Archive for Tháng Chín, 2011

THÁCH THỨC TRÊN BIỂN ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC (Aaron L. Friedberg)

Tháng Chín 15, 2011

Thách thức trên biển đối với Trung Quốc

Aaron L. Friedberg

The New York Times   –   4-9-2011

 

Đan Thanh dịch

Posted by basamnews on 14/09/2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/09/14/thach-thuc-tren-bien-doi-voi-t/

 

Những kẻ thù tài chính của nước Mỹ đang đặt cả đất nước vào một con đường đầy những rủi ro chiến lược ngày càng lớn ở châu Á.

 

Khi những đảng viên đảng Dân chủ hào hứng bảo vệ các chương trình xã hội, còn đảng Cộng hòa thì hăm hở tránh việc tăng thuế, và cả hai bên đều nói là nợ quốc gia sẽ phải được kiểm soát, thì chúng ta có thể tin là sẽ được thấy những nỗ lực giảm ngân sách quốc phòng tiếp tục kéo dài. Trong vòng 10 năm tới, mức cắt giảm kế hoạch chi tiêu có thể lên đến năm trăm tỷ USD. Ngay cả khi Lầu Năm Góc rút quân khỏi Afghanistan và Iraq để tiết kiệm chi tiêu, thì việc mua hoặc phát triển vũ khí mới cũng không được đầu tư nhiều tiền như trước nữa.

 

Thật không may là Mỹ lại phải áp đặt những biện pháp kiềm chế đó đúng vào khi họ đang đối mặt với một thách thức chiến lược ngày càng gia tăng. Được tiếp sức nhờ đà tăng trưởng kinh tế gần 10% một năm, Trung Quốc, trong gần hai thập niên qua, đã tham gia vào công cuộc xây dựng quân đội nhanh chóng và mở rộng. Trung Quốc giữ bí mật các dự định của mình, và các nhà chiến lược Mỹ thì đã phải dồn mọi sự tập trung của họ vào các mối quan tâm khác kể từ sau vụ 11-9. Tuy nhiên, quy mô, đường lối và các hàm ý của việc Trung Quốc xây dựng quân đội thì ngày càng trở nên rõ ràng hơn.

 

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, Thái Bình Dương thực chất trở thành một cái hồ của Mỹ. Với việc các lực lượng không quân và hải quân Mỹ hoạt động tại các căn cứ ở những nước thân thiện với họ như Nhật Bản và Hàn Quốc, Mỹ có thể bảo vệ và làm cho đồng minh yên tâm, cản bước những kẻ gây hấn tiềm năng, và đảm bảo tuyến đường hàng hải an toàn cho các tàu buôn đi lại trên khắp vùng biển tây Thái Bình Dương, tiến vào Ấn Độ Dương. Các lực lượng Mỹ có thể hoạt động ở khắp mọi nơi và hoàn toàn được miễn trách.

 

Nhưng điều đó đã bắt đầu thay đổi. Vào giữa thập niên 1990, Trung Quốc triển khai thực thi một số việc mà các nhà hoạch định chính sách ở Lầu Năm Góc gọi là “năng lực chống xâm nhập”. Nói cách khác, thay vì cố gắng theo kịp với sức mạnh Mỹ theo kiểu máy bay đối chọi máy bay, tàu đối chọi tàu, Bắc Kinh tìm những cách hiệu quả hơn về chi phí để trung lập hóa sức mạnh Mỹ. Họ đã thiết kế số lượng lớn những chương trình tên lửa đạn đạo phi hạt nhân không tốn kém lắm nhưng có độ chính xác cao, cũng như các tên lửa hành trình phóng từ trên biển hoặc trên không. Những vũ khí này có thể phá hoại hoặc làm hỏng một số cảng biển và sân bay, nơi các lực lượng không quân và hải quân Mỹ dùng làm bước đệm để hoạt động ở Tây Thái Bình Dương; và đánh chìm chiến hạm nào chở vũ khí có thể bắn xa hàng trăm dặm ra biển, kể cả hàng không mẫu hạm của Mỹ.

 

Quân đội Trung Quốc cũng đã và đang thử nghiệm kỹ thuật tấn công vệ tinh và mạng máy tính của Mỹ, bổ sung thêm việc này vào kho vũ khí nhỏ của họ – kho có những tên lửa hạt nhân tầm xa, có thể bắn sang tận Mỹ.

Mặc dù khả năng đối đầu trực tiếp là thấp, nhưng Trung Quốc có vẻ đang tìm cách làm thất bại các lực lượng quân sự tiên tiến của Mỹ, để khiến Washington phải khó khăn trong việc liệu đường ứng phó.

 

Các hoạt động chuẩn bị đó không có nghĩa là Trung Quốc muốn gây chiến với Mỹ. Ngược lại, họ dường như chỉ muốn làm cho các nước láng giềng của mình phải khiếp sợ, đồng thời ngăn cản Washington tham gia trợ giúp những nước đó một khi xảy ra xung đột. Các quốc gia khác – không biết chắc liệu mình có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Mỹ không, và tự bản thân không thể nào theo kịp sức mạnh Trung Quốc – có thể sẽ phải đi đến quyết định rằng họ phải dung hợp ý muốn của Trung Quốc.

 

Nói theo nhà tư tưởng quân sự cổ đại của Trung Quốc, Tôn Tử, thì Trung Quốc đang tiến hành các biện pháp để “không đánh mà thắng” – xác lập vị thế siêu cường thống lĩnh châu Á bằng cách bào mòn độ tín nhiệm của những người bảo đảm về an ninh cho Mỹ, làm rỗng (rút ruột) khối đồng minh của Mỹ và cuối cùng đẩy Mỹ ra khỏi khu vực.
Nếu Mỹ và các đồng minh châu Á của họ tìm cách tự phòng thủ và phối hợp nỗ lực chung, thì không có lý do gì mà họ không duy trì được một thế cân bằng quyền lực thích hợp, ngay cả khi sức mạnh của Trung Quốc có gia tăng đi nữa. Nhưng nếu họ không phản ứng lại trước việc Trung Quốc tăng cường quân sự, thì có nguy cơ là Bắc Kinh có thể tính nhầm, phung phí sức mạnh và làm tăng nguy cơ đối đầu, thậm chí xung đột vũ trang. Quả thật, cách hành xử của Trung Quốc gần đây trong những tranh chấp về tài nguyên và biên giới trên biển với Nhật Bản và các nước nhỏ hơn trong khu vực biển Hoa Nam cho thấy là điều này có thể đang bắt đầu xảy ra.

 

Đây là một vấn đề không thể được giải quyết đơn giản bằng đối thoại. Chính sách quân sự của Trung Quốc không phải là sản phẩm của sự hiểu nhầm; nó là một phần của một chiến lược có chủ ý mà giờ đây các quốc gia khác phải tìm cách xử trí. Mạnh thì ngăn cản được hành vi gây hấn; yếu thì sẽ kích thích thêm sự gây hấn. Bắc Kinh sẽ lên án những hành động như thế, như thế là khiêu khích, nhưng chính các hành động của Bắc Kinh mới là mối nguy cơ hiện nay đang đe dọa phá vỡ sự ổn định ở châu Á.

 

So với ngày trước, nhiều nước láng giềng của Trung Quốc hiện nay tỏ ra sẵn sàng phớt lờ những lời phàn nàn của Bắc Kinh hơn, và sẵn sàng tăng cường chi tiêu cho quốc phòng, hợp tác chặt chẽ hơn với nhau và với Mỹ.

 

Tuy nhiên, họ ít có khả năng làm những việc ấy trừ phi họ tin chắc chắn rằng Mỹ sẽ vẫn hiện diện. Washington không nhất thiết phải gánh vác cả gánh nặng duy trì thế cân bằng quyền lực ở châu Á, nhưng họ phải lãnh đạo.

Lầu Năm Góc cần đặt ưu tiên hàng đầu vào việc tìm cách đối chọi với “năng lực chống xâm nhập” đang gia tăng dần của Trung Quốc, qua đó làm giảm khả năng Trung Quốc sử dụng tới chiêu bài đó. Việc này rất tốn kém. Để biện giải được cho khoản chi tiêu cần thiết trong thời kỳ kinh tế khắc khổ, các nhà lãnh đạo của chúng ta (Mỹ) sẽ phải rõ ràng hơn khi giải thích về lợi ích quốc gia cùng những cam kết của Mỹ đối với châu Á, và thẳng thắn hơn khi mô tả những thách thức do quá trình phát triển quân sự không ngừng của Trung Quốc gây ra.

 

Aaron L. Friedberg là giáo sư chính trị và quan hệ quốc tế ở Princeton, tác giả của cuốn “Tranh giành vị trí thống lĩnh: Trung Quốc, Mỹ và chiến lược làm chủ ở châu Á”.

 

.

.

.

 

TGĐ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT LONG ĐUỔI VIỆC NGƯỜI BIỂU TÌNH YÊU NƯỚC (Nguyễn Xuân Diện)

Tháng Chín 15, 2011

 

TGĐ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT LONG ĐUỔI VIỆC NGƯỜI BIỂU TÌNH YÊU NƯỚC   

Nguyễn Xuân Diện

Thứ tư, ngày 14 tháng chín năm 2011

http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/09/cong-ty-co-phan-viet-long-uoi-viec.html

 

 

 

Theo tin chúng tôi vừa nhận được, anh Nguyễn Văn Phương (ảnh ) – người thanh niên đọc Tuyên cáo tại Nhà hát lớn trong cuộc biểu tình yêu nước sáng ngày 3 tháng 7 năm 2011, chính thức bị Tổng Giám đốc Công ty Việt Long đuổi việc.

 

Công ty Thương mại cổ phần điện máy Việt Long hiện có trụ sở tại 187 Giảng Võ, Hà Nội, và có siêu thị Điện máy Việt Long tại số 8 Quang Trung, quận Hà Đông, HN. Nguyễn Văn Phương làm việc tại siêu thị này từ 03 năm nay, và hiện có chức danh Phó phòng Kinh doanh.

 

Đây là trường hợp thứ 3, những người biểu tình yêu nước bị ép đến thôi việc. Trước đó Trịnh Hữu Long và Nguyễn Tiến Nam đều vì sức ép mà đã tự xin thôi việc để khỏi ảnh hưởng đến công ty. Ba thanh niên này, cũng đã bị 3 người chủ nhà trọ yêu cầu chấm dứt hợp đồng và chuyển đi nơi khác. Trịnh Hữu Long phải chuyển nhà lúc 21h đêm 26 tháng 8 năm 2011.

 

Hai trường hợp Trịnh Hữu Long và Nguyễn Tiến Nam bị ép đến thôi việc và bị ép buộc dời nhà trọ đã được tôi thông báo tới GĐ Công an Tp Hà Nội trong cuộc gặp tại UBND Tp sáng 27.8.2011.

 

Ông Phí Đức Lực, Phó TGĐ của công ty Việt Long (ông Lực là chồng của bà Tổng Giám đốc Việt Long), nơi Phương làm việc đã nhắn cho Phương Bích (Đặng Bích Phượng), bạn cũ của ông rằng: Sáng nay họp quyết liệt về việc của Phương. Tình hình của Phương cũng phức tạp lắm Phượng ạ. Bên Công an từ Công an Phường, công an Quận, công an Thành phố suốt ngày làm việc với Ban Kiểm soát và tổ chức của Việt Long yêu cầu cung cấp mọi thông tin của Phương hàng ngày hàng giờ…

 

Chiều qua, ngồi cafe với các anh em nhà báo và luật sư, Phương cho biết đã liên lạc với các nhân viên an ninh đã từng gặp gỡ, theo dõi Phương suốt mấy tháng qua để xác minh thông tin, thì được biết bên an ninh không hề gây sức ép để Công ty Việt Long đuổi việc Nguyễn Văn Phương.

 

Nếu sự việc đúng như vậy, thì Phó TGĐ Việt Long đã đặt điều cho công an Hà Nội, nhằm che giấu một điều gì khuất tất tại công ty. Vì, được biết Giám đốc của Phương thì kiên quyết đuổi việc Phương, trong khi ông Lực là Phó TGĐ thì đánh giá tốt về Phương và không muốn để Phương ra đi.

 

Sáng nay, Phương đã làm việc với Bà TGĐ Công ty Việt Long, không chấp nhận việc bị ép viết đơn xin thôi việc, chỉ chấp nhận để công ty Việt Long đơn phương chấm dứt hợp đồng. Phương đề nghị Công ty Việt Long giải quyết mọi việc theo luật định. Kết quả, chúng tôi sẽ thông báo tại đây.

 

Được biết, các luật sư cũng đã sẵn sàng vào cuộc khi có yêu cầu của Phương.

 

Tối nay, tôi sẽ gửi thư cho họ hàng và bạn bè đề nghị ngưng mua hàng và giao dịch với hệ thống bán hàng của Công ty Thương mại cổ phần điện máy Việt Long.

 

Nguyễn Xuân Diện

 

.

.

.

VỤ DÂN HÒA LIÊN (ĐÀ NẴNG) BỊ CƯỚP ĐẤT (Liêu Thái, Người Việt)

Tháng Chín 15, 2011

 

Ðất bị lấy, nhà di dời, không biết về đâu

Liêu Thái/Người Việt
Tuesday, September 13, 2011 5:40:43 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137068&z=310

 

 

Vụ dân Hòa Liên, Ðà Nẵng bị cướp đất   (tiếp theo)

 

LTS: Sáng ngày 6 tháng 9, khoảng 2,500 cư dân xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Ðà Nẵng đã bao vây nhà riêng của ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư thành ủy đòi “xử” công ty xây dựng dự án Golden Hills cướp đất. Ðể phục vụ cho dự án “khu đô thị sinh thái” Golden Hills City với tổng diện tích 400 hecta của công ty Trung Nam, khoảng 3,000 gia đình bị buộc phải di dời. Họ vốn là các gia đình nông dân, sống với ruộng đất. Nay bỗng dưng trở thành những kẻ vô gia cư, vô nghề nghiệp, không biết phải làm gì để sống. Cộng tác viên Liêu Thái của Người Việt đã tìm đến xã Hòa Liên để tìm hiểu thực tế của những người dân mất đất.

 

***

 

ÐÀ NẴNG – Không biết về đâu, đó là tâm lý chung của người dân xã Hòa Liên. Hiện nay, cả xã rộng hơn hai ngàn hộ dân này vẫn chưa biết cụ thể mình sẽ được tái định cư ở đâu, mặc dù đất đã bị đo đạc, thông báo thu hồi và công trình đang mỗi lúc một lấn sâu vào nhà.

 

Bác Hai Thuấn, 63 tuổi, một cư dân sống ở đây đã năm đời, cho biết: “Tôi có 1,400m2 đất vườn, nhà nước thu hồi, đền bù với giá 102 ngàn đồng, tổng cộng cả đất, cây cối và nhà cửa, lấy được gần 400 triệu đồng (gần tương đương $20,000).”

“Tiền cầm rồi mà đất ở thì chưa có, nội tiền mướn nhà để ở cũng đủ mệt, mỗi tháng tốn gần ba triệu đồng, nếu kéo dài chừng một năm thì mất nhiều tiền, hư hỏng nhiều đồ vì chưa ổn định, mà nguy cơ không mua được đất là thấy rồi, giờ chẳng biết tính sao!”

 

Một người đàn ông khác yêu cầu giấu tên, cho biết: “Tôi chưa thấy cái chỗ nào xử sự ngu ngốc như lãnh đạo thành phố này. Chuyện nhà thuộc diện chính sách thì hằng tháng đã có chế độ tiền tuất, cũng đủ sống, chuyện đền bù đất thì phải sòng phẳng, ai cũng mất đất như nhau, sao lại ưu tiên cho không đất cho diện chính sách và bắt chúng tôi bỏ tiền ra mua, mà đất thì chưa thấy?!”

“Thật ra, tôi biết đây là cái bài ru ngủ, vì ở xã này chẳng mấy người được ăn được nói như mấy bà mẹ liệt sĩ, mấy ông thương binh. Nhưng giờ cho không đất, bịt miệng họ mất rồi, đâu có ai lên tiếng, dân đen như tụi tôi mà lên tiếng thì không bị bắt cũng bị hành hạ đủ điều…”

 

Chúng tôi tìm hiểu thêm, được biết tất cả những gia đình chính sách (mẹ liệt sĩ, thương binh, bộ đội) đều được cấp đất miễn phí sau khi nhận được tiền đền bù đất. Với mức đền bù thấp, nhưng được nhận đất miễn phí thì tính ra cũng không lỗ lã gì.

Chỉ có những người dân bình thường, nhận tiền đền bù ít ỏi, bỏ ra mua đất, xây nhà xong, chắc chắn không còn gì để sống, không còn ruộng để làm.

Hiện nay, nhà được đền bù cao nhất ở xã Hòa Liên vẫn chưa tới một tỉ đồng ($50,000). Một nguồn tin hành lang cho biết giá đất khu chung cư mới, mỗi lô chừng 100 đến 200 triệu đồng, diện tích rất hẹp, ngang 4 mét, dài 20 mét.

 

Lùa dân vào thế bí, đi không nỡ, ở không xong…

 

Một người phụ nữ 45 tuổi, yêu cầu giấu tên vì có hai con trai và con rể đang làm việc cho công ty Trung Nam, nói: “Hiện giờ, nghe mưa là tôi rất sợ, nước vào nhà giờ nào không hay. Trước đây, đâu đến nỗi như thế này, bây giờ mưa sơ sơ là nước ngập vào nhà cả mét, ti vi, đồ điện mà không kịp dọn thì hư hỏng hết.”

“Thì đó, cả một diện tích rộng gần 400 hecta, vốn là cánh đồng, chỗ thoát nước của cả khu vực này, bây giờ lấp sạch, múc núi đổ lên cao gần 5 mét, 6 mét. Biến đồng thành núi, thì nước chảy đi đâu? Nhà dân ở đây vốn cao ráo bây giờ thành vùng chảo chứa nước cho công trình…”

“Kiểu này không đi cũng không xong, mà đi thì làm gì để sống, vừa rồi, nói là thương lượng, đại diện cho dân gì đó. Nhưng thật ra là một kiểu toa rập khác…”

 

Câu này làm tôi nhớ lại cách trả lời lấp lửng và không rành mạch, cái gì cũng “vì tương lai thành phố phát triển…” của ông Ngô Văn Tước. Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết, ông Ngô Văn Tước cũng bị bịt miệng cùng với rất nhiều đại diện của bà con hôm gặp ông Bí Thư Nguyễn Bá Thanh.

 

Sau cuộc gặp dân của ông Thanh, xảy ra nhiều dấu hiệu lạ, từ 9 giờ sáng và 9 giờ tối, công an 113 xuất hiện ở khắp thôn xóm. Ở những giờ khác, thường xuất hiện nhiều nhóm lạ mặt, đến rảo quanh xóm và hỏi nhà anh Tuấn (người bị chém sau khi dẫn bà con ra chặn xe ben), bà con hỏi có việc gì không thì họ lắc đầu và lạnh lùng bỏ đi.

Nhiều lần như vậy, không nói không rằng, cứ gương mặt lạnh, dáng bộ khó hiểu… Khiến cho bà con thấy bất an.

 

Anh Tú, người đã sống ở xã Hòa Liên gần 20 năm nay, nói: “Vụ gặp mặt bà con vừa rồi là đòn chính trị, qua mắt bà con cho vui, một kiểu bịp bợm mới, chứ thật ra, sau cuộc gặp, công ty Trung Nam và lính ông Thanh đã bấm nhỏ tất cả những đại diện của dân, cho họ tiền, rượu, và hứa cho đất tái định cư, vậy là họ câm mồm hết trơn. Giờ hỏi gì họ cũng nói tốt, tốt…”

 

Nhà ông Nguyễn Bá Thanh trên đường Cách Mạng Tháng 8, thành phố Ðà Nẵng bị rào lại sau vụ bị dân bao vây hôm 6 tháng 9. (Hình: Liêu Thái/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137068-VN-MatDat-03-400.jpg

 

Một phần, những người có “tư thế” dám đứng ra thương lượng cho bà con đã bị mua chuộc, hù dọa và nhét miệng, phần khác, đời sống hằng ngày của người dân lại bị ép vào tình thế ở không xong, đi không biết về đâu, tiền cầm trên tay như lá mít… Không biết rồi đây còn chuyện gì nữa sẽ xảy ra ở đây?!

 

Ở một đất nước mà con người luôn có một cơ hội lớn nhất: Thấp cổ, bé họng và bị ép chế, có thể trở thành vô sản bất kỳ giờ nào! Thì e rằng, chuyện những người dân nổi giận, kéo đến nhà ông bí thư thành phố hoặc đập phá để thể hiện sự tức giận là chuyện chưa phải là lớn! Vì cái chuyện lớn: Dân Chủ đã bị mất một cách vô hình!

 

————————–

 

 

Lấy mồ hôi và máu của dân làm chén cơm bịt miêng 

Liêu Thái/Người Việt

Saturday, September 10, 2011 3:38:55 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=136892&z=310

 

Vụ dân Hòa Liên, Ðà Nẵng bị cướp đất  

 

LTS: Sáng ngày 6 tháng 9, khoảng 2,500 cư dân xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, thành phố Ðà Nẵng đã bao vây nhà riêng của ông Nguyễn Bá Thanh, Bí thư thành ủy đòi ‘xử’ công ty xây dựng dự án Gloden Hills cướp đất. Bị buộc phải trực tiếp đối thoại với người dân, cuối cùng ông Nguyễn Bá Thanh phải xuất hiện và ngồi nghe người dân ca thán về sự hy sinh của họ cho một dự án ra đời.

Để phục vụ cho dự án ‘khu đô thị sinh thái’ Golden Hills City với tổng diện tích 400 hecta của công ty Trung Nam, khoảng 3,000 gia đình bị buộc phải di dời. Họ vốn là các gia đình nông dân, sống với ruộng đất. Nay bỗng dưng trở thành những kẻ vô gia cư, vô nghề nghiệp, không biết phải làm gì để sống.

Cộng tác viên Liêu Thái của Người Việt đã tìm đến xã Hòa Liên để tìm hiểu thực tế của những người dân mất đất qua bài ký sự dưới đây.

 

—————

 

 

Thôn Quan Nam 5, Hòa Liên, Hòa Vang, Ðà Nẵng, phía Tây dựa lưng vào núi, phía Ðông nhìn ra biển, phía Bắc là thành phố sầm uất, phía Tây Nam là khu công nghiệp Hòa Khánh, nhìn xa xa Ðông Bắc là đèo Hải Vân mây phủ…

 

 

Ðã bắt đầu mùa mưa. Ðập vào mắt chúng tôi là những đống đất đỏ, những cái ao, những mảnh ruộng lấp dở chừng, những con đường hút sâu vào xóm và cho cảm giác đất sẽ tuột xuống, phủ lấp lên mình bất kỳ lúc nào.

Con xóm im vắng, thi thoảng vài người thanh niên ngồi tụm năm, tụm ba hút thuốc, im lặng… Bắt chuyện một người đàn ông, cả nhóm nhìn chúng tôi vẻ hoài nghi. Rồi mọi chuyện trở nên gần gũi hơn khi nói về đất và giá đến bù.

Ông Tư, một người trung niên trong thôn, ngồi buồn so chỉ tay về phía mảnh vườn nhà ông ở phía sau chỗ ông ngồi chừng mươi mét: “Ðó, ở đây bị buộc di dời, chẳng ai ham cái vụ này đâu, bảy tám đời sống bình yên, tự dưng trở thành mất trắng!”

 

Ông Ngô Văn Tước, người đã đại diện đứng ra thương lượng với công ty Trung Nam và chính quyền Ðà Nẵng về vấn đề đền bù giải tỏa… (Hình: Liêu Thái/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/136892-VN_LT_GoldenHills_NgoVanTuoc-400.jpg

 

Người đàn ông bên cạnh ông Tư rít một hơi thuốc, nhìn ra cánh đồng chi chít cỏ dại và nước đen, nhìn sang những đống đất đỏ có mấy cột khói của máy đóng cọc rồi mở giọng trầm ngâm: “Cố gắng nghe tiếng chim thêm vài hôm nữa mà cũng không được, tiếng ồn làm chúng bay mất rồi, chúng sợ rồi…”

“Tự dưng, đang trong một khu vườn đầy chim, phải bán nó đi, bị buộc phải bán, xong rồi lại dành hết tiền vào mua một miếng đất khác, làm nhà hộp, dành dụm mua mấy cái lồng, mấy con chim cho nó hót mình nghe mà đỡ nhớ vườn cũ, hay đó, cay đó, hà hà, quá cay!”

Nhiều người bắt đầu lên tiếng, nói như là để xả nỗi bực tức, nỗi khốn khổ và ức chế đã cố nén trong lòng.

 

VIDEO :  Xem phỏng vấn một người dân mất đất

http://www.youtube.com/watch?v=x9H0sZcL0Ng&feature=player_embedded

 

Theo lời kể của những người dân thôn Trung Sơn thì dường như cái dự án này quá có vấn đề, nó mờ ám và tạo sự đột ngột không kịp trở tay cho bà con, nó rớt xuống ruộng vườn của người dân ở đây giống như một nhát chém chí tử từ sau lưng.

Ông Tuấn, người trong thôn nói: “Dự án hình như có lâu lắm rồi, nhưng cho đến gần đây chúng tôi mới được biết. Và khi chúng tôi được biết thì người ta đã đổ đất sát vườn mình rồi, lúc này mình chỉ biết chịu trận, năm 2010, họ đến đây đo đạc và cho biết là sẽ di dời mình đi. Mình đi đâu thì cũng chưa biết. Ðời sống trở nên mơ hồ….”

Ông Ngô Văn Tước, một lão niên có mấy đời bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ở thôn này cho biết: “Dự án hơi bất ngờ, khi chúng tôi biết thì chuyện đã rồi, mọi sự đâu đã vào đó, chúng tôi chỉ biết gật đầu mà đồng ý. Nhưng lạ nhất là nơi chúng tôi ở thuộc về thành phố, nhưng giá đền bù đất như vậy thì quá thấp, mỗi mét vuông 102,000 đồng (tương đương $5.002), như vậy thì chúng tôi mua được gì, một mét vuông đất mua được chưa đầy 3 tô phở, có mà chết dân!”

Cái con số mà ông Tước nói là con số chung mà chúng tôi đã tham khảo ở gần một ngàn hộ gia đình ở đây, đây là con số gây bức xúc. Và cũng là con số khiến cho nhiều người có nhà có cửa trở nên mất trắng và có nguy cơ ở nhà thuê triền miên.

Một người đàn ông khác yêu cầu giấu tên, nói: “Ruộng trong Quảng Nam bây giờ có cần lấy đất để làm thì người ta cũng đền bù đến chín chục triệu đồng ($4,500) trên một sào (500m2), còn ở đây, giá đền bù ban đầu chỉ có hai mươi lăm triệu đồng cho một sào, thấp như cám heo vậy ai chấp nhận chứ?!”

“Ban đầu, nhiều người không biết, cứ nhận tiền đền bù, cuối cùng chẳng làm được gì, thử hỏi, mấy sào ruộng vốn là cái nơi để cày cấy mà sống cả mấy đời, con cái học hành, làm nhà, mua sắm cũng dựa vào đấy, bây giờ đem đổi thành mấy chục triệu đồng, tiền thì rớt giá liên tục, sống được bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng? Chết!”

“Gần đây, dân bất bình quá, lại thêm chuyện công ty, nhà thầu công trình thuê côn đồ lên đánh anh Tuấn, dân bức xúc, kéo nhau lên đập phá, tìm cho được mấy thằng mất dạy hại dân. May mà hôm đó không có tụi nó, nếu có, chúng tôi đã xử đẹp, tức nước thì vỡ bờ thôi!”

Theo những người dân trong thôn cho biết thì giá đất ruộng sau này có được áp giá mới trên đầu sào khá hơn một chút, từ 25 triệu đồng lên 27 triệu đồng, sau đó lên 32 triệu đồng và hiện tại là 35 triệu đồng. Nhưng tính theo giá vàng và vật giá leo thang thì mức nâng giá đền bù không giải quyết được gì, số tiền vẫn quá nhỏ. Riêng giá đất vườn thì vẫn vậy, 102,000 đồng trên một mét vuông.

Một mức giá rẻ hời, mỗi mét vuông đất mấy đời của dân còn thấp hơn giá một chiếc bánh Trung Thu loại vừa, ruột chứa hai trứng (giá từ 100 đến 180 ngàn đồng). Nhiều chiếc bánh Trung Thu cao cấp, nếu muốn mua, người dân Trung Sơn phải bỏ ra có khi cả chục mét vuông đất để mà có nó.

 

Chính sách biến mồ hôi và máu của dân thành chén cơm bịt miệng dân…

 

Một cán bộ ngành an ninh, mang lon thiếu tá, yêu cầu giấu tên, nói: “Cái dự án này giống như nuôi cá voi con vậy, khi bắt về từ biển, nó chỉ tốn công bắt và xăng dầu, khi bán ra, nó nặng hàng tấn, tiền cao ngất trời. Thì khi đền bù cho bà con, mỗi mét vuông đất chưa được một bữa ăn sáng của các quan, nhưng đến khi bán lại, đương nhiên là chỉ có đại gia mới mua nổi…”

“Hơn nữa đây là khu biệt thự sinh thái, nên cây cối bà con trồng sẵn mấy đời sẽ được tận dụng làm phối cảnh, và chắc chắn là giá đất ở đây sẽ lên cả vài chục triệu đồng trên một mét vuông, chắc chắn là vậy!”

Một kỹ sư công trình, đang làm việc tại công ty Trung Nam cho biết: “Ban đầu, dân bị lừa, vì hầu như toàn bộ thanh niên trong thôn được cho vào lao động trong công trình với mức lương từ 2 đến 3 triệu đồng mỗi tháng (tương đương $100- $150). Vốn là nông dân, được đi làm thì ai cũng thích. Chính vì sợ mất việc, nên khi biết mình bị ép mà vẫn phải nhún nhịn…”

“Thật ra, nếu làm một bài toán thì công ty này quá khôn trong chuyện này, một năm tiền lương cho mỗi người chưa đến ba chục triệu đồng, trong ba năm, tốn chín chục triệu đồng tiền một người lao động.”

“Nhưng ép giá đất xuống thấp còn chưa được một phần tư như vậy thì còn lãi chán. Mỗi người bị mất ít nhất cũng vài trăm triệu đồng tiền đền bù, lấy máu của ‘chính nó’ trả cho mồ hôi của ‘chính nó’ là một sách lược quá tàn nhẫn và tinh ranh, bịt miệng dân bằng chính chén cơm, mồ hôi và máu của họ!”

Vẫn còn rất nhiều trắc ẩn phía sau câu chuyện đất và người ở Hòa Liên, Hòa Vang, Ðà Nẵng. Xin kể ở bài sau!

 

.

.

.

 

CÁI CHẾT CỦA MỘT CỰU QUÂN NHÂN TRONG NHÀ TÙ Ở VIỆT NAM GÂY LO NGẠI (VOA)

Tháng Chín 15, 2011

 

Cái chết của một cựu quân nhân trong nhà tù ở Việt nam gây lo ngại

Melanie Brown | Hà Nội

Thứ Tư, 14 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnam-rights-09-14-2011-129814863.html

 

Tại một bệnh viện của nhà tù ở ngoại ô Hà Nội, cựu chiến binh và là tù nhân chính trị Trương Văn Sương đã chết chỉ 25 ngày sau khi bị đưa trở lại nhà tù sau 1 năm được tự do tạm vì lý do sức khỏe.

Cựu quân nhân 68 tuổi từng chiến đấu trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã bị bệnh tim nặng và huyết áp cao.

Phát ngôn viên của tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch Phil Robertson đã lên án nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ ông Sương trở lại.

Ông Robertson nói:”Bắt giữ trở lại một người bệnh nặng đến như vậy rõ ràng là vô nhân đạo và độc ác. Tôi cho rằng bộ Công An muốn dùng ông để dằn mặt những người khác.”

Ông Sương đã trải qua một nửa đời trong tù. Sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, ông bị đi tù cải tạo trong 6 năm. Phát ngôn viên Robertson nói rằng thời gian bị tù đầy dài như vậy có một ý nghĩa nào đó.

Ông Robertson cho biết tiếp: “Sự kiện ông bị tù từ năm 1975 đến năm 1981 cho thấy ông là một người bị chính phủ kế tiếp quan tâm đặc biệt. Đã có một sự kỳ thị có hệ thống nhắm vào các cựu quân nhân và công chức của chính phủ cũ tại miền Nam. Đã có sẵn một đánh giá để xem ai phải đi tù cải tạo dài hạn hay ngắn hạn.”

Sau khi được thả năm 1981, ông Sương đã trốn sang Thái Lan, nơi đây ông gia nhập Mặt Trận Thống Nhất của Lực Lượng Ái Quốc Giải Phóng Việt Nam. Tổ chức này nay đã giải thể, từng tìm cách vào Việt Nam 10 lần trong 3 năm. Hơn 20 thành viên đã bị bắt. Ông Sương bị bắt khi ông tìm cách đổ bộ vào bờ biển Nam Việt Nam năm 1983. Ông bị lãnh án tù chung thân. Trong một thông cáo báo chí gửi hãng tin Associated Press, bộ Ngoại giao Việt Nam đoan quyết rằng sức khỏe của ông Sương bình ổn khi ông bị đưa trở lại nhà tù.

Ông Nguyễn Minh Thuyết, một cựu đại biểu Quốc hội Việt Nam, cho biết thông thường các tù nhân bệnh quá nặng cần được cho phép chết ở nhà. Ông nói làm như vậy là hành xử theo tập tục của Việt Nam và an ủi cho cả tù nhân lẫn gia đình của họ. Ông Thuyết đồng ý là những quân nhân từng chiến đấu cho chế độ cũ của miền Nam đã bị đối xử bất công sau chiến tranh.

Ông Thuyết nói sau khi cuộc chiến kết thúc năm 1975, những người có lý lịch liên hệ tới cách mạng, như những công nhân hay binh sỹ, được đối xử ưu đãi hơn những người thành phố hay những người thuộc giai cấp trung lưu thấp. Ông nói đối xử tệ với những quân nhân từng chiến đấu cho miền nam hay các viên chức chính phủ cũ đã được giới hạn trong một khoảng thời gian. Ông nói thêm hiện nay những người hay thân nhân của họ từng phục vụ trong chính phủ cũ ở miền Nam không còn bị kỳ thị nữa.

Ông Sương là tù nhân chính trị thứ nhì chết trong nhà tù trong những tháng gần đây. Vào ngày 11 tháng Bảy, ông Nguyễn Văn Trại đã chết ở đông nam Việt Nam sau khi thọ án gần 15 năm vì tội chính phủ Việt Nam gọi là” trốn ra nước ngoài chống chính quyền nhân dân”.

Ông đã 74 tuổi và bị ung thư gan. Ông đã chết trước khi mãn hạn tù có 5 tháng. Theo phát ngôn viên của Human Rights Watch thì những tù nhân chính trị bị đau ốm nặng là những trường hợp ưu tiên cần phải được trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện. Ông nêu lên trường hợp của linh mục Nguyễn Văn Lý đã bị đưa trở lại nhà tù vào tháng Bảy sau khi được tạm tha trong một năm để chữa bệnh. Vị linh mục lớn tuổi này đã bị hai lần đột quị khiến ông bị liệt một phần thân thể.

Ông Robertson nói tiếp: “Tôi không hiểu tại sao bộ Công an lại nghi kỵ đến như vậy đối với những người chỉ hành xử quyền tự do bày tỏ ý kiến của họ. Theo quan điểm của tôi, nó phản ánh một mức độ thiếu tự tin trong bộ Công an, cho quyền kiểm soát xã hội của họ, đến nỗi họ cho rằng ngay cả những người già cả, ốm đau nặng cũng có thể khơi mào cho bất ổn hay bất mãn.”

Các quan sát viên quốc tế đang theo dõi sát vấn đề sức khỏe của linh mục Nguyễn Văn Lý.

 

.

.

.

LỜI MỚI THAM GIA BIỂU TÌNH NGÀY 17-09-2011 TẠI MUNCHEN (Nhóm khởi xường)

Tháng Chín 15, 2011

Lời mời Tham gia biểu tình ngày 17.09.2011 tại München

Nhóm khởi xướng

Cập nhật : 13/09/2011 23:15

http://www.diendan.org/BanDocVaZD/moi-bieu-tinh-17-09-2011/

 

DiễnĐàn : sau bức thư ngỏ kêu gọi Biểu tình chống hành động xâm lấn của chính quyền Trung Quốc viết ngày 25.08.2011 (xem phần dưới) chúng tôi xin công bố thêm lời mời tham gia biểu tình với một số thông tin mới. Đặc biệt có nơi ký kiến nghị gửi Thủ tướng Đức:

Kiến nghị phản đối chính sách bành trướng của TQ, gửi đến bà Thủ tướng CHLBĐ, Dr. Angela Merkel
http://www.thepetitionsite.com/9/stop-chinese-expansionism/

 

Xem thêm các thông tin cụ thể khác tại :
http://www.facebook.com/#!/event.php?eid=257747207580108

 

———————-

 

München, ngày 09.09.2011

Kính thưa quý đồng hương,

Trên tinh thần “Thư ngỏ” đề ngày 25.08.2011 và qua sự hỗ trợ nhiệt tình của rất nhiều anh chị em cộng tác, chúng tôi đã nhận được thêm sự hưởng ứng của một số đôngđồng hương đầy thiện tâm và uy tín cũng như rất nhiều quý vị ẩn danh từ nhiều thành phần khác nhau trong cộng đồng người Việt chúng ta. Nhờ đó công việc chuẩn bị cho cuộc biểu tình ngày 17.09.2011 đã có thể tiến hành thuận lợi và đang bước vào giai đoạn cuối.

Chúng tôi trân trọng kính nhờ quý vị tiếp tục hỗ trợ kêu gọi đồng hương và bạn bè, đồng nghiệp người Đức tại München và vùng phụ cận:

Hãy vì mụcđích chung bảo vệ tổ quốc Việt Nam, gác lại mọi hiềm khích, dịbiệt,

CÙNG NHAU MỘT LÒNG ĐOÀN KẾT XUỐNG ĐƯỜNG

phản đối hành vi bành trướng của chính quyền Trung Quốc vào ngày

Thứ bảy 17.09.2011 tại München
với biểu tình mở đầu tại Odeonsplatz (13 ─ 14 giờ)
sauđó tuần hành từ Odeonsplatz đến Marienplatz (14 ─ 14:45 giờ)
và biểu tình kết thúc tại Marienplatz (14:45 ─ 16 giờ)

Cuộc biểu tình này hoàn toàn mang tính cáchđộc lập và xuất phát từ lòng mong muốn của mỗi một cá nhân những người khởi xướng, tuyệt đối không theo sự chỉ đạo hay chịu ảnh hưởng của bất kỳmột tổ chức hay đoàn thể, đảng phái nào dù trong hay ngoài nước. Ngoài ra, những người khởi xướng cũng hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lý và tổ chức cho cuộc biểu tình.

Mục đích chính của cuộc biểu tình này là vạch trần và phản đối chính sách bá quyền và những hành động xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc trước công luận Đức. Để có thể chia sẻmột cách hiệu quả niềm ưu tưcủa chúng ta về tình hình biểnĐông nói riêng và cả khu vựcĐông Nam Á nói chung với người dân sởtại, và cùng lúc có thể tạo thiện cảm và sự đoàn kết của họ đối với đất nước Việt Nam, chúng ta rất cần một phương thức biểu tình phù hợp:

 

Về nội dung: tập trung vào việc vạch trần và phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc trong ýđồ và động thái bá quyền xâm lược.

 

Về hình thức:đoàn kết và ôn hòa, một mặt để biểu thị sự đoàn kết vững mạnh của cộngđồng người Việt tại München và các vùng phụ cận, mặt khác để nêu cao tinh thần yêu chuộng hòa bình và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam mà tất cả chúng ta đều là những người đại diện.

 

Kính thưa quý vị,

để thực hiện thành công các tiêu chí trên, chúng tôi xin được gửi đến quý vị

một vài hướng dẫn cho việc tham gia cuộc biểu tình:

Xin vui lòng tiếp tục chuyển lời mời này đến tay tất cả thân hữu, đồng nghiệp, bạn bè người Việt cũng như người Đức và vận động họ cùng tham gia.

Hoàn toàn không sử dụng bất kỳ lá cờ nào dưới mọi hình thức (cờ, mũ, áo, khăn quàng, cà-vạt, huy hiệu, v.v…) mà chỉ dùng bản đồ Việt Nam làm biểu tượng đất nước trong suốt thời gian biểu tình.

Chỉ sử dụng những biểu ngữ, truyền đơn v.v. với nội dung bày tỏ lòng yêu nước, phản đối mưu đồxâm lược của chính quyền Trung Quốc ở biển Đông, cũng như lên án hành vi gây hấn của họ gần đây, ưu tiên dùng tiếng Đức và tiếng Anh trên các biểu ngữ và truyền đơn.

Đề nghị quý vị phụ nữ, các cháu gái mặc trang phục áo dài truyền thống.

Không hô khẩu hiệu mang tính cách đả kích, hầu thể hiện tính cách ôn hòa của cuộc biểu tình, tương thích với bản sắc văn hóa Việt Nam chúng ta.

Cùng đồng ca những bài hát cộng đồng nêu cao tinh thần dân tộc.
Chúng tôi rất trân trọng tất cả sự ủng hộ và đóng góp trực tiếp hay gián tiếp từ mọi giới trong cộngđồng người Việt chúng ta, đặc biệt từ những vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo và quý vị có thiện tâm và uy tín trong cộng đồng. Sự thành công của cuộc biểu tình sẽ là thành quả của tất cả mọi người trong chúng ta.
Trân trọng cám ơn và kính chào,

Những người khởi xướng buổi biểu tình (xếp theo thứ tự tên gọi)

Lê Văn Cát, Hồ Thành Công, Hồ Viết Đoan, Nguyễn Nam Hòa, Nguyễn Nguyên Kỷ, Bùi Quang Lộc, Nguyễn Anh Tuấn
Liên lạc: info@trexanh.de


Phụ lục 1: Danh sách những biểu ngữ sẽ dùng trong buổi biểu tình

STOPPT DIE EXPANSIONSPOLITIK VON CHINA IN SÜDOSTASIEN! / STOP CHINA’S EXPANSIONISM IN SOUTH EAST ASIA!

CHINA MUSS UNRECHTMÄSSIG BESETZTES TERRITORIUM VIETNAMS ZURÜCKGEBEN! / CHINA MUST STOP INVADING VIETNAM’S LAND AND SEA!

SPRATLY AND PARACEL ISLANDS BELONG TO VIETNAM! / SPRATLY- UND PARACEL-INSELN GEHÖREN ZU VIETNAM!

CHINA MUSS DAS TÖTEN VIETNAMESISCHER FISCHER SOFORT STOPPEN! / CHINA MUST STOP KILLING OF VIETNAMESE FISHERMEN!

CHINA MUSS DAS INTERN. SEERECHTSABKOMMEN RESPEKTIEREN! / CHINA MUST RESPECT INTERN. SEA CONVENTION (UNCLOS 1982)!

CHINAS EXPANSIONSPOLITIK IST EINE BEDROHUNG FÜR DEN WELTFRIEDEN! / CHINA’S EXPANSIONISM IS A THREAT TO WORLD PEACE!

 

Phụ lục 2: Danh sách những bài hát cộngđồng sẽ dùng trong buổi biểu tình

VIỆT NAM, VIỆT NAM! (Phạm Duy)

NỐI VÒNG TAY LỚN (Trịnh Công Sơn)

ĐÁP LỜI SÔNG NÚI (Trúc Hồ)

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG NGẠO NGHỄ(Nguyễn Đức Quang)

BẠCH ĐẰNG GIANG (Lưu Hữu Phước)

QUYẾT TIẾN (Võ Đức Thu)

 

Kiến nghị phản đối chính sách bành trướng của TQ, gửi đến bà Thủ tướng CHLBĐ, Dr. Angela Merkel
http://www.thepetitionsite.com/9/stop-chinese-expansionism/

———————————-

 

DiễnĐàn : Chúng tôi vừa nhận được bức thư ngỏ này từ một số thân hữu tại Đức. Thư kêu gọi mọi người Việt tại München và các vùng phụ cận tham gia biểu tình ngày 17-09 sắp tới để chống hành động xâm lấn của chính quyền Trung Quốc. Xin nhiệt liệt hoan nghênh.

 

München, ngày 25.08.2011

 

Thư ngỏ
Biểu tình chống hành động xâm lấn
của chính quyền Trung Quốc

 

Kính thưa quý đồng hương người Việt hiện sinh sống, học tập và làm việc tại München và các vùng phụ cận.

Những năm gần đây chính quyền Trung Quốc ngày càng để lộrõ dã tâm muốn thôn tính toàn bộ khu vực biển Đông mà họngang ngược tuyên bố chủ quyền với cái gọi là đường chín đoạn hình lưỡi bò.Điều này đi ngược lại mọi lý lẽ và luật pháp, kể cảcông ước quốc tế về luật biển. Riêng đối với Việt Nam, sau khi chiếm đóng phi pháp quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa, chính quyền Trung Quốc cònđơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá cả trên lãnh hải Việt nam, rất nhiều lần bắt giữ trái phép và hành hung ngư dân Việt, gây thiệt hại về tàu thuyền và thủy sản. Cuối năm 2007, chính quyền Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam. Gầnđây nhất, họ đã hai lần liên tiếp cho tàu vũ trang xâm nhập trắng trợn lãnh hải Việt Nam, phá hoại tài sản và ngăn cản các tàu dầu khí và địa chấn nước ta hoạt động.

 

Những hành động với ý đồ xâm lược rõ rệt này đã làm cho mọi người dân Việt trong và ngoài nước, cũng như tất cảbạn bè quốc tế, hết sức phẫn nộ. Để phản đối và lên án những hành động gây hấn bạo lực, trong thời gian vừa qua những cuộc biểu tình quy mô đã diễn ra liên tiếp trong và ngoài nước.Những cuộc biểu tình này đã đánh thức và gây tiếng vang lớn trong dư luận quốc tế.

 

Chúng ta, tất cả người Việt tại München và vùng phụ cận

hãy tiếp nối tinh thần đó, đồng loạt đứng lên phảnđối thái độ bá quyền của chính quyền Trung Quốc, là mầm mốngđe dọa hòa bình và ổn định của cả khu vực Đông Nam Á và thế giới.

hãy cùng kêu gọi thân hữu, đồng nghiệp và bạn bè người Đức và các sắc dân khác hỗ trợchúng ta vạch trần mưu đồ bành trướng và những hành động bạo ngược của chính quyền Trung Quốc trước nhân dân và chính giới Đức cũng như bạn bè quốc tế.

không thể làm ngơ trước sự an nguy củađồng bào ngư dân Việt Nam vùng duyên hải. Không thể bỏ mặc cho người khác chiếmđoạt tài nguyên quốc gia trước thềm lục địa.

hãy vì mục đích chung bảo vệ tổquốc, gác lại mọi hiềm khích, dị biệt, CÙNG NHAU MỘT LÒNG ĐOÀN KẾT XUỐNG ĐƯỜNG kiên quyết gửi đến chính quyền Trung Quốc những thông điệp sau:

o yêu sách đường lưỡi bò của họ là hoàn toàn phi lý và phi pháp – phải tôn trọng công ước quốc tế,

o Trung Quốc phải trảlại Việt Nam hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã chiếm giữbất hợp pháp vào năm 1974 và 1988

o dân tộc Việt Nam yêu chuộng và mong muốn hòa bình, nhưng một lòng đoàn kết và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đến cùng biên cương bờ cõi.

 

Ngày giờ và địa điểm cuộc biểu tình: Thứ bảy 17.09.2011

biểu tình mở đầu tại Odeonsplatz (13 ─ 14 giờ)
sau đó tuần hành từ Odeonsplatz đến Marienplatz (14 ─ 14:45 giờ)
biểu tình kết thúc tại Marienplatz (14:45 ─ 16 giờ)

 

Phương thức tổ chức: Xin quý thân hữu và đồng hương vui lòng

chuyển giúp thư ngỏ này đến tay tất cả thân hữu, đồng nghiệp và bạn bè của mình và vận động họ cùng tham gia,

tuyệtđối không dùng cờ mà chỉ dùng bản đồ Việt Nam làm biểu tượng quốc gia trong buổi biểu tình,

chỉsử dụng những biểu ngữ, truyềnđơn v.v. với nội dung bày tỏ lòng yêu nước, phản đối mưu đồxâm lược của chính quyền Trung Quốc ở biển Đông, cũng như lên án hành vi gây hấn của họ gầnđây.

Ngoài ra, để giúp dân chúng nước sở tại thấu hiểu mục đích của cuộc biểu tình, chúng ta ưu tiên dùng tiếng Đức và tiếng Anh trên các biểu ngữ và truyềnđơn.

 

Khởi xướng: bởi một số cá nhân độc lập tại München, không đại diện cho một hội đoàn, tổ chức hay nhóm hội nào. Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ của tất cả quý thân hữu và đồng hương để cùng tổ chức thành công buổi biểu tình sắp tới.

 

Lê Văn Cát, Hồ Thành Công, Hồ Viết Đoan, Nguyễn Nam Hòa,
Nguyễn Nguyên Kỷ,Bùi Quang Lộc, Nguyễn Anh Tuấn

Liên lạc: lienlac@trexanh.dehoặc info@trexanh.de

 

Danh sách các nhân sĩ tiêu biểu ủng hộ buổi biểu tình

 

Dr. Vũ Thế Cường (München)

Đặng Dũng (Dachau, đạo diễn sân khấu)

Phạm Thế Hanh (Puchheim, Trainer của Tanztreff München)

Phạm Hoàng (München, nhà báo)

Nguyễn Thảo Hương – Jazzy Dạ Lam (Kirchheim, nghệsĩ)

Nguyễn Văn Lạc (München)

Dr. Thái Kim Lan (München, nhà hoạt động văn hóa)

Linh mục Lê Thanh Liêm (München)

Đoàn Mạnh Phát (München, Trainer của Tanztreff München)

Chưtăng chùa Phổ Bảo (München)

Nguyễn Thị Phương (Nürnberg)

TạThiên Thanh (München, ca sĩ)

Lê Quang Thành (Eichenau, chủ nhân Handwerksbetrieb)

Phạm Lâm Thao (München, Chủ tịch Hội đồng hương Thái Bình – vùng Nam Đức)

Nguyễn Thanh Thủy (Fürstenfeldbruck, nghệ sĩ)

Phạm Minh Tín (Fürstenfeldbruck)

Nguyễn Minh Trí (München)

Trần Tú Trinh (München, Phật tử)

Mục sư Nguyễn Quang Vinh (München)

 

.

.

.

MỘT VÀI CÂU HỎI VỀ TƯỚNG GIÁP (Phạm Cao Dương)

Tháng Chín 14, 2011

 

Một vài câu hỏi về tướng Giáp 

Phạm Cao Dương

Gửi cho BBCVietnamese.com từ California

Cập nhật: 12:09 GMT – thứ tư, 14 tháng 7, 2010

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/07/100714_vo_nguyen_giap_pcduong_forum.shtml

 

Tướng Giáp sinh năm 1911, năm nay 99 tuổi. Ông đã vượt xa tuổi cổ lai hy và sẽ đạt tuổi một trăm trong vòng một năm nữa, hay đã đạt rồi tùy theo cách tính tuổi ta hay tuổi tây, một tuổi rất hiếm người thường có thể đạt được.

 

Mục tiêu chính của tôi là nhân dịp này nhận định rõ hơn về vai trò và sự đóng góp vô cùng quan trọng của Võ Nguyên Giáp trong lịch sử Việt Nam thời giữa thế kỷ trước.

Đặc biệt là trong sự thiết lập và củng cố chính quyền Cộng Sản Việt Nam, trong những năm đầu của chính quyền này cũng như vai trò của ông trong việc diệt trừ các đảng phái đối lập và việc đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đến cuộc chiến tranh kéo dài cả ba chục năm trời với hàng triệu người thương vong.

Tôi không đề cập ở đây tới sự nghiệp quân sự của Võ Nguyên Giáp như một danh tướng của Cộng Sản Việt Nam, mà còn là của thế giới, một đề tài đã được quá nhiều người, Việt Nam cũng như ngoại quốc viết, đồng thời chính ông cũng đã viết dù là tự tay hay qua các thuộc cấp.

Sự nghiệp quân sự này đã che lấp những công lao khác mà ông đã đóng góp cho Đảng Cộng Sản Việt Nam trong những năm bốn mươi của lịch sử đảng này.

Do đó, tôi sẽ chú trọng vào những năm đầu của thời kỳ cầm quyền của ông với tư cách là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Chính Phủ Lâm Thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ Chí Minh.

 

Và sau đó là Chủ Tịch Quân Sự Ủy Viên Hội trong Chính Phủ Liên Hiệp Quốc Gia với Hồ Chí Minh làm Chủ Tịch và Nguyễn Hải Thần làm Phó Chủ Tịch sau đó là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Cải Tổ tháng 11 năm 1946.

Đây là khoảng thời gian ít được người ta chú ý nhưng vô cùng quan trọng vì nó tương xứng với thời kỳ đầu của chế độ Cộng Sản ở Việt Nam trước và sau khi Việt Minh cướp được chính quyền.

Trong thời gian này Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò then chốt trong nhiều sinh hoạt khác nhau, từ chính trị, hành chánh đến an ninh, quân sự và luôn cả ngoại giao.

Không có ông, Việt Minh khó có thể giữ được chính quyền sau ngày 19 tháng 8 năm 1945 và không có ông chưa chắc cuộc chiến Đông Dương Lần Thứ Nhất đã xảy ra.

 

‘Những cuộn dây thừng’

 

Trước hết là thời gian trước khi Việt Minh cướp chính quyền, theo ngôn ngữ của người Việt Quốc Gia, hay trước ngày khởi nghĩa, theo ngôn ngữ của người Cộng Sản.

Võ Nguyên Giáp là người đã xây dựng nên những đội tự vệ ở các xã miền núi hay những đội võ trang tuyên truyền đầu tiên của Việt Minh sau đó.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao lại võ trang? Võ trang để chống Nhật hay chống Pháp hay võ trang để khủng bố tinh thần của những người Việt Nam, đối tượng chính của công tác tuyên truyền, để bắt buộc họ phải theo Việt Minh, nếu không thì sẽ bị bắt trói và “beng đầu”?

Mục tiêu thứ ba đã được nhiều người coi là chính vì chuyện dọa dẫm, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu… đã xảy ra rất nhiều và đã được Bác Sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người được coi là đã thay thế Khâm Sai Phan Kế Toại ngày Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, nói tới như là một trong những nguyên nhân của sự thành công của Việt Minh trong biến cố 19 tháng 8 năm 1945.

Nó cũng được Nguyễn Tường Bách kể lại trong hồi ký của ông này qua lời đe dọa mà Dương Đức Hiền thuộc Đảng Đân Chủ nói với ông Bách và nhà văn Khái Hưng.

Điều này phù hợp với những gì Tướng Giáp viết trong hồi ký của ông, trong đó ông nói tới “những cuộn dây thừng” mà mỗi đội viên tự vệ bắt buộc phải có để “bắt Việt gian”.

 

Phải chăng chính sách khủng bố ở Việt Nam bằng cách gán cho nạn nhân hai tiếng Việt gian và sau này là phản động, đã bắt đầu ngay từ những năm này và Võ Nguyên Giáp là người đầu tiên thực hiện theo những kinh nghiệm của Nga hay của Tàu qua những cuốn sách nhỏ in li-tô mà tác giả hay dịch giả là Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và chính Võ Nguyên Giáp?

 

Điều nên nhớ là sau này, trong những năm đầu của Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam, thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chủ trương thủ tiêu, ám sát lại được những người Cộng Sản tiếp tục thực hiện hướng vào những người đứng đầu các xã ấp với hơn 800 viên chức bị sát hại trong năm 1957.

Sau đó chỉ riêng trong năm 1961, con số này đã tăng lên tới trên 4.000. Sau nông thôn là các thành thị và ngay ở thủ đô Sai Gòn và Tết Mậu Thân ở Huế.

“Sát nhất nhân vạn nhân cụ” tới một mức nào đó đã được Việt Minh áp dụng để cướp chính quyền năm 1945 vì nó đã làm tê liệt rồi tan rã guồng máy hành chính và an ninh của chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim ở khắp nơi trong nước, đồng thời giúp cho Việt Minh dùng đám đông học hành kém cỏi và tính tình nông nổi để diệt trừ đối lập.

 

‘Thiếu minh bạch’

 

Cũng thuộc giai đoạn khởi đầu cho sự nghiệp của Tướng Giáp này, gia thế của ông cũng như những chi tiết liên hệ tới ông hồi ông còn đi học, kể cả việc ông học luật ở Hà Nội, đối với một người bình thường là những gì thân yêu luôn luôn được tưởng nhớ hay nhắc đến, đã bị ông ít khi hay hầu như tránh né không đề cập.

Một thí dụ điển hình là ông đã học tới đâu ở trường luật. Các tác giả viết về ông đã nói khác nhau. Người nói ông đã đậu tiến sĩ kinh tế, người nói ông đậu cử nhân luật năm 1937, rồi tiến sĩ năm 1938, người nói ông chưa học xong cử nhân, người nói ông mới học xong năm thứ hai, sau đó thi chứng chỉ luật hành chính để sửa soạn ra làm tri huyện nhưng bị rớt.

Và vì mộng làm quan của ông không thành nên ông đã dứt khoát, quyết định từ bỏ tất cả theo Cộng Sản qua đại diện của đảng này là Hoàng Văn Thụ để cùng với Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc vào năm 1940, mở đầu một giai đoạn mới trong đời mình.

Cũng nên để ý là trong thời gian ở Hà Nội này, Võ Nguyên Giáp chưa có một nghề chuyên môn và một việc làm nhất định. Việc dạy ở trường Thăng Long của ông chỉ là tạm thời và bán thời gian.

Ông đã phải nương nhờ rất nhiều vào Đặng Thai Mai, kể cả ở nhà ông này để sống qua ngày. Trong hoàn cảnh như vậy, chuyện ông học luật rồi lựa thi luật hành chính để ra làm tri huyện có lý do của nó và nếu ông đậu thì cuộc đời của ông đã đổi khác và lịch sử Việt Nam cũng đã có thể đổi khác.

 

Người ta sẽ có một ông Huyện Giáp vô danh của đầu thập niên 1940 thay vì một Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp trong Chính Phủ Lâm Thời Hồ Chí Minh hay một Đại Tướng Võ Nguyên Giáp về sau này, y hệt trường hợp của Hồ Chí Minh khi ông này làm đơn xin vô học trường Thuộc Địa của Pháp non ba chục năm trước, năm 1911.

 

Điều nên biết thêm là, theo một vài tác giả, sinh viên Võ Nguyên Giáp thích môn kinh tế học và không thích luật hành chính. Sau này các thầy dạy hay giám khảo về kinh tế học của ông như Grégoire Khérian, Gaeton Pirou… đều cho biết là ông rất xuất sắc về môn này.

Tuy nhiên, khác với nhiều người khác, đặc biệt là Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, luôn luôn ăn mặc chỉnh tề, lúc nào cũng sơ-mi trắng, cổ thắt ca-vát, mình mặc veston và quần mầu nhạt, đầu đội mũ dạ, chân đi giầy… như một công chức cao cấp, kể cả khi ở chiến khu, lúc gặp các sĩ quan Mỹ của cơ quan OSS, bên cạnh Hồ Chí Minh mặc quần soọc, áo sơ-mi nhầu nát, chân đi dép có quai.

Lối ăn mặc này đã được những người ngoại quốc gặp ông chú ý và miêu tả và đã được ông giữ rất lâu về sau này, ít ra là cho đến khi ông được phong quân hàm đại tướng.

 

Sau bộ đồ Tây là bộ quân phục đại tướng, buổi đầu là kaki màu cứt ngựa của bộ đội và cuối cùng là lễ phục màu trắng, thật trắng là thẳng nếp với đầy đủ phù hiệu và huy chương mỗi khi xuất hiện hay in trên bìa sách, kể cả khi chỉ là để được phỏng vấn.

Phải chăng lối ăn mặc này, cộng thêm với những căn bản giáo dục đại học và cuộc sống trí thức, tiểu tư sản bên cạnh sự thành công quá lớn của ông đã khiến cho ông bị những thành phần lãnh đạo khác không ưa và đã cản bước tiến của ông trong vai trò lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, dù cho ông là người có khả năng nhất và ngay từ đầu đã đóng góp nhiều nhất cho đảng này.

Phải chăng cũng vì vậy mà ông đã ít khi, nếu không nói là không bao giờ đề cập tới thời còn đi học của ông, chưa kể tới mối liên hệ giữa ông và Louis Marty, trùm mật thám Pháp.

Người này đã đỡ đầu ông và giúp ông hoàn tất bằng tú tài I, rồi vô Trung Học Albert Sarraut để lấy nốt bằng tú tài Tây II, thay vì học trường bảo hộ và đỗ tú tài bản xứ, rồi vào trường Luật như đa số các thanh niên Việt Nam khác.

 

‘Diệt trừ đối lập’

 

Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp được cử làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Chính Phủ Lâm Thời do Việt Minh thành lập với Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng ngoại giao.

Ở địa vị này ông đã giúp chính quyền mới củng cố được vị thế của mình từ trung ương đế địa phương bằng cách qui tất cả về một mối, vào lúc từ Hồ Chí Minh đến các bộ trưởng và các nhà lãnh đạo Cộng Sản khác mới chân ướt chân ráo về Hà Nội, sau khi cướp được chính quyền trong tình trạng tất cả đều “chưa quen với kỹ thuật hành chính”, theo nhận định của chính Hồ Chí Minh.

Võ Nguyên Giáp, với kiến thức của một giáo sư sử – địa được học từ các cuộc cách mạng khác nhau trên thế giới trước đó, nhất là Cách mạng Pháp, về luật hành chính mà ông học được ở trường luật để ra làm tri huyện, với trí thông minh, lòng cương quyết và nhiệt thành đến độ tàn bạo của ông, đã hoàn thành được trách nhiệm của mình.

Một trách nhiệm không phải chỉ là của một bộ trưởng bộ nội vụ mà là của một phó thủ tướng đặc nhiệm nhiều bộ khác nhau, chưa kể vai trò ngoại giao với người Mỹ, nguời Pháp và luôn cả các tướng Tàu, một cách toàn hảo.

Dưới sự điều động của ông và của hai cộng sự viên thân cận nhất của ông là Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam, hệ thống hành chính thời quân chủ cũ với các tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, tri phủ, tri huyện, chánh phó tổng, lý trưởng, xã trưởng… đã chính thức bị bãi bỏ.

Chúng được thay thế bằng các ủy ban hành chính, ủy ban nhân dân, sau đó uỷ ban hành chính, kháng chiến với các chủ tịch, các tỉnh ủy, huyện ủy, xã ủy v.v…

 

Biến cố 19 tháng 8 hay Việt Minh Cướp Chính Quyền, mà nhiều người thận trọng không muốn gọi là Cách mạng sau ngày 2 tháng 9 đã chấm dứt và một cuộc cách mạng đã thực sự bắt đầu, qua sự bãi bỏ và thay thế trong tổ chức và trong mọi sinh hoạt thuộc phạm vi hành chính này.

Tất cả đã không còn đảo ngược được nữa, kể cả về sau trong các vùng Quốc Gia dưới thời Quốc Trưởng Bảo Đại hay ở miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa.

Hệ thống quan lại với guồng máy vận hành và lối sống của thời quân chủ của nó mà nhiều người đã sai lầm gọi là thời phong kiến cho phù hợp với luận thuyết về lịch sử của chủ nghĩa Mác-xít, đã hoàn toàn trở thành của quá khứ.

Tuy nhiên, sự thay thế hệ thống hành chính cũ bằng một hệ thống hành chính mới qua tổ chức kể trên chưa đủ. Nó cần phải có một nguồn nhân sự mới có đủ khả năng về kiến thức, về tư cách và đạo đức đi kèm.

Nguồn nhân sự này hoàn toàn không có hay không đủ nhất là ở cấp cơ bản để thay thế cho các tri phủ, tri huyện và các tổng lý thời xưa ở các địa phương.

 

‘Hỗn quân, hỗn quan

 

Lợi dụng lúc hỗn quân, hỗn quan người ta đã tìm cách để trả tư thù, sách nhiễu của cải, tiền bạc, cướp vợ, cướp con của nhau, vu nhau là Việt gian để giết hại bằng cách này hay cách khác v.v…

Điều này đã xảy ra rất nhiều đến độ Hồ Chí Minh, trong Thư gửi cho Ủy Ban Nhân Dân các Kỳ, Tỉnh, Huyện và Làng đề ngày 17 tháng 10 năm 1945, phải nêu ra sáu điều sai phạm trầm trọng mà các cán bộ Việt Minh đã phạm phải nhằm sửa sai.

Đó là trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ và kiêu ngạo trong đó trái phép được ghi lên đầu và được chỉ rõ là “vì tư thù, tư oán mà bắt bớ và tịch thu tài sản của dân làm cho dân oán than”.

Câu hỏi được đặt ra là có bao nhiêu người đã bị hàm oan và chết oan trong thời gian mấy tháng sau ngày 19 tháng 8 và trong thời gian chiến tranh sau này ngoài những nhân vật tên tuổi như Phạm Quỳnh, cha con Ngô Đình Khôi, Tạ Thu Thâu, Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Phật Giáo Hòa Hảo…?

Chỉ cần trước đó nạn nhân đã từng làm việc cho Tây, cho Nhật, làm quan lại hay tổng lý cho Chánh Phủ Nam Triều và có người tố cáo là đủ để bị bắt và bị mang đi mất tích hay bị giết một cách dễ dàng.

Lẽ tất nhiên sau một cuộc cách mạng rất khó cho những người mới lên cầm quyền làm chủ được hoàn toàn tình hình an ninh ở trong nước.

Hoàn cảnh của người Cộng Sản Việt Nam từ sau ngày 19 tháng 8 năm 1945 và kéo dài cho đến ít ra là ngày 19 tháng 12 năm 1946 còn khó khăn gấp bội vì ngoài những khó khăn về kinh tế, tài chánh… họ còn phải đối phó các đảng phái Quốc Gia đối lập, với các đồng minh.

Đặc biệt họ phải đối phỏ với sự hiện diện của trên 180.000 quân đội Tàu của Tưởng Giới Thạch với chủ trương ủng hộ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội chống lại Việt Minh đang cầm quyền và quân Pháp theo chân quân Anh trở lại xứ Nam Kỳ và sau đó tiến ra Bắc.

 

‘Mười người chết chín’

 

Vô cùng phức tạp nhưng vấn đề không phải chỉ đơn giản có thế vì dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, chủ trương của Việt Minh không phải chỉ là để chia sẻ hay cướp chính quyền mà là để xây dựng một xã hội khác mà họ cho là tốt đẹp hơn dù cho mười người chết chín, như lời của đại diện Việt Minh nói với Thủ Tướng Trần Trọng Kim trong một cuộc gặp gỡ không lâu trước ngày 19 tháng 8.

Võ Nguyên Giáp qua vai trò Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ lúc đầu và Chủ Tịch Quân Sự Ủy Viên Hội rồi sau Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng, về sau đã đóng vai trò then chốt trong việc tiêu diệt các thành phần đối lập, những “thù trong, giặc ngoài” và giữ vững chế độ.

 

Từ rất sớm, Bộ Trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp, trước khi các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội từ Trung Quốc trở về và một cách hoàn toàn hợp pháp với những phương tiện do người Pháp để lại, đã cho bắt rất đông những đảng viên Quốc Dân Đảng từ trước vẫn hoạt động ở trong nước.

Những người này đa số là những giáo viên tiểu học, những thừa phái, lục sự, những nhân sĩ địa phương, những tổng lý…, hay những người có ảnh hưởng lớn ở các địa phương, nói cách khác là những thành phần được cho là nguy hiểm vì có thực lực và trực tiếp đe dọa sự tồn vong của chế độ mới, giam họ ở các ty liêm phóng tại các tỉnh hay thủ tiêu họ.

Chiến dịch này nhằm triệt hạ các hạ tầng cơ sở của các đảng khác và những người không bị giết đã bị giam giữ cho mãi đến khi có chính phủ liên hiệp mới được thả…

Ngay tại Hà Nội và giữa Đại Học Xá Đông Dương, Chủ Tịch Sinh Viên Đại Học này là Phan Thanh Hòa cũng đã bị bắt cùng với một sinh viên khác là Đặng Vũ Trứ mang đi mất tích với tin đồn là sau đó hai ông đã bị đưa sang một căn nhà ở Gia Lâm và bị ném lựu đạn giết chết.

Công tác diệt trừ đối lập này đã đạt tới cao điểm của nó vào tháng 7 năm 1946, sau khi quân đội Trung Hoa Quốc Gia của Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam và trong thời gian Hồ Chí Minh sang Pháp.

Tất cả các trụ sở chính của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Hà Nội đã bị công an bao vây, lục soát, đặc biệt là trụ sở ở đường Ôn Như Hầu. Tại những nơi đó tất cả các đảng viên của đảng này đã bị bắt và mang đi mất tích.

Tên tuổi của nhiều người sau này đã được ghi rõ. Riêng ở trụ sở Ôn Như Hầu, Võ Nguyên Giáp không những đã đích thân có mặt mà còn đưa cả Xử Lý Thường Vụ chủ tịch kiêm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Huỳnh Thúc Kháng đến chứng kiến.

Câu hỏi được đặt ra là vào thời điểm này Chính Phủ Liên Hiệp vẫn còn và Võ Nguyên Giáp không còn là bộ trưởng bộ nội vụ nữa, vậy với tư cách gì ông đã đến hiện trường rồi lại còn mang theo cả Huỳnh Thúc Kháng nữa?

Sự kiện này, kèm theo với nhiều dữ kiện khác như thời điểm xảy ra biến cố, với sự vắng mặt của Hồ Chí Minh, với lệnh thi hành đến từ Thường Vụ Đảng Cộng Sản thay vì từ Bộ Nội Vụ mà chính Huỳnh Thúc Kháng, giữ chức Bộ Trưởng bộ này, mãi đến khi được Võ Nguyên Giáp dẫn đến hiện trường sau khi mọi chuyện đã xảy ra, mới được biết.

Những gì sau đó được trưng bày cho dân chúng vào xem cũng như những lời buộc tội… cho thấy những gì Tướng Giáp ghi trong hồi ký của ông có nhiều điều không ổn nếu không nói là quá sơ đẳng so với trình độ học vấn của ông.

Đó là chưa cần nói tới những bằng chứng được phía người Việt Quốc Gia đưa ra để bác bỏ hai công điện của Lãnh Sự Mỹ James L. O’Sullivan gửi Bộ Ngoại Giao Mỹ đề ngày 01 và 26 tháng 7 năm 1946.

Tức là chỉ hơn mười ngày sau đó, với nội dung về sự kiện quân đội của ông Giáp càn quét các căn cứ của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở miền đỉnh châu thổ Sông Hồng, đặc biệt ở vùng Việt Trì và tất nhiên ở Hà Nội.

Con số những nạn nhân của đợt càn quét này được ước lượng lên tới 15 ngàn người.

 

‘Nhà Ngoại Giao’

 

Như đã đề cập, trong chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh là Chủ Tịch và kiêm nhiệm Bộ Ngoại Giao, Võ Nguyên Giáp là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Nhưng trong những ngày đầu Tướng Giáp đã làm luôn công việc ngoại giao.

Ông đã đóng vai trò chính yếu trong việc đón tiếp các nhân vật quan trọng của các nước trong đó có Archimedes Patti của phái bộ OSS Mỹ ở Trung Quốc, Jean Sainteny và Đại Tướng Leclerc của Pháp v.v… với tư cách là một bộ trưởng trong chính phủ và đại diện cho Chủ Tịch Hồ Chí Minh trước khi những nhân vật này chính thức được Hồ Chí Minh tiếp kiến, thay vì các công chức cao cấp khác của Bộ Ngoại Giao dưới quyền trực tiếp của ông Hồ ở bộ này theo thủ tục thông thường.

Sau này trong việc điều đình với người Pháp ở Hải Phòng, Hà Nội hay Đà Lạt, ông cũng đóng vai trò chủ chốt với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam.

Điều này dễ hiểu vì ngoài hai người bạn thân thiết này của ông, những người làm ở Bộ Ngoại Giao thời đó đều có gốc là những công chức cao cấp thời Pháp, giỏi tiếng Pháp hay có thể cả tiếng Anh, quen tiếp xúc với người Pháp nhưng không được tin cậy và không phải là đảng viên Cộng Sản.

Còn những đảng viên cao cấp khác của đảng này như Trường Chinh, Trần Huy Liệu, ngay cả Phạm Văn Đồng… không hội đủ những điều kiện cần thiết mà Võ Nguyên Giáp có.

Tướng Giáp trong những cuộc gặp gỡ này đã tỏ ra rất thông thạo tiếng Pháp, tự tin và có khả năng thuyết phục được các đối phương của mình. Điển hình là cuộc tiếp xúc đầu tiên với Sainteny có sự hiện diện của Patti và được Patti kể lại.

Riêng về cách trình diễn bề ngoài, cách ăn mặc với cái mũ phớt đặc biệt của ông đã gây ấn tượng cho đối thủ của ông không ít, bên cạnh một bộ mặt ít khi mỉm cười của ông.

Cũng trong buổi gặp Sainteny này, theo Patti, Võ Nguyên Giáp đã đến bằng một công xa đen bóng, có vệ sĩ mặc quân phục đeo tiểu liên Sten xuống mở cửa và một vệ sĩ khác nghiêm chào. Chiếc công xa này được biết là của Toàn Quyền Đông Dương cũ.

Câu hỏi đặt ra là với những khả năng và kinh nghiệm mới đạt được thêm như vậy, tại sao Võ Nguyên Giáp đã không lãnh hay không được cử hướng dẫn phái đoàn Việt Nam đi dự Hội Nghị Fontainebleau mà thay vì lại là ông Phạm Văn Đồng.

Ông Đồng cho đến thời điểm đó vẫn còn là một nhân vật vô danh đối với các giới chức ngoại quốc ở Hà Nội thời bấy giờ và chưa có chút kinh nghiệm đàm phán nào, còn về khả năng cá nhân thì thua Tướng Giáp.

 

‘Gây ra chiến tranh?’

 

Câu hỏi “liệu Võ Nguyên Giáp có phải là người đã gây ra chiến tranh Việt – Pháp” được đặt ra vì trong những ngày tháng cuối cùng trước khi cuộc chiến bùng nổ, Hồ Chí Minh đi Pháp, không có mặt ở nhà.

Sau đó khi về nước ông lại bị đau ốm (?) theo lời Sainteny, nằm một chỗ. Võ Nguyên Giáp đã đóng vai trò chính yếu, quyết định tất cả, Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ Tịch, chỉ là để ký giấy tờ.

Trong việc giao thiệp với người Pháp, tướng Giáp, với Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam phụ giúp đã làm và quyết định mọi việc.

Đây là một dịp rất tốt để ông từng bước thực hiện giấc mơ làm một Nã Phá Luân của Á Châu và cũng là lý do tại sao ông đã chọn ở lại Việt Nam thay vì đi Pháp làm ‘phó hội’.

Những gì ông thực hiện gồm có diệt trừ đối lập, đặc biệt là Việt Nam Quốc Dân Đảng như đã nói ở trên, phát triển quân đội và các lực lượng tự vệ, củng cố, xây dựng và phát triển tổ chức của Việt Minh ở những vùng từ trước chưa kiểm soát được.

Đặc biệt ở Nam Kỳ, còn thực hiện tuyên truyền tố cáo người Pháp gây chiến để xách động quần chúng và sửa soạn chiến tranh bằng cách cho đục tường nhà nọ thông với nhà kia, đặt chướng ngại vật trên các đường chính để ngăn quân Pháp…

Những hành động này cho người ta thấy sự vi phạm các thoả hiệp đã ký không phải chỉ đơn phương đến từ phía người Pháp.

Riêng ở Hà Nội, Sainteny với những con số được liệt kê, đã phản đối những hành động của tự vệ hướng vào các thường dân Pháp khiến cho họ và luôn cả quân nhân Pháp luôn luôn bị đe dọa và cô lập mà chính quyền Việt Nam không những mặc kệ mà còn khuyến khích.

Riêng ở Nam Kỳ, mặc dầu cho tới thời điểm này vẫn còn là thuộc địa của Pháp và đương nhiên là vẫn do người Pháp quản trị và chịu trách nhiệm, sự vi phạm cũng xảy ra một cách trầm trọng.

Theo chính Tướng Giáp, ở đây “lực lượng vũ trang của ta (Việt Minh) phát triển rất nhanh ”và “ngày 13 tháng Chín, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành sắc lệnh số 182 cải tổ Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam để lãnh đạo cuộc kháng chiến tại Nam bộ.

Hơn một tuần sau, ngày 22 tháng Chín, Ủy ban kháng chiến lâm thời miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập và là chính quyền hợp pháp duy nhất tại miền Nam Việt Nam.

Những quyết định này xuất xứ từ Hà Nội với những nhân vật cầm đầu, điển hình là Tướng Nguyễn Bình, gốc từ Hà Nội hay từ miền Trung mới vào không thể nói là không vi phạm chủ quyền của người Pháp ở Nam Kỳ nhưng Tướng Giáp vẫn làm.

 

‘Tham vọng chủ chiến’

 

Đó là một chiến thuật mà sau này người Cộng Sản luôn luôn áp dụng, chiến thuật giành dân chiếm đấtvừa đánh vừa đàm, không cần phải chờ mọi chuyện được ngã ngũ.

Khi Hồ Chí Minh về tới Hà Nội và Sainteny muốn gặp nhưng được cho biết ông Hồ bị bệnh. Sainteny phải chờ, đến khi được đến thăm thì thấy Hồ Chí Minh nằm trên giường có Hoàng Minh Giám và Hoàng Hữu Nam túc trực bên cạnh.

Hai người này đã không bị Hồ Chí Minh yêu cầu ra khỏi phòng như thường lệ và câu chuyện chỉ là bình thường giữa hai người bạn cũ. Tại sao vậy? Có phải là họ Hồ đã bị phe của Giáp bao vây không cho nói những gì họ không muốn ông nói?

Nếu như vậy, thì có phải Hồ Chí Minh lúc đó không muốn hay chưa muốn chiến tranh trong khi Võ Nguyên Giáp và phe nhóm của ông đang ở một tình thế vô cùng thuận lợi có thể giúp ông đạt được mong ước của mình, bỏ qua sẽ không bao giờ có được.

 

Cũng cần phải nói thêm là trong thời gian này Sainteny có nhận được một văn thư của Hồ Chí Minh gửi Quốc Hội và Chính Phủ Pháp đề ngày 11 tháng 12 tức 8 ngày trước ngày nổ súng, nhưng không mang chữ ký của họ Hồ.

Thư bị Sainteny trả lại và phải nhiều ngày sau mới có chữ ký. Tại sao lại có chuyện lạ như vậy? Không lẽ một văn thư của Chủ Tịch Chính Phủ lại có thể được gửi đi một cách cẩu thả như vậy sao?

Sainteny cho là có một cái gì bí mật bao quanh tình trạng “vị Chủ Tịch của nưóc Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.”

Nghi ngờ cũng phải vì Sainteny là người biết rõ những nỗ lực cuối cùng của Hồ Chí Minh khi ông này lưu lại Paris và làm tất cả để ký cho được Tạm ước 14 tháng 9, không lẽ để không làm gì.

Cũng theo Sainteny, phe chủ chiến của Việt Nam đã phải hành động gấp vì Chính Phủ mới của Pháp do Léon Blum làm Thủ Tướng đã quyết định cử Marius Moutet, lúc đó đã là Bộ Trưởng Pháp Quốc Hải Ngoại sang Đông Dương và tin này đã làm tình hình biến chuyển mạnh hơn.

Lý do là phe chủ chiến e ngại một cuộc điều đình mới sẽ được thực hiện nên phải ra tay trước. Tất nhiên đây chỉ là một giả thuyết nhưng nếu nhìn qua tham vọng cá nhân của Võ Nguyên Giáp, đây phải là một yếu tố người ta cần phải xét tới, cũng như khi người ta xét tới mối liên hệ riêng tư giữa Hồ Chí Minh và Bảo Đại.

 

Quan hệ Võ – Hồ

 

Ngoài những lý do chính trị, Hồ Chí Minh khi đưa Bảo Đại từ Huế ra Hà Nội làm Cố vấn Tối Cao rất có thể là để phòng ngừa vị vua cũ này có thể bị những phần tử quá khích ở địa phương làm bậy.

Cũng vậy, lời nhắn của họ Hồ gửi cho Bảo Đại mà ông này nhận được ở phi trường lúc sắp sửa lên phi cơ từ Trung Hoa về nước, biết đâu cũng có một mục đích tương tự và lần này những phần tử quá khích không còn là địa phương nữa mà ở ngay Hà Nội và Hồ Chí Minh là người hiểu rõ hơn ai hết.

Điều quan trọng là sự thực nằm ở đâu, Hồ Chí Minh ngay từ cuối năm 1946 này có còn có đủ uy thế như người ta thường nghĩ hay không hay đã bắt đầu ở thế yếu và đã bị những phụ tá trẻ của ông lấn át.

Đó là những câu hỏi cần được đặt ra, đồng thời người ta cũng không nên quên rằng Hồ Chí Minh là một người rất khôn ngoan, nhiều thủ đoạn, giỏi tính toán, biết phải làm gì theo từng giai đoạn và dày kinh nghiệm. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp có thể biết và trả lời một phần.

 

‘Đáng tiếc!

 

Với tư cách là Chủ Tịch Danh Dự của Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, đồng thời ở tuối 100 của ông, ông có thể nói ra cho mọi người được biết.

Tiếc rằng mọi chuyện đã quá trễ. Sức khoẻ của ông vào lúc tôi viết xong bài này, theo tôi được biết, chắc chắn không cho phép.

Một đồng nghiệp trong Hội Sử Học, đồng thời cũng là một sử gia đã viết nhiều tác phẩm, Giáo Sư Trần Văn Giàu, cũng đã nhiều lần được người ta trực tiếp đề nghị hay gợi ý cho hay sự thật về những gì ông Giàu đã làm ở Miền Nam, nhất là về sự mất tích của Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ của Đạo Hòa Hảo.

Nhưng Giáo Sư Giàu đã từ chối, lấy cớ mọi chuyện đã qua rồi, theo như một giáo sư đại học Việt Nam ở Pháp có dịp gặp ông. Thật vô cùng đáng tiếc! Nó cũng đáng tiếc như câu trả lời của Tướng Giáp cho câu hỏi của một phóng viên đài truyền hình Mỹ năm 1995.

Khi đó phóng viên đặt vấn đề: 20 năm sau khi Cuộc Chiến Ba Mươi Năm đã chấm dứt, mà bây giờ người ta vẫn có thể phối kiểm được, là qua hai cuộc chiến vừa qua có từ 3 triệu rưỡi đến 4 triệu người chết, ông (Tướng Giáp) có hối tiếc hay không?

Tướng Giáp vẫn trong bộ quân phục cố hữu đã trả lời bằng tiếng Pháp là “Không chút nào! Tôi không hối tiếc chút nào!”

Quả là đáng tiếc!

 

 

Bài viết phản ánh quan điểm và cách hành văn riêng của tác giả. Ông Phạm Cao Dương lấy bằng tiến sĩ sử học ở Đại học Paris, và dạy ở nhiều đại học tại Sài Gòn trước 1975. Sau khi sang Mỹ, ông dạy về lịch sử, ngôn ngữ Việt Nam ở một số trường tại Nam California trước khi về hưu.

.

.

.

LS LÊ TRẦN LUẬT : VIỆT NAM TƯỚC BỎ NHIỀU QUYỀN TỰ DO (BBC)

Tháng Chín 14, 2011

 

 

AUDIO : 

Việt Nam “tước bỏ nhiều quyền tự do”

Lê Trần Luật

Cập nhật: 13:50 GMT – thứ tư, 14 tháng 9, 2011

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/09/110913_le_tran_luat_iv.shtml

 

 Nghe 10:58

 

Ông Lê Trần Luật, người được trao giải Hellman/Hammett, nói Việt Nam đã “gia tăng áp lực để tước bỏ nhiều quyền tự do khác” trong vài năm qua.

 

Ông Luật nằm trong số tám người được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền chọn để trao giải thưởng Hellman/Hammett “để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị.”

 

Nói chuyện với BBC hôm 14/9, ông Luật nói ông không còn bị công an theo dõi hàng ngày từ cách đây hai tháng và hiện đang làm các thủ tục để có thể trở lại hành nghề luật sư sau khi thời hạn cấm hành nghề kết thúc.

Ông Luật cáo buộc công an Việt Nam đã có những hành động “bẩn thỉu” đối với cá nhân ông trong bốn năm qua.

 

.

.

.

 

HỒ SƠ WIKILEAKS (7) : Thiền Sư Nhất Hạnh từng phê phán chính quyền (Người Việt)

Tháng Chín 14, 2011

 

Thiền Sư Nhất Hạnh từng phê phán chính quyền

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

13-9-2011

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137035&z=321

 

Phía sau hai chuyến đi Việt Nam

 

WESTMINSTER (NV) – Trong hai chuyến đi Việt Nam năm 2005 và 2007, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, khi gặp riêng giới lãnh đạo Việt Nam, đã có những lời phê phán bộc trực và đề nghị thay đổi cho Việt Nam, nhưng mọi cố gắng này đều thất bại, và ông không gặt hái được kết quả gì trừ quyền được phát hành sách rộng rãi.

 

Ðó là những gì được tiết lộ trong hai công điện của đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Việt Nam, trong vụ Wikileaks.

Năm 2005 là lần đầu tiên Thiền Sư Nhất Hạnh trở về Việt Nam sau gần 40 năm. Lần đó cũng không phải là lần đầu tiên ông muốn về. Năm 1999, ông từng đề nghị với nhà nước Việt Nam để về thuyết pháp, nhưng chuyến đi bị hủy bỏ.

 

Chuyến về của ông cùng một đoàn Phật tử, học trò 200 người năm 2005, kéo dài hai tháng rưỡi, được báo chí trong nước cũng như giới truyền thông quốc tế loan tin rộng rãi. Trong một cuộc gặp mặt riêng với Ðại Sứ Mỹ Michael Marine, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ những điều không thấy trong những buổi sinh hoạt công khai, và những tiết lộ này được báo cáo từ Hà Nội về Bộ Ngoại Giao trong một công điện đề ngày 31 tháng 3, 2005.

 

Phật Giáo bị ‘chia rẽ’

Trong cuộc gặp gỡ này, Thiền Sư Nhất Hạnh tiết lộ là chuyến đi năm 1999 bị hủy bỏ do phía ông. Nhà nước Việt Nam muốn đặt áp đặt lịch trình và muốn ông về với tư cách khách mời của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), tức giáo hội được chính quyền công nhận, và ông không đồng ý.

Khác với năm 1999, trong chuyến đi năm 2005, ông đòi nhà nước CSVN hai điều kiện: Ông có thể đi bất cứ đâu trong nước Việt Nam, và sách của ông được tự do phát hành. Ðiều này ông đã thực hiện được; 10,000 bản của cả 12 bộ sách của ông đã bán hết trong chuyến đi này.

Thiền Sư Nhất Hạnh cũng cho rằng chuyến đi của ông là một sự thành công vì ông trực tiếp thuyết pháp được cho hơn 200,000 người và giúp gầy dựng lại lòng tin vào Phật pháp.

Thiền Sư Nhất Hạnh miêu tả tình hình Phật Giáo Việt Nam là “chia rẽ trầm trọng.” Mặc dù Phật tử được tự do thờ phượng, “sức khỏe chung của giáo hội rất tồi,” và ông cho rằng lý do là vì chính quyền can thiệp vào việc nội bộ của giáo hội.

Ông miêu tả sự can thiệp này gồm hai mặt. Một, Thiền Sư Nhất Hạnh nói có nhiều tăng ni được đặt vào vị trí lãnh đạo Phật Giáo “vì lý do chính trị,” và ngược lại các vị đại diện GHPGVN thì “hành xử như công chức nhà nước”. Hai, GHPGVN, theo Thiền Sư Nhất Hạnh, lệ thuộc vào nhà nước Việt Nam về tiền bạc cũng như để được cho phép làm một số việc, chẳng hạn gửi tăng ni đi tu học ở ngoại quốc.

 

Sự lệ thuộc này “làm người dân chán nản” đạo Phật. Thiếu tâm linh, xã hội suy đồi. “Bể khổ giữa các thế hệ rất là lớn. Người trẻ không còn tin vào hạnh phúc gia đình,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói vậy.

 

Gặp thủ tướng, chỉ trích chế độ

Nhưng Thiền Sư Nhất Hạnh dành những lời chỉ trích nặng nề nhất cho nhà cầm quyền. Hôm trước ngày gặp đại sứ, Thiền Sư Nhất Hạnh gặp Thủ Tướng Phan Văn Khải trong vòng một tiếng rưỡi. Thủ Tướng Khải kêu gọi ông giúp tạo sự thống nhất trong dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, Thiền Sư Nhất Hạnh trả lời là người Phật tử, thay vì tìm sự thống nhất, cần tìm “tình huynh đệ,” và họ có thể nằm trong các nhóm chính trị khác nhau nhưng không đấu đá lẫn nhau.

Ông kêu gọi ngược lại, nói với Thủ Tướng Khải, rằng “người cộng sản nên trở thành người Việt Nam hơn” và chấp nhận những giá trị truyền thống. Nếu không, chính trị sẽ “phá sản” và đảng Cộng Sản sẽ mất sự ủng hộ. Ông kêu gọi Thủ Tướng Khải tách rời tôn giáo ra khỏi chính trị.

“Tăng ni không thể bị bắt tham gia Quốc Hội hay Hội Ðồng Nhân Dân,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói với Thủ Tướng Khải. “Giáo hội không thể bị bắt tham gia vào Mặt Trận Tổ Quốc.”

Ông trao cho Thủ Tướng Khải một bản yêu cầu 7 điểm, và ông trao cho Ðại Sứ Marine một bản sao. Trong số đó, có đề nghị “tăng ni không giữ chức vụ chính quyền hoặc nhận bằng khen từ nhà nước”; hai hòa thượng “Thích Huyền Quang và Thích Quảng Ðộ phải có quyền tự do đi lại, thuyết pháp khắp nước;” và Phật Giáo không bị “ảnh hưởng chính trị trong nước và hải ngoại”.

 

Thất bại khi muốn gặp gỡ Hòa Thượng Huyền Quang

Trong lần trở về năm 2005, Thiền Sư Nhất Hạnh dự định gặp Hòa Thượng Thích Huyền Quang, lúc đó còn sống và là vị tăng thống thứ tư của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một giáo hội không được nhà nước công nhận. Hai người từng là đồng tác giả cuốn “Ðạo Phật áp dụng vào đời sống hàng ngày: Cương lĩnh giáo lý nhập thế của Phật Giáo Việt Nam hiện đại” do Viện Hóa Ðạo xuất bản năm 1973.

Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ đã không xảy ra. Thiền Sư Nhất Hạnh đã đến Thanh Minh Thiền Viện tìm gặp Hòa Thượng Quảng Ðộ, và đi Bình Ðịnh muốn gặp Hòa Thượng Huyền Quang, nhưng cả hai đều từ chối.

Phía GHPGVN giải thích lý do hai bên không gặp được nhau một cách rất đơn giản. Họ nói với nhân viên tòa đại sứ, “Thích Quảng Ðộ muốn chuyến đi thăm được xem là chính thức và được ghi vào lịch trình của chuyến đi Việt Nam.” Trong khi đó, họ nói Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ muốn thăm với tư cách cá nhân.

Tuy nhiên, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đưa ra lý do quan trọng hơn, được giải thích trong một bức thư của thượng tọa Thích Viên Ðịnh, trong đó có đoạn viết: “Có điều không biết vô tình hay cố ý, ngài về nhằm vào thời điểm rất tế nhị, có thể bị hiểu là ngài đã bị thế gian lợi dụng để tuyên truyền, làm đẹp cho chế độ.”

Bức thư này được Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế (IBIS) ở Paris, do ông Võ Văn Ái làm giám đốc, loan tải. Vì lý do này và vì nhiều lời tuyên bố khác của ông Ái, đoàn phụ tá của Thiền Sư Nhất Hạnh tỏ thái độ bất bình với IBIS.

Người phụ tá tín cẩn nhất của Thiền Sư Nhất Hạnh, sư cô Chân Không, nhắc lại với Ðại Sứ Marine một câu nói mà sư cô cho là bị trích dẫn sai, rồi sau đó bị IBIS nêu lên trên các bản tin. Trong một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã AFP của Pháp, sư cô Chân Không được hỏi lý do tại sao một số tổ chức tôn giáo ở Việt Nam bị cấm hoạt động. AFP ghi câu trả lời như sau: “Vì một số các giáo hội này tàng trữ những lá cờ của chế độ cũ. Còn chúng tôi, thì chúng tôi chẳng có một tham vọng chính trị nào cả.”

Sư cô nói với Ðại Sứ Marine là câu đó bị ghi sai, và ý của sư cô là, “Khi ở hải ngoại dùng cờ vàng để ủng hộ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, điều đó khiến cho chính quyền xem giáo hội này là tổ chức chính trị thay vì tôn giáo.”

Trong lần thứ nhì trở về Việt Nam năm 2007, đoàn phụ tá của Thiền Sư Nhất Hạnh có họp với nhân viên tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và họ cho rằng những phát ngôn của ông Ái đã đầu độc không khí ngay giữa lúc Thiền Sư Nhất Hạnh và Hòa Thượng Huyền Quang đang tìm cách chấp thuận một giải pháp để gặp gỡ nhau.

 

Bị cấm cầu siêu cho thuyền nhân, tù cải tạo

Cũng trong lần thứ nhì trở về Việt Nam, Thiền Sư Nhất Hạnh dự định tổ chức ba buổi cầu siêu tại Sài Gòn, Huế, Hà Nội cho mọi nạn nhân chiến cuộc. Tuy nhiên, khác với lần thứ nhất, lần này, chính quyền cứng rắn hẳn lên và gây nhiều khó khăn cho buổi cầu siêu.

Những trục trặc này được ghi lại trong một công điện của tổng lãnh sự ở Sài Gòn, đề ngày 21 tháng 3, 2007, sau cuộc gặp mặt với phó tổng lãnh sự và tham tán chính trị.

Theo lời Thiền Sư Nhất Hạnh, ba buổi cầu siêu này dự trù cho mọi nạn nhân đã “thiệt mạng vô duyên cớ” trong chiến tranh. Dự tính, lễ cầu siêu sẽ nhắc đến chiến binh Mỹ cũng như những người Việt Nam bị chết vì “những tai họa khác,” kể cả trại tù cải tạo và người vượt biên.

Tuy nhiên, trong thương thuyết với phía Việt Nam, chính quyền tỏ ra cứng rắn hơn so với năm 2005. Họ nhất định cấm không được nhắc đến lính Mỹ, cấm nhắc đến tù cải tạo, cấm nhắc đến thuyền nhân.

Ở miền Bắc, việc tổ chức còn khó hơn. GHPGVN tại Hà Nội còn không muốn có lễ cầu siêu vì cho rằng không có lý do gì mà phải hóa giải, và cũng cho rằng không có người Việt Nam nào chết “vô duyên cớ” trong chiến tranh cả.

Buổi lễ cầu siêu tại Sài Gòn được tổ chức ngày 16 tháng 3, 2007, ở chùa Vĩnh Nghiêm, sau những thương thảo vào phút chót với chính quyền. “Có ít nhất 2,000 người tới dự,” theo công điện của tổng lãnh sự Hoa Kỳ. Thiền Sư Nhất Hạnh tuân thủ những đòi hỏi của chính quyền và không nhắc đến “những tai họa khác,” đến thuyền nhân, hay đến những binh sĩ không phải Việt Nam.

Tuy nhiên, Thiền Sư Nhất Hạnh đã cầu siêu cho tất cả “nạn nhân hai miền Nam Bắc” và nói là toàn thể sáu triệu người thiệt mạng trong chiến tranh đều đã chết “vô duyên cớ”. Thiền Sư Nhất Hạnh cũng so sánh với hai miền Ðông Ðức và Tây Ðức thống nhất mà không đổ máu, và giới lãnh đạo Việt Nam lẽ ra phải làm được như vậy. Ông kêu gọi mọi người, bất kể tôn giáo, cầu nguyện cho tha thứ và kết đoàn.

Tới đây, trong điều mà tòa tổng lãnh sự gọi là “một cú hích vào đảng Cộng Sản,” Thiền Sư Nhất Hạnh nói người Công Giáo, Tin Lành, Phật Giáo có thể đọc kinh của đạo mình để sám hối, còn người Cộng Sản thì cứ việc “tìm tâm linh từ Marx”.

 

Chính quyền tẩy chay

Có vẻ biết trước bài thuyết pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh sẽ có vấn đề, phía nhà nước không ai đến dự cả. Phải đến khi bài thuyết pháp đã xong và phần tụng kinh bắt đầu, mới có một nhóm đại diện GHPGVN tới dự. Dẫn đầu là Hòa Thượng Thích Trí Quảng, phó chủ tịch Hội Ðồng Trị Sự Trung Ương GHPGVN và là một ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc.

Trong lời đạo từ, Hòa Thượng Trí Quảng nói ngược lại những điều Thiền Sư Nhất Hạnh đã nói, và thay vào đó, nói buổi lễ cầu siêu là dành cho những liệt sĩ hy sinh “trong cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ”.

Khác với chuyến đi năm 2005, trong chuyến đi 2007, báo chí trong nước rất ít tường thuật. Sau lễ cầu siêu ở chùa Vĩnh Nghiêm, báo chí chỉ đưa tin sơ sài, trích dẫn lời Hòa Thượng Thích Trí Quảng và không nhắc đến những câu “nhạy cảm” của Sư ông Thích Nhất Hạnh.

Một vài nhà báo nói với tổng lãnh sự quán, họ nhận được lệnh miệng của tuyên giáo là cần “thận trọng” khi tường thuật chuyến đi của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh.

 

Ðón đọc bài sau: Ảnh hưởng Trung Quốc lên đảng Cộng Sản Việt Nam.

––-

Liên lạc tác giả: VuQuiHaoNhien@nguoi-viet.com

 

———————————–

 

Bắt đầu từ ngày 08 tháng 09, Người Việt khởi đăng công điện ngoại giao của Hoa Kỳ liên quan tới Việt Nam, bị lộ ra trong vụ Wikileaks.

 

Wikileaks là một cơ sở bất vụ lợi có mục đích đòi hỏi chính quyền phải minh bạch, bằng cách công bố các tài liệu mật do các nguồn nặc danh cung cấp. Wikileaks bắt đầu nổi tiếng với những tiết lộ bí mật về chiến tranh Iraq, kể cả một đoạn phim trong đó lính Mỹ tưởng phóng viên Reuters mang vũ khí và nã súng bắn họ.

Nhưng phải tới tháng 10 năm 2010, Wikileaks mới thật sự nổi tiếng và ai cũng biết tên. Ðó là lúc Wikileaks loan tin lấy được 260,000 công điện ngoại giao của Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ bắt đầu công bố những công điện này.

Ðây là những công điện do các tòa đại sứ, lãnh sự của Mỹ từ khắp nơi gởi về Bộ Ngoại Giao.

Ðây là những tài liệu được đặt trong một mạng lưới tài liệu mật của quân đội Mỹ, gọi là “SIPRnet.” Sau vụ khủng bố 11 tháng 9, chính phủ Tổng Thống George W. Bush ra lệnh cho các cơ quan quân đội, ngoại giao, tình báo phải chia sẻ tài liệu mật cho nhau, mục đích là để các cơ quan chính quyền có đầy đủ thông tin chống khủng bố.

Tuy nhiên, một tác dụng ngược của nó là khiến hàng ngàn quân nhân bỗng có thể đọc được công điện mật của ngành ngoại giao.

Một trong hàng ngàn quân nhân đó là Trung sĩ Bradley Manning, sau này bị giáng lon xuống binh nhì. Ông Manning tải toàn bộ công điện mật của bộ Ngoại Giao về máy mình, rồi chuyển qua cho Wikileaks.

Số tài liệu bị lộ gồm 251,287 công điện. Ban đầu, qua thỏa thuận với bốn tờ báo lớn của thế giới, tờ El País (Tây Ban Nha), Der Spiegel (Ðức), Le Monde (Pháp), The Guardian (Anh) và The New York Times (Mỹ), Wikileaks và những tờ báo này công bố công điện từ từ, theo từng đợt, và sau khi xóa bớt tên những người cần được bảo vệ.

Tuy nhiên, sau khi bị lộ mật mã cho tài liệu này, Wikileaks vào ngày 1 tháng 9 quyết định công bố tất cả, không bôi xóa gì hết.

Tài liệu liên quan tới Việt Nam trong Wikileaks lên tới hơn 5,000 công điện. Chỉ riêng mục lục các công điện này, khi in ra giấy, đã lên tới 192 trang.

Trong những ngày sắp tới, Người Việt sẽ chọn lọc và khởi đăng công điện của Wikileaks, được chia ra theo những mục đề tài sau đây:

* Nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam

* Các tù nhân lương tâm

* Nhân quyền, tôn giáo

* Quan hệ với Trung Quốc

* Quan hệ với Mỹ

* Kinh tế, giáo dục

Bộ tài liệu này sẽ được cập nhật liên tục.

Người Việt Online.

 

——————————–

 

ĐÃ ĐĂNG :

 

 

HỒ SƠ WIKILEAKS (6): Tướng Kỳ từng bị Nguyễn Tấn Dũng chặn đường về

HỒ SƠ WIKILEAKS (5): RFA nói về Hồ Chí Minh, Việt Nam phản đối với Mỹ

HỒ SƠ WIKILEAKS (4): ‘Đường Lưỡi Bò’ thiếu chứng cứ lịch sử – ngoại giao Mỹ nhận định

HỒ SƠ WIKILEAKS (3): Tổng lãnh sự: Ðiếu Cày bị vu cáo

HỒ SƠ WIKILEAKS (2) – Vatican ép TGM Ngô Quang Kiệt từ chức

HỒ SƠ WIKILEAKS (1): Tô Huy Rứa: Thủ cựu, thân Phiêu, chống Kiệt, ‘bad boy’

 

 

.

.

.

MỘT DI SẢN của PHẠM VĂN ĐỒNG (Ngô Nhân Dụng)

Tháng Chín 14, 2011

 

Một di sản của Phạm Văn Ðồng

Ngô Nhân Dụng

Tuesday, September 13, 2011 5:24:50 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137067&z=7

 

Hôm nay đánh dấu ngày ông Phạm Văn Ðồng ký một bức thư năm 1958 gửi ông Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng.

Trong lá thư đó ông Phạm Văn Ðồng đã nhân danh chính phủ của một nước Việt Nam chính thức đồng ý với bản tuyên bố mươi ngày trước đó của chính phủ Trung Quốc về hải phận. Mà trong bản tuyên bố này Trung Quốc xác nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ, giống như Ðài Loan, Bành Hồ.

 

Bức công hàm ngày 14 tháng 9 để lại một di sản nặng nề mà ngày nay người Việt Nam còn chịu hậu quả. Những hậu quả chính trị, ngoại giao nhiều người đã biết; trong bài này sẽ nêu lên một trong những hậu quả về kinh tế. Chữ ký của Phạm Văn Ðồng đã ngăn cản việc khai thác tài nguyên và phát triển đất nước Việt Nam.

 

Từ năm 1958 tới nay, Bắc Kinh luôn luôn vin vào lá thư của ông Phạm Văn Ðồng để nói rằng chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã công nhận họ là chủ nhân của quần đảo Hoàng Sa. Họ đã dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã anh dũng kháng cự với bao chiến sĩ đã hy sinh. Hành động cướp đất thô bạo này, diễn ra trong thời gian mới cách đây 37 năm, là một bằng chứng cụ thể chứng tỏ là Hoàng Sa vốn là của Việt Nam, đã bị Trung Cộng cưỡng chiếm. Với bằng cớ hiển nhiên đó bất cứ chính quyền Việt Nam nào cũng có thể đưa ra tòa án quốc tế để đòi xét xử và lấy lại. Nhưng vì lá thư Phạm Văn Ðồng chính quyền Hà Nội há miệng mắc quai. Ngược lại, khi nói ra còn bị Bắc Kinh tố cáo là “vô ơn” và “lật lọng”.

 

Vin vào lá thư của Phạm Văn Ðồng, với quyền làm chủ Hoàng Sa, Trung Quốc tự cho quyền tấn công các ngư dân Việt Nam từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn không cho đi đánh cá ngoài khơi. Bao đồng bào mất phương tiện sinh sống. Họ còn đe dọa và ngăn cấm cả các công ty quốc tế không cho tìm và khai thác dầu khí trong vùng biển thuộc nước ta. Người Việt Nam không được hưởng những tài nguyên thiên nhiên tổ tiên chúng ta để lại!

 

Việc ngăn cấm các công ty quốc tế tìm dầu trong thềm lục địa Việt Nam buộc chính quyền Bắc Kinh phải giải thích với nước có những hãng dầu bị cấm. Và họ đã viện dẫn lá thư Phạm Văn Ðồng làm bằng cứ. Một điện văn của đại sứ Mỹ ở Hà Nội (mới tiết lộ cuối tháng 8 năm 2011) kể lại mấy cuộc tiếp xúc với quan chức Trung Cộng để nghe họ biện minh việc cấm đoán các hãng dầu Mỹ. Trong cuộc gặp gỡ ngày 7 tháng 3 năm 2008 với nhân viên ngoại giao Mỹ, ông Trịnh Chấn Hoa (Zheng Zhenhua Ð/N), phó chủ nhiệm phòng Kế Hoạch thuộc Vụ Á Châu, Bộ Ngoại Giao Bắc Kinh, đã nêu lên lá thư do ông Phạm Văn Ðồng ký gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai để chứng minh Việt Nam đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1958.

 

Trước hết, Trịnh Chấn Hoa giải thích về đường Lưỡi Bò (còn gọi là Cửu Ðoạn Tuyến) trong vùng biển Ðông của nước ta, nói rằng nó đã được chính phủ Tưởng Giới Thạch vẽ ra từ năm 1947, rồi lại được nêu lên chính thức trong đạo luật về vùng kinh tế độc quyền ven biển năm 1998 của Bắc Kinh. Trịnh Chấn Hoa cũng nói từ năm đó cho đến thập niên 1960 “không một quốc gia nào kể cả nước Mỹ từng nêu câu hỏi nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc” trên các quần đảo đó. Ý nói cả chính quyền Việt Nam ở Hà Nội cũng không hề lên tiếng phản đối. (Sự thật thì chính quyền Việt Nam ở Sài Gòn, từ năm 1956 đã nhiều lần xác nhận chủ quyền trên các quần đảo này, bác bỏ lập trường của Bắc Kinh.)

 

Trịnh Chấn Hoa còn dẫn sự tích lịch sử, nói từ đời Ðông Hán ((23-220) dân Trung Hoa đã sống ở các đảo đó; và trong thời Nam Bắc Triều nhà (Nam) Tống (420-478) đã đặt các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc vào tỉnh Quảng Ðông. Nhưng lý luận kiểu này hoàn toàn vô giá trị. Không thể chiếm đóng một nước khác rồi dùng làm chứng cớ coi đó là lãnh thổ của mình. Từ thời Ðông Hán cho tới thời nhà Ðường, tất cả nước Việt Nam bị “chiếm đóng”; Người Việt chỉ tự giải phóng được từ thế kỷ thứ 10. Trong thời gian chiếm đóng thì các vua quan nước Tàu cứ việc coi bất cứ người Việt nào, ở đâu, cũng là “dân” của họ cả. Cứ việc ghi tên bất cứ vùng đất nào của Việt Nam vào một tỉnh nước Tàu. Hoàng Sa và dân sống ở Hoàng Sa cũng vậy. Nếu dùng lý luận của Trịnh Chấn Hoa thì người Tàu có thể nói Lạng Sơn, Hà Nội cho tới Vinh đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc hay sao? Các ông Tô Ðịnh, Cao Biền, Trần Bá Tiên chẳng đã từng đặt các tỉnh của Việt Nam vào trong địa giới nước Tàu hay sao? Nói vậy chẳng khác gì chính phủ Anh Quốc tuyên bố các tiểu bang miền Ðông nước Mỹ ngày nay vẫn thuộc chủ quyền của nước Anh vậy!

 

Cuộc tiếp xúc của Trịnh Chấn Hoa cốt giải thích cho chính phủ Mỹ hiểu lý do họ đã ngăn cản không cho công ty dầu lửa Mỹ Chevron hợp tác với công ty Dầu khí Việt Nam thăm dò tại Block số 122, giữa Hoàng Sa và bờ biển nước ta. Trịnh Chấn Hoa cho nhà ngoại giao Mỹ biết rằng Bắc Kinh chỉ vạch giới hạn 12 hải lý như là hải phận của mình ở quanh các đảo Hoàng Sa, nơi họ coi là có chủ quyền chắc chắn. Còn chung quanh các đảo Trường Sa thì họ không làm, vì còn nhiều tranh chấp với các nước khác “phức tạp hơn”. Sự phân biệt này rõ ràng là vì chính quyền Bắc Kinh dùng lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 biện hộ việc họ làm chủ Hoàng Sa, coi như không cần bàn cãi nữa. Một hậu quả là Trung Cộng ngăn cản các công ty dầu khí quốc tế không được thăm dò và khai thác gần Hoàng Sa.

 

Công ty Chevron, hợp tác với Petronas/Carigali đã dự tính thăm dò ở phía Tây Block 122, nằm bên ngoài vùng tranh chấp Hoa-Việt quanh quần đảo Hoàng Sa. Nơi này Chevron cho biết là vùng có triển vọng tìm được dầu và khí đốt cao nhất, chỉ nằm cách bờ biển Việt Nam 17 hải lý, nhưng vẫn bị Trung Cộng ngăn cấm. Một quản đốc cao cấp của công ty Chevron thú nhận rằng họ sợ bị Bắc Kinh trừng phạt, trong một dự án lớn hợp tác với công ty Dầu Khí Trung Quốc, PetroChina khai thác khí đốt ở tỉnh Tứ Xuyên. Chevron phải bãi bỏ việc thăm dò Block 122.

 

Ngoài công ty Chevron, trong vòng mấy tháng đầu năm 2008 các công ty dầu khí British Petroleum (BP) của Anh; Idemitsu, Nippon Teikoku Nhật Bản; Santos của Úc; Pearl Energy của Singapore; và Lundin Petroleum của Thụy Ðiển cũng phải bỏ các dự án khai thác dầu trong vùng biển Việt Nam vì bị Trung Cộng đe dọa. Ðó là một hậu quả của lá thư ông Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958! Quyền lợi kinh tế và việc phát triển công nghiệp của nước Việt Nam bị thiệt hại vì bao nhiêu dầu khí không được khai thác. Bắc Kinh còn nêu lên những “bằng chứng phụ” khác để chứng minh Cộng Sản Việt Nam đã công nhận chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, qua những lời tuyên bố của ông Ung Văn Khiêm, một ngoại trưởng, hay những tấm bản đồ chính thức và sách giáo khoa do chính quyền Hà Nội in đều ghi các đảo trên thuộc Trung Quốc. Nhưng các chứng cớ trên không đủ mạnh bằng một văn kiện do một ông thủ tướng Việt Nam ký tên.

 

Các công điện của đại sứ Mỹ ở Hà Nội cũng cho biết PetroVietNam đã hứa với Chevron rằng Hải quân Việt Nam sẽ bảo vệ các công tác ngoài biển! Chắc Chevron đã biết chính quyền Hà Nội thường “nhún mình” trước Trung Cộng như thế nào. Lời hứa hẹn “bảo vệ” này không thể thực hiện được! Ngay cả việc bảo vệ các ngư dân đi đánh cá bị bắt cóc đòi tiền chuộc mà chính quyền Việt Nam cũng không làm được, thử hỏi làm sao họ dám đương đầu khi đụng vào các quyền lợi lớn như dầu khí?

 

Trong khi đó thì ngay cả những tàu thủy Petro Việt Nam thuê đi thăm dò đáy biển cũng bị tàu Trung Cộng đến cắt dây cáp thẳng tay, trong lúc các ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng vẫn ca ngợi tình đồng chí anh em với 16 chữ vàng!

 

Cả kho tài nguyên dầu khí của nước ta sẽ bị chính quyền Bắc Kinh phong tỏa, không được sử dụng. Cho tới bao giờ có một chính quyền Việt Nam chịu chấp nhận chia phần với họ trong việc khai thác các mỏ dầu khí trong vùng này, mà trong đó Trung Cộng sẽ chiếm lấy phần lớn; may ra lúc đó các công ty ngoại quốc mới được phép khai thác gần quần đảo Hoàng Sa. Nếu các thỏa hiệp chia chác đó được giữ bí mật theo lối giao thiệp “giữa đồng chí anh em” thì chắc không người dân Việt nào được biết cả.

 

Nhưng Trung Quốc không đối xử như vậy đối với các nước khác cũng nằm trong tình trạng tranh chấp ở biển Ðông. Trong công điện ngày 7 tháng 9 năm 2007, nhân vụ Chevron, tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội báo cáo về Bộ Ngoại Giao Mỹ cho biết các tòa đại sứ Mỹ ở Phi Luật Tân, Indonesia và Malaysia nói rằng chính phủ Bắc Kinh không hề can thiệp hay ngăn cản các công ty dầu quốc tế khi đến khai thác tại vùng biển các nước này. Những hòn đảo tranh chấp giữa các nước trên với Trung Quốc thường nằm trong vùng Trường Sa, ở phía Nam Hoàng Sa, nhưng đều bị Trung Quốc gom trong Ðường Lưỡi Bò. Công điện này nhận xét: “Trong lúc các nước Ðông Nam Á khác cũng ký các hợp đồng cho khai thác (dầu khí) ở vùng biển Nam Trung Hoa đang có tranh chấp (với Trung Quốc) thì Trung Quốc chỉ phản đối riêng các hợp đồng ký với Việt Nam mà thôi!”

 

Tại sao họ có hai cách đối xử khác nhau như vậy? “Nhiều công ty năng lượng quốc tế cho là việc tranh chấp có ẩn ý sâu xa hơn, không phải chỉ là vấn đề dầu khí.” Trung Quốc không muốn đối đầu với nhiều quốc gia trong vùng Ðông Nam Á cùng một lúc. Tách riêng Việt Nam ra để thí nghiệm phương pháp đè nén, ép buộc xem kết quả sao; rồi sẽ tính chuyện với các nước khác. Phương pháp của nước mạnh vẫn là “chia để trị”. Cho nên, Bắc Kinh nhất định đòi nói chuyện riêng với Việt Nam, không có nước nào khác can dự. Chấp nhận đàm phán song phương là tự bước vào trong bẫy của họ. Ngay bây giờ, họ đã đối xử theo cách tách rời Việt Nam và Hoàng Sa ra. Như ông Trịnh Chấn Hoa nói với người Mỹ, “trường hợp Trường Sa phức tạp hơn”. Họ chọn Việt Nam để làm áp lực với các công ty dầu quốc tế, bởi vì nó “không phức tạp”. Chính quyền Trung Quốc coi những bất đồng về hải phận đối với Việt Nam không cần bàn cãi. Vì chỉ riêng đối với Việt Nam họ mới nắm được trong tay một văn kiện cụ thể, là bức thư của ông Phạm Văn Ðồng, của ông thủ tướng một nước gửi ông thủ tướng nước khác. Và họ trưng ra bằng chứng đó bất cứ khi nào phải giải thích trước các quan sát viên quốc tế. Các nước Ðông Nam Á khác sẽ thấy khó lòng bênh vực Việt Nam về Hoàng Sa khi Bắc Kinh trưng lá thư Phạm Văn Ðồng ra.

 

Chính quyền Mỹ thì vốn đã phủi tay, luôn luôn nói nước Mỹ không can dự vào những vùng biển, đảo còn tranh chấp ở Ðông Nam Á. Ngay từ khi quân Trung Cộng tấn công Hoàng Sa năm 1974, các chiến sĩ Việt Nam bị đắm tàu kêu cứu nhưng Hạm Ðội Thứ Bẩy ở gần đó cũng không thèm tới cứu, chắc vì sợ phải can dự! Ông Trịnh Chấn Hoa, ngay trong cuộc nói chuyện kể trên đây, sau khi xác định chủ quyền của Trung Quốc trong vùng Ðường Lưỡi Bò, vẫn cẩn thận trấn an người đại diện chính quyền Mỹ: “Trung Quốc cam kết tàu bè có quyền đi lại tự do trong vùng Ðường Chín Ðoạn.” Hai năm sau, khi bà ngoại trưởng và ông bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ lên tiếng ở Singapore về “quyền tự do hải vận” trong vùng Ðông Nam Á thì Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ cần nhắc lại lời cam kết suông mà ông Trịnh Chấn Hoa đã nói. Bằng cách đó, họ có thể tiếp tục cô lập nước Việt Nam. Còn bao nhiêu mỏ dầu khí của dân ta sẽ bị khóa cửa, không cho khai thác. Ðó là hậu quả chữ ký của ông Phạm Văn Ðồng ngày 14 tháng 9 năm 1958.

 

Khi còn sống ông Phạm Văn Ðồng được tiếng là một ông thủ tướng tốt bụng, hiền lành, chăm chỉ, không muốn làm hại ai. Nhạc sĩ Ðặng Thái Sơn kể khi anh chiếm giải Dương Cầm Chopin năm 1980, anh được ông thủ tướng mời vào khen ngợi. Trước khi từ giã ông còn hỏi, “Cháu có cần bác giúp gì không?” Nhạc sĩ trẻ xin cho thân phụ anh được có lại hộ khẩu ở Hà Nội, và ông Phạm Văn Ðồng giúp ngay. Nhờ thế, thi sĩ Ðặng Ðình Hưng đã được trở về sống ở Hà Nội sau hơn 20 năm bị lưu đầy ở miền quê vì đã tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Nhà thơ được cư ngụ dưới cầu thang một ngôi nhà gần Chợ Cửa Nam. Ðặng Thái Sơn nhớ cái ơn đó mãi mãi. Nhưng lòng tốt của ông thủ tướng chỉ giới hạn tới mức đó thôi. Việc ký bức thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 chắc chắn không phải là sáng kiến của ông Phạm Văn Ðồng. Suốt đời ông chỉ làm công việc ký giấy tờ, do người khác quyết định. Ông Ðồng chỉ là một đảng viên tốt, thi hành mọi việc do đảng sai bảo. Trong thời gian năm 1958, những người nắm quyền quyết định cao nhất ở Hà Nội là Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, vân vân. Cho nên nếu gọi bức thư ngày 14 tháng 9 là một “công hàm bán nước” thì cái tội bán nước không riêng ông Phạm Văn Ðồng phải gánh.

 

———————————–

 

Về Công Hàm do Phạm Văn Ðồng ký ngày 14/9/1958

.

NHIỀU CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC & CÔNG HÀM PHẠM VĂN ĐỒNG

Tuesday, September 13, 2011

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/nhieu-cuoc-bieu-tinh-chong-trung-quoc.html

..

NGUYỄN TẤN DŨNG THAN: “CHỈ TẠI CÁI CÔNG HÀM 1958 !” (Nguyễn Quang Duy)

03:39:am 09/09/11

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/chi-tai-cai-cong-ham-1958-nguyen-quang.html

.

CÔNG HÀM 1958 PHẠM VĂN ĐỒNG THEO “LÝ GIẢI” CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM (Lê Thiên)

04:31:pm 31/07/11

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/cong-ham-1958-pham-van-ong-theo-ly-giai.html

.

CÔNG HÀM 1958 : TỪ LỆ THUỘC CHÍNH TRỊ TRỞ THÀNH BÁN NƯỚC (Nguyễn Quang Duy)

12:00:am 01/08/11

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/cong-ham-1958-tu-le-thuoc-chinh-tri-tro.html

.

LÀM SAO GIẢI QUYẾT “CÔNG HÀM 1958” CỦA ÔNG PHẠM VĂN ĐỒNG (Nguyễn Ngọc Già)

01:27:pm 03/07/11

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/lam-sao-giai-quyet-cong-ham-1958-cua.html

.

14-9-1958 – NGÀY PHẠM VĂN ĐỒNG KÝ CÔNG HÀM

Đỗ Thành Công – 04:54:pm 19/07/11

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/14-9-1958-ngay-pham-van-ong-ky-cong-ham.html

.

Báo VN nói về Công hàm Phạm Văn Đồng

BBC – Cập nhật: 09:14 GMT – thứ tư, 20 tháng 7, 2011

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/07/110720_daidoanket_article.shtml

.

CÔNG HÀM 1958 VỚI CHỦ QUYỀN HOÀNG SA & TRƯỜNG SA của VIỆT NAM (báo Đại Đoàn Kết)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/07/cong-ham-1958-voi-chu-quyen-hoang-sa.html

.

Sử dụng công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm bằng chứng, Trung Quốc đã bộc lộ điểm yếu tạo cơ hội cho Việt Nam đòi lại quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa

Lê Văn Cường, Kỹ sư xây dựng – 19/07/2011

http://boxitvn.blogspot.com/2011/07/su-dung-cong-ham-cua-co-thu-tuong-pham.html

.

Ðã đến lúc nói thật về Công Hàm Phạm Văn Đồng

Lê Phan – Thứ Hai – 11 Tháng 7, 2011

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?z=97&a=133731&utm_source=feedburner&utm_medium=feed&utm_campaign=Feed%3A+NguoiVietOnline+%28NG%C6%AF%E1%BB%9CI+VI%E1%BB%86T+Online+%28www.nguoi-viet.com%29%29

.

Những điều nói trong công hàm TT Phạm Văn Đồng [1/4]

Vũ Quí Hạo Nhiên – June 28, 2011

http://vqhn.wordpress.com/2011/06/28/nh%e1%bb%afng-di%e1%bb%81u-noi-trong-cong-ham-tt-ph%e1%ba%a1m-van-d%e1%bb%93ng/

.

Công hàm TT Phạm Văn Đồng cần giải thích, đừng giấu nhẹm [2/4]

Vũ Quí Hạo Nhiên – June 25, 2011

http://vqhn.wordpress.com/2011/06/25/cong-ham-tt-ph%E1%BA%A1m-van-d%E1%BB%93ng-c%E1%BA%A7n-d%C6%B0%E1%BB%A3c-gi%E1%BA%A3i-thich-d%E1%BB%ABng-gi%E1%BA%A5u-nh%E1%BA%B9m/

.

Đảo của VNCH, nguyên tắc estoppel và công hàm của TT Đồng [3/4]

Hao-Nhien VuJuly 9, 2011

http://vqhn.wordpress.com/2011/07/09/d%e1%ba%a3o-c%e1%bb%a7a-vnch-nguyen-t%e1%ba%afc-estoppel-va-cong-ham-c%e1%bb%a7a-tt-d%e1%bb%93ng/

.

Lối ra cho công hàm TT Đồng (4/4)

Vũ Quí Hạo NhiênJuly 14, 2011

http://vqhn.wordpress.com/2011/07/14/l%e1%bb%91i-ra-cho-cong-ham-tt-d%e1%bb%93ng/

.

Tranh chấp Biển Đông: Phỏng vấn Thạc sĩ Hoàng Việt về ‘Công hàm Phạm Văn Đồng’

Duy Ái – VOA – Thứ Sáu, 08 tháng 7 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/news/focus/south-china-sea-dispute-07-08-11-125223929.html

.

Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược Biển Đông. (1)

Trương Nhân Tuấn – Đăng ngày: 11:39 24-06-2011

http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=771&prev=776&next=763

.

Việt Nam cần điều chỉnh lại chiến lược Biển Đông. (2)

Trương Nhân Tuấn – Đăng ngày: 15:30 26-06-2011

http://vn.360plus.yahoo.com/truongnhantuan/article?mid=776&prev=-1&next=771

.

Công Hàm do Phạm Văn Ðồng ký ngày 14/9/1958

http://conghambannuoc.tripod.com/

.

Asia Times nhắc đến công hàm 1958, Việt Nam nói gì…

Vũ Thị Phương Anh – Chủ nhật, ngày 26 tháng sáu năm 2011

http://bloganhvu.blogspot.com/2011/06/asia-times-nhac-en-cong-ham-1958-viet.html

.

Trung Quc: Vit Nam hãy coi chng đy, chúng tôi đã nhn nhn lm ri…(*)

China runs gauntlet in South China Seas

Jian Junbo và Wu ZhongThe Asia Times

Lê Quốc Tuấn. X-cafeVN chuyển ngữ – Thu, 06/23/2011 – 21:55

http://www.x-cafevn.org/node/2274

 

Có phải bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là lá bài tẩy trong tình hữu nghị Việt-Trung?

Đinh Kim Phúc – 16/06/2011

http://boxitvn.blogspot.com/2011/06/co-phai-buc-cong-ham-cua-thu-tuong-pham.html

 

.

.

.

XUẤT KHẨU GẠO : CỜ ĐẾN TAY SAO CHÍNH PHỦ KHÔNG PHẤT ? (Hoàng Kim, Đồng Tháp)

Tháng Chín 14, 2011

 

Xuất khẩu gạo: Cờ đã đến tay sao Chính phủ không phất? Vậy mà nói lo cho nông dân!

Hoàng Kim (Đồng Tháp)

12/09/2011

http://www.boxitvn.net/bai/28585

 

Thái Lan và Việt Nam xuất khẩu khoảng 45 – 50% lượng gạo trên thế giới. Chính phủ Thái Lan đã đơn phương quyết định tăng giá bán gạo lên 25% kể từ ngày 7/10, như vậy, việc ấn định giá bán gạo trên thị trường thế giới tùy thuộc vào việc ấn định giá bán gạo xuất khẩu của Chính phủ Việt Nam. Cờ đã đến tay mà sao nông dân chúng tôi thấy rằng Chính phủ Việt Namvẫn chưa chịu phất?

 

Chính phủ Việt Nam không có kế hoạch mua bán lúa gạo khi Thủ tướng Thái Lan thực hiện lời hứa

 

Ngày 9/6, Agromonitor cho biết:

“Thị trường đã chịu ảnh hưởng một cách gián tiếp và có phần nhạy cảm khi Thái Lan đang bước vào giai đoạn vận động cho tổng tuyển cử vào 3/7, theo đó Đảng Vì Nước Thái (Pheu Thai) do em gái cựu Thủ tướng Thaksin là bà Yingluck Shinawatra đang muốn lá phiếu khu vực nông thôn khi đưa ra lời hứa sẽ tăng tới gần 50% giá thu mua lúa của Chính phủ đối với nông dân. Nếu chính sách được thực thi thì mức giá sẽ là bao nhiêu – chúng ta xem ước tính từ Reuters về KỊCH BẢN này sau khi phỏng vấn 8 nhà chế biến và xuất khẩu của Thái:

Mức giá thu mua của Chính phủ từ mức hiện nay 11000 baht/tấn lên mức 15000 baht/tấn lúa tương đương 496 USD/tấn. Mức giá gạo xuất khẩu sẽ phải tăng từ mức hiện tại 500 USD/tấn lên 750 USD/tấn”.

 

Bà Yinglusk Shinawatra đã nhậm chức Thủ tướng Thái Lan vào ngày 9/8.

Vậy mà, ngày 24/8 ông Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên đã tổ chức họp báo đột xuất, với mục đích hạ giá lúa gạo trong nước khi tuyên bố rằng:

“Cam kết tăng giá thu mua lúa gạo cho nông dân khi vận động tranh cử của Chính phủ mới tại Thái Lan, phải tới tháng 11 mới chính thức được triển khai và việc này cũng được thực hiện có lộ trình. Vì vậy, không nên để các đối tượng lợi dụng điều này là để tác động đến tâm lý của người dân làm ảnh hưởng đến thị trường trong nước”.

 

Cái “điều này” mà ông Biên sợ các đối tượng lợi dụng để tác động đến tâm lý của người dân làm ảnh hưởng đến thị trường trong nước chính là: “cam kết tăng giá thu mua lúa gạo cho nông dân khi vận động tranh cử của Chính phủ mới tại Thái Lan”, mà ông cho rằng còn lâu lắm mới xảy ra.

Thế nhưng, cái “điều này” mà ông Biên tuyên bố còn lâu mới xảy ra, lại sắp xảy ra, chẳng cần các đối tượng tung tin thúc đẩy gì cả.

 

Ngày 9/9 báo SGGP Online, cho biết:

“Nội các Thái Lan vừa thông qua quyết định thành lập Ủy ban về chính sách lúa gạo quốc gia do chính Thủ tướng Yingluck Shinawatra đứng đầu. Ủy ban này sẽ xem xét mọi khía cạnh liên quan đến giá lúa gạo, một mặt hàng giúp Thái Lan đứng đầu thế giới về sản lượng xuất khẩu. Thủ tướng Yingluck cũng quyết định khôi phục trở lại chương trình thế chấp lúa gạo. Theo đó, mỗi tấn lúa thường sẽ được ấn định ở mức 15.000 baht, còn lúa thơm HomMalisẽ là 20.000 baht/tấn”.

Và bài báo cho biết thêm:

“Với quyết định này, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá gạo bán lẻ của Thái Lan sẽ tăng 25% kể từ ngày 7-10, ngày áp dụng chương trình cho vay thế chấp lúa gạo. Ngoài ra, gạo xuất khẩu Thái Lan cũng có thể sẽ tăng lên 850 USD/tấn, riêng với gạo HomMalicó thể lên đến 1.200 – 1.300 USD/tấn. Điều này sẽ là bài toán khó cho các nhà xuất khẩu”.

 

Là một chính khách, ông Biên không tin vào lời hứa của một chính khách khác là ứng viên Thủ Tướng Thái Lan, rồi không tin cả vào lời hứa của Thủ tướng Thái Lan, ông Biên đang “suy từ bụng ta ra bụng người” chăng?

 

Là Tổ trưởng tổ điều hành xuất khẩu gạo, mà ngày 24/8 ông Biên lại đưa ra những giải thích vô căn cứ, và hết sức vô lý, rằng giá lúa gạo trong nước tăng là do tin đồn nhảm, phủ nhận nguyên nhân thật sự, là giá lúa gạo tăng là do Thái Lan sắp tăng giá bán gạo xuất khẩu, do lời hứa của Thủ Tướng Thái Lan.

 

Với phát biểu của ông Biên, chúng ta nhận thấy: Chính phủ Việt Nam chưa có sự chuẩn bị nào, để ứng phó với những thay đổi từ chính sách xuất khẩu gạo của Thái Lan: Chính phủ Việt Namchưa có kế hoạch bán gạo xuất khẩu với giá tiệm cận giá bán gạo của Chính phủ Thái Lan. Chính phủ Việt Nam cũng chưa có kế hoạch hỗ trợ cho người ăn gạo trong nước, khi giá gạo thế giới lên đến 750 đô la Mỹ/ tấn.

 

Vậy thì, nếu ngày 7/10 nếu Thủ tướng Thái Lan thực hiện đúng như cam kết, Chính phủ Việt Nam sẽ làm cách nào để vừa bảo đảm quyền lợi cho nông dân vừa bảo đảm cho quyền lợi của người ăn gạo?

 

Phải chăng Chính phủ Việt Nam định thực hiện kịch bản y như năm 2008?

Còn nhớ ngày 16/9/2010, Ông Biên đã từng tuyên bố: “Trong những tháng cuối năm, mục tiêu kiềm chế lạm phát là quan trọng nên điều hành lúa gạo phải hướng tới mục tiêu này, không thể chạy theo mục tiêu đảm bảo có lãi cao cho nông dân”.

Còn nhớ tháng 6/2008, khi VFA bán gạo xuất khẩu giá 975 đô la Mỹ/ tấn, Chính phủ vội vả ngừng xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực, mà thực chất là ngừng xuất khẩu để khống chế giá lúa gạo trong nước không cho tăng theo giá lúa gạo thế giới.

Còn nhớ năm 2008, Chính phủ thành công trong việc chống lạm phát bằng cách khống chế giá lúa gạo trong nước, VFA lời to khi mỗi kg lúa lời 2.432 đồng, còn nông dân, thay vì được hưởng cơ hội vàng bán lúa giá cao, đã nhận được bi kịch bán lúa hòa vốn.

Hiện tại, sau cuộc họp báo của ông Biên ngày 24/8, giá lúa gạo trong nước giảm trên 400 đồng/ kg, VFA lại đang tuyên bố không ký được hợp đồng bán gạo mới.

Vì vậy, nông dân chúng tôi ngờ rằng: cuộc họp báo ngày 24/8 của ông Biên là tạo dư luận cho Chính phủ thực hiện kịch bản năm 2008: khống chế giá lúa gạo trong nước để chống lạm phát, bằng cách ngừng ký hợp đồng bán gạo, khi giá gạo thế giới tăng lên trên 750 đô la Mỹ/ tấn.

Có khác chăng, là việc ngừng xuất khẩu gạo được VFA thực hiện âm thầm, bằng cách không ký hợp đồng bán gạo mới, rồi nói là không có khách hàng bán gạo, chứ không tuyên bố rình rang đảm bảo an ninh lương thực như năm 2008.

 

Năm 2011 không thể thực hiện kịch bản của năm 2008

Nông dân chúng tôi xin lưu ý Chính phủ rằng: bây giờ là năm 2011 chứ không phải là năm 2008.

Năm 2008 nông dân chúng tôi quá thiếu thông tin, nên không biết rằng: trong 3 tháng 6, 7, và 8 VFA bán gạo xuất khẩu với giá trên 800 đô la Mỹ/tấn, cho nên Chính phủ có thể tùy tiện giải thích ngừng xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực, cho nên Chính phủ có thể dung túng cho VFA bán lúa giá 6.432 đồng/kg nhưng mua lúa của nông dân giá có 4.000 đồng/kg.

Còn năm 2011 này, nông dân chúng tôi biết rằng: Chính phủ Thái Lan đang dự kiến tăng giá bán gạo xuất khẩu vào ngày 7/10, lên khoảng 750 đô la Mỹ/tấn, và nếu thật sự Chính phủ Thái Lan tăng giá như dự định, thì giá bán gạo xuất khẩu của Việt Nam tiệm cận với giá bán gạo của Thái Lan hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của Chính phủ Việt Nam.

Do đó, năm 2011 này, nếu Chính phủ khống chế giá lúa gạo trong nước như năm 2008, thì việc giải thích do lý do khách quan như năm 2008, sẽ không được nông dân chúng tôi và những người hiểu biết chấp nhận.

 

Tại sao không bắt tay với Thái Lan để lập liên minh ấn định giá bán gạo xuất khẩu?

Từ năm 2007 đến nay, Thái Lan đã nhiều lần đề nghị Việt Nam hợp tác về vấn đề xuất khẩu gạo, nhưng Việt Nam chưa nhiệt tình hợp tác.

Ngày 18/3/2010, trên báo Người Lao động Online trong bài “Bắt tay với Thái Lan” tôi đã đề nghị nên lập liên minh song phương với Thái Lan để ấn định giá bán gạo xuất khẩu, tôi xin được phép nhắc lại:

 

“Hãy thử so sánh: Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu dầu lửa (OPEC) có hơn 10 thành viên nhưng khai thác khoảng 40% sản lượng dầu của thế giới và chi phối cơ bản thị trường này. Trong khi đó, VN và Thái Lan chiếm đến 45,4% tổng lượng gạo xuất khẩu thế giới (số liệu vào năm 2008), vậy chúng ta hoàn toàn có thể bắt tay với người Thái để hình thành liên minh song phương ấn định giá bán gạo xuất khẩu. Theo tôi, đề xuất thành lập Tổ chức Các quốc gia xuất khẩu gạo (Organization of Rice Exporting Countries – OREC) hoạt động theo mô hình của OPEC, do VN và Thái Lan làm nòng cốt, cũng là một giải pháp khả dĩ nhằm củng cố thế mạnh và giá trị của hạt gạo VN trên thị trường quốc tế”.

Khi đơn phương ấn định giá bán gạo xuất khẩu cao, điều lo ngại lớn nhất của Thái Lan là Việt Nam cạnh tranh không lành mạnh bằng cách bán gạo xuất khẩu giá thấp.

Vì thế, ở thời điểm này, nếu Chính phủ Việt Nam đề nghị hợp tác song phương để ấn định giá bán gạo xuất khẩu với Chính phủ Thái Lan, tôi chắc chắc rằng Chính phủ Thái Lan sẽ nhiệt tình hưởng ứng.

Thời điểm hợp tác song phương để ấn định giá bán gạo xuất khẩu cao, nhằm mục đích giúp nông dân bớt nghèo đã chín muồi, cờ đã đến tay Chính phủ ViệtNam, sao Chính phủ không phất?

Cờ đã đến tay nếu Chính phủ không phất, thì từ rày về sau, nông dân chúng tôi sẽ không tin rằng Chính phủ thực sự muốn lo cho nông dân.

Vì lo cho nông dân cái con khỉ khô gì, khi chẳng chịu tăng giá mua bán lúa gạo?

 

Ghi chú: Việc trợ giá cho người ăn gạo trong nước khi bán gạo xuất khẩu tiệm cận với giá bán gạo của Thái Lan dể lắm, nếu Chính phủ cần, nông dân chúng tôi xin nhiệt tình hiến kế.

 

H.K.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

.

.

.