Archive for Tháng Bảy, 2011

TIN & BÀI NGÀY 3-7-2011

Tháng Bảy 4, 2011

 

TIN & BÀI NGÀY 3-7-2011

 

VỤ BÊ BỐI HỐI LỘ LOANG RỘNG TỚI ĐẠI TÁ TÌNH BÁO VN LƯƠNG NGỌC ANH (The Age)
VIỆT NAM HOÀN TOÀN IM LẶNG VỀ CÁO BUỘC VỚI ÔNG LÊ ĐỨC THÚY (BBC)
6 VIÊN CHỨC ÚC BỊ BẮT GIỮ LIÊN QUAN TỚI VỤ BÊ BỐI SECURENCY (Lê Minh)
TRUNG QUỐC GIÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA MỸ Ở THÁI BÌNH DƯƠNG (Người Việt)
GIỚI HẠN NÀO CHO KẺ CÔN ĐỒ TRUNG QUỐC ? (Trefor Moss, The Diplmat)
TRUNG QUỐC ĐÃ XUẤT HIỆN DẤU HIỆU MANH NHA CỦA CÁCH MẠNG (tài liệu tham khảo)
NHỮNG THÁCH THỨC LỚN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC (tài liệu tham khảo)
CHIẾN THUẬT ĐỊNH HƯỚNG CÔNG LUẬN CỦA GIỚI LÃNH ĐẠO BẮC KINH (Tú Anh, RFI)
KHỐI ASEAN TRÔI DẠT GIỮA BIỂN ĐÔNG (David Brown, Asia Times)
ĐÀI LOAN LÀM CÁCH NÀO ĐỂ VƯỢT LÊN TRUNG QUỐC (Richard Pearson)
CÔNG ĐOÀN BẢO VỆ UY QUYỀN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN (Tạ Phong Tần)
NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY CẢM TẠ CÁC ÂN NHÂN TẠI CALIFORNIA
NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY GẶP GỠ ĐỒNG HƯƠNG Ở LITTLE SAIGON
NGƯỜI TRUNG QUỐC BẤT MÃN (Ngô Nhân Dụng)
LÀM SAO GIẢI QUYẾT “CÔNG HÀM 1958” CỦA VNDCCH DO TT PHẠM VĂN ĐỒNG KÝ ? (Nguyễn Ngọc Già)
VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG NGÀY CÀNG SÁNG TỎ (Lữ Giang)
Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN – SỐ 126 – NGÀY 1-7-2011
Báo TỔ QUỐC – SỐ 114 – NGÀY 1-7-2011
3-7-2011 XÁC QUYẾT LÒNG YÊU NƯỚC , TUẦN HÀNH TẠI HÀ NỘI (Người Buôn Gió)
SAO LẠI ĐỐI XỬ VỚI NHÂN DÂN NHƯ THẾ ? (Bút ký của Nguyễn Thượng Long)
THƯ CẢM ƠN CỦA ANH NGUYỄN TIẾN NAM – NGƯỜI BIỂU TÌNH ĐƯỢC “GIẢI CỨU” (Dân Làm Báo)
BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC LẦN 5 : 3-7-2011 (tiếp theo 3)
.
.
.

Posted by Dinh Le at 5:35 AM

VỤ BÊ BỐI HỐI LỘ LOANG RỘNG TỚI ĐẠI TÁ TÌNH BÁO VN LƯƠNG NGỌC ANH (The Age)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Vụ bê bối hối lộ loang rộng tới Đại tá tình báo Việt Nam

Bribe scandal extends to Vietnamese spy colonel

Richard Baker và Nick McKenzie

The Age   –   Ngày 4 tháng 7 năm 2011

 

Người dịch: Hiền Ba

Đăng bởi basamnew on 04.07.2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/04/153-v%e1%bb%a5-be-b%e1%bb%91i-h%e1%bb%91i-l%e1%bb%99-loang-r%e1%bb%99ng-t%e1%bb%9bi-d%e1%ba%a1i-ta-tinh-bao-vi%e1%bb%87t-nam/

 

Các viên chức của cơ quan Thương vụ Australia [Austrade] đã gặp hoặc nói chuyện 18 lần với một đại tá thuộc một cơ quan tình báo của Việt Nam trước khi đề nghị một công ty in tiền của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Australia (RBA) thuê người nói trên làm đại lý trong một vụ thu xếp giờ đây được cho là đang dẫn tới thêm những cáo buộc tham nhũng trong lúc cuộc điều tra vụ hối lộ lớn nhất của nước này đang diễn ra.

Tờ The Age còn tiết lộ rằng cảnh sát liên bang đã điều tra một viên chức của Austrade, người nay hiện nay vẫn đang làm việc tại châu Á, sau khi phát hiện những thông tin cho thấy vai trò của Austrade trong việc giúp công ty in tiền Securency International đài thọ các chuyến đi nước ngoài của các quan chức Việt Nam.

 

Việt phát hiện ra vai trò mật thiết của Austrade trong các quan hệ tham nhũng với Việt Nam chỉ diễn ra vài giờ sau khi cảnh sát Đức tiến hành một cuộc đột kích để bắt giữ một người nguyên là giám đốc bán hàng của Note Printing Australia (NPA), công ty in tiền thứ hai trực thuộc RBA bị cáo buộc đưa hối lộ các viên chức nước ngoài.

 

Vụ bắt giữ Christian Boilott vào ngày nghỉ cuối tuần đầy kịch tính nói trên với lý do ông ta được cho là có vai trò trong một âm mưu hối lộ các viên chức nước ngoài khi đang còn làm việc cho NPA chỉ xảy ra ngay trước lúc chiếc du thuyền của ông ta chuẩn bị lên đường đi tham gia một cuộc thi ở Boltenhagen thuộc Đức.

 

Ông Boilott, người mà chính phủ Australia sẽ tìm cách để dẫn độ về Australia, là người thứ chín bị buộc tội trên thế giới vì được cho là có vai trò trong vụ xì căng đan hối lộ của các công ty in tiền nói trên, trong số đó sáu người ở bang Victoria [của Australia] và hai người Malaysia đã bị bắt hôm thứ Sáu tuần trước.

 

Viên đại tá người Việt Nam cũng bị nghi ngờ là có đóng một vai trò quan trọng trong một kế hoạch hối lộ được cho là được dàn xếp bởi công ty Securency và NPA trực thuộc RBA song cho đến nay vẫn chưa bị nhà chức trách Việt Nam thẩm vấn và chính phủ Việt Nam cho đến lúc này vẫn từ chối giúp đỡ Australia trong cuộc điều tra toàn cầu nói trên.

 

Nhiều nhà ngoại giao và viên chức của bộ ngoại thương Australia đã xác nhận riêng rằng sứ quán Australia tại Hà Nội đã biết rất rõ thân thế của Lương Ngọc Anh, đại lý cho Securency, là một đại tá của cơ quan tình báo thuộc Bộ Công An khi vào năm 2002 Austrade đề nghị Securency bổ nhiệm ông Lương Ngọc Anh và công ty của ông này là CFTD (Công ty Phát triển Công nghệ) làm đại lý cho Securency.

Thông tin do Austrade và Bộ ngoại giao gửi tới thượng nghị sĩ Russel Trood thuộc Đảng Tự do cho thấy rằng các viên chức Australia tại Hà Nội đã gặp gỡ hoặc nói chuyện với Lương Ngọc Anh 18 lần trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2001.

 

Một công ty Australia thuê một viên chức nước ngoài làm đại lý ăn lương là điều bất hợp pháp và vụ bổ nhiệm ông Lương Ngọc Anh đang bị nghi ngờ là đã khởi đầu cho một trong những vụ thu xếp đưa hối lộ lớn nhất trên thế giới của công ty Securency, số tiền thanh toán cho Đại tá đã lên tới 20 triệu đô la [đô la Australia], phần lớn số tiền đó là nằm trong các khoản bị nghi là để đưa hối lộ.

 

Để đổi lại, Lương Ngọc Anh đã giúp công ty Securency giành được một hợp đồng khổng lồ ấy là chuyển đổi tiền giấy của Việt Nam sang tiền polyme.

 

Các nhân viên sứ quán Australia tại Hà Nội vẫn tiếp tục có quan hệ gần gũi, kể cả ăn tối thân mật, với Đại tá Lương Ngọc Anh ngay cả sau khi vào năm 2007 và 2008 một viên chức của Austrade đã chính thức cảnh báo Canberra và RBA rằng Lương Ngọc Anh là một sĩ quan an ninh cấp cao của Bộ Công An. Bộ này là cơ quan phụ trách về an ninh trong nước và phản gián của Việt Nam.

 

Vào thời điểm đó Hội đồng quản trị của công ty Securency cũng biết được thông tin nói trên. Hội đồng quản trị đã không yêu cầu ban giám đốc của Securency chấm dứt sự thu xếp với Đại tá Lương Ngọc Anh.

 

Theo tìm hiểu của hãng thông tấn AFP thì viên chức của Austrade được thỏa thuận là đã giúp đỡ thu xếp visa vào Mỹ cho các viên chức Việt Nam trong một chuyến đi nghỉ ngắn ngày do Securency tài trợ.

 

Viên chức nói trên của Austrade đã không bị buộc tội. Nhiều viên chức khác của Austrade cũng cung cấp những lời khai cho AFP.

 

Việc phát hiện ra Austrade có liên quan mật thiết trong các vụ làm ăn của Securency có khả năng sẽ gia tăng sức ép lên chính phủ của Gillard [nữ Thủ tướng Julia Gillard của Australia hiện nay] để buộc chính phủ phải đồng ý với sự thúc giục của lãnh tụ đảng Greens Bob Brown là nghị viện phải mở cuộc điều tra về vai trò của Austrade và RBA trong vụ xì căng đan hối lộ này.

 

Một quan chức cao cấp của chính phủ liên bang đã nói với báo The Age rằng nếu mở một cuộc điều tra về mối quan hệ giữa Austrade với Securency và Note Printing Australia thì ”một điều sẽ lòi ra là chính phủ Australia đã từng ủng hộ và liên quan đến tham nhũng”.

 

Một quan chức cấp cao của Austrade đã nói riêng với The Age rằng ”trong trường hợp của Securency … thì chắc chắn là Austrade với tư cách cơ quan chính phủ đã có sự đồng lõa không chỉ ở những vụ giới thiệu CFTD với các công ty Australia mà còn tư vấn cho CFTD cách để làm việc với những công ty đó”.

 

RBA sở hữu một nửa công ty Securency và toàn bộ công ty NPA. Trong giai đoạn xảy ra vụ được cho là hối lộ thì cả hai công ty này đều có chủ tịch hội đồng quản trị là cựu phó thống đốc RBA Graeme Thompson và có những giám đốc là các quan chức cấp cao khác của RBA.

 

Ở Việt Nam thì Securency bị cáo buộc là đã hối lộ nguyên thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy bằng cách trả tiền cho con trai của ông này đi học tại một trường đại học đắt tiền ở Anh Quốc. Ông Thúy vẫn tiếp tục là một nhân vật cấp cao trong chính phủ Việt Nam và là chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia.

 

Lương Ngọc Anh được cho là đã dùng một phần tiền hoa hồng do Securency trả cho ông và cho CFTD để tài trợ cho chuyến đi học nói trên của con trai ông Thúy. Tội hối lộ ở Việt Nam có thể phải nhận đến án tử hình.

 

Austrade tưởng rằng mối quan hệ đối tác giữa Securency với Đại tá Lương Ngọc Anh và công ty CFTD của ông ta là vô cùng thành công cho nên năm 2004 đã tặng cho họ một bằng khen đặc biệt về thành tích xuất khẩu.

 

Tháng 11 năm 1999, Đại tá Lương Ngọc Anh được mời sang Australia tham dự một hội thảo về thị trường Việt Nam. Tháng 8 năm 2008 ông là thành viên của phái đoàn của Ủy ban hỗn hợp Australia-Việt Nam về Thương mại và Hợp tác Kinh tế – nhiều tháng trước đó thì viên chức của Austrade ở Việt Nam đã cảnh báo ông này là người của Bộ Công An. Đại tá Lương Ngọc Anh cũng tham dự nhiều bữa tiệc trưa và tiệc tối do sứ quán Australia chiêu đãi.

Ông Lương Ngọc Anh đã hai lần gặp gỡ các nhân viên sứ quán trong những tháng sau khi tờ The Age đăng tin về việc Securency đưa hối lộ và chỉ định ông Lương Ngọc Anh làm đại lý vào tháng 5 năm 2009.

 

The Age trước đó đã đăng bài viết về tài liệu nội bộ của Austrade từ năm 1998 đã tiết lộ rằng Đại tá Lương Ngọc Anh được biết tới như là có ”những mối quan hệ người nhà ở trong những bộ quan trọng [của chính phủ]”. Các tài liệu đó còn nói cụ thể ông Lương Ngọc Anh có một ông bố ”quan hệ rộng với lãnh đạo cấp cao” ra sao rồi có ”bố vợ [ai] là bộ trưởng nội vụ”.

 

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn một nhà báo Việt Nam hồi năm 2007, lãnh đạo của Securency nói rằng những dịch vụ do Đại tá Lương Ngọc Anh và công ty của ông cung cấp chủ yếu liên quan đến dịch tài liệu, tổ chức các cuộc họp và đưa đón người ở sân bay.

 

AFP hiện vẫn đang tiếp tục điều tra về Securency và NPA và người ta chờ đợi sẽ có thêm những cựu quan chức cấp cao khác của hai công ty này bị buộc tội.

 

Cơ quan Chống Gian lận của Anh Quốc [Serious Fraud Office] đang điều tra các hợp đồng của Securency ở Nigeria, các hợp đồng liên quan đến gần 20 triệu đô la tiền hoa hồng được chuyển cho một mạng lưới đại lý và những tài khoản ở nước ngoài.

 

Austrade từ chối đưa ra lời bình luận, họ nói rằng cảnh sát vẫn đang tiếp tục điều tra.
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

.

.

.

 

 

VIỆT NAM HOÀN TOÀN IM LẶNG VỀ CÁO BUỘC VỚI ÔNG LÊ ĐỨC THÚY (BBC)

Tháng Bảy 4, 2011

 

‘Im tiếng về cáo buộc với ông Lê Đức Thúy’

BBC

Cập nhật: 11:19 GMT – chủ nhật, 3 tháng 7, 2011

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110703_securency_vn.shtml

 

Hơn một ngày sau khi báo chí Úc tái khẳng định nêu tên cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ông Lê Đức Thúy trong vụ tai tiếng hối lộ của công ty Securency về in tiền Polymer, các cơ quan công quyền và báo chí Việt Nam chưa có phản ứng gì.

 

Hôm 02 tháng Bảy, tờ báo Úc The Age vốn đi đầu phát giác tham nhũng ở vụ Securency hối lộ quan chức của một số nước, trong đó có Việt Nam, để thắng thầu in tiền, đã nêu đích danh tên của ông Lê Đức Thúy, trên một danh sách ba quan chức nước ngoài mà hãng này được cho là đã ‘mua chuộc’ được bằng ‘tiền hoa hồng’.

 

Tờ báo có trụ sở tại Melbourne đưa ra chi tiết về vị quan chức Việt Nam: “Cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Đức Thúy, một trong những quan chức giàu quyền lực nhất của đất nước và là người mà Securency bị cáo buộc đã hối lộ vào năm 2003 bằng việc trả các học phí cho con trai ông này du học tại Đại học Durham, Anh.”

 

Hai phóng viên Nick McKenzie và Richard Baker và đồng thời là tác giả của bài báo trên The Age hôm thứ Bảy với tựa đề “Tiền giấy và hối lộ: các vụ bắt giữ còn tiếp tục” cho hay nhiều triệu đô-la đã được công ty của Úc hối lộ và chuyển tới các quan chức nước ngoài ở Indonesia, Malaysia và đặc biệt là Việt Nam.

 

Thỏa thuận lớn nhất

Trong bài báo thứ hai, cùng ngày, với tựa đề “Những con người tiền bạc” (The money men) cũng của hai tác giả Úc khởi đăng ngay sau khi Tòa án Melbourne ở Úc chính thức buộc tội sáu quan chức cấp cao của Securency, tờ The Age khẳng định:

“Việt Nam là nơi mà Securency có thỏa thuận làm ăn lớn nhất tới nay, với một hợp đồng 5 năm để chuyển đồng tiền của toàn bộ quốc gia từ tiền giấy sang polymer.

“Người đóng vai trò trung gian kết nối rất mạnh mẽ trong vụ này là thương gia Lương Ngọc Anh và công ty của ông này, CFTD.”

Ông Ngọc Anh, Tổng Giám đốc công ty TNHH Phát triển Công nghệ CFTD, là người đã bị tờ The Age nhiều lần nêu đích danh với cáo buộc đã nhận lót tay nhiều triệu đô-la Úc từ Securency.

 

Bài báo ca ngợi ông Lương Ngọc Anh trên Báo Điện tử của Đảng Cộng sản VN đã bị tờ này rút xuống sau vụ việc.

http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/11/04/091104104721_226-170-anh.jpg

 

Tổng số tiền ‘lại quả’ cho ông Ngọc Anh, người được cho là có các liên hệ rất gần gũi với ông Lê Đức Thúy và ông Lê Đức Minh, con trai của ông Thúy – người đứng đầu một công ty con có liên hệ tới quá trình in tiền polymer, cũng như qua công ty của ông Ngọc Anh, theo The Age, là hơn 12 triệu đô-la Úc.

 

Im lặng như tờ

Một phần trong đó, vẫn theo báo này, đã được gửi vào tài khoản ở Thụy Sĩ.

Cho tới 18h00 ngày Chủ Nhật, 02 tháng Bảy, trên các trang mạng của Văn phòng Chính phủ Việt Nam, hay Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cũng như hàng loạt báo chí trong nước, trong đó có các tờ Nhân Dân, Thời Báo Kinh tế VN, Sài Gòn Giải Phóng, Thanh Niên, hay các trang mạng VietnamNet, VnExpress.net…, đều không xuất hiện bất cứ tin bài nào đưa tin, hoặc bình luận, phản ứng về các cáo buộc đích danh mới nhất của báo chí Úc.

 

Vụ tai tiếng hối lộ của công ty Securency với các quan chức Việt Nam và nước ngoài trong các thương vụ hoa hồng in tiền Polymer giai đoạn từ 1999 tới 2005 đã bị tờ The Age phát giác từ tháng 5/2009.

Các phát giác gây tác động lớn tại Úc và đã kéo các cơ quan điều tra, an ninh và tư pháp của nước này vào cuộc, mà trong đó vụ buộc tội một lúc 6 quan chức cao cấp của công ty này hôm 01 tháng Bảy có thể chưa phải là các diễn biến cuối cùng.

Báo The Age cho biết phóng sự điều tra của báo đã được cảnh sát sử dụng cho cuộc điều tra liên quốc gia. Chính quyền Indonesia và Malaysia miễn cưỡng hợp tác với cuộc điều tra, trong khi Việt Nam thì từ chối.

Được biết, ông Lê Đức Thúy làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong 8 năm, từ năm 1999. Người tiền nhiệm của ông là đương kim Thủ tướng VN, ông Nguyễn Tấn Dũng.

Sau khi ông Thúy thôi chức Thống đốc, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bổ nhiệm ông, từ tháng 3/2008 tới 05/2011 làm Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.

 

 

Các bài liên quan :

Vụ Securency: Buộc tội sáu người

Ông Lê Đức Thúy chính thức nghỉ hưu

Tình tiết mới vụ Securency

Securency trả học phí cho con ông Thúy?

Cáo buộc mới vụ Securency

Người tai tiếng vì tiền polymer nghỉ hưu

Cảnh sát Úc bố ráp Securency

Báo Đảng bỏ bài liên quan tới Securency

‘Chưa thể khởi tố vụ án’

Thanh tra Chính phủ nói gì về Securency?

 

.

.

.

 

6 VIÊN CHỨC ÚC BỊ BẮT GIỮ LIÊN QUAN TỚI VỤ BÊ BỐI SECURENCY (Lê Minh)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Vụ tham nhũng RBA: quan chức có liên can đến “đồng tiền dơ bẩn” bị truy tố

Lê Minh

2-7-2011

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/tintuc/1187-1187

 

Sáng sớm hôm qua Thứ Sáu 1/07, lực lượng Cảnh sát Liên bang Úc đã bắt giữ 6 quan chức cao cấp nhất của hai công ty Securency và công ty in tiền nhựa Polymer Note Printing Australia (NPA). Cả 6 vị này bị đưa ra Tòa Sơ Thẩm bang Victoria trong cùng ngày để xét xử vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử nước Úc có liên can đến việc hối lộ các quan chức nước ngoài nắm giữ các vị trí then chốt trong Ngân hàng trung ương hoặc Bộ Tài chánh, để có được các hợp đồng in tiền nhựa Polymer.

 

Sáu quan chức này nắm giữ 3 vị trí quan trọng và cao nhất của hai công ty vừa kể, là 3 chức danh Tổng Giám Đốc điều hành, Tổng quản Tài chánh và Tổng quản Thương Mại-Tiếp thị.

NPA là công ty chuyên in tiền nhựa Polymer cho Úc và nước ngoài, hoàn toàn thuộc sở hữu của Ngân hàng Trung Ương Úc RBA. Trong khi Securency là công ty chuyên quảng bá và tiếp thị dịch vụ in tiền nhựa Polymer, với 50% cổ phần thuộc về công ty Innovia của Anh Quốc, và 50% còn lại thuộc sở hữu của RBA.

Vụ tham nhũng RBA-Securency lần đầu tiên được hai phóng viên chuyên mục điều tra Nick Mckenzie và Richard Baker đưa lên trang nhất của báo The Age và Sydney Morning Herald vào ngày 23/05/2009. Theo đó hai phóng viên này đã phanh phui nhiều chi tiết động trời liên quan đến việc công ty Securency hối lộ các quan chức ngân hàng, tài chánh của các nước bằng mọi kiểu cách, để có được hợp đồng in tiền nhựa Polymer. Với tầm cỡ của scandal này, chỉ vài giờ sau khi bài báo xuất hiện thì vị Tổng Giám Đốc của Securency khi đó là Myles Curtis đã buộc phải chủ động gọi điện yêu cầu Cảnh sát Liên bang vào cuộc điều tra.

Cuộc điều tra của Cảnh sát Liên bang Úc xoáy quanh việc hối lộ quan chức các nước Việt Nam, Nepal, Mã Lai, Ấn Độ, Nam Dương, Nigeria và một số nước Châu Phi khác. Nhưng về sau thì trọng tâm của cuộc điều tra nhắm vào Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương, Nigeria vì có nhiều dấu chỉ cho thấy quan chức của những nước này ẵm gần hết số tiền hơn 60 triệu đô do Securency chi trả trong khoảng thời gian từ 1999 đến 2005, mà theo sổ sách đó là “các khoản tiền chi trả không chính thức” và “tiền huê hồng” cho “các vị khách quý của chúng ta”.

Chiếu theo điều 11.5(1) và 70.2(1) của bộ luật Hình sự bổ sung năm 1995, liên can đến các tội hối lộ ở nước ngoài, thì cá nhân có thể bị phạt đến 10 năm tù và/hoặc phạt vạ lên đến $1.1 triệu đô. Công ty, tổ chức thì có thể bị phạt đến $330,00 cho mỗi lần vi phạm. Tuy nhiên, sau khi vụ RBA bị phanh phui vào tháng 5 năm 2009 thì chính phủ Úc đã đưa ra những hình phạt nặng nề hơn kể từ tháng Hai năm 2010, là nâng số tiền phạt lên đến $11 triệu đô, hoặc tương đương 33% tổng doanh thu của công ty, hoặc 3 lần số tiền dùng để hối lộ.

Với tầm cỡ quan trọng của vụ án, vì uy tín của hệ thống ngân hàng Úc bị ảnh hưởng nghiêm trọng và viễn ảnh về một nước Úc tương dối trong sạch dưới con mắt quốc tế sẽ bị méo mó, Cảnh sát Liên bang Úc đã quyết tâm vào cuộc điều tra cho ra lẽ. Một lực lượng gồm hơn 20 cảnh sát và chuyên gia cao cấp được thành lập để chuyên lo vụ án này trong một chiến dịch “Operation Rune” (tạm dịch là Chiến dịch Bí Mật).

Vì một nửa của Securency do Innovia, một công ty của Anh Quốc sở hữu, cho nên Văn Phòng Điều Tra Gian Lận của Anh cũng vào cuộc để điều tra các cáo cuộc liên can đến việc hối lộ các quan chức Nigeria. Một số thương gia, kẻ môi giới người Anh đã bị bắt, nhưng cho đến nay chưa bị truy tố, trong khi văn phòng của hai công ty này tại Luân Đôn cũng bị cơ quan này lục soát.

Trong số 4 quốc gia có liên can, Cảnh sát Úc đánh giá chính quyền Mã Lai có sự hợp tác và giúp đỡ nhiều nhất. Vào đầu tháng rồi, Ủy Ban Chống Tham Nhũng Mã Lai đã bắt giữ hai người được cho là kẻ môi giới trong các hợp đồng do Úc in tiền nhựa Polymer, để phục vụ công tác điều tra. Theo hồ sơ thì Securency đã chi trả khoảng $10 triệu đô cho các quan chức cao cấp ngân hàng trung ương và một số chính trị gia, thông qua các trung gian.

Trường hợp của Nam Dương thì vào năm 1999, sau khi trúng thầu in 500 triệu tờ tiền nhựa Polymer có mệnh giá $100,000 Rupiah, Securency đã chi trả nhiều triệu đô cho các quan chức Nam Dương thông qua Radius Christanto, một thương gia có sở thích đánh Golf. Chỉ riêng tên môi giới này đã nhận được US$4.9 triệu đô.

Cảnh sát Úc đánh giá chính quyền Việt Nam kém nhất trong việc hợp tác điều tra, cung cấp thông tin, và hầu như không hề công khai quan chức có liên can. Trong khi đó, các quan chức Việt Nam lại là những kẻ nhận được những khoản tiền lớn nhất. Cuộc điều tra đã nêu đích danh quan chức Việt Nam cao cấp nhất có liên can là Lê Đức Thúy, cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là người trong nhiệm kỳ của mình đã quyết định sử dụng tiền nhựa Polymer để lưu hành thay tiền giấy. Chi tiết điều tra cũng cho thấy là Securency đã “bao” cho đứa con trai của Thúy đi du học tại trường Đại Học Durham, Anh Quốc cùng những khoản tiền được chuyển lòng vòng thông qua kẻ môi giới là Lương Ngọc Anh.

Anh và công ty CFTD mà Anh là Tổng Giám Đốc khi đó, được cho là kẻ môi giới chính và duy nhất trong các phi vụ in tiền Polymer cho phía Việt Nam. Điều này dễ hiểu bởi vì bản thân Anh là một nhân vật “có thớ” trong Bộ Công An, mang quân hàm Đại tá công an. Ngoài ra có một số cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị của CFTD là con cháu các quan lớn và có một người là đại diện cho chính phủ Việt Nam tại một cơ quan của Liên Hiệp Quốc.

Nhận ra được tầm ảnh hưởng của nhân vật này, ngay từ đầu năm 2002, Phòng Thương Mại Úc Austrade đã giới thiệu Anh cho Securency, nhưng lại “quên” nói rõ lý lịch của Anh. Do đó, Cảnh sát Úc có lý do để nghi ngờ rằng Anh là một đại tá tình báo của Bộ Nội Vụ, có những nhiệm vụ đặc biệt ngoài công việc môi giới.

Tính đến hôm qua 1/07, cuộc điều tra của cảnh sát Úc đã kéo dài đúng 769 ngày, với kết quả sơ khởi là việc bắt giữ và truy tố 6 viên chức cao nhất của hai công ty Securency và NPA. Đó là việc bắt giữ những kẻ ở Úc có liên quan đến quyết định sử dụng “đồng tiền dơ bẩn” để hối lộ quan chức nước ngoài hầu mong kiếm được hợp đồng in tiền nhựa Polymer. Sáu quan chức này sẽ đối mặt với những bản án lên đến 10 năm tù và/hoặc phạt vạ lên đến $1.1 triệu đô. Vào ngày 27/07 sắp tới, hai công ty Securency và NPA cũng sẽ phải hầu tòa với những tội danh tương tự và nếu có tội thì số tiền phạt tối thiểu sẽ là $1.5 triệu đô.

Kẻ đưa tiền hối lộ rồi đây sẽ phải nhận những hình phạt nặng nề. Mã Lai đã noi theo, và Nam Dương cũng đang rục rịch để xử những kẻ nhận hối lộ. Vậy đến khi nào mới đến lượt nhà cầm quyền Việt Nam “tùng xẻo” những kẻ đã ăn “những đồng tiền dơ bẩn”? Nhiều phần là kịch bản như PMU18 hoặc Vinashin được tái dựng để cho chìm xuồng với lý do “vụ án có yếu tố nước ngoài” và các quan tham sẽ được “hạ cánh an toàn”, hoặc được “thuyên chuyển công tác”.

Úc Châu, ngày 2/07/2011
Lê Minh

Nguồn tham khảo:

The Age: http://www.theage.com.au/national/the-money-men-20110701-1gv2b.html
Sydney Morning Herald: http://www.smh.com.au/business/securency-bosses-arrested-20110701-1gtr8.html

Video Clip: Dirty Money: the Securency scandal
http://media.theage.com.au/news/national-news/dirty-money–the-securency-scandal-2466830.html

Video Clip: The money men
http://www.theage.com.au/national/the-money-men-20110701-1gv2b.html

.

.

.

TRUNG QUỐC GIÁNH ẢNH HƯỞNG CỦA MỸ Ở THÁI BÌNH DƯƠNG (Người Việt)

Tháng Bảy 4, 2011

 

TQ giành ảnh hưởng của Mỹ ở Thái Bình Dương

Người Việt

Chủ Nhật – 3 Tháng 7, 2011

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=133450&z=5&template=viewmainNVO.htm

 

WASHINGTON – Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Hội Hoa Kỳ (US Congressional Research Service) vừa nhận diện một trong những mục tiêu của nỗ lực hiện đại hóa quân đội Trung Quốc là “đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ở Thái Bình Dương,” theo tin hãng thông tấn Nhật Kyodo.

 

Trong một báo cáo ghi ngày 8 tháng 6, cơ quan này cho biết, quân đội Trung Quốc đang cố tìm cách ngăn chận quân lực Mỹ không đến gần được những khu vực nằm chung quanh Trung Quốc, gồm cả việc Trung Quốc chế tạo các thiết bị quân sự để tấn công vào những căn cứ không quân của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương.

 

Trong phần mở đầu, bản báo cáo cho biết: “Vấn đề Hoa Kỳ cần phải đáp ứng thế nào trước nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc… vốn nổi lên như là một vấn đề thiết yếu trong sách lược quốc phòng của Mỹ.”

 

Ðiều này làm rõ thực tế theo đó nước Nhật, nơi đặt căn cứ của một số căn cứ quân sự Hoa Kỳ, có thể bị ảnh hưởng nhiều từ các chuyển biến về quan hệ Mỹ-Trung, vào lúc mà Trung Quốc đang tỏ ra cứng rắn hơn trước các lợi ích hàng hải của họ.

 

Bản báo cáo nói mục tiêu nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc gồm việc “đẩy ảnh hưởng của Hoa Kỳ ra khỏi vùng Thái Bình Dương, đồng thời khẳng định vai trò siêu cường quan trọng của mình”.

 

Báo cáo cảnh cáo: “Trung Quốc đang muốn phát triển thêm về quân sự, để ngăn chận sự can thiệp của Mỹ một khi họ muốn tấn công Ðài Loan, bằng hình thức làm chậm hay giảm bớt hiệu năng can thiệp bằng hải và không quân Hoa Kỳ.”

 

Ðể đạt đến mục tiêu này, Trung Quốc đang đẩy mạnh các chương trình phát triển hỏa tiễn đạn đạo chống tàu chiến và phi đạn tầm xa, kể cả hỏa tiễn tấn công trên bộ nhắm vào các căn cứ quân sự của Mỹ cùng các cơ sở khác trong khu vực Tây Thái Bình Dương.

 

Cũng theo bản báo cáo, mục tiêu khác của chương trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc là để “khẳng định cũng như bảo vệ chủ quyền của họ ở vùng biển Ðông và biển Hoa Ðông, nơi họ đang tranh chấp với các nước khác”.

 

“Ðể đối phó với khả năng quân sự trên biển của Trung Quốc trong những năm sắp đến,” báo cáo đề nghị Hoa Kỳ nên phát triển phi đạn chống tàu chiến và tàu ngầm tấn công chạy bằng nguyên tử, mặc dù Mỹ đã cho bố trí ba tàu ngầm hạt nhân ở đảo Guam.

 

Báo cáo còn đề nghị Hoa Kỳ tăng cường thêm các tàu chiến thuộc Hạm Ðội Thái Bình Dương tại các địa điểm tiền phương như Hawaii, Guam và Nhật. (T.P.)

 

———————————–

 

 

Trung Hoa trong giấc mơ biển xanh   –  JAMES HOLMES   (TVN)

‘Trung, Mỹ không phải đối thủ chiến lược’   (Đất Việt/People’s daily)

Biển Đông và nguyên tắc 4T – Thực tiễn – Thực dụng – Thực thi – Thực lực  (Ts Giáp Văn Dương) –   (TVN)

Có mấy trăm tỷ thùng dầu mỏ ở Biển Đông?   (GDVN)

Tranh chấp Trung Quốc và Việt Nam về Trường Sa: bài học cho Ấn Độ  –   D. S. Rajan, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chennai (Ấn Độ)  –   (NCBĐ)

 

.

.

.

GIỚI HẠN NÀO CHO KẺ CÔN ĐỒ TRUNG QUỐC ? (Trefor Moss, The Diplmat)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Giới hạn nào cho kẻ côn đồ Trung Quốc

The Limits of China as Villain

Trefor Moss

The Diplomat   –   Ngày 29-6-2011

 

Người dịch: Đan Thanh

Đăng bởi basamnew on 03.07.2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/03/152-gi%e1%bb%9bi-h%e1%ba%a1n-nao-cho-k%e1%ba%bb-con-d%e1%bb%93-trung-qu%e1%bb%91c/

 

Những căng thẳng hiện nay trên biển Hoa Nam [Biển Đông] không thể chỉ đổ cho Bắc Kinh gây ra. Sự yếu kém của ASEAN đã góp phần rất lớn.

 

Trung Quốc thường xuyên được “đo ni đóng giày” cho vai kẻ côn đồ trong các vở kịch an ninh quốc phòng ở châu Á-Thái Bình Dương, và những vụ đối đầu gần đây ở biển Hoa Nam cũng không có gì khác. Kịch bản tiếp tục xoay quanh một nhân vật Trung Hoa hung hãn, liều lĩnh tung ra các yêu sách về chủ quyền, dồn dập uy hiếp các láng giềng yếu thế hơn và phá hoại ổn định khu vực.

Quả thật là hành động của Trung Quốc, cộng với truyền thông sai lệch từ phía họ, có thể đã góp phần làm nên những nốt nhạc chối tai trong bản nhạc an ninh quốc phòng, trong khi Philippines và Việt Nam nói riêng thì báo động một cách chân thành về sự quyết liệt mà Trung Hoa đang thể hiện trên vùng tranh chấp thuộc biển Hoa Nam. Có lẽ sự quyết liệt này được chuyển đổi giữa hai trạng thái, là sự hung hăng và sự vụng về thô mộc.

 

Nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện; những khó khăn trong hàng hải ở châu Á mới thực là một thất bại tổng hợp. Các nước có quyền lợi liên quan trong khu vực đã chỉ thành công trong việc bộc lộ những yếu kém nguy hiểm trong thể chế đa phương của họ. Những thể chế đó, kể cả Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), đều đang vật lộn để có thể điều tiết được hành vi ứng xử của các nước thành viên và triển khai các biện pháp kiểm soát có ý nghĩa đối với vấn đề an ninh khu vực. Ấy là bởi vì những lợi ích đối kháng nhau, chứ không phải một mục đích chung nào cả, vẫn đang tiếp tục chi phối tư duy của khu vực, thậm chí trong nội bộ ASEAN. Điều này cũng có thể được lý giải một phần là do sự hiện diện kéo dài của một thiết chế an ninh đơn phương, rất thành công ở khu vực Thái Bình Dương: quân đội Hoa Kỳ.

 

Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa đa phương ở châu Á thể hiện kiệt cùng và công khai tại Đối thoại Shangri-La được tổ chức ở Singapore đầu tháng 6 vừa qua. Đó là nơi những tranh chấp hàng hải của khu vực và giải pháp tốt nhất cho chúng là một trong hai chủ đề lấn át trong chương trình nghị sự. Chủ đề còn lại, liên quan rất chặt chẽ đến chủ đề thứ nhất, là liệu Mỹ có duy trì hiện diện quân sự ở châu Á không.

 

Các nhà lãnh đạo Á châu dường như đã ngừng việc cố gắng xây dựng những thể chế mới để giải quyết các khó khăn. Ý kiến của hai nhà lãnh đạo gần đây nhất còn cố làm việc này – tức cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd và cựu Thủ tướng Nhật Bản Yukio Hatoyama – ì xèo suốt thời gian họ tại vị, và chìm dần trước các chính phủ của họ. “Thành lập thể chế mới chẳng được ưa thích chút nào” – ông Tim Huxley, giám đốc IISS-châu Á (chính là viện tư tưởng (think-tank) tổ chức Đối thoại Shangri-la), nhận định. “Cái chúng tôi đã nghe ở Đối thoại là lời tái khẳng định lợi ích trong việc sử dụng các thể chế hiện nay, lấy ASEAN làm trung tâm, nhưng cùng với việc đó thì cũng xuất hiện những vấn đề khá nan giải đối với khu vực”.

 

Khó khăn lớn nhất của đường lối lấy ASEAN làm trung tâm là bản thân ASEAN trong những tháng qua cũng rất dễ nổi khùng – hậu quả của xung đột đang tiếp diễn giữa Thái Lan và Campuchia, cũng như xung đột của các nước thành viên khi theo đuổi những yêu sách chủ quyền gây tranh chấp của họ trên biển Hoa Nam. Việt Nam chẳng hạn, đã nắm lấy vấn đề tranh chấp biển một cách nhiệt tình y như Bangkok làm ầm ĩ về những đụng độ của họ với Campuchia nhằm hút sự chú ý khỏi các vấn đề trong nước (với trường hợp Hà Nội thì các vấn đề ấy là kinh tế). Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Ahmad Zahid Hamidi nói với tờ The Diplomat ở Singapore rằng “bất chấp tất cả những thách thức về an ninh đã phải vượt qua, ASEAN đã không ngừng tiến lên để đi tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng an ninh – chính trị vào năm 2015”.

 

Nhưng đó là một đánh giá cực kỳ lạc quan vào lúc này. Ông Huxley cho biết: “ASEAN rất khó thừa nhận thất bại, do đó họ có thể sẽ phải quay lại với cái hạn 2020 đặt ra lúc đầu. Dù sao thì cũng rõ ràng là (kế hoạch xây dựng) Cộng đồng Chính trị – An ninh ASEAN đang bị đe dọa nghiêm trọng”.

 

Câu hỏi đặt ra là tại sao các nước ASEAN lại có vẻ như đang để cho lịch trình của cả khối bị đổ bể ngay vào lúc sự ngạo mạn của Trung Quốc lẽ ra đã phải kích thích ASEAN siết chặt hàng ngũ hơn. Trong một chuyến thăm Brunei hồi tháng 6, Tổng thống Philippinesz Benigno Aquino đã nói về việc ông ủng hộ một mặt trận ASEAN thống nhất trong vấn đề biển Hoa Nam. “Chúng ta hãy xích lại bên nhau như một tổ chức” – ông nói, và khuyến nghị cần có một cách tiếp cận tổng hợp, thay vì thực thi đường lối riêng rẽ như các nước ASEAN hiện nay với việc mỗi nước tự giải quyết vấn đề của mình với Trung Quốc một cách song phương (như là Việt Nam và Trung Quốc bây giờ đang có xu hướng song phương hóa).

 

Tuy nhiên, dường như ít có dấu hiệu về việc ASEAN hình thành một khối trong đàm phán để giải quyết tranh chấp với nước láng giềng phương Bắc. Quan hệ kinh tế chặt chẽ giữa Trung Quốc và nhiều nước ASEAN đã ngăn cản những quốc gia không trực tiếp liên quan tới tranh chấp biển Hoa Nam, khiến họ phải giữ một tiếng nói trung lập trước hành động bị coi là xâm lược của Trung Quốc. Trong khi đó, các yêu sách mâu thuẫn của các thành viên ASEAN ngăn trở họ hành động thống nhất.

 

Vì lợi ích của chính họ, các thành viên ASEAN, nếu không đoàn kết chống Trung Trung Quốc, thì cũng phải siết chặt hàng ngũ để làm cho Bắc Kinh khó khăn trong việc theo đuổi bất kỳ chiến lược “chia để trị” nào. Công cuộc đàm phán để cho ra một bộ Quy tắc Ứng xử (COC) nghiêm ngặt hơn để thay thế bản Tuyên bố chung về Ứng xử (DOC) vốn rời rạc – là điều mà Philippines đang đặc biệt kêu gọi và Indonesia bây giờ cũng đang ủng hộ – nên là điểm gắn kết các nước ASEAN: Ít nhất họ cũng phải có khả năng nói cùng một giọng khi bàn đến việc lập ra các quy tắc nền tảng, chưa nói đến việc giải quyết các bất đồng thực sự. Khi ấy, một khi Trung Quốc xâm phạm thỏa thuận mới, ASEAN sẽ có thể tự coi mình là một mặt trận tổng hợp, như vai trò họ từng đóng trong lần vận động cho ra DOC hiện nay.

 

Thái độ kiêu ngạo mà Trung Quốc thể hiện gần đây được cho là nhằm phản ứng trước hai yếu tố: Ý thức của Trung Quốc, được hình thành một cách vội vã, về việc Mỹ đã yếu thế ở châu Á, và ý thức đúng đắn hơn về những yếu kém của ASEAN. Việc Mỹ tái khẳng định lợi ích chiến lược của họ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương có thể thuyết phục Trung Quốc phải dè dặt hơn trong tương lai. Nhưng sẽ thật nhục nhã nếu những lời hứa của Mỹ chỉ là để ru ngủ ASEAN, để ASEAN bỏ quên việc sửa chữa những khuyết tật về thể chế mà họ đang cực kỳ cần tiến hành. Nếu Mỹ đóng vai trò nhà bảo trợ an ninh cuối cùng, thì sự hiện diện của Mỹ đã không thể ngăn chặn những tranh chấp hàng hải kéo dài mòn mỏi, đang tiếp tục làm hỏng mối bang giao giữa các nước châu Á-Thái Bình Dương. Các biện pháp xây dựng lòng tin – điều mà Trung Quốc luôn to giọng ủng hộ – chắc chắn là hữu ích, nhưng rất hay có xu hướng chỉ hàn gắn một cách đơn giản những trục trặc xuất phát từ các lần sụp đổ niềm tin trước đây. Một khung thể chế mạnh mẽ và có tính chất ngăn ngừa sẽ đảm bảo cho những lần sụp đổ niềm tin như thế xảy ra ngày một ít đi, bằng cách vạch nên những đường ranh giới rõ ràng mà Trung Quốc và các bên có lợi ích khác sẽ buộc phải thử nghiệm (trước khi vượt qua).

 

Do đó bước đầu tiên trên con đường phục hồi là thiết lập một COC mới, mạnh hơn, chi phối biển Hoa Nam, như thể được đàm phán bởi một ASEAN thống nhất. Kết quả tốt đẹp sẽ là lời tái khẳng định vai trò của ASEAN như là nền tảng vững chãi cho an ninh của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này rất quan trọng bởi nếu an ninh châu Á-Thái Bình Dương lấy ASEAN làm trung tâm – và không ai đưa ra một khung thể chế mới với những điều khác biệt gì khác – thì ASEAN, trung tâm của cái cấu trúc quyền lực đó, sẽ là thành tố cần được củng cố nhất.

Một ASEAN chia rẽ, nơi các thành viên thích theo đuổi những thỏa thuận an ninh song phương của riêng mình hơn là đoàn kết phối hợp, sẽ chỉ tạo ra một châu Á-Thái Bình Dương nghiêng ngả.

 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

.

.

.

TRUNG QUỐC ĐÃ XUẤT HIỆN DẤU HIỆU MANH NHA CỦA CÁCH MẠNG (tài liệu tham khảo)

Tháng Bảy 4, 2011

 

TRUNG QUỐC ĐÃ XUẤT HIỆN DẤU HIỆU MANH NHA CỦA CÁCH MẠNG

Đăng bởi basamnew on 03.07.2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/03/151-trung-qu%e1%bb%91c-da-xu%e1%ba%a5t-hi%e1%bb%87n-d%e1%ba%a5u-hi%e1%bb%87u-manh-nha-c%e1%bb%a7a-cach-m%e1%ba%a1ng/

 

Tài liệu tham khảo đặc biệt

của

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Thứ Sáu, ngày 01/07/2011

TTXVN (Hồng Công 28/6)

 

Trang web của tờ Liên hợp Buổi sáng (Xinhgapo) ngày 28/6 đăng bài của Giáo sư Trịnh Vĩnh Niên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Xinhgapo bàn về khả năng Trung Quốc đang bắt đầu có dấu hiệu tiến dần từ cải cách đến cách mạng. Dưới đây là nội dung bài viết:

Hiện trạng cải cách của Trung Quốc đã bộc lộ một số đặc điểm rõ ràng. Thứ nhất, cải cách trên các phương diện thiếu động lực. Cải cách kinh tế vào những năm 1990 đã tìm được bước đột phá, xác lập được chế độ thị trường cơ bản, nhưng vấn đề làm thế nào có thể tiếp tục đi sâu? Trong 10 năm qua, cải cách xã hội đã đạt được một số tiến triển, nhưng còn rất xa mới có thể thoả mãn nhu cầu thay đổi của xã hội, vậy làm thế nào để tìm ra bước đột phá? Cải cách chính trị từ Đại hội 17 đã xác lập được phương hướng “dân chủ trong đảng dẫn dắt dân chủ trong nhân dân”, việc thí nghiệm dân chủ trong đảng và dân chủ trong nhân dân cũng đã được tiến hành, nhưng vẫn chưa trở thành nỗ lực của hệ thống, vậy làm thế nào để thúc đẩy? Thứ hai, cải cách không có trọng điểm. Nhu cầu cải cách trên các phương diện đang tăng rất nhanh, nhưng không biết cái gì làm trước, cái gì làm sau, đứng trước áp lực trên các phương diện cũng không biết bắt tay từ đâu. Thứ ba, cho dù là đảng cầm quyền hay xã hội đều thiếu nhận thức chung cơ bản nhất và ở mức độ thấp nhất về cải cách.

Tại sao lại xuất hiện cục diện này? Mọi người đều đổ cho cốt lõi của vấn đề, tức là trở lực đến từ các tập đoàn đã đạt được lợi ích. Tương lai cải cách bắt đầu từ đâu? Cải cách của Trung Quốc đang nằm ở bước ngoặt. Trong thời khắc then chốt này, cần phải tiến hành tổng kết về quy luật thông thường của cải cách ở Trung Quốc. Nói một cách đơn giản, khi tiến trình cải cách ngừng lại, tiến trình cách mạng sẽ bắt đầu. Nếu xem xét ở góc độ tiến trình phát triển của các tập đoàn lợi ích, một khi các tập đoàn lợi ích chủ đạo tiến trình chính trị hoặc chính quyền hiện nay không thể khắc phục được trở lực đến từ các tập đoàn lợi ích để tiếp tục thúc đẩy cải cách, nhân tố cách mạng bắt đầu được tích luỹ.

Cho dù là lịch sử hay hiện thực, chúng đều mách bảo con người chân lý rằng chính trị phải tiến cùng thời đại, cải cách không phải là cái gì đó có cũng được, không có cũng chẳng sao, mà là việc làm thường xuyên của chính trị. Chính trị là một hoạt động không ngừng nghỉ, phải đi từ cải cách này đến cải cách khác, không ngừng đổi mới bản thân, như vậy mới có thể phát triển bền vững. Điều này đúng với tất cả mọi chính thể. Trong xã hội dân chủ phương Tây, các động thái chính trị được thực hiện dựa trên sự thay đổi luân phiên mang tính chu kỳ của các chính đảng. Nhưng cho dù là trong chính thể dân chủ thì cải cách cũng thường xuyên không hiệu quả vì gặp phải trở lực đến từ các tập đoàn đã đạt đựơc lợi ích và chính quyền cũng sẽ rơi vào khó khăn. Nhà kinh tế học Mỹ Mancur Olson từng có cái nhìn hết sức bi quan về sự phát triển của nền kinh tế bị khống chế bởi các tập đoàn lợi ích. Olson cho rằng cùng với sự hình thành của các tập đoàn đã đạt được lợi ích, cạnh trạnh sẽ bị hạn chế, sự phát triển của kinh tế sẽ thiếu động lực, tình trạng lạm phát do đình đốn xuất hiện. Olson không cho rằng chính trị dân chủ có thể khắc phục được trở lực đến từ các tập đoàn lợi ích đã đạt được này mà chỉ có chiến trinh, xung đột xã hội lớn mới có thể thay đổi được cục diện về lợi ích. Quả thực, ở một mức độ rất lớn, chính trị dân chủ là vũ khí hữu hiệu nhất được các tập đoàn đã đạt được lợi ích thiết kế ra nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Dù Olson chủ yếu đề cập tới phương diện kinh tế, nhưng kỳ thực, chính trị cũng giống như vậy.

 

“Cởi mở” để ứng phó với các tập đoàn lợi ích

Trung Quốc không có chính trị đa đảng, nên sẽ phải đối mặt với những khó khắn lớn hơn trên phương diện khắc phục trở lực đến từ các tập đoàn lợi ích. Bản thân việc một đảng nắm quyền trong thời kỳ dài sẽ rất dễ hình thành các tập đoàn lợi ích. Muốn ngăn không cho các tập đoàn lợi ích lớn mạnh, phòng chống chúng tác động đến nghị trình chính sách của nhà nước, phương thức hữu hiệu nhất là duy trì sự cởi mở của chính đảng. Chính đảng càng cởi mở, khả năng tập đoàn lợi ích lớn mạnh càng thấp. Tại Trung Quốc , việc sử dụng “cởi mở” để ứng phó với các tập đoàn lợi ích, trên thực tế, đã được bắt đầu thực hiện từ trước cải cách mở cửa. Ở thời Mao Trạch Đông, đảng cầm quyền chủ yếu dựa vào phong trào quần chúng xã hội để ngăn chặn và làm tan rã các tập đoàn lợi ích. Mao Trạch Đông tiến hành đấu tranh giai cấp, thực hiện “đại dân chủ”, dùng giai cấp này để đối phó với giai cấp khác, chủ thể của chính quyền không ngừng thay đổi. Có thể nói, ở thời kỳ đó, ngoài bản thân Mao Trạch Đông, không có một giai cấp hoặc một tầng lớp nào có thể chủ đạo chính trị Trung Quốc. Cách làm như vậy đã gây ra kết quả hết sức tiêu cực, chủ yếu là gây cản trở ngại cho việc xây dựng chế độ. Luôn ở trong các phong trào trong thời gian dài, nên Trung Quốc đã coi nhẹ việc xây dựng các chế độ nhà nước cơ bản, trong đó có pháp chế. Đương nhiên, các tập đoàn lợi ích thời đó rất đơn giản, chính trị và hình thái ý thức vẫn là chủ thể của xã hội, kinh tế xã hội thì ở trong tình trạng phát triển thấp thời gian dài.

Các tập đoàn lợi ích của Trung Quốc hiện nay là sản phẩm của cải cách mở cửa. Nếu thời đại Mao Trạch Đông là xã hội mà trong đó hình thái ý thức đóng vai trò chủ đạo thì thời đại phát triển sau cải cách mở cửa lại là xã hội mà trong đó lợi ích đóng vai trò chủ đạo. Sự chuyển đổi từ hình thái ý thức sang lợi ích là một quá trình không dễ dàng, nhưng cũng là một quá trình rất thành công. Nếu không có một xã hội Trung Quốc theo đuổi lợi ích (vật chất) trên các phương diện, rất khó có thể tưởng tượng ra việc Trung Quốc có thể thực hiện sự chuyển đổi nhanh chóng và thành công đến vậy.

Về tổng thể, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1970 tới những năm giữa và cuối thập niên 1980, kinh tế Trung Quốc tương đối cởi mở. Khi các tập đoàn lợi ích, gồm cả công nhân và nông dân đều gặt hái được lợi ích từ cải cách. Xung đột giữa các tập đoàn lợi ích với nhau và xung đột giữa các tập đoàn lợi ích với xã hội do đó không rõ ràng. Mãi tới thời kỳ cuối thập niên 1980, khi cải cách gặp khó khăn, xung đột giữa các tập đoàn lợi ích với nahu, đặc biệt là xung đột giữa các tập đoàn lợi ích chính trị với nhau bắt đầu bộc lộ, cuối cùng là dẫn tới sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và cải cách bị ngừng lại.

Đầu những năm 1990, sự kiện Liên Xô, Đông Âu sụp đổ đã thúc đẩy Trung Quốc tiến hành cải cách ở quy mô lớn hơn. Năm 1992, sau khi Đặng Tiểu Bình đi khảo sát ở phía Nam, đảng cầm quyền đã phát động một làn sóng mở cửa và trao quyền mới có quy mô lớn hơn, hình thành cục diện phân phối lại lợi ích với quy mô lớn. Giai cấp lãnh đạo truyền thống như giai cấp công nhân bắt đầu bị đẩy ra bên lề, tầng lớp mới nổi như doanh nghiệp dân doanh lớn mạnh nhanh chóng. Đứng trước cục diện mới, đảng cầm quyền bắt đầu điều chỉnh nền tảng thống trị của mình, thông qua sửa đổi hiến pháp và đề ra các bộ luật mới nhằm bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, hơn nữa còn cho phép các nhà doanh nghiệp dân doanh tham gia quá trình chính trị, mở rộng một cách hữu hiệu nền tảng xã hội của chính quyền.

Từ đầu thế kỷ 21 tới nay, đảng cầm quyền bắt đầu điều chỉnh chính sách cải cách. Dưới sự dẫn dắt của “quan niệm phát triển khoa học” và học thuyết chính sách “xã hội hài hoà”, đảng cầm quyền hi vọng sẽ cân bằng được quan hệ giữa tầng lớp mới nổi và tầng lớp xã hội truyền thống, chủ yếu là nhằm vào căn chỉnh cục diện nghiên về tầng lớp mới nổi một cách phiến diện ở giai đoạn đầu mà coi trọng không đúng mức lợi ích của tầng lớp xã hội truyền thống, nỗ lực thực hiện công bằng xã hội. Đương nhiên, cách làm như vậy cũng phù hợp với lợi ích của tầng lớp mới nổi. Bởi trong bối cảnh thiếu sự công bằng chính nghĩa xã hội, các vấn đề xã hội khó có thể tiếp tục và chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của tầng lớp mới nổi.

 

Doanh nghiệp nhà nước và công chức trở thành tập đoàn lợi ích mới

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2008 là một bước ngoặt. Nhằm ứng phó với khủng hoảng, nhà nước (Chính phủ Trung Quốc) đã tung ra chương trình tài chính tiền tệ rất lớn. Nguồn lực tài chính khổng lồ từ chương trình đó đều được rót cho bản thân nhà nước, tức là các ngành quốc hữu. Thực tế này đã dẫn tới sự bành trướng mạnh mẽ của tập đoàn lợi ích. Sự bành trướng mạnh mẽ của các ngành quốc hữu ngay lập tức đã phá vỡ trạng thái tương đối cân bằng trước đây giữa ngành quốc hữu và ngành dân doanh, các doang nghiệp quốc hữu giành lấy vị trí chủ đạo tuyệt đối, nhanh chóng chiếm lĩnh không gian của các doanh nghiệp dân doanh. Sau những năm giữa và cuối của thập niên 1990, các doanh nghiệp dân doanh có được không gian phát triển rất lớn, nhưng hiện nay thời kỳ tốt đẹp ấy không còn và họ bắt đầu đi tìm lối thoát mới như thông qua phương thức di dân để rút khỏi xã hội Trung Quốc.

Nghiêm trọng hơn là sự bành trướng của ngành quốc hữu cũng không mang lại cái gì đó tốt đẹp cho tầng lớp xã hội truyền thống. Dưới nền kinh tế kế hoạch truyền thống, ngành quốc hữu là nền tảng chế độ của giai cấp công nhân. Nhưng hiện nay ngành quốc hữu đã có tính chất khác, các doanh nghiệp quốc hữu rất khó có thể nói là của nhà nước mà phần nhiều đã thuộc về người quản lý doanh nghiệp nhà nước hoặc người đại diện của nhà nước. Trên thực tế, doanh nghiệp quốc hữu đã trở thành căn nguyên của các hiện tượng như bất công xã hội, khoảng cách giàu nghèo nới rộng…

Bản thân hệ thống công chức cũng trở thành tập đoàn lợi ích. Sau cải cách mở cửa, dù đã đưa ra mục tiêu cải cách là xây dựng “chính quyền nhỏ, xã hội lớn” và mỗi lần cải cách cũng muốn tinh giản cơ cấu chính quyền và số lượng công chức, nhưng thực tế diễn ra lại ngược với mong muốn. Hệ thống công chức ngày càng lớn, xã hội ngày một nhỏ đi. Trong bối cảnh phân quyền, các tầng nấc chính quyền ngày càng nhiều, ngày càng phức tạp. Ví dụ: cấp địa khu trước đây chỉ là cơ quan hành chính thì nay đã trở thành thực thể, là một cấp chính quyền. Đồng thời, cũng đã xuất hiện các thành phố kế hoạch kinh tế độc lập (thành phố được coi là một đơn vị trong kế hoạch của nhà nước, có quyền hạn quản lý kinh tế ngang cấp tỉnh như Đại Liên, Thanh Đảo, Ninh Ba, Hạ Môn, Thâm Quyến). Đây không chỉ là biểu tượng cho sự phình to về cơ cấu công chức, mà hơn thế còn gây ra cản trở trong quan hệ giữa trung ương và xã hội.

Sự phình to vô hạn của cơ cấu công chức đương nhiên thu hẹp không gian xã hội. Cùng với việc nguồn tài chính tập trung vào cơ cấu công chức, tình trạng nước giàu dân nghèo đã không thể tránh được. Nghiêm trọng hơn là việc cơ cấu công chức đang cho thấy sự không ăn khớp nghiêm trọng với xã hội, các cơ cấu công chức như một thành luỹ không có sự liên hệ hữu cơ với nhân dân. Hơn nữa, hệ thống công chức bắt đầu diễn biến thành hệ thống độc lập, hưởng thụ những gì tốt đẹp của thị trường và có thể không phải chịu đựng những gì xấu xã của thị trường. Việc này được thể hiện qua sự không ngừng xuất hiện những hệ thống cung cấp đặc biệt về bảo đảm xã hội, y tế điều trị, nhà ở và thực phẩm (cho công chức) trong xã hội. Một sự thật tàn khốc là cải cách của Trung Quốc thường đi từ trên xuống dưới, vì thế trong bối cảnh hệ thống công chức đang không ăn khớp nghiêm trọng với xã hội, không cảm nhận được nỗi khổ của nhân dân, lẽ nào động lực của cải cách lại có thể xuất hiện?

Đồng thời việc phình to của các tập đoàn lợi ích, khả năng giới lãnh đạo đảng cầm quyền khắc phục trở ngại đến từ các tập đoàn lợi ích cũng ngày càng bị hạn chế và sẽ giảm mạnh. Do nhu cầu dân chủ trong đảng, giới lãnh đạo thực hiện tập thể lãnh đạo và không ngừng mở rộng quy mô của giới lãnh đạo (ví dụ: Thường vụ Bộ Chính trị từ 5 người của những năm 1980 tăng lên 9 người hiện nay). Mức độ dân chủ trong đảng được tăng cường đồng nghĩa với trạng thái phân tán quyền lực ở phần chóp bu. Do quyền lực không còn được tập trung, sự thực thi của quyền lực tự nhiên không còn hữu hiệu. Thêm vào đó, do phân quyền cho xã hội, nên các tổ chức xã hội không thể phát triển. Đồng thời, xã hội cũng không có một cơ chế hữu hiệu để có thể ảnh hưởng tới quá trình chính trị, cho nên xã hội vừa không thể ủng hội giới lãnh đạo về chủ trương cải cách, cũng không thể nào kiểm soát được các lợi ích đã đạt được.

 

Tiến trình cách mạng lặng lẽ bắt đầu

Kết quả là làm công cuộc cải cách của Trung Quốc rơi vào trạng thái đã đề cập ở phần đầu của bài viết. Rất nhiều dấu hiệu cho thấy khi cải cách không thể tiếp tục, tiến trình cách mạng sẽ lặng lẽ bắt đầu. Người ta có thể cảm nhận được sự tồn tại của các nhân tố cách mạng ở Trung Quốc trển tất cả các phương diện.

Trước tiên, các tập đoàn lợi ích có thể ảnh hưởng tới chính sách cải cách. Thông thường, họ có thể tối đa hoá các chính sách có lợi cho lợi ích của họ và giảm đến mức thấp nhất các chính sách không có lợi cho lợi ích của họ. Các tập đoàn lợi ích có thể bao vây nghị trình cải cách của các nhà lãnh đạo bất cứ lúc nào. Nếu có một quan niệm cải cách nào đó không phù hợp với lợi ích của họ, họ liền “đánh hội đồng” với tất cả các thủ đoạn. Do đó, việc có người cho rằng các tập đoàn lợi ích đã “thao túng” nghị trình cải cách của Trung Quốc là muốn nói việc các tập đoàn lợi ích có thể đề ra chính sách và giới lãnh đạo cùng chính quyền chỉ là “công cụ” giúp họ vẽ ra chính sách.

Người dân đã mất đi niềm tin cơ bản vào hệ thống công chức, chính quyền và nhân dân bắt đầu rơi vào trạng thái đối lập. Phong trào chống đối trong xã hội không ngừng diễn ra. Do cải cách lâm vào khó khăn, chính quyền rất khó sử dụng phương thức cải cách để hoá giải sự đối lập giữa chính quyền và người dân, cho nên các ngành hữu quan bắt đầu dùng biện pháp cưỡng chế để thống trị và kiểm soát xã hội, ví dụ như hành động “duy trì ổn định”. Nghiêm trọng hơn là trong quá trình kiểm soát xã hội với cường độ cao, công cụ bạo lực vốn do nhà nước độc quyền bắt đầu được tư hữu hoá. Quyền lực công “thuê ngoài” của một số chính quyền địa phương đã dẫn tới sự sản sinh của một số hành vi mới như “gian giữ trái pháp luật”. Một số doanh nghiệp bất động sản đã hung hãn đánh người, thậm chí là giết người trong quá trình giải phóng mặt bằng. Kết quả là làm sâu sắc hơn sự đối lập giữa nhà nước và xã hội, giữa chính quyền và nhân dân.

Cần phải chỉ ra rằng, trong bất cứ một xã hội nào, phong trào đối kháng xã hội là bình thường và không phải tất cả sự đối kháng xã hội nào cũng dẫn tới cách mạng. Nhưng đối kháng xã hội mang ý thức chính trị cuối cùng cũng sẽ dẫn tới cách mạng. Trong rất nhiều năm, các sự kiện mang tính tập thể hoặc các phong trào chống đối xảy ra ở Trung Quốc đều là nhằm lợi ích kinh tế cụ thể. Nhưng ngày nay, trong xã hội Trung Quốc, các hình thái ý thức ồ ạt trỗi dậy và đồng thời với sự phân hoá về hình thái ý thức trong xã hội, ý thức chính trị cũng đựơc rót vào các tập thể xã hội. Người dân có thể lựa chọn trong rất nhiều hình thái ý thức xã hội khác nhau, phát triển ra các loại ý thức chính trị khác nhau. Hình thái ý thức là kim chỉ nam của hành động, sự tồn tại của các loại hình thái ý thức khác nhau đương nhiên sẽ gây ra hâu quả chính trị.

Trong bối cảnh như vậy, các tập đoàn lợi ích cũng bắt đầu cảm nhận được sự mất an toàn. Ngoài việc thực hiện kiểm soát với cường độ cao, họ còn muốn luận chứng về tính hợp pháp, hợp lý của mình về mặt tư tưởng. Họ bắt đầu tìm kiếm lực lượng ủng hộ trong các trào lưu tư tưởng. Nhưng những tư tưởng này cho dù là sản sinh ở Trung Quốc hay du nhập từ nước ngoài, đối với họ, chỉ mang tính chất của một loại công cụ. Về tổng thể, các tập đoàn lợi ích đang trong trạng thái vô ý thức tập thể. Họ không muốn cải cách, sợ cải cách, sợ sẽ mất cái gì đó trong cải cách. Họ chỉ biết không thể làm gì mà không biết nên làm gì. Một số phần tử cực đoan thậm chí còn bắt đầu “ma quỷ hoá” cải cách.

Rất rõ ràng, khi mục tiêu cuối cùng của các tập đoàn lợi ích là bảo vệ lợi ích của mình và làm cho nó trở nên vĩnh cửu hoá, họ hoàn tàon không còn năng lực để vượt qua lợi ích bản thân. Khi họ không thể vượt qua lợi ích bản thân, sự cởi mở về chính trị chắc chắn sẽ mất đi. Trong khi đó, sự khép kín của thể chế chắc chắn sẽ dẫn tới sự nảy sinh và phát triển của các nhân tố cách mạng. Nguyên nhân rất đơn giản, khi không thể tiến hành cải cách từ nội bộ, cải cách bên ngoài sẽ trở thành lựa chọn.

Kinh nghiệm mách bảo chúng ta rằng đây đều là hiện tượng manh nha của tiến trình cách mạng, nhưng tiến trình cách mạng được tiến hành như thế nào thì vẫn còn phải xem xem việc tồn tại hay không công cuộc cải cách hữu hiệu. Nếu trong thời kỳ đầu của tiến trình cải cách mà cải cách được thực thi một cách hữu hiệu, tiến trình cách mạng sẽ dừng lại. Trong trường hợp ngược lại, tiến trình cách mạng sẽ tiếp tục tới khi bùng nổ thực sự. Xem xét lịch sử, người ta thấy khi cách mạng sắp bùng nổ, giai cấp thống trị sẽ còn tiến hành một cuộc cải cách lớn, nhưng đáng tiếc là khi đó đã muộn. Thời Mãn Thanh là một minh chứng điển hình. Khi Hoàng đế Quang Tự muốn tiến hành cải cách, Từ Hi Thái hậu và các thế lực bảo thủ đã giết hại các nhà cải cách. Nhưng sau này khi tình hình thúc ép, vì sự sinh tồn, Từ Hi Thái hậu thực sự muốn tiến hành cải cách, thậm chí là với mức độ và cường độ lớn hơn cả mong muốn của Hoàng đế Quang Tự. Tuy nhiên, xu thế chung đã qua đi, cách mạng đã trở thành động lực chính, bất cứ công cuộc cải cách nào cũng khó có thể vãn hồi được thế cuộc nữa.

Vậy thì cách mạng sẽ có kết quả như thế nào? Trong trạng thái lý tưởng, cách mạng là hành động sống mái, là trò chơi được mất ngang nhau. Nhưng cách mạng cũng thường dẫn tới kết cục cùng huỷ diệt. Cho dù trong bất cứ tình huống nào, hi sinh nhiều nhất là đại đa số người dân trong xã hội, đặc biệt là lợi ích của tầng lớp trung, hạ lưu. Mỗi lần cách mạng, giới tinh hoa xã hội cũng bị hy sinh, nhưng so với đại đa số của xã hội, sự hi sinh này không thấm tháp gì. Xem xét ở góc độ chính trị, trong môi trường chính trị của Trung Quốc, kết quả của cách mạng rất có tểh chính là một sự thay đổi không có bất cứ ý nghĩa mang tính thực chất nào. Sự thay đổi thực sự của xã hội Trung Quốc nằm ở sự cải cách dần dần. Cải cách vì thế phù hợp với lợi ích của các bên, vừa phù hợp lợi ích của quần chúng xã hội, vừa phù hợp lợi ích của các tập đoàn lợi ích.

Cho dù cách mạng trong nhiều tình huống đều cáo chung bằng bi kịch, nhưng trong bối cảnh các tập đoàn lợi ích vô ý thức, bị kịch này lại là điều bình thường của lịch sử. Nếu không phải như vậy thì rất khó giải thích sự tuần hoàn của cách mạng trong lịch sử.

Rất rõ ràng, đối với Trung Quốc hiện nay, cải cách tuyệt đối không phải là cái gì đó có cũng được, không có cũng chẳng sao, mà cải cách là cần thiết./.

.

.

.

NHỮNG THÁCH THỨC LỚN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC (tài liệu tham khảo)

Tháng Bảy 4, 2011

 

NHỮNG THÁCH THỨC LỚN CỦA ĐCS TRUNG QUỐC

Đăng bởi basamnew on 02.07.2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/07/02/149-nh%e1%bb%afng-thach-th%e1%bb%a9c-l%e1%bb%9bn-c%e1%bb%a7a-dcs-trung-qu%e1%bb%91c/

 

Tài liệu tham khảo đặc biệt

của

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Thứ Năm, ngày 30/06/2011

TTXVN (Luân Đôn 23/6)

 

 

Theo tạp chí “Nhà Kinh tế” (Anh) ngày 23/6, Đảng Cộng sản (ĐCS) Trung Quốc đang đứng trước một thách thức lớn nảy sinh trong quá trình nền kinh tế nước này tăng trưởng nhanh chóng qua 2 thập kỷ. Đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp trung lưu và giai cấp nông dân nghèo sẽ khiến việc giữ ổn định chính trị trở nên khó khăn hơn. Dưới đây là nội dung bài viết:

Khi Trung Quốc tổ chức 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản vào ngày 1/7 tới, giai cấp tư sản “phản động” là một trong những đối tượng ăn mừng nhiều nhất. Mặc dù đến cuối thập niên 1990 mới bắt đầu xuất hiện, song hiện nay giai cấp này đã trở thành chỗ dựa quan trọng nhất của ĐCS. Tới nay, ĐCS Trung Quốc vẫn giữ lời trong cuộc mặc cả ngầm: Yêu cầu giới trung lưu thành thị đánh đổi quyền lợi chính trị lấy cơ hội làm giàu. Nhưng một khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại trong thập kỷ tới, ĐCS Trung Quốc sẽ khó có thể giữ lời. Trên thực tế, việc có được sự ổn định và thịnh vượng hay không có thể sẽ phụ thuộc vào công cuộc cải cách chính trị mà ĐCS Trung Quốc vẫn tìm mọi cách tránh né.

Trong 15 năm qua, giai cấp tư sản đã ủng hộ ĐCS bởi những gì đảng làm cho họ. ĐCS nắm quyền đã tạo ra một giai đoạn tăng trưởng kinh ngạc, khẳng định vai trò của Trung Quốc là một quốc gia có tầm ảnh hưởng toàn cầu, và giữ cho dân tộc này không rơi trở lại thảm cảnh diễn ra trong hầu hết thế kỷ 20. Tuy nhiên, mối tình giữa một đảng tự gọi mình là đội quân tiên phong của giai cấp vô sản với những người ủng hộ, trên thực tế là giai cấp trung lưu, đang bị đe doạ. Nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này là kinh tế tăng trưởng chậm lại. Có thể cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cũng là thời điểm đi xuống của nền kinh tế nước này. Một cuộc khủng hoảng không phải là không thể xảy ra: Có thể Trung Quốc sẽ thất bại trong việc xì hơi bong bóng trên thị trường bất động sản, hay khống chế lạm phát mà Thủ tướng nước này ví là “con hổ xổng chuồng”. Nguy cơ trung hạn còn lớn hơn: Quá trình kinh tế tăng trưởng chậm lại không thể đảo ngược khi Trung Quốc đặt chân vào thế giới của các nước có thu nhập trung bình; và gánh nặng dân số già kết hợp với sa sút kinh tế càng khiến cuộc sống của giai cấp trung lưu thêm khó chịu. Để cứu vãn, ĐCS Trung Quốc sẽ phải tiến hành cải cách đầy đau đớn. Đảng đang nỗ lực đưa đất nước thoát khỏi quỹ đạo phát triển không bền vững hiện nay, hướng tới một nền kinh tế tăng cường vai trò của tiêu dùng nội địa. Đất nước này còn một chặng đường dài phía trước để có thể xây dựng được một hệ thống y tế, hưu trí và an sinh xã hội đủ để làm an lòng người dân. Đây là những điều kiện cần thiết để thuyết phục giới trung lưu dành dụm ít hơn.

Ngoài ra, việc cấp vốn cho các doanh nghiệp quốc doanh Trung Quốc giống như đổ nước vào những chiếc thùng không đáy, trong khi nhiều doanh nghiệp vẫn lãng phí vốn. Đánh vào các doanh nghiệp nhà nước đồng nghĩa với việc đánh vào một nhóm người có nhiều quan hệ, trong đó nhiều người thuộc giai cấp trung lưu. Lý tưởng của đảng không có ý nghĩa với đa số nhóm người này. ĐCS vẫn giữ bí mật quá trình tuyển mộ đảng viên mới gia nhập lực lượng 80 triệu đảng viên. Nhưng một báo cáo chính thức năm 2008 nói rằng trong số các đảng viên mới, nhiều nhất vẫn là giới sinh viên đại học trên 18tuổi. Mặc dù giới trẻ cho thấy sức mạnh của ĐCS Trung Quốc, nhưng họ có tham vọng khác xa với các đảng viên đi trước.

ĐCS Trung Quốc cũng sẽ phải làm việc vất vả hơn để duy trì quá trình đô thị hoá – động lực của tăng trưởng kinh tế. Phần việc đã làm là phần việc dễ: Lôi kéo những người thất nghiệp trẻ tuổi ở nông thôn lên thành phố kiếm việc làm. Nhưng nguồn lao động bắt đầu eo hẹp, sẽ dễ thở hơn nếu như nông dân được phép bán hoặc thế chấp đất nông nghiệp và dùng tiền vốn đó gây dựng sự nghiệp ở thành thị. Nhưng ĐCS vẫn không dám để tư nhân hoá đất canh tác, một phần vì lo sợ giai cấp nông dân bần cùng hoá, một phần vì lý do ý thức hệ.

Tệ hơn, hệ thống đang ký “hộ khẩu”, định nghĩa một người cư trú lâu đời ở thành thị vẫn là nông dân, đang ngăn chặn họ có nhà ở, được học hành và các lọi ích khác. Không ngạc nhiên khi những người nhập cư ngày càng cảm thấy khó chịu. Trong số hàng chục nghìn cuộc biểu tình mỗi năm, hầu hết là xảy ra ở nông thôn, nhất là những nông dân bất bình vì bị thu hồi đất mà không được đền bù thoả đáng. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình ở thành phố, chẳng hạn cuộc biểu tình của công nhân gần đây tại một nhà máy ở Quảng Đông, ngày càng phổ biến. Nếu ĐCS Trung Quốc muốn giữ ổn định tại các thành phố và nếu muốn tiếp tục thu hút lực lượng lao động từ nông thôn, họ cần tìm cách trao cho người nhập cư đầy đủ các quyền lợi của người thành thị.

Đây là điểm khiến ĐCS Trung Quốc xung đột trực tiếp nhất với giai cấp trung lưu. Để dân nhập cư có đủ nhà ở và quyền lợi giống như dân thành thị và để xây dựng một mạng lưới an sinh xã hội thì sẽ rất tốn kém. Nếu chọn giải pháp là tăng thuế, khi đó giới trung lưu có thể sẽ bắt đầu đòi hỏi tiếng nói chính trị lớn hơn.

Đó sẽ là ngày kinh hoàng của ĐCS Trung Quốc. Kể từ cuộc biểu tình quy mô lớn năm 1989 do sinh viên khởi xướng, giới trí thức thành thị hầu như vẫn im lặng trong các vấn đề chính trị. Nhưng ĐCS sợ họ nhiều hơn là sợ giai cấp nông dân và những người nhập cư. Sự lo lắng của giới trung lưu vẫn chưa biến thành một cuộc biểu tình chống lại chính phủ. Nhưng một số đặc quyền của họ không thể tránh khỏi đã bắt đầu bị tước đoạt dần. Nếu giai cấp tư sản biểu tình, ĐCS Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một tình thế khó xử không mới: Thay đổi hoặc đàn áp. Nhìn vào các cuộc đàn áp trong quá khức, và cả mới đây, sẽ thấy họ sẽ lựa chọn giải pháp thứ hai. Nhưng bản thân việc đàn áp có thể giúp chính trị hoá giai cấp trung lưu. Ở các nước châu Á khác, đòi hỏi về quyền lợi chính trị đang gia tăng cùng với thu nhập của người dân; và đàn áp tức là cắt bớt tự do từ những người đã quen với việc tự do của họ ngày càng tăng lên.

Năm 2012 lãnh đạo ĐCS Trung Quốc sẽ chuyển giao quyền lực, và cả nhiệm vụ xử lý những mâu thuẫn trên, cho thế hệ mới. Lần chuyển giao quyền lực gần đây nhất, năm 2002, đã diễn ra êm thấm. Nhưng mọi lần chuyển giao trước đó đều diễn ra hỗn loạn. Và, so với cách đây 10 năm, nhiệm vụ mà thế hệ lãnh đạo mới phải đối mặt sẽ khó khăn hơn nhiều.

 

***

 

TTXVN (Hồng Công 24/6)

Báo “Văn Hối” (Hồng Công) ngày 22/6, có bài viết, nội dung như sau:

 

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập  ĐCS Trung Quốc, đất nước Trung Quốc (do ĐCS Trung Quốc cầm quyền) cũng đang bước vào giai đoạn lịch sử đặc biệt: thời kỳ của cơ hội chiến lược và mâu thuẫn xã hội nổi bật cùng đan xen. Trải qua sau mươi năm xây dựng và phát triển, đồng thời với việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực hiện được sự cất cánh về kinh tế, ĐCS Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với tình trạng quản lý xã hội khó khăn do việc phát triển dân sinh trì trệ gây nên: những vấn đề mang tính quần chúng như cảm giác an toàn của người dân giảm sút; sự đoàn kết và khả năng gắn kết xã hội mất đi, sự mất ổn định xã hội tăng lên; phá dỡ đất đai, sản xuất an toàn, môi trường sinh thái và các sự kiện cực đona liên tục nổi lên; sự tín nhiệm đối với chính phủ suy giảm…

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập, ĐCS Trung Quốc hiện không chỉ nằm ở thời điểm lịch sử trọng đại trong quá trình phát triển của mình, mà còn đứng ở điểm khởi đầu của một vòng cải cách mới của Trung Quốc. Làm thế nào cải thiện và sáng tạo đổi mới cách quản lý xã hội, hoá giải những mâu thuẫn xã hội ngày càng phức tạp trong thời kỳ chuyển hình, làm cho xung đột lợi ích giữa các giai cấp trở nên hoà dịu, tạo ra một môi trường xã hội hài hoà và ổn định? Đây không chỉ là một thử nghiệm to lớn đối với năng lực cầm quyền của ĐCS Trung Quốc mà còn liên quan đến sự ổn định chính trị lâu dài cho toàn bộ đất nước.

 

Nặng về phát triển kinh tế dẫn tới quản lý xã hội yếu và thiếu

Giáo sư Uông Ngọc Khải, Tổng thư ký Hội Nghiên cứu Cải cách Hành chính Trung Quốc, Học viện Hành chính Quốc gia, cho biết trong 30 năm qua, xã hội Trung Quốc đã trải qua những thay đổi lớn, tốc độ chuyển đổi xã hội ngày càng nhanh hơn, cấu trúc xã hội và cục diện lợi ích cũng đã có những thay đổi sâu sắc. Trong thời kỳ xã hội chuyển đổi: lợi ích đòi hỏi sự đa nguyên hoá, tâm lý xã hội phức tạp thì trọng tâm công tác của đảng cầm quyền lại chỉ luôn là xây dựng kinh tế. Kinh tế phát triển nhanh, trong khi xã hội phát triển chậm, sự yếu và thiếu trong xây dựng và quản lý xã hội đã có hiệu ứng nổi cộm. Sự chậm chạp này đã làm hạn chế nghiêm trọng sự phát triển tiếp theo của nền kinh tế, gây ra những xung đột và cũng gây ra mâu thuẫn xã hội.

Cần chuyển đổi để thực hiện xã hội công bằng chính nghĩa

Chủ nhiệm Phòng Giáo dục Nghiên cứu Hành chính Công cộng, Học viện Hành chính Quốc gia Trúc Lập Gia cho rằng hiện nay, do quản lý xã hội yếu và thiếu nên đã dẫn tới những mâu thuẫn xã hội khác nhau nổi trội, thể hiện ở các khía cạnh công cộng: một là, khoảng cách xã hội giữa người giàu và người nghèo tiếp tục nới rộng hơn, “cảm giác bất công” của công chúng mạnh lên. Kinh nghiệm cho thấy hậu quả của sự lây lan và phát triển “cảm xúc” này tất sẽ dẫn tới sự bất ổn lớn trong xã hội, thậm chí đe doạ sự ổn định của chế độ hiện hành; hai là, hiện tượng quyền lực tham nhũng không được kiềm chế một cách hiệu quả, sự tín nhiệm vào quyền lực công giảm sút, tính mất ổn định của xã hội gia tăng. Có thể thấy mâu thuẫn và vấn đề chủ yếu của xã hội Trung Quốc đã có những thay đổi to lớn, từ khó khăn nghèo đói ở thời kỳ đầu cải cách mở cửa đã chuyển thành xã hội bất công, khoảng cách giàu nghèo, thành thị nông thôn phát triển không cân bằng, tham nhũng, khó tìm việc làm, và từ đó đã dẫn tới nguy cơ việc quản lý điều hành xã hội của chính phủ nảy sinh nhiều vấn đề. Trên cơ sở nhu cầu của chuyển đổi xã hội, thực hiện quản lý xã hội, xây dựng cơ chế vận hành xã hội lành mạnh, lấy “xã hội công bằng chính nghĩa” và “tăng trưởng mang tính bao dung” làm trung tâm là những việc làm có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Ba đặc tính của chuyển đổi xã hội

Giáo sư Uông Ngọc Khải cho biết so sánh với những vấn đề chung mà các nước và khu vực khác gặp phải trong quá trình chuyển đổi, sự chuyển đổi xã hội của Trung Quốc có 3 đặc điểm riêng, dẫn tới mâu thuẫn xã hội kịch liệt hơn; khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa các khu vực, giữa các nhóm quần chúng ngày càng rộng hơn; tính công bằng, chính nghĩa trong chính sách công cộng của chính phủ gặp phải sự tranh cãi. Ông cho rằng lý luận phương Tây không thể giải thích được hiện thực của Trung Quốc, sự cải cách của Trung Quốc cũng không đi theo con đường cũ của phương Tây, cần phải kết hợp với thực tế bản thân để đi sâu nghiên cứu tìm tòi.

Thứ nhất, sự chuyển đổi xã hội của Trung Quốc là “sự đan xen song chuyển”, tức xã hội chuyển đổi và thể chế chuyển đổi đan xen với nhau. Một mặt, vừa cần hoàn thành nhiệm vụ chuyển đổi xã hội, từ xã hội truyền thống đi lên xã hội hiện đại, từ xã hội nông thôn đi lên xã hội công nghiệp; đồng thời, còn cần đối mặt với vấn đề cải cách thể chế, tức từ kinh tế kế hoạch chuyển sang kinh tế thị trường. Các nước phương Tây phát triển trước kia không trải qua giai đoạn này mà bản thân Trung Quốc cũng không có quá trình kinh tế thị trường tồn tại tự nhiên, phát triển đầy đủ trong tiến trình cải cách từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, điều này đã khiến việc chuyển đổi xã hội Trung Quốc xuất hiện cục diện phức tạp khác thường.

Thứ hai, về khách quan, xã hội chuyển đổi cũng hình thành nên sự bóc lột kép đối với nông nghiệp. Trong ba mươi năm cải cách mở cửa, nông thôn đã chuyển lên thành thị một lực lượng lao động dồi dào khoảng 242 triệu người có trình độ văn hoá trung học cơ sở trở lên, nhưng họ lại không nhận đựơc đồng lương lao động và đảm bảo xã hội tương đương so với nhóm người đồng đẳng ở thành thị; đồng thời, việc đô thị hoá ở một số khu vực (ở một mức độ nào đó) đã làm dân mất đất, đã tước đoạt quyền phân chia lợi ích giá trị gia tăng từ ruộng đất của người nông dân. Sự bóc lột mang tính cơ cấu này đã khiến việc trưng dụng đất ngày càng trở thành trận chiến, vấn đề trưng dụng đất chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong các sự kiện mang tính quần chúng. Các nước phương Tây phát triển cũng chưa hề từng trải qua quá trình này.

Thứ ba, trong quá trình xã hội chuyển đổi tại Trung Quốc, cơ cấu xã hội nhị nguyên vẫn chưa hoàn toàn bị phá bỏ, ngược lại, về mặt khách quan, nó đã diễn biến thành “xã hội tam nguyên”, giữa nông thôn và thành thị đã xuất hiện nhóm quần thể mới gồm hơn 240 triệu người có thân phận nông dân – công nhân, những người này không phải nông dân bởi họ đã thoát li khỏi đất đai nông nghiệp, nhưng cũng không phải là người thành phố bởi họ đang sống ở vùng đệm giữa thành phố và nông thôn, không có hộ khẩu thành phố và cách sinh hoạt thành thị. Tiến trình đô thị hoá ở các nước khác trên thế giới cũng cần giảm bớt nông dân, tăng thêm thị dân, nhưng Trung Quốc vẫn chưa làm được điều này và cho ra đời một nhóm nông dân – công nhân.

Ông cho rằng ba đặc tính lớn này ít nhất cũng đã kích thích mâu thuẫn xã hội, sự mở rộng “xã hội tam nguyên” này là hậu quả của những đặc sắc của Trung Quốc và phải giải quyết bằng con đường của riêng Trung Quốc.

 

Quản lý không phải là mục đích, phục vụ mới là căn bản

Các chuyên gia đều cho rằng xã hội phát triển tiến bộ, sự sáng tạo trong quản lý xã hội nên do Đảng cầm quyền phát huy vai trò then chốt. Giáo sư Uông Ngọc Khải cho rằng đầu tiên cần làm tốt việc thiết kế thượng tầng về quản lý xã hội, tức vạch ra ra quy hoạch tổng thể cho quản lý xã hội, thông qua quy hoạch để xã định biên giới, nội dung và khung của quản lý. Ông cho rằng quản lý xã hội cần thuộc hoạt động quản lý và phục vụ của cơ quan sự vụ công cộng chính quyền, ngoài các tổ chức chính trị và xã hội của Nhà nước. Mục đích của quản lý xã hộ là thông qua sự thảo thuận, điều chỉnh lợi ích xã hội, hoá giải mâu thuẫn xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển hài hoà có trật tự. Nói cho cùng là quản lý và phục vụ con người, hạt nhân của nó cần thể hiện lấy dân làm gốc, coi quản lý xã hội thuộc về dịch vụ xã hội.

Tiếp đó, cần chú ý sáng tạo về thể chế và cơ chế quản lý xã hội. Đối mặt với tình hình mới, vấn đề mới, đặc biệt trong tình hình vai trò của Internet ngày càng lớn thì phương thức, cách thức quản lý xã hội cần có sự chuyển biến, vận dụng nhiều hơn nữa những thủ thuật, kỹ thuật của mạng tin tức để nâng cao trình độ phục vụ xã hội. Phát triển Internet là trào lưu không thể chống lại, nếu làm không tốt sẽ có thể đi ngược lại với ý của cư dân mạng, như thế sẽ không đạt được mục đích quản lý xã hội hiệu quả.

Cuối cùng, cần ngăn chặn diễn biến quản lý và dịch vụ xã hội thành một kiểu khống chế xã hội. Xét từ bản chất của quản lý xã hội, tuy quản lý xã hội cũng có mặt cần khống chế và giám sát nhưng cuối cùng vẫn là cung cấp càng nhiều dịch vụ cho xã hội. Quản lý không phải là mục đích, phục vụ mới là căn bản. Vì thế, cần kiên trì lấy dân làm gốc, cần thông qua việc thoả hiệp hài hoà lợi ích, hoá giải mâu thuẫn lợi ích để đạt được mục đích quản lý xã hội.

Giáo sư Viện Nghiên cứu Phát triển Nông thôn Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Vu Kiến Vanh lại cho rằng việc tăng cường và sáng tạo đổi mới công tác quản lý xã hội trong tình hình mới cần điều chỉnh kết cấu lợi ích xã hội, đảm bảo lợi ích của mọi giai tầng xã hội. Bởi vì chỉ khi xây dựng được kết cấu lợi ích xã hội cân bằng và thể chế phân chia xã hội bằng chính trực mới có thể chấn chỉnh mối quan hệ lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, mới có thể khiến các giai tầng trong xã hội thật sự cùng hưởng thành quả của phát triển kinh tế, từ đó đặt nền móng thực sự cho sáng tạo quản lý xã hội. Điều này đòi hỏi chính phủ khi tiến hành công tác đổi mới quản lý xã hội nhất định cần xác định chức năng, biểu dương vai trò của những người cung cấp dịch vụ công cộng; khi đưa ra những chính sách xã hội liên quan, nhất định cần nghiên cứu đầy đủ về lợi ích hợp pháp của các giai tầng, đặc biệt là lợi ích của nhóm giai tầng thấp.

 

Xây dựng cơ cấu “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”

Cải cách quản lý xã hội ở Trung Quốc thể hiện rõ sự trì trệ, trong suốt một thời gian khá dài, Đảng cầm quyền luôn quen với vệic dùng biện pháp “hành chính hoá” để quản lý xã hội, thể hiện rõ tình trạng “chính phủ lớn, xã hội nhỏ”. Giới học giả kiến nghị mục tiêu điều chỉnh của phạm trù quản lý xã hội nên là “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”, chính phủ phải từng bước phân tách, tách rời khỏi những vấn đề không nên quản lý hoặc không thể quản lý hay quản lý không tốt, giao cho xã hội đảm trách, như vậy chính phủ mới thực sự tạo ra được môi trường phát triển tốt đẹp, cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng tốt, duy trì bảo vệ sự chuyển đổi thành xã hội công bằng chính nghĩa, như vậy mới có thể thích ứng được với nhu cầu xã hội không ngừng tăng lên trong quá trình chuyển biến xã hội.

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội thuộc Uỷ ban Cải cách Phát triển Trung Quốc Dương Nghi Dũng cho rằng việc đổi mới thể chế quản lý xã hội cần phải tăng cường nghiên cứu đối với hệ thống của quốc gia và xã hội. Để thực hiện mục tiêu điều chỉnh theo phạm trù “chính phủ nhỏ, xã hội lớn”, tình trạng phân chia quyền lực trong quản lý xã hội Trung Quốc cần chuyển từ Chính phủ quản lý tập trung sang tăng quyền cho xã hội và công dân, cải cách thể chế quản lý hành chính của Chính phủ, như vậy mới có thể làm tới nơi tới chốn.

Giáo sư Uông Ngọc Khải cho rằn cần xây dựng cơ cấu quản lý điều hành xã hội đa nguyên, đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt của chính quyền, nên chú trọng hơn nữa sự phát huy vai trò của thị trường, đặc biệt là vai trò của các tổ chức xã hội, thực hiện sự cân bằng giữa chính quyền, thị trường và xã hội. Sự phát triển của xã hội và sự tham gia của công chúng không chỉ có thể giúp tăng cường sinh lực của dịch vụ xã hội mà còn có thể mở ra không gian để chính quyền mua các dịch vụ từ xã hội. Điều này vừa có lợi cho việc hình thành một cục diện mới quản lý xã hội hài hoà, có tính điều tiết, cũng có thể khiến cho các tổ chức xã hội tham gia một cách có trật tự vào các dịch vụ xã hội. Đối với các tổ chức nhân dân, vừa cần dẫn dắt không để họ “tự do quá đà”, đồng thời cũng cần phát huy vai trò của họ.

Nghiên cứu viên Trung tâm Xã hội học, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Lý Bồi Lâm phân tích thêm: hiện nay, vấn đề mà công tác cải cách và đổi mới thể chế quản lý xã hộ của Trung Quốc đang phải đối mặt là không gian phát triển của xã hội vẫn còn khá nhỏ, so với những nước và thị trường mạnh, xã hội vẫn ở vị thế yếu, năng lực tự quản lý và tự điều chỉnh vẫn chưa đủ, điều kiện có hạn, thậm chí khó có thể đảm nhận có hiệu quả chức năng quản lý xã hội sau khi các tổ chức kinh tế (được bóc tách ra trong cải cách) và cơ quan Nhà nước rút lui. Vì thế, cần nỗ lực phát triển và bồi dưỡng năng lực điều chỉnh xã hội và quản lý bản thân, để các tổ chức xã hội dần trưởng thành, đảm đương nhiều hơn chức năng dịch vụ xã hội. Đây là sự lựa chọn tối ưu nhất trong quá trình sáng tạo và tăng cường quản lý xã hội. Ông cho rằng tổ chức xã hội có ưu thế rất lớn trong việc cung cấp các dịch vụ mang tính chuyên nghiệp và hiệu quả cao; ngoài ra, các lĩnh vực như từ thiện, cứu trở xã hội, bảo vệ môi trường, quản lý ngành nghề cũng đã phát huy được vai trò quan trọng. Nhường bớt quyền lực và không gian cho các tổ chức xã hội “trưởng thành” có thể giúp các cơ quan ban ngành tập trung lực lượng để nâng cấp quản lý xã hội. Nỗ lực phát triển tổ chức xã họi là một chủ đề rất quan trọng trong công tác quản lý xã hội hiện nay, chính phủ cần tạo một môi trường chính sách rộng mở cho sự phát triển của nó./.

.

.

.

CHIẾN THUẬT ĐỊNH HƯỚNG CÔNG LUẬN CỦA GIỚI LÃNH ĐẠO BẮC KINH (Tú Anh, RFI)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Chiến thuật định hướng công luận của giới lãnh đạo Trung Quốc

Tú Anh   –   RFI

Chủ nhật 03 Tháng Bẩy 2011

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20110703-chien-thuat-dinh-huong-cong-luan-cua-gioi-lanh-dao-trung-quoc

 

Vừa qua, ban Tuyên huấn của đảng Cộng sản Trung Quốc cho lưu hành một tài liệu mật, chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện, thông tin đa chiều, ở trong cũng như ngoài nước.

 

Trong chính sách đối ngoại, Trung Quốc luôn khẳng định là một quốc gia đang phát triển với chủ trương yêu chuộng hòa bình, quan hệ tốt với láng giềng và tôn trọng tự do. Trên thực tế, ban Tuyên huấn của đảng Cộng sản, trong một tài liệu mật, đã chỉ đạo tiêu trừ mọi tiếng nói phản biện và thông tin đa chiều, ở trong cũng như ở ngoài nước, gây bối rối cho chính phủ.

 

Tháng 3/2011 năm nay, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đưa ra một lời tuyên bố mang tính cảnh báo tại Quốc hội : Nhân dân đang căm phẫn chế độ.

 

Có lẽ, để đối phó với mối đe dọa này, giới lãnh đạo Trung Quốc đề ra một loạt biện pháp trấn áp, không từ một hình thức nào và không sót một đối tượng nào trong xã hội.

 

Các biện pháp này gồm : tăng cường kiểm duyệt thông tin, bắt giam tức khắc mọi cá nhân loan tải thông tin bất lợi cho chính phủ, gia tăng theo dõi mọi thành phần dân chúng ngay từ tuổi còn thơ và tố giác những người than oán.

Trên đây là nội dung một tài liệu mật của ban Tuyên huấn, thuộc Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc vừa được báo chí Tây phương tiết lộ, nhân chuyến công du châu Âu của thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo.

 

Theo các trích đoạn đăng trên Danish newpaper Information của Đan Mạch thì chính sách của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với dáng vóc bề ngoài trầm tĩnh, hiền hòa của ông Ôn Gia Bảo.

 

Tài liệu mật do cơ quan tuyên truyền của đảng Cộng sản cho lưu hành nội bộ vào giữa tháng Giêng và tháng Ba năm nay hướng dẫn cách « duy trì quân bình trong b máy quyn lc », gia tăng kiểm duyệt thông tin và nỗ lực « đnh hướng » công luận quốc tế sao cho thuận lợi cho Trung Quốc.

 

Mục tiêu của chiến thuật này là duy trì « đc quyn thông tin » và ngăn chận trước mọi nguồn « thông tin nhy cm ». Trong tương lai, phải cải tiến các biện pháp « theo dõi thông tin » và nhanh chóng « nhn din các ngun tin bt hp pháp vô hiu hóa và tiêu tr mi ngun tin và thông tin trên các mng Trung Quc cũng như trên mng nước ngoài có ni dung làm bi ri chính ph Trung Quc ».

 

« Bo lc là phương tin »

Để đạt được mục tiêu này, Ttrung ương chỉ thị cho chính quyền các tỉnh, huyện, xã phải lập « t đc nhim » định hướng dư luận với nhiệm vụ tham gia thảo luận trên các diễn đàn thông tin và blog. Bên cạnh đường dây « công an mng », chính quyền dự kiến thành lập chức vụ gọi là « th trưởng thông tin » ở mọi cấp, mọi nơi từ « đi hc, trường hc, s làm cho đến tn các tri hè ca hc sinh » để gọi là « kp thi phát hin bt c ai » chỉ trích chế độ.

Cũng trong chiều hướng này, ban Tuyên huấn nêu lên mối đe dọa mà họ gọi là « nhng thế lc thù đch bên trong và bên ngoài » thực hiện âm mưu buộc Trung Quốc cải cách chính trị theo mô hình Tây phương. Tài liệu mật cho rằng đây là một hình thức can thiệp vào nội tình, đánh phá ngầm ý thức hệ chính trị và văn hóa Trung Quốc, làm hại hình ảnh của chế độ.

 

Biện pháp mà giới lãnh đạo đề ra để ngăn chận « âm mưu » này là phải giới hạn không gian hoạt động của các phóng viên quốc tế, các công ty tư nhân nước ngoài và phòng ngừa « k thù trong nước phát biu vi báo chí ngoi quc ».

 

Cụ thể là phải « làm gim nh hưởng ca thành phn ly khai ti Tây Tng và Tân Cương trong công lun quc tế ».

Theo giới quan sát, chỉ thị mật của đảng Cộng Sản Trung Quốc gián tiếp thừa nhận tình hình nội trị đang có vấn đề trong bối cảnh mỗi năm có hơn 200 ngàn vụ dân oan biểu tình.

 

Mặc khác, nó cho thấy Bắc Kinh ý thức được là họ không dập tắt được khát vọng độc lập của người dân Tây Tạng và Tân Cương bằng bạo lực và đang lo ngại ảnh hưởng của phong trào Mùa Xuân Ả Rập.

 

Trên báo mạng công giáo châu Á, Asia News, giám đốc tổ chức Tây Tạng Tự Do tại Anh Quốc bà Stephanie Bridgen nhận định, tài liệu mật này là bằng chứng cho thấy sự « gi trá » của lãnh đạo Trung Quốc.

lai s là mt nước hoàn toàn dân ch, pháp tr, bình đng và công lý trong đó người dân có quyn giám sát và ch trích chính ph ».

Thực tế, theo chuyên gia Stephnie Bridgen, chà đạp nhân quyền là một sách lược của giới lãnh đạo Bắc Kinh để có thể tiếp tục thống trị nhân dân Tây Tạng và nhân dân Trung Quốc.

 

.

.

.

KHỐI ASEAN TRÔI DẠT GIỮA BIỂN ĐÔNG (David Brown, Asia Times)

Tháng Bảy 4, 2011

 

Khối ASEAN trôi dạt giữa Biển Đông

ASEAN adrift in South China Sea  

David Brown

Asia Times   –   July 2, 2011

Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Mon, 07/04/2011 – 06:35

http://www.x-cafevn.org/node/2304

 

Cuộc tranh chấp về chủ quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa bùng lên trong những tuần gần đây đã trở thành lớn hơn chuyện cãi vặt trong một khu hàng xóm – cuộc tranh chấp này cũng hình thành một loại thử nghiệm thực tế của khái niệm cho rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể phát triển được một mối quan hệ “tích cực, hợp tác và toàn diện”.

 

Các tranh chấp lãnh thổ từng mưng mủ trong nhiều năm của Hiệp hội 10 thành viên các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như một khuyết tật mãn tính nhưng không làm họ phải tàn phế. Hiện nay, sự quấy rối các tàu thăm dò dầu khí của Trung Quốc trong vùng biển mà Việt Nam và Philippines từng khẳng định chủ quyền đã mang vấn đề tranh chấp trong vùng biển Nam Trung Hoa đến một tình trạng nguy kịch. Và thách thức trắng trợn của Bắc Kinh đối với Quy luật về Ứng xử từng được khối ASEAN quyết định vào năm 2002 đang thử thách đến tính thích đáng liên tục của khối ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực.

 

Ảnh hưởng hỗ tương của những tình huống này hình thành chương trình nghị sự và nhấn mạnh tầm quan trọng của những cuộc họp đa phương sắp diễn ra. Tại phạm trù ngắn hạn là diễn đàn khu vực châu Á tại Bali, Indonesia, vốn sẽ mang bộ trưởng ngoại giao khối ASEAN và các nước khác về họp bên nhau từ ngày 22-23 tháng 7. Indonesia cũng sẽ chủ toạ các nhà lãnh đạo khu vực và toàn cầu tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào giữa tháng Mười.

Đó là một mưu đồ nguy hiểm, theo nhà nghiên cứu Indonesia Monica Maria Wihardja. “Trong khi Mỹ không muốn gì hơn ngoài việc đưa vấn đề an ninh lên bàn thương lượng – bao gồm việc giao thông tự do và tránh sự thống trị bá quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa – mà Trung Quốc đã tìm mọi cách để tránh điều này” cô đã viết cho trang web Diễn đàn Đông Á, lưu ý là Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, trong chuyến thăm gần đây đến Indonesia, đã nhắc lại rằng khối ASEAN nên ngồi yên trong “tay lái” của Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

 

Diễn đàn khu vực Châu Á năm ngoái đã nêu bật một cuộc va chạm đầy kịch tính giữa Trung Quốc và Mỹ. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tái nhấn mạnh các quyền lợi chiến lược của Mỹ ở Biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố của bà được ca ngợi bởi sáu trong số 10 thành viên ASEAN và Bộ trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì từng cảm nhận một cách chính xác rằng mình đã bị phục kích.

 

Từ đó, dường như Trung Quốc đã có ý định chứng minh khả năng phát triển của mình để thách thức những vụ thăm dò dầu khí của các quốc gia lân cận, cả ở trong vùng biển tranh chấp với Nhật Bản cũng như ở vùng Biển Nam Trung Hoa. Ngày 15 tháng 6, ngày chiếc tàu tuần tra 3000 tấn mới nhất của họ và chiếc trực thăng Haisun 31, rời Quảng Châu trong chuyến thăm cấp cao tới Singapore, các sĩ quan Lực lượng Hải giám (CMS) đã thông báo kế hoạch mở rộng thêm hai phần ba lực lượng sẵn có của mình lên đến 260 tàu chiến và chín máy bay vào năm 2020.

 

Trong cuộc đụng độ gần đây ở Biển Đông, Trung Quốc cho rằng lực lượng của mình là nạn nhân của sự gây hấn từ Philippines và Việt Nam, một tuyên bố đã bị bác bỏ thông qua các phim video ghi lại một số sự cố. Khi được hỏi về những việc xảy ra, cán bộ hải quân Trung Quốc từ chối trách nhiệm, họ cho rằng đó là một vấn đề của lực lượng hải giám. Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ trung ương nhấn mạnh rằng lực lượng Hải Giám đã dự phần vào việc “thực thi pháp luật thông thường … trong vùng biển có thẩm quyền tài phán của Trung Quốc” và vẫn cam kết rằng sẽ “làm việc cùng với các bên quan tâm để tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp liên quan”.

 

Lời giải thích khoan dung hơn cho hành vi của Trung Quốc đến từ các nhà phân tích từng cho rằng họ đã nhìn thấy bằng chứng về một chính sách không nhất quán. Không hề có va chạm hơn nữa kể từ ngày 09 tháng Sáu. Các giải thích của Trung Quốc tại cuộc họp vào ngày 25 Honolulu với các nhà ngoại giao cấp cao Mỹ và ở Bắc Kinh cùng một sứ giả đặc biệt từ Hà Nội đến tham dự cho thấy rằng cuộc khủng hoảng đã chấm dứt trong thời gian này.

 

Được biết, Hoa Kỳ đã đồng ý rằng cuộc tham vấn một ngày ở Honolulu, trao đổi về chính sách và mục tiêu hướng tới các diễn đàn khu vực từ 22 đến 23 tháng Bảy, hội nghị Đông Á và các cuộc họp đa phương khác, là “thân thiện, thẳng thắn và xây dựng”. Trong khi đó, cố vấn nhà nước Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc và Phó ngoại trưởng Việt Nam Hồ Xuân Sơn “đã đồng ý để gấp rút hình thành một hiệp ước tham vấn có liên quan đến các nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo giải quyết tranh chấp hàng hải giữa Việt Nam và Trung Quốc”, theo một thông cáo báo chí chung.

 

Bản báo cáo lạc quan từ Honolulu là không đáng ngạc nhiên, bất chấp lời cảnh báo thẳng thừng của Bắc Kinh trước cuộc họp – khác với những câu hỏi về tự do hàng hải – rằng Mỹ nên để các vấn đề biển Nam Trung Hoa cho những quốc gia nguyên đơn giaỉ quyết để khỏi bị “thiêu cháy bởi cơn giận dữ”.

 

Sau những va chạm mạnh bạo bằng lời với Trung Quốc trong năm 2010, bao gồm những trao đổi tại diễn đàn khu vực tại Hà Nội, Washington đã đầu tư mạnh vào việc sắp đặt lại mối quan hệ song phương. Chuyến thăm cấp nhà nước của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào tháng Giêng đã cải thiện cuộc hoà giải. Trung Quốc tuyên bố rằng các cuộc họp Hồ-Obama đã mở ra một chương mới trong quan hệ song phương và cho rằng việc xây dựng mối quan hệ giữa hai cường quốc là rất cần thiết.

 

Như tờ New York Times nhận xet vào thời điểm ấy, chương trình nghị sự của Hồ Cẩm Đào trong chuyến thăm Mỹ cấp nhà nước của mình đã “vắng mặt một cách đáng nghi” mối tham vọng trong vùng biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc. Tờ báo kết luận rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc đã “sung sướng để cho vấn đề được chìm xuống, có lẽ vì lợi ích của việc muốn xoa dịu hơn nữa mối quan hệ với chính quyền Obama”. Tuy nhiên, việc chứng tỏ sức mạnh cơ bắp ở vùng biển Nam Trung Hoa hồi đầu tháng Ba của Trung Quốc đang thách thức đến những giả định về sự suy giảm mối căng thẳng Trung-Mỹ từng được dựng nên.

 

Những hành vi bao gồm việc quấy nhiễu các ngư dân Việt Nam (mà hiện nay sự xảy ra thường xuyên), thiết lập những khu vực chỉ định “cấm xâm phạm” trong các khu đảo san hô gần Philippines và quấy rối tàu thăm dò dầu khí. Sự cố gần đây nhầt, liên quan đến nỗ lực cắt đứt những cáp kéo từ hai con tàu thuộc công ty dầu khí quốc gia của Việt Nam và một chiếc thứ ba dưới hợp đồng với một công ty Philippines, tất cả đều trong vòng 200 dặm (321 km) vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) thuộc chủ quyền Hà Nội và Manila, là chưa hề có tiền lệ.

 

Nói ít nhưng làm nhiều

Với cái nhìn cố định của mình trên khung cảnh lớn hơn, không chính xá là các quan chức Mỹ tại Washington muốn ra khỏi các nguyên tắc của Clinton tại Diễn đàn khu vực châu Á năm ngoái, bao gồm cả việc Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán hướng tới một giải pháp hòa bình cho các xung khắc.

 

Tuy nhiên, giọng điệu bình luận của các viên chức Mỹ rõ ràng là vẫn nhẹ nhàng. Các hành vi của Trung Quốc đã chỉ được mô tả như việc “gây phiền phức” dù còn có hàng chục tính từ mạnh mẽ hơn – như “nghiêm trọng” hoặc “khiêu khích” – vốn mô tả đúng đắn hơn cho tình huống ấy.

 

Washington đã phải chịu khó khăn để nhấn mạnh rằng Mỹ “không đứng về phe nào” trong cuộc tranh chấp lãnh thổ. Quan điểm “không đứng về phe nào” là không trung thực khi Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cho rằng các tranh chấp chủ quyền quốc gia phải được hòa giải qua tham chiếu với “luật pháp quốc tế”.

 

Bằng cách này, Washington muốn nói rằng các quy tắc để sửa chữa những giới hạn của khu đặc quyền kinh tế (EEZ) và vùng lãnh hải đã được nêu trong UNCLOS, Hiệp ước về Luật biển của Liên Hiệp Quốc từng có hiệu lực vào năm 1994 và đã được phê duyệt bởi 161 quốc gia. Áp dụng các quy tắc của UNCLOS vào vùng biển tranh chấp với Trung Quốc, một khu vực rộng lớn trải dài 1.000 km về phía nam của đảo Hải Nam, trong tất cả các tính toán sẽ để vùng biễn này lại trong hai phần ba diện tích phía đông bắc của vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa – nhóm đảo nhỏ và các đảo san hô trong nửa phía bắc của vùng biển Nam Trung Hoa – và không một vùng biển nào trong số này ở quanh quần đảo Trường Sa về phía nam.

 

Các quy định của UNCLOS cũng không cho phép Trung Quốc sử dụng những đường cơ sở rút ra từ quần đảo Hoàng Sa để mở rộng đặc khu kinh tế của mình. Trong việc đòi hỏi chủ quyền, Trung Quốc bám vào chứng cớ từ việc khai thác lịch sử, hỗ trợ ngầm bởi khả năng phát triển nhanh chóng lực lượng an ninh hải quân và hàng hải của mình.

Trong bối cảnh hiện nay, những gì các nhà ngoại giao Mỹ đang nói với các phóng viên là hoàn toàn không quan trọng nếu trong hậu trường họ vẫn đang bận rộn củng cố xương sống của khối ASEAN và can ngăn Trung Quốc khỏi những cơn bốc đồng tồi tệ nhất. Trong khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đã đồng ý khởi động lại những cuộc đàm phán của một “thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản nhằm hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề biển” song phương, bất chấp thực tế thường được Hà Nội thể hiện là một căn bản đa phương.

 

Có rất nhiều định chế liên lạc giữa giới cầm quyền Trung Quốc và Việt Nam – giữa đảng với đảng, Bộ với Bộ, các tổ chức quần chúng lớn và đoàn thể, cấp tỉnh tỉnh lân cận với nhau – và một số khá đông các nhà lãnh đạo ở cả hai bên từng đầu tư vào một mối quan hệ lành mạnh và ổn định.

 

Kể từ đầu năm 2010, các quan chức ở cấp độ có trách nhiệm đã tổ chức sáu vòng đàm phán nhằm làm rõ vị trí về thẩm quyền biển trong khu vực quần đảo Hoàng Sa, phần biển Nam Trng Hoa mà chỉ có Trung Quốc và Việt Nam cùng tranh chấp quyền sở hữu. Những cuộc đàm phán – mà dường như cho đến nay vẫn ít có tiến bộ nào đáng kể – đã bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng hiện tại, một sự trùng hợp khiến dẫn đến một số ủng hộ cho lý thuyết rằng sự cố cho thấy mục tiêu thật sự của Bắc Kinh đã bị cắt ngang bởi một mưu đồ của chủ nghĩa siêu ái quốc Trung Quốc.

 

Dù đúng hay sai, không chắc là Bắc Kinh sẽ phủ nhận những sự cố gây ra bởi lực lượng hải giám của mình sau thực tế xảy ra. Thật vậy, người phát ngôn của Trung Quốc đã liên tục cố gắng miêu tả các vụ đụng độ gần đây là những phản ứng hợp lý trước hành động khiêu khích của Việt Nam hoặc Philippines. Như vậy trên thực tế Trung Quốc đã chuyển hướng tới một lý thuyết về sự can thiệp để đảm bảo quyền độc quyền khai thác tài nguyên biển Nam Trung Hoa ở bất cứ nơi nào trong giới hạn “chín dòng vạch” khét tiếng của mình phủ khắp khu vực.

 

Vì vậy, những gì có thể làm được để đưa những đòi hỏi rắc rối vào một lộ trình hướng tới cuộc phân giải công bằng căn cứ vào luật pháp quốc tế ? Điều này tùy thuộc vào việc Indonesia chứng minh được mối thích đáng liên tục của ASEAN đối với các tranh chấp qua việc vận dụng Diễn đàn khu vực châu Á và các cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á sắp tới để mang lại kết quả, hoặc một sự đồng thuận. Sau Tháng Mười Một, ghế chủ tịch của ASEAN sẽ đến tay Campuchia, rồi Myanmar và sau đó là Lào – tất cả các nước từng xem Trung Quốc là khách hàng cấp nhà nước vốn chắc sẽ không thể chống lại áp lực từ Bắc Kinh.

 

Một bài xã luận gần đây trên tờ Jakarta Post đề nghị một phương hướng mới. Bài viết lập luận rằng sau 10 năm căng thẳng để tìm một mẫu số chung đồng thuận thấp nhất, trước tiên là khối ASEAN nên đến với một nền tảng chung về quy tắc ứng xử, từ đó đặt áp lực lên Trung Quốc để hành động có trách nhiệm như một siêu cường trong khu vực.

 

Chừng nào các thành viên của ASEAN còn không thể đồng ý với nhau, Trung Quốc vẫn còn khó mà cưỡng lại cám dỗ của việc lựa ra từng đối thủ riêng lẻ. Một khi đã quy phục được Philippine và Việt Nam, bằng cách chia để trị thì Malaysia và Brunei sẽ dễ dàng hơn để tạo áp lực. Ngược lại, nếu bốn nước ASEAN tranh chấp lãnh hải có thể giải quyết các tranh chấp lãnh thổ với nhau, họ sẽ ở vào được một vị trí đáng kể để đàm phán mạnh mẽ trực diện với Trung Quốc. Trừ khi bị lôi kéo bởi các khách hàng của Trung Quốc trong nội bộ ASEAN, cũng không phải phân chia các phần của Biển Nam Trung Hoa bao gồm quần đảo Trường Sa trải dài rất khó chứng minh. Tất cả bốn nước tranh chấp ASEAN đã cho thấy sự sẵn lòng để áp dụng quy định UNCLOS của mình, chỉ còn Trung Quốc tiếp tục chống lại điều này.

 

.

.

.