắt bớ chỉ vìtội duy nhất là chống lại Trung Quốc, và một phần nhỏ, nạn độc tài trong nước, như nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, blogger Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ.

 

Còn nữa. Những người vì tham gia các cuộc biểu tình chống sự gây hấn và xâm lấn của Trung Quốc trong các ngày Chủ nhật vào tháng 6 vừa qua mà bị công an bắt bớ, quấy nhiễu và đe dọa, đã phạm tội gì?

Vâng, tất cả những người đó đã phạm tội gì?

Câu trả lời không thể tránh được: Tội yêu nước.

 

Tôi cho không có gì phản ánh đầy đủ diện mạo của nhà cầm quyền bằng sự kiện biến lòng yêu nước thành một cái tội.

Ngày xưa, chỉ có bọn cướp nước và bán nước mới làm điều đó.

Còn bây giờ?

 

Tôi không nghĩ, và thực tình, không muốn nghĩ những người cầm quyền hiện nay là bán nước. Không, nhìn vào quá khứ của nhiều người trong họ, tôi không nghĩ vậy.

Nhưng nếu vậy, tại sao họ lại trấn áp những người yêu nước? Tôi nghĩ nguyên nhân chính là họ muốn được độc quyền yêu nước: Chỉ có họ mới yêu nước; chỉ có cách yêu nước của họ mới có hiệu quả. Còn người khác? “Bọn mày hãy câm mồm lại! Hãy ở yên trong nhà! Đừng hoan hô, đừng đả đảo, đừng tụ tập, đừng biểu tình gì cả! Hãy để tao lo! Bọn mày mà xớ rớ là tao bắt, tao đánh, tao nhốt! Nghe chưa?” Dĩ nhiên, họ không nói thẳng ra như thế. Nhưng bất cứ ai theo dõi các sinh hoạt chính trị tại Việt Nam hiện nay đều biết rõ là họ nghĩ thế.

 

Bán nước và độc quyền yêu nước khác hẳn nhau về động cơ. Nhưng biểu hiện bên ngoài và không chừng cả hậu quả nữa, lại là một.

 

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

————————-

 

 

Một lựa chọn khôn ngoan và cần thiết

Nguyễn Hưng Quốc

Thứ Hai, 04 tháng 7 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/lua-chon-khon-ngoan-07-04-2011-124984114.html

 

Rõ ràng là chính quyền Việt Nam không muốn có chiến tranh với Trung Quốc. Điều đó rất dễ hiểu và cũng rất dễ được đồng tình. Chính quyền Việt Nam thậm chí cũng không muốn công khai và trực tiếp đương đầu với Trung Quốc một cách bất bạo động. Điều đó cũng có thể hiểu được dù không phải ai cũng đồng tình. Nhưng riêng việc Việt Nam vẫn tiếp tục xem Trung Quốc là một đồng minh và là một đồng chí thì không thể nào giải thích được.

 

Không thể giải thích được vì nó hoàn toàn trái ngược hẳn với thực tế. Trung Quốc rõ ràng không xem Việt Nam là một người bạn. Họ không tin Việt Nam; không kính trọng Việt Nam, thậm chí, không hề tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Bất kể họ nói gì đi nữa thì trên thực tế, bằng những hành động cụ thể, rất thô bạo và trắng trợn, họ luôn luôn tìm cách uy hiếp và xâm lấn Việt Nam. Xâm lấn từng chút, từng chút trên các cột mốc biên giới giữa hai nước. Xâm lấn Hoàng Sa xong lại xâm lấn tiếp Trường Sa. Xâm lấn vùng biển Việt Nam bằng con đường lưỡi bò đầy ngang ngược. Chưa hết. Họ còn cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ngay trên vùng biển Việt Nam: ai tiếp tục đánh cá thì họ tịch thu hải sản, bắt bớ rồi đòi tiền chuộc, thậm chí, đánh đắm cả thuyền để mặc ngư dân chết đuối trên biển. Họ còn ngang nhiên đi sâu vào hải phận Việt Nam cắt cáp của tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

 

Chắc chắn những hành vi uy hiếp và xâm phạm của Trung Quốc không hề dừng lại ở đó. Bất cứ ai theo dõi chính trị một chút cũng đều biết không dễ gì Trung Quốc từ bỏ tham vọng thôn tính Biển Đông, và nếu cần, thôn tính cả Việt Nam để mở đường cho các cuộc bành trướng về kinh tế lẫn về chính trị của họ hầu trở thành cường quốc số một của thế giới, cạnh tranh với uy thế độc tôn của Mỹ hiện nay.

 

Không những trái với thực tế, quyết định tiếp tục xem Trung Quốc là đồng minh và đồng chí cũng không thể giải thích được vì nó nguy hiểm.

 

Có mấy nguy hiểm chính:

 

Thứ nhất, nó chứng tỏ chính quyền không nhạy bén và cũng không can đảm trước những thay đổi trong tình hình chính trị thế giới cũng như trong quan hệ song phương giữa hai nước. Chính quyền có thể lý luận là họ không muốn trầm trọng hóa mối quan hệ đã có chiều gay cấn giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đồng ý. Nhưng không muốn trầm trọng hóa không có nghĩa là vẫn tiếp tục lải nhải nói những điều không có thật, hơn nữa, cái điều không có thật ấy lại xuất phát từ, và chỉ nhắm làm lợi cho Trung Quốc, với cái gọi là 16 “chữ vàng” do Giang Trạch Dân đưa ra vào năm 2000: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Việc làm ấy chỉ khiến cho dân chúng nghĩ là chính quyền đã, đang và vẫn tiếp tục bị Trung Quốc lừa gạt. Nhà văn Tạ Duy Anh, trong một cuộc phỏng vấn mới đây, nhận xét một cách chính xác: “Chúng ta tự dối lòng mình quá lâu bằng những ảo tưởng về lòng tốt của những người cùng chung một ý thức hệ! Trung Quốc trước sau là một đế quốc Đại Hán! Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện tạm thời hữu hiệu cho mục tiêu không thay đổi của họ. Chúng ta phải thấy rõ điều đó. Đáng lẽ chúng ta phải đưa vấn đề Hoàng Sa ra toà án quốc tế từ lâu. Khi họ ru chúng ta bằng 16 chữ vàng, thì họ lén lút thực hiện 16 chữ đen: “Kiên trì rình rập, phá hoại mọi mặt, gặm nhấm từng phần, vừa cướp vừa la”. Đừng lầm lẫn giữa tình hữu nghị và chủ quyền quốc gia, nhất là khi tình hữu nghị đó chỉ là giả vờ từ phía Trung Quốc.”

 

Thứ hai, việc né tránh thực tế và ngủ vùi trong ảo tưởng cũ kỹ về mối quan hệ đồng minh và đồng chí như thế chỉ làm cho mọi người, từ chính quyền đến dân chúng, mất cảnh giác trước các tham vọng bành trướng và âm mưu đen tối của Trung Quốc. Cứ nhìn lại những gì đã xảy ra lâu nay ở Việt Nam cũng đủ thấy: trong khi mâu thuẫn giữa hai nước càng ngày càng tăng, chính quyền Việt Nam vẫn an tâm giao hẳn trang web thương mại bằng tiếng Việt cho Trung Quốc tha hồ tuyên truyền; vẫn gọi việc tuần tiễu của hải quân Trung Quốc trên Biển Đông là để bảo vệ “tổ quốc” và “lãnh thổ’ của họ; vẫn đưa các phim lịch sử nhân lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sang Trung Quốc thực hiện và dù bị phản đối, vẫn có ý định chiếu trên đài truyền hình Việt Nam; vẫn cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây nguyên và thuê dài hạn nhiều khu rừng đầu nguồn và có vị trí chiến lược quan trọng của Việt Nam; vẫn làm ngơ trước việc Trung Quốc thao túng nền kinh tế Việt Nam, kể cả việc mang bạc giả tràn vào Việt Nam, v.v…

 

Nguyên nhân của tất cả những chuyện đáng tiếc và đáng buồn như vậy có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân: sự ngu dốt hay sự tham nhũng; nhưng có lẽ nguyên nhân trực tiếp chính là vì thiếu cảnh giác. Mà dân chúng cũng như cán bộ không thể cảnh giác khi mọi người cứ tiếp tục bị ru ngủ bởi cái huyền thoại đồng minh và đồng chí như vậy. Họ mất cảnh giác vì chính phủ không hề có một chính sách rõ ràng.

 

Bởi vậy, tôi nghĩ đã đến lúc chính quyền Việt Nam nên nói thẳng và nói thật là Trung Quốc không còn là đồng chí và đồng minh, đừng nói đến chuyện đồng minh chiến lược, của Việt Nam.

Một số người sẽ cãi: Nói vậy là gây chiến với Trung Quốc, là dẫn Việt Nam đi vào con đường chiến tranh. Nhưng đó chỉ là ngụy biện. Là hù dọa một cách dốt nát và hèn nhát. Trên thế giới, không phải không còn là đồng chí hay đồng minh thì nhất thiết phải là kẻ thù sinh tử của nhau. Mối quan hệ giữa hai quốc gia vô cùng đa dạng. Điều chỉnh mối quan hệ ấy lại cho đúng thực tế là điều mà mọi quốc gia sáng suốt đều làm.

Không có lý do gì để Việt Nam không làm được.

 

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

.

CẦN CÓ LUẬT BIỂU TÌNH ĐỂ NGƯỜI DÂN BÀY TỎ QUAN ĐIỂM, ĐẶC BIỆT VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG (LS Trần Vũ Hải, RFI)

Tháng Bảy 6, 2011

 

Cần có luật biểu tình để người dân bày tỏ quan điểm, đặc biệt về vấn đề Biển Đông

Thụy My   –   RFI

Thứ ba 05 Tháng Bẩy 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110705-can-co-luat-bieu-tinh-de-nguoi-dan-bay-to-quan-diem-dac-biet-ve-van-de-bien-dong

 

Ngày 29/6/2011, luật sư Trần Vũ Hải đã gởi kiến nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam, nhân kỳ họp từ 29/6 đến 30/6, đề nghị giải thích điều 69 của Hiến pháp, quy định rằng công dân có quyền biểu tình. Ban Việt ngữ RFI đã liên lạc trao đổi với luật sư Trần Vũ Hải về vấn đề này.

 

Nghe (09:01)  :  Phỏng vấn ông Trần Vũ Hải 05/07/2011

 

 

RFI : Kính chào lut sư Trn Vũ Hi . Vì sao ông gi kiến ngh lên y ban Thường v Quc hi Vit Nam đ ngh gii thích điu 69 ca Hiến pháp ?

Trn Vũ Hi : Về quyền của công dân Việt Nam, thì cá nhân tôi với tư cách vừa là nhà nghiên cứu vừa là luật sư đã nghiên cứu trong một thời gian dài, và thậm chí từ hồi tôi đi học tại Cộng hòa Dân chủ Đức cũ, nay là nước Đức. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy các quyền của công dân của Việt Nam, đã được ghi đầy đủ trong Hiến pháp, khá giống nhiều nước trên thế giới, nhưng lại không được thực hiện một cách trọn vẹn.

Có nhiều quyền tuy ghi đầy đủ nhưng lại thòng thêm một câu là « theo quy định của pháp luật ». Riêng đối với quyền biểu tình cũng như các quyền công dân khác, thì điều 69 Hiến pháp quy định là có quyền biểu tình nhưng theo quy định của pháp luật. Như vậy muốn biểu tình lại phải tìm xem có quy định pháp luật nào tương ứng hay không. Mà quy định pháp luật ở đây, như tôi đã nói là quyền công dân theo điều 50, 51 thì do Hiến pháp và luật quy định, tức là nếu ghi như vậy phải có một luật về biểu tình, giống như đã có luật về báo chí.

 

RFI : Thưa ông, điu 50 ca Hiến pháp Vit Nam quy đnh nhng gì ?

Trn Vũ Hi : Điều 50 Hiến pháp quy định rằng Nhà nước Việt Nam tôn trọng và thực hiện quyền con người về chính trị, kinh tế, xã hội. Ở đây trở lại với điều 69, quy định quyền biểu tình là quyền công dân cơ bản, là quyền con người về chính trị. Quyền này lại được quy định theo pháp luật, có nghĩa là phải được quy định trong một luật biểu tình.

Nhưng luật biểu tình thì lại chưa được ban hành, mà Hiến pháp thì có từ năm 1992, thm chí t năm 1946 đến gi, khi Vit Nam đc lp, vn chưa ban hành lut biu tình. Mà ở các nước khác theo chúng tôi được biết, đều có luật biểu tình. Từ đó chúng tôi đặt câu hỏi, ở đây là trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì theo quy định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải giải thích luật, Hiến pháp và pháp lệnh. Trong trường hợp Hiến pháp đã công nhận quyền biểu tình là quyền công dân cơ bản rồi, vậy người dân có quyền thực hiện không, khi mà luật biểu tình chưa được ban hành ?

Thì đấy là một câu hỏi mà tôi nghĩ phải giải quyết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi chúng ta thấy rằng người Việt Nam ở các nước khác được quyền biểu tình, và được cảnh sát bảo vệ. Nhưng mà trên chính đất nước mình, thì lại không được cho phép một cách đàng hoàng, và có một sự không khuyến khích, thậm chí ngăn chặn người biểu tình.

 

RFI : Thưa ông, trong khi ch đi s ra đi ca lut biu tình, theo lut sư thì người dân có quyn biu tình không?

Trn Vũ Hi : Cá nhân tôi, vi tư cách mt lut sư, tôi cho rng Hiến pháp đã quy đnh quyn đó là quyn công dân, thì phi làđương nhiên. Vàđã là quyn đương nhiên thì luôn luôn phi có kh năng được thc hin. Vic Nhà nước, c th là Quc hi, chưa ban hành lut biu tình, thìđy là trách nhim ca Quc hi. Nhưng không vì Quc hi chưa làm tròn trách nhim ca mình mà công dân b mt đi cái quyn mà Hiến pháp quy đnh.

Do đó chúng tôi cho rằng quyền biểu tình là quyền đương nhiên của công dân, và suy rộng ra các quyền quy định trong Hiến pháp thì công dân đương nhiên được hưởng, và cá nhân tôi cho rng vic hưởng quyn này là vô hn. Tất nhiên nó chỉ giới hạn khi quyền đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cá nhân khác, của tổ chức khác. Vì vậy công dân chỉ cần thông báo về địa điểm, về nội dung, ý nghĩa cuộc biểu tình.

Tất nhiên ở phía chính quyền nhiều người cũng lập luận rằng thực ra việc biểu tình cũng đã được quy định trong một nghị định ban hành năm 2005. Nghị định này do Bộ Công an đề xuất, nhằm mục đích giữ gìn trật tự. Theo nghị định này thì cứ hội họp, tụ tập từ 5 người trở lên thì phải xin phép, nhưng không nói rõ là tụ tập hội họp này có mục đích gì.

Chúng tôi cho rằng biểu tình cũng là tụ tập, hội họp nhưng mang tính chất chính trị, và đó là một quyền ghi trong Hiến pháp nên việc biểu tình không thể do nghị định trên điều chỉnh được. Bởi vì bản thân nghị định đó cũng không căn cứ vào Hiến pháp, mà lại căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ, và do Bộ Công an đề xuất. Trong khi đó lại chưa có luật biểu tình, như tôi đã phân tích. Chỉ có luật mới được quy định về quyền biểu tình của công dân, chứ nghị định không thể thay thế được luật. Và rõ ràng trong nghị định đấy không đề chữ biểu tình mà đề tụ tập thôi. Cho nên tôi nghĩ rằng nghị định đấy không phải là cơ sở để xin phép, cho phép hay là từ chối người dân biểu tình được, mà phải có luật biểu tình.

 

RFI : Ngay c ngh đnh đó chc cũng không có my người biết ?

Trn Vũ Hi : Theo tôi, nghị định đấy ít khi được áp dụng, nhưng mà có một nghị định năm 2010 thì lại nói vấn đề xử phạt. Tức là người nào mà tụ tập hội họp, sử dụng còi, loa v.v… ở nơi công cộng mà không được phép thì sẽ bị phạt từ năm trăm ngàn đến một triệu đồng, và bị tịch thu các phương tiện… thậm chí có thể bị tạm giữ về hành chính. Nghị định này cũng do ngành công an đề xuất, như vậy là phục vụ cho việc giữ trật tự, chứ không phải cho việc bảo đảm quyền của công dân.

Thì đúng là nhiều người không biết thật, và cũng ít khi áp dụng thật. Nhưng một ngày nào đấy người ta sẽ áp dụng. Lúc đó người dân sẽ đặt vấn đề, không, chúng tôi biểu tình là có mục đích chính trị. Biểu tình là ủng hộ hoặc phản đối một chính sách, một hành động nào đó, không phải là tụ tập để vui chơi giải trí hay là như anh Cường đô-la là để khoe xe, vân vân. Đó là những tụ tập không mang tính chất chính trị. Do đó không thể áp dụng được đối với chúng tôi.

Tuy nhiên cũng nói thật rằng cho đến hiện nay chưa có một vụ nào, một hành vi nào được coi là biểu tình trái phép ở Việt Nam cả. Những người tham gia biểu tình cũng bị xử lý, nhưng các cơ quan công an, an ninh lại đề xuất xử lý ở các hành vi khác chứ không phải hành vi biểu tình.

RFI: Thưa lut sư, trong tình hình Bin Đông đang căng thng hin nay , s ra đi ca lut biu tình có th giúp cho người dân VN bày t quan đim ca mình đng thi làm chính quyn bt e ngi không ?

Trn Vũ Hi : Ở đây tôi nghĩ khác một chút. Không chỉ có luật biểu tình, mà các luật khác cần phải được ban hành nếu liên quan đến quyền công dân Việt Nam. Bởi vì Việt Nam đã long trọng tuyên bố, đó là các quyền công dân phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, các khế ước mà Việt Nam đã tham gia. Cá nhân tôi cho rằng những luật như luật về hội, về quyền được thông tin, về biểu tình, hội họp v.v…đều cần phải được ban hành. Và điều đó theo tôi cũng giúp cho chính phủ về nhiều mặt cả đối nội cũng như đối ngoại. Các phản ứng của người dân thì chính quyền cần được biết, từ đó điều chỉnh lại chính sách của mình, rút ra những sai lầm, và thậm chí trừng trị những người đã gây ra những sai lầm đó.

Đấy là về đối nội. Còn về đối ngoại, rõ ràng là khi có những sự việc như Biển Đông, thì người dân có toàn quyền thể hiện ý kiến của mình, bằng các cuộc biểu tình có trật tự, ôn hòa, và được Nhà nước bảo vệ. Tất nhiên ở đây chúng tôi cũng hiểu rằng về đối ngoại thì Nhà nước cũng e ngại. Nhưng nếu Nhà nước nói rằng người dân đang thực hiện luật biểu tình, chúng tôi không thể từ chối được. Nhà nước không tiến hành tổ chức biểu tình, thậm chí cũng không khuyến khích biểu tình, nhưng không thể từ chối được, vì đây là quyền công dân. Như vậy phía Trung Quốc hay phía nào đó không thể nói rằng Nhà nước khuyến khích biểu tình để bài Hoa, bài Trung Quốc.

Nếu có luật biểu tình, nhân dân được tự do thể hiện tinh thần yêu nước, thì tôi nghĩ rằng không chỉ hàng nghìn, mà hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn người sẽ tham dự. Đó cũng là một sức mạnh to lớn, thế giới nhìn vào sẽ thấy rằng người Việt Nam rất yêu hòa bình, nhưng cũng không chấp nhận bất kỳ một thế lực nào xâm phạm đến chủ quyền đất nước. Ngày 2/9/1945 khi Việt Nam mới độc lập thì cũng đã có hàng triệu người tham gia mít tinh biểu tình.

Tôi nghĩ những vấn đề lớn đụng chạm đến chủ quyền, đến tinh thần dân tộc, thì bất kỳ người Việt Nam nào cũng bức xúc. Các thế lực khác nhìn thấy sự thể hiện của người dân cũng phải e ngại, phải chùn bước, phải tính toán, và tốt nhất là không tìm cách tiếp tục gây hấn đối với một dân tộc sẵn sàng thể hiện ý chí của mình như vậy. Chính phủ cũng sẽ được giảm nhẹ trong vấn đề đàm phán với đối tác. Chính phủ sẽ nói rằng chúng tôi làm theo ý dân. Dân chúng tôi yêu cầu như vậy, chúng tôi đang chịu sức ép như vậy. Và chúng tôi yêu cầu các anh, cho dù có là đồng chí, có cùng hệ tư tưởng hay không, cũng phải chấp nhận những yêu cầu mà người dân đặt ra, mà cũng là yêu cầu chính đáng của Việt Nam.

 

RFI Vit ng xin chân thành cm ơn lut sư Trn Vũ Hi, đã vui lòng dành thì gi tr li phng vn ca chúng tôi hôm nay.

 

.

.

.

VÔ KẾ KHẢ THI ! [bài số 1] (Bằng Phong Đặng Văn Âu)

Tháng Bảy 5, 2011

 

Vô kế khả thi! [bài số 1]

Bằng Phong Đặng Văn Âu

10:16:pm 04/07/11

http://www.danchimviet.info/archives/38177

 

Tình trạng hiện nay Việt Nam suy đồi về đạo đức, về văn hóa và đang đối diện với nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng là hậu quả tất yếu do Đảng Cộng Sản Việt Nam gây nên. Cộng Sản độc quyền cai trị một nửa Đất Nước dưới cái tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1954 và toàn cõi Đất Nước dưới cái tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ năm 1975 cho đến nay. Trách nhiệm này không thuộc về Đảng Cộng Sản thì thuộc về tay ai?

 

Ai là nhà lãnh đạo du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Đất Nước? Ai là người tạo ra bộ máy độc tài toàn trị bằng khủng bố, bằng hạ thấp phẩm giá con người? Ai là người cha đẻ tập đoàn cầm quyền hiện nay? Nhất định người đó là ông Hồ Chí Minh, đúng không?

 

Tài liệu lịch sử đã chứng minh quá rõ ràng ông Hồ Chí Minh không phải là người thực tâm tranh đấu cho nền độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam giống như những nhà cách mạng khác. Ông Hồ chỉ là người tha phương cầu thực kiếm sống bằng nghề làm bồi tàu thủy của Thực dân Pháp, rồi làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa của Thực dân với mục đích phục vụ quân xâm lược. Không đủ khả năng tự nuôi thân, ông Hồ gia nhập Quốc tế Cộng sản vừa được trả lương hàng tháng, vừa được tiếng tăm nhờ mang danh nghĩa nhà “giải phóng dân tộc” do Liên Xô chỉ đạo. Khi đưa tay tuyên thệ gia nhập Quốc tế Cộng Sản, ông Hồ phải thề tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng Sản do Nga lãnh đạo, tức là ông phải yêu nước Nga. Dù thâm tâm ông Hồ có muốn yêu nước Việt Nam đi nữa thì cái chủ nghĩa quốc tế cũng không cho phép ông ta thực hiện. Thế thì tại sao cứ bảo ông Hồ là người yêu nước Việt Nam? Có quá nhiều bằng chứng để khẳng định ông Hồ không phải là người yêu nước Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam.

 

1/ Nếu là người yêu nước thật sự, không ai nỡ giết người quốc gia vùng lên chống Pháp. Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho đàn em thủ tiêu lãnh tụ Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông A của Duy Dân và vô số đảng viên, tín đồ của các tổ chức cách mạng, tôn giáo chống Pháp. Lãnh tụ Nguyễn Thái Học của Quốc Dân Đảng bị Thực dân đưa lên đoạn đầu đài vào ngày 16 tháng 6 năm 1930 ở Yên Bái, nên đảng viên Quốc Dân Đảng còn biết ngày thọ tử của đảng trưởng mình để tưởng niệm. Nếu ông Nguyễn Thái Học không bị giết bởi bàn tay Thực dân Pháp thì sau này cũng sẽ bị ông Hồ thủ tiêu mà đảng viên không thể biết đảng trưởng của mình chính xác bị giết ngày nào để làm lễ tưởng niệm. Nhà cách mạng Phan Bội Châu được nhân dân Việt Nam kính yêu cũng bị ông Hồ đem bán cho Thực dân Pháp!

 

2/ Nhà cách mạng Phan Chu Trinh chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” là một quốc sách mà bất cứ nhà lãnh đạo nào muốn cho xứ sở mình tiến bộ, văn minh, thịnh vượng đều phải thực hiện. Ông Hồ thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị dân bằng biện pháp đào tận gốc trốc tận rễ các thành phần xã hội gồm “trí, phú, địa, hào” mà trí thức được đặt lên hàng đầu phải diệt. Trí tuệ là tinh hoa, là tài nguyên quý báu của dân tộc, còn giá trị hơn cả các loại khoáng sản như vàng, bạc, kim cương, dầu hỏa… Bọn đi cướp nước người luôn luôn đặt trọng tâm vào việc tiêu diệt trí tuệ dân tộc bị trị. Vậy ông Hồ có phải là người Việt Nam chủ tâm xây dựng tương lai Việt Nam?

 

3/ Việt Nam là một nước bé nhỏ nằm cạnh anh khổng lồ Phương Bắc luôn luôn nuôi dã tâm đồng hóa lân bang, nhưng Việt Nam tồn tại được là nhờ cái khí phách bất khuất “thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” của các bậc anh hùng. Bần cùng sinh đạo tặc, đói ắt đầu gối phải bò. Bị bỏ đói, con người mất nhân phẩm thì khí phách cũng không còn. Ông Hồ Chí Minh thi hành chính sách hộ khẩu, dùng miếng ăn để hành hạ con người là một hình thức tiêu diệt khí phách của dân tộc Việt Nam.

 

4/ Người làm chính trị phải biết rằng không một quốc gia nào yêu thương dân tộc khác mà tự nguyện giúp đỡ vô điều kiện một cách rộng rãi. Ông Hồ đi xin thực phẩm, khí giới của Nga Tầu để có phương tiện giết hại dân mình là mầm nô lệ ngoại bang đã bắt đầu. Huống chi nước Tầu là nước luôn luôn nuôi dã tâm đồng hóa dân ta? Trong hiệp định Gèneve năm 1954, Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai áp lực Hà Nội phải chấp nhận vỹ tuyến 17 thay vì vỹ tuyến 13 làm ranh giới chia đôi đất nước là đủ để thấy “cái đểu” của Tầu. Liên Xô và Trung Cộng dàn quân hai bên bờ Hắc Long Giang để thanh toán lẫn nhau, cả thế giới đều biết. Ông Hồ vẫn mù quáng tin tưởng mãnh liệt vào tình nghĩa giữa các nước xã hội anh em. Nếu ông Hồ là người thực tâm yêu nước mình thì ông phải bắt tay với người anh em cùng huyết thống ở Miền Nam để cùng kiến tạo xứ sở; chứ không đòi đốt cháy cả dẫy Trường Sơn.

 

5/ Ông Hồ bản chất quỷ quyệt, nham hiểm, độc ác, đạo đức giả, được Đệ tam Quốc tế đào tạo thành cán bộ tình báo với nhiệm vụ bành trướng Đế quốc Đỏ. Khát khao của ông là làm cha già dân tộc, nhưng ngu xuẩn vì thiếu gì kẻ tình nguyện đứng tên mà phải giả danh Trần Dân Tiên viết sách ca tụng mình? Các nhà viết sử sẽ đi tìm tung tích Trần Dân Tiên, cái âm mưu của ông Hồ tất nhiên sẽ bị bại lộ. Khi cướp được chính quyền trong tay, ông Hồ xây dựng một bộ máy cai trị chỉ có thể đẻ ra những thuộc cấp xu nịnh, ngoan ngoãn vâng lời, vì nếu có kẻ nào trái ý ông là bị quy tội phản động ngay. Phạm tội ác tầy trời trong cải cách ruộng đất, ông vờ diễn tuồng khóc lóc tỏ dấu hối hận, nhưng tiếp theo sau đó lại phạm vào những tội ác diệt phong trào nhân văn, chỉnh phong, xét lại chống đảng. Ông bảo: “Người dân có quyền đuổi chính phủ”, nhưng không bao giờ ông cho phép người dân dùng lá phiếu tự do lựa chọn người lãnh đạo. Đó là sự xảo quyệt của ông Hồ.

 

Nói tóm lại, trong cuộc sống riêng cũng như công, ông Hồ có những hành động mờ ám, khuất tất, nói một đường làm một nẻo, nên cuối đời ông bị bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ khống chế là đương nhiên, vì gieo gì thì gặt nấy. Lớp lãnh đạo kế thừa đều mang đầy đủ tính xảo quyệt, độc ác như ông Hồ. Họ tiếp tục dùng bộ máy đàn áp, khủng bố do ông Hồ lập lên để cai trị, bất chấp sự tiến bộ của nhân loại và khát vọng tự do dân chủ của nhân dân. Chỉ khác một điều là ông Hồ mơ làm “cha già dân tộc”; còn các lãnh đạo mới này thì tham tích lũy tiền bạc bằng hành vi ăn cắp, ăn cướp, tham nhũng.

 

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc và nhà lý luận chính trị Hà Sĩ Phu thì Việt Nam ngày nay mất văn hóa hoàn toàn. Một dân tộc bị mất văn hóa được coi như mất nước. Tệ hơn nữa là coi như bị diệt chủng, vì bản sắc dân tộc không còn. Đó là thành tích “đào tận gốc, trốc tận rễ” các thành phần xã hội “trí, phú, địa, hào” do ông Hồ Chí Minh thực hiện. Năm 1958 ông Hồ ra lệnh cho Thủ tướng Phạm văn Đồng viết thư gửi cho Chu Ân Lai thừa nhận vùng biển mà Trung Cộng bảo rằng thuộc về Tầu là bằng cớ rõ ràng ông Hồ là kẻ bán nước. Nếu không có lệnh của ông Hồ, chắc chắn Phạm văn Đồng không thể tự động viết cái thư đó.

 

Mặc dầu Việt Nam bị Trung Cộng dạy cho bài học vào năm 1979, năm 1988; mặc dầu được Hoa Kỳ chìa tay ra bắt nhiều lần, Cộng Sản Việt Nam vẫn kiên trì đi theo con đường cộng sản. Cái lập luận “Di với Hoa Kỳ thì giữ được nước, nhưng mất đảng; còn đi với Trung Cộng thì mất nước, nhưng giữ được đảng” là một lập luận hết sức ngu xuẩn, bởi vì một khi nước đã mất thì làm sao còn đảng?

 

Thắng được Việt Nam Cộng Hòa, Cộng sản tưởng mình vô địch, đế quốc nào cũng phải khiếp sợ (lời Lê Duẩn). Trong hồi ký Võ Nguyên Giáp thắc mắc tại sao Hoa Kỳ đang oanh tạc dữ dội, Hà Nội sắp sửa đầu hàng thì cuộc dội bom lại ngưng. Đây là lý do để giải tỏa thắc mắc của ông Giáp: Hoa Kỳ không muốn đánh gục Miền Bắc. Bởi vì Hoa Kỳ nhận thấy chủ thuyết “domino” không còn cần thiết nữa, cộng sản không còn là mối đe dọa cho vùng Đông Nam Á và bởi vì Hoa Kỳ muốn sau này sẽ sử dụng cả nước Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng. Không phải Hoa Kỳ có tài tiên tri, nhưng Hoa Kỳ đã nghiên cứu lịch sử Tầu. Họ đã biết dã tâm của Đại Hán luôn luôn bành trướng. Thế nào Việt Nam cũng phải cần đến sức mạnh của Hoa Kỳ để bảo vệ Tổ Quốc (trong một bài tới người viết sẽ chứng minh Hoa Kỳ không phản bội VNCH như một số tác giả Việt Nam lên án).

 

Thêm một chứng minh nữa để nói rằng Hà Nội không phải vì tài giỏi mà chiến thắng Miền Nam. Cao Mên nhỏ và yếu hơn Miền Nam mà Hà Nội đánh không thể thắng, cuối cùng đành phải rút quân về vì Trung Cộng không ủng hộ. Sự kiện đó cho thấy Hà Nội thắng khi được Trung Cộng giúp và thua khi bị Trung Cộng chống. Đưa ra sự kiện này để cộng sản hiểu rằng họ chỉ là con cờ, là tay sai dùng máu xương của dân mình để thực hiện ý đồ của ngoại bang mà thôi, chứ không phải Cộng Sản Việt Nam vô địch. Khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” là chiêu bài để thu hút lòng yêu nước, yêu tự do; chứ không phải là mục tiêu để Cộng Sản Việt Nam tiến tới. Bởi vì một khi bị nô lệ tư tưởng, tự đặt mình trong hệ thống quốc tế thì sự độc lập hay quyền dân tộc tự quyết sẽ không còn.

 

Xưa kia cha ông chúng ta chẳng được nước nào giúp sức, nhưng từng đánh bại anh khổng lồ phương Bắc là nhờ sự đoàn kết. Cộng sản bắt chước Thực dân, dùng chính sách chia rẽ dân tộc để mãi mãi ngồi trên chiếc ghế thống trị, thì nay phải nuốt nhục quỵ lụy kẻ thù để tiếp tục vơ vét tài sản dân chúng và tài nguyên quốc gia. Cục diện thế giới ngày nay đã khác. Chẳng có cường quốc nào dám ngang nhiên xâm lăng kẻ khác, bởi vì tính liên lập giữa các quốc gia và liên đới về quyền lợi hỗ tương. Trung Cộng dù mạnh, dù hung ác cũng chẳng thể nào đơn phương khoanh vùng biển ngăn cấm tầu thuyền các nước khác giao thông. Vậy thì Trung Cộng có gì đáng sợ nếu người cầm quyền biết làm bạn một cách chân thành với thế giới. Muốn được xem như người bạn chân thành là khi đặt bút ký tuân thủ các quy ước quốc tế thì phải nghiêm chỉnh thi hành; chứ không phải dùng xảo ngôn, trí trá để nói quanh.

Lâu nay bộ máy tuyên truyền của cộng sản cứ phịa ra những thành tích chống Pháp, đánh Mỹ để tự cho minh có vị thế chính thống (legetimacy) trong việc cai trị. Họ không cho người dân được phép bày tỏ quan điểm, chính kiến, ngay cả bày tỏ lòng yêu nước. Lấy lời dạy của Trường Chinh Đặng Xuân Khu rằng đảng cộng sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì đảng cộng sản sẽ dùng bào lực để giữ chính quyền là không còn thích hợp nữa. Bởi vì bạo lực chỉ dùng được khi mà trong nội bộ đảng còn có sự đoàn kết nhất trí, còn niềm tin vào lý tưởng cộng sản. Người nhận lệnh thi hành bạo lực mất niềm tin vào sự bền vững của chế độ thì không thể nào dám mạnh tay vì sợ sau này bị nhân dân trả thù.

 

Hiện nay, dù không ở trong chăn, người Việt cũng biết trong cái chăn cộng sản đầy rận. Trương Tấn Sang cũng bảo nồi canh cộng sản đầy sâu. Người cộng sản 95 tuổi, từng làm Đại sứ Việt Nam tại Trung Cộng nhiều năm như Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã sáng mắt nhìn thấy cái dã tâm của Trung Cộng. Cộng Sản Việt Nam đang cùng một lúc đối diện với con ác thú khát mồi phương Bắc, đối diện với 80 triệu người dân nghèo khổ muốn vùng lên đòi quyền sống và đối diện với sự phân hóa nội bộ giữa phe muốn đi với Hoa Kỳ để cứu nước và phe ôm chân Trung Cộng để cứu đảng. Ngoài ra, do sự làm ăn mờ ám để ăn cắp chắc chắn sẽ đưa đến khủng hoảng kinh tế. Do đó mầm loạn sẽ xảy ra.

 

Cách đây một thập niên, nguy cơ mất Tổ Quốc giống như nước đã tới chân mà lãnh đạo cộng sản không chịu nhảy, dù được nhiều nhà ái quốc cảnh báo. Bây giờ nước đã ngập tới cổ, họ vẫn khư khư ôm cái độc quyền thống trị thì cái chết của Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Họ nằm chờ chết, bởi vì bộ máy điều hành việc nước do ông Hồ lập ra chỉ có những kẻ mánh mung, khôn khéo uốn mình chờ dịp ngôi lên địa vị lãnh đạo; chứ không thể sản sinh ra người lãnh đạo có bản lĩnh, có tầm nhìn để cứu nước. Hơn nữa, những người gọi là “cách mạng lão thành” như các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đặng văn Việt… và các trí thức phản kháng vẫn còn quyến luyến, thương tiếc Hồ Chí Minh lại càng khó lòng làm cho Việt Nam thoát ra khỏi vũng lầy hiện nay.

Ai ai cũng thấy rõ tình trạng bế tắc của Việt Nam hiện nay là hậu qua tất yếu do ông Hồ Chí Minh mang lại. Nếu người cầm quyền đến người phản kháng còn mang cái não trạng “tín ngưỡng” Hồ Chí Minh thì không ai (kể cả người Mỹ) có kế nào để hiến cho Việt Nam tìm đường ra. Bao lâu xác ông Hồ còn nằm ở quảng trường Ba Đình, tượng ông Hồ còn đặt ở vị trí tôn nghiêm, Việt Nam còn nằm trong bàn tay Trung Cộng.

 

Ngoại trừ tổ tiên ta linh thiêng nhiều quyền phép, hóa độ cho một nhân vật vô danh nào đó bỗng dưng trở thành Phù Đổng hoặc trở thành Tề Thiên Đại Thánh có khả năng tận diệt loài yêu tinh, Việt Nam mới có cơ may tồn tại. Nhược bằng tổ tiên cũng đành bó tay, Việt Nam sẽ một lần nữa biến thành Giao Chỉ Quận, bởi vì … vô kế khả thi.

 

Orange County, California, ngày lễ kỷ niệm Độc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7 năm 2011.

 

© Bằng Phong Đặng văn Âu

© Đàn Chim Việt

.

.

.

VỤ THAM NHŨNG TIỀN POLYMER : CÓ PHẦN CỦA BỘ CÔNG AN CỘNG SẢN VIỆT NAM (Lê Minh)

Tháng Bảy 5, 2011

 

Vụ tham nhũng RBA: có phần của Bộ Công An CSVN

Lê Minh

01:39:pm 04/07/11

http://www.danchimviet.info/archives/38164

 

Cuộc điều tra vụ tham nhũng RBA của cảnh sát Úc ngày càng có thêm nhiều thông tin và tiến triển mới. Sau khi bắt giữ 2 kẻ môi giới tại Mã Lai, thì hôm thứ Sáu 1/07 cảnh sát liên bang Úc đã bắt giữ sáu quan chức nắm giữ 3 chức danh quan trọng là Tổng Giám Đốc điều hành, Tổng quản Tài chánh và Tổng quản Thương Mại-Tiếp thị của hai công ty Securency và Note Printing Australia (NPA). Hai ngày sau tại Đức, theo lời yêu cầu của Úc, cảnh sát Đức đã bắt giữ một cựu giám đốc thương mại của NPA là Christian Boilott.

 

Đây là một loạt các hoạt động điều tra toàn cầu mà cảnh sát liên bang Úc đang tiến hành trong vụ án tham nhũng của kỹ nghệ in tiền nhựa Polymer của Úc.

 

Gần đây ngoài việc nêu đích danh quan chức Việt Nam cao cấp có liên đới là cựu thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy thì báo chí Úc cũng đã nêu rõ lai lịch của tay môi giới Lương Ngọc Anh.

 

Lương Ngọc Anh không chỉ đơn thuần là cựu tổng giám đốc của CFTD, mà thật ra là một đại tá (chuyên ngành tình báo?) của bộ công an. Các tài liệu nội bộ của cơ quan thương mại Austrade đã cho thấy Đại tá Lương Ngọc Anh là “người có mối quan hệ họ hàng trong nhiều cơ quan của chính phủ”, trong khi bố của anh ta có nhiều mối quan hệ sâu rộng và bố vợ là Bộ trưởng bộ công an Lê Hồng Anh.

 

Để cho thấy tầm quan trọng của tay môi giới này, các tài liệu của Úc cho biết cơ quan Austrade và nhân viên ngoại giao đoàn Úc tại Hà Nội đã có nhiều buổi gặp gỡ và tiếp xúc với anh ta. Chỉ riêng khoảng từ 1999 đến 2001 đã có 18 buổi tiếp xúc như vậy. Mọi sự việc liên quan đến nhân vật này đều đặc biệt và hơn hẳn các nhân vật môi giới tại những nước khác. Khác với những con số được đưa ra trước đây, nay báo chí Úc cho biết số tiền được trả trung gian qua tay Đại tá Lương Ngọc Anh là $20 triệu đô. Đây là số tiền được cho là lớn nhất trong tất cả các số tiền mà Securency đã chi trả cho các quan chức ngân hàng nước ngoài. Con số $20 triệu đô trên tổng giá trị hợp đồng $125 triệu đô cũng là món “lại quả” đậm nhất, hơn hẳn con số 10% mà trước đây ai ai cũng nghĩ rằng đó là “thông lệ”. Trước đây khi nói về việc “lại quả” đậm cho Lương Ngọc Anh và các quan chức Việt Nam, nhà báo Bill Hayton (BBC) từng giải thích rằng “vì mối quan hệ (của Lương Ngọc Anh) thuộc loại… cao cấp mà có lẽ các mối làm ăn khác không thể bì được”.

Đại tá Lương Ngọc Anh cũng hưởng khoảng 20-30% của số tiền “huê hồng” này, tức là khoảng $5triệu đô. Chắc chắn một mình anh ta không thể ẳm hết số tiền này được. Vậy còn lại khoảng $15 triệu đô đã đi về đâu? Nhất định là có phần của cha con Lê Đức Thúy – Lê Đức Minh.

 

Một cựu nhân viên của Securency có ghi lại trong cuốn sổ tay của mình mẩu đối thoại với Đại tá Lương Ngọc Anh trong một buổi thảo luận là “Ông Thống đốc Ngân hàng sẽ vui hơn nữa nếu quý vị chịu chi (trả) thêm tiền huê hồng”.

 

Securency đã ưu ái, tiếp đón hậu hĩnh để làm vui lòng ông Thống đốc cũng như các quan chức ngân hàng trong những chuyến đến Úc. Đôi khi những nhân viên PR của Securency được yêu cầu giúp tìm kiếm “mấy em chân dài người Á Châu” cho các vị Thống đốc và Phó thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam. Một nhân viên nam của Securency còn kể lại lời yêu cầu của cấp trên: “Lần tới khi vị khách này đến đây thì tôi cần anh giúp tìm cho ông ta một nữ bảo vệ (vừa nói vừa nháy mắt ra hiệu), loại bảo vệ đặc biệt ấy mà,… anh hiểu chứ. Phải là người Á Châu nhé”.

 

Trong số những kẻ được chia chác, thì phải kể đến một số cổ đông của CFTD như Đỗ Minh Thương, một chuyên viên cao cấp của hai Bộ Ngoại Giao và Bộ Công Thương, và cũng là đại diện của Việt Nam tại một cơ quan của Liên Hiệp Quốc. Đi xa hơn nữa, chắc chắn phải có phần của bố Lương Ngọc Anh và ông bộ trưởng công an, bố vợ của anh ta và nhiều quan chức cao cấp khác nữa.

 

Hồ sơ điều tra cũng cho biết vào năm 2007 Securency đã chi tiền để nhờ người môi giới và một số cán bộ ngân hàng của Việt Nam bay sang tận Venezuela giúp thuyết phục quan chức ngân hàng nước này chuyển đổi tiền giấy sang tiền nhựa Polymer. Điều này lại trùng hợp với chuyến đi của phái đoàn TBT Nông Đức Mạnh đến thủ đô Caracas của Venezuela vào ngày 30/05/2007 để hội kiến với Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội của Venezuela và nhiều quan chức, thành viên trong chính phủ. Hơn một năm sau đó, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng dẫn một phái đoàn sang Venezuela vào ngày 19/11/2008.

 

Cơ quan đóng vai trò đắc lực trong việc giới thiệu Securency với môi giới tại các quốc gia là cơ quan đại diện thương mại Úc Austrade. Trường hợp của đại diện trưởng AusTrade tại Nam Mỹ và Việt Nam là một điển hình. Tuy cho đến nay chưa có đại diện trưởng nào của AusTrade bị bắt, nhưng hầu hết các cựu đại diện trưởng của AusTrade tại Việt Nam đều được cảnh sát Úc thẩm vấn. Được biết, trong số các đại diện trưởng của AusTrade tại Việt Nam trước đây có bà Lê Vi, một phụ nữ Úc gốc Việt (nhiệm kỳ 6/1996 – 7/1999). Bà cũng là phu nhân của Pete Peterson, cựu đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam (1997 – 2001).

 

Mối quen biết giữa Đại tá Lương Ngọc Anh với cơ quan AusTrade kéo dài hơn 10 năm kể từ năm 1998. Từ năm 2002, Ngọc Anh và công ty CFTD của hắn chính thức trở thành môi giới cho Securency. Vào tháng 11 năm 1999, hắn được cơ quan này mời sang Úc tham dự một buổi hội thảo về thị trường Việt Nam. Ngoài ra hắn còn là khách quý của Tòa Đại sứ Úc tại nhiều buổi chiêu đãi. Chưa hết, vào tháng 8 năm 2008, Lương Ngọc Anh còn được AusTrade mời làm thành viên trong kỳ họp thường niên của phái đoàn Ủy ban Hỗn hợp về Hợp tác Thương mại và Kinh tế Úc – Việt (JTEC), mặc dầu chỉ trước đó mấy tháng vị đại diện trưởng của AusTrade đã cảnh báo về sự liên hệ của Lương Ngọc Anh với Bộ Công an. Thậm chí ngay sau khi báo The Age lên tiếng về vụ bê bối tại Securency vào tháng 5 năm 2009, Đại tá Anh vẫn còn tiếp tục gặp gỡ với các quan chức ngoại giao của Tòa Đại Sứ Úc đến 2 lần.

 

Sự liên can của Bộ Công an CSVN thông qua Đại tá Lương Ngọc Anh trong việc môi giới cho Securency in tiền nhựa Polymer đã quá rõ ràng.

Trong một diễn biến khác, khi đánh dấu tròn 1 năm ngày hai nhân viên của hãng hàng không Qantas trở về từ “địa ngục Việt Nam” sau khi bị giam lỏng hơn 6 tháng để “phục vụ điều tra”, báo Herald đã nhắc lại vụ việc này với nhiều chi tiết chưa hề được tiết lộ trước đây.

 

Trong số hôm nay, báo Herald cho biết đã tiếp cận được 18 bức điện đánh đi từ Việt Nam liên quan đến chi tiết các cuộc thương lượng để giải thoát cho hai nhân viên Qantas. Trong số này có 12 bức điện thuộc loại “nhạy cảm” có nhiều chi tiết liên quan đến việc thương lượng mặc cả, được hãng Qantas yêu cầu Bộ Ngoại Giao Úc giữ kín, vì không muốn ảnh hưởng đến mối quan hệ với đối tác Việt Nam, trong khi 6 bức điện còn lại cũng được kiểm duyệt gắt gao. Bộ Ngoại Giao cũng quan ngại việc tiết lộ những chi tiết này sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ với Việt Nam. Chi tiết “nhạy cảm” mà Qantas muốn giấu nhẹm là số tiền to lớn phải chung chi cho Bộ công an để đổi lấy sự tự do cho hai nhân viên của hãng.

 

Chi tiết duy nhất được tiết lộ là cuộc điều tra và thương lượng cũng như tuyên bố trả tự do cho hai nhân viên Qantas đều do Thiếu tướng công an Trần Trung Dũng cục trưởng Cục An ninh điều tra (A92) cầm đầu, cùng với một đại tá công an của cục này.

 

Nhắc thêm vụ việc này để chúng ta thấy được quyền lực và sự can dự sâu rộng của Bộ Công an trong các vụ việc có liên quan đến tài chánh, tiền bạc.

 

Sydney, ngày 4/07/2011

© Lê Minh

© Đàn Chim Việt

 

———————————–

 

VỤ TIỀN POLYMER LIÊN QUAN TỚI TÌNH BÁO VIỆT NAM ? (BBC)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/vu-tien-polymer-lien-quan-toi-tinh-bao.html

 

VỤ BÊ BỐI HỐI LỘ LOANG RỘNG TỚI ĐẠI TÁ TÌNH BÁO VN LƯƠNG NGỌC ANH (The Age)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/vu-be-boi-hoi-lo-loang-rong-toi-ai-ta.html

 

VIỆT NAM HOÀN TOÀN IM LẶNG VỀ CÁO BUỘC VỚI ÔNG LÊ ĐỨC THÚY (BBC)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/viet-nam-hoan-toan-im-lang-ve-cao-buoc.html

 

6 VIÊN CHỨC ÚC BỊ BẮT GIỮ LIÊN QUAN TỚI VỤ BÊ BỐI SECURENCY (Lê Minh)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/6-vien-chuc-uc-bi-bat-giu-lien-quan-toi.html

 

.

.

.

TIN & BÀI NGÀY 4-7-2011

Tháng Bảy 5, 2011

 

TIN & BÀI NGÀY 4-7-2011

.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG THỂ ĐÒI ĐƯỢC CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA (Nguyễn Nghĩa 650)

HIỂM HỌA TRUNG QUỐC (Huỳnh Trọng Hiếu)

PHÂN HÓA NỘI BỘ – HOA KỲ CHƯA ĐÁNH ĐÃ THẮNG (Nguyễn Quang Duy)

KHÔNG THỂ CỨ TIẾP TỤC QUYẾT ĐỊNH THAY CHO NHÂN DÂN (Song Chi)

LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ & DI DÂN VIỆT NAM (Giao Chỉ)

VIDEO : NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY TẠI CALIFORNIA

NHẬT KÝ ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY 3-7-2011 TẠI HÀ NỘI (Hoàng Xuân Phú)

TOÀN VĂN TUYÊN CÁO TẠI NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI NGÀY 3-7-2011

KIẾN NGHỊ BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TQ

IM LẶNG MẶC CẢ BẰNG TỔ QUỐC (Phan Nguyễn Việt Đăng)

BƯỚC VÀO NGƯỠNG CỬA NƯỚC MỸ – NHÂN NGÀY ĐỘC LẬP 4-7 (Mường Giang)

LỊCH SỬ NGÀY ĐỘC LẬP HOA KỸ

NGÀY HIỆP CHÚNG QUỐC HOA KỲ RA ĐỜI (BS Lê Văn Lân)

VỤ TIỀN POLYMER LIÊN QUAN TỚI TÌNH BÁO VIỆT NAM ? (BBC)

TIN & BÀI NGÀY 3-7-2011

.

.

.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG THỂ ĐÒI ĐƯỢC CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA (Nguyễn Nghĩa 650)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đòi được chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa

Nguyễn Nghĩa 650 (danlambao)

4-7-2011

http://danlambaovn.blogspot.com/2011/07/ang-cong-san-viet-nam-khong-oi-uoc-chu.html

 

 

..Nếu ta gọi bán nước là không bảo vệ tính bất khả xâm phạm của biên cương, hải đảo quốc gia Việt Nam trước các thế lực xâm lược ngoại quốc thì Đảng và nhà nước CSVN đã 5 lần bán nước…. Trong hoạch định biên giới phía bắc với Trung Quốc đã bỏ đi một vùng đất tổ tiên để lại, tương đương với một tỉnh Việt Nam. Phái đoàn thảo luận của Bộ ngoại giao Việt Nam, với “tinh thần hữu nghị” cùng hệ tư tưởng vô sản, đã cắt cho Trung Quốc Ải Mục Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, cao điểm 1509 Hà Giang… Họ đã bán nước lần thứ 6

 

 

*

 

I. CHỦ NGHĨA DÂN TỘC CỦA NƯỚC VIỆT NAM PHONG KIẾN 8 LẦN ĐÁNH THẮNG TRUNG QUỐC PHONG KIẾN XÂM LƯỢC.

 

Ta xét trên một mặt bằng phát triển xã hội: chế độ phong kiến.

 

Dân tộc Việt Nam chỉ dựa vào sức mạnh dân tộc đã 8 lần chiến thắng quân phong kiến xâm lược phương bắc, nếu ta tính từ triều Ngô (939-965).

 

Đó là:

 

(1). Ngô Quyền đại phá quân Nam hán ở Bạch đằng, giết thái tử Hoằng Thao hiệu Giao Vương/ Giao chỉ Vương.

 

(2). Thập đại tướng quân Lê Hoàn đã giết tướng giặc Hầu Nhân Bảo cùng quá nửa đại binh nhà Tống ở ải Chi lăng. Trên sông thì tái lập trận Bạch đằng, tiêu diệt hải quân địch. Sau đó Lê Hoàn sai Đinh Thừa Chính cùng 9 thuyền chiến, 300 tráng quân, sang tận Liêm châu (Quảng đông) tiếp đón sứ giả làm cho nhà Tống sợ khiếp vía.

 

(3). Lý Thường Kiệt là phụ quốc thái úy, đã đoán trước ý định tập trung quân của nhà Tống đđánh Việt Nam. Ông đã đánh thẳng sang Trung quốc đến các châu Khâm, Liêm, tiêu hao sinh lực địch.

 

Khi nhà Tống tiếp tục đánh Việt Nam, Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến sông Cầu cự giặc.

 

Bài thơ:

 

“Nam quốc sơn hà nam đế cư.

Tuyệt nhiên định phận tại THIÊN THƯ.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.

Như đẳng hành khan thủ bại hư”.

 

tương truyền do ông sáng tác. Là tuyên ngôn độc lập bất hủ của dân tộc Việt Nam đối với bành trướng Trung quốc.

 

(4).(5).(6). Là 3 lần đại phá quân Nguyên của nhà Trần. Vua Trần Nhân Tông đã rõ ràng chỉ mặt bành trướng Trung quốc và dặn dò di chúc: cái họa lâu đời của ta là họa Trung hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhủ này như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau.

 

(7). Lê Lợi kháng chiến thành công sau 10 năm lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Để cho giặc Minh về đến nước mà vẫn tim đạp chân run, ra đến biển vẫn hồi xiêu phách lạc.

 

(8). Quang Trung đại phá 30 vạn quân Thanh năm Kỷ dậu 1789 tại Hà nội. Tổng binh Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy không kịp thắng yên ngựa. Vua Nguyễn Huệ đã: “Đánh cho để răng đen. Đánh cho để tóc dài. Đánh cho chúng trích luân bất phản. Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn”. Đánh cho Càn Long, một vua của Mãn thanh nổi tiếng tinh thông binh pháp phải thán phục.

 

Lần thứ (9) là năm 1979, chiến tranh biên giới phía bắc “Dậy cho Việt Nam một bài học.”

 

Cả 8 lần, Trung quốc đều dùng sức mạnh tổng hợp.Từ lực lượng chính binh đông áp đảo, trang bị vũ khí đầy đủ, đến tác chiến phối hợp thủy lục quân, đánh k binh tập hậu, đánh cả thủy quân… Nghĩa là sử dụng tất cả sức mạnh kĩ thuật lẫn binh pháp trung quốc.

 

Trong tất cả 8 lần kháng cự quân xâm lược, Việt Nam đều sử dụng lực lượng đoàn kết toàn dân,không có cả tiếp viện bên ngoài, đã chiến thắng oanh liệt cả 8 lần, lập nên những tranh sử chống ngoại xâm chói lọi, làm nên tự hào Việt Nam.

 

Đây là nội dung chính của Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Luôn chuẩn bị sẵn sàng trước bành trướng Trung quốc. Luôn coi chúng là kẻ ngoại xâm, rình dập nền độc lập dân tộc Việt Nam. Luôn giáo dục toàn dân lòng cảnh giác trước họa xâm lăng Trung quốc. Khi phải đối diện với xâm lược, thì phải bảo vệ đến cùng biên cương hải đảo Việt Nam, bằng sức lực toàn dân tộc, bằng đoàn kết toàn dân. Vua quan, tướng sĩ, trên dưới một lòng như cha với con.

 

Ai xa rời Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, ai coi thù là bạn, người ấy sẽ thất bại thảm hại.

 

Hồ Quí Ly là một ví dụ. Hồ Nguyên Trừng đã từng nói: Thần không sợ giặc mạnh, chỉ sợ lòng dân không theo.

 

Những chiến thắng thần kỳ của dân tộc Việt Nam không những lập nên những trang vàng chói lọi trong lịch sử hào hùng của dân tộc, là lòng tự hào của người Việt Nam, mà còn là một đóng góp lớn cho cộng đồng các dân tộc trên thế giới.

 

Cùng với các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam góp phần khẳng định chân lý: Nếu 1 dân tộc dù nhỏ, nhưng biết đoàn kết một lòng trước họa ngoại xâm, thì không một nước lớn nào có thể đè bẹp họ được.

 

II. ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC.CHỦ NGHĨA BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC. THẤT BẠI BẢO VỆ BIÊN CƯƠNG HẢI ĐẢO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

 

Đảng cộng sản Trung quốc thành lập tháng 6/1921.Lực lượng lãnh đạo nòng cốt của ĐCS TQ thời gian đầu là lớp các đảng viên được đào tạo, học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Liên xô. Năm 1935, tại hội nghị Tuấn nghĩa, Mao dành quyền chủ động lãnh đạo. Từ đó ban lãnh đạo ĐCS TQ có mầu sắc dân tộc và bá quyền truyền thống Trung Quốc.(Học thuyết Bá đạo, do Thương Ưởng đề nghị với Tần Hiếu Công có nội dung: Dùng quân đội mạnh để xâm lược các nước khác. Dùng sức mạnh tàn bạo của hình phạt, trong thì bắt nhân dân Tần thần phục, ngoài thì bắt nhân dân các nước bị chinh phục phải qui phục. Lý lẽ do sức mạnh tạo nên. Chính nghĩa trong tay kẻ mạnh).

 

Như vậy, trên mặt bằng tư tưởng, Đảng cộng sản Trung quốc ngoài áo khoác CN Mác-Lênin, còn có Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bá đạo nước lớn.

 

Đảng cộng sản Việt Nam thành lập 3/2/1930 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Cho đến 1945, khi dành chính quyền, Đảng cộng sản Việt Nam tuy có chung hệ tưởng với Đảng cộng sản Trung quốc, vẫn có tính độc lập của mình trong hạt động do Đảng cộng sản Trung quốc đang bận bịu với cuộc chiến Quốc-Cộng.

 

Nhờ tính độc lập này, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời 2/9/1945 với bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trên quảng trường Ba đình lịch sử.

 

Từ 1950, Đảng cộng sản Trung Quốc không ngừng tác động vào chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam thông qua viện trợ quốc tế vô sản. Cải cách ruộng đất là một chính sách sai lầm mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm theo lệnh của các cố vấn Trung Quốc. Viện trợ quốc tế vô sản đã phát huy tác dụng.

 

Sự mơ hồ của ĐCS VN là do không thấu hiểu bản chất của Chủ nghĩa quốc tế vô sản là che dấu bản chất đế quốc của các nước cộng sản lớn, đối với các nước cộng sản nhỏ thông qua cái gọi là viện trợ quốc tế vô sản vô tư, vì mục đích thắng lợi cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Đảng cộng sản Việt Nam đã xa rời Chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Đặt ý thức hệ cộng sản lên trên hết.

 

Các hệ lụy của nó thể hiện qua các sự việc sau:

 

1. Năm 1954, thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng ký vào văn bản hội nghị Ge-nè-ve đồng ý chia cắt Việt Nam làm 2. Đây là chủ ý của Trung quốc, do trực tiếp Chu Ân Lai thực hiện. Trung quốc không muốn có một nước Việt Nam thống nhất, hùng mạnh bên biên giới phía nam của họ.

 

2. Công hàm của thủ tướng Việt Nam 14/9/1958 trả lời thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ngày 4/9/1958, công nhận chủ quyền của Trung Quốc với Hoàng Sa, Trường Sa.

 

3. Im lặng khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm hoàn toàn Hoàng sa 1974.

 

4. Để Trung Quốc chiếm cứ cao điểm 1509 Hà giang bằng vũ lực 1984, không thông báo cho nhân dân Việt Nam biết.

 

5. Không quyết tâm giữ một số đảo ở Trường Sa, để Trung Quốc chiếm bằng vũ lực 1988.

 

Nếu ta gọi bán nước là không bảo vệ tính bất khả xâm phạm của biên cương, hải đảo quốc gia Việt Nam trước các thế lực xâm lược ngoại quốc thì Đảng và nhà nước CSVN đã 5 lần bán nước.

 

Như thế kể từ khi theo chủ nghĩa Mac -Lênin, xa rời chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, ngoại trừ tháng 8/1945, Đảng cộng sản Việt Nam luôn 5 lần thất bại trong việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam trước bành trướng Trung Quốc. Trong hoạch định biên giới phía bắc với Trung Quốc đã bỏ đi một vùng đất tổ tiên để lại, tương đương với một tỉnh Việt Nam. Phái đoàn thảo luận của Bộ ngoại giao Việt Nam, với “tinh thần hữu nghị” cùng hệ tư tưởng vô sản, đã cắt cho Trung quốc Ải Mục Nam Quan, một nửa thác Bản Giốc, cao điểm 1509 Hà Giang… Họ đã bán nước lần thứ 6.

 

III. GIÀN KHOAN CNOOC 981. GIẢI MÃ BÌNH MINH2, VIKING II. THẤT BẠI CỦA TRUNG QUỐC TẠI SHANGRI-LA.THƯỢNG NGHỊ SĨ J.McCAIN

 

Ngày 23/5/2011, CNOOC (tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia TQ) tiếp nhận giàn khoan CNOOC 981, một giàn khoan khổng lồ để đưa vào phục vụ khai thác dầu khí trên biển Đông. Giàn khoan CNOOC 981 có số tiền đầu tư lên tới 923 triệu USD và có khả năng khai thác ở độ sâu 3.000m dưới biển, trong khi công suất các giàn khoan hiện có của Trung Quốc chỉ khai thác được ở độ sâu 500m. Giàn khoan trên sẽ được lắp đặt ở Biển Đông và đưa vào vận hành vào tháng 7/2011.

 

Giàn khoan này đã được đặt xây dựng từ 3 năm trước, năm 2008, tại 1 xưởng đóng tầu ở Trung Quốc. Để chuẩn bị khai thác Biển Đông, tháng 9/2009, Trung Quốc đệ lên LHQ bản đồ “lưỡi bò trung quốc” chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông.

 

Tháng 1/ 2010 Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc nói về “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc ở Biển Đông.

 

Tất cả để chuẩn bị dư luận cho việc triển khai giàn khoan khủng 981 trên Biển Đông.

 

Tháng 7/2010, ngoại trưởng Hoa Kỳ đã ngăn cản kế hoạch bành trướng này bằng tuyên bố: Hoa Kỳ có quyền lợi quốc gia, an ninh hàng hải ở Biển Đông.

 

Trung Quốc đối phó bằng một loạt các động tác như tập trận với Bắc Hàn tại biển Hoàng Hải. Công bố thành công chế tạo máy bay tàng hình, tầu sân bay…

 

Sau cuộc thăm Hoa Kỳ 1/2011 của Hồ Cẩm Đào, Trung Quốc đã hiểu Hoa Kỳ và có đối sách ở Biển Đông. Chính sách của Hoa K ở Biển Đông có thể tóm tắt trong 5 điểm sau:

 

1. Hoa Kỳ quan tâm đến an ninh hàng hải quốc tế.

 

2. Hoa Kỳ ủng hộ các giải pháp tranh chấp lãnh hải, lãnh thổ bằng hòa bình và sẵn sàng

tham gia các đàm phán.

 

3. Hoa Kỳ đảm bảo an ninh cho các đồng minh Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Phillipines.

 

4. Hoa Kỳ không can thiệp vào các bên trong tranh chấp lãnh hải, lãnh thổ ở châu Á, Biển Đông.

 

5. Sự hiện diện của Hoa Kỳ tại châu Á, Biển Đông là lâu dài và có tính chiến lược.

 

Những chính sách này cũng được Bộ trưởng quốc phòng R. Gates phát biểu trên đường đi đến, và trong hội nghị Shangri-La, Singapor 6/2011.

 

Đối sách của Trung Quốc được BCT ĐCS TQ đề ra, theo tôi phán đoán có nội dung như sau.

 

1. Tung ra khẩu hiệu “AN NINH cho hàng hải quốc tế. Chủ quyền đường lưỡi bò cho Trung Quốc. Như Trung Quốc đã từng tung khẩu hiệu: Cùng khai thác, chủ quyền của Trung Quốc.

 

2. Các lực lượng khiêu khích trên Biển Đông sẽ khoác áo dân sự như Hải giám, Ngư chính… Kiềm chế các xung đột.

 

3. Tạm thời hòa hoãn với Nhật, Nam Hàn. Bắt nạt Phillipine. Ép, cướp chủ quyền của Việt Nam. Tương tự như kế sách của nước Tần với nước Tề và Ngụy thời chiến quốc.

 

4. Cố gắng trong giai đoạn đầu khi chủ quyền “đường lưỡi bò” chưa được thiết lập vững chắc không khiêu khích Hoa Kỳ.

 

5. Chơi ván cờ vây với Hoa Kỳ lâu dài: Sau khi có đối sách, Trung Quốc triển khai kế hoạch đưa chủ quyền đường lưỡi bò vào thực tế.

 

Chuẩn bị cho giàn khoan hoạt động.Kế hoạch này, ta giải mã như sau.

 

Trước hết phải có chính danh.

 

Để có chính danh, Trung Quốc có ý định tại hội nghị Shangri-La sẽ tung ra tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc là “đường lưỡi bò”. Tuyên bố này sẽ do chính Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc đọc để biểu hiện tính “cốt lõi” của nó.

 

Sau đó phải dọa dẫm để không nước nào dám phản kháng bằng quân sự đối với hoạt động khoan dầu hỏa của giàn khoan 981 tại Biển Đông.

 

Trung Quốc đã chuẩn bị kế hoạch này kỹ lưỡng.

 

Đầu tiên, phía Trung Quốc tỏ ý quan tâm đến Shangri-La từ 3/2011. Họ chuẩn bị một phái đoàn hùng hậu có sự tham gia của cả Lương Quang Liệt và Tổng tham mưu quân đội Trung Quốc. Các hội đàm song phương phô trương sức mạnh Trung Quốc được lên kế hoạch. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tham gia hội nghị này.

 

Để dư luận Hoa Kỳ yên tâm, không phá đám, tháng 5/2011 Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc thăm dài ngày Hoa Kỳ và phát biểu nhiều về “hòa bình,” về sự trỗi dậy một cách hòa bình của Trung Quốc ngay cả trên Biển Đông.

 

Trung Quốc càng tự tin hơn khi biết chính Bộ trưởng R.Gates sẽ tham gia hội nghị. Như vậy là chính sách của Hoa Kỳ chưa có thay đổi gì.

 

Tiếp đến là tạo cớ và tạo thế cho Bộ trưởng Lương Quang Liệt nói về đường lưỡi bò và chủ quyền của Trung Quốc tại Shangri-La.

 

Để làm việc này, Trung Quốc gây ra vụ tầu Bình minh: tầu hải giám Trung Quốc cắt cáp của tầu Bình minh 2 ngay trong hải phận 200 hải lý của Việt Nam vào ngày 26/5/2011.

 

Tính toán của Trung Quốc là Việt Nam sẽ im lặng.

 

Tính toán này dựa trên,

 

1.Công hàm 14/9/1958 của Phạm Văn Đồng im lặng về tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với Hoàng sa, Trường sa.

 

2. Việt Nam im lặng khi Trung Quốc cướp Hoàng sa 1974.

 

3. Phải ứng của Việt Nam 1988 khi Trung Quốc chiếm của Việt Nam một số đảo ở Trường sa là yếu ớt và không đáng kể.

 

4. Năm 2009 Việt Nam cũng im lặng khi Trung Quốc cắt cáp tầu Việt Nam làm dự án trình LHQ trong lãnh hải Việt Nam

 

5. Nghị sự của Shangri-La đã khép lại, Việt Nam muốn đưa ra bàn nghị sự một vấn đề mới là phải vượt qua nhiều thủ tục.

 

6. Việt Nam vừa bầu cử Quốc hội được 3 ngày, chưa có kết quả. Chưa có phân công, phận nhiệm chính thức. Phản ứng mạnh trước vụ việc thì nghiêm trọng hóa, ai chịu trách nhiệm khi Trung Quốc trở mặt. Lãnh đạo Việt Nam chắc sẽ thiên về giải pháp “Việc to hóa thành nhỏ”. Vài ngay qua đi, Biển Đông không có gì lạ.

 

Địa điểm cắt cáp tầu Bình minh 2 chắc là giao thoa của lưỡi bò Trung Quốc và lãnh hải 200 hải lý Việt Nam.Logic sự việc giúp ta suy luận như vậy.

 

Nếu Việt Nam im lặng, không phản đối gì hay chỉ dừng ở một họp báo nhẹ nhàng là Trung Quốc thắng trên thế đứng ngoại giao.

 

Tại Shangri-La Bộ trưởng Trung Quốc sẽ tuyên bố “đường lưỡi bò” là hải phận Trung Quốc trên Biển Đông.

 

Họ sẽ tuyên truyên trong các đàm phán song phương là Việt Nam đã đồng ý với chủ quyền này của Trung Quốc. Bằng chứng là sự im lặng của Việt Nam trong vụ cắt cáp tầu Bình minh2.

 

IM LẶNG LÀ ĐỒNG Ý, IM LẶNG LÀ CÔNG NHẬN là như vậy. Như công hàn của Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 đã im lặng về chủ quyền Hoàng sa, Trường sa.

 

Trung Quốc sẽ gieo vào các nước đang tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc về một Việt Nam sợ Trung Quốc, thỏa thuận ngầm với Trung Quốc.

 

Đoàn kết quốc tế của ASEAN sẽ không xây dựng được. Nước nọ nghi ngờ nước kia.

 

Tất cả các tính toán của Trung Quốc đều đúng, và nước Việt Nam cộng sản chắc sẽ im lặng như họ mong muốn,

 

… Nếu không

 

Đúng là nếu không có vụ án 4/4/2011, ngày Tòa án Nhân dân Hà nội xét xử Cù Huy Hà Vũ.

 

Ngày hôm ấy, hàng trăm người Việt Nam đã bất chấp hàng rào đông nghịt những công an, mật vụ, đã tụ tập theo dõi phiên tòa theo lời kêu gọi của các trang mạng dân chủ. Chính quyền cộng sản đã thật sự hoảng sợ. Việc huy động hàng trăm công an, mật vụ, các phương tiện hiện đại chống biểu tình như máy phá sóng phôn tay, ôtô có vòi rồng đàn áp… nói lên điều đó.

 

Nhân dân Việt Nam đã không còn sợ như trước nữa, đã nắm lấy vận mạng tổ quốc.

 

Trong tình hình như vậy, việc làm nhỏ đi một sự việc quốc gia trọng đại: tầu Trung Quốc vào sâu hải phận Việt Nam, ngang ngược cát cáp tầu Bình minh2, chắc chắn sẽ không được phong trào dân chủ để yên, chắc chắn không được nhân dân Việt Nam để yên.

 

Sợ hãi phản ứng của nhân dân Việt Nam, của phong trào các trang mạng dân chủ Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã phản ứng vội vàng bằng cuộc họp báo của PVN 28/5/2011.

 

Về phần lãnh đạo CSVN, ta phân tích:

 

 

1. Nguyễn Tấn Dũng vừa bị Vinashin, vụ án Cù Huy Hà Vũ, nền kinh tế chao đảo, đồng tiền mất giá.. làm mất uy tín. Chắc sẽ: Việc vi phạm chủ quyền, cắt cáp tầu Bình minh2 trong hải phận Việt Nam, qui về đụng độ nhỏ. Mà 16 chữ, 4 tốt là chủ trương lớn của nhà nước, của ĐCSVN.

 

2. Nguyễn Phú Trọng thì ta hiểu ông ta. Một người thân Trung Quốc, sẽ phát biểu truyền thống: Biển Đông không có tầu lạ.

 

3. Trương Tấn Sang. Do câu phát biểu về “bầy sâu, con sâu” mà lũ “sâu con” đã cố tình hạ uy tín của viên ủy viên thường trực BCT này, lờ tịt công bố kết quả phiếu bầu trong bầu cử quốc hội, trong lần công bố đầu tiên. Căn cứ vào mối lo “bầy sâu” làm “chết cái đất nước này” của ông ta, thì vụ phản đối Trung Quốc cắt cáp tầu Bình minh 2, chắc do ông ta đạo diễn.

 

Các trang mạng dân chủ Việt Nam, các hãng truyền thông quốc tế lập tức đưa tin. Nhiều bình luận mạnh mẽ được phát hành.

 

Phản ứng bất cập, bị động. Bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: các cơ quan chức năng Trung Quốc đang thực hiện chức năng bình thường trong phần lãnh hải Trung Quốc.

 

Tôi cho rằng: chắc Trung Quốc đã chuẩn bị nội dung phát biểu này kĩ lưỡng.

 

Nhưng không phải bây giờ, sau vụ tầu Bình minh2, mà phải sau một vụ khiêu khích khác trong tương lai, cũng trong lãnh hải Việt Nam. Nhất thiết phần lãnh hải này phải giao với “đường lưỡi bò Trung Quốc” để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở lưỡi bò này.

 

Chắc chắn phải sau Shangri-La, phải sau khi Lương Quang Liệt tuyên bố “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc tại Biển Đông là “đường lưỡi bò”.

 

Tuyên bố đánh tráo hải phận của Việt Nam thành của Trung Quốc đã thức tỉnh lòng yêu nước của người dân Việt Nam. Các trang mạng dân chủ đồng loạt kêu gọi xuống đường biểu tình vào ngày 5/6/2011. Cả Việt Nam sôi động. Cả ASEAN sôi động.

 

Không khí này đã làm Lương Quang Liệt chắc chắn phải thay đổi nội dung bài phát biểu. Bài phát biểu của ông ta phải quay lại chủ điểm cũ rích, đã hát nhiều năm nay “Trung Quốc trỗi dậy một cách hòa bình”.

 

Thất bại của Trung Quốc tại Shangri-La là thất bại có tính chiến lược.

 

Bao giờ mới có cơ hội thứ 2 để Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò của Trung Quốc trên Biển Đông ?.

 

Công bố chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc tại một hội nghị quốc tế là một yêu bức thiết để có bằng chứng pháp luật, để có thể tranh luận với Việt Nam.Việt Nam đã có công bố như thế này trong hội nghị San Francisco 1951 do thủ tướng của Việt Nam Trần Văn Hữu tuyên bố.

 

Quan trọng hơn cả là việc danh chính ngôn thuận về chủ quyền lưỡi bò trên Biển Đông. Trấn áp các nước đang tranh chấp trên Biển Đông, để đưa giàn khoan 981 đến Biển Đông. Để gác tranh chấp cùng khai thác.

 

Như con bạc khát nước, càng thua càng cay cú, Trung Quốc lập một thế cờ mới mạo hiểm, đánh đu trên sợi dây chiến tranh-hòa bình, nhằm trả đũa thất bại Shangri-La, nhằm dọa dẫm Việt Nam.

 

Ngày 9/6/2011, Trung Quốc cho tầu vào cắt cáp của tầu VIKINH II trong hải phận Việt Nam.

 

Lần này ý định của Trung Quốc đã bị trung tướng Việt Nam Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược quốc tế giải mã: họ khiêu khích để Việt Nam nổ súng trước, để quay phim chụp ảnh. Những thước phim này dùng chứng minh tính hiếu chiến của Việt Nam.

 

Tầu Trung Quốc cắt cáp của tầu VIKINH II là tầu đánh cá có 2 tầu ngư chính hộ vệ kèm.

 

Các trang mạng dân chủ phản ứng tích cực. Những lời kêu gọi xuống đường phản đối Trung Quốc được đưa ra. Các cuộc xuống đường liên tiếp của thanh niên Việt Nam, nhân đân Việt Nam trong bạo lực cường quyền các ngày 9/6, 12/6 19/6… đã gây cảm hứng cho một người Hoa Kỳ quan trọng. Người này là Thượng nghị sĩ J.Mc Cain. Sống trong không khí thảo luận Shangri-La về Trung Quốc. Sống trong những ngày mà các mưu mẹo bành trướng Biển Đông của Trung Quốc được các nhà bình luận quốc tế phân tích tỉ mỉ, vị Thượng nghị sĩ uy tín này đã có nhận định mới, thay đổi chính sách Hoa Kỳ tại Biển Đông.

 

Ông đã nhận ra các vụ tranh chấp gần đây trên Biển Đông là do những yêu cầu chủ quyền vô lý của Trung Quốc về đường lưỡi bò, về Hoàng Sa, Trường Sa.

 

Ông đã hiểu thâm ý của Trung Quốc sau câu “an ninh hàng hải cho Hoa Kỳ, chủ quyền đường lưỡi bò Biển Đông cho Trung Quốc” là tiềm ẩn những tranh chấp sau này cho Hoa K.

 

IV. HỘI THẢO AN NINH BIỂN ĐÔNG CSIS ở WASHINGTON. PHÁT BIỂU CỦA THƯỢNG NGHỊ SĨ J.Mc CAIN. TẬP TRẬN TRUNG QUỐC-VIỆT NAM. THỨ TRƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ XUÂN SƠN.

 

Hội thảo về An ninh Hàng Hải ở Biển Đông do Trung tâm nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) tổ chức ở thủ đô Washington đã kết thúc hôm thứ Ba, 21 tháng Sáu. Trong phần trao đổi khá sôi nổi vào lúc cuối ngày, một số câu hỏi đã được nêu lên với các diễn giả chính, kể cả những thắc mắc về bản đồ hình chữ U, vẽ vùng biển mà Trung Quốc đòi chủ quyền; và vì sao Hà Nội không phản đối Bắc Kinh hồi năm 1974, khi Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa sau một cuộc chiến ngắn với hải quân Việt Nam Cộng hòa.

 

Hầu hết những người phát biểu, ngoại trừ các đại diện của Trung Quốc, đều cho rằng những lập luận được dùng làm cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc trên phần lớn diện tích Biển Đông, không có tính thuyết phục.

 

Đây là đồng thuận mà trước đây trong các hội thảo về Biển Đông chưa đạt được.

 

Chính nghĩa Việt Nam trên Biển Đông chưa bao giờ cao như sau hội nghị.

 

Trong bài diễn văn đọc tối thứ hai (20 tháng 6, 2011) tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ở Washington, Thượng nghị sĩ McCain, đề cập tới bản đồ chín vạch — phía Việt Nam thường gọi một cách diễu cợt là đường lưỡi bò, mà Trung Quốc đưa ra để đòi chủ quyền của 80% vùng biển rộng lớn chạy dài từ phía đông của miền bắc Việt Nam cho tới phía bắc của Philippines, và nói thêm rằng những giải thích cụ thể của Trung Quốc về luật pháp quốc tế sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải.

 

Chắc chắn những quan điểm của Thượng nghị sĩ J.Mc Cain sẽ có ảnh hưởng lớn đến chính sách Hoa Kỳ trên Biển Đông trong tương lai gần.

 

Ảnh hưởng của TNS J.Mc Cain đã có kết quả ngay.

 

Thượng viện Mỹ đưa ra nghị quyết chỉ trích việc các tàu hải quân Trung Quốc “sử dụng vũ lực” trên tuyến hàng hải thiết yếu này.

 

Nghị quyết này kêu gọi Mỹ nên tiếp tục có hành động quân sự để bảo vệ tự do hàng hải trong khu vực.

 

Trung quốc sẽ phải hoạch định lại đối sách của mình.

 

Chắc chắn Hoa Kỳ sẽ không chịu nuốt con cóc xấu xí: An ninh hàng hải cho Hoa Kỳ, đường lưỡi bò cho Trung quốc.

 

Việt Nam đã giành được một vị thế tốt trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải, rộng hơn là niềm tin vào lẽ phải của đấu tranh chủ quyền Hoàng sa, Trường sa với Trung quốc.

 

Nhưng vị thế này một lần nữa lại bị chính phủ Việt Nam cố tình sợ Trung Quốc, không lợi dụng để đấu tranh vì chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

 

Việc gây hấn là do Trung Quốc tiến hành: 2 lần cắt cáp trong lãnh hải Việt Nam ; Tuyên bố ngang ngược địa điểm cắt cáp thuộc chủ quyền 200 hải lý của Việt Nam là của Trung Quốc.

 

Phản ứng của Bộ ngoại giao Việt Nam là tự nhiên hợp lẽ phải.

 

Phản ứng xuống đường của thanh niên, trí thức, nhân dân Việt Nam 5 lần liên tiếp 5/6 12/6 19/6 26/6 3/7/2011, là hợp lẽ phải, là phản ứng tự nhiên.

 

Mọi nước có chủ quyền đều làm như vậy.

 

Nếu tầu hải quân Việt Nam và Trung Quốc có kế hoạch tuần tra chung trong vùng biển Vịnh Bắc bộ theo thỏa thuận đã ký giữa hai bên từ năm 2005, thì Việt Nam cần hủy bỏ việc tuần tra chung này.

 

Làm như vậy là phản ứng một cách hòa bình, có kiềm chế. Phân định đúng sai, thái độ rõ ràng.

 

Báo Quân đội Nhân dân nói hai tàu HQ375 và HQ376 thuộc Đoàn M62 (Vùng D Hải quân) đã “hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ được giao” là tham gia cuộc tuần tra liên hợp trong hai ngày 19/06-20/06 với tàu Trung Quốc.

 

Việc tiến hành tuần tra chung theo kế hoạch của tầu Việt Nam và hải quân Trung Quốc là hành động bất bình thường.

 

Người dân bị mất phương hướng. Các loại thông tin mờ ám thịnh hành.

 

Đảng CSVN đã tự làm yếu thế đứng của Việt Nam.

 

Sau sự việc tuần tra chung, Việt Nam còn gửi thứ trưởng BNG Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc thảo luận nhằm “hạ nhiệt” tình hình.

 

Ai gây căng thẳng? Trung Quốc.

Ai đang bị thế giới lên án ? Trung Quốc.

Động tác giúp Trung Quốc “hạ nhiệt” chỉ nói lên chính phủ Việt Nam cố tình giúp Trung Quốc thoát hiểm vì nước cờ bành trướng ngang ngược sai lầm.

 

Đảng cộng sản Việt Nam đã một lần nữa nhận kẻ thù làm anh em.

 

Những thông tin trái ngược của 2 phía một lần nữa đã đặt ĐCS VN vào vị trí mập mờ như công hàm 14/9/1958.

 

Việt Nam cố tình không rút kinh nghiệm quá khứ, cố tình mập mờ giải quyết với Trung Quốc việc chủ quyền lãnh hải Việt Nam.

 

Ngày 4/7/2011 đã có Kiến nghị do một số trí thức Việt Nam yêu cầu BNG VN trình bầy minh bạch những thỏa thuận của thứ trưởng Hồ Xuân Sơn tại Trung Quốc.

 

Đây là việc làm rất thông minh. Cần lấy minh bạch thông tin chống lại sự mập mờ của ĐCS VN.

 

Làm chủ thông tin là một làm chủ đất nước.

 

Người dân Việt Nam có quyền như vậy.

 

KẾT LUẬN.

 

Bài viết góp một phân tích về các vụ tàu Bình minh 2, Viking II, hội nghị Shangri-La nhằm đi vào bộ não chiến lược của Trung Quốc.

 

Nhằm biết người, biết đối phương.

 

Bài viết cũng phân tích các kết quả mà dân tộc Việt Nam hứng chiụ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, đặt ý thức hệ cộng sản cao hơn chủ quyền quốc gia. Xa rời chủ nghĩa dân tộc Việt Nam.

 

Tất cả nhằm hiểu mình, hiểu các việc làm trong bóng tối của ĐCS VN.

 

Bài viết nhấn mạnh đến vai trò Hoa Kỳ, đến TNS J.Mc Cain trong công cuộc đấu tranh cho thế giới hiểu về tranh chấp chủ quyền VN-TQ.

 

Biết người, biết mình, biết phản ứng của thế giới, của Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đòi hiệu quả chủ quyền của Hoàng Sa, Trường Sa.

 

Nếu ĐCS VN tiếp tục lãnh đạo dân tộc Việt Nam thì cuộc chiến chủ quyền biển đảo còn nhiều thất bại.

 

 

Nguyễn Nghĩa 650 (danlambao)

danlambaovn.blogspot.com

.

.

.

HIỂM HỌA TRUNG QUỐC (Huỳnh Trọng Hiếu)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Hiểm họa Trung Quốc

Huỳnh Trọng Hiếu

12:01:am 04/07/11

http://www.danchimviet.info/archives/38130

 

Dân tộc Đại việt xây dựng văn minh bên bờ sông Hồng với những nét văn hóa đặc trưng của người Phương Nam. Sỡ dĩ nói đó là những nét văn hóa đặc trưng của người Phương Nam bởi lẽ: Xưa kia vùng đất mà người Âu Lạc (Âu Việt và Lạc Việt) sinh sống không phải ở bên bờ sông Hồng mà hai sắc dân này xuất xứ và tồn tại trong cộng đồng người Bách Việt ở bờ Nam sông Trường Giang thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc. Nơi đây có sự pha tạp giữa nhiều bộ tộc với những phong tục tập quán khác biệt với người Hán phía Bắc.

 

Vào thời Chiến quốc, hai nước Ngô – Việt (thuộc Bách Việt) có xu hướng tham gia sâu sắc vào chính trường Trung Quốc để rồi sau đó bị Hán hóa. Việc thôn tính và đồng hóa được hai nước Ngô – Việt tạo điều kiện thuận lợi cho người Hán tiến xa hơn về phía Nam để thực hiện ý đồ mở rộng lãnh thổ Trung Hoa nhằm tìm kiếm tài sản, khoáng vật quý giá ở vùng đầm lầy. Người Hán trở thành mối hiểm họa cho dân tộc Âu Lạc từ thời đó.

 

Hầu hết các bộ tộc người Việt cổ đều bị Hán hóa sau khi nhà Tần thống nhất Trung nguyên và có chính sách đẩy mạnh dân Hán nhập cư xuống phía Nam. Trong đó có một dân tộc duy nhất không bị đồng hóa là người Âu Lạc – tổ tiên của người Việt Nam hiện nay. Triều đình Phương Bắc kể từ lúc xây dựng văn minh bên bờ sông Hoàng Hà đã không ít lần sử dụng vũ lực để thôn tính và đồng hóa người Lĩnh Nam nhưng mọi âm mưu, mọi kế hoạch đều bị chúng ta đánh bại.

 

Để khẳng định tính độc lập về chủ quyền và chủng tộc, Bình Ngô Đại Cáo đã ghi: “Từ Đinh, Triệu, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Trong suốt chiều dài lịch sử, người Hán chưa bao giờ từ bỏ ý định thôn tính, khuất phục, cai trị mảnh đất phía Nam và từ đó đồng hóa chủng dân Đại Việt như những dân tộc khác. Và cũng nhiều lần dân tộc Đại Việt phá vỡ âm mưu thống trị bá quyền và cho người Hán thấy được sự vượt trội của mình. Các tư liệu lịch sử ghi lại những trận thảm bại của quan quân triều đình Phương Bắc là một minh chứng hùng hồn cho trí tuệ và nỗ lực của người dân vùng đất Phương nam.

 

Tạm không bàn về chuyện quá khứ để suy nghĩ về tương lai. Thế giới ngày hôm nay được tạm hiểu là thế giới vì sự thịnh vượng chung toàn nhân loại. Đời sống của mỗi cá nhân được chú trọng và là thước đo cho tính văn minh của một quốc gia. Hầu hết, mọi quốc gia trên Thế giới đều có xu hướng hợp tác cùng phát triển để giải phóng con người, chú trọng đến đời sống vật chất và tinh thần nhằm xây dựng một đời sống tốt đẹp, nhân bản. Tuy nhiên, bên cạnh lối ứng xử tốt đẹp đó, vẫn còn tồn tại một số nước muốn áp đặt sự cai trị hà khắc lên các quốc gia khác để cướp bóc và thực hiện ý đồ bá quyền của mình. Những lối tư duy phản động đó đã gây nên sự bất ổn ở nhiều khu vực trên Thế giới mà Biển Đông đang là trung tâm của những tranh chấp và bất ổn.

 

Trung Hoa – là một quốc gia có truyền thống về việc tước đoạt quyền sống và độc lập của những nước nhỏ yếu, sau một thời gian bị xâu xé, đầy đọa trong tủi nhục, giờ đây đã và đang vươn lên trở thành một siêu cường trên thế giới. Với những thuộc tính cố hữu và tư duy phục thù, Trung Cộng đang đẩy mạnh guồng máy chiến tranh gia tốc ở mức tối đa. Tất cả mọi phương tiện, mọi tài nguyên, nhân lực đang đổ dồn vào việc phát triển vũ khí nhằm thống trị khu vực và cả thế giới.

 

Trữ lượng dầu mỏ trên Thế giới ngày một suy giảm và đang có dấu hiệu khan hiếm, giá dầu đang ở mức cao ngất ngưởng. Hiện nay, khu vực Trung Đông là nơi chiếm trữ lượng dầu lớn nhất Thế giới nhưng tại các nơi đó, tình hình chính trị xã hội đang gặp nhiều bất ổn, không bảo đảm cho việc TQ khai thác dầu lâu dài và bền vững. Hơn nữa, từ khu vực Trung Đông để vận chuyển dầu đến Trung Quốc phải mất rất nhiều thời gian và phí tổn. Trong thời bình, TQ có thể đảm bảo được nguồn dầu để cung ứng cho nền kinh tế đang nóng của mình nhưng khi xảy ra chiến tranh hoặc có sự va chạm nào đó giữa các siêu cường quân sự thì việc vận chuyển dầu từ một nơi xa xôi như vậy sẽ gặp rất nhiều trở ngại nếu không muốn nói là bất khả thi. Có thể nói, dầu khí hiện đang là vấn đề an ninh quốc gia hàng đầu của Trung Cộng (còn hơn cả cách mạng Hoa Lài). Thiếu dầu, guồng máy kinh tế TQ sẽ chững lại và tiếp theo đó là bất ổn chính trị. TC phải luôn chủ động với nguồn dầu vì lý do sinh tồn của cả chế độ.

 

Biển Đông với trữ lượng dầu khí được ước tính là “vùng vịnh thứ hai” của thế giới. Với trữ lượng dầu khí lớn như vậy, nó trở thành miếng mồi ngon khiến Siêu cường TC thèm khát. TC sẽ hoàn toàn yên tâm về sự phát triển và an ninh năng lượng của mình nếu độc quyền chiếm lĩnh để khai thác nguồn lợi dưới lòng biển. Thềm lục địa VN và khu vực quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa là nơi chứa trữ lượng dầu to lớn. Hơn nữa, Biển Đông còn là hải lộ huyết mạch của cả khu vực Đông Á . Kiểm soát biển Đông giúp tàu bè TC có được cửa ngõ thuận lợi để tiến ra Đại dương và nắm sinh mệnh của cả khu vực Đông Á Thái Bình Dương. Điều còn lại là làm cách nào để cưỡng chiếm nguồn lợi đó một cách hữu hiệu nhất.

 

Việc vẽ lại bản đồ Biển đông theo hình lưỡi bò chín đoạn đã thể hiện rõ nét giả tâm muốn chiếm đoạt bất hợp pháp biển Đông của chính quyền CS TQ. Tất cả điều đó đe dọa trức tiếp đến an nguy và quyền lợi quốc gia của Việt Nam

Trước đây, đã xảy ra nhiều vụ bắn giết ngư dân VN nhưng chính quyền Hà Nội chỉ lên tiếng tượng trưng vì sợ ảnh hưởng đến tình “hữu nghị” giữa hai Đảng. Thời gian gần đây, khi xảy ra một loạt những hành vi xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng như: Hải quân TC gia tăng thực hiện những hành vi gây hấn đối với tàu bè của các nước trong khu vực gồm Philippins và VN. Đội tàu Hải giám của TC đã tìm mọi cách quấy rối, cản trở việc lưu thông trên biển thuộc đặc quyền kinh tế của VN, tiếp tục hành vi tội ác, bắn giết đe dọa ngư dân VN – những người gián tiếp hay trực tiếp bảo vệ và khẳng định chủ quyền lãnh hải VN. Những ngư dân tại Đảo Lý Sơn đã trở thành những vị anh hùng đất Việt trong thời đại ngày nay khi máu của họ hòa vào dòng biển nóng vì bị hải quân TC bắn chết, nhưng họ là những anh hùng đơn độc

 

Trước thái độ bạo ngược, kẻ cả kiểu côn đồ của Trung Cộng, chính quyền Hà Nội đã làm gì?

 

Một mặt, phát ngôn viên Bộ ngoại giao VN lên tiếng phản đối “mạnh mẽ” hành động của Hải quân TC. Mặt khác, tại trong nước Chính quyền Hà Nội ra sức trấn áp thô bạo các cuộc biểu tình, tuần hành chống TC của dân chúng VN tại Hà Nội và Sài Gòn. Các phương tiện truyền thông quốc nội đưa tin về Hồ sơ Biển Đông với tất cả sự dè dặt và thận trọng khiến người dân VN không nhận thức hết được mối nguy hiểm đang đe dọa đến an nguy dân tộc.

 

Các nước có tranh chấp trong khu vực kêu gọi Hoa Kỳ tham gia đàm phán đa phương giải quyết hồ sơ biển đông. Philippins tập trận chung với HK và vận động Thế giới lên tiếng ủng hộ, chủ quyền biển đảo của Phi. Ngược lại, VN và TQ đi đến thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng mối quan hệ song phương.Thứ trưởng bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh từng lên tiếng từ chối việc tập trận chung với HK rằng VN chưa có ý định tham gia tập trận quốc tế.

 

Chúng ta nhận thấy hành động của chính quyền Hà Nội đang có sự mâu thuẫn, đối lập khó hiểu. Họ coi trọng mối quan hệ với Đảng CS TQ hơn cả quyền lợi và an ninh quốc gia. Những phản ứng trong thời gian gần đây của chính quyền VN được xem là lấy lệ và để xoa dịu dư luận. CSVN vẫn “kiên quyết giữ vững lập trường” thương nghị hòa giải trong hòa bình, “bảo vệ tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và hai Đảng”. Không khó để nhận ra, mối quan hệ giữa VC và TC là mối quan hệ phụ thuộc, thầy trò.

 

Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, rồi đến việc khai thác quặng Bauxite tại Tây Nguyên và mới đây, Phát ngôn viên Bộ ngoại giao TC Hồng Lỗi đề cập đến sự “đồng thuận” giữa hai nước trong vấn đề Biển Đông khiến dư luận trong nước xôn xao lo lắng. Qua những vụ việc trên người ta không ai biết điều gì đang thực sự xảy ra trong mối quan hệ “đồng chí, anh em “ giữa hai đảng CS, và quyền lợi quốc gia dân tộc VN đang ở vị trí nào trong mối quan hệ đó, tất cả là một sự mờ ám

 

Điều nguy hiểm nhất, đáng sợ nhất là CS VN sẽ vì quyền lợi đảng CS và chế độ mà hy sinh quyền lợi quốc gia. Một đất nước mà giới cầm quyền không hành động vì lợi ích quốc gia mà hợp tác với kẻ thù, giúp kẻ thù dễ dàng thôn tính, chiếm đoạt đất nước mình thì chắc chắn một thời gian không xa nữa đất nước đó sẽ bị diệt vong.

 

Từ khi lập quốc, dù ngoại bang có sức mạnh to lớn đến đâu chăng nữa, sự đồng lòng đánh đuổi kẻ thù của người Việt sẽ giúp dân tộc vượt qua mọi hiểm nguy. Ngày hôm nay, người dân VN còn sợ hãi chưa dám lên tiếng bày tỏ lòng yêu nước (vì sợ chế độ đàn áp), chưa thực sự đoàn kết để chuẩn bị đối đầu với hiểm họa Bắc thuộc, trong khi đó, bộ máy lãnh đạo lại đề cao mối quan hệ “đồng chí-anh em” với kẻ thù dân tộc, luôn miệng xưng tụng “16 chữ vàng” thì hiểm họa mất nước và nguy cơ bị đồng hóa đang cận kề. Những người VN yêu nước hãy mau chóng tập hợp nhằm tìm kiếm giải pháp cho quốc gia.

 

© Huỳnh Trọng Hiếu

© Đàn Chim Việt

 

.

.

.

PHÂN HÓA NỘI BỘ – HOA KỲ CHƯA ĐÁNH ĐÃ THẮNG (Nguyễn Quang Duy)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Phân hóa nội bộ – Hoa Kỳ chửa đánh đã thắng

Nguyễn Quang Duy
12:02:pm 02/07/11
http://www.danchimviet.info/archives/38019
Ngày 27/5/2011, Đài Truyền Hình Việt Nam đưa tin tầu Bình Minh 02 đang thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam thì bị ba tầu hải giám Trung Quốc bao vây tấn công cắt dây cáp của tầu Bình Minh 02. Được biết tầu Bình Minh 02 có tầu Hải Quân theo bảo vệ. Nhưng không thấy Hải Quân có phản ứng gì khi tầu Bình Minh 02 bị tầu Trung cộng tấn công.
Ngày 9/6/2011, tầu thăm dò Viking 2 lại bị tấn công. Nghe nói tầu Hải Quân ViệtNam đã bắt giữ tầu Trung cộng. Nhưng sau đó có lệnh từ bên trên lại phải thả. Người viết sẽ mở rộng đề tài này khi bàn đến vai trò của Nguyễn Phú Trọng.
Các tin tức dồn dập tạo ra không ít hoang mang và phẫn nộ trong quần chúng ViệtNam. Người lo sợ chiến tranh sẽ xảy tới. Người khác cho rằng đảng Cộng sản đã bán đứng Việt Nam . Nhìn chung một cao trào yêu nước dậy lên trong cộng đồng người Việt trong và ngòai nước. Lần đầu tiên và liên tiếp nhiều cuộc biểu tình đã được đồng bào Hà Nội, Sài Gòn, Bà Rịa… tự động tổ chức. Nhà cầm quyền cộng sản mặc dù lo sợ Cách mạng Hoa Lài phải tìm mọi cách ngăn cản, nhưng chẳng dám thẳng tay đàn áp như những cuộc biểu tình trước đây.
Để ra vẻ chiến tranh đã kề cận nhà cầm quyền Hà Nội ra dấu hiệu Tổng Động Viên và cho Hải Quân Việt Nam thao diễn sử dụng đạn thật. Các trận “võ mồm” giữa 2 giới ngọai giao Tầu Việt liên tục xảy ra. Tình hình căng thẳng đến nỗi ngày 25/6/2011 vừa qua, nhà cầm quyền Bắc Kinh phải triệu hồi giới chức Việt đến Bắc Kinh chỉ để nhỏ nhẹn khuyên răn tranh chấp phải được giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị … “theo đúng phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Bài viết xin nêu ra 2 vấn đề (1) đảng Cộng sản Việt Nam đang trong thời kỳ phân hóa nội bộ trầm trọng và (2) Hoa Kỳ chửa đánh đã thắng cả Việt cộng lẫn Trung cộng. Nhận ra điều này để từ đó chúng ta có thể xem xét việc cần phải làm để sớm mang tự do đến cho dân tộc Việt Nam .
Trung Cộng rất ngạc nhiên trước phản ứng của Việt cộng?
Trong cuộc Hội thảo về An ninh ở Biển Đông diễn ra tại Washington ngày 20 và 21 tháng 6 vừa qua phóng viên của đài Á Châu Tự Do tham dự hội thảo cho biết giáo sư Su Hao đại diện cho Trung cộng tỏ ra ngạc nhiên về phản ứng của Việt cộng. Từ những năm 2007, Trung cộng đã từng có hành động cắt dây cáp tầu Việt Nam và tầu Ngọai Quốc thăm dò dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam . Nhưng không ai biết hay biết mà để ý đến. Nhưng bây giờ khi cắt cáp tầu Bình Minh 02 và tầu Viking 02 lại bị người Việt cả trong lẫn ngoài nước phản đối dữ dội.
Phóng viên Hà Giang Báo Người Việt đã Phỏng vấn Giáo sư Su Hao của Trung Quốc và được vị giáo sư trả lời như sau: “Chúng tôi cắt dây cáp, nhưng dây cáp này nằm ở đâu? Lãnh hải của Trung Quốc và Việt Nam chồng chéo lên nhau. Và trong quá khứ, chúng tôi đã từng làm như thế khi tầu Việt Nam đi đến vùng đánh cá của chúng tôi, đi vào vùng biển của chúng tôi, nhưng lần này Việt Nam phản ứng rất dữ dội hơn hẳn với truyền thống hành xử của họ. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên trước phản ứng này.” Phóng viên Hà Giang hỏi tiếp: “Xin hỏi lại, theo ông thì Trung Quốc rất ngạc nhiên trước phản ứng mạnh mẽ vừa rồi của Việt Nam khi hai lần bị cắt dây cáp, có phải không ạ?” giáo sư Su Hao trả lời: “Ðúng như vậy!” Lời xác nhận của giáo sư Su Hao đặt cho chúng ta nhiều câu hỏi về những mua bán giữa hai đảng cộng sản Việt – Trung để đến nỗi Bộ Chính Trị đảng Cộng sản không dám công khai hay phải làm ngơ trước những hành động xấm lấn thềm lục địa Việt Nam.
Giáo sư Su Hao còn cho biết: “Tôi có một nhận xét nữa là tuy Hoa Kỳ không là một quốc gia liên quan trong tranh chấp Biển Ðông, nhưng cuộc hội thảo này lại được tổ chức trên đất Hoa Kỳ. Tôi đoán có lẽ vì Hoa Kỳ là một cường quốc, cho nên quyền lợi của họ nằm ở khắp nơi. Hai nữa, tôi không hiểu tại sao tôi là diễn giả duy nhất từ Bắc Kinh được mời đến, trong khi đó Việt Nam được mời đến những ba diễn giả và nhiều viên chức của họ cũng đến tham dự. Ðiều này khá lý thú.” Giáo sư Su Hao chắc đã rõ tại Diễn đàn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương tổ chức ở Singapore năm ngoái, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates tuyên bố Hoa Kỳ chống lại tất cả các hành động đe dọa các công ty hoạt động trên biển. Lời tuyên bố này ám chỉ việc Các công ty dầu khí Hoa Kỳ và Anh Quốc đã phải từ bỏ nhiều hợp đồng dò tìm dầu khí với Việt Nam sau khi bị Trung cộng đe dọa.
Từ năm 2007, công ty BP của Anh quốc đã phải bỏ chạy khi đang thăm dò tại Nam Côn Sơn. Đến năm 2008, công Exxon Mobil của Hoa Kỳ cũng đã phải từ bỏ dò tìm dầu khí tại khu vực Tư Chính – Vũng Mây cũng thuộc Nam Côn Sơn. Cả hai công ty BP và Exxon Mobil đều cho biết đã bỏ dự án trên vì bị áp lực của phía Trung cộng. Vừa rồi khi công ty dầu khí Gia Nã Đại Talisman loan báo trong năm 2011 sẽ khoan thăm dò tại Nam Côn Sơn, Trung cộng lại tuyên bố địa điểm nằm trong vùng “Lưỡi Bò” do họ đơn phương vẽ ra.
Còn việc Tầu Trung cộng liên tiếp tấn công tầu thăm dò dầu khí ngay trước ngày khai mạc Diễn đàn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Hội thảo về An ninh ở Biển Đông để thăm dò phản ứng của đàn em cộng sản Việt Nam và thế lực thù địch Hoa Kỳ. Trung Cộng ngạc nhiên là phải. Họ đã tốn phí bao công bao của để cài đặt và mua chuộc người từ Bộ Chính Trị đến hạ tầng cơ sở, nay lại gặp phải những phản ứng bất lợi. Nhưng nhờ các phản ứng này chúng ta mới nhận ra đảng Cộng sản hiện đang trong thời kỳ phân hóa trầm trọng. Các đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam đang ở giữa hai còn đường phải chọn một: “theo Tầu thì mất nước, theo Mỹ thì mất đảng”. Nhiều dấu hiệu cho thấy theo Mỹ là con đường đang được đa số muốn theo.
Phản Ứng của thành viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam
Nếu cho rằng Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam có người theo Tầu có người theo Mỹthì chắc sẽ gặp không ít phản đối. Bởi lẽ cả 14 thành viên đều đã được đảng Cộng sản Tầu chọn lựa kỹ càng. Nhưng sự kiện Bình Minh 2 – Viking 2 phần nào chỉ thấy 14 thành viên này đã công khai biểu lộ sự khác biệt trong phương cách phục vụ đảng Cộng sản Tàu.
Trương Tấn Sang, người đã tự ví đảng Cộng sản như “một bầy sâu làm ‘chết’ cái đất nước này”. Nghe thế có người tin rằng Trương Tấn Sang có thể sẽ trở thành một Yetsin Việt Nam . Thế nhưng đất nước này là đất nước nào ? Đất nước ViệtNam do ông cha ta để lại hay lại là đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa mà Việt Nam chỉ là một tỉnh nhỏ của Tàu.
Trong những ngày qua chẳng thấy Trương Tấn Sang lên tiếng. Chỉ thấy ngày21/6/2011 vừa qua, nhân kỷ niệm 86 năm Ngày Báo chí Cộng Sản, Trương Tấn Sang lại tiếp tục lải nhải giọng điệu phải: “… tuyên truyền đấu tranh chống âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch …” Thật khó hiểu Sang vì phía Trung cộng lại luôn luôn tỏ ra rằng quốc gia này rất tôn trọng hòa bình. Thí dụ Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Cộng Hồng Lỗi tuyên bố “Trung Quốc luôn cam kết gìn giữ hòa bình và ổn định tại Biển Đông” hay Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt thì nói Bắc Kinh “sẽ nỗ lực vì “hoà bình”, ổn định ở biển Đông”… Trong bài diễn văn tại Singapore Lương Quang Liệt đã 27 lần nhắc đến chữ “hoà bình”. Không biết Yetsin Việt Nam Trương Tấn Sang muốn gì.
Còn Nguyễn Minh Triết, vào năm 2009 khi thăm Cuba từng tuyên bố “Có Người (Hồ chí Minh) ví von, Việt Nam Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía đông, một anh ở phía tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.” Lời tuyên bố trên đã dẫn đến câu hỏi Việt Nam canh gác ai? hay canh gác cho ai? Trung cộng?
Ngày 7/6/2011, khi đến thăm huyện đảo Cô Tô, Nguyễn Minh Triết cho biết: “Chúng ta mong muốn các vùng biển và hải đảo của Tổ quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức mình để bảo vệ vùng biển đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hi sinh xương máu để có được Tổ quốc như ngày nay. Vì vậy, chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo”. Nguyễn Minh Triết đã bị lọai khỏi Bộ Chính Trị trong lần Đại Hội 11 vừa qua. Thử hỏi ông Triết có sẵn sàng hiến dâng “đảng” để bảo vệ quê hương, bảo vệ chủ quyền biển đảo hay không?
Nguyễn Tấn Dũng, ngày 8/6/2011 tại Nha Trang tuyên bố: “Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa … Nhân dân Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình”. Nói thì cứng đấy, thì đúng đấy nhưng liệu đảng Cộng sản Việt Nam có đủ ý chí quyết tâm và sức mạnh để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo của mình hay không ?
Dường như ván cờ hiện nay do chính Nguyễn Tấn Dũng dàn dựng. Hiện tại cái ghế Thủ Tướng Việt Cộng của Nguyễn Tấn Dũng đang bị “thế lực thù địch” dòm ngó. Trong vai trò Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh Việt Nam , Dũng phải tạo ra những biến động để mọi người tạm quên đi khả năng điều hành kinh tế đã đưa Việt Nam vào cơn khủng hỏang trầm trọng đang dẫn đến sự sụp đổ của chế độ.
Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Cộng sản Đại tướng Phùng Quang Thanh thì thay vì ra lệnh cho Hải Quân phải bảo vệ lãnh thổ, ngày 3/6/2011 tại Diễn đàn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Phùng Quang Thanh chỉ rất nhỏ nhẹ tuyên bố: “Đôi khi vẫn xảy ra những vụ việc đáng tiếc mà hai bên không mong muốn…hai bên cần tích cực hợp tác, hết sức kiềm chế để không xảy ra những vụ việc tương tự, điều sẽ ảnh hưởng đến quan hệ song phương và hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực.” Phùng Quang Thanh đề nghị “quân đội hai nước cần bình tĩnh, kiềm chế, không để xảy ra xung đột, gương mẫu thực hiện cam kết của lãnh đạo cấp cao hai nước, đó là phấn đấu trở thành những người đồng chí, láng giềng, bạn bè, đối tác tốt của nhau”.
Lời tuyên bố bên trên Phùng Quang Thanh gián tiếp xác nhận Trung cộng vẫn thường xuyên vi phạm chủ quyền Việt Nam . Thế mà chưa lần nào trong tư cách Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Quang Thanh lên tiếng phản đối đàn anh. Xem ra Phùng Quang Thanh rất ngạc nhiên về việc vụ cắt cáp Tầu Bình Minh 2 đã được đưa lên truyền hình. Bà con ta thừơng xem 3 tên Phùng Quang Thanh, Nguyễn chí Vịnh và Nguyễn Phú Trọng là ba tên đã bán cả linh hồn cho Tầu cộng.
Nguyễn Phú Trọng ở đâu rồi nhỉ?
Người cao nhất trong đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến hôm nay vẫn im hơi lặng tiếng đến nỗi nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc phải viết bài đặt câu hỏi : “Nguyễn Phú Trọng ở đâu rồi nhỉ?”. Câu hỏi dễ làm người đọc có cảm tưởng khi thấy bà con Hà Nội Sài Gòn xuống đường Nguyễn Phú Trọng đã phải vội vã “bỏ cả ấn tín” chạy về Tàu.
Theo cơ cấu tổ chức của đảng Cộng sản, Nguyễn Phú Trọng ngòai vai trò Bí Thư Trung Ương Đảng còn giữ vai trò Quân uỷ Trung ương trong Hội đồng Quốc phòng. Chính Trọng là người có thẩm quyền cao nhất trong việc hoạch định kế hoạch, chính sách và biện pháp an ninh quốc phòng của Việt Nam .
Có tin cho rằng chính Quân uỷ Trung ương đã ngăn cản không cho phép các đơn vị Hải Quân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn tầu Trung cộng để bảo vệ hữu hiệu tầu Bình mình 02, sau đó ra lệnh thả tầu Trung cộng bị bắt trong vụ Viking 02, cũng như cấm cản các đơn vị quân đội Việt Nam làm phận sự bào vệ lãnh thổ và hải phận Việt Nam.
Đại Hội Đảng lần thứ 11 vừa qua, các phe cánh trong đảng đã công khai đấm đá lẫn nhau để cuối cùng Nguyễn Phú Trọng được tấn phong. “Ngài” Tân Tổng Bí Thư lại được dân Hà Nội kêu là “người lú”, “Trọng lú” và bây giờ là “Ngài Tổng Lú”. Người lú là người kém trí nhớ, mất trí nhớ thường không hiểu mình nói cái gì. Một người lú lại đại diện cho đảng cầm quyền thì thật hết cỡ nói. Vì Nguyễn Phú Trọng bị lú nên các vây cánh trong đảng đã đưa ông lên làm bù nhìn để dễ dàng bịt miệng như trong vụ tầu Trung cộng lấn chiếm hải phận Việt Nam .
Ngay cả các cơ quan truyền thông của đảng bao gồm tờ “Quân đội Nhân dân” cơ quan ngôn luận của Quân uỷ Trung ương và bộ Quốc phòng, và tờ “Nhân dân” cơ quan ngôn luận trung ương của đảng Cộng sản lần này cũng bị lú phải im lặng trước việc Trung cộng xâm phạm chủ quyền Việt Nam.
Nguyễn Chí Vịnh – Nguyễn Phương Nga chửi nhau
Phân tích trận giặc mồm sẽ thấy phân hóa rõ rệt nhất là giữa các giới chức ngọai giao và quốc phòng. Đầu tiên cần phải nhắc đến Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm. Ông này cũng vừa bị lọai ra khỏi Bộ chính Trị và sẽ về hưu trong tháng 7 này. Hiện nay Bộ Ngọai giao không có thành viên trong Bộ Chính Trị. Vào ngày 8/6/2011, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Á – Âu (ASEM) tại Hungary, Phạm Gia Khiêm một cách ngọai giao phát biểu “một số vụ việc trên Biển Đông gần đây khiến các quốc gia thêm quan ngại về an toàn, an ninh trên biển”. Đây là cách nói rất ngọai giao để quốc tế hóa Biển Đông.
Ngay khi trận giặc mồm bắt đầu, bình luận gia Ngô Nhân Dụng đã thấy ngay việc “Nguyễn Chí Vịnh nói ngược Nguyễn Phương Nga”. Thật vậy, ngay sau vụ Bình Minh 2, Nguyễn Phương Nga cứng rắn tuyên bố “Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền,… đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam. Hải Quân Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam .”
Nguyễn Chí Vịnh sửa lưng Phương Nga như sau: “Quân đội đương nhiên có trách nhiệm bảo vệ vùng biển, vùng trời và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, đây là sự va chạm giữa hai con tầu dân sự. Đây là vụ va chạm dân sự, nên hai chủ thể va chạm phải giải quyết với nhau trên cơ sở luật pháp quốc tế và báo cáo lên các cơ quan luật pháp, cơ quan quản lý của hai nước. Tuy nhiên, quân đội phải theo dõi sát tình hình, không để sự việc diễn biến phức tạp, leo thang. Còn nếu với một hành động là bạo lực vũ trang thì dứt khoát quân đội sẽ tham gia bảo vệ.”
Chí Vịnh cũng nói là: “Quân đội theo dõi, giám sát chặt chẽ không để vụ việc leo thang nhưng không tham gia giải quyết… Như vụ tầu hải giám Trung Quốc cắt cáp tầu Bình Minh 02 vừa rồi, ta không đưa hải quân trở thành chủ thể giải quyết. Khác nhiều nước ở chỗ ấy.” Cho đến nay đảng Cộng sản và Hải quân Việt Nam vẫn làm ngơ khi “tầu lạ” bắn, giết, cướp, bắt ngư dân Việt Nam chuộc khi bị họ bắt cóc trên hải phận Việt Nam. Nhiều người còn tin rằng đảng Cộng sản Việt Nam đã bán đứt lãnh hải Việt Nam cho Tàu. Có thế mà Phương Nga không chịu tìm hiểu.
Chí Vịnh còn bước xa hơn một bước dạy cho Phương Nga ăn nói phải lập luận theo đúng lập trường của Trung cộng. Vịnh dạy Nga rằng: “Trung Quốc vẫn là nước bạn” còn về việc Biển Đông chỉ nên thảo luận song phương: “Chúng ta giải quyết trực tiếp với nước có tranh chấp, không lôi ai vào đây để cùng giải quyết, không nhờ vả ai để tạo lợi thế trong giải quyết vấn đề.” Nhân đây xin đề cập đến việc tòan Quần đảo Hòang sa và phần lớn quần đảo Trường Sa là của Việt Nam . Trung cộng là quốc gia xâm lược. Người Việt chúng ta không tranh chấp với Trung cộng mà bằng mọi giá chúng ta phải lấy lại Hòang Sa, Trường Sa và Biển Đông.
Học Giả Việt Nam tặng Bộ Chính Trị năm cái tát
Phía Việt Nam đã gởi 3 học gỉa đến tham dự Hội thảo về An ninh ở Biển Đông do Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề chiến lược và quốc tế của Mỹ (CSIS) tổ chức tại Washington ngày 20 và 21 tháng 6: Tiến Sĩ Trần Trường Thủy, giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Biển Ðông, thuộc Học Viện Quan Hệ Quốc Tế, Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý và Luật Sư Nguyễn Duy Chiến thuộc giám đốc Học Viện Ngoại Giao. Cả ba đã hòan thành xuất sắc vai trò trong nỗ lực bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi Việt Nam .
Được Phóng Viên Nguyễn Hường của Báo Giáo Duc phỏng vấn, tiến sỹ Trần Trường Thủy cho biết: “Chúng tôi tham dự hội nghị lần này gồm có 3 người. Một người tham gia trình bày về các lập trường, các quan điểm cũng như các cơ sở pháp lý của Việt Nam trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông. Người thứ hai tham gia bảo vệ các quan điểm trên trước các lập luận trái với hoặc ngược với lợi ích của Việt Nam . Thứ 3 là nêu rõ các chính sách của ta dựa trên luật pháp quốc tế. Ngoài ra thì bên lề hội thảo các thành viên trong đoàn cũng tranh thủ tiếng nói ủng hộ Việt Nam cũng như phê phán các hành động trái với luật pháp quốc tế của các bên có liên quan.”
Những điểm chính mà phái đòan đã nêu ra là (1) Trung cộng xâm lấn Việt Nam; (2) Việt Nam cần sự can thiệp Quốc Tế nhất là của Hoa Kỳ; (3) Bác bỏ đường lưỡi bò của Trung cộng (4) Biển Đông thuộc về Quốc Tế và (5) Biển Đông không phải là chuyện song phương giữa Trung cộng và Việt Nam. 5 lập luận trên như 5 cái tát vào các khuôn mặt bán nước của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Việt Nam .
Báo Người Việt cho biết trong cuộc Hội Thảo Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý khẳng định:Tôi muốn cho quý vị được rõ là vào năm 1974 khi đất nước chúng còn đang bị phân đôi, trong trận hải chiến Hoàng Sa, quân đội Trung Quốc đã dùng vũ lực để cướp đoạt quần đảo Hoàng Sa trong tay quân đội miền Nam Việt Nam. Một lần nữa, xin nhắc lại, lúc đó Nam Bắc chia đôi. Chính cuộc chiến này, là minh chứng hùng hồn rằng Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là của Trung Quốc. Ðây là một dữ kiện vô cùng quan trọng mà chúng tôi muốn ghi vào sử sách (put in the record).”Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý thừa nhận rằng đây là lần đầu tiên nhà cầm quyền Hà Nội đề cập đến sự kiện lịch sử này.
Luật Sư Nguyễn Duy Chiến giải thích lý do tại sao từ trước đến giờ Trung cộng và Việt Nam không tranh chấp chủ quyền trên biển là vì luật cũ của quốc tế phân định lãnh hải của các quốc gia là 3 hải lý từ bờ, cho nên ‘ngư dân hai nước từ ngàn xưa vẫn cùng đánh cá trên Biển Ðông. Ông cho biết “Hiệp Ước Luật Biển (UNCLOS) ra đời năm 1982 quy định chủ quyền của mỗi quốc gia là 200 hải lý từ bờ. Việt Nam và Trung Quốc cùng phê chuẩn UNCLOS, và ngay sau đó cũng chưa có tranh chấp, cho đến khi Trung Quốc âm thầm cho ra đời bản đồ lưỡi bò, và đơn phương thiết lập luật cấm đánh cá trên vùng biển này, cũng như đánh bắt ngư dân và phá thuyền của ngư dân Việt Nam. …Việt Nam vẫn luôn luôn tôn trọng luật biển mà mình đã ký, còn Trung Quốc thì liên tục vi phạm UNCLOS, và vi phạm lãnh hải Việt Nam .”
Tiến Sĩ Ðặng Ðình Quý đã khẳng định Việt Nam sẽ tiếp tục bảo vệ quyền lợi “trên vùng đặc quyền kinh tế của mình,” và nếu Trung Quốc cứ tiếp tục những hành động lấn át, thì tình hình Ðông Nam Á sẽ rất bất ổn, vì “bất cứ một động thái nhỏ nào cũng có thể biến thành chuyện lớn.”
Báo Người Việt còn cho biết một viên chức đại sứ Trung Quốc đặt câu hỏi: “Nếu Hoa Kỳ không đứng đằng sau lưng, thì các anh có phản ứng mạnh như thế không? Tôi muốn hỏi thẳng là Việt Nam kỳ vọng Hoa Kỳ sẽ đóng vai trò gì trong tranh chấp này?” Luật Sư Nguyễn Duy Chiến trả lời: “Hoa Kỳ là một cường quốc, và vai trò của một cường quốc là bảo vệ hòa bình thế giới, trong đó có hòa bình ở Ðông Nam Á.”
Hội thảo về An ninh ở Biển Đông vừa chấm dứt Bắc kinh đã cho triệu hồi nhà cầm quyền Hà Nội để trấn an dư luận. Ngày 25/6 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, để “chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.” Một Thông Báo chung đã ra đời theo đó: ”Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.” Đúng là trống đánh xuôi kèn thổi ngược.
Ngày 28/6/2011 người phát ngôn phía Trung Cộng Hồng Lỗi đò hỏi Việt Nam phải thực hiện những gì lãnh đạo cao cấp hai bên đã thỏa thuận trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Bà thúc giục Việt Nam phải ”nghiêm túc” thực thi cái gọi là ”nhận thức chung” giữa lãnh đạo cao cấp hai bên. Qua Thông Tấn Xã Việt NamThứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, ”Nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã được ghi nhận trong các Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước, gần đây nhất là Tuyên bố chung tháng 10/2008 nhân dịp Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng thăm Trung Quốc” Nói theo người Phương Tây là hũ dòi hai đảng Cộng sản Trung Việt đang được khui ra và con dòi “Nguyễn Tấn Dũng” đã được nêu danh.
Hoa Kỳ và Việt Nam Thông Báo Chung về Biển Đông
Ngày thứ Sáu 17/06 tại Thủ Đô Washington, một cuộc đối thoại chính trị – an ninh – quốc phòng Việt Mỹ lần thứ tư do Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách các Vấn đề Chính trị và Quân sự Andrew Shapiro chủ trì. Sau cuộc Đối Thọai hai bên đã phổ biến một bản Thông báo chung để “kêu gọi tự do lưu thông hàng hải và phản đối việc dùng vũ lực tại Biển Đông” và “việc duy trì hòa bình, ổn định, an toàn và tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông là lợi ích chung của cộng đồng quốc tế”. Thông cáo còn nêu rõ: “Tất cả các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông cần phải được giải quyết thông qua tiến trình hợp tác ngoại giao, không sử dụng vũ lực”.
Cũng cần nhắc Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã tuyên bố rằng tự do lưu thông ở Biển Đông là “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Bà còn tiên đóan rằng “Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm “những việc vô ích như những gã hề.” Khu vực Bắc Phi Trung Đông nay đã bình ổn. Hoa Kỳ đã rút quân khỏi A Phú Hãn để dồn nỗ lự vào việc giải quyết Biển Đông và 4 quốc gia đang bị cộng sản chiếm đóng: Trung cộng, Bắc Hàn, Lào và ViệtNam.
Hoa Kỳ chưa ra quân thế mà đã được công nhận “Hoa Kỳ là một cường quốc, và vai trò của một cường quốc là bảo vệ hòa bình thế giới, trong đó có hòa bình ở Ðông Nam Á.” Thế có phải là chửa đánh đã thắng không nào ?
Hoa Kỳ Đồng Minh hay Liên Minh với Việt Cộng
Mới đầu năm nay tùy viên chính trị Christian Marchant của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam khi thăm viếng Linh mục Nguyễn Văn Lý ở Huế đã bị công an cộng sản ‘xô đẩy và vật xuống đất’ rồi khống chế đưa ông ra một xe van. Hình ảnh này có khác với Blogger Phan Nguyên trong cuộc biểu tình ngày 12/6/2011 tại Sài Gòn vì anh Nguyên chỉ nặng trên 40 ký trong khi ông Marchant có thể nặng gấp ba lần và cần bốn người khiêng. Ngay sau đó ông Marchant đã được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trao giải thưởng về Nhân Quyền.
Đến ngày Khối 8406 kỷ niệm Đệ Ngũ Chu Niên, 8 tháng 4 năm 2011, Cục Dân chủ, Nhân quyền và Lao động, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ lại cho phát hành Bản Báo Cáo Về Tình Hình Nhân Quyền tại Việt Nam. Bản Báo Cáo nêu đích danh “Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam , …, (chỉ) là một nhà nước độc tài do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”, người dân chẳng có một thứ quyền gì cả. Các cuộc biểu tình tại Sài Gòn lại càng xác định người dân mất cả quyền tự do ôn hòa biểu lộ quyền yêu nước.
Đến đây hy vọng bạn đọc đã thấy rõ 2 vấn đề (1) đảng Cộng sản Việt Nam đang trong thời kỳ phân hóa nội bộ trầm trọng và (2) Hoa Kỳ chửa đánh đã thắng cả Việt cộng lẫn Trung cộng. Việc các phe cánh trong đảng Cộng sản muốn tìm đến Hoa Kỳ như đồng minh hay liên minh là một chuyện không tưởng. Vì vậy bà con ta mới thường bảo nhau “theo Tầu thì mất nước, theo Mỹ thì mất đảng”.
Vẫn biết Hoa Kỳ trở lại Biển Đông và Việt Nam vì quyền lợi của Hoa Kỳ. Nhưng cũng cần biết cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ gần 2 triệu người luôn tha thiết hướng về quê hương. Với hằng triệu lá phiếu được tận dụng đúng mức sẽ rút ngắn Ngày Việt Nam có Tự Do.
Biển Đông đang dậy sóng vụ tầu Trung cộng tấn công tầu Bình Minh 02 cũng dậy lên một cao trào yêu nứơc để “dẹp nội thù, chống ngọai xâm”. Các cuộc biểu tình đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra trên thế giới và nhất là tại Việt Nam đóng góp rất nhiều cho ngày Tòan Dân Nổi Dậy Giải Thể Cộng Sản xây dựng Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam .
Nói đến biểu tình mà không nói đến các cuộc đình công của Công nhân Việt Nam là một điều vô cùng thiếu sót. Chỉ riêng 4 tháng đầu năm 2011 có 331 vụ đình công. Đặc biệt là cuộc đình công đã dẫn đến nổi lọan của 65.000 công nhân công ty Pou Yuen, Đài Loan. Cuộc đình công bắt đầu từ hôm 21/06/2011 cho đến nay, có thể nói đây là cuộc đình công lớn nhất dài nhất và cương quyết nhất tại Việt Nam . Thử hỏi nếu các công nhân sẽ đồng lọat xuống đường, đồng bào nông thôn kéo lên thành thị, các Tổ chức Tôn Giáo chính thức kêu gọi tín đồ gia nhập biểu tình thì đúng là Cách Mạng Hoa Lài đã đến với Việt Nam.
Melbourne, Úc Đại Lợi
30/6/2011
© Nguyễn Quang Duy
© Đàn Chim Việt
.
.
.

Posted by Dinh Le at 10:43 AM

KHÔNG THỂ CỨ TIẾP TỤC QUYẾT ĐỊNH THAY CHO NHÂN DÂN (Song Chi)

Tháng Bảy 4, 2011

Không thể cứ tiếp tục quyết định thay cho nhân dân!

Song Chi
09:09:am 01/07/11
http://www.danchimviet.info/archives/37954
Từ trước đến nay, các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN luôn luôn hành xử như thể đất nước VN là “tài sản” riêng của đảng, hơn thế nữa, là của một nhóm những người giữ vị trí cao nhất-ta thường gọi là 14 ông vua tập thể trong Bộ chính trị.
Người dân từ lâu đã được “khuyên răn” rằng: không nên bận tâm đến chính trị, mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo.
Trước tất cả mọi vấn đề có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền giấu nhẹm thông tin với nhân dân, lẳng lặng và tùy tiện quyết định. Thời buổi này thì thông tin cũng khó mà giữ kín được mãi, nhưng nếu sau đó, người dân có tình cờ biết được điều gì thì cũng là “sự đã rồi”.
Như cái chuyện công hàm năm 1958 của ông cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mãi sau này người dân mới được biết nội dung của nó, nhưng nhà nước thì vẫn lặng không có một lời giải thích. Thậm chí, khi Trung Quốc sử dụng công hàm này để bắt bẻ phía VN đã công nhận chủ quyền của họ trên biển Đông mà họ gọi là biển Hoa Nam, bao gồm cả các hòn đảo Hoàng Sa-Trường Sa như là một bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của TQ, bây giờ lại “trở mặt”, đổi ý, Hà Nội cũng cứ nhất mực im lặng, coi như không nghe không thấy.
Các Hiệp ước biên giới trên đất liền được ký kết năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc bộ VN-TQ năm 2000 nội dung ra sao, nhà nước VN đã nhân nhượng và chịu thiệt thòi quá nhiều cho phía Trung Quốc như thế nào, chúng ta đã mất chính xác bao nhiêu kilomet vuông đất, bao nhiêu dặm trên biển…nhân dân hoàn toàn không biết.
Chỉ biết rằng những cái gì có thể nhìn thấy bằng mắt thường như toàn bộ Ải Nam Quan, phần chính thác Bản Giốc hay Cao điểm 1509 thuộc xã Thanh Thủy, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang (bây giờ Tàu gọi là Lão Sơn)…nay không còn thuộc về VN nữa!
Vụ bauxite Tây Nguyên cũng vậy, một mình ông Tổng Nông Đức Mạnh qua mặt cả Bộ chính trị, cam kết với Trung Quốc. Sau đó cả bộ sậu 14 ông vua cứ thế mà thông qua dự án này, mặc cho sự phản đối của hàng trăm hàng ngàn nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học cũng như sự không đồng tình của đông đảo người dân.
Có thể kể ra hàng hà sa số những ví dụ để thấy rằng đất nước này không phải thuộc về của chung của 90 triệu người dân VN đang sống ở trong và ngoài nước, mà chỉ thuộc về họ-các thế hệ lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản VN, cùng với những ông quan to quan nhỏ trong bộ máy nhà nước từ trên xuống dưới. Nên họ muốn làm gì thì làm.
Còn hơn cả vua quan thời phong kiến.
Nhân dân thì liên tục bị lừa.
Gần đây, biển Đông lại dậy sóng bởi cách hành xử ngang ngược, hiếu chiến của Trung Quốc. Phản ứng của nhà nước VN được dư luận đánh giá là có vẻ cứng rắn hơn từ trước đến nay, nhưng vẫn có những sự mập mờ khó hiểu, tiền hậu bất nhất khiến người dân không thật sự an tâm.
Một mặt, báo chí trong và ngoài nước vẫn tiếp tục lên án, chỉ trích những hành động của nhà cầm quyền Trung Quốc. Người dân đã xuống đường phản đối TQ và vẫn tiếp tục kêu gọi xuống đường. Các học giả VN vẫn tiếp tục lên tiếng bày tỏ quan điểm về chủ quyền của VN trên biển Đông tại những cuộc hội thảo quốc tế. Một số nhân vật cao cấp trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng kể cả ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ làm tất cả để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ lãnh hải của VN. Hải quân VN thì tuyên bố tập trận bắn đạn thật. Lại có cả Nghị định 42/2011/NĐ-CP về việc “Các trường hợp được miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến” có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2011. Cứ như thể có chiến tranh đến nơi. VN cũng lên tiếng kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế, kể cả Hoa Kỳ, để làm giảm những căng thẳng, xung đột trên biển Đông. Cứ như thể, nhà nước VN cũng đồng lòng quyết tâm cùng với nhân dân, bảo vệ đất nước!
Nhưng bên cạnh đó, ngay lập tức lại có những hành động ngược lại.
Ngay giữa những ngày tình hình đang “nóng” nhất do tàu hải giám TQ ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh 2 của VN, ông Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải liền chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố khẩn trương “triển khai Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt – Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội….” Dự án này “do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chủ trì, xây dựng từ nguồn vốn viện trợ không hoàn lại 200 triệu nhân dân tệ (hơn 30 triệu USD) của Chính phủ Trung Quốc và một phần ngân sách của Việt Nam…” (Theo VNMedia).
Ngày 5.6, khi hàng trăm người ở Hà Nội và hàng ngàn ngưởi ở Sài Gòn nồng nhiệt xuống đường biểu tình phản đối những hành động hung hăng của nhà cầm quyền Trung Quốc, tất cả các diễn đàn độc lập, báo chí của người Việt ở hải ngoại và nước ngoài đều đưa tin, hình đầy đủ, thậm chí có cả video clip minh họa…Thì TTXVN lại đưa tin là “có một số ít người đã tự phát tụ tập, đi ngang qua Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở TP.HCM….Những người này tụ tập một cách trật tự, bày tỏ thái độ một cách ôn hòa, và sau khi được các đoàn thể, các cơ quan chức năng của Việt Nam giải thích, họ đã tự giải tán, ra về.” Đơn giản chỉ nhằm xoa dịu Trung Quốc, sợ TQ “mích lòng”!
Và những cuộc biểu tình sau đó đã có những hành vi bắt bớ, đàn áp diễn ra. Nhất là tại Sài Gòn. Các nghệ sĩ, trí thức, bloggers đã có mặt trong buổi biểu tình ngày 5.6 hoặc đã từng có những hành động tương tự vào năm 2007, đều bị bao vây, cô lập và ngăn chặn để họ không thể có mặt cùng các sinh viên, quần chúng!
Ngày 9.6, trong khi tàu TQ vẫn đang rượt đuổi, cướp tài sản của ngư dân VN, khi người dân vẫn đang sôi sục uất ức thì Đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam-tổ chức được gọi là của dân-lại đi thăm Trung Quốc. TTXVN đưa tin, thay mặt đoàn, “Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Trần Hoàng Thám khẳng định Việt Nam rất coi trọng mối quan hệ với Trung Quốc, đồng thời hy vọng hai bên sẽ kế thừa và phát huy tình cảm hữu nghị mà các lãnh đạo tiền bối nước đã dày công vun đắp, đưa quan hệ hợp tác Việt Nam-Trung Quốc phát triển lên tầm cao mới.”!
Chiều 18.6, hai tàu hải quân VN lại cùng với tàu của Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tham gia chuyến tuần tra liên hợp trên vùng biển vịnh Bắc Bộ!
Cùng lúc, báo chí TQ vẫn tiếp tục cao giọng “mắng mỏ” VN, đòi “tát cho VN vỡ mặt”, truyền hình TQ còn chiếu cả kế hoạch tấn công VN.
Tất cả những diễn biến này khiến dư luận trong nước cũng như trên thế giới không rõ đường lối, chính sách của Hà Nội như thế nào. Rõ là Hà Nội vẫn sợ. Đánh võ mồm thế thôi chứ vẫn sợ.
Thật ra, như nhiều nhà phân tích, bình luận chính trị trong ngoài nước cũng đã nhận xét, nguy cơ xảy ra chiến tranh vì những tranh chấp trên biển Đông là rất thấp, hầu như bằng không, ít nhất là trong thời điểm hiện tại cho tới vài năm nữa. Bởi, Bắc Kinh thừa hiểu rằng nếu xảy ra chiến tranh giữa TQ và các nước láng giềng ví dụ như VN, điều đó hoàn toàn không có lợi cho TQ. Trung Quốc chưa đủ mạnh đến mức muốn làm gì thì làm, bất chấp thế giới. Vả chăng, cứ thử nghĩ xem, trong khu vực châu Á, và ngay cả trên toàn thế giới, những quốc gia nào thực sự là bạn, là đồng minh của TQ?
Thực tế những ngày vừa qua cho thấy, mọi sự hung hăng gây hấn của TQ chỉ tạo điều kiện cho các nước láng giềng xích lại gần Hoa Kỳ và Hoa Kỳ có cơ hội để quay trở lại khu vực này, là điều mà TQ hoàn toàn không muốn chút nào.
Ngay trong Hội thảo an ninh biển Đông được tổ chức tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế ở Washington từ ngày 20 đến 21.6 đã cho thấy TQ bị thế giới chỉ trích khá nhiều về yêu sách đường lưỡi bò phi lý trên biển Đông cũng như cách hành xử trong thời gian qua.
Tiếp theo, ngày 27.6, Thượng viện Hoa Kỳ vừa nhất trí thông qua một nghị quyết không tán thành việc các tàu Trung Quốc sử dụng vũ lực tại Biển Đông, và khẳng định tiếp tục hỗ trợ cho hoạt động của quân đội Hoa Kỳ nhằm “giúp tự do lưu thông trong hải phận và trên không phận quốc tế ở Biển Đông”.
Có lẽ hơn ai hết, những cái đầu nóng ở Bắc Kinh đã hiểu rằng chưa đến lúc, và cần phải tạm lùi lại.
Tuy nhiên, không một ai ngây thơ mà tin rằng TQ sẽ từ bỏ tham vọng chiếm cứ biển Đông, cũng như tham vọng là nước giàu nhất, mạnh nhất, bá chủ toàn cầu trong một ngày không xa. Khi chưa làm được điều đó, Bắc Kinh sẽ tiếp tục luận điệu “trỗi dậy hòa bình” để trấn an các nước, tiếp tục “thao quang dưỡng hối” và chuẩn bị thêm vể mọi mặt.
Đây cũng là cơ hội…cuối cùng, là thời gian cho VN kịp chuẩn bị về phần mình để tránh không bị rơi vào thế cờ chiếu bí khi TQ mạnh hơn nữa và quyết định dùng quân sự để giài quyết vấn đề biển Đông. Chuẩn bị có nghĩa là rút ra bài học từ những sai lầm trong quá khứ, trong việc lựa chọn con đường đi cho đất nước và chọn “bạn” mà chơi. Là tiến hành cải cách triệt để về mô hình thế chế chính trị, để đưa đất nước thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu bế tắc hiện tại, lựa chọn các nước giàu mạnh, dân chủ, tiến bộ là bạn, là đồng minh v.v…
Thay vì như thế, người dân lại nhìn thấy những dấu hiệu khác, từ phía nhà nước VN.
Và điều làm người dân lo lắng nhất là thông tin Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc ngày 25.6. Thông cáo báo chí chung VN-TQ đăng trên TTXVN tuyên bố rằng hai bên sẽ “đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”
Không rõ hai bên cam kết những gì nhưng bản tin “Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam” trên Tân Hoa Xã ngày 28.6 viết:
Trung Quốc hôm nay thứ Ba đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam (Biển Đông) vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước…”. Rằng: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam.” Đồng thời không quên nhắc lại: “Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố về chủ quyền không thể tranh cãi của mình tại các hòn đảo trên Biển Hoa Nam và những vùng biển xung quanh các hòn đảo này.
Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.
Chưa từng có sự bất đồng nào từ bất cứ quốc gia nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho tới những năm 1970, khi các nước bao gồm Việt Nam và Philippines tuyên bố chủ quyền từng phần ở đây.”
Giọng điệu của phía TQ rõ ràng đã thành công trong việc gây ra sự hoang mang cho người dân VN khi không biết nhà nước VN đã thỏa thuận những gì, liệu có đầu hàng và “đi đêm” với TQ không. Đồng thời các nước, nhất là Hoa Kỳ cũng nửa tin nừa ngờ. Từ trước đến nay có lẽ một trong những lý do khiến Hoa Kỳ chưa mặn mà ủng hộ VN trong việc xung đột với TQ trên biển Đông, ngoài nguyên nhân do thể chế chính trị độc tài của VN, còn vì Hoa Kỳ sợ VN sẽ tìm cách đi dây giữa hai nước rồi một lúc nào đó lại thỏa hiệp với TQ.
Nay với mũi tên cùng lúc bắn cả hai con chim này, nhà cầm quyền TQ đang triệt để cô lập nhà cầm quyền VN, với chính người dân trong nước và với quốc tế để dễ bề tiến tới ép VN phải nhân nhượng về lãnh hải. Vì rõ ràng hiện nay chỉ có VN là quốc gia dễ bị ép nhất, VN không có đồng minh, VN đang phải đối diện với quá nhiều vấn đề trong nước, kinh tế VN lại đang phụ thuộc nặng nề vào TQ… Không có thời cơ nào hơn cho TQ lúc này để ép VN như đã từng ép thành công trước kia.
Sự im lặng, không minh bạch rõ ràng của nhà nước VN thực sự bất lợi cho họ về nhiều mặt, nhưng có vẻ như họ vẫn chưa chịu nhìn ra điều này.
Chỉ trừ phi họ nhân cơ hội này, thức tỉnh, chấp nhận hy sinh quyền lợi vì vận mệnh của đất nước, dân tộc. Song, cay đắng thay, điều đó chẳng khác nào ngồi mơ trúng số!
Chắc chắn Đảng và nhà nước cộng sản VN sẽ lại lựa chọn con đường đầu hàng, thỏa hiệp với TQ. Bởi vì đó là sự lựa chọn dễ dàng nhất, cho những kẻ đớn hèn và bất tài.
Nghĩ mà thương cho người dân. Nhân dân xuống đường bị bắt bớ, sôi sục ký tên vào những bản tuyên cáo phản đối TQ…để cuối cùng “các ông vua tập thể” lại tiếp tục tự mình quyết định mọi việc.
Đã đến lúc người dân cần phải tỏ rõ thái độ với những người đang nắm quyền lãnh đạo đất nước rằng: đất nước là của chung mọi người VN, không của riêng một đảng phái, một chế độ, một nhúm người. Người dân có quyền được biết mọi chuyện liên quan đến vận mệnh đất nước. Hoặc họ phải minh bạch và dứt khoát đứng về phía nhân dân, chọn lựa con đường đúng để cứu nước, hoặc người dân phải đứng lên giành lấy quyền cứu nước trước khi quá muộn.
Theo Blog Song Chi (RFA)
.
.
.

Posted by Dinh Le at 10:41 AM