Archive for Tháng Bảy, 2011

VIDEO : NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY TẠI CALIFORNIA

Tháng Bảy 4, 2011

 

VIDEO : NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY TẠI CALIFORNIA

Video: phỏng vấn nhà văn Trần Khải Thanh Thủy    (RFA)
http://www.youtube.com/watch?v=CiH7cuz7Sro&feature=player_embedded
Người Việt  phỏng vấn nhà văn Trần Khải Thanh Thủy  
http://www.youtube.com/watch?v=O5pbrD2ZLck&feature=related
LS Bùi Kim Thành gặp lại nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trên đất Mỹ  [Phần 1]
http://www.youtube.com/watch?v=6MAA7OD_kfo&feature=related
LS Bùi Kim Thành gặp lại nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trên đất Mỹ [Phấn 2]
http://www.youtube.com/watch?v=R5TD5fQurVc&feature=related
Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gặp gỡ giới truyền thông Bắc Cali
Bấm vào đây để xem: Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gặp gỡ giới truyền thông Bắc Cali
Bấm vào đây để xem: Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy gặp gỡ giới truyền thông Bắc Cali
http://www.truyenhinhvietnam.tv/viewArticle.php?article_id=1724
.
.
.
.

Posted by Dinh Le at 9:39 AM

NHẬT KÝ ẢNH CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY 3-7-2011 TẠI HÀ NỘI (Hoàng Xuân Phú)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Nhật ký ảnh cuộc biểu tình ngày 3-7-2011 tại Hà Nội  

Hoàng Xuân Phú
Thứ hai, ngày 04 tháng bảy năm 2011
http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/lang-nghe-ong-bao-toi-noi-1.html
LẮNG NGHE ĐỒNG BÀO TÔI NÓI – 3
http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/lang-nghe-ong-bao-toi-noi-3.html
LẮNG NGHE ĐỒNG BÀO TÔI NÓI – 2
http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/lang-nghe-ong-bao-toi-noi-2.html
LẮNG NGHE ĐỒNG BÀO TÔI NÓI – 1
http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/lang-nghe-ong-bao-toi-noi-1.html
Phim tài liệu : Giải cứu binh nhì Nguyễn Tiến Nam 
http://www.youtube.com/watch?v=NzseuXFjOtc&feature=player_embedded
.
.
.

Posted by Dinh Le at 9:15 AM

TOÀN VĂN TUYÊN CÁO TẠI NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI NGÀY 3-7-2011

Tháng Bảy 4, 2011

3.7.2011: TOÀN VĂN TUYÊN CÁO TẠI NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI

Jul 3, ’11 12:01 PM
http://dinhtanluc.multiply.com/journal/item/645/645
3.7.2011: TOÀN VĂN TUYÊN CÁO TẠI NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI
TUYÊN CÁO
CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM YÊU NƯỚC GỬI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC PHẢN ĐỐI HÀNH ĐỘNG XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG CHỦ QUYỀN
VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG
Hôm nay, tại trung tâm thủ đô Hà Nội của nước Việt Nam ngàn năm văn hiến, chúng tôi, những người tham gia biểu tình đại diện cho hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước ở trong và ngoài nước cùng gửi tới nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố như sau:
– Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận trong nước và quốc tế việc nhà cầm quyền Trung Quốc đã nổ súng và chiếm đóng phi pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam trong các năm từ 1956 đến 1974 cũng như 9 đảo ở Trường Sa của Việt Nam trong các năm từ 1988 đến 1992. Phản đối! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: Phản đối, Phản đối).
– Cực lực lên án và phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm Biển Đông, liên tục bắt bớ cướp bóc, phá hoại tàu bè của ngư dân Việt Nam; cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam với ý đồ biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của Việt Nam thành vùng tranh chấp để hưởng lợi; diễn tập quân sự, điều tàu chiến lớn đến Biển Đông, đe dọa hòa bình an ninh trong khu vực. Phản đối! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: Phản đối, Phản đối).
– Kiên quyết phản đối tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò 9 đoạn phi pháp của Trung Quốc. Tuyên bố đó không dựa trên bất cứ luận điểm công pháp quốc tế nào, vi phạm nghiêm trọng Luật Biển và Công ước về Luật Biển (UNCLOS) của Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc đã ký năm 1982 cũng như vi phạm tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký năm 2002. Phản đối! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: Phản đối, Phản đối).
– Kiên quyết phản đối những phát ngôn mang tính đe dọa và việc tuyên truyền đặt điều, xuyên tạc sự thật của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với Việt Nam. Phản đối! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: Phản đối, Phản đối).
Chúng tôi, những người dân yêu nước Việt Nam quyết tâm làm tất cả, nguyện đem tất cả sức mình để chống lại các hành động xâm lấn hiếu chiến của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất, biển, đảo của Việt Nam.

Đất nước Việt Nam muôn năm! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: muôn năm)

Dân tộc Việt Nam muôn năm! (sau đó mọi người hô theo 2 lần: muôn năm)

——————————

Nguồn: http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/07/372011-toan-van-tuyen-cao-tai-nha-hat.html
.
.
.

Posted by Dinh Le at 8:13 AM

KIẾN NGHỊ BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TQ

Tháng Bảy 4, 2011

KIẾN NGHỊ BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TQ

Đăng bởi basamnew on 04.07.2011
http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/04/154-ki%e1%ba%bfn-ngh%e1%bb%8b-b%e1%bb%99-ngo%e1%ba%a1i-giao-cung-c%e1%ba%a5p-thong-tin-lien-quan-d%e1%ba%bfn-quan-h%e1%bb%87-v%e1%bb%9bi-tq/
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
******
Hà Nội, ngày 2 tháng 7 năm 2011
KIẾN NGHỊ
YÊU CẦU BỘ NGOẠI GIAO CUNG CẤP THÔNG TIN
LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC
Kính gửi: Bộ Ngoại giao Việt Nam
1. Theo các thông tin báo chí, chúng tôi được biết ngày 25/6/2011, ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, đã có buổi gặp gỡ và làm việc với Ông Trương Chí Quân, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc.
2. Ngày 28/6/2011, trên bản tin tiếng Anh của Tân Hoa Xã, đã có bài China urges consensus with Vietnam on South China Sea issue về cuộc gặp gỡ này trong đó có những thông tin:
(i) “Both countries are opposed to external forces getting involved in the dispute between China and Vietnam and vow to actively guide public opinion and guard against remarks or actions that undermine the friendship and trust between the people of the two countries, Hong said.”, tạm dịch như sau:
“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước, theo ông Hồng Lỗi” ( Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc)
(ii) “Chinese historical records show that in 1958, the Chinese government claimed the islands in the South China Sea as part of China’s sovereign territory, and then Vietnamese Premier Pham Van Dong expressed agreement in his diplomatic note to then Premier Zhou Enlai.”, tạm dịch như sau:
“Những hồ sơ lịch sử của Trung Quốc đã cho thấy rằng năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Hoa Nam như là bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao ngắn của mình gửi tới Thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai.”
Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí của Việt Nam.
3. Chúng tôi, những công dân Việt Nam ký tên dưới đây, căn cứ vào Điều 53- Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992 (HP 1992) “Công dân có quyền … tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước,…”, và Điều 69 – HP 1992 “Công dân …có quyền được thông tin;…”, kiến nghị Bộ Ngoại giao Việt Nam như sau:
a.) Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết thông tin do Tân Hoa Xã đưa như đã trích mục 2 (i) nêu trên có đúng sự thật không ?
Trong trường hợp những thông tin trên của Trung Quốc không chính xác, yêu cầu phía Trung Quốc phải cải chính và xin lỗi.
b.) Cho biết quan điểm của Việt Nam về bức thư ngoại giao của Ông Phạm Văn Đồng năm 1958 nêu trong mục 2 (ii) trên đây ?
c.) Thông tin chi tiết (toàn văn) thỏa thuận đã đạt được (nếu có) giữa Ông Hồ Xuân Sơn và đại diện Trung Quốc trong buổi gặp đó.
Chúng tôi rất mong Bộ Ngoại giao sớm trả lời kiến nghị của công dân, thể hiện tôn trọng các quyền của công dân đã được ghi trong Hiến pháp.
Trân trọng,
Những người ký tên vào Bản kiến nghị này:
– Nguyễn Trọng Vĩnh
– Nguyễn Huệ Chi
– Hoàng Tụy
– Chu Hảo
– Phạm Duy Hiển
– Lê Hiếu Đằng
– Nguyên Ngọc
– Nguyễn Quang A
– Ngô Đức Thọ
– Trần Nhương
– Nguyễn Xuân Diện
– Phạm Xuân Nguyên
– Nguyễn Quang Thạch
– Cao Thị Vũ Hương
– Trần Vũ Hải
– Trần Kim Anh
– Hoàng Hồng Cẩm
– Nguyễn Văn Phương
NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN :
http://anhbasam.files.wordpress.com/2011/07/kn4.jpg?w=607&h=418
http://anhbasam.files.wordpress.com/2011/07/kn7.jpg?w=655&h=898
http://3.bp.blogspot.com/-Igp3IiVtiXg/ThFVaKLvf9I/AAAAAAAABXU/moZx7rvJ4f4/s640/trang-4.JPG
http://anhbasam.files.wordpress.com/2011/07/kn5.jpg?w=645&h=568
Ghi chú: Bản Kiến nghị này đã được gửi tới Bộ Ngoại giao sáng nay, 4-7-2011. Bản DPF: Ban kien nghi.
Giấy biên nhận :
Bấm : http://anhbasam.files.wordpress.com/2011/07/giay-bien-nhan1.jpg?w=644&h=484
——————————–
Mời đọc thêm: Trung Quốc thúc giục sự đồng thuận với Việt Nam trên vấn đề Biển Hoa Nam
.
.
.

Posted by Dinh Le at 8:08 AM

IM LẶNG MẶC CẢ BẰNG TỔ QUỐC (Phan Nguyễn Việt Đăng)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Im lặng mặc cả bằng tổ quốc?

Phan Nguyễn Việt Đăng viết từ Saigòn
2011-07-04
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/silent-use-country-to-bargain-07042011054829.html
Nếu để ý đến cái tin ngắn được khởi đăng từ ngày 24 tháng 6 này trên các tờ báo, về chuyện thủ tướng CSVN sẽ tìm cách phê chuẩn giảm, giãn, miễn thuế đến gần 20.000 tỷ đồng trong năm 2011, không thể không suy đến hiện tình Việt Nam lúc này.
Số tiền này được đưa ra, chia đều cho hàng triệu người Việt Nam, có phải như là một món quà nhỏ cho việc mọi người đang hừng hực vì vấn đề xâm lấn của Trung Quốc, xoa dịu và làm lãng quên đi vụ án Vinashin? Hay là số tiền này, là món quà Giáng sinh đang đến sớm từ ông già Noel đội nón đỏ với 5 ngôi sao, nhằm xoa dịu và giúp cho nhiều người quên lãng vấn đề rất thời sự trong nước lúc này?
Từ câu chuyện thỏa hiệp mập mờ giữa 2 Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều nhà bình luận ở các quán cafe vỉa hè đùa rằng chắc hẳn ông thứ trưởng bộ ngoại giao Hồ Xuân Sơn cùng với những đồng sự, đồng chí của ông cũng đang bước vào buổi tiệc Giáng sinh đen, chia phần biển, xương máu và nước mắt của cả dân tộc Việt Nam.
Giáng sinh đến sớm để quên đi biển, quên đi đảo. Và quên luôn những người yêu nước đang sục sôi, biến họ trở thành những kẻ phản loạn. Liệu Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ kiểm soát đất nước như thế nào, giả sử họ coi tối thiểu hơn phân nửa dân số Việt Nam là những kẻ phản loạn?
Ai còn dám biểu tình?
Tin không được kiểm chứng, vào buổi tối ngày 2 tháng 7, mọi người nhắn nhau rằng trên blog của ông Nguyễn Xuân Diện lộ một ý rằng ngày mai, chủ nhật 3 tháng 7, nhà nước sẽ bật đèn xanh cho một cuộc biểu tình. Tin nhắn điện thoại được chuyển đi từ Hà Nội đến Saigon với sự háo hức.
Nhưng phía Nam thì dè dặt hơn. Những cuộc trấn áp tàn bạo từ “các âm binh của Thái Thú” – nói như trang tin Dân Làm Báo – đã giới thiệu cho biết một thái độ dứt khoát của ngành an ninh.
Quả là điều không ngoài dự đoán của các blogger khi nói trước rằng sẽ không thể có gì vui cho ngày 3 tháng 7 này. Ở Saigon, an ninh lại tiếp tục dày đặc, và lần này ngành an ninh thậm chí còn tỏ ra tự tin hơn khi cho phép các quán cafe quanh khu vực Tòa Tổng lãnh sự Trung Quốc được mở cửa như bình thường.
Hà Nội có vẻ “thoáng” hơn với cuộc biểu tình nhỏ được diễn ra. May mắn hơn khi một vài thanh niên đứng đọc tuyên cáo phản đối Trung Quốc đã bị công an nhảy vào chụp bắt, còn may mắn hơn nữa khi đám đông đã thành công trong một màn vật lộn cứu 2 thanh niên đó giữa rừng an ninh mật vụ. Thực tế cho thấy chẳng có cái “đèn xanh” nào cả.
VIDEO : Biểu tình chống Trung Quốc ngày 3-7-2011
http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=TvH3oBRF69g
Bản tin về chuyện suýt tí nữa tàu Bình Minh lại bị cắt cáp lần 3 vào 30 tháng 6 vừa qua, lại góp thêm những chứng cứ quan trọng về những điều mờ ám trong chuyến đi của ông thứ trưởng Hồ Xuân Sơn.
Vì sao, khác với lần trước, Việt Nam chủ trương im lặng, không phản ứng? Ngay cả các quan chức của Petro Times cũng được lệnh không được nói gì về chuyện này. Đài BBC, đài RFA, RFI…v.v khi gọi điện đến các quan chức này, đều được một câu trả lời chung là không biết và không thể bình luận.
Rõ ràng sau cuộc họp xác định vai trò 16 chữ vàng 4 tốt của ông Hồ Xuân Sơn, dù có tuyên bố chính thức, nhưng Bắc Kinh vẫn không tin tưởng và quyết định phải làm một bài “thử” xem Việt Nam có tráo trở hay không. Lần này, chắc hắn Bắc Kinh đã hài lòng vì thấy Việt Nam đã một mực xuất sắc trong vai trò đàn em ngoan ngoãn.
Ai còn dám yêu nước?
Kể từ thời giặc phương Bắc xâm lược, cho đến thời thực dân Pháp… người ta lại thấy tái diễn trong lịch sử Việt Nam ý nghĩa yêu nước là một điều hiểm nguy cho bản thân mình và gia đình mình.
Sống trên một đất nước, mà việc cầm lá cờ của tổ quốc mình, tung hô chủ quyền đất nước mình, có thể bị công an, mật vụ bắt giữ, thẩm tra, sách nhiễu… không khác gì sống trong vùng tô giới của người Việt, thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc, quả là một thách thức của lòng yêu nước.
Điều nực cười, là một khi các viên chức chính phủ, các nhà lãnh đạo vẫn lên truyền hình, lên mặt báo… kêu gọi phải yêu nước, phải biết tỏ thái độ nghĩa vụ của một công dân nhưng khi những người yêu nước bị bắt vỉ biểu tình chống xâm lược, công an lại thẩm vấn và luôn hỏi một câu “ai xúi giục”.
Ai sẽ còn dám yêu nước nữa, khi thái độ của Đảng Cộng sản Việt Nam lại hai mặt đến kinh sợ như vậy? Và như vậy, có phải hiện trạng yêu nước, tức là chống lại Đảng cộng sản Việt Nam?
Trong các bài giảng của ngành an ninh, dành cho các sinh viên, blogger… bị bắt, vẫn là một luận điệu cũ “Chúng ta muốn hòa bình, vì chúng ta đã trãi qua chiến tranh nên không muốn chiến tranh”.
Thật không ai muốn chiến tranh, nhưng im lặng chấp nhận cướp vào nhà trong hòa bình thì càng không ai muốn.
Điều mâu thuẫn ở đây, là các lực lượng quân đội, an ninh… được nhân dân đóng thuế, nuôi nấng trong việc huấn luyện nhằm sẵn sàng trãi qua mọi cuộc chiến tranh để bảo vệ đất nước, giờ đây lại rất giỏi trong các lý luận từ chối phải đối mặt với chiến tranh.
Ai sẽ còn dám yêu nước nữa, nếu chính những người lãnh đạo đang cho thấy họ không là những người yêu nước? Và yêu nước lúc này, có phải là một cuộc cách mạng đối với những kẻ im lặng mặc cả bằng tổ quốc?
Phan Nguyễn Việt Đăng, viết riêng cho RFA, Sài Gòn 03-07-2011
Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.
——————————–
VIDEO :
Reuters: Vietnamese rally against China
http://www.youtube.com/watch?v=EdQfDLBbM8w&feature=player_embedded
.
.
.

Posted by Dinh Le at 8:01 AM

LỄ ĐỘC LẬP HOA KỲ & DI DÂN VIỆT NAM (Giao Chỉ)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Lễ độc lập Hoa Kỳ và di dân Việt Nam

Giao Chỉ
12:01:am 04/07/11
http://www.danchimviet.info/archives/38134
Ngày quốc lễ
Ngày 4 tháng 7 hàng năm là ngày lễ trọng đại nhất của Hoa Kỳ. Đó là ngày Mỹ quốc Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và bắt đầu chiến tranh cách mạng chống lại Anh quốc trong 6 năm. Đến 1782 Anh và Mỹ ký thỏa ước ở Paris và công nhận Hoa Kỳ độc lập. Người Mỹ đã chiến thắng trận chiến tranh đầu tiên của lịch sử Hiệp Chủng Quốc.
Là công dân gốc Việt trong đợt di dân cuối cùng của thế kỷ 20, chúng ta nên tìm hiểu về đất nước mà chúng ta lập nghiệp. Các di dân tỵ nạn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ đã được dự ngày kỷ niệm 200 năm lập quốc vào năm 1976. Đến bây giờ nước Mỹ đã già thêm 35 năm nhưng lịch sử trẻ trung của Hiệp Chủng Quốc rất phong phú và cũng rất độc đáo. Hoa Kỳ là quốc gia bao gồm tất cả các sắc dân, các ngôn ngữ, các tập tục văn hóa. Nước Mỹ đã có các kỷ niệm vừa hung bạo vừa nhân từ. Tiêu diệt da đỏ, bắt da đen làm nô lệ, kỳ thị da vàng, đem quân đi làm cảnh sát trên thế giới, đi đến đâu là gây sóng gió ở đó. Hoa Kỳ cũng là quốc gia phát huy tự do dân chủ toàn cầu, viện trợ kinh tế, quân sự, giáo dục, xã hội, văn hóa cho toàn thể các quốc gia chậm tiến trên thế giới.
Biên cương của Hoa Kỳ trên địa cầu là một vùng đất bao la tiếp giáp với hai đại dương Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ là ải địa cầu trấn giữ Bắc Băng Dương. Biên giới không gian của Hoa Kỳ lên đến mặt trăng và Mỹ quốc cũng đã đặt cọc mua đất trên hỏa tinh. Hai ngàn vệ tinh kinh tế thương mại và quân sự của Hoa Kỳ canh gác toàn vùng khí quyển của quả đất. Đế quốc nhân văn của Hiệp Chủng Quốc thống trị thế giới bằng các tòa đại sứ và lãnh sự luôn luôn tấp nập các khách hàng xin visa.
Cơ sơ ngoại vi của các đại sứ quán Hoa Kỳ là những chỗ bán thức ăn Fast Food McDonald, Coke, nhạc Rock và quần Jeans. Mỹ phát thực phẩm cho dân nghèo toàn thế giới nhưng đi đến đâu cũng bị đuổi về nhà: Yankee go home.
Đó là Hoa Kỳ ngày nay, sau hơn 300 năm lập quốc. Đất nước mà chúng ta đang là công dân có đứng lên tuyên thệ bảo vệ và tuyệt đối trung thành.Vì vậy chúng ta cũng nên biết qua lịch sử lập quốc của quê hương mà phần đông chúng ta sẽ cùng các thế hệ tiếp theo ở lại đời đời.
Ai là người đầu tiên trên đất Mỹ?
Các nhà nhân chủng học cho biết 12 ngàn năm trước lục địa còn dính liền cuối thời băng giá, Á châu và Mỹ châu nối tiếp ở phía Bắc. Con người tiền sử Á Châu đi tìm đường sống đã đi từ Á qua Mỹ. Sau đó quả đất chuyển đổi, hai lục địa tách xa nhau. Người Á châu tiền sử trở thành thủy tổ của các bộ lạc ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, thực ra đây cũng chỉ một là giả thuyết.
Thực tế ghi nhận nhiều nền văn minh đã được kiến tạo, nhiều bộ lạc đã tàn lụi. Sau cùng chỉ còn các bộ lạc da đỏ tồn tại cho đến thời kỳ 1500 các sắc dân Tây phương mới đến Mỹ bằng đường biển. Nổi danh nhất là nhà hàng hải Columbus năm 1492 đi tìm Á châu và khám phá ra Mỹ châu. Rồi tiếp theo là Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Cát Lợi, Pháp, Đức rồi đến Nga và các quốc gia Đông Âu.
Các cuộc chiến đẫm máu, triền miên ở tân lục địa giữa người địa phương và dân giang hồ mới đến. Chiến tranh giữa các thế lực Tây phương. Sau cùng Anh quốc ổn định được tại phần lớn miền Đông Hoa Kỳ và các di dân bắt đầu lên đường. Con tàu Hoa Tháng Năm, May Flower nổi tiếng đến Mỹ năm 1620 vỏn vẹn có 100 mà một nửa là thủy thủ đoàn đã trở thành biểu tượng của cuộc định cư trên đất mới vì có đem theo gia đình.
Năm 1621 di dân được mùa đã cùng tổ chức Lễ Tạ Ơn và ăn nhậu với dân da đỏ trong một lễ Thanksgiving đầu tiên của nhân loại.
Nhưng rồi những ngày vui qua mau. thổ dân tại Mỹ chết dần vì bị giết, bị đói, bị bệnh, có thể do các mầm bệnh từ tây phương đem đến.
Trong khi đó từ 1620 đến 1732 tức là hơn 100 năm. Một nước Mỹ thuộc Anh đã hình thành với 13 tiểu bang liên hiệp ở miền Đông. Phần lớn làm nghề nông, trồng thuốc lá, trà, và lúa. Các vùng khác thuộc Tây Ban Nha, Pháp vẫn còn tranh chấp.
Cuộc chiến 1754 giữa Pháp và Anh giành đất trong 7 năm, sau cùng Anh thắng và mở rộng biên cương thuộc địa.
Tiếp theo nước Anh cần tiền cho mẫu quốc nên đánh thuế các thuộc địa, thu tiền các nhà sản xuất và các đồn điền tại Hoa Kỳ. Chính sách thuế của Anh ban hành năm 1774 trở thành mầm mống cho cuộc chiến dành độc lập tại Hoa Kỳ. Tướng Washington nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng vào năm 1775 và chính thức đứng ra tuyên bố độc lập 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Thomas Jefferson đại diện tiểu bang Virginia viết ra lúc ông 33 tuổi được coi là một áng văn tuyệt tác nhất của nhân loại và mở đầu cuộc chiến dành độc lập cho đến chiến thắng cuối cùng bằng hiệp định Paris 1782.
Sau chiến thắng, Hoa Kỳ có 5 năm xây dựng dân chủ từ 1782 đến 1787 để hiến pháp ra đời với 9 tiểu bang chính thức rồi đến 13 tiểu bang thỏa hiệp. Những lá cờ Mỹ đầu tiên có 9 ngôi sao rồi 13 ngôi sao và bây giờ là 50 ngôi sao.
Suốt từ buổi bình minh của Hiệp Chủng Quốc cho đến nay, nước Mỹ đã trải qua biết bao nhiêu là biến động.
Từ hơn 4 triệu dân vào năm 1800 trở thành trên 300 triệu vào năm 2011. Trên giấy tờ có trên 250 năm lập quốc nhưng thực sự quốc gia này đã nảy mầm từ trên 300 năm.
Ý nghĩa Hiệp Chủng Quốc.
Phải chăng Hoa Kỳ là một đĩa rau trộn gồm đủ mọi sắc thái nhưng tía tô vẫn là tía tô, rau giấp cá vẫn nồng nàn mùi tanh của biển mặn. Hay đây là nồi cháo mà mọi thứ thực phẩm đã được hòa tan thành một hương vị mới. Cái đó còn tùy hoàn cảnh, địa phương và thời gian.
Nước Mỹ đã trải qua các giai đoạn hành động tàn nhẫn với các sắc dân thiểu số. Vào thế kỷ thứ 19, da trắng buộc dân da đỏ phải di cư tập trung vào các khu vực ấn định. Thảm kịch diễn ra trên các con đường mòn được gọi là: Đường mòn nước mắt.
Da đỏ già trẻ lớn bé đều phải ra đi, bỏ nhà cửa, vườn trại để vào các khu đồng khô cỏ cháy xa cách vạn dặm. Hàng chục ngàn người đã chết.
Trong khi đó ở miền Nam Hoa Kỳ, dân da đen bị bắt làm nô lệ đem từ Phi châu qua đã trở thành một lực lượng lao động quan trọng. Những bàn tay đen đủi đã xây dựng nên nền nông nghiệp miền Nam nuôi cả nước Mỹ vào thời kỳ lập quốc với những vườn bông vải trắng xóa. Nhưng cũng chính da đen là vấn nạn cho cuộc chiến tranh tương tàn Nam Bắc. Những người da đen bỏ trốn các nông trại đã bị đánh roi cho đến chết. Câu chuyện Uncle Tom với bài ca da đen lừng danh: Let my people go, Hãy cho dân tôi đi, trích dẫn từ Thánh Kinh đã trở thành một vấn nạn trong lương tâm Hoa Kỳ.
Da đỏ xin ở lại thì bị đuổi đi. Da đen xin đi thì bị giữ lại. Ngay khi nội chiến chấm dứt, da đen được giải phóng mà vẫn còn bị kỳ thị.
Cuộc chiến đấu vĩ đại của một đàn bà lẩm cẩm da đen năm 1955 không chịu ngồi phía sau xe bus đã trở thành một cuộc tổng đình công tẩy chay xe bus tại Hoa Kỳ. Từ cuộc đình công này, da đen có được một nhà lãnh đạo đầy huyền thoại là mục sư King mà tên tuổi trở thành một ngày quốc lễ.
Rồi đến lịch sử Tây tiến làm đường xe lửa đem da vàng Nhật Bản và Trung Hoa nhập cuộc. Các tiền nhân di dân châu Á cũng đã ngậm đắng nuốt cay ở miền Tây Hoa Kỳ trong suốt thời lịch sử cận đại.
Sau cùng đến lượt chúng ta. Việt Nam ngày nay có một triệu sáu trăm ngàn người tại Hoa Kỳ. Sau đợt di tản 75 tiếp đến là thuyền nhân từ 75 đến 95 rồi là các HO, ODP nhập cư cho đến cuối thế kỷ thứ 20. Mười quận hạt có dân số đông đảo nhất là Orange, Santa Clara, Los Angeles, Houston, San Diego, Seattle, Oakland, DC, Dallas và Fort Worth (Texas).
Chúng ta không phải là sắc dân cuối cùng, và chúng ta không phải là sắc dân duy nhất có quê hương cố quốc. Di dân tỵ nạn Việt Nam tùy theo hoàn cảnh và cảm nghĩ, có người mang theo quê hương, có người bỏ lại quê hương. Tuy nhiên chúng ta không thể hành xử khác tập thể di d ân trong trách nhiệm xây dựng đất mới.
Sắc dân nào cũng có những niềm tự hào của họ. Ai cũng có các hãnh diện về truyền thống văn hóa, ngôn ngữ của cội nguồn. Điều quan trọng là phong cách đối xử và tìm hiểu để hội nhập. Chúng ta phải cảm ơn những người đi trước đã mở đường. Kể cả người xấu lẫn người tốt đã sống và đã qua đi trong công cuộc chinh phục đất nước vĩ đại này.
Một lần nữa, đợt người Việt đầu tiên ở Mỹ sẽ là nhưng cây tràm, cây đước giữ chặt đất cho một cộng đồng tương lai phát triển. Con cháu chúng ta sẽ vừa nhớ ơn ông cha đã đến đất này mà cũng không hổ thẹn về những đóng góp của chúng ta trong những giai đoạn đầu tiên. Bỏ lại phía sau con sông Hồng, sông Hương, sông Cửu Long và dãy Trường Sơn. Bây giờ ta phải làm quen với con sông Sacramento và rặng Rocky Mountain để con cháu ta đứng lên đáp lời sông núi mới.
Xin hãy công bình với hoàn cảnh. Hãy lưu tâm ngày 4 tháng 7 của Hoa Kỳ. Bước ra khỏi cái Ghetto của cộng đồng nhỏ hẹp, tham dự vào cái xã hội vĩ đại đã đem phúc lợi cho chúng ta. Đó là cách hay nhất để xây dựng cùng một lúc cộng đồng tại Mỹ và quê hương bỏ lại ở Việt Nam. Bao gồm cả giấc mơ tự do và dân chủ.
San Jose 2011
Giao Chỉ
Đàn Chim Việt
.
.
.

Posted by Dinh Le at 9:51 AM

BƯỚC VÀO NGƯỠNG CỬA NƯỚC MỸ – NHÂN NGÀY ĐỘC LẬP 4-7 (Mường Giang)

Tháng Bảy 4, 2011

Bước Vào Ngưỡng Cửa Nước Mỹ – Nhân Ngày Độc Lập 4-7

MƯỜNG GIANG
Jul 3rd, 2011
http://nguoivietboston.com/?p=38359
Trong lần kỷ niệm 500 năm, đánh dấu ngày Christophe Colomb đã tìm ra Châu Mỹ hay Tân Lục Ðịa. Dịp này đã có nhiều học giả, sử gia, nhà khoa học và khảo cổ khắp thế giới đưa ra thắc mắc “Phải chăng Colomb là người đầu tiên đã tìm ra Tân Lục Ðịa hay ông chỉ là người đầu tiên tổ chức cuộc họp báo để hợp thức hóa sự có mặt của Châu Mỹ trên bản đồ thế giới” ?
Christophe Colomb hay Columbus có gia thế bình thường, cha làm thợ dệt tại Gêne (Tây Ban Nha). Là một vĩ nhân của thế giới nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh vì sự đố kỵ của thế nhân nên lúc đương thời, đến nổi đã không lưu lại được một bức chân dung nào của nhà thám hiểm. Ðiều này đã chứng minh tại sao những bức chân dung của Colomb hiện đang lưu hành không đồng nhất và ít giống ông vì các họa sĩ của thế kỷ XVI đã vẽ bằng phương pháp ‘Identikit‘, tức là dựa theo lời kể của những người quen biết, trong đó có con trai nhà thàm hiểm là Ferdinand. Ðại để thì lúc sinh thời Colomb có nước da và tóc màu đỏ, mắt xanh, cao lớn trên 1,65m.
Từ nhiều thập niên qua, rât nhiều học giả đã tìm đủ mọi cách phủ nhận công trình thám hiểm của Colomb nhưng tới nay cũng chỉ là những giả thuyết hoang đường, khó lòng đánh đổ được một sự thật đã được cả thế giới công nhận và ngưởng mộ. Nhưng dù gì chăng nữa, thì công trình thám hiểm của Christophe cũng đã đi vào lịch sử và tâm khảm của mọi người, trong đó có Hiệp Chủng Quốc và các quốc gia thuộc Châu Mỹ. Ngoài ra từ những khai quật được do các nhà khảo cổ tìm thấy gần đây, dựa theo niên lịch khảo sát, có thể xác định họ đã tới đây trước Colmb, gồm những ngư dân Nhật, nhà sư Hui Sen, hoàng tử Madoc, Bjarni, Leif và người Do Thái. Nhưng chính Colomb lại là người đầu tiên đã công bố sự hiện hữu của Tân Lục Ðịa Châu Mỹ cho cả thế giới biết
Hoa Kỳ là một quốc gia thuộc Châu Mỹ, tới nay vẫn còn là một siêu cường số 1 của thế giới về kinh tế, quân sự. Ðó là một Tiểu Lục Ðịa rộng lớn, có lãnh thổ chạy từ bờ Thái Bình Dương qua Ðại Tây Dương, diện tích xấp xĩ với Âu Châu, đứng thứ tư sau Liên Bang Nga (6.592.812 Sq.Ml), Gia Nã Ðại (3.851.787 Sq.Ml) và Trung Cộng (3.691.000 Sq.Ml). Như vậy, tính đến năm 2010, diện tích Hoa Kỳ là 3.623.420 Sq.mi hay 9.384.658 Km2 và dân số hơn 300 triệu người. Do đất nước quá rộng lớn, còn dân chúng thì tạp chũng, lại có nhiều nền văn hóa dị biệt, tự do quá trớn và cạnh tranh ráo riết để mà sinh tồn. Bởi thế không ai sinh sống trên đất nước này, dù là bản địa hay di dân, người bình thường hoặc Tổng Thống, dám khẳng định nước Mỹ là thiên đàng hay địa ngục, vì sự tốt, xấu, may mắn hay bất hạnh… đều do công ăn, việc làm, tức là Tiền chi phối.
Người Việt tị nạn CS chúng ta may mắn được sống hạnh phúc trên đất Mỹ, với đầy đủ các quyền lợi đã qui định từ Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, mà đâu mấy ai hiểu rõ là Tiền Nhân đã đổi lấy nó bằng máu và mạng sống trước bạo lực
1- THỦ ÐÔ HOA KỲ VÀ TÒA BẠCH ỐC:

Mới đây, nhà xuất bản The Preseavation Press đã phối họp với các đại nhật báo Mỹ US Today, Miami Herald, Tampa Tribune… mở một cuộc thăm dò rộng rãi ý kiến trong dân chúng, để lựa chọn Hai Chục Công Trình Xây Dựng, được ưa thích nhất tại Hoa Kỳ. Tất cả các kiến trúc trên đều có liên hệ mật thiết tới những trang lịch sử dựng và giữ nước của tiền nhân. Ðiều này đã nói lên tình yêu nước nồng nàn của người dân cả nước đối với di sản của quốc gia họ.
Từ ngày lập quốc tới nay, Hoa Kỳ vẫn là một Liên Bang Dân Chủ, chịu ảnh hưởng của nền chính trị Châu Âu, dựa trên nguyên tắc phân quyền và chủ quyền thực sự do lá phiếu của người dân tín nhiệm quyết định. Hiện Mỹ có 50 Tiểu Bang và Thủ Ðô là Washington (Hoa Thịnh Ðốn), có diện tích 178 km2, dân số 606.900 người theo thống kê năm 2004. Hằng năm thủ đô đón tiếp hơn 20 triệu du khách muôn phương, đổ về thắm viếng các công trình kiến trúc tại đây. Có điều ít ai ngờ được là thủ đô Hoa thịnh Ðốn, đã được khai sinh từ một kiến trúc sư tài ba người Pháp P.C L’enfant nhưng sau đó ông đã bị lãng quên vì sự bội bạc của người Mỹ.
Theo tài liệu từ L’Histoire, thì ngày 11-3-1791, tám năm sau khi 13 thuộc địa cũ của Anh Cát Lợi được độc lập, trở thành Tân Quốc Gia Hoa Kỳ. Việc lực chọn thủ đô cho Liên Bang gặp nhiều trở ngại khi chỉ có một địa điểm thích hợp. Trong lúc đó khắp lãnh thổ, đâu cũng là những vùng thích hợp và đủ điều kiện lịch sử, vì sự liên hệ tới cuộc chiến đấu chống quân Anh như Boston, Philadelphia, Yorktown… được các đại biểu đề nghị. Tuy nhiên cuối cùng, Hội Ðồng Quốc Gia quyết định theo đề nghị của Thomas Jefferson, một thành viên trong Quốc Hội, đồng thời là Thống Ðốc Tiểu Bang Virginia, chọn một địa điểm trung gian, nằm trong Quận Columbia, để xây dựng thủ đô Liên Bang.
Ðây là ý kiến dung hòa của Quốc Hội, được Vị Tổng Thống đầu tiên của Hoa Kỳ George Washington (1732-1798), chấp thuận và giao phó việc tìm địa điểm, lập đồ án xây dựng Thủ đô được chọn, tọa lạc trên hai bờ sông Potomac. Công trình trên được ủy nhiệm cho một Thiếu Tá Công Binh người Pháp tên Pierre Charles L’Enfant thực hiện.
Ông sinh ngày 2-8-1754 tại Ba Lê (Pháp), là con trai của Họa sư Pierre L’enfant, phụ trách xây dựng cung điện cho Hoàng đế Pháp Louis XV. Xuất thân là một Trung Úy Pháo Binh của quân đội Pháp. Ông đã cảm khái trước tinh thần yêu nước và sự hy sinh cao cả của Nghiã Quân Hoa Kỳ lúc đó, đang chiến đấu anh dũng chống lại quân Anh. Bởi vậy L’ Enfant đã tình nguyện theo Ðoàn Chí Nguyện Pháp, sang giúp người Mỹ đang tranh thủ cho nền độc lập xứ sở. Năm 1779, L’Enfant bị trọng thương trong trận ác chiến tại Savannah và bị Anh bắt làm tù binh, khi cùng đồng đội cố thủ tại cứ điểm Charleston. Ðược trao trả cho Hoa Kỳ qua cuộc thương thuyết của Bá tước Rochambeau và trở thành Sĩ Quan Huấn Luyện đầu tiên của Quân Ðội Mỹ.
Ngày 13-12-1971, dự án xây dự thủ đô Hoa Thịnh Ðốn của L’Enfant hoàn tất, được đệ trình Quốc Hội và Tờ Công Báo Mỹ đăng tải với những lời khen ngợi, gọi công trình trên như là ‘Trung tâm của Lý Trí, Tuyên Ngôn đẹp nhất của Thế kỷ, Biểu tượng kính yêu’ của Quốc Gia trẻ trung Hoa Kỳ vừa được độc lập. Nhưng dù dự án được Tổng Thống Washington rất ưa thích tán đồng lai bị đám Nghị Viên thối nát lúc đó, vắt chanh bỏ vỏ, cấu kết với bọn nhà giàu, đầu cơ trục lợi, ém nhẹm trù dập, từ chối. Cuối cùng L’Enfant đã bị người Mỹ lãng quên và chết trong cảnh nghèo đói thê thảm vào năm 1825.
Thủ đô Liên Bang được chính thức thừa nhận vào tháng 12-1800, khi Ðoàn Ðại Biểu từ các Tiểu Bang tới trú ngụ tại Dinh Capital. Năm 1900 kỹ niệm 100 thành lập thủ đô. Quốc Hội Mỹ cử một Ủy Ban lo phát triển và xây dựng thủ đô trong tương lai. Nhân dịp này, các vị lãnh đạo Hoa Kỳ đã tuyên bố rất hối tiếc trong quá khứ, đã phủ nhận Ðồ Án Xây Dựng Thủ Ðô của Hoạ Sư L’Enfant, nên ngày nay phải tốn nhiều công sức và ngân khoản tu sửa lại thành phố. Ðồng thời người Mỹ cũng quyết định Cải Táng Hài Cốt của L’Enfant, từ một khu nghĩa địa nghèo nàn, về Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington, để Ông được nằm chung với các đấng Anh Hùng Liệt Nử của nước Mỹ, ngày đêm nhìn ngắm lâu đài, phố thị nguy nga, núi sông hùng tráng bên hai bờ Potomac.
Ðây là một thành phố độc lập về hành chánh mang tên là Washington D.C. (District of Columbia), để phân biệt với Tiểu Bang Washington ở phía tây bắc Hoa Kỳ, giáp giới với Canada. Do không lệ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, nên thủ đô hiện phải đương đầu với tỷ lệ tội phạm đứng đầu cả nước, mặc dù đây là trung tâm đầu não, tượng trưng cho quyền lực của Hoa Kỳ. Có nhiều lý do giải thích như thành phố có quá nhiều người Da Ðen sinh sống tại trung tâm, trong khi hầu hết giới trung lưu da trắng thích cư ngụ ở vùng ngoại ô yên tỉnh. Mặc khác hệ thống an ninh tại đây luôn bị chồng chéo, đụng chạm giữa lực lượng của địa phương và Liên Bang, tạo nhiều kẽ hở trong công tác chung là trấn áp các tội ác.
Thủ đô tập trung tất cả các cơ cấu của chính quyền liên bang với những dinh thự nguy nga và các đền đài hùng tráng, nằm dọc hai bên Ðại lộ Constitution, bên bờ sông Potomac. Còn có Tòa Bạch Ốc trên Ðại lộ Pennsylvania. Ðiện Capitol, nơi đặt Trụ sở Quốc hôi Mỹ, được khánh thành từ năm 1867. Thư viện Quốc hội (Library of Congress) lớn nhất thế giới, xây dựng năm 1800, kế đó là Tối Cao Pháp viện (Supreme Court).
Ở đây còn nổi tiếng qua các đài kỹ niệm với lối kiến trúc hài hòa nhưng vô cùng độc đáo. Ðài tưởng niệm TT Washington có 898 bậc thang cao 150m, giống như một tháp bút giữa trời. Ðài kỷ niệm TT Lincoln là một ngôi tượng khổng lồ, tạc bằng đá cẩm thạch cao 57m. Trong khi đó bức tượng của Jefferson được đúc bằng đồng, ngự trong một đại sảnh với mái vòm đứng trên những hàng cột tròn. Nhưng cảm động và có nhiều du khách tới thăm viếng hiện nay, vẫn là Ðài Kỷ Niệm Những Chiến Binh Hoa Kỳ đã hy sinh tại chiến trường Ðông Dương, trong cuộc chiến bảo vệ tự do độc lập cho các nước VNCH, Kampuchia và Lào, trước cuộc xâm lăng của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế, do Hà Nội đãm nhận, từ 1960-1975. Ðài này nằm trên Ðại lộ Constitution với biểu tượng Ba Người Lính sát cánh bên nhau trong chiến đấu, bên trong có những bức tường đá hoa cương đen, khắc tên 58.000 tử sĩ đã hy sinh vì nước.
Ngoài ra Khu kỷ niệm Tổng Thống Lincold tại Hoa Thịnh Ðốn, cũng được đánh giá là một trong 20 công trình xây dựng nổi tiếng của Mỹ, được kiến trúc sư Henry Bacon thiết kế và xây dựng từ năm 1922 theo kiểu cách của Cổ Hy Lạp. Trong công trình này có Pho tượng của TT Lincold cao 5,8m (19 Ft), do Ðiêu khắc gia Daniel Chester sáng tạo.
– TÒA BẠCH ỐC: Là nơi cư ngụ và làm việc của 43 vị Tổng Thống Hoa Kỳ, từ người đầu tiên là TT John Adams (1797-1801), cho tới đương kim Tông Thống Obama (2009- ). Riêng Tổng Thống đầu tiên của Mỹ là George Washington (1789-1797), từ trần trước khi Tòa Bạch Ốc hoàn thành. Công trình được khởi công từ năm 1792 tới năm 1799 mới xong, do Kiến Trúc Sư Janet vẽ đồ án và thiết kế. Ðây là Trung tâm quyền lực chẳng những của Mỹ mà là cả thế giới, nên thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước tới tìm hiểu thăm viếng, những bí mật của Tòa Dinh Thự nhưng ít ai biết được gì đã xãy ra bên trong, sau lần cửa khép.
Dù Washington là nguời đã đặt viên đá đầu tiên để xây dựng tòa nhà nhưng ông đã mất trước khi được khánh thành. Nên vị Tổng Thống thứ nhất vào cư ngụ trong Dinh lại là John Adam và Ðệ Nhất Phu Nhân là Abigail Adam. Gọi là Tòa Bạch Ốc vì toàn thể dinh thự được sơn màu trắng, nên từ ngoài nhìn vào rất lạnh lẽo cô đơn. Ngày 24-8-1914, quân Anh tấn công thủ đô Hoa Thịnh Ðốn và đốt rụi Tòa Bạch Ốc, nên Kiến trúc Sư Janet Hoban lại phải tái tạo và sơn phết lại toàn diện. Theo Robert Riplay, tác giả ‘Sưu Tập Những Chuyện Kỳ Lạ‘, thì danh từ Tòa Bạch Ốc, xuất xứ từ ý tưởng của Tổng Thống Washington, muốn kỷ niệm mối tình thơ mộng giữa ông và bà Martha Custiis, lúc đó hai người đang sống tại Trang Trại White House, bên bờ sông Pamunkey, thuộc Tiểu Bang Virginia.
Khởi đầu, tòa dinh thự chỉ có 132 phòng nhưng qua lần sửa chữa vào năm 1940, mới được phân biệt thành các khu vực riêng biệt. Hiện nay mỗi buổi sáng từ thứ hai tới thứ sáu, đều có nhiều phái đoàn du lịch cũng như quan khách, tới thăm viếng những cơ sở của chính phủ, nằm dưới tầng trệt. Khu vực phía tây lầu là nơi sinh hoạt của tổng thống và gia đình. Khu này nổi tiếng nhất là các Phòng Green Room, dùng làm phòng ăn thời TT Bill Clinton. Ðây là nơi quàng xác Willie Lincoln, con trai của TT Lincoln mất lúc 11 tuổi vì bệnh thương hàn. Ðó cũng là nơi gặp gở giữa hai đệ nhất phu nhân Nancy Reagan (Mỹ) và Raisa Gorbachev (Liên Bang Sô Viết) khi Tổng Bí Thư LBXV Gorbachev tới thăm viếng Hoa Kỳ. Phòng Bầu Dục (Blue Room) là phòng Khánh Tiết, nơi tiếp xúc hầu hết các Phái đoàn Ngoại giao các nước, mới đây có Thủ tướng VC Phan Văn Khải tới thăm Mỹ vào tháng 6-2005. Phòng Ðỏ (Red Room) là khu vực đặc biệt, nên còn được gọi là Dolles Madison, xữ dụng nhiều mục đích.
Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là Phòng ngủ của cố Tổng Thống Lincoln. Chính nơi này ngày xưa, ông vừa dùng làm nơi ăn, ngủ và hội họp với các thành viên trong Nội Các. Cũng chính nơi này, vào năm 1863 Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký vào Văn Bản Tuyên Bố Giải Phóng Nô Lệ tại Liên Bang Hoa Kỳ. Sau này chỉ có hai Tổng Thống Theodore Roosevelt (1901-1909) và Woodrow Wilson (1913-1921) là dám ngủ tại đây, vì ai cũng sợ hồn ma của TT Lincoln, theo lời đồn đãi thường xuất hiện.
2- HẢI CHIẾN MỸ-NHẬT TẠI TRÂN CHÂU CẢNG (HAWAII) NĂM 1941:
Sáng ngày 7-12-1941, quân đội Thiên Hoàng Hirohito bất thần mở một cuộc không kích thần tốc kéo dài 1 giờ 50 phút, bằng 300 phi cơ chiến đấu đủ loại, nhắm vào Hạm Ðội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đang trú đóng tại Trân Châu Cảng, thuộc thành phố Honolulu, Hawaii. Theo các sử gia, cuộc tấn công trên ngoài việc triệt hạ gần hết hạm đội của Mỹ tại đây, còn gây sửng sốt cho các chiến lược gia lúc đó. Bởi vậy, dù đứng trên quan điểm chính trị nào, họ bắt buộc phải công nhận “đây là một chiến công sáng chói của người Nhật“ trước khi lãnh hai quả bom nguyên tử và đầu hàng Hoa Kỳ vô điều kiện vào năm 1945.
Sau này khi nhắc tới trận đại chiến long trời lở đất tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor), nhiều sử gia đã không ngớt tranh cãi suốt mấy chục năm qua, quanh quẩn chỉ là dấu hỏi “về sự thất bại của tình báo Anh-Mỹ và lý do Hoa Kỳ để cho người Nhật tấn công một cách bất ngờ?” trong khi đã có kinh nghiệm về cuộc hải chiến Nhật-Hoa năm 1894 và Nga-Nhật năm 1905. Tóm lại vấn đề đặt ra là người Mỹ, thật sự bị thua trận hay vì lý do chính trị phải để thua trận? Tại sao Tổng thống Roosevelt không tin là Nhật tấn công Trân Châu Cảng, trong khi đã nắm trong tay nhiều tin tức tình báo? Ðó là những bí ẩn của lịch sử, cho dù Hoa Kỳ nói là đã giải mật hết những tài liệu cũ nhưng đến nay, theo các sử gia vẫn chưa bật mí gì hết trong vụ này.
Mới đây, nhà biên khảo Igor Semenikhin dựa vào phúc trình của phương tây, cũng như cuộc đối thoại với một phi công củ của Nhật, đã ghi lại một vài chi tiết quan trọng, liên quan đến việc Nhật mở trận không kích vào Hạm Ðội Mỹ năm 1941 tại Trân Châu Cảng.
Tetsuo Shimada, phi công thuộc Phi Ðoàn 1 của Không lực Thiên Hoàng, từ năm 1932-1945, cũng là người đã trực tiếp tham chiến trận không kích Trân Châu Cảng. Ông hiện còn sống tại thành phố Kagoshima, phía nam đảo Kyusu (Nhật) và làm việc tại Viện Bảo Tàng, cho biết trong trận Trân Châu Cảng, phía Nhật có hai hàng không mẫu hạm Akagi và Shokaku tham chiến. Ngoài ra không quân Nhật đã cho một phi đội, đến thực tập tác chiến tại hỏa sơn Sakurajima vừa mới trồi lên giữa vịnh Kagoshima, vì địa thế gần giống vùng Trân Châu Cảng.
Thật ra người Nhật đã chuẩn bị tấn công Hạm Ðội Thái Bình Dương của Mỹ tại Hawaii, từ tháng 2-1941. Kế hoạch tuyệt mật này, chính Thủy sư đô đốc Yamamoto tư lệnh Hải quân Nhật, giao cho Ðô Ðốc Jisaburo nghiên cứu và rút kinh nghiệm, từ cuộc hải chiến Nga Nhật năm 1905, mà yếu tố thành công là sự tấn công bất ngờ của Nhật vào Hạm Ðội Nga, đóng tại cảng Arthur vào ban đêm không báo trước. Ðó cũng là kinh nghiệm mà người Nhật đã sử dụng khi tấn công Mỹ trong tương lai.
Ðể tiến hành kế hoạch, một điệp viên cũng là một sĩ quan Hải quân Nhật tên Takeo Yoshikawa, qua tên giả là Morimura phó lãnh sự Nhật tại Honolulu, trà trộn vào các trà đình, tửu quán cũng như câu lạc bộ của Sĩ quan Hải Quân Mỹ, điều nghiên tin tức, quan sát chụp hình và tìm hiểu bí mật quân sự của Hạm Ðội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, ngay chính miệng của các sĩ quan Mỹ, trong lúc hơi men chếnh choáng. Thật ra, ngay những ngày đầu năm 1941, khi Takeo vừa từ Ðông Kinh tới Honolulu, đã bị nhân viên tình báo Mỹ FBI theo sát. Nhưng nhờ đóng kịch quá khéo, nên chỉ một tháng ngắn ngủi, người Mỹ đã để cọp sổ chuồng. Nhờ vậy Takeo đã hoàn thành nhiệm vụ một cách toàn hảo. Ngoài ra còn có Nagao Kita, thượng cấp của Takeo, cả hai đã góp phần tạo nên chiến thắng cho quân Nhật, qua cung cấp thông tin về các căn cứ không quân của Mỹ tại Hawaii lúc đó như Fords Island, Hickam Field, bãi đáp phi cơ của Hải Quân ở Kaneohe và quan trọng nhất là nhà kho chứa Pháo Ðài Bay B-17 tại Trân Châu Cảng. Một điều quan trọng khác, là lúc đó, phi công Mỹ chỉ kiểm soát các vùng phía đông và tây nam Hawaii, mà bỏ trống mạn bắc. Ngoài ra, Tư Lệnh quân sự tại Trân Châu Cảng, tướng Walter C.Short, đã ra lệnh tập trung phi cơ một chỗ, nói là để chống phá hoại. Ngày 24-9-1941, Ðô đốc Toyoda, bộ trưởng ngoại giao Nhật, ra lệnh cho Takeo, phải tìm mọi cách chia Cảng Trân Châu ra 5 khu vực, với báo cáo chính xác, từ số lượng Tàu, Máy bay và mọi sự coi như trôi chảy. Về lý do, tại sao Nhật chọn Trân Châu Cảng làm mục tiêu tấn công. Sau này qua tài liệu, người Nhật cho biết vì đã nắm được gần hết các tài liệu trọng yếu của Hạm Ðội Mỹ tại đây. Thứ đến là người Mỹ nếu đóng cửa Tòa Lãnh Sự Nhật tại Honolulu, thì cuộc chiến sẽ không xảy ra. Ðây cũng là lý do mà các sử gia cứ đem ra tranh luận, còn Chính phủ Mỹ thì trả lời, sở dĩ làm như vậy, là tránh chọc giận người Nhật?
Tháng 10-1941, người Nhật mới tìm ra cách sử dụng ngư lôi có hiệu quả tại Trân Châu Cảng với độ sâu từ 10-15m, bằng cách gắn thêm vào các quả ngư lôi, một bộ ổn định bằng gỗ. Cuối cùng tất cả các phi công thiện chiến của Nhật, được lệnh tập trung về phục vụ tại các Hàng Không Mẫu Hạm, để lái các loại phi cơ phóng thủy lôi có gắn loại bom cỡ 15-16 inch, được ráp thêm bộ ổn định, để phá vỡ võ thép của các chiến đấu cơ Hoa Kỳ.
Ngày 16-10-1941, nội các của Thủ tướng dân sự Nhật Koyoe từ chức. Ngày 18-10-1941 tướng Tijio lập nội các quân phiệt với chủ trương dùng võ lực chiếm Trung Hoa, Ðông Dương và Tây Bá Lợi Á của Nga. Ngày 5-11-1941, Thiên Hoàng Hirohito quyết định, đánh Anh và Mỹ nhưng để đánh lạc hướng, Nhật giả vờ họp thượng đỉnh với Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn. Trong khi đó tại Nhật ngày tấn công Mỹ tại Trân Châu Cảng, được nội các quyết định là 8-12-1941 theo giờ Tokyo.
Ðầu tháng 12-1941, từng nhóm tàu trong lực lượng đặc nhiệm ‘Kido Butai’ đánh Trân Châu Cảng, tập trung về căn cứ Nhật Titurup, trên quần đảo Kurile. Thế rồi lúc 7 giờ 55 phút ngày 7-12-1941, 353 phi cơ chiến đấu đủ loại của Nhật, chia làm 2 nhóm do Minoru Henda (183 phi cơ) và Mitsuo Fuchida (170 phi cơ) chỉ huy, đồng loạt tấn công Hạm Ðội Thái Bình Dương đang tập trung tại Trân Châu Cảng. Hai đợt tấn công, kết thúc vào lúc 9 giờ 45 phút sáng cùng ngày. Theo sử liệu, Nhật đã hủy diệt của Mỹ 232 Chiến Ðấu Cơ và toàn bộ các Chiến Hạm có mặt trong Cảng. Ngoài ra có 3,581 người thương vong (2,435 người chết). Có 3 Hàng Không Mẫu Hạm nhờ đang thao diễn ở xa Trân Châu Cảng, nên không bị thiệt hại. Phía Nhật có 29 phi cơ bị hạ.
3- CHUYỆN NUỚC MỸ:
+ Chuyện Dài Súng Ðạn:
Ðến giờ, nước Mỹ vẫn điên đầu về chuyện súng đạn gần như vô phương giải quyết. Súng đạn đã làm ba vị Tổng Thống Hoa Kỳ thiệt mạng. Súng đã giết tập thể nhiều nam nữ học sinh, sinh viên và thầy cô ngay tại nhà trường. Cũng vì súng mà nhiều thanh thiếu niên đã vướng vào con đường tội lỗi mất hết tương lai. Thế nhưng chính quyền tiểu bang lẫn liên bang vẫn bất lực và người Mỹ cứ tiếp tục là nạn nhân của súng.
Ðây là vấn đề được bàn cải nhiều năm qua câu hỏi đặt ra là “từ thuở lập quốc ông cha ta có thích súng hay không?“ Nhiều người đã trả lời là có khi dẫn chứng lời của ông Richard Henry Lee, đã viết vào Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập Hoa Kỳ ‘Ðể bảo vệ tự do, điều cần thiết là tất cả mọi người phải luôn giữ vũ khí và được dạy cách sử dụng ngay khi còn trẻ‘. Nhưng theo nhận xét của giáo sư Michael Bellesiles tại Ðại học Emory thuộc thành phố Atlanta, cho rằng người xưa đâu có thích giữ súng đạn, khi ông dựa vào 1,000 hồ sơ lưu trữ từ 1765-1850, phân tích qua các bản di chúc phân chia tài sản đã không thấy ai nhắc tới vũ khí như gươm giáo súng đạn vào thời đó.
Còn các tài liệu liên quan tới lịch sử Hoa Kỳ, có nhắc tới những vụ kiểm kê tại tiểu bang Massachusetts là một trong hai trung tâm sản xuất vũ khí của Mỹ vào năm 1840, cho thấy chỉ có 11% dân số có giữ súng đạn. Ðiều này cho thấy người Mỹ thuở lập quốc không mấy người giữ súng đạn trong nhà. Thật ra thời đó súng đạn rất đắt, chỉ riêng tiền mua một khẩu súng trường Mousqueton, tương đương với tiền kiếm được của một nông dân cả năm. Sỡ dĩ súng quá đắt vì lúc đó Mỹ phải nhập cảng từ Anh, Pháp, Ðức. Ngoài ra còn phải tốn tiền bảo trì súng làm bắng sắt nên mau hoen rĩ không xài được. Do đó chỉ có giới trung lưu trở lên mối có tiền sắm súng riêng mà thôi.
Trước khi xảy ra cuộc nội chiến, Hoa Kỳ chỉ có hai lò sản xuất súng đạn tại Harpers Ferry (Virginia) và Springfield (Massachusetts) nhưng không đủ trang bị cho quân đội. Vì vậy năm 1793 quốc hội Mỹ phải mua 7000 khẩu súng trường và năm sau chỉ còn tiền nhập thêm 400 khẩu nữa mà thôi, để trang bị cho quân chính qui. Với các lực lượng dân quân lại càng thiếu thốn, nên phải dùng gươm giáo thay thế. Năm 1808 liên bang đã cấp súng đạn cho dân da trắng khi họ tình nguyện vào đơn vị dân quân tự vệ. Tuy nhiên đó cũng chỉ là lý thuyết vì mãi tới năm 1839, chỉ có các đơn vị ở Massachusetts mới được trang bị vũ khí đầy đủ mà thôi.
Tóm lại việc phát triển súng đạn tại Mỹ bắt đầu từ cuộc nội chiến Nam Bắc (1861-1865) cũng là thời kỳ đất nước bắt đầu kỹ nghệ hóa. Do đó chỉ trong năm 1864, riêng lò Springfield đã sản xuất tới 600.000 khẩu súng trường, bằng số súng cả nước Mỹ gộp lại trong 70 năm trở về trước. Ngân sách quốc phòng của Bắc quân cũng tăng tới 179 triệu USD (bằng 2,5 tỷ hiện nay) nên tha hồ mua sắm hay sản xuất súng đạn. Nam quân cũng đâu chịu thua, thế là hai phe tha hồ chạy đua phát triển quân sự để dành chiến thắng.
Năm 1865 cuộc nội chiến chấm dứt nhưng chính quyền vẫn không ban hành lệnh thu hồi số súng đạn đã cấp phát. Bởi vậy hầu hết binh sĩ khi được lệnh giải ngũ đã đem vũ khí cá nhân về cất giữ tại nhà. Ðó là lần đại vũ trang cho toàn dân Mỹ với số lượng lên đến vài triệu khẩu, mở đầu cho làn sóng tội lỗi bừng phát vào thời kỳ hậu chiến, mà nạn nhân quan trọng nhất đầu tiên hứng chiu là Tổng Thống Abraham Lincoln. Còn Samuel Colt là tên lái súng đầu tiên của Mỹ trong ngành mua bán vũ khí, dùng tiền bạc hối lộ chính quyền để được luật hợp thức hoá. Ðương sự cũng là nhân vật đã phát sinh nghề vận động hành lang (lobby) của giới buôn bán súng. Tuy vậy việc cho sử dụng súng từ 1870-1880 kể cả vùng Viễn Tây Hoang Dã vẫn chưa chính thức như các cảnh thấy trong phim cao bồi chỉ là thêu dệt quảng cáo. Căn cứ vào các tài liệu còn lưu trữ, thì bạo lực súng đạn đã xảy ra nhiều nhất tại các thành phố lớn ở miền đông, hơn là tại các trang trại đồng cỏ của giới chăn bò. New York mới chính là thiên đường của những tên sát nhân vì là hang ổ của các tập đoàn Mafia Ý lúc đó chuyên buôn lậu rượu, súng đạn và kỷ nghệ gái điếm.
Tới cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ngày càng có nhiều người giữ súng vì quá rẽ và các điều kiện mua thật dễ dàng, qua nhiều hảng sản xuất vũ khí cũng như sự thay đổi của Hiệp hội súng trường Mỹ (National Rifle Association – NRA), được thành lập vào năm 1872 và quyết định của quốc hội cho phép quảng bá việc sử dụng súng trường vào năm 1903. Sau đó chính phủ còn đem số súng sản xuất thặng dư tặng cho các câu lạc bộ súng được NRA đở đầu.
Tháng 11- 1963 Tổng thống John F Kenedy bị ám sát bằng súng khiến cho quốc hội phải thông qua luật kiểm soát vũ khí (Gun Control Act) đồng thời cấm mua bán súng qua đường bưu điện. Luật trên được NRA ủng hộ nhưng sau đó lại bị một vài thành viên phản đối như Hanlon Carter (Texas) và cuối cùng đã xóa sổ tổ chức NRA cũ để lập một hội buôn bán vũ khí mới, mà số hội viên vào năm 2000 đã lên tới 2,5 triệu người. Từ đó NRA ngoài việc chống sự kiểm soát việc sử dụng súng đạn của dân Mỹ, mà còn là một đảng phái chính trị, gây nhức nhối cho chính quyền kể cả các vụ ám sát bằng súng mà nạn nhân là tổng thống Reagan và Brady, tuy cả hai chỉ bị thương không mất mạng.
+ Từ Chuyện In Tiền Tới Hai Vụ Khủng Hoảng Tài Chánh Lớn Nhất Của Mỹ.
Ai cũng biết các đại công ty của Mỹ lừng danh trên thế giới như Coca Cola, Citibank, Ford, Macintosh… đã làm ra nhiều tiền của cho quốc gia Hoa Kỳ. Nhưng chính Cơ Quan In Tiền (Bureau of Engraving and Printing) viết tắt là BEP, thuộc Bộ Tài Chánh của Liên Bang Hiệp Chủng Quốc, mới là nơi hằng ngày đã in hằng triệu đô la cho khắp thế giới sử dụng.
Nhà in tiền này qua cái tên The Money Factory, tọa lạc tại đường 14 thủ đô Hoa thịnh Ðốn (Washington DC), mở cửa hằng ngày cho phép mọi người vào tìm hiểu sinh hoạt của BEP, hoàn toàn miễn phí và rất giản dị trong thủ tục kiểm soát an ninh với mọi người. Khách bị ngăn cách bên trong bằng bức tường kính dày và cao đến tận trần nhà. Tóm lại để hoàn thành tờ giấy bạc, nhà in tiền phải trải qua 65 công tác in ấn từ giai đoạn bản kẻm cho tới khi bạc được xếp thành từng bó 100 tờ để phát hành. Theo tài liệu cho thấy nhà in hoạt động từ tháng 8-1862 tới nay chưa hề xảy ra một trường hợp mất mát nào đáng tiếc, tuy các công nhân viên đang ở giữa núi tiền. Tất cả các loại giấy bạc của Hoa Kỳ đều đuợc in tại đây từ năm 1863 và tới nay chỉ còn 6 loại tiền giấy từ 1 đến 100 USD thông dụng mà thôi.
Về việc chọn in chân dung các nhân vật trên tờ giấy bạc do bộ trưởng tài chánh quyết định. Theo đó thấy tờ 1 đồng in hình Tổng thống đầu tiên của Mỹ là George Washington. Kế tiếp là TT Thomas Jefferson tờ 2 đồng, TT Abraham Lincoln tờ 5 đồng, Bộ trưởng tài chánh Alexander Hamilton tờ 10 đồng, TT Andrew Jackson tờ 20 đồng, TT Ulysses Grant tờ 50 đồng và cuối cùng là Benjamin Franklin tờ 100 đồng có giá trị cao nhất. Ðồng đô la đã gắn liền với đời sống của người dân Mỹ. Ðó là một chân lý như nhận xét của thi hào kiêm triết gia nổi tiếng của Mỹ ‘Dân Hoa Kỳ rất ít có đức tin, họ chỉ tin vào sức mạnh của đồng đô la mà thôi‘.
Thứ ba ngày 29-10-1929 có thể nói là ngày đen tối nhất của người Mỹ đối với nền kinh tế đang trong cơn khủng hoảng, nhất là với thị trường chứng khoán. Ngày đó không người Mỹ nào quên được, đã xảy ra lúc 10 giờ sáng thời gian mà thị trường cổ phiếu tại New York mở cửa với tin sét đánh khi chỉ số Dow Jones tụt xuống một cách khủng khiếp: 368-298, giảm 22%. Và ngày đó được gọi là ‘Ngày Thứ Ba Ðen Tối‘, làm cho nền kinh tế của Mỹ và thế giới tụt giốc thê thảm, kéo dài hơn 10 năm tới Thế chiến 2 bắt đầu (1939) mới tạm chấm dứt cơn ác mộng. Cũng từ đó tới năm 1954, thị trường chứng khoán Mỹ lại đạt được mức kỷ lục như năm 1929 nhưng sự lo lắng hải hùng của ngày thứ ba đen vẫn luôn ám ảnh đời sống người dân Mỹ
Ngày 19-10-1987 lần nữa sự đen tối lại đến với thị trường chứng khoán Hoa Kỳ. Ngày đó, chỉ số Dow Jones tụt 508,32 điểm làm cho cổ phiếu Mỹ rơi vào tình trạng hổn loạn đóng băng, gieo màu tang trắng lên khắp khu phố Wall (New York), kéo theo sự sụp đổ hàng loạt các thị trường chứng khoán London, Tokyo, Sydney, HongKong, Singapore. Tai họa năm 1929 thật sự đã trở lại với mọi người, chỉ trong chốc lát tỷ phú biến thành kẻ trắng tay như Sam Wolton mất trắng 2,1 tỷ USD và tất cả bất động sản. Tuy nhiên nhờ lúc đó kinh tế Mỹ còn đang phát triển mạnh nên sớm vươn mình trở lại sau cú sốc chết người.
Mới đây 2-7-2008 lần nữa thị trường chứng khoán tại New York cũng đột nhiên sụt điểm thê thảm chưa từng thấy, báo hiệu kinh tế Hoa Kỳ đang đứng trên bờ vực thẳm khủng hoảng vì giá dầu có tăng mà không thấy giảm. Tuy nhiên kẻ thiệt hại duy nhất không phải chỉ có Hoa Kỳ mà còn thêm siêu cường Trung Cộng vì bao nhiêu vốn liếng đều đầu tư vào cổ phiếu Mỹ ngay từ thời kỳ đổi mới kinh tế.
+ BOEING DREAMLINER: Máy Bay Mỹ Bán Chạy Nhất Thế Giới Trong Thế Kỷ XXI
Ngày 8-7-2007 công ty Boeing của Mỹ đã cho trình diện trước công chúng tại tiểu bang Washington kiểu máy bay mới nhất ‘787 Dreamliner‘ qua các kiểu 787-3, 787-8, 787-9 và 787-10. Giá mỗi chiếc hiện nay từ 146 đến 200 triệu USD, công ty dự kiến sẽ sản xuất 2,000 chiếc theo đơn đặt hàng trong vòng hai thập kỷ tới.
Ðây là loại máy bay thương mại, có khả năng chở được từ 210-330 hành khách, bay xa hơn 15.000 km. Thân phi cơ được chế tạo bằng sợi carbon composite (50%) và titanium (15%), coi như loại máy bay chuyên chở hạng trung, tối tân nhất trong thế kỷ 21. Bởi vậy đã có trên 40 công ty hàng không quốc tế đặt mua 642 chiếc thuộc các kiểu 787, trong số này có hảng Qantas của Úc sử dụng tới 115 chiếc B-787. Ðặc biệt có công ty Air Berlin của Ðức đặt mua 25 chiếc, trị giá hơn 4 tỷ USD.
Ðây là loại máy bay tối tân và ít tốn nhiên liệu nhất so với các loại phi cơ chuyên chở khác. Vì được chế tạo bằng vật liệu nhẹ như sợi carbon composite, aluminium vừa bền lại làm giảm trọng lượng thân máy bay, nên tiết kiệm tới 20% nhiên liệu sử dụng. Nhưng trên hết, B-787 đã đạt được đòi hỏi của ngành hàng không là Giảm Nhiên Liệu và Giảm Bớt Tác Hại Khí Thải Trong Bầu Khí Quyển. Ngoài ra B-787 còn được sử dụng lâu hơn các loại máy bay khác từ 20-30 năm. Về tiện nghi, phòng dành cho hành khách cũng lớn hơn, kể cả ghế ngồi, hành lang di chuyển, cửa sổ, phòng vệ sinh và áp suất trong cabin… mọi thứ đều vượt xa các loại máy bay khác.
B-787 sử dụng hai động cơ Trent 1000 có trọng lượng 11.900 lb/1c, giúp phi cơ đạt được vận tốc gần 1500 km/h với lực đẩy 150.000 pounds, tương đương với sức mạnh của 1500 chiếc xe hơi 4 máy. Loại động cơ này được công ty Rolls-Royce của Anh đặc chế cho Boeing. Hiện B-787 đã cất cánh với chiếc đầu tiên do hảng máy bay ANA vào tháng 5-2008.
+ Hoa Kỳ: Siêu Cường Quốc Thế Giới Về Sản Xuất Ðiện Nguyên Tử
Tính đến nay, Hoa Kỳ vẫn đứng đầu thế giới về mức sản xuất điện nguyên tử, qua 113 lò phản ứng (LPU) mà một 1/2 số lượng uranium đang sử dụng trong các nhà máy đều được mua từ các lò phản ứng của các nước cộng hòa cũ của Liên Bang Sô Viết sau khi sụp đổ vào năm 1991. Tuy số lượng nhà máy LPU được giảm từ 111-103 nhưng điện năng sản xuất lại tăng hơn 20%. Hiện chính phủ đang xây dựng các nhà máy mới và sẽ tiêu hủy những nhà máy đã lổi thời trong một nghĩa địa đặc biệt dành nhốt các chất phế thải độc hại.
Là quốc gia tiền tiến, nên từ năm 1960 Mỷ đã xây được nhà máy điện nguyên tử đầu tiên và sử dụng vào năm 1962. So với các nước tiên phong trong lãnh vực này (Liên Xô 1954, Anh 1956, Pháp 1956), thì Hoa Kỳ tới sau nhưng lại là nước có nhiều LPU nhất thế giới 113/441 nhà máy, tổng công suất 98.054/369.374 MW toàn cầu. Những nhà máy điện Nguyên Tử của Hoa Kỳ đều sử dụng hai loại PWR (nước áp lực) và BWR (nước sôi). Tính đến cuối năm 2005, các nhà máy trên thuộc quyền sở hửu của 10 công ty lớn của tư nhân (68%), phần còn lại của chính phủ. Sự thành công lớn nhất trong kỷ nghệ sản xuất điện nguyên tử của Hoa Kỳ, là nâng cao được hiệu suất điều hành các lò phản ứng, cũng như sự bảo dưỡng tuyệt đối tránh được sự thất thoát các chất độc hại giết người, như đã từng xảy ra tại Liên Xô và Nhật vào mấy năm trước. Nhờ vậy điện nguyên tử đã cung ứng được 19% nhu cầu cả nước với điện lực sản xuất năm 2005 lên tới 780,5 tỷ KWH.
Bộ năng lượng Hoa Kỳ là cơ quan tối cao nhất của chính phủ liên bang, điều hành và quản trị LPU. Bộ này cũng phụ trách công tác nghiên cứu để phát triển kỷ nghệ điện nguyên tử tại các phòng thí nghiệm quốc gia Idaho và Argone Tây với số nhân viên trên 6,000 người, qua mục đích phát triển các nhà máy điện nguyên tử thế hệ IV của Hoa Kỳ và thế giới. Ngoài ra Mỹ cũng là quốc gia đang sở hửu nhiều vũ khí nguyên tử nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng đã tham gia vào chương trình nguyên tử của LHQ để giúp Liên Bang Nga trong công tác pha loảng độ cao của chất uranium chứa trong 9,000 đầu đạn nguyên tử, trở thành độ thấp (LEU) làm nhiên liệu để chạy các nhà máy điện nguyên tử tại nước này
Theo tài liệu mới nhất của Ủy Ban Nguyên Tử Thế Giới (WNA) cho biết Mỹ đang xây dựng thêm 13 LPU với tổng công suất 17.000 MW, do công ty AREWA (Pháp) hợp tác với một công ty Mỹ thực hiện theo kiểu nước áp lực cải tiến của Châu Âu. Về vấn đề tiêu hủy các chất phế thải tại các nhà máy điện nguyên tử, Hoa Kỳ cũng đã ban hành luật cấm tái tạo các nhiên liệu nguyên tử đã sử dụng và mọi chất phế thải có độ phóng xạ cao. Tất cả được di chuyển đến địa điểm ân định để chôn vào lòng đất vĩnh viễn. Ðể thực hiện công tác này, các công ty điện nguyên tử đã đóng góp hơn 24 tỷ USD. Vào năm 2001 qua quyết định của lưỡng viện quốc hội, chọn khu núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada làm nghĩa địa vĩnh viễn để chôn 70.000 tấn chất phế thải nguyên tử hiện có và sẽ tiếp tục vì khả năng thật sự của khu này lên tới 682.000 tấn.
+ HARVARD, Lò Ðào Tạo Nhân Tài Cho Thế Giới.
Là một trong hàng trăm viện đại học nổi tiếng lâu đời của Hoa Kỳ. Ðây là nơi đã sản sinh cho nước Mỹ 6 vị tổng thống, 35 nhà bác học nhận giải Nobel, 30 người được giải Pulitzer và hàng trăm nhân vật lảnh đạo đủ phương diện khắp thế giới. Trường được thành lập bởi nhóm di dân Thanh Giáo tại thành phố Cambridge tiểu bang Massachusetts vào năm 1636 với mục đích ban đầu là đào tạo các linh mục và luật sư cho cộng đồng giáo dân tại địa phương
Năm 1708 khi John Leverett trở thành viện trưởng trường đại học Harvard mới bắt đầu thêm vào chương trình giảng dạy những môn học ngoài tôn giáo. Trường mang tên một linh mục John Harvard (1607-1638) vì ông đã hiến cho nhà trường nữa phần gia tài khi qua đời.Tính đến nay, trường được 372 tuổi và luôn được người Mỹ gọi là ngôi trường của giới cấp tiến với thành quả đạt được qua mọi lĩnh vực khoa học, kinh tế và chính trị. Các vị tổng thống Hoa Kỳ như Theodore Roosevelt, Franklin D Roosevelt, John F Kennedy… đều xuất thân từ đây.
Ngoài ra còn các nhân vật khác nổi tiếng của nước Mỹ như Bill Gates, Algore, Henry Kissinger, các nhà văn nổi tiếng Norman Mailer, John Updike… cũng đều là cựu sinh viên của trường. Nhờ có ngân quỷ khổng lồ trên 11 tỷ đô la, được dùng làm vốn đầu tư cổ phiếu và bất động sản, đem về tiền lời hằng năm cả trăm triệu đô la. Số tiền này nhà trường dùng để nghiên cứu khoa học, chi phí điều hành và trả lương cho các vị giáo sư có tiếng tăm khắp thế giới được mời về giảng dạy cho sinh viên theo học.
Do trên chi phí theo học tại đại học Harvard rất cao so với các đại học khác trên đất Mỹ với số tiền 40.000 USD/1 năm về khoảng học phí, bảo hiểm y tế và ăn ở. Tuy nhiên với các sinh nghèo được miễn học phí lại còn thêm phần học bổng. Vì uy tín của nhà trường quá cao, nên hầu như khắp thế giới nếu có điều kiện, ai cũng muốn có được tấm bằng của Harvard để kiến công lập nghiệp. Hiện trường có hơn 20.000 sinh viên theo học đủ các bộ môn, trong số này luật khoa đã chiếm tới 1/10 sĩ số.
Hơn ba thế kỷ qua mặc cho vật đổi sao dời nhưng nguyên tắc giảng dạy tại đại học này vẫn không thay đổi, bất chấp lợi nhuận vẫn không ảnh hưởng đến nhà trường. Ðiển hình nhất là vụ đạo diễn nổi tiếng của Hollywood Steven Spielberg đã bị từ chối khi muốn mượn trường làm bối cảnh để quay cuốn phim lịch sử về tổng thống Mỹ John Quincy Adams từng xuất thân ở đây, với lý do trở ngại việc học hành của sinh viên. Năm 1998 Harvard xếp hàng đầu trong 10 trường đại học nổi tiếng nhất của Mỹ.
+ Las Vegas: Thiên Đường Hay Địa Ngục?
Thiên đàng hay địa ngục tùy theo cảm xúc của con bạc thắng hay thua. Tuy nhiên theo thống kê của báo chí, thì từ trước tới nay, đã có 90% dân đỏ đen bị sạt nghiệp vì bạc bài. Nhiều người vỡ mộng, cháy túi sau 4 ngày miệt mài điên đảo tại Las Vegas. Ðiều lạ kỳ là hầu hết các con bạc dù đã bị cháy túi nhiều lần nhưng vẫn cứ vui vẽ trở lại chốn cũ, với hy vọng gở vốn kiếm lời, để rồi lại cứ thất thiểu quay về như bao lần mộng mị.
Las Vegas là một thành phố phi thời gian, vì tại đây không hề có một chiếc đồng hồ được treo tại các nơi công cộng. Ðây cũng là dụng ý của các chủ sòng, muốn con bạc đừng thèm quan tâm tới ngày giờ cho bận rộn cuộc chơi. Các phòng ngủ trong mọi khách sạn, cũng được thiết kế một cách nhạt nhẽo sơ sài, gây chán nản cho khách trọ, để họ mau mau rời giường, xuống ngay sòng bạc, sát phạt cuộc đỏ đen.
Khởi đầu chỉ là một thị trấn nhỏ nằm trong sa mạc Nevada, có con đường sắt từ các tiểu bang miền Nam ngược lên vùng tây bắc California để săn tìm vàng. Những năm nước Mỹ buớc vào thời kỳ suy thoái kinh tế, thị trấn trên cũng chuyển mình, bằng cách phân thành 1200 lô đất, bán cho công chúng và các công ty để đầu tư vào việc xây dựng sòng bạc và khách sạn. Nơi đó hiện nay trở thành khu phố chính Strip và Glitter Gulch, nằm dọc theo hai siêu lộ 15 và 95. Chính thức ra đời ngày 15-5-1905, Las Vegas rộng 293 km2, mang tên ‘Ðồng Cỏ’ vào thời kỳ thuộc Tây Ban Nha,còn bây giờ người Mỹ gọi là ‘Sin City‘ thành phố tội lổi. Phi trường quốc tế Mc Carran, lối dẫn vào thành phố Las Vegas xa 8 km, thật tình không giống bất cứ một nơi nào trên thế giới, vì được dàn chào gần như khắp nơi, bằng những Máy Kéo Tiền, mà người Mỹ gọi là One Armed Bandits, còn dân chơi cầu ba cẳng thì xưng tụng là Tướng Cướp Một Tay, vì máy nào cũng chỉ có một cánh tay, cũng là chiếc cần kéo, khi bỏ vào máy một đồng 25 xu USD. Sẽ ‘Hit the Jackpot‘ khi nhìn thấy ba hình vẽ giống nhau hiện trên nền truyền hình, đồng thời với tiếng rổn rảng của các đồng xu chảy ra từ máy. Nhưng đó chỉ là họa hoằn, vì ngàn người như một, bỏ tiền vào mà đâu có thấy đồng nào trở lại.
Ngày 2-8-2004 tờ Times cho biết tỷ phú Kirk Kerkorian, đã ký hợp đồng sáp nhập trung tâm giải trí MGM Mirage của mình với Mandalay Resort Group, thành một đại công ty cờ bạc lớn nhất thế giới. Còn Harrah’s Entertainment đã mua Caesars Enter với giá 9,25 tỉ USD để khuếch trương to hơn đại công ty trên. Tóm lại hai tập đoàn cờ bạc và giải trí lớn nhất của hoàn cầu, đổ hết tiền bạc vào Las Vegas, biến nó thành chốn thiên đàng với bốn món ăn chơi đúng nghĩa, trong đó đâu có thiếu công nghiệp Sex, chỉ đứng sau cờ bạc mà thôi. Hiện MGM Grand đã phá bỏ hai công viên giải trí cũ, để xây dựng những hộp đêm thác loạn đúng nghĩa, mà giới giang hồ quen gọi là ‘Chổ Bốc Lá‘, mô hình tương tự như Quán Crazy Horse ở Ba Lê (Pháp). Sex hiện diện khắp nơi ở Las Vegas qua hình thức nghệ thuật, trong mọi chương trình của đoàn xiệc Cirque du Soleil thường trực tại Rạp, gần như khỏa thân và gợi dục. Tại Trung tâm Treasure Island, có màn cướp biển và các nàng tiên cá bán thân.
Theo Billy Vassiliadis, chuyên viên quảng cáo thì nhờ Sex đã hấp dẫn hằng triệu du khách Anh, Ðức, Nhật, Úc, Nam Hàn… ùn ùn kéo tới Las Vegas mua vui và đánh bạc. Ðể cung ứng nhu cầu, các đại công ty đã mở các chuyến bay trực tiếp từ Âu Châu, Nhật, Úc, Nam Hàn… tới thẳng phi trường quốc tế của thiên đàng đỏ đen là sân bay Mc Carran, đem bạc tỷ lợi nhuận về cho ông chủ của MGM Mirage, The Strip… nâng thành phố Las Vegas lên hàng đầu nước Mỹ về sự tăng trưởng (từ 600.000 – 1,6 triệu năm 2005) và mức thu nhập trung bình 32.000 USD.
Thiên đàng hay địa ngục, ai muốn nói gì cũng mặc, trước mắt Las Vegas mỗi năm thu hút hằng năm hơn 33 triệu du khách muôn phương đổ về, để thử thời vận hay hưởng cảnh nhất dạ đế vương trong thiên đường tội lỗi, đã mang tới lợi tức cho thành phố hằng năm hơn 5,25 tỉ USD. Hiện Las Vegas có 19 đại khách sạn hàng đầu thế giới, trong đó mỗi nơi là một sòng bạc (casino) đồng thời là chổ giải trí trình diễn ca vũ nhạc do các tài tử thượng thặng khắp năm châu về. Ðó là El Rancho ra đời năm 1941, Flamingo năm 1946 thực hiện cả một khu hoang dã, thả đầy chim Hồng Hạc, biểu tượng cái tên của khách sạn. Còn Circus Circus lại mang hơi hướng của những đoàn xiệc lừng danh quốc tế. Vào New York hotel, du khách có cảm tưởng như mình đang sống ở thành phố trên được thu nhỏ với tượng nử thần tự do, tay cầm bó đuốc rực sáng đêm ngày.
Nói chung thì thiên đường nào cũng không bằng các sòng Casino được vây quanh bằng đủ kiểu, từ các máy đánh bạc ở vòng ngoài, cho tới những sòng Roulette, Poker… mà không khí sát phạt hiện thực bằng đồng phỉnh đủ màu, tượng trưng cho giá trị của USD. Từ năm 1931 tới nay, ngoài cờ bạc đỏ đen, Las Vegas còn đãm nhận dịch vụ kết hôn, với thủ tục giản tiện nhất trong 50 tiểu bang của Mỹ. Ở đây có tiền thì có tất cả, nên chỉ cần vài phút đợi chờ, người ta có thể lấy hay bỏ nhau còn dễ hơn thay đổi quần áo. Các tổ chức cưới (Wedding Chapel) phục dịch khách hàng từ A-Z… Dễ như vậy nên mỗi năm có hơn 100.000 cặp tổ chức đám cưới ở xứ thần tiên đầy lạc thú, nếu có đủ tiền trả.
Tuy nhiên ngoài cờ bạc, Las Vegas cũng có nhiều thắng cảnh danh lam như đập nước Hoover, hồ chứa Mead khổng lồ, hùng vĩ. Hẻm núi đá đỏ Rock Canyon được hình thành từ 65 triệu năm trước. Năm 2001 đã khánh thành Viện Bảo tàng nghệ thuật Guggenheim trưng bày tranh của của các danh họa Picasso và Cézanne… cũng chỉ với mục đích làm cho thành phố bớt đi chút mặc cảm tội lổi.
Hởi ơi, đất người nơi nào cũng đẹp cũng rộng mỡ thâm tình. Chắc là vậy cho nên đâu có mấy ai chịu nghĩ tới là người xưa phải dùng xác người, máu lệ và tài sản gia đình đổi lấy đem về. Ở đâu cũng giống nhau, tự do không phải là của bố thí để xin xõ, nó cũng không là trái sim chín để ta nằm chờ rung, cũng không phải là mộng mơ viển tượng để đem về bằng ảo giác trong đầu, trên giấy hay lời nói lúc vui vầy. Ðó là chính trị hay nói đúng hơn là nhân cách của con người khi biết lựa chon cách sống sao cho đúng với giá trị của kiếp người. Chính trị hiểu theo khía cạnh đạo đức là vậy đó, thế nhưng có nhiều người phải bỏ nước tha phương, vẫn không biết vì sao mình đã bỏ quê hương ra đi …
Chân lý là vậy đó, cho nên cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã nói rất chí lý ‘còn nước thì còn tất cả‘. Chúng ta nay còn gì để mơ mộng? ngoài việc về thăm quê xưa, để rồi khi rời cố quốc, ai cũng phải ngậm ngùi vì đã không có cơ hội làm một công dân hạng bét dưới chế độ xã nghĩa, cho dù Triết mới nói ‘từ tháng 9-2007 vào VN khỏi chiếu khán và Việt kiều giàu tha hồ về mua nhà lầu‘.
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Ngày 3 tháng 7 – 2011
MƯỜNG GIANG
.
.
.

Lịch Sử Ngày Độc Lập Hoa Kỳ

Tháng Bảy 4, 2011

 

Lịch Sử Ngày Độc Lập Hoa Kỳ

Jul 3rd, 2011
http://nguoivietboston.com/?p=38342
I/. 13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ
Bấm :  http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/image001-251×300.jpg
Bấm :  http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/50-tieu-bang.jpg
Tên của 50 tiểu bang của Hoa Kỳ – 13 tiểu bang đầu tiên được tô màu đỏ. (Hình trên)
Bấm :  http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/ban-do-50-tb.jpg
• Ngày 4 tháng 7 năm 1777 là ngày Hoa kỳ giành độc lập và trở thành một quốc gia. Tính chất thiêng liêng của ngày này được thể hiện qua câu văn trong báo Virginia ra ngày 18/07/1777: “Ngày 4 tháng 7 là ngày vinh quang và đáng nhớ nhất, từ rày về sau sẽ được tổ chức cho toàn nước Mỹ từ năm này đến năm khác cho đến khi nào thời gian không còn nữa. Amen và Amen”
• Hai nơi làm lễ lớn nhất là Philadelphia (Pennsylvania) và Boston (Massachusetts)
• Năm 1777, người dân Phidalelphia tưởng nhớ ngày 4 tháng 7: chuông ngân, súng nổ, đèn cầy thắp sáng, pháo đốt, nhưng chính thật ngày 4 tháng 7 năm 1777 là một ngày giản dị bình thường. Ngày nay, người dân Philadelphia làm lễ trong Independence Hall, nơi những hoạt cảnh lịch sử đã được dựng lại và bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc.
• Khi chiến tranh chấm dứt năm 1783, ngày 4 tháng 7 trở thành ngày nghỉ tại một vài nơi. Tại Boston, ngày lễ Độc lập đã thay thế ngày 5 tháng 3, ngày thảm sát cuả Boston (Boston Massacre), và được xem như ngày lễ chính. Có diễn văn, có quân đội, diễn hành và pháo bông.
• Năm 1941, quốc hội Mỹ tuyên bố ngày 4 tháng 7 là ngày lễ chính thức của Hoa Kỳ.
II/. Lịch sử:
• Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ vào năm 1492.
• Nhiều dân đến thuộc địa Mỹ để tìm tự do tín ngưỡng: Tây ban nha, Bồ đào nha, Anh, Pháp, Hòa Lan đến xứ này. Dân hành hương (pilgrims) là nhóm dân tị nạn đầu tiên tại Mỹ: nhóm Puritans đến cư ngụ tại Massachusetts, nhóm Quakers đến vùng Pennsylvania và người Công Giáo định cư tại Maryland.
• Dân thuộc địa Hoà Lan và Pháp đến Mỹ để mua bán. Dân Pháp định cư tại Canada, dân Tây ban nha đến Florida, dân Hòa Lan đến New York
• Năm 1763 Anh Quốc thắng quân Pháp và chiếm Canada.
• 13 tiểu bang đầu tiên của Hoa kỳ: Connecticut, New Hampshire, New York, New Jersey, Massachusetts, Pennsylvania, Delaware, Virginia, North Carolina, South Carolina, Georgia, Rhode Island, Maryland
• Lúc ký kết, Hoa Kỳ gồm 13 thuộc địa dưới quyền cai trị của vua George III (1738-1820). Lúc bấy giờ các thuộc địa Anh ở Mỹ phải trả thuế cho mẫu quốc quá cao nhưng lại không có đại biểu trong Quốc Hội Anh (Taxation without Representation), nên nổi dậy đòi quyền tự do và độc lập.
• Năm 1774 đại biểu của 13 thuộc địa họp lần đầu tiên tại Philadelphia, Pennsylvania. Cuộc họp này gọi là Quốc Hội Lục Ðịa (Continental Congress) và do Tướng George Washington thống lãnh quân đội chống lại Anh Quốc.
• Các thuộc địa này sau trở thành 13 Tiểu bang đầu tiên của Mỹ khi Mỹ độc lập.
III/. Tiến trình:

• 1774: 13 thuộc địa gởi đại diện đến Philadelphia, Pennsylnania để thành lập Quốc Hội Lục địa thứ Nhất (First Continental Congress). Họ nôn nóng chuẩn bị nhưng chưa tuyên chìến.
• 4/1775: Quân đội của vua George tiến về Concord, Massachusetts. Tiếp theo là trận chiến tại Concord, lđánh dấu bước đầu cuộc cách mạng Mỹ.
• 5/1776: Sau gần một năm cố gắng giải quyết sự khác biệt với mẫu quốc Anh, các thuộc địa một lần nữa gởi các đại diện đến Quốc Hội Lục địa thứ Nhì.
• 6/1776: Sự quyết tâm khởi đầu bởi Richard Henry Lee, Virginia. Nhận thấy rằng những cố gắng của họ vô vọng, một ủy ban được thành lập để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc Lập công khai. Đứng đầu là Thomas Jefferson, ủy ban còn có John Adams, Ben Benjamin Franklin, Philip Livingston và Roger Sherman.
• 6/7/1776: Pennsylvania Evening Post là tờ báo đầu tiên đăng bản Tuyên Ngôn Độc Lập.
• 8/7/1776: Lần đầu tiên bản tuyên ngôn được đọc trước công chúng tại Independence Square của Philadelphia. Quả chuông trong Independence Hall được biết dưới tên “Province Bell” sau này được đổi tên là Liberty Bell.
• 8/1776: Việc ký Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bắt đầu ngày 4 tháng 7 nhưng phải đến tháng 8 mới hoàn tất. Và ngày 4 tháng bảy được chấp nhận như là ngày kỷ niệm chính thức cho sự độc lập Hoa Kỳ khỏi nước Anh
• 4/7/1777: Lễ Independence Day được cử hành lần đầu tiên.
IV/. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập:
• Bản Tuyên Ngôn độc Lâp trở thành một tài liệu chính trị được ca tụng nhất và thời nào cũng được sao chép lại. Thomas Jefferson soạn ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, và sau nầy được bầu làm Tổng Thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn Độc Lập được xét duyệt bởi John Adams, Benjamen Franklin và Jefferson, rồi được 56 hội viên ký tên và xác nhận không còn là thuộc địa của Anh Quốc nữa.
• John Hancock, chủ tịch Second Continental Congress (Đại hội Lục Địa lần II), là người đầu tiên ký bản Tuyên Ngôn. Viết hoa, chữ ký của ông nổi bật trải rộng trên tài liệu này. Từ đó khi nào người ta hỏi bạn “John Hancock” tức là người ta có ý muốn bạn ký tên đó. Cuối cùng có tất cả 56 người ký bản Tuyên Ngôn, chứng tỏ sự anh hùng của họ vì tuyên bố đòi độc lập với Anh Quốc là một hành động phản bội, có thể bị tội tử hình. Họ can đảm hy sinh mọi thứ.
• Bản tuyên Ngôn Độc Lập là bằng chứng của Cách Mạng Hoa Kỳ, nói lên những bất bình với vua George III. Đó cũng là một bản tuyên bố về lãnh thổ và triết lý, chiếu theo những bài viết của các triết gia John Locke và Jean Jacques Rousseau. Nó khẳng định rằng mọi người đều do Thượng Đế tạo ra, từ thiên nhiên mà ra, vậy phải có những quyền lợi tự nhiên nào đó, không được xâm phạm quyền tự do của họ.
• Từ đó, Bản Tuyên Ngôn và Cách Mạng Hoa Kỳ là cảm hứng cho mọi người tìm tự do trên khắp thế giới.
Bấm :   http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/image006.jpg
.
.
.

Posted by Dinh Le at 6:58 AM

NGÀY HIỆP CHÚNG QUỐC HOA KỲ RA ĐỜI (BS Lê Văn Lân)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Ngày Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ Ra Đời

BS Lê Văn Lân (www.khoahoc.net)
Jul 3rd, 2011
http://nguoivietboston.com/?p=38309
Ngày July 4 năm nay lại về để tưng bừng ăn mừng Ngày Sinh nhật của quốc gia trẻ trung Hiệp Chúng Quốc Hoa kỳ này. Thế là dân chúng Mỹ có một ngày lễ hội lớn: ban ngày coi diễn binh, coi triển lãm, ban đêm coi pháo bông, tiệc tùng chè chén barbecue.
Nước Hoa Kỳ được người Trung Hoa dịch chính thức từ chữ The United States of America trong các tự điển là: “Hiệp Chúng Quốc“ vì Chúng là nhiều người, ý nói một quốc gia do nhiều người họp lại mà lập ra. Nhưng người Việt chúng ta thường thuận miệng gọi là “Hiệp Chủng Quốc“ có lẽ liên tưởng rằng dân Mỹ là do nhiều người của những chủng tộc khác nhau mà lập nên. Riêng tại đô thị New York, ngoài tiếng Mỹ, còn có khoảng hơn sáu mươi ngôn ngữ được nói hàng ngày, nên trên thực tế, hiểu là Hiệp Chủng quốc cũng không sai! (Tôi còn nhớ về cách đọc quen miệng như sau là vùng phi trường Phú Bài ở Huế viết theo chữ nho ghi chính thức là Phù Bài nhưng ít ai để ý. Cũng như ở Huế có vùng sông gần lăng Minh Mạng mà dân quen gọi là Bảng Lãng, kỳ thực có tên là Bằng Lãng, nghĩa là bằng yên không có sóng!)
Mang danh làm công dân Mỹ, nhiều người di dân hay tỵ nạn từ nhiều xứ trên thế giới cũng đương chia xẻ niềm vui về ngày July Fourth. Ngẫm nghĩ lại về những động lực khiến cho biết bao người di dân và tỵ nạn quyết tâm chọn xứ này để dung thân là ngoài nhu cầu theo đuổi hạnh phúc vật chất, tinh thần thoải mái phải chăng họ còn nhắm đến nhiều điều cao hơn nữa mà người ta gọi là “niềm mơ uớc Hoa Kỳ“ (American Dream) như:
1) một đời sống đầy tự do và công bình: tự do phát biểu, tự do hành động, tự do di chuyển không ai kiềm chế v.v… và được đối xử bình đẳng không bị kỳ thị về mầu da và chủng tộc
2) bầy con lũ cháu được hưởng một nền giáo dục khai phóng tiên tiến để tài năng phát triển và có những cơ hội đồng đều về công ăn việc làm.
Chúng ta thấy “niềm mơ Hoa Kỳ“ là những điều chân lý đã được tóm gọn trong nghị quyết đầu tiên của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ với lời lẽ như sau:
“Chúng tôi coi đó là những chân lý vô cùng hiển nhiên, nghĩa là mọi người sinh ra đều bình đẳng, mọi người được Đấng Tạo Hoá ban cho những thứ Quyền bất khả nhượng, trong đó có Đời Sống, Tự Do và sự theo đuổi Hạnh Phúc“
(We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness.)
Nếu chúng ta có dịp coi lại bài Tuyên Ngôn Độc Lập do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng Trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, chúng ta thấy ông đã diễn tả cái ý trên qua câu mở đầu nguyên văn như sau:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do…
Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng chuyện đề ra những khẩu hiệu cao đẹp như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc để hô hào cho người dân đi theo thì quá dễ, nhưng vấn đề quan trọng là phải đồng thời nêu ra những nguyên tắc hiến pháp để bảo đảm cho sự thực thi và phản đối trong quyền của người dân khi những cứu cánh trên không được chính quyền mang tiếng là đại diện cho dân làm trọn mà tệ hại hơn là còn phản bội và đàn áp họ.
Đọc tiếp bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Hoa Kỳ, chúng ta thấy họ đã minh xác một cách khẳng định mực đen trên giấy trắng như sau:
“Và để bảo đảm cho những Quyền nói trên, những Chính Quyền được thiết lập trong Nhân Dân, chỉ nên lấy quyền lực chính đáng từ sự thỏa thuận của người dân dưới quyền. Chừng nào một Hình thức nào của Chính Quyền trở nên phá hoại đối với những cứu cánh trên, đây là Quyền của Nhân Dân phải thay đổi hay thủ tiêu nó, và thiết lập Chính Quyền mới, xây nền tảng của nó trên những nguyên tắc như thế, tổ chức uy quyền theo những hình thể như vậy, ngõ hầu để người dân có thể thực thi sự An Ninh và Hạnh Phúc cho mình.”
(That to secure these rights, Governments are instituted among Men, deriving their just powers from the consent of the governed, – That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or to abolish it, and to institute new Government, laying its foundation on such principles and organizing its powers in such form, as to them shall seem most likely to effect their Safety and Happiness.)
Kinh nghiệm sống của dân Việt Nam trong mấy thập niên qua trên vùng đất quê hương cho thấy điều minh xác về Quyền của Nhân Dân muốn thay đổi chính quyền một cách chính đáng đã hoàn toàn thiếu vắng, nếu không nói là bị phản bội.
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ là một bản văn trứ danh của nhân loại vậy. Tuy mang tiếng là đã học để thi nhập quốc tịch Hoa Kỳ, nhưng ít người công dân Mỹ còn nhớ ai là tác giả của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa kỳ, nó có bao nhiêu chữ ký và ban bố lần đầu ra sao.
Người soạn thảo chính của bản Tuyên Ngôn là ông Thomas Jefferson. (Ông cũng là Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ nữa). Đương nhiên cũng có vài người khác tham gia đóng góp ý kiến khi soạn thảo như các ông Benjamin Frankin, Robert Livingston nhưng trứ danh nhất là ông John Adams (ông này vào năm 1789 làm phó tổng thống cho Tổng thống thứ nhất ở Hoa Kỳ là George Washington, sau được bầu làm Tổng thống thứ nhì vào năm 1796. Hai mươi năm sau, con trai của ông là John Quincy Adams được bầu làm Tổng thống thứ 6)
Hình trái: Bản đồ 13 Thuộc địa của nước Anh ở Mỹ
http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/13-states.jpg

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập mang chữ ký của 13 đại diện từ 13 thuộc địa của Anh ở Mỹ với chữ ký của ông John Hancock là chủ tịch cuả Đại Hội Châu Lục thứ 2. Chữ ký của ông J Hancock đứng đầu và nổi tiếng độc đáo là chữ ký to bự nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Do đó, trong tiếng Mỹ, từ “John Hancock“ mang ý nghĩ lóng, ví dụ nói: Giao kèo viết xong rồi, anh hãy viết chữ John Hancock của anh vào đi!
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ được ký ở Philadelphia trong dinh thự Pennsylvania State House, sau này biến thành di tích lịch sử Independence Hall.
Về chi tiết chuẩn bị phổ biến bản Tuyên Ngôn này ở thời điểm lịch sử July 4 chính là một điều cực kỳ bí mật. Tuy rằng tuyên bố độc lập vào thời điểm này, nhưng quân ở New England đã thực sự nổ súng chiến đấu chống quân Anh từ April 1775, và chờ đến June 8, 1776 mới có sự vận động cho nền Độc lập trong kỳ Đại Hội Toàn Dân Châu Lục. Đến July 2 thì mới có nghị quyết chấp thuận của toàn thể (12 – 0), nhưng sự thể vẫn hoàn toàn trong vòng bí mật. Còn bản văn Tuyên Ngôn Độc Lập mãi đến sau 11 giờ trưa ngày July 4 mới được 13 đại diện thuộc địa bầu chấp thuận, nhưng khi bản văn đầu tiên giao cho nhà in phổ biến vẫn mang không có chữ ký gì hết. Và đến July 8 thì ở Philadelphia mới tuyên đọc cho dân chúng và đốt pháo bông. Phải chờ đến August 8 thì một bản văn đàng hoàng mới mang chữ ký của những thành viên của Đại Hội, nhưng dù thế, bản này vẫn giữ bị mật để bảo vệ họ khỏi bị người Anh trả thù.
Nói đến sự giành độc lập, thì không có thể không nói đến sự đấu tranh sắt máu, súng đạn. Có bao giờ một biến cố lịch sử đem lại tự do chống bạo tàn xảy ra mà không phải là thành quả của một cuộc cách mạng. Vì vậy, chúng ta phải ôn lại những tình tiết về cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ trong 8 năm gian khổ với bao nhiêu máu xương đổ ra.
Cuộc Cách Mạng Mỹ (The American Revolution) là Cuộc Chiến Khởi Nghĩa của 13 thuộc địa của Anh ở Mỹ (1775 – 1783) chống với nước Anh dưới triều vua George III.
Những nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa mang tính chất vừa là chính trị và vừa là kinh tế. Đối với phần lớn địa phương, những thuộc địa Mỹ đều do dân tự cai quản. Nhưng sau khi người Anh đánh bại người Pháp trong cuộc chiến Pháp và Da Dỏ (1754- 1763), nguời Anh làm nhiều điều để áp đặt sự kiểm soát của họ. Họ quyết định lập đồn trú cho rất nhiều đạo quân binh sĩ Anh trong những thuộc địa và bắt dân thuộc địa phải trả tiền về nuôi quân và chi phí. Người Anh lại ngăn cấm dân thuộc địa định cư trên vùng đất phía tây dãy núi Appalachian. Người thuộc địa chỉ được phép giao thiệp với người Anh thôi. Người Anh lập ra nhiều đạo luật như Luật về Tem Thuế (Stamp Act). Dân Mỹ cảm thấy rằng người Anh cai trị dân Mỹ vì quyền lợi của nước Anh – chứ không phải của những thuộc địa.
Lòng căm phẫn của dân Mỹ càng lúc càng sôi sục nhất là khi một số người Mỹ bị quân lính Anh giết trong cuộc Tàn Sát ở Boston năm 1770. Khi người Anh đánh thuế trên trà, dân thuộc địa phản ứng lại với biến cố Boston Tea Party. Để trừng phạt dân Mỹ, người Anh thông qua những đạo luật mà dân Mỹ gọi là Intolerable Acts (Luật Bất Khả Kham) vào năm 1774. Mà một trong những đạo luật này là đóng cảng khẩu của Boston.
Tình cảnh nghe càng lúc càng gay cấn chúng ta nên biết chi tiết thêm thế nào là Luật Tem Thuế, Cuộc Tàn sát Boston, Vụ quăng trà xuống biển ở Boston và đạo Luật Bất Khả Kham
Thứ nhất là Stamp Act hay Luật về Tem Thuế do Quốc hội Anh Quốc thông qua năm 1765. Tem Thuế này là một loại thuế mà người Anh đặt ra để đánh trên những văn kiện chứng từ, môn bài, báo chí, niên giám, bộ bài và hột xí ngầu dùng trong các thuộc địa Mỹ. Mục đích của luật Tem Thuế là muốn tăng tiền để trả cho tiền đóng quân của nước Anh ở thuộc địa. Đây là thứ thuế nặng phải trả một cách vô lý bằng tiền tệ nước Anh. Vì dân thuộc địa không có đại diện trong Quốc Hội Anh nên họ ghét loại thuế này mà họ cho là “nạp thuế mà không có quyền đại diện”. Nhiều người dân từ chối trả tem thuế, và ở vài nơi có phản kháng bằng nổi loạn. Mặc dù luật này được thu hồi vào năm sau, nhưng luật này đã khởi phát một tinh thần độc lập mạnh mẽ trong các thuộc địa.
Rồi đến xảy ra vụ tàn sát ở Boston thì chắc chắn có máu đổ để cho dân Mỹ căm hờn.
Nguyên do là vào ngày 5 tháng 3 năm 1770, một đám dân thuộc địa đã tụ họp để phản đối sự hiện diện của toán quân Anh trên đất thuộc địa Boston. Vài người bèn lấy những nắm tuyết và đá chọi vô một người lính Anh đứng canh ở nhà Quan thuế Thương cảnh. Thế là, khoảng 20 lính Anh bèn a tới đám đông với lưỡi lê gắn đầu súng. Cuối cùng, một lính Anh bị một cú chầy nên đã cáu tiết nồ súng khiến đồng bạn cũng nổ súng theo. Năm người dân bị gục chết. Biến cố này khiến cho những người thuộc điạ căn bản bèn cho đó là “một cuộc tàn sát” để quất mạnh mối căm thù với sự hiện diện của quân đội Anh.
Còn vụ quẳng trà xuống nước ở cảng khẩu Boston, biến cố diễn tiến như sau:
Vào năm 1773, Quốc Hội Anh cho Công ty Đông Ấn độ bán trà cho thuộc địa Mỹ với một giá rẻ nào đó, có nghĩa là không có ai khác bán rẻ hơn nữa để phá giá, cốt ý để cho công ty này độc quyền. Dân thuộc địa thấy đây là nguy cơ suy sụp kinh tế vì người Anh còn muốn áp đặt thêm nhiều thứ độc quyền khác. Vì họ đồng lòng ghét thuế đánh trên trà nên nhiều cảng khẩu khác ở Mỹ bèn từ chối không mở cửa cho tầu chở trà của Anh vào. Ở Boston, khi hai chiếc tàu đến, dân bèn xin thống đốc ra lệnh tàu rời bến. Nhưng bị ông này từ khước, nên một nhóm người Mỹ trong tổ chức Nghĩa Tử Tự do ( Sons of Liberty) ăn mặc giả làm dân Da đỏ leo lên tầu vào đêm ngày 16 December 1773, rồi quẳng 342 thùng trà xuống nước.
Vụ trà ở Boston (Boston Tea Party) gây ra một số giả trang khác để quẳng trà như ở New York vào tháng April 1774, dân ở đây cũng giả làm Da đỏ để quăng trà Anh xuống East River, và tháng October cùng năm, dân ái quốc ở Annapolis, Maryland, đốt thương thuyền Peggy Steward chở trà của Anh.
Người Anh bèn thông qua thêm nhiều luật khác, nên lại càng làm gia tăng sự căm phẫn của dân thuộc địa nên dân Mỹ gọi đó là những đạo “Luật không chịu thấu” (Intolerable Taxes – Intolerable tức là bất khả kham!)
{Xin mở một dấu ngoặc: Vì biến cố tẩy chay trả thuế trà, nên dân Mỹ phần lớn gốc Anh tuy có lệ ghiền trà qua tục “tea time” hằng ngày đã cương quyết dứt uống trà và xoay ra uống cà-phê ở Mỹ về sau}
Bao nhiêu sự kiện trên dồn dập xảy ra càng khiến dân thuộc địa càng căm hận để đoàn kết lại mà hành động. Việc đầu tiên là dân thuộc địa bèn nhóm thành một Nghị Hội Châu Lục đầu tiên (the First Continental Congress) để kháng tố những đạo luật của người Anh và tuyên bố không muốn giao thương với nước Anh. Tuy nhiên phần lớn chỉ muốn được đối đãi công bình chứ không muốn đòi độc lập nên lá cờ Mỹ với 13 sọc vẫn giữ ở góc hình cờ Anh quốc. Dù sao, các thuộc địa đã bắt đầu có những đội dân quân thành lập nên khi người Anh gửi quân đi tiêu diệt những đội dân quân ở Concord ở Massachusetts, thì người Mỹ đã mãnh liệt chống trả. Những trận đánh ở Lexington và Concord kể như mở màn cho cuộc chiến khởi nghĩa của Cách Mạng Hoa Kỳ.
Vào tháng 7 năm 1775, Đại Hội Châu Lục nhóm lần thứ hai chỉ định ông George Washington làm tổng chỉ huy Quân đội Châu Lục. Một năm sau, vào ngày July 4 1776 thì bản Tuyên Ngôn Độc Lập được ra đời và được toàn dân chấp nhận tuyên bố.
Nhiều trận đánh ác liệt xẩy ra nhưng không hẳn bên nào có sự thắng lợi quyết định. Nhưng một điểm rẽ xảy ra vào năm 1778 là khi nước Pháp ký một liên minh với Hiệp Chúng Quốc và gửi quân viện và tầu chiến để giúp. Nguyên do là có ông Lafayette một quí tộc người Pháp vào năm 1777 tình nguyện đánh trong hàng ngũ dân quân thuộc địa trong nhiều trận quan trọng. Chính ông đã thuyết phục vua Pháp là Louis XVI gữi sự giúp đỡ cho người Mỹ. Cuộc chiến tiếp diễn ác liệt và Công tước Charles Cornwallis, là chỉ huy trưởng của quân Anh bắt buộc ký đầu hàng lực lượng Hoa Kỳ ở Yorktown ở Virginia vào ngày 19 October 19, năm 1781. Sau trận này, có vài đụng độ nhỏ và vào ngày 3 September 1793, dưới những điều khoản của Hiệp Ước Paris, nước Anh công nhận nền độc lập của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.
Hình phải: Dân quân Hoa Kỳ chống trả quân Anh tại trận Guildford Courthouse, North Carolina vào ngày March 15, 1781
http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/guildford-nc.jpg
Chúng ta thấy trong cuộc chiến Cách Mạng Hoa kỳ, khi lòng dân căm phẫn thì chỉ cần một giọt nước cũng làm cho tràn một bát nước nên cuối cùng cũng phải hy sinh liều chết tranh đấu thôi. Ông George Washington quả là một tướng giỏi nhưng một yếu tố quyết định khác cũng quan trọng là sự đoàn kết của những thuộc địa Mỹ từ bắc xuống nam nên mới đánh bật người Anh ra khỏi đất Mỹ.
Để kết luận, ta thấy cuộc Cách Mạng Mỹ là một cái gương soi cho nhân loại vào thời đại mới. Khi ta nhìn lại lịch sử Việt Nam, tinh thần này đã ẩn hiện trên những trang sách ngày xưa của ta.

Hai kỳ Quốc Dân Nghị Hội Châu lục (Continental Congress) của dân thuộc địa Mỹ đã mang hình thức giống như Hội Nghị Diên Hồng với sự tham dự của toàn thể nam phụ lão ấu dưới đời Trần khi quân Nguyên Mông cổ qua xâm lược nước ta vậy.
Và qua những áng văn cổ, chúng ta thấy thấp thoáng đó là những bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt ngày xưa:
Thứ nhất là bài thơ của Lý Thường Kiệt làm sau khi phá quân nhà Tống với câu:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bai hư
(Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Tuyệt đối đã ghi ở sách trời
Bè lũ chúng bây qua xâm phạm
Chỉ rước vào thân thất bại thôi)
Chữ “ Cách Mạng” không phải là danh từ mới mẻ của thời đại mới, nó đã có trong sách sử ngày xưa. Nếu hiểu một cách linh động theo tinh thần quân chủ anh minh ngày xưa, người dân coi vua là kẻ thay Thiên Mạng để trị dân, (Thế Thiên Hành Đạo), nếu vua không thi hành đúng đúng sứ mạng của mình, thì nguời dân có quyền làm “cách mạng”, nghĩa là phế bỏ vua này mà tôn vua khác. Đó là một điều lý tưởng nêu lên nhưng trải qua bao nhiêu đời, lý tưởng vẫn là không tưởng.
Trong câu “Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Tuyệt đối đã ghi ở sách trời” thì vua Nam là đại diện cho toàn thể dân Nam để cai trị nước Nam, nguyên tắc “định phận tại thiên thư “ này cũng giống bây giờ người Mỹ tuyên bố trung thành với “One Nation under God” vậy!
Thứ hai là bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi sau khi chiến thắng quân nhà Minh với đoạn kể ra bao nhiêu tội ác của người Tầu đã khiến dân quân Việt Nam khởi nghĩa ở Lam Sơn như trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ đã hài ra bao nhiêu điều áp bức Vua George III của nước Anh trên thuộc địa.
Để kết luận cho bài này về lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, phải chăng ta thấy một nguyên tắc hay đúng ra là một chân lý được nêu ra: đó là Ý dân là ý trời vậy. Chân lý Thiên Mạng này đã diễn tả bằng những lời đanh thép sau trong bản
Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ như trên đã nói.
Muốn bảo đảm để thành công một cuộc Cách Mạng nào, người ta phải biết kết hợp ba yếu tố là Thiên Thời, Địa Lợi, và Nhân Hoà (nghĩa là phải biết nắm lấy thời cơ, những điều kiện thuận lợi của hoàn cảnh cụ thể và tâm lý đoàn kết nhân tâm).
Vào thời đại nào, người dân cũng có thể nuôi những ý niệm Cách Mạng. Nhưng dưới chế độ quân chủ tuyệt đối ngày xưa, dù nhà vua là một bậc anh minh thì ý niệm trên chỉ là bàng bạc và rời rạc nhất là không đặt thành hệ thống luật pháp. Vào thời đại mới, khi ý thức dân chủ phát huy trong đầu óc của nhân loại, thì ý niệm Cách Mạng mới trở nên cụ thể để đi từ từ qua những hình thức Quân Chủ lập hiến, Cọng Hoà ở các nước với những bản Tuyên Ngôn Độc Lập, những Hiến Pháp và những tu chính án…
Sách xưa có câu “Lão Ô bách tuế bất như Phượng Hoàng sơ sanh”:
Quạ già trăm tuổi vẫn xoàng,
So sao bì kịp Phượng hoàng còn non.
Hình trái: Bald Eagle ( Phượng Hoàng đầu bạc Hoa Kỳ)
http://nguoivietboston.com/wp-content/uploads/2011/07/bald-eagle.jpg
Hiệp chúng quốc Hoa kỳ là một quốc gia sanh sau đẻ muộn với tuổi đời là hơn hai trăm năm so với những quốc gia khác có từ cả ngàn năm. Nó đúng là một Phụng Hoàng non trẻ như cái phù hiệu mà dân Mỹ đã chọn cho mình qua hình ảnh Con Bald Eagle (nói là bald là sói trụi lông đầu, kỳ thực là lông đầu màu bạc coi tưởng như là trụi sói). Nhưng người dân Hoa Kỳ đã làm một cuộc Cách Mạng Dân Chủ lý tưởng đầu tiên để cho nhân loại noi theo vậy.
LÊ VĂN LÂN
.
.
.

Posted by Dinh Le at 6:56 AM

VỤ TIỀN POLYMER LIÊN QUAN TỚI TÌNH BÁO VIỆT NAM ? (BBC)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Vụ tiền polymer liên quan tình báo VN?

BBC
Cập nhật: 07:14 GMT – thứ hai, 4 tháng 7, 2011
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110704_securency_update.shtml
Báo Úc tiếp tục đưa tin về vụ in tiền polymer của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, với chi tiết mới nói người môi giới Lương Ngọc Anh là đại tá ngành an ninh.
Tờ The Age tiếp tục loạt bài về cáo buộc tham nhũng liên quan các quan chức cao cấp ngành ngân hàng, trong đó có cựu Thống đốc Lê Đức Thúy, với bài mới ra hôm thứ Hai 04/07/2011 dưới tựa đề ‘Bê bối hối lộ vươn ra tới một đại tá tình báo’.
Trong bài báo, hai phóng viên Nick McKenzie và Richard Baker nói ông Lương Ngọc Anh, Tổng Giám đốc công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD vốn đóng vai trò trung gian trong việc công ty Securency in tiền polymer cho Việt Nam, là nhân viên tình báo, cấp bậc đại tá.
Trước đó, The Age đã cáo giác ông Lương Ngọc Anh là người của cơ quan an ninh Việt Nam, nhưng chưa rõ cấp bậc.
Nay các phóng viên cho hay quan chức thương mại Australia đã tiếp xúc với ông tổng cộng 18 lần trước khi giới thiệu ông cho công ty Securency, chuyên cung cấp giấy và dịch vụ in tiền polymer.
Vụ cáo buộc công ty này, trực thuộc Ngân hàng dự trữ Úc (RBA), hối lộ quan chức ngân hàng các nước trong đó có Việt Nam vẫn đang được điều tra và các quan chức nói đây là vụ điều tra hối lộ lớn nhất nước từ trước tới nay.
Báo The Age cũng tiết lộ rằng cảnh sát liên bang đã điều tra một đại diện thương mại của Úc, hiện còn đương chức ở châu Á, trong vụ này.
Hai hôm trước, ngày 02/07, cũng tờ The Age đã nêu đích danh tên của cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy trong một danh sách ba quan chức nước ngoài mà Securency đã ‘mua chuộc’ được bằng ‘tiền hoa hồng’.
Tờ báo có trụ sở tại Melbourne đưa ra chi tiết về vị quan chức Việt Nam: “Cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy, một trong những quan chức giàu quyền lực nhất của đất nước và là người mà Securency bị cáo buộc đã hối lộ vào năm 2003 bằng việc trả các học phí cho con trai ông này du học tại Đại học Durham, Anh.”
Vai trò chủ chốt
The Age nói ‘vị đại tá’ Lương Ngọc Anh hiện vẫn chưa bị chính quyền Việt Nam thẩm vấn. Tờ báo này còn nhận xét rằng nhà chức trách Việt Nam vẫn “từ chối hỗ trợ phía Úc trong cuộc điều tra toàn cầu”.
Báo này viết: “Các cựu quan chức thương mại và ngoại giao Australia đã xác nhận một cách riêng tư rằng nhân vật môi giới của Securency Lương Ngọc Anh là đại tá ngành an ninh và điều này đã được Đại sứ quán Úc ở Hà Nội biết từ khi cơ quan đại diện thương mại Austrade giới thiệu ông ta và công ty CFTD của ông làm trung gian vào năm 2002”.
Theo luật Úc, việc công ty nước này thuê quan chức nước ngoài làm môi giới có trả tiền bị coi là trái phép. Thêm vào đó, Securency còn bị cáo buộc đã chuyển cho ‘đại tá Lương Ngọc Anh’ tới 20 triệu đôla Úc, đa số đó là để hối lộ.
Đổi lại, ông Anh đã giúp Securency thắng hợp đồng khổng lồ in tiền polymer cho Việt Nam.
Trong bài báo mới ra, The Age không nhắc tới chi tiết mà cũng chính báo này cáo giác trước đó, rằng ông Lương Ngọc Anh “có quan hệ thân cận với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ hồi ông Dũng còn giữ chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và quan hệ làm ăn với Securency bắt đầu”.
Ông Lương Ngọc Anh từng được báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ca tụng như một tấm gương doanh nhân thành đạt. (http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/11/04/091104104724_466-262-anh.jpg)
Ông bị cáo buộc đã sử dụng một phần trong số tiền môi giới để trả học phí cho con trai của ông Lê Đức Thúy.
Các chi tiết mới được The Age tung ra là:
Vào tháng 11/1999, ‘đại tá Lương Ngọc Anh’ được mời tới Australia tham dự hội thảo của Austrade về thị trường Việt Nam.
Tháng 8/2008, ông đã là đại biểu của một ủy ban hợp tác Kinh tế-Thương mại Việt-Úc, nhiều lần tham dự họp hành chiêu đãi với sứ quán nước này.
Tài liệu nội bộ Austrade từ 1998 trở đi còn nói ông Anh có “quan hệ gia đình ở một số bộ ngành quan trọng”. Cha ông được cho là có quan hệ rộng và bố vợ ông là quan chức công an cao cấp.
Các cơ quan công quyền Việt Nam hiện chưa có phản ứng gì trước các thông tin đưa ra ở trên.
Vụ tai tiếng hối lộ của công ty Securency với các quan chức Việt Nam và nước ngoài trong các thương vụ hoa hồng in tiền Polymer giai đoạn từ 1999 tới 2005 đã bị tờ The Age phát giác từ tháng 5/2009.
Các phát giác gây tác động lớn tại Úc và đã kéo các cơ quan điều tra, an ninh và tư pháp của nước này vào cuộc.
Báo The Age cho biết phóng sự điều tra của báo đã được cảnh sát sử dụng cho cuộc điều tra liên quốc gia. Chính quyền Indonesia và Malaysia miễn cưỡng hợp tác với cuộc điều tra, trong khi Việt Nam thì từ chối.
Ông Lê Đức Thúy làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong 8 năm, từ năm 1999. Người tiền nhiệm của ông là đương kim Thủ tướng VN, ông Nguyễn Tấn Dũng.
Sau khi ông Thúy thôi chức Thống đốc, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ nhiệm ông, từ tháng 3/2008 tới 05/2011 làm Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
Các bài liên quan :
‘Im tiếng về cáo buộc với ông Lê Đức Thúy’
Vụ Securency: Buộc tội sáu người
Ông Lê Đức Thúy chính thức nghỉ hưu
Tình tiết mới vụ Securenc
Securency trả học phí cho con ông Thúy?
Cáo buộc mới vụ Securency
Người tai tiếng vì tiền polymer nghỉ hưu
Cảnh sát Úc bố ráp Securency
Báo Đảng bỏ bài liên quan tới Securency
‘Chưa thể khởi tố vụ án’
Thanh tra Chính phủ nói gì về Securency?
————————————————
Bribe scandal extends to Vietnamese spy colonel
Richard Baker and Nick McKenzie
July 4, 2011
http://www.theage.com.au/national/bribe-scandal-extends-to-vietnamese-spy-colonel-20110703-1gxca.html
AUSTRALIAN trade officials met or spoke with a colonel from a Vietnamese spy agency 18 times before suggesting to a Reserve Bank currency firm that it hire him as an agent in an arrangement that is now expected to lead to more corruption charges as part of the nation’s biggest bribery probe.

The Age can also reveal that the federal police investigated an Austrade commissioner, who is still serving in Asia, after uncovering information about Austrade’s role in assisting banknote firm Securency International provide overseas travel for Vietnamese officials.

The revelation of Austrade’s intimate role in Securency’s allegedly corrupt Vietnam dealings comes just hours after German police swooped on a former senior sales executive from Note Printing Australia (NPA), the second RBA banknote company accused of bribing overseas officials.

The dramatic weekend arrest of Christian Boilott over his alleged role in a conspiracy to bribe overseas officials while working for NPA came just before his yacht was to sail in a contest in Boltenhagen, in Germany.

Mr Boilott, whom Australian authorities will seek to extradite, is the ninth man to be charged around the globe for an alleged role in the banknote companies’ bribery scandal, with six Victorians and two Malaysians arrested on Friday.

The Vietnamese colonel also suspected of playing a key role in a bribery scheme allegedly driven by Reserve Bank companies Securency and NPA is yet to be questioned by Vietnamese authorities, who have so far declined to assist Australia in the global inquiry.

Former Australian diplomatic and trade officials have privately confirmed that Securency agent Anh Ngoc Luong’s status as a colonel in Vietnam’s spy agency, the Ministry of Public Security, was well known to the Australian embassy in Hanoi when Austrade suggested Securency appoint him and his company, CFTD, as its agent in 2002.

Information released by Austrade and the Department of Foreign Affairs to Liberal senator Russell Trood shows that Australian officials in Hanoi met or spoke to Luong 18 times between 1999 and 2001.

It is illegal for an Australian company to hire a foreign official as its paid agent, and Luong’s appointment is suspected to have begun one of the highest paying bribery arrangements that Securency set up across the globe, paying the colonel up to $20 million, much of it in suspected bribes.

In return, he helped Securency win a massive contract to switch Vietnam’s banknotes from paper to plastic.

Australian embassy staff in Hanoi continued to have close dealings, including intimate dinners, with Colonel Luong even after an Austrade commissioner formally warned Canberra and the RBA in 2007 and 2008 that he was a high-ranking Ministry of Public Security officer. The ministry is Vietnam’s internal security and counter-espionage agency.

This information was also made available to the Securency board at that time. The board did not ask Securency management to end its arrangement with Colonel Luong.

The Austrade commissioner investigated by the AFP over Securency’s Vietnam dealings is understood to have helped arrange visas for Vietnamese officials to enter the United States on a brief Securency-funded holiday.

The Austrade official has not been charged. Other Austrade officials have also given statements to the AFP.

The revelation of Austrade’s intimate involvement with Securency’s Vietnam affairs is likely to increase pressure on the Gillard government to agree with a push by Greens leader Bob Brown for a parliamentary inquiry into the roles of the trade agency and the RBA in the bribery scandal.

A senior federal government official has told The Age that if an inquiry was held into Austrade’s relationship with Securency and Note Printing Australia ”it would emerge that the Australian government has sanctioned and engaged in corruption”.

A high-ranking Austrade

manager has separately told The Age that ”in the case of Securency … there is no doubt as to Austrade’s complicity as the agency not only made the introductions to CFTD but advised on how to deal with them”.

The RBA owns half of Securency and all of NPA. During the period of the alleged bribery, both companies were chaired by former deputy RBA governor Graeme Thompson and had other senior RBA officials as directors.

In Vietnam, Securency has been charged with bribing former Vietnamese central bank governor Le Duc Thuy by providing a scholarship for his son to study at an exclusive English university. Mr Thuy remains a senior figure in the Vietnamese government and chairs the National Committee for Financial Supervision.

Colonel Luong is believed to have used some of the commissions paid to him and CFTD by Securency to fund the education of Mr Thuy’s son. Bribery in Vietnam carries the death penalty.

Austrade deemed the partnership between Securency and Colonel Luong’s CFTD firm to be so successful that it presented them with a special export award in 2004.

In November 1999, Colonel Luong was invited to Australia as part of an Austrade seminar on the Vietnam market. In August 2008, he was part of an Australia-Vietnam Joint Trade and Economic Co-operation Committee delegation – months after Austrade’s commissioner in Vietnam warned of his links to the Ministry of Public Security. Colonel Luong also attended several lunches and dinners hosted by the Australian embassy.

He twice met embassy officials in the months after The Age broke the Securency bribery story and named him as an agent in May 2009.

The Age has previously reported on internal Austrade documents from 1998 that reveal Colonel Luong was known as having ”family relations in various key [government] ministries”. They also detail how he had a ”well-connected” father and a ”father-in-law [who] is minister of interior”.

In an interview with a Vietnamese journalist in 2007, Securency executives said the services provided by Colonel Luong and his company primarily involved translation, organising meetings and picking people up from the airport.

The AFP’s investigation into Securency and NPA remains ongoing and further charges against other former executives are expected.

Britain’s Serious Fraud Office is investigating Securency’s contracts in Nigeria, which involved nearly $20 million in commission payments to a network of agents and offshore bank accounts.

Austrade declined to comment, citing the ongoing police probe.

Read more: http://www.theage.com.au/national/bribe-scandal-extends-to-vietnamese-spy-colonel-20110703-1gxca.html

————————————–
VỤ BÊ BỐI HỐI LỘ LOANG RỘNG TỚI ĐẠI TÁ TÌNH BÁO VN LƯƠNG NGỌC ANH (The Age)
http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/vu-be-boi-hoi-lo-loang-rong-toi-ai-ta.html
VIỆT NAM HOÀN TOÀN IM LẶNG VỀ CÁO BUỘC VỚI ÔNG LÊ ĐỨC THÚY (BBC)
http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/viet-nam-hoan-toan-im-lang-ve-cao-buoc.html
6 VIÊN CHỨC ÚC BỊ BẮT GIỮ LIÊN QUAN TỚI VỤ BÊ BỐI SECURENCY (Lê Minh)
http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/6-vien-chuc-uc-bi-bat-giu-lien-quan-toi.html
.
.
.