Archive for Tháng Chín, 2011

“HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ TOÀN QUỐC LÀN THỨ 8” CÓ CHÍNH DANH KHÔNG ? (Trần Mạnh Hảo)

Tháng Chín 14, 2011

 

“Hội nghị viết văn trẻ toan quốc lần thứ 8″ có chính danh không?

Trần Mạnh Hảo

05:57:am 14/09/11

http://www.danchimviet.info/archives/42242

 

Đức Khổng phu tử sinh thời, đã đưa ra một học thuyết rất hay, có ích cho nhân loại muôn đời là học thuyết Chính Danh, rằng : “ Danh không chính thì Ngôn không thuận, Ngôn không thuận thì Việc không thành”.

Nay thử lấy thuyết chính danh trên để xét “Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8” của Hội nhà văn Việt Nam có thực chính danh không ?

 

Theo báo chí cho biết, tới dự “Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8 “ này có 112 đại biểu viết văn trẻ và 100 đại biểu viết văn già. Trong mấy ngày hội nghị, số các nhà văn già phát biểu nhiều hơn số nhà văn trẻ phát biểu, thời gian đăng đàn của các nhà văn già gấp đôi các nhà văn trẻ. Như vậy, số nhà văn trẻ dự hội nghị chỉ hơn số nhà văn già 12 người, coi như gần tương đương nhau. Như thế này, không thể gọi là “ Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc…” được, mà phải gọi sự vật bằng tên của nó như thế này, mới đúng, mới chính danh: “HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ VÀ VIẾT VĂN GIÀ TOÀN QUỐC LẦN THỨ NHẤT” mới đúng.

 

Tại sao phải thay đổi thứ bậc “lần thứ 8” bằng “lần thứ nhất”? Thưa vì đây là hội nghị lần đầu tiên của những người viết văn trẻ và viết văn già họp chung, mô hình mới của Hội nhà văn Việt Nam.

 

Việc chọn ra 100 đại biểu nhà văn già đi dự “Hội nghị viết văn trẻ và viết văn già…” trong số ngót một nghìn nhà văn già có chính danh không? Thưa rằng hoàn toàn không chính danh, không dựa trên bầu bán công minh, không tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng; rằng nhà văn già nào được đi dự hội nghị viết văn “xăng pha nhớt” này ? Ai trong số nhà văn già được chọn đi vui chơi Tuyên Quang xứ “chè Thái, gái Tuyên” hoàn toàn do cảm tính của ông chủ tịch Hữu Thỉnh, hoặc do việc ông chủ tịch giai đoạn này cần tranh thủ ai ủng hộ mình…v…v…

 

Mới thấy nhà văn Trần Nhương “hí họa” tuyệt hay như sau về chuyện các em các cháu viết văn trẻ gánh các cụ viết văn già lên xứ Tuyên oằn vai rất “ tang thương ngẫu lục” như sau:

 

Em đi Hội nghị Trương Tuần

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2011/09/Nowy-obraz7.png

 

Nhân đây, chúng tôi cũng xin đưa ra một số việc không chính danh của Hội nhà văn Việt Nam, để quý bạn đọc cùng bàn cho vui.

 

Tên gọi “Hội nhà văn Việt Nam” của hội hiện hành liệu có chính danh không?

Thưa không ! Vì trong Hội nhà văn Việt Nam còn có sự tồn tại cả một hãng phim đã làm những phim với số tiền cả triệu đô la. Chúng tôi thiết nghĩ, Hội nhà văn thì chỉ có chức năng: làm thơ, viết văn (trong môn văn xuôi có thể loại kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyện), viết lý luận phê bình, dịch tác phẩm văn học, châm hết; chứ đâu có chức năng diễn kịch, chức năng múa, chức năng vẽ, chức năng hát, chức năng làm phim? Việc có một hãng phim to đùng trong Hội nhà văn là không đúng chức năng cầm bút của nghề văn. Nên tên gọi Hội nhà văn Việt Nam hiện nay là không chính danh, phải gọi như thế này mới chính danh “Hội viết văn và hội làm phim Việt Nam”.

 

Trong “điều lệ Hội nhà văn” thấy ghi: “Hội nhà văn là hội chính trị nghề nghiệp…”. Thực ra, Hội nhà văn chỉ là hội nghề nghiệp; ví dụ hội những người vẽ tranh, làm tượng gọi là hội mỹ thuật, hội những người nuôi ong gọi là hội nuôi ong, hội những người nuôi chim là hội chơi chim. Nhưng khi đã xác định Hội nhà văn là hội chính trị nghề nghiệp thì tên gọi của nó hiện nay là không chính danh. Phải gọi như thế này mới chính danh: “Hội chính trị viết văn Việt Nam” mới chính danh.

 

Đồng nhất chính trị với viết văn theo như điều lệ hội viên trên là hoàn toàn sai với những định đề của mỹ học mác – xít. Quan niệm của triết học mác -xít về thượng tầng kiến trúc coi văn học nghệ thuật và chính trị là hai bộ môn khác nhau trên cùng một măt bằng. Đồng nhất văn học là chính trị như trong điều lệ hội nhà văn đã xác định trên là trái với triết học mác-xít.

 

Hầu hết các hoạt động của Hội nhà văn hiện nay đều không chính danh, dấm dấm dúi dúi, không đàng hoàng.

Nghe nói trong gần ba khóa (15 năm) làm chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam của ông Hữu Thỉnh, nhà nước đã tài trợ cho hội nhà văn Việt Nam hàng ngàn tỉ đồng. Với số tiền quá lớn như vậy trong khi dân ta nghèo đói vào hàng nhất thế giới, là tiền đóng thuế, tiền xương máu của nhân dân, ban lãnh đạo Hội đã dùng tiền này làm gì, có thật chỉ dùng tài trợ sáng tác cho hội viên, dùng chi phí cho các hội nghị giời ơi ví như hội nghị ‘xăng pha nhớt” Tuyên Quang mấy ngày vừa qua? Hội viên nhà văn không hề biết số tiền này ông chủ tịch hội dùng để làm gì cho hết, khi ông chưa hề một lần công khai tài chính. Dùng tiền lớn của dân tiêu pha bừa bãi, không công khai tài chính cho hội viên biết liệu có chính danh không?

 

Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong một bài báo khác.

 

Sài Gòn ngày 14-09-2011

© T.M.H.

© Đàn Chim Việt

.

.

.

BÉ KÝ – HỒ THÀNH ĐỨC : MỘT CẶP “SONG KIẾM HỢP BÍCH” . . . (Luân Hoán)

Tháng Chín 14, 2011

 

Bé Ký, Hồ Thành Đức,một cặp “Song Kiếm Hợp Bích…”

Luân Hoán

Sunday, September 11, 2011

http://www.diendantheky.net/2011/09/be-ky-ho-thanh-ucmot-cap-song-kiem-hop.html

 

Chừng một phút trước, tôi vẫn có ý định chia gia tài kỷ niệm có được với Hồ Thành Đức và Bé Ký thành hai phần riêng rẽ. Nhưng khi bắt đầu gõ những dòng này, tôi chợt thấy không nên và cũng không thể tách rời cặp song kiếm hợp bích trong hội họa Việt Nam này.

 

Xin lỗi, tôi đã vừa ví von thiếu chính xác và vô duyên. Song kiếm hợp bích là một bộ kiếm pháp tuyệt đỉnh, đòi hỏi một đôi nam nữ, tâm đầu ý hiệp, cùng nhau hết lòng luyện tập mới đạt được kết quả tốt. Trong bộ kỳ thư võ hiệp Thiên Long Bát Bộ, nhà tiểu thuyết lỗi lạc của Trung Hoa, ông Kim Dung, đã cho hai nhân vật Dương Quá và Tiểu Long Nữ luyện thành công bộ kiếm pháp này trong một ngôi cổ mộ. Ngoài tình yêu, Tiểu Long Nữ và Dương Quá chỉ cùng luyện chung một bộ môn võ thuật. Như vậy, Bé Ký và Hồ Thành Đức chỉ có thể là song kiếm hợp bích trong tình yêu, tình chăn gối. Ở lãnh vực hội họa, họ có trường phái riêng, sở trường riêng. Tuy luôn luôn hỗ trợ nhau trong nghệ thuật, nhưng họ hoàn toàn độc lập khi thực hiện tác phẩm.

 

Bé Ký là một họa sĩ thành danh với nghệ thuật carricature gồm hoạt họa, ký họa, tốc họa… và tranh lụa. Tài năng vô cùng đặc biệt này được ra đời từ Hải Dương, miền bắc Việt Nam trong năm 1938, mang một danh xưng rất ít người biết: Nguyễn Thị Bé. Mặc dù cuộc đời khắc nghiệt, sớm cướp mất của chị Bé cả hai đấng sinh thành, chị vẫn say mê hội họa và khởi đầu sự nghiệp bằng thiên phú bẩm sinh. Theo tiết lộ của người bạn tình, họa sĩ Hồ Thành Đức, Bé Ký bắt đầu đùa nghịch với cây bút mình cầm, từ năm lên năm, lên sáu nhưng mãi đến khi chị vượt qua cái tuổi lên mười một vài năm, ngọn bút trên tay chị mới bắt đầu nhuần nhuyễn.

 

Con chim, con cá, con trâu, con gà… rồi bụi cỏ, nhành cây, cục đất… rủ rê bàn tay của một cô bé sớm biết nhìn ngắm, biết yêu thiên nhiên. Trong một dịp được đi Hải Phòng, cô bé tình cờ đi ngang một phòng tranh, và đã không cưỡng được sự tò mò, cô ghé vào xem. Lòng yêu thích hội họa, đưa cô bé từ bạo dạn làm người xem tranh đến việc xin phép vẽ thử. Họa sĩ Trần Đắc, chủ nhân của phòng tranh đã thích thú chấp thuận, và sau vài lần thử tay nghề, ông nhận Bé Ký vào làm học trò. Họa sĩ Trần Đắc đã mang kinh nghiệm của mình, dạy cho Bé Ký phương pháp vẽ hoạt họa bằng chì than rồi đi dần qua màu sắc trên lụa. Cô học trò càng ngày càng xuất sắc. Ngoài những giờ ở xưởng vẽ, Bé Ký mang giấy bút dạo khắp phố Hải Phòng. Cô bé vẽ lại những hình ảnh cô cho là ngộ nghĩnh, dễ thương, trong đó cả những khuôn mặt của người ngoại quốc. Chính những phác thảo chân dung linh động này, đã thường xuyên mang lại cho cô bé những đồng tiền đầu đời. Đương nhiên cô bé mang cả về cho gia đình người thầy. Tình sư phụ ngày một tốt đẹp và không lâu sau, Bé Ký được chấp nhận làm con nuôi. Trong biến cố lịch sử 1954, cô Nguyễn Thị Bé theo gia đình cha mẹ nuôi vào Sài Gòn.

 

Trong những năm đầu của thập niên 60, không nhớ rõ năm nào, tôi đã được gặp họa sĩ Bé Ký trên những trang báo của tạp chí Thế Giới Tự Do. Tạp chí này được xem là một tạp chí có hình thức đẹp nhất thời bấy giờ, với giấy trắng tốt, mực màu, do Phòng Thông Tin Mỹ phổ biến. Những bản vẽ của Bé Ký được in trang trọng bên cạnh bài giới thiệu rất ưu ái về tranh và tác giả. Tiếc rằng tôi không còn nhớ người viết. Cùng thời gian này, những người Sài Gòn chắc không xa lạ với hình ảnh một cô gái nhỏ nhắn, nhẹ nhàng, thường lang thang qua nhiều ngã phố với những tờ croquis đơn giản. Trên tay cô, theo tháng ngày, nặng dần những hình ảnh sinh hoạt đời thường của thị dân. Những hình ảnh được lưu giữ, được cho phép sống đời trên mặt giấy, qua một bút pháp vô cùng riêng biệt và cũng vô cùng độc đáo. Tài nghệ của cô gái thu hút mạnh mẽ sự thưởng ngoạn của mọi người, đặc biệt là những người ngoại quốc hiện diện trên phố Sài Gòn. Bé Ký đã thổi vào từng đường vẽ bay bướm nhưng đơn giản của mình cả tâm hồn thanh thản của chị. Sức sống mộc mạc được chị phân phát, chia sẻ trong từng hoạ phẩm. Đi từ đơn giản chân phương này đến cái chân phương đơn giản khác, chứ không vượt đến cái trừu tượng, cao siêu, nhưng tranh Bé Ký đứng vững được với thời gian vì nhờ cô đọng, sống thực. Nét đặc thù này chính là cá tính của tác phẩm Bé Ký.

 

Ngày 06 tháng 12 năm 1957, Bé Ký được ông René de Berval, phê bình gia mỹ thuật cho tạp chí France d’Asie (Sài Gòn) và Journal d’Extrême Orient, bảo trợ cuộc triển lãm đầu tiên tại cơ sở Alliance Francaise (Pháp Văn Đồng Minh Hội). Cuộc triển lãm thành công về tài chánh, nhưng quan trọng hơn là có giá trị như một sự khẳng định tài năng của Bé Ký, người “Nữ Họa Sĩ

 

Của Vỉa Hè Đô Thành”, một biệt hiệu thân mật được dân Sài Gòn dành cho chị.

 

Từ năm 1957 đến năm 1975, Bé Ký đã có đến 18 cơ hội khai mạc phòng tranh (16 lần tại Sài Gòn, 1 lần tại Pháp vào năm 1959 và 1 lần tại Nhật Bản, vào năm 1969, cùng với 9 họa sĩ khác quốc tịch). Sau 1975, chị bày tranh chung tại Ba Lan vào năm 1984, và 8 lần tại Hoa Kỳ, khi đã định cư tại Mỹ. Trong 8 lần này, có hai lần được xem là rất quan trọng trong việc đưa tên tuổi Bé Ký đi càng rộng trong giới thưởng ngoạn của thế giới.

 

Cuộc Triển Lãm Quốc Tế Women: Beyond Borders, tại Santa Barbara Contemporary Arts Forum (California) với mục đích giới thiệu tiếng nói hội họa của phái nữ toàn thế giới, được tổ chức năm 1995, kéo dài đến năm 2000. Trong năm năm, cuộc triển lãm này được di chuyển qua một số quốc gia có họa sĩ được mời tham dự: Mỹ, Do Thái, Nhật Bản, Á Căn Đình, Kenya, Úc, Tây Ban Nha, Mễ Tây Cơ, Thụy Điển, Ý, Cu Ba, Pháp, Phần Lan. Bé Ký góp mặt trong cương vị hội họa của Việt Nam. Hiện nay cuộc triển lãm này đã được chuyển về lại Hoa Kỳ, và trở thành một phần trong một phòng tranh thường trực mở cửa lâu dài.

 

Cuộc triển lãm không kém phần quan trọng thứ hai có tên: “Cuộc Triển Lãm Quốc Tế Về Tình Yêu, Gia Đình Và Niềm Tin” tại Johnson Art Collection, vào ngày 23-9-2006 đến 21-10-2006. Chỉ có hai hoạ sĩ Việt Nam được mời tham dự : Bé Ký và Hồ Thành Đức, bên cạnh Yuroz (Armenia), Milon Townsend (Hoa Kỳ), Max Rodriguez (Cuba), Adrian Wong Shue (Jamaica), Ushangi (Georgia), Hank Garcia (Hoa Kỳ), Edward McCluney (Mỹ gốc Phi Châu).

 

Đề tài trong tranh Bé Ký thường dung dị với các hình ảnh súc vật và con người bao gồm những cảnh sinh hoạt, chân dung. Hình ảnh người mẹ được lưu giữ rất nhiều trong tranh Bé Ký. Con gái út của chị, Hồ Thị Hải Dương, một dược sĩ, viết một đoạn tùy bút về người mẹ họa sĩ của mình, rất chân tình cảm động:

“Khi nhìn thấy những tấm tranh mẹ con – chủ điểm trong đề tài sáng tác của mẹ tôi, tôi biết rằng mẹ tôi thương yêu các con vô cùng ! Mẹ tôi vạch một đường cong là mắt mẹ nhìn lên, hai chấm đen tròn là mắt con ngước nhìn mẹ. Đơn giản vậy thôi nhưng lại âu yếm biết bao !

Mẹ tôi, người đàn bà nhỏ nhắn, giản dị nhưng mang một nét đẹp thuần túy của một phụ nữ Việt Nam, chân chất hiền từ và đầy lòng nhân hậu…

…Gia đình tôi, từ bố mẹ đến các anh chị ai cũng là họa sĩ, nhưng riêng tôi lại theo một ngành khác hẳn – Pharmacy, và gần như không có chút gì di truyền về năng khiếu hội họa. Tôi có cảm giác mình là “một ngoại lệ bất đắc dĩ” ! Thế nhưng , cái tên Hải Dương của tôi lại gắn liền với tiểu sử mẹ tôi vì Hải Dương là quê hương của bà. Hơn nữa, trời đã công bằng để cho tôi được nối truyền một tài nghệ khác ngoài vẽ ra, ở mẹ tôi- đó là tài nấu ăn”

 

Ngoài bóng dáng sinh hoạt của người mẹ, chúng ta còn bắt gặp ở tranh Bé Ký những thiếu nữ qua nhiều dáng vóc, độ tuổi khác nhau, có cả những chân dung khoả thân nhẹ nhàng, thanh khiết. Các tên tuổi lỗi lạc trong giới sinh hoạt chữ nghĩa, âm nhạc, hội họa… một số được sống đời với nghệ thuật Bé Ký, có thể kể: Bùi Giáng, Võ Phiến, Văn Cao, Phạm Duy, Nguyên Sa, Du Tử Lê… Những phác họa chân dung này đương nhiên khác hẳn với lối vẽ truyền chân thường thấy ở những người hành nghề vẽ chân dung chuyên nghiệp, đòi hỏi sự giống nhau như nghệ thuật nhiếp ảnh. Bé Ký chỉ ghi lại cái phong thái, cái thần và đôi nét nổi bật của người được vẽ. Trong số chân dung các danh tài vừa kể, tôi thích nhất là bức phác họa thể hiện một người đàn ông nổi tiếng yêu châu chấu, chuồn chuồn. Ông tài hoa này cũng đã vẽ cả thiên hạ bằng thơ:

“chân trời mộng mị vàng pha/ mùa Phương Lan giậy bên tà dương buông/ vói tay sầu khổ hao mòn/ đầu nghiêng rũ tóc miệng tròn thơ ngây/ chiêm bao dàn rộng phai ngày/ liễu in giòng rụng thu đầy hồ phơi/ hào hoa tiếng lạnh trong lời/về trong vân thạch em ngồi vén xiêm”

(Bùi Giáng, Sầu Lục Tỉnh, Mưa Nguồn)

 

Phải công nhận, sự thành danh nhanh chóng của họa sĩ Bé Ký một phần nhờ vào những người sưu tập hội họa Âu châu, tiếp theo là những bài viết giới thiệu, phê bình của nhiều tạp chí ngoại quốc như: Le Journal d’Extrême Orient, The Yomiuri Shimbun, The Manila Times, Asiaweek, The Orange County Register, Los Angeles Times. Về phía Việt Nam, nhà nghiên cứu, phê bình hội họa, Huỳnh Hữu Ủy đã nhận xét tranh Bé Ký:

“… Bút pháp của Bé Ký thuộc về đại chúng, đó là một thứ nghệ thuật của quần chúng. Như vậy, chẳng có gì đáng tiếc khi nghệ thuật của Bé Ký chỉ ngừng ngang mức dân gian mà không đi xa hơn nữa. Nếu chúng ta đã có những nguồn tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, tranh đỏ Kim Hoàng, tranh làng Sình ở Huế, thì chúng ta còn có thêm một nguồn tranh dân gian quý giá không kém chính là thế giới tranh Bé Ký. Dĩ nhiên, tranh Bé Ký cao và thơ mộng hơn nhiều vì nó là hơi thở thuần nhất của một nghệ sĩ chân thành và tài hoa, độc đáo và sáng tạo. Một giòng tranh dân gian của đại chúng như tranh Đông Hồ, thì hoàn toàn ngược lại, xoá hẳn cá tính vì được hình thành bằng nhiều thế hệ qua thời gian và lịch sử.

Tôi chỉ muốn nói tranh Bé Ký dừng ngang mức dân gian, bởi vì bà không được đào luyện về kỹ thuật và ý thức hiện đại. Hơn nữa, bà cũng không có nhu cầu gì về một ý thức nghệ thuật hiện đại. Mà chính vì thế, bà lại như có được một lợi thế riêng biệt của mình: tạo được một thế giới rất đẹp, thấm đẫm tâm hồn và hương hoa dân tộc…”

 

Ở đoạn cuối bài viết, nhà phê bình Huỳnh Hữu Ủy bày tỏ:

“…Bé Ký là một khuôn mặt nghệ thuật đầy bản sắc suốt hơn bốn thập niên qua, với một cuộc hành trình đầy đam mê và rất thơ mộng. Trước đây, Bé ký nổi bật với các hoạt động vui tươi và đầy sinh khí của bà ở Sài Gòn, ở miền Nam. Ở miền Bắc người ta không biết đến Bé Ký. Nhưng ngày nay, tình hình đất nước đã đổi khác, đã trở thành một thể thống nhất, Bé Ký phải thuộc về toàn dân tộc, chứ chẳng thể của riêng ai…”

(Huỳnh Hữu Ủy, Mấy Nẻo Đường Của Nghệ Thuật Và Chữ Nghĩa)

 

Tranh Bé Ký đương nhiên được rất nhiều người trong giới sinh hoạt văn học nghệ thuật bày tỏ những nhận xét và hầu hết đều tán thưởng. Nhà văn Võ Phiến viết tám câu thơ tặng Bé Ký :

“Bao năm cách nước xa non/ mượn hình nương tiếng lần con đường về/ lấy câu lục bát làm quê/ trông tranh Bé Ký nghĩ tre đầu đình/ nghe câu quan họ Bắc Ninh/ sống bao xúc cảm ân tình chứa chan…

Đó đây thấp thoáng quê hương/ những mảnh quê hương bên ngoài bờ cõi/ những mảnh quê hương trong tầm tay với/ những mảnh quê hương của giới lưu vong/ nghìn trùng vẫn núi vẫn sông”

(Những mảnh quê hương ngoài biên giới- Võ Phiến)

 

Nhà thơ Du Tử Lê, không tặng thơ, ông viết mấy dòng:

“ Tranh Bé Ký đơn giản, mộc mạc, như tâm hồn chị. Một chấm đen thay cho con mắt. Một vạch cong thay cho niềm vui hay nỗi buồn. Vậy mà, tài tình, lạ lùng xiết bao, ở những nét bút đơn giản kia, không ngừng dấy lên những rung động Việt Nam, rất Việt Nam. Có dễ chẳng một cuốn sách, một tác phẩm biên khảo nào tả chân-dung-tâm-hồn người phụ nữ Việt Nam được như tranh Bé Ký.

Tôi cho tranh Bé Ký là dương bản hồn tính người mẹ Việt Nam vậy”.

(Du Tử Lê tháng 12-1994)

 

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê cho rằng:

“ …Các họa sĩ thường bắt đầu từ dessin rồi dựa vào dessin mới phóng ra các màu sắc khác nhau. Bé Ký dừng lại ở dessin. Dường như bà đã tìm thấy vùng đất Thánh và dứt khoát ở lại thiên đường nguồn cội của mình. Bà không lớn nữa. Có thể nói Bé Ký- như cái tên lựa chọn có ý tiền định của bà- đã lấy tuổi thơ làm quê hương, dừng lại ở thời điểm hàn vi, ngây thơ (naif) trong hội họa và trong đời. Bé Ký là hiện tượng không già, rất độc đáo trong hội họa Việt…

…Trong thế giới hội họa Bé Ký , nhân vật, động vật và tĩnh vật , rọi lọc qua ánh sáng giác ngộ, có những nét hồn nhiên và ngây thơ. Từ con trâu, em bé, đến chiếc xe thổ mộ, cái váy của người đàn bà, chiếc khăn mỏ quạ, tóc vấn đuôi gà…tất cả đều thoát ra một cái gì chân chất, rất lành, rất mộc mạc như chưa từng có lớp son màu lòe loẹt nào bay đến làm ô uế, ô nhiễm đi…”

(Bé Ký, Nỗi Hoài Nhớ Niềm Vui Đã Khuất)

 

Trong bài bày tỏ cảm nghĩ, nhân một cuộc triển lãm của Bé Ký được Việt Art Gallery tổ chức năm 2004, của ông Phan Gia Quang, có một đoạn, nhận xét rất tinh tế:

“…Chúng tôi rất lấy làm cảm phục khi thưởng ngắm một bức tranh của Bé Ký. Cảm phục bởi vì qua một vài nét đan thanh thật đơn giản, Bé Ký đã có thể truyền đạt được cái chân thật của tình cảm một cách sống động và thuần túy. Khi nhìn vào một tác phẩm “Mẹ Con”, chúng tôi đã quên rằng mình đang ngắm một tác phẩm hội họa. Chúng tôi đã chìm đắm trong tình thương vô bờ bến, trong sự trìu mến xuất phát từ những nét mực đen, những màu sắc giản dị và ấm cúng. Hình ảnh những đứa trẻ ngồi xem đá gà đã từ lâu được chôn trong tiềm thức của một kẻ xa quê hương. Bức tranh “Chọi Gà”, nay làm sống lại những nét tinh nghịch, hồn nhiên của thời thơ ấu… Đặc điểm của Bé Ký không nằm ở chủ đề. Nó ẩn tàng trong cách vận dụng những nét mực một cách tối thiểu để biểu lộ tình người một cách tối đa. Nếu tranh Nhật Bản có tính cách của thiền học, thì tranh Bé Ký sẽ làm cho chúng ta liên tưởng đến tinh thần biểu hiện bản chất và giữ sự chất phác của Lão giáo. Bé Ký, với những nét mộc mạc nhưng không kém mỹ miều, đã tạo cho mình một vị trí biệt lập, độc đáo trong ngành hội họa Việt Nam.”

(Phan Gia Quang)

 

Tất cả những ý kiến trên, cùng nhiều ý kiến tôi chưa sưu tập được, cũng như những gì sẽ được những người thưởng ngoạn sẽ phát biểu về tranh Bé Ký sau này, tôi nghĩ sẽ không khác biệt nhau bao nhiêu. Nó làm cho người đọc, có cảm tưởng rằng mọi người đã bắt chước nhau trong sự nhận định. Người này lặp lại nhận xét của người kia. Thật ra, có lẽ, chẳng ai bắt chước ai mà chỉ vì tranh của Bé Ký đều cho mọi người một thẩm định gần như nhau, thế thôi. Ai cũng đọc được tranh của chị. Ai cũng thấy được lòng mình ra sao khi được nhìn ngắm những ký hoạt có tính cách trường cửu của chị. Tôi là người thiếu bén nhạy, thông minh và rất ấm ớ trong nhiều lần bị bắt buộc phải đưa ra một ý kiến về một vấn đề gì đó, nên với chị Bé Ký và những đứa con tinh thần của chị, tôi đã viết lạng quạng mấy câu ngũ ngôn:

“Sinh ký dong mực đọng

lung linh xanh đường gân

bàn tay chuyền hơi thở

dung ảnh ngời nét thần

đâu chỉ ngắm bằng mắt

diện nhận từ chân tâm

người vật chợt vô động

mà thở cùng tháng năm”

(LH- Ổ Tình Lận Lưng)

 

Hồ Thành Đức là khúc đầu một con rồng, ra đời năm 1940. Trong thuật định tuổi âm lịch, dùng để chấm tử vi, người ta thường căn cứ vào Thập Lục Hoa Giáp tức là sự kết hợp giữa sáu chu kỳ hàng Can và năm chu kỳ hàng Chi. Đây là điều tôi nghe lóm, không biết có đúng hay không ? Nhưng mỗi tên gọi của hàng Chi là một con giáp, hay còn gọi là tuổi, là điều nhiều người đã biết. Và trong chúng ta ai cũng phải có một trong mười hai tuổi sau đây: tý (con chuột), sửu (con trâu), dần (con cọp) mẹo (con mèo), thìn (con rồng), tỵ (con rắn), ngọ (con ngựa), mùi (con dê), thân (con khỉ), dậu (con gà), tuất (con chó) hợi (con heo). Với hình ảnh một con vật tượng trưng cho năm sinh của mình, chưa nói lên được sự thăng trầm của cuộc đời mình thừa hưởng. Ra đời năm sửu, cầm tinh con trâu không hẳn cả đời phải kéo cày. Ra đời năm dậu, cầm tinh con gà không nhất thiết phải bương chải để kiếm miếng ăn quanh năm. Ra đời năm thìn, cầm tinh con rồng, đâu đã chắc hưởng một kiếp thanh thản bay bổng trên mây xanh, Cầm tinh con ngựa, tuổi ngọ, nhưng chắc gì có dịp đi chu du thiên hạ. Mang nghiệp tuổi mùi, con dê, nhưng hiền lành như bụt cũng là chuyện thường… Bản tính và sự thịnh, suy của cuộc đời còn tùy thuộc vào ngày, giờ sinh và cái Can, đã qui định. Hồ Thành Đức có hình tượng con rồng nhưng lại rơi vào ngôi thứ bảy của thập Can có tên gọi là “Canh” nên chưa chắc đã thong dong hưởng cái phú quí trời cho. Số mệnh có thể là chuyện có thật, nhưng không hẳn hoàn toàn chính xác.

 

Hồ Thành Đức đến với cuộc đời với đầy đủ hai bậc sinh thành. Thân phụ anh người của nông thôn huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Thân mẫu anh, cùng tỉnh nhưng ở miền Điện Bàn. (vùng đất này cũng là sinh quán của mẹ ruột tôi). Hồ Thành Đức chính xác mang họ Nguyễn. Họ mà người cha chưa có cơ hội làm khai sinh cho con, đã vội vã về trời, kéo theo mẹ anh, không lâu sau đó. Hồ Thành Đức thành trẻ mồ côi rất sớm. Cuộc đời của trẻ mồ côi tại nông thôn một miền “cày lên sỏi đá” trong những thập niên 40 chắc cũng không khó hình dung. Trải qua nhiều gian khổ từ ấu thơ, Hồ Thành Đức, chắc nhờ cái mạng con rồng, nên được một bậc tu hành trong đạo Cao Đài tại Đà Nẵng nhận làm con nuôi. Con người phúc đức này có quí danh là Hồ Tăng Sinh, nên cậu bé mồ côi gốc Đại Lộc được khai sinh với cái tên Hồ Thành Đức. Thành là thành tài, thành đạt, thành công ? Đức là đức độ, đức hạnh, có lẽ vậy.

 

Đã có được tấm giấy khai sinh, hẳn nhiên phải từ từ có được những thứ lỉnh kỉnh khác của cuộc đời, dù hơi muộn. Hồ Thành Đức làm quen với lớp học, với mẫu tự, vào năm lên mười, năm đã biết tắm mưa liếc trộm. Bậc tiểu học thủng thỉnh đi qua, ông bố nuôi, tuy tu hành nhưng có bén duyên với Việt Binh Đoàn theo thời thế, nên phải thuyên chuyển ra Huế. Hồ Thành Đức theo ra cố đô, và làm học trò của trường trung học Nguyễn Tri Phương. Lên đệ nhị cấp anh xin chuyển về trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng, nhưng lúc bấy giờ những anh hào học sinh như Phan Duy Nhân, Phan Nhật Nam, Huy Giang… chưa lộ, nên không có ai cầm chân, rủ rê anh. Anh lại về Huế. Hết trung học, Hồ Thành Đức trở thành sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế trong hai năm. Con rồng đã thấp thoáng thấy mây xanh khi cùng Đinh Cường, Rừng, Nguyên Khai… ngồi trong Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, và tốt nghiệp vào hai năm sau.

Đức kể lại việc học vẽ của mình:

“…Và tôi có năng lực rất đặc biệt. Tôi ra Huế học và tôi được ông thầy dạy vẽ tôi từ trung học, ông ấy khen tôi, đó là ông Tôn Thất Quy, viết thơ bảo tôi ra Huế học. Không được học trong lớp ở đây được nữa. Anh đi học vẽ mới đúng nghề của anh, tôi thấy anh từ nhỏ đến lớn như vậy. Quả thật, khi ra học vẽ, không bao giờ tôi đứng nhì trong lớp. Các môn khác trong lớp bao giờ tôi cũng đứng chót…”

(lời ứng khẩu của Hồ Thành Đức trong ngày hội đồng hương Quảng Đà, tháng 5-2003, được đặc san QNĐN chép lại)

 

Năm 1960, hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam được thành lập tại Sài Gòn. Hồ Thành Đức là một trong những hội viên đầu tiên của hội. Một sinh hoạt có tính cách hằng năm là giải hội họa mùa xuân được thành hình sau đó. Hồ Thành Đức đã cùng Nguyên Khai đoạt huy chương đồng của giải này vào năm 1963. Năm họa sĩ Cù Nguyễn đoạt huy chương vàng. Và hai họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung lãnh huy chương bạc. Theo Hồ Thành Đức tấm huy chương đồng đã mang đến cho anh một bước ngoặc mới, đầy phấn khởi trong sự nghiệp hội họa của anh sau này.

 

Theo nhận định, phân loại của những người có chuyên môn trong làng vẽ Việt Nam, Hồ Thành Đức được xếp vào trường phái ấn tượng (impressioniste) và trong giai đoạn đầu, dùng kỹ thuật đắp giấy (collage) để hoàn thành tác phẩm, sau này anh chuyển qua sơn dầu và sơn mài và vẫn giữ sở trường collage của mình. Trong giới cầm cọ Việt Nam, không rõ còn họa sĩ nào sử dụng kỹ thuật cắt dán, đắp giấy hay không ? Nhưng nổi tiếng trong kỹ thuật này hình như chỉ một mình Hồ Thành Đức. Trên Washington Post, số tháng giêng, 1997, có một bài giới thiệu Hồ Thành Đức của Eric Sciliano. Bài này được ông Phan Lang chuyển sang Việt ngữ đăng trên tạp chí Thế Giới Nghệ Thuật năm 1998, có đoạn:

“…Tranh của Đức là thành quả một quan niệm sáng tạo độc đáo: ông làm chủ được cách phối hợp kỹ thuật sơn mài cổ truyền Việt Nam với lối tranh dán giấy “collage” của Tây phương (sử dụng hình chụp màu trong tạp chí Tây phương). Ông tìm thấy con đường sáng tạo riêng ấy cho mình như bù đắp vào đời sống nghèo nàn của một chàng hoạ sĩ trẻ vào thời chiến tranh Việt Nam, những năm của thập niên 60 (sinh vào thế hệ của những năm 40) đang vươn lên thành tên tuổi lớn trong làng hội họa Sài Gòn thời bấy giờ. Màu vẽ nhập cảng thì mắc mỏ, mà sách báo Anh ngữ đổ ra hàng núi từ các PX Mỹ. Đức vốn ham mộ họa sĩ Georges Braque- người đã sử dụng giấy báo và các phế liệu khác sáng tạo thành những tác phẩm bất hủ. Nhưng lối tranh dán của Đức thật khác hẳn với tranh của Braque hoặc các trường phái họa sĩ Pop Art thời 1960.

Thay vì giữ nguyên hình chụp hoặc in, vay mượn trong báo, ông đã sáng tạo lại, “vẽ lại” cắt xén, sắp xếp, tái bố cục những mảng hình rời rạc ấy, rồi sơn phết tô vẽ lên trên đến độ hình dán đột biến thành hình tượng bất ngờ. Chẳng hạn bức ảnh chụp tiểu tiết những nét khắc cuộn tròn trong nghệ thuật kiến trúc thời Baroque thì biến thể thành những lọn tóc quăn Đức Phật, hoặc tấm hình vỏ thân cây sần sùi thì trở thành làn da trên chiếc cổ quằn quại của Chú Giê Su.

Suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, rồi tiếp theo là những đói khổ tù đày, tranh của Đức bủa đầy sắc màu thê lương của bóng tối và mộng dữ. Góc phố trong tranh ông mà nhìn ra như những nẻo đường làng điêu linh chiến cuộc hoặc vùng tử địa tỏa đầy âm khí, còn nhân vật trong tranh ông-dù là thần thánh hoặc những mặt tù đầy- cũng đều đè nặng những đau đớn nội tâm. Từ khi định cư tại nước ngoài, bước đầu đến trại tạm trú Phi Luật Tân, rồi tiếp theo là Little Saigon ở quận Cam, lần nữa chiếc giá màu của Đức lại bùng vỡ lên biết bao nhiêu màu sắc theo dòng sáng tạo. Những tảng những cấu trúc, lần nữa đối chọi nhau dũng mãnh đến tàn bạo, rồi lùi mãi, lùi dần đến chỗ tan biến mờ mịt để bất chợt tìm thấy sự lắng đọng hài hòa của một cõi an tịnh nào đó. Chúng liên tiếp cận kề nhau như những âm vang chát chúa pha lẫn với những khả dỉ tựu thành những mảnh đời con người tị nạn. Cái đối nghịch mâu thuẫn ấy cũng chính là bản chất của mảnh đất tên gọi California vậy. Khiến ta nhớ cái danh từ thời thượng mà người ngoại cuộc hay gọi là “The Vietnam experience” – cuộc kinh qua Việt Nam- thì biết sao tránh khỏi ? Nhưng, đây là một cuộc kinh qua được diễn tả đầy cuồng bạo và dùng thứ ngôn ngữ sắc màu của Roualt, Ensor, Kokoschika và trường phái biểu tượng Đức quốc. Tranh ông là nơi gặp gỡ chẳng những chỉ có hai thế giới Đông-Tây, mà có đến cả ba thế giới”

(Eric Scigliano – Phan Lang chuyển ngữ)

 

Không ít những người ngoại quốc viết về Hồ Thành Đức, nhưng qua đoạn trích dẫn trên, có lẽ đã quá đủ. Chỉ tiếc, hình như rất hiếm những bài viết về hội họa Hồ Thành Đức từ những người cùng một nguồn gốc với anh.

 

Trong cuộc đời sinh hoạt hội họa, Hồ Thành Đức đã khai mạc phòng tranh rất nhiều lần. Tại Sài Gòn vào các năm 1963, 1964, 1973. Tại các quốc gia khác gồm: Đài Loan, 1965; Ấn Độ năm 1965; Nhật Bản tại Tokyo và 9 thành phố khác năm 1969; Ba Lan 1984; Phi Luật Tân 1989. Riêng tại Hoa Kỳ, Hồ Thành Đức bày tranh và tham dự nhiều cuộc triển lãm tại nhiều thành phố: Burbank, California, 1992; Westminter, California, 1992; San Diego, California, 1992; Arlington VA, 1995; San Jose, 1996; Long Beach, 1996; Pasadena, 1996; Michigan Union, 1997…Hồ Thành Đức rất thú vị với “cuộc triển lãm quốc tế về tình yêu, gia đình và niềm tin”, kéo dài một tháng (23-9 đến 21-10-2006) tại John Art Collection. Anh càng hãnh diện hơn khi một mình anh là họa sĩ Việt Nam được mời tham dự cuộc triển lãm Artists For Human Rights (Nghệ Sĩ Vì Nhân quyền) tổ chức tại Los Angeles, bên cạnh 30 họa sĩ thế giới từ 26-10 đến 16-11-2006. Hồ Thành Đức đã chọn bức The Sorrow Is Still There (Nỗi Buồn Còn Nguyên) vẽ bằng nhiều chất liệu (mixed media) trên tấm gỗ vuông mỗi chiều 122cm (48 inch) để triển lãm. Trong tất cả những cuộc triển lãm kể trên, Hồ Thành Đức đều thu lượm được nhiều kết quả khả quan về tinh thần cũng như tài chánh. Nhưng đáng kể hơn hết là cuộc bày tranh lần đầu tiên. Lần đó, anh có thu hoạch bất ngờ và quá tuyệt vời.

 

Hồ Thành Đức kể lại, vào một giờ vắng khách, anh đang lai rai dạo quanh phòng tranh, ngắm lại những tác phẩm của mình đang hít thở trên các mặt tường. Anh muốn chia sẻ với chúng những hồi hộp chờ đợi, những băn khoăn, nghi ngại, chợt anh thấy từ cửa phòng tranh xuất hiện một cô gái tóc kẹp, thả dài xuống lưng. Anh bất ngờ giật mình, nhưng làm tỉnh được ngay. Cô gái đã dừng trước họa phẩm thứ nhất, im lặng ngắm. Ánh nắng chiều của Sài Gòn hình như đang dịu lại. Những tiếng ồn ào của một thành phố sinh động cũng chừng như lắng xuống. Hồ Thành Đức tưởng chừng những tiếng bước thật khẽ của cô gái là những âm thanh hiện hữu duy nhất trong phòng tranh giàu linh hồn của anh. Mỗi họa phẩm có mỗi trái tim riêng. Tất cả chúng đang cùng anh lắng nghe, đang cùng anh quan sát, theo dõi theo từng động tĩnh của một người biết yêu nghệ thuật. Cô gái quả thật không có nhan sắc của một giai nhân. Nhưng sự dịu dàng từ tốn đã là một sắc đẹp, gợi mở trong Hồ Thành Đức những thao thức rất lạ lùng. Anh thoáng nhớ đến cô nhân tình xinh xắn của mình. Trong một giây, bàn tay vô thức của anh đưa lên vuốt tóc. Những ngọn tóc rất ngoan không làm phiền cái vầng trán rộng rãi những ưu tư. Đức thật tình không muốn rình rập người khách đặc biệt mà anh đã biết rõ là ai. Nhưng lòng anh cứ thắc thỏm. Và sự chờ đợi như được sắp xếp từ tiền định đã đến:

Chào ông, phòng tranh có vẻ vắng quá.

 

Đức chợt tìm thấy ngay cái mau miệng lém lỉnh của mình:

Không đâu thưa cô, có lẽ giờ này chưa được thuận tiện.

 

Anh cười dù cỏ vẻ hơi phật lòng. Cô gái không mỉm cười trả lễ, nhưng không lạnh lùng, cô nhìn quanh phòng tranh. Đức cũng đưa mắt theo chiều quan sát của người khách. Bình hoa màu vàng óng, đang ánh lên những tảng nắng ghé thăm. Chiếc khăn trải bàn trắng nõn. Đức thấy cây bút nằm hờ hững trên lòng tập đựng chữ ký lưu niệm. Anh đang định mời cô gái, thì bất ngờ nghe tiếng hỏi:

Anh có biết tôi là ai không ?

 

Chừng nửa giây ngập ngừng, Đức đáp chững chạc, tự nhiên;

Thưa rất làm tiếc, xin lỗi cô là ai.

 

Không lưỡng lự, cô gái, giới thiệu mình:

Tôi là Bé Ký

 

– A, thế ra cô là những họa sĩ của hè phố

 

Lẽ ra Đức phải có cái nụ cười tinh nghịch, châm chọc như thói quen. Nhưng không hiểu sao, lòng anh thấy yên ả, bình thản và có cái gì như ấm áp đang vây bọc lấy anh.

 

– Hôm nay cô không ra Lê Lợi, Catinat…?

 

– Không, mấy hôm nay tôi không ở Sài Gòn. Tôi vừa từ Buôn Mê Thuộc về đây, cốt yếu xem phòng tranh của anh.

 

Đức lượm được cái cảm động thật tình thứ nhất. Anh mơ hồ thấy sự bềnh bồng của hồn vía mình. Tảng nắng chiều đang ngả sang màu vàng nhạt, mở ra cho hai người họa sĩ một khoảng không khí tươi mát vừa đủ để nói chuyện đời.

 

Hoá ra chặng đời làm con nuôi của Bé Ký không được bằng phẳng dễ đi. Chị đã chịu đựng khá nhiều vất vả cũng như tủi nhục. Không chọn lựa sự giàu sang, nhưng “vừa ăn vừa khóc như mưa tháng mười” vẫn từng xảy ra. Chị đã mở hết một khoảng đời mình để cho người bạn họa sĩ vừa mới quen nhìn vào. Không hiểu vì sao họ chóng đọc được lòng nhau mau như vậy. Đức quên cô tình nhân đang có. Anh đưa người nữ họa sĩ của thủ đô Việt Nam Cộng Hòa về nhà. Và chẳng bao lâu sau. Anh chị cho bạn bè một bữa tiệc thân mật. Ngày cưới của Hồ Thành Đức, Bé Ký gần như không có họ hàng, bà con của cả hai bên. Họ sống chân tình với bằng hữu, nên trong ngày vui thật vô cùng đông đảo. Cánh bạn đồng hương Quảng Nam, cánh bạn họa sĩ, cánh bạn làm văn thơ, viết báo. Có cả những viên chức rủng rảng chức vụ, quyền uy. Ngày vui đó nằm trong năm 1965.

 

Sau khi thành cặp song kiếm hợp bích trên diện tích một cái giường đôi, hạnh phúc của đôi họa sĩ ngày một bành trướng nhanh hơn cả mấy anh ba Tàu. Anh chị mua ngôi nhà đầu tiên có đến hai cái “sur” trên đườngYên Đổ: 184/ 34/ 14.

 

Tôi gặp Hồ Thành Đức từ năm 1962, cũng có thể là 63, không nhớ chắc. Lần đó Đức về Đà Nẵng thăm ông bố nuôi. Nhà bố nuôi của anh nằm ngay sau lưng nhà Châu Văn Tùng, bạn tôi. Nhà của ba mẹ Tùng gồm nhiều căn, thừa chỗ ở nên cho gia đình anh em Lê Viên Côn, Lê Hiếu Đằng thuê. Lê Viên Côn cùng lớp tôi ở Phan Châu Trinh, sau này anh trở thành Hải quân Trung Tá của Việt Nam Cộng Hòa, Côn hiện ở Houston Hoa Kỳ. Đằng học sau chúng tôi vài năm, về sau ra bưng rồi về làm gì đó khá lớn ở thành phố Sài Gòn. Khi Đức về thăm, Tùng rủ tôi lên gặp mặt ông họa sĩ thủ đô. Tôi không ham lắm, nhưng cũng đến. Đêm đó, chúng tôi, gồm cả Côn và Đằng ngồi sau chái bếp nhà dưỡng phụ Đức cho muỗi đốt để nghe Đức nói dóc. Những người đi xa về, nhất là đang ở thủ đô, hình như cao lớn lên, kẻ cả ra. Không phải cái cao lớn vể thể xác mà là cái tự tôn coi rất tự nhiên. Hồ Thành Đức lại là người hoạt bát, vui tính, có duyên nói đùa, có tài kể chuyện tiếu lâm. Anh kể rất nhiều chuyện trong giới sinh hoạt văn chương, âm nhạc, hội họa… tại Sài Gòn. Hình như chuyện nào anh cũng có thêm gia vị khôi hài. Đại loại như chuyện “đứt giây n” của một bạn nhạc sĩ tài danh bậc nhất. Gặp Đức không thể không cười, sau này cũng vậy. Đức có tài chọc cười giống như họa sĩ Nghiêu Đề. Nhưng cái cù léc của Đức dễ gây ngộ nhận, hờn trách hơn anh Trai Bủng.

 

Năm 1967 tôi có dịp ghé thăm chị Bé Ký và Đức nhiều lần. Lúc đó ông bà đã đổi chỗ ở. Ngôi nhà mới nằm trên đường Trần Quang Diệu, gần Đại Học Vạn Hạnh. Ngôi nhà rộng rãi, có một khoảnh sân đủ cho những cơn gió nghỉ chân. Chỗ ở Bé Ký và Đức trở thành một địa điểm gặp mặt của một số bằng hữu thân tình. Không là một chiếu rượu lớn. Nhưng có Đức ở nhà là gần như có một vài bạn lai rai. Uống rượu không phải vì buồn. Uống rượu không phải vì vui. Uống rượu cũng không phải vì ghiền. Mà uống rượu để mừng gặp mặt nhau, để cho câu chuyện trên trời dưới đất có duyên, có thêm sức sống.

 

Tôi không rõ nghề tay phải của Đức vào thời gian đó, nhưng vào các năm sau, anh dạy học. Cái nghề gõ-đầu-trẻ-em-dậy-thì của Đức phát triển rất mau. Những năm từ 1969 đến 1975 anh là giáo sư hội họa của Đại Học Vạn Hạnh, và giữ chức Khoa Trưởng ngành Họa Thực Tiễn tại Đại Học Phương Nam Việt Nam (1974-1975). Tôi không biết chính xác Hồ Thành Đức có đảm nhiệm chức Chủ tịch của Hội Hoạ Sĩ Trẻ lần nào chưa. Tiểu sử anh trên vài tạp chí tại hải ngoại có ghi anh giữ vai trò này trong nhiệm kỳ 1968-1975. Nhưng tôi bị chỉ trích thiếu chính xác khi ghi lại điều này trong cuốn Tác giả Việt Nam. Chủ tịch hay không chủ tịch cũng qua rồi một giai đoạn, cái quí là tác phẩm để lại, cái sức còn làm ra những tác phẩm có giá trị khác. Con gà thường ghét những tiếng gáy của nhau. Họa sĩ là những người tạo hình làm nên những tác phẩm nghệ thuật để đời. Tôi không tin những có những chuyện không đẹp trong giới sống còn vì cái đẹp.

 

Những lần ghé lai rai chim mía, khô mực với Đức, tôi rất ít khi được chuyện trò với chị Bé Ký dù chỉ vài ba câu. Bà họa sĩ lúc nào cũng bù đầu trong bếp. Chị làm được những món ăn rất ngon miệng. Trong thời điểm này, tranh chị vẫn bán chạy đều. Trong một bài viết của nhà báo Trần Lư Nguyên Khanh trên tạp chí Thế Giới Nghệ Thuật số 2, tôi đọc thấy con số “một ngàn năm trăm” họa phẩm của chị đã được giới thưởng ngoạn mang về làm của riêng. Quả là một con số không nhỏ. Vì lý do thương mại, một số tranh của chị được làm bản phụ nhiều lần. Chính tôi cũng được chị cho một bản phụ, dù có đầy đủ triện son và chữ ký “live” của chị. Dĩ nhiên tôi rất quí.

 

Tôi với Hồ Thành Đức hình như có điểm giống nhau. Chúng tôi rất trân trọng tình bạn. Và cùng sợ đơn độc nên càng kết thân với nhiều người càng tốt. Trong vài năm đầu của thập niên 70, tôi đau tim, yếu phổi tưởng đã nghỉ chơi. Trong những ngày nằm bệnh, tôi nhớ bè bạn vô cùng bèn làm thơ. Trên Vuông Chiếu Đời Ta do đó mà có đến 132 câu, 7 chữ. Tên Hồ Thành Đức dĩ nhiên cũng bị réo tới:

“…Hoan hô như thể Hồ Thành Đức

năm ngoái gặp ta, đã rỉ hơi:

“hai ta cùng tuổi canh thìn đấy

sang năm giàu có đã đến thời”

thật đúng y bon, chàng họa sĩ

ta đang giàu có tiếng kêu trời…”

(RHĐR)

 

Tôi với Đức cư ngụ chung trên thân thể một con rồng. Cũng không ít bạn sinh hoạt nghệ thuật, văn học bám víu trên con linh vật này như Hồ Hữu Thủ (40), Lê Thành Nhơn (40), Lê Uyên Phương (02-2-41), Thái Tú Hạp (40), Nguyễn Đồng (40), Vĩnh Điện (40), Cao Đông Khánh (1-41), Nguyên Khai (40)… Con vật chỉ là sản phẩm của tưởng tượng, chúng tôi cũng là những người không có thật chăng ? Hay sự hiện diện vốn bềnh bồng trên mây ? So sánh cuộc đời đã đi qua giữa tôi và Đức, có nhiều điểm khác nhau. Đức hiên ngang, hoạt náo ở phần đầu đầy râu ria quắc thước của Canh thìn (1940), còn tôi bám hờ ở tận cái vảy đuôi ưa vùng vằng (1941). Nhưng thật là lạ. Nếu Đức có một tuổi thơ không được tốt đẹp, thì tôi, ngược lại, đã có được một ấu thời rất hạnh phúc. Hồ Thành Đức có khá nhiều gian truân trong cuộc sống để cuối cùng hưởng được những phúc lộc rất tươm tất. Tôi chưa có giai đoạn nào tuyệt vời phong phú, nhưng đã đi gần hết một đời thong dong. Ông bà ta nói “bảy mươi chưa khoe mình lành”. Tôi có gì, còn gì để khoe, ngoài vỏn vẹn bốn năm biết lao động có mồ hôi và nước mắt. Ngày tháng của tôi gần như là một giây chuyền sống bám kéo dài. Thời nhỏ qua luôn cả thời độc thân, hết mẹ đến cha chăm sóc; vào quân ngũ, đồng đội chăm lo; lưu lạc xứ người có cô nhân tình bên cạnh đỡ đần. Tôi có mạng “chỉ tay năm ngón”, dù trong một phạm vi thật nhỏ hẹp. Và có khá nhiều độc đoán. Viết về Hồ Thành Đức, Bé Ký mà tôi xen “cái tôi” vô thế này, có phải là một cuộc đi lạc tình cờ ? Đương nhiên không. Đây chỉ là những dòng hồi ký ghi lại một thời của chính tôi. Tôi dựa vào bè bạn để nhớ ra mình, vẽ lại mình, là một tính toán khôn khéo nhất, đủ để nhà văn Hoàng Mai Đạt, ghi ra khi giới thiệu cuốn Quá Khứ Trước Mặt của tôi trên tạp chí Văn Học và Hợp Lưu:

“… có lẽ ông là người có biệt tài nói về cái tôi hay nhất, nghệ thuật nhất trong những người viết tại hải ngoại…”

(Hợp Lưu, số tháng 8&9 năm 2006)

 

Hay, nghệ thuật hay không, không dám nhận. Chỉ mong được hiểu:

 

“từ bạn, tôi gặp lại tôi

gặp lại con muỗi, con ruồi… ngày xưa

gặp lại lá tre, lá dừa…

gặp lại cục đất, tảng đá, nắng, mưa… bên đời

từ tôi, bạn gặp bạn ngồi,

gặp bạn đi, đứng, nói, cười…vân vân

trăm năm vẫn khoảng cách gần

một phút vời vợi buồn lần không qua

từ tôi, từ bạn thấy ra

dãy sông con núi lân la bên người

vụng tay thêm lần nữa rồi

từng trang mộ ấm bóng người ảnh tôi ?

vẽ ra người để thấy tôi

vẽ tôi ra để thấy người

chúng ta

hôm nay đã khác hôm qua

nhưng mà cốt lõi vẫn là như nhau

cái chân cái bụng cái đầu

sợi lông sợi tóc sợi râu vẫn là

bén từ hồn vía thịt da

vẫn thơm từ trẻ sang già đấy thôi

vẽ người là để thấy tôi

một đời sống ké hơi người ra sao…”

(Ổ Tình Lận Lưng)

 

Giữa năm 1984, tôi đưa gia đình vào Sài Gòn. Vì lo sợ những trục trặc có thể xảy ra trong chuyến ra đi đoàn tụ, tôi hạn chế việc ghé thăm bè bạn. Nói là hạn chế, nhưng cũng đã gặp hầu hết những người quen biết: Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện, Thành Tôn, Hà Nguyên Thạch, Đynh Hoàng Sa, Phan Nhự Thức, Đinh Trầm Ca, Cung Tích Biền, Huy Tưởng, Hoàng Trọng Bân, Phan Kim Thịnh, Lê Vĩnh Thọ, Phạm Thế Mỹ, Thái Tuấn, Nghiêu Đề… Cả Mường Mán cũng có bắt tay, đứng tán dóc mấy phút bên đường. Tôi ghé Hồ Thành Đức hai lần. Lần đầu nhị vị họa sĩ đi vắng. Lần sau, từ ngoài đường nhìn vào, thấy bạn Đức đang có một số khách đến chơi, tôi ngại không vào. Lần thứ ba theo dự định không thực hiện được. Tuy không gặp được anh chị Hồ Thành Đức, Bé Ký nhưng tôi nghe bè bạn kể về Đức khá nhiều. Có tin tốt, có tin xấu. Tốt xấu giữa một thời buổi giao thời thật ra không nên câu nệ lắm. Đức tham dự nhiều cuộc vượt biên. Bến đến đầu tiên của anh là trại giam Phan Đăng Lưu vào năm 1977. Bạn đồng điệu ngồi chung một mái nhà tù có những bậc trưởng thượng: Hồ Hữu Tường, Doãn Quốc Sỹ… Chị Bé Ký chỉ được cho nếm mùi tù tội có 4 tháng. Phần thưởng rút ngắn thời gian này có lẽ do bốn người con gián tiếp ký lệnh ân xá. (Bốn con của Ký, Đức lúc này còn khá nhỏ, sau này, tại Hoa Kỳ, Hồ Thành Cao tốt nghiệp kỹ sư; Hồ Thành Cung, nối nghiệp bố mẹ; Hồ Thị Hải Dương, dược sĩ. Cô con gái Hồ Thị Cẩm Thư, theo tiếng gọi tình yêu, ở lại Việt Nam, vui chơi với nghề phóng viên cho Vietnam New). Hồ Thành Đức ăn cơm tù được tròn hai năm, đủ bằng cấp để nói về nhà tù, về một góc cạnh của một thời đã qua. Gần đây, trên trang Web VietWeekly, Đức giải độc một tin xấu của những tháng ngày sau 1975, qua cuộc phỏng vấn của ông Lê La:

“VW: Có dư luận cho rằng ông là “Cộng sản nằm vùng”, ông nghĩ sao?

HTĐ: Thì hồi ngày xưa bên nhà, tôi có khuynh hướng thiên tả. Nhưng tôi cũng không ưng chuyện Mỹ đổ bộ lên miền Nam, sau đó, tôi không thích Cộng sản, tôi bỏ tôi đi. Người Mỹ bảo lãnh cho tôi mà. Còn nói chuyện tôi “nằm vùng” là vô căn cứ. Ông viện trưởng viện Lê nin kia còn chán Cộng sản, nói gì đến tôi. Phải phân biệt ra người Việt Nam tiến bộ, yêu nước khác với người phát-xít chứ”.

 

Có lẽ có lỗi “đả tự”, hoặc ghi không chính xác câu trả lời của Đức, bởì đã khuynh tả thì chắc chắn không ưng chuyện Mỹ vào miền Nam, không cần phải “nhưng nhị” gì nữa. Nếu phải nhưng thì câu tiếp đó phải là “nhưng tôi cũng không ưng Bắc Việt tiến đánh miền Nam” mới đề huề nói lên cái trung lập của mình. Việc phân biệt giữa người tiến bộ yêu nước với phát xít trong giai đoạn đó có vẻ mơ hồ, chưa nói là hơi ngụy biện. Hình như Hồ Thành Đức còn bị đặt trong nhiều nghi vấn khi sở hữu ngôi villa do một người Pháp nhường lại trên đường Phan Thanh Giản, số 79 Bis. Đường Phan Thanh Giản nay đã thành đường Điện Biên Phủ. Ngôi villa hiện nay vẫn do con gái Đức, Hồ Thị Cẩm Thư cư ngụ. Một phần nhỏ của ngôi nhà được tặng cho một gia đình cán bộ. Có lẽ đây là một thủ tục đầu tiên cho một vấn đề gì đó. Hồ Thành Đức và Bé Ký vẫn thỉnh thoảng về thăm. Quê hương chẳng là một cái gì cả, nếu chúng ta không có một trái tim biết thương yêu.

 

Hồ Thành Đức, Bé Ký, không thuộc diện H.O, cũng không có thân nhân để được xếp vào chương trình O.D.P. Nếu trong lãnh vực nghệ thuật, Bé Ký lẫn Hồ Thành Đức đã nhờ vào tài năng và lòng đam mê để vươn lên, không phụ thuộc vào bất cứ thế lực nào khác, thì trong đời sống, nhờ vào sự thành danh của cả hai đã giúp gia đình họ đến Hoa Kỳ định cư, do chính người Mỹ trân quí nhân tài bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, những ngày đầu, gia đình Ký Đức được một nhà sưu tập tranh của Đức cấp cho chỗ ở, nhưng anh chị, ngay sau đó chọn về vùng đất lành, đông đồng hương: Quận Cam California.

 

Chị Bé Ký trả lời phỏng vấn của ký giả Jeffrey Brody trên tạp chí Register, số ra ngày 2 tháng 7 năm 1990, trong đó có câu:

“…Tôi không thể nào vẽ theo lối họ muốn được. Tôi nhớ có lần một cán bộ cho tôi coi bức họa theo lề lối anh ta thích. Thật là dễ sợ và không trung thực được…Chúng tôi đã có thể làm mọi thứ để mà sống còn…Nhưng vẽ tranh thì chúng tôi cần thể hiện cảm nghĩ của mình. Chúng tôi đã không thể làm được việc đó, bởi vậy nên đã ra đi”

 

Vào một dịp khác, Bé Ký tâm sự:

“…Tôi mất tình thương yêu gia đình từ thuở ấu thơ nên khi lập gia đình tôi sống trọn vẹn, trân quý với mái gia đình. Là người vợ, người mẹ, tôi làm trọn bổn phận của người đàn bà Việt Nam dù sống ở bất cứ nơi nào, thời điểm nào, đó là niềm hạnh phúc cao đẹp nhất tôi đã dâng hiến và được nhận lãnh. Tôi rất mê hội họa và yêu quê hương. Vì vận nước, vì thời thế đã hai lần tôi giã từ nơi chốn thân yêu, lòng tôi vẫn còn nhung nhớ. Từ trước đến nay tôi vẫn vẽ tất cả hình ảnh mang bóng dáng, sinh hoạt của quê hương”

(tài liệu này được trích từ bài viết của nhà báo Trần Lư Nguyên Khanh, trên tạp chí Thế Giới Nghệt Thuật, ấn hành tại Hoa Kỳ)

 

Hồ Thành Đức và Bé Ký đã trở lại cái thú được sáng tạo của mình. Đức có phần tích cực hơn. Anh hoàn tất được nhiều tác phẩm ưng ý, như: Thiếu Nữ Và Hoa (Young girl and flowers – mixed media, 48’’ x 48’’, 1992), Em, Trời và Mây (Lover, Sky and Clound, collage, 32’’ x 48’’, 1993), Múa Quạt (Fan Dancing, mixed media, 42’’ x 42’’, 1993), Ấn Tượng (Impression, collage 20’’ x 20’’, 1994), Tình Yêu (Love, mixed media, 1994), Nước Mắt và Nụ Cười (Tears and Smiles – collage 32’’ x 32’’, 1995), Khỏa Thân (Nudes, mixed media 48’’ x 48’’, 1995), Models (collage 48’’ x 48’’, 1995), Trời Và Đất (Heaven and Earth, acrylic on wood, 40’’ x 40’’, 1996), Nỗi Buồn Còn Nguyên (The Sorrow Is Still There, mixed media 48’’ x 48’’, 1996), Bến Thuyền (Harbor, lacquer 72’’ x 36’’, 1997), Thiện và Ác (Good and Evil, collage, 16’’ x 16’’, 1997), Cuộc Hành Trình Của Đôi Ngựa (A Journey of Horses, acrylic on wood, 30’’ x 30’’, 1997), Tường Nước Mắt (Wall of Tears, mixedmedia 48’’ x 48’’, 1998), Mộng Tưởng (Immagination, mixed media, 24’’ x 48’’, 2000), Thung Lũng Đau Buồn (The Valley of Tears, collage, 2000), Trời Đất Nở Hoa (The Blossom of Heaven and Earth, mixed media, 2000), Trên Đồi Golgotha , (On The Golgotha Hill, collage, 2000), Bốn Cô Gái Việt Nam (Four Young Ladies, mixed media, 32’’ x 48’’, 2001), Mùa Xuân ở California (Spring in California, collage 36’’ x 36’’, 2001), Thạch Nhũ (Stalactites, 34’’ x 44’’, 2001), Tuổi Hoa (Sisters at Youth, mixed media 34’’ x 44’’, 2001) vv…

 

Sức làm việc của Hồ Thành Đức quả thật bền bỉ. Nhưng chị Bé Ký cũng không thua anh chồng họa sĩ của mình. Chị để lại cho đời: Mother and Child (acylic on wood, 32 x 24’’, 1996), Mother and Child (acrylic 32×24’’, 1998), Combing Hair (acrylic on wood, 36×24’’, 2002), Cock Fightings (acrylic on wood, 24×36’’. 2003), Horse (acrylic on wood, 24×32’’, 2002), Nude (acrylic on wood, 32×24’’, 2001), Mother and Child (acrylic on wood, 36×24’’, 2004), Mid -Autumn Festival (acrylic on wood 34×48’’. 2004), Spring (acrylic on wood 32×24’’, 2004), Young Ladies and Lotus (acrylic on wood, 36×36’’, 2002), Enjoying Music (acrylic on wood 36×36’’, 2004) và rất nhiều bức mẹ và con khác đã được vẽ vào mỗi năm.

 

Đối với tất cả họa sĩ, việc ấn hành một tuyển tập bao gồm những bản chụp các họa phẩm của mình là điều cần thiết và thích thú. Nhưng để xuất bản được “cái tổng quát sự nghiệp” của mình không phải là dễ dàng về mặt tài chánh. Hồ Thành Đức, Bé Ký đã cố gắng thực hiện được việc này. Hai cuốn sách đã được ra đời: Hồ Thành Đức Ấn Tượng Trong Đời Tôi (Impressions In My Live), gồm 30 trang khổ 21,5cm x 28cm, giấy trắng tốt, 20 Mỹ Kim. Và Việt Nam Quê Hương Mến Yêu (My Beloved Vietnam) của Bé Ký 99 trang, cùng khổ sách như Đức. Đây là những tài liệu quí về hội họa, được in ấn mỹ thuật, công phu. Chị Bé Ký còn được cơ sở Viet Art Gallery in cho một tập The Art Of Be Ky, mỏng hơn, nhưng cũng rất mỹ thuật, trang trọng.

 

Tuy việc sáng tác chiếm nhiều thời gian, nhưng Đức và Ký vẫn không quên dành cho mình những giờ phút thong dong đây đó. Năm 1998 vợ chồng anh cùng cậu con trai Hồ Thành Cung ghé thăm thành phố Montréal. Đức đã nhờ một khách hàng mua tranh quen biết cũ, thuê cho gia đình anh phòng tạm trú trong khu ký túc xá học sinh, đang bỏ trống trong dịp hè. Địa điểm này nằm chênh chếch trước mặt ngôi nhà thờ nổi tiếng thiêng liêng Saint Joseph. Cả Đức lẫn Ký đều rất thích. Montréal đang ở vào mùa hè, đất trời óng ả đẹp. Hoa và chim đầy thành phố. Tôi lại có nhiệm vụ làm tài xế mấy ngày cho Đức, Ký đi thăm một số bằng hữu cư ngụ tại đây.

 

Khi từ nhà bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng, (nguyên bộ trưởng Bộ Thanh Niên VNCH) ra về, chúng tôi vừa chạy xe vừa nói chuyện trên đường Edouard Montpetit, bất ngờ một chiếc xe ngược chiều, lạc tay lái, ào ào tiến ngay vào đầu xe tôi. Hốt hoảng, nhưng không còn lề trống để tránh, tôi đạp thắng và chờ đợi một va chạm có thể chết người. Nhưng rất may, chiếc xe trước mặt kịp thời tỉnh ngủ, lách qua, cận kề trong năm ba centimètre. Thật hú hồn. Giá lần đó xảy ra tai nạn chắc bạn bè gần xa đã tốn ít trang chia buồn.

 

Tin Hồ Thành Đức, Bé Ký đến Montréal được anh em bạn văn biết mau lẹ. Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, cũng mở tiệc khoản đãi tại gia như hồi đón gia đình họa sĩ Nghiêu Đề. Đến bắt tay Bé Ký, nghe Hồ Thành Đức kể chuyện vui hôm đó có nhà văn Song Thao, nhà văn Trang Châu, nhà văn Hồ Đình Nghiêm, nhà thơ Lưu Nguyễn và đương nhiên có tôi cùng Lý. Hồ Thành Đức thành thật, cởi mở nhưng cũng phách lối rất mực. Chị Ký thay vì nói, chị cười nhiều hơn. Hệ thống thính giác của chị gặp một số trở ngại nên câu chuyện giữa các bà có phần hạn chế. Lý, vợ tôi có số được nhiều bà vợ của bè bạn tôi mến. Đã có nhà văn Minh Quân từ Việt Nam qua nhận làm chị nuôi, nay có thêm chị Bé Ký, hai bà rất quấn quít nhau. Ngoài bữa ăn tại nhà anh chị Hoàng Xuân Sơn, Kim Lân, Văn Bút Việt Nam tại Montréal cũng xuất quĩ đãi vợ chồng Hồ Thành Đức một bữa nhậu vui vẻ, như từng tiếp đón các họa sĩ Đinh Cường, Trịnh Cung, Nghiêu Đề,…Nhắc lại những bữa nhậu (đúng ra là ăn, uống), chỉ có mục đích nhắc lại những sự họp mặt cởi mở,và cái tình giữa những người trong cùng một dòng sinh hoạt với nhau. Miếng ăn không thể nào là “miếng tồi tàn”, nên tôi nhắc thêm chút nữa. Như đã biết, chị Bé Ký là người đầu bếp thơm tay. Hồ Thành Đức khoe chị làm món nghêu hấp rất tới và khuyến khích vợ thực hành ngay. Tại nhà tôi, sau đó, chúng tôi thưởng thức được tài nghệ của chị.

 

Sau bữa ăn, cũng do Hồ Thành Đức đưa ý kiến rồi thúc hối chị Bé Ký phóng bút vẽ vài nét Luân Hoán. Tôi rất khoái chuyện này, nhưng ngại ngùng, được bạn vàng mở đường đâu dễ bỏ qua cơ hội. Tôi ngồi im, mặt nhìn nghiêng ra hướng đường Barclay. Hai cánh cửa kính rộng đã được đẩy dồn về một phía. Nhà quay về hướng tây, nhưng dòng nắng không còn đủ sức chói. Thỉnh thoảng một cơn gió tạt ngang. Càng ngồi im tôi càng nghe khắp thân thể mình cử động. Vài sợi tóc như muốn sà xuống trán, tôi se sẽ mím môi. Chị Bé Ký mắt quan sát, tay phác họa. Chị nhìn ngắm khuôn mặt già bụi đời của tôi từ những điểm nào ? Không rõ. Tôi chợt ngại chị bắt gặp hai cái quầng-mắt-dưới ú nụ những phong trần của mình. Tôi chợt lo hai má hóp quá, và rồi tự tin bởi hai hàng lông mi rất cong, đôi mắt liếc gái rất nhuyễn. Tôi trực nhớ đến các bàn tay của Trịnh Công Sơn, Trịnh Cung, La Toàn Vinh, Phạm Thế Trung, Vivi…những bạn đã trực tiếp “bắt” tôi bỏ lên mặt giấy. Bất chợt tôi lại mím môi. Chị Bé Ký dán ngay cái nét tai hại ấy lên bản vẽ và chừng ít phút sau, chị cười, thả cây bút xuống mặt bàn. Tôi thở ra nhẹ nhõm quên cả cảm ơn chị. Nét phác họa về tôi được chị Ký mang về Mỹ, dùng bút nhà nghề, tu chỉnh lại, và gởi qua với khổ lớn 52cm x 65cm. Không riêng tôi, Lý cũng được vẽ, cũng được gởi qua một bản y như tôi. Chúng tôi sung sướng đóng khung treo ngay phòng khách. Cái chúng tôi trân quí ngoài chữ ký, nét vẽ còn có cái tình của chị, lẫn của Đức gởi cho. Tôi đã được nhiều họa sĩ thân quen, làm cho nét mặt không đẹp của mình trở thành đẹp sáng, có cốt cách hơn, làm sao quên gởi lời cảm ơn đến với: Đinh Cường, Thái Tuấn, Trịnh Cung, Khánh Trường, Võ Đình, Trịnh Công Sơn, Nguyên Hạo, Bé Ký, Phạm Thế Trung, Nguyễn Quốc Tuấn, Vũ Uyên Giang, Vivi, La Toàn Vinh, Hoàng Trọng Bân, Hồ Đình Nghiêm, Nghiêu Đề…cùng các bạn lấy thân tình phác họa chân dung tôi bằng nét thơ như nhà văn Song Thao, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Song Vinh, nhà thơ Chu Vương Miện…Thật ra, có lẽ, các bạn đã chỉ vẽ cái dễ thương ẩn khuất của tôi thôi. Mà tôi quả thật dễ thương ở chỗ ai thương cũng xin chấp nhận. Thế nhưng có một họa sĩ quen biết lâu ngày, cố tình lơ cái dễ thương của tôi đi đấy, các bạn biết ai rồi chứ gì ! Vợ chồng Hồ Thành Đức ở chơi với Montréal độ một tuần, tôi đưa anh chị thăm viếng một vài nơi như đã từng thực hiện với nhiều bạn khác. Hình như có đưa Bé Ký Hồ Thành Đức đi chợ trời, hay hái dâu, hái táo gì đó, để biết thêm một góc cạnh Montréal.

 

Kỷ niệm theo tôi là một tế bào. Khi mới được cấy vào cơ thể có ngay những cảm xúc bồi hồi chóng vánh. Sau đó là sự sống thầm, tưởng chừng như mất dạng. Nhưng khi được khơi lại, những tế bào có tuổi hơn lại hiện ra minh bạch, sắc sảo hơn những anh mới hội nhập, dù đôi khi thiếu thứ tự. Kỷ niệm có được với Hồ Thành Đức, Bé Ký cũng có phần lộn xộn. Sau ngày ông bà họa sĩ về lại Hoa Kỳ, chúng tôi lơi dần những liên lạc bằng điện thoại. Nhưng tôi vẫn theo dõi những sinh hoạt của bạn mình. Đức làm thơ khá nhiều trong những năm gần đây. Thơ anh viết đăng trên một số tạp chí, nhất là các đặc san, tuyển tập của quê hương Quảng Nam. Tôi muốn “mách có chứng” một chút, qua trích đoạn dưới đây:

“Con phố nhỏ đưa ta vào nỗi nhớ/ bao mùa xuân trăn trở giấc ly hương/ Hội An ơi, cồn bãi với phố phường/ trông ngoảnh lại, với muôn vàn thương tiếc

buổi ra đi, cánh buồm giăng biền biệt/ núi sông hờn ! luyến tiếc gót giày hoa / em ở lại, mẹ già chiều nắng xế/ anh ra đi ngày tháng ánh trăng lu/ chiều cuối đông thành phố nhớ sương mù/ em cửa sổ mây bay vòng tuế nguyệt

gót phong trần đã in màu sương tuyết/ ta lưu linh làm kẻ ngóng thiên đường/ sáng mai nào thành phố nhỏ đầy sương/ em áo tím đến trường qua ngõ hẹp/ thơ yêu em cả trăm lần sao chép/ vẫn hắt hiu ngói cũ với tường rêu/

ta ở đây sáng nắng với chiều mưa/ nơi xứ lạ, nhập nhòa trăng cánh hạc/ năm mươi năm tan tành trong đổ nát/ chuyện ra đi cứ canh cánh bên lòng/ hẹn ngày về sáng đợi với chiều mong/ tình thuở trước phai dần trong tưởng nhớ

trong yêu thương có điều gì tan vỡ/ buổi ra đi còn chút nắng ngày về/ mùa xuân này gởi lại bức tình thơ/ em yêu dấu ! Hội An ngày trở lại/ ngựa yên cương, thành cao, đường quan ải

lớp lớp về ! nhìn lại dáng em xưa/ thời rong rêu ! cửa đóng với then cài/ trăng cửa sổ, nhìn sâu đêm tình ái/ con nước về cuối bãi gió vi vu/ ta về đây thành phố xám sương mù/ em thức giấc ! Hội An ngày trở lại”

(Hội An Trong Nỗi Nhớ HTĐ tháng 12-1995 Hoa Kỳ, đặc san Quảng Đà, 1998)

 

Hồ Thành Đức có lẽ là niềm tự hào của cộng đồng Quảng Nam ở xứ người. Tôi thấy anh được đề cao tại nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ. Anh đã tham gia vào nhiều cuộc sinh hoạt của cộng đồng từ thuyết trình, triển lãm, ngâm thơ…. Một hôm tôi giật mình thấy chân dung anh đăng trên một đặc san. Vẫn cái mũ bê rê có vành chồm trước trán, vẫn dáng người dong dỏng cao, nhưng sao cái miệng lệch hẳn một bên. Khuôn mặt vì vậy trở nên giàu thêm tuổi đời. Tôi ngẫm nghĩ, hỏi thầm: “sao cái thằng này già mau như vậy ?” Rồi đâm lo lo. Dĩ nhiên không phải lo cho anh, mà lo cho chính mình. Trong dịp ghé thăm quận Cam, hè 2006, tôi mới vỡ lẽ cái miệng của Hồ Thành Đức chỉ nghiêng tạm thời trong một vài tháng vì nằm ngủ lấn cấn gì đó.

 

Dù có ý định sẽ thăm thủ đô người Việt tị nạn một cách âm thầm, trốn hết bạn bè. Nhưng cuối cùng tôi thấy ra cái vô lý của mình. Không đến nỗi ngàn năm một thuở. Nhưng cơ hội của ngày hôm nay chắc gì có được ở ngày mai. Nhất là với một người có tuổi đời bị trừ đến gần hết. Nhà thơ Thành Tôn bố trí cho tôi một buổi gặp mặt bạn bè tại quán cà phê Bistro. Nhà thơ Đạm Thạch nhiệt tình thông báo cùng anh em. Quán cà phê Bistro, một địa điểm nổi tiếng, quen thuộc của giới sinh hoạt văn hóa tại quận Cam. Quán nằm khiêm nhường trong một bãi đậu xe khá rộng. Khi chúng tôi đến nơi, khách đã ngồi chật ngoài hành lang. Các bạn văn đã hiện diện. Tôi gặp lại Ái Cầm, Thái Tú Hạp sau 30 năm. Tôi gặp lại vợ chồng Thành Tôn sau 21 năm. Tôi gặp lại Hạ Quốc Huy sau 36 năm. Tôi gặp lại Phạm Phú Minh sau 7 năm. Tôi gặp lại Hồ Thành Đức, Bé Ký sau 8 năm. Và tôi được gặp những người bạn từng quen biết rất lâu qua thư từ, điện thoại như Đặng Hiền, Nguyễn Nam An, Nguyễn Mạnh Trinh, Trần Văn Nam, Rừng, Trần Yên Hòa, Đạm Thạch, Hà Nguyên Du…Chuyện tầm phào bao giờ cũng vui hơn chuyện nghiêm túc, giống như món ăn chơi ngon hơn ăn thiệt. Hồ Thành Đức phát biểu trước đám đông, đây là lần đầu tiên chị Bé ký và phu nhân Thành Tôn ghé đến quán Bistro vì sự có mặt của người tình muôn đời của nhà thơ Luân Hoán. Cả Lý và tôi đều rất cảm động. Vội vã đến tìm Lý còn có chị Nguyên Ngọc, người vợ của cố nhà văn Nguyễn Đông Ngạc.

 

Khách đến, khách đi, dòng nắng lấn dần vào mái hiên, vàng óng từng phần trên vai, trên ngực những người bạn đang vui vẻ tán dóc. Ngồi bên Hồ Thành Đức, anh nghiêng người nói nhỏ nhưng cũng đủ cho cả bàn nghe. Anh đang thực hiện một tác phẩm rất độc đáo. Tác phẩm của anh lần này không phải là một họa phẩm, mà là một cuốn sách. Sự đặc biệt của nó là từ một người nói đến nhiều người. Đức cũng giống tôi, ưa thích kéo bè bạn vào giang sơn riêng của mình. Tác phẩm của Đức là những bản chụp tranh màu của anh được đi kèm với vài câu thơ, vài dòng nhạc, dòng văn của bạn bè. Dĩ nhiên toàn những anh chị đã thành danh lâu ngày với cuộc đời văn học, nghệ thuật. Tôi được Hồ Thành Đức dành cho 2 trang. Sách sẽ được in trên giấy tuyệt hảo nhất, do một nhà xuất bản uy tín ở quốc nội ấn hành ngay sau khi Đức hoàn tất. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Đức và cũng như anh, tôi mong mỏi những tác phẩm có giá trị chóng được ra mắt bạn đọc. Đức cũng không quên kể với tôi sự thành công về tài chánh từ một họa phẩm anh bán được gần đây. Mừng cho bạn nhưng tôi chợt cảm thấy băn khoăn, vì những mẩu chuyện ấy, anh thỉnh thoảng nhắc lại, kể lại như mới nói lần đầu tiên. Sự chợt quên chợt nhớ hình như đã đến với Đức. Nhà thơ Đặng Hiền thì nói nhỏ với tôi về sự ảo tưởng của Đức. Ảo tưởng cũng là một điều thú vị, nhiều khi chúng ta cũng nên cần nó chút đỉnh.

 

Trong bữa ăn trưa khá thịnh soạn thứ nhất do vợ chồng Thái Tú Hạp mời anh em, tôi ngồi giữa Đặng Hiền và Hồ Thành Đức. Tôi chọn món mì Quảng cho phần ăn của mình. Tuy không ngon miệng lắm nhưng tôi chợt nhớ đến nhà văn Tưởng Năng Tiến, một người bạn chưa gặp, đầy tình nghĩa của tôi. Trong phạm vi bè bạn văn thơ Quảng Nam, Tưởng Năng Tiến được xem như gắn liền với mì Quảng, dù anh không phải dân xứ hay cãi, mà chỉ vì đã viết được một bài rất tới về món ăn dân dã này. Hồ Thành Đức nhắc chừng tôi cách trộn bát mì, cả việc chan thêm nước chấm. Anh tưởng rằng tôi đã quên cách thưởng thức một món ăn nguồn cội. Tôi chưa quên và còn nhớ rất rõ những lần ăn cùng với Nguyễn Nho Sa Mạc ở quán mì Lợi Ký Tam Kỳ, những lần ăn cùng với Nguyễn Thanh Ngân, Vĩnh Kha ở Nam Phước, dọc đường quốc lộ 1 và cả lần ăn với Hoàng Quy ở Ngã Năm Đà Nẵng…Những lần đó cũng tương tự như lần này, cái việc ăn của tôi bị câu chuyện từ bè bạn ảnh hưởng, không tìm ra được cái khoái khẩu tuyệt đối. Chỉ có những lần ngồi ăn cùng Lý bên hè đường Hoàng Diệu, tôi mới nhận được ra phần nào sự tinh tuý, thâm trầm của một món ăn mình luôn luôn nhớ, sẵn sàng thèm khi được nhắc đến. Trong bữa ăn thứ hai, tiếp liền theo sau chặng đường chạy đổi quán, tôi bị mất tập trung vì cú điện thoại của một bạn cựu học sinh Phan Châu Trinh.

 

Tán dóc, uống, ăn, chụp hình… rồi cũng trôi qua chóng vánh. Tôi chia tay đám bạn cũ mới trong lòng luyến tiếc, buồn buồn. Chúng tôi không kịp giờ để ghé đến thăm nhà Bé Ký, Hồ Thành Đức, cho anh nợ tiếp một thời gian nữa họa phẩm mà anh định tặng tôi treo chơi từ mấy năm nay. Hội họa là một nghệ thuật tôi không am hiểu gì mấy, nhưng lại thích cận kề bên tranh, bên cả những người sinh ra chúng. Việc này có lẽ khởi đi từ lúc tôi tình cờ sở hữu một thời gian họa phẩm Thiếu Nữ của họa sĩ Cù Nguyễn. Tôi không chắc bức tranh đó có phải là bức giao vào tay Cù Nguyễn tấm huy chương vàng mùa Xuân năm 1963? Có thể đây chỉ là một sáng tác khác của Cù Nguyễn. Bức tranh Thiếu Nữ này được đi vào nhà ông Thái Trử, chánh sở tài chánh thành phố Đà Nẵng. Ông Thái Trử còn là tác giả vài tập thơ dưới bút hiệu Việt Trữ. Có thể ông đã mua họa phẩm hoặc được Cù Nguyễn tặng (Cù Nguyễn cũng người Quảng Nam). Không hiểu vì lý do gì, một hôm con trai ông Trử, Thái Anh mang sang nhà tôi, hỏi “anh có thích không, lấy treo đi”. Tôi khoái tranh ngay sau đó. Bức Thiếu Nữ ở với tôi được vài năm cho đến khi tôi nhập ngũ, 1966. Khi ra trường, về thăm nhà, không rõ bức tranh bị ai đưa đi đâu mất, và tôi vì lo nghĩ đến chiến trận sẽ trực tiếp tham dự trước mặt không còn giờ truy tìm. Sau này tôi được Nghiêu Đề, rồi Đinh Cường khuyến khích lấy tranh về treo nhưng tôi đều không dám nhận. Với Hồ Thành Đức cũng vậy thôi. Hoạ phẩm nào cũng là một phần tâm tư, da thịt của họa sĩ, tôi phải để các anh xử dụng nó đúng chỗ hơn.

 

Có một lần, một bạn văn vui với những chuyện loanh quanh trong văn học nghệ thuật, đã hỏi tôi: “Anh có thích tranh của Hồ Thành Đức không ?”. Câu trả lời của tôi đương nhiên là “Có”. Sở dĩ trong những thi phẩm tôi đã in chưa có tập nào được Hồ Thành Đức trình bày bìa, vì trong những thời gian đó, tôi không liên lạc được với Đức. Tính tôi lại rất nôn nóng, không thích chờ đợi, nên tôi chỉ làm phiền những bạn họa sĩ thường liên lạc nhiều hơn. Xin trích một bài thơ tôi viết về người thiếu nữ trong tranh Hồ Thành Đức, minh chứng sự yêu thích của tôi:

“Em chằng chịt những sợi gân / thênh thang như suối như sông phiêu bồng/ khai sinh từ cõi chân tâm/ quí đời, kính Phật, yêu nồng nàn yêu/ khai hoa giữa sáng hay chiều ?/ giữa thời hưng thịnh ? tiêu điều ?, chả sao/ bởi hình tượng, sống – lúc nào/ cũng đầy chân mỹ là bào thai em/ sắc nhan em chẳng là em/ em là nhan sắc trái tim con người”

(SNCNTNT)

 

Chúng ta thường nghe nói “ông tơ, bà nguyệt”. Hai nhân vật theo truyền thuyết này có nhiệm vụ kết hợp những người nam, người nữ giữa cõi đời thường thành đôi thành cặp, sống đời với nhau. Dù hai nhân vật dễ thương này có thật hay không, tôi cũng xin phép được bắt tay mỗi người một cái, để cảm ơn sự trói buộc giữa Bé Ký và Hồ Thành Đức. Từ hai người mồ côi nghèo khó, họ đã dìu nhau vượt qua mọi gian nan để thành công trong tình yêu, sự nghiệp và cả sự đào tạo những nhân vật tiếp nối. Nếu không phân biệt trường phái, thể loại…chỉ dùng hai chữ hội họa chung chung, thì Hồ Thành Đức, Bé Ký quả đúng là Song Kiếm Hợp Bích trong nghệ thuật cao quí này.

 

.

.

.

LINDA LÊ, NHÀ VĂN NỮ PHÁP GỐC VIỆT MUỐN SỐNG CUỘC ĐỜI ĐƠN ĐỘC ĐỂ SÁNG TẠO (Anh Vũ, RFI)

Tháng Chín 14, 2011

 

Linda Lê, nhà văn nữ Pháp gốc Việt muốn sống cuộc đời đơn độc để sáng tạo

Anh Vũ  –   RFI

Thứ ba 13 Tháng Chín 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110913-linda-le-nu-nha-van-muon-song-cuoc-doi-don-doc-de-sang-tao

 

Nhật báo Libération có bài phác họa chân dung nhà văn nữ  Pháp gốc Việt Linda Lê, tác giả của nhiều tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp và đã nhận được không ít giải thưởng văn học có uy tín trên văn đàn nước Pháp.

 

Nhà văn Linda Lê

DR

http://www.viet.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_43_large/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/VIETNAM%20LINDA%20LE.jpg

 

Số lượng tác phẩm cũng như chất lượng các cuốn tiểu thuyết của Linda Lê đã để lại những dấu ấn khó quên trong độc giả Pháp.

Độc giả ở Việt Nam cũng biết đến nhiều tác phẩm của nhà văn Linda Lê đã được dịch sang tiếng Việt như : « Ba s phn » (Les Trois Parques), « Vu khng » (Calomnies), « Li chơi vi la » (Autres jeux avec le feu).

 

Nhật báo Libération nhìn thấy nét cá tính và tính cách đặc biệt trong đời tư ở nhà văn nữ gốc Việt này. Libération phát hiện thấy người đàn bà này thích sống cô độc, nhất định từ chối không muốn có con. Tiếp cận với cuộc sống của Linda Lê, điều khiến tác giả bài viết ấn tượng nhất đó là một người đàn bà thích sống đơn độc không hề muốn có con trẻ bên cạnh. Tác giả bài báo nhận thấy dường như thiên chức làm mẹ chỉ « làm cho bà thêm vướng víu, nhàm chán và ri xa bn thân mình ». Thế nhưng bà là mt tác gi cay nghit và vĩ đi. Trong các tác phẩm của Linda Lê người ta thường thấy hình ảnh của một xứ sở cấm kỵ xa xưa, một người cha bị bỏ rơi, một người mẹ khuôn phép hay một người tình hờ hững. Nhưng trong đó người ta cũng thấy những câu chuyện huyễn hoặc, siêu thực phảng phất đâu đó như trong các tác phẩm của Shakespeare.

 

Trong những ngày này, Linda Lê đang chuẩn bị xuất bản một bức thư gửi đứa con mà bà đã và sẽ không có. Theo tác giả thì có con là điều bà không hề muốn bao giờ, Linda Lê vẫn tỏ ra phấn khích khi tuyên bố về chuyện này, trong khi mà ở Pháp tỷ lệ sinh đẻ đang tăng mạnh và đa số người dân Pháp đều thèm muốn được quyền nuôi con.

Phác họa chân dung của nhà văn thì không thể thiếu phần tiểu sử. Tác giả bài báo tóm tắt : Linda Lê sinh ra Vit Nam, có người mnh hưởng đm nét văn hóa Pháp và mt người cha xut thân t tng lp thp. Gia đình h có bn cô con gái, Linda là người ch th hai và người duy nht mang cái tên có v tây này. Sau ngày chếđ Sài gòn sp đ, cô theo m sang Pháp đnh cư năm 1977 khi chưa đy 14 tui. Pháp, côđược đi hc và theo nghip văn chương. Cha cô li thành ph H Chí Minh theo đui gic mơ ngh sĩ ca mình, ri qua đi đó mà không được gp li v và các con. Linda vn luôn nhc ti người cha b b rơi, cm thy như có li vi ông.

 

Trở lại với chuyện người đàn bà không thích có con. Tác giả kể lại, năm 15 tuổi, Linda cũng đã có một người bạn trai là một nhạc công chơi đàn ghi-ta. Dù chưa một lần ôm ấp, nhưng khi anh ta đã có lần ngỏ ý muốn có con với cô, Linda đã từ chối thẳng thừng. Cô sợ mang thai, sợ cho con bú, vì e rằng từ bầu vú mình lại tiết ra những tia mật đắng của nỗi sầu của mình. Nhiều năm sau, trong cuộc sống nay đây mai đó cô cũng đã gặp một người tình, là một diễn viên kịch dễ mến. Anh chàng này cũng cố thuyết phục cô có con. Anh ta đưa ra lý lẽ rằng có con sẽ mang lại cho cô sự thanh thản, dịu dàng, nữ tính và cô sẽ trở nên chín chắn hơn … Cô đã đáp lại rằng, cuộc sống lứa đôi không nhất thiết cứ phải trải qua giai đoạn đó mới tồn tại được, rằng có con không khỏa lấp được thất bại trong cuộc sống v.v.

 

Tác giả viết tiếp, ở tuổi 48, Linda Lê không có gì nuối tiếc, ân hận. Bà đã chọn cái thế giới này và đứng vững trong đó, không cần biết đến sự tồn tại của thế giới khác. Trong văn chương, Linda luôn tránh không bị ảnh hưởng bởi những nhà văn tiền bối như Simone de Beauvoir, Marguerite Yourcenar hay Virgina Woolf. Theo cô, tác phẩm của các nhà văn đó không mang được nét đẹp của văn chương.

Quả đúng là một người phụ nữ đặc biệt đã làm nên một văn sĩ khác thường. Tuy cô độc trong cuộc sống cá nhân, nhưng Linda Lê không đơn độc trong văn chương, xung quanh cô luôn có rất đông độc giả ngưỡng mộ.

 

.

.

.

VIỆT NAM : CÁC NHÀ VĂN ĐƯỢC VINH DANH VÌ ĐÃ DẤN THÂN CHO NHÂN QUYỀN (Human Rights Watch)

Tháng Chín 14, 2011

 

Press release

Vietnamese Writers Honored for Commitment to Rights

Eight Win Prestigious Hellman/Hammett Award

Sep 14, 2011

http://www.hrw.org/news/2011/09/14/vietnamese-writers-honored-commitment-rights

 

(Bangkok) – Eight Vietnamese writers are among a diverse group of 48 writers from 24 countries who have received the prestigious Hellman/Hammett award recognizing writers who demonstrate courage and conviction in the face of political persecution, Human Rights Watch said today.

Eight Vietnamese writers are among a diverse group of 48 writers from 24 countries who received the prestigious Hellman/Hammett award on September 14, 2011.

Clockwise from upper left: legal activist Cu Huy Ha Vu (© Cu Huy Ha Vu and family), human rights activist Ho Thi Bich Khuong (© Ho Thi Bich Khuong), former lawyer Le Tran Luat (© Private), former political prisoner Nguyen Bac Truyen (© Private), writer Nguyen Xuan Nghia (© Private), free speech advocate Phan Thanh Hai (© Phan Thanh Hai), former police officer Ta Phong Tan (© Ta Phong Tan) and democracy activist Vi Duc Hoi (© Private).

http://www.hrw.org/sites/default/files/imagecache/scale-300x/media/images/photographs/2011_Vietnam_HHgrant.jpg

 

Vietnamese writers are frequently threatened, assaulted, or even jailed for peacefully expressing their views. By honoring these brave writers, who have suffered so much, are persecuted, fired, and even imprisoned, we’re giving an international platform to those the Vietnamese government wants to silence.

Phil Robertson, deputy Asia director

(Bangkok) – Eight Vietnamese writers are among a diverse group of 48 writers from 24 countries who have received the prestigious Hellman/Hammett award recognizing writers who demonstrate courage and conviction in the face of political persecution, Human Rights Watch said today.

“Vietnamese writers are frequently threatened, assaulted, or even jailed for peacefully expressing their views,” said Phil Robertson, deputy Asia director at Human Rights Watch, which administers the annual Hellman/Hammett awards. “By honoring these brave writers, who have suffered so much, are persecuted, fired, and even imprisoned, we’re giving an international platform to those the Vietnamese
“Vietnamese writers are frequently threatened, assaulted, or even jailed for peacefully expressing their views,” said Phil Robertson, deputy Asia director at Human Rights Watch, which administers the annual Hellman/Hammett awards. “By honoring these brave writers, who have suffered so much, are persecuted, fired, and even imprisoned, we’re giving an international platform to those the Vietnamese government wants to silence.”

This year’s Vietnamese award-winners have all seen their writing and activism suppressed by the government in an attempt to restrict free speech, control independent media, and limit open access and use of the internet.

The grant winners have all been arrested and detained, now or in the past. Some have been attacked and injured by officially sanctioned mobs, or denounced and humiliated in orchestrated public meetings. Every single one has been targeted by government actions that disrupted their personal and professional lives, ranging from cutting their telephone lines and restricting their movements to pressuring family members to urge them to cease their activities.

The award winners include Cu Huy Ha Vu, a legal advocate; Ho Thi Bich Khuong, a human rights activist; Le Tran Luat, a former lawyer; Nguyen Bac Truyen, a former political prisoner; Nguyen Xuan Nghia, a free speech activist; Phan Thanh Hai, a legal activist; Ta Phong Tan, a blogger; and Vi Duc Hoi, a former party official.

Cu Huy Ha Vu, Nguyen Xuan Nghia, and Vi Duc Hoi are currently in prison. Ho Thi Bich Khuong was arrested on January 15, 2011, on an unknown charge and remains in detention. Phan Thanh Hai has been detained since October 18 for allegedly conducting propaganda against the state. Ta Phong Tan was arrested on September 5 on an unknown charge. Nguyen Bac Truyen, after serving 42 months in prison, is living under a post-release order that severely restricts his freedom of movement. Only Le Tran Luat is not in detention, but he faces intrusive police surveillance every day. (Detailed biographies follow below.)

“I passionately hope that freedom and democracy will come to my people so that everybody can enjoy human rights like in other progressive countries,” Ho Thi Bich Khuong said. “In this struggle, your support is not only a source of encouragement, but also a contribution to the nation and the people of Vietnam.”

The Hellman-Hammett grants are given annually to writers around the world who have been targets of political persecution or human rights abuses. A distinguished selection committee awards the cash grants to honor and assist writers whose work and activities have been suppressed by repressive government policies.

The grants are named for the American playwright Lillian Hellman and her longtime companion, the novelist Dashiell Hammett. Both were questioned by US congressional committees about their political beliefs and affiliations during the aggressive anti-communist investigations inspired by Senator Joseph McCarthy in the 1950s. Hellman suffered professionally and had trouble finding work. Hammett spent time in prison.

In 1989, the trustees appointed in Hellman’s will asked Human Rights Watch to devise a program to help writers who were targeted for expressing views that their governments oppose, for criticizing government officials or actions, or for writing about subjects that their governments did not want reported.

Over the past 22 years, more than 700 writers from 92 countries have received Hellman/Hammett grants. Over the years, more than $3 million has been granted to writers facing persecution. The program also gives small emergency grants to writers who have an urgent need to leave their country or who need immediate medical treatment after serving prison terms or enduring torture.

“The Hellman/Hammett grants aim to help writers who have suffered because they published information or expressed ideas that criticize policy or offend people in power,” said Lawrence Moss, coordinator of the Hellman/Hammett grant program. “Many of the writers honored by these grants share a common purpose with Human Rights Watch: to protect the rights of vulnerable people by shining a light on abuses and building pressure for change.”

Biographies of 2011 Hellman/Hammett awardees from Vietnam:

Dr. Cu Huy Ha Vu, 54, is an artist with a doctorate in law from the Sorbonne. He comes from an elite family that includes senior members of the Vietnamese Communist Party and former revolutionaries. Vu is most famous for his two lawsuits against Prime Minister Nguyen Tan Dung: the first for signing Decision 167 in November 2007, which allowed controversial bauxite mining operations in Vietnam’s Central Highlands and the second for signing Decree 136 in 2006, which prohibits class-action petitions. In addition, Vu is known for his public criticism of high-ranking government officials, including Lt. Gen. Vu Hai Trieu of the Public Security Ministry, for allegedly authorizing cyber-attacks against politically sensitive websites disapproved of by the government, and the communist party general secretary of Ho Chi Minh City, Le Thanh Hai, for allegedly confiscating land from relatives of martyred soldiers. Vu was arrested in November. He was tried on April 4 for violating article 88 of the penal code, which prohibits conducting propaganda against the state, and sentenced to seven years in prison.

Ho Thi Bich Khuong, 44, is among an emerging and rapidly expanding group of farmers who use the Internet to defend the rights of landless poor people and to promote freedom of expression and freedom of association. She publishes detailed accounts of the repression and harassment she and her family have confronted, and writes about the sufferings of other poor peasants and of human rights activists. In April 2007 she was arrested in an Internet café in Nghe An province and sentenced to two years in prison for “abusing democratic freedoms to infringe upon the interests of the state,” under article 258 of the penal code. Her memoir of her time in prison was published in serialized form in July and August 2009 by Nguoi Viet Online, one of the most influential Vietnamese-American newspapers in Orange County, California. On January 15, Ho Thi Bich Khuong was arrested again in Nghe An and has since been held in detention.

Le Tran Luat, 41, is a former lawyer who has defended numerous politically sensitive cases in Vietnam. He is also a prolific blogger who writes about legal reform and human rights issues. Authorities forced his law practice, the Legal Right Firm, to close in 2009. Le Tran Luat has suffered daily harassment from the police since 2008 for agreeing to take on sensitive cases, such as defending democracy activists Truong Minh Duc, Pham Ba Hai, and Pham Van Troi. Since the closure of his law firm, Le Tran Luat has not been able to secure employment because police have pressured potential employers not to hire him. Le Tran Luat’s writing analyzes the weaknesses of the legal system in Vietnam and strongly defends democracy activists. His blog was hacked and destroyed by unknown cyber assailants in November.

Nguyen Bac Truyen, 43, is a former political prisoner. His contributions to overseas news websites describing repression, injustice, and human rights violations committed by the government led to his arrest in November 2006 under article 88 of the penal code for propaganda against the state. The authorities sentenced him to three-and-a-half years in prison. Since being released in May 2010, he has been under probation/house arrest and faced constant harassment. Nguyen Bac Truyen’s writings since his imprisonment are focused on his fellow political prisoners and the difficulties and discrimination that former political prisoners face. He has been an outspoken member of the Vietnamese Political and Religious Prisoners Fellowship Association, which provides support to prisoners and their families.

Nguyen Xuan Nghia, 62, is a journalist, novelist, poet, and editorial board member of the underground democracy bulletin, To Quoc (Fatherland). As a journalist, he wrote for the main government papers until 2003, when the government banned him because of his pro-democracy activities. A leader of the banned pro-democracy group Bloc 8406, Nguyen Xuan Nghia was arrested in September 2008 and charged with conducting anti-government propaganda under penal code article 88. On October 8, 2009, after more than a year in pretrial detention, he was sentenced to six years in prison and then four years under house arrest by the People’s Court of Hai Phong.

Phan Thanh Hai, 42, is a dissident writer who blogsunder the pen name “Anhbasg.” A founding member of the Club for Free Journalists, Phan Thanh Hai’s writings aim to promote government transparency, freedom of expression, and freedom of association. After participating in a protest in Ho Chi Minh City against the Beijing Olympics in December 2007, police put Phan Thanh Hai under intrusive surveillance, and detained and interrogated him many times. Although Phan Thanh Hai finished his law study and has fulfilled all requirements, his application to become a practicing lawyer was turned down by the Ho Chi Minh City Bar Association because of his involvement in the protest and his Internet blogging activities. He has also not been able to secure any regular employment due to police harassment. On October 18, police arrested Phan Thanh Hai in Ho Chi Minh City for allegedly conducting propaganda against the state under article 88 of the penal code. He remains in detention.

Ta Phong Tan, 43, is a former police officer and a former communist party member. She began her writing career as a freelance journalist in 2004. Her articles appeared in many mainstream newspapers including Tuoi Tre (Youth), Nguoi Lao Dong (Laborer), Vietnam Net, Phap Luat TP Ho Chi Minh (Ho Chi Minh City Law), Thanh Tra (inspectorate), Can Tho, and Binh Duong. Since March 2006, dozens of her articles have been published on the website of BBC’s Vietnamese service. This eventually prompted the Communist Party of Vietnam to revoke her membership. Since launching her blog “Justice & Truth” (Cong ly & Su that) in November 2006, she has become one of the most prolific bloggers in Vietnam. She has authored more than 700 articles about social issues, including the mistreatment of children, official corruption, unfair taxation of poor people, and peasant grievances connected to illegal land confiscations by local officials. In addition, using her former knowledge and experience of police work, she provides insightful observations about widespread abuse of power by the police in Vietnam. As a result of her writing, police have continually harassed Ta Phong Tan. Since 2008, she has been detained and interrogated on numerous occasions about her activities, her associates, and the contents of her blog. Ta Phong Tan was arrested on September 5, and her whereabouts are unknown.

Vi Duc Hoi, 55, is a writer and blogger from the remote province of Lang Son in northern Vietnam, near the China border. He is an ethnic Tay, the largest minority group in Vietnam. Vi Duc Hoi quietly started supporting calls for respect of human rights and greater democracy in 2006, while still holding important positions in the Communist Party of Vietnam and government apparatus in Lang Son. He was the head of the Committee for Propaganda and a member of the Party’s Standing Committee of Huu Lung district. After his views became known, he was expelled from the party, subject to orchestrated public denunciation sessions, and detained and interrogated. His essays on democracy, pluralism, and human rights and his memoir, Facing Reality, My Path to Joining the Democratic Movement (Doi Mat: Duong di den voi phong trao dan chu), have been widely circulated on the Internet. Vi Duc Hoi was arrested in October 2010 and charged with conducting propaganda against the state under article 88 of the penal code. He was convicted to eight years of imprisonment in January, reduced on appeal in April to five years and then three years on probation.

Quotes from Vietnamese Hellman Hammett Awardees for 2011
I have lived my life not to dishonor those who place their full belief in me in the struggle for justice, democracy and human rights in Vietnam.”

Legal Activist Cu Huy Ha Vu
I do not have any motive other than the desire to defend what is right and defend my people. Thus I have decided to devote the remainder of my life to doing something, no matter how trivial, so that when I leave this life, I will have fewer regrets.

Democracy Activist Vi Duc Hoi
We need to fight for democracy and human rights in Vietnam because they are crucial for the development of our country.”

Former Political Prisoner Nguyen Bac Truyen
Somewhere from the shadow of the green trees, non-violent activists, students and outstanding citizens of the country are fighting for freedom, democracy and human rights for their homeland, despite being brutally persecuted.”

Writer and Democracy Activist Nguyen Xuan Nghia
I am a free journalist. I write about what I see and hear. I comment on social issues as I understand them. I expose the victimization of people like myself and my friends by the State of Vietnam. I defend people without power who suffer injustice.”

Former Police Officer and Blogger Ta Phong Tan

The most dangerous thing is that we are deprived of freedom of expression. Freedom of expression is not only a basic right. It is also a tool and a means for us to defend other rights.

Lawyer and Blogger Le Tran Luat

Blogging is an escape route for those whose ideas and actions are imprisoned. It allows one to express resistance against injustice and violence. Blogging is where an individual can express his/her desire for freedom.”

Blogger Phan Thanh Hai (a.k.a. Anhbasg)

I passionately hope that freedom and democracy will come to my people so that everybody can enjoy human rights like in other progressive countries. In this struggle, your support is not only a source of encouragement, but also a contribution to the nation and the people of Vietnam.”

Human Rights Activist Ho Thi Bich Khuong

 

Bản Tiếng Việt :

Việt Nam: Các Nhà văn được Vinh danh vì đã Dấn thân cho Nhân quyền

Tám người Việt Nam được trao giải thưởng uy tín Hellman/Hammett

September 13, 2011

http://www.hrw.org/node/101673

 

(Bangkok, ngày 14 tháng Chín năm 2011) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền công bố có tám cây bút người Việt trong số 48 tác giả với một nhóm nhà văn đa dạng từ 24 quốc gia vừa được trao giải thưởng uy tín Hellman/Hammett để ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị.

 

“Các nhà cầm bút ở Việt Nam thường xuyên bị đe dọa, tấn công, thậm chí bị bỏ tù chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, tổ chức quản lý giải thưởng thường niên Hellman/Hammett nói. “Qua việc vinh danh các nhà văn dũng cảm, những người đã phải chịu đựng sự đàn áp chính trị, mất việc làm, thậm chí hy sinh cả tự do, chúng tôi muốn hướng sự chú ý và ủng hộ của quốc tế tới những cá nhân mà chính phủ Việt Nam đang cố buộc họ phải câm lặng.”

 

Tất cả những người được giải năm nay ở Việt Nam đều là những cây bút mà tác phẩm và hoạt động của họ bị chính phủ đàn áp với chủ ý hạn chế tự do ngôn luận, kiểm soát báo chí độc lập, giới hạn khả năng truy cập và sử dụng internet.

 

Tất cả những người được giải trong quá khứ đã từng, hoặc hiện tại vẫn đang bị giam giữ. Vài người đã bị côn đồ được hợp thức hóa tấn công và đả thương, hay bị đấu tố và hạ nhục trong các buổi họp quần chúng được dàn dựng trước. Tất cả những người được trao giải đều từng bị chính quyền áp dụng các biện pháp đối phó, gây cản trở tới đời sống và công việc, từ cắt đường điện thoại và hạn chế đi lại, đến gây sức ép với gia đình để buộc họ chấm dứt các việc làm của mình.

 

Những người được trao giải năm nay gồm có Cù Huy Hà Vũ, một nhà vận động pháp lý; Hồ Thị Bích Khương, một nhà vận động nhân quyền; Lê Trần Luật, nguyên luật sư; Nguyễn Bắc Truyển, cựu tù nhân chính trị; Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà vận động tự do ngôn luận; Phan Thanh Hải, nhà vận động pháp lý; Tạ Phong Tần, người viết blog; và Vi Đức Hồi, nguyên cán bộ Đảng.

 

Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vi Đức Hồi hiện đang ở tù. Hồ Thị Bích Khương bị bắt ngày 15 tháng Giêng năm 2011 không rõ tội danh và vẫn đang bị tạm giữ. Phan Thanh Hải đã bị giam giữ từ ngày 18 tháng Mười năm 2010 với cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước. Tạ Phong Tần mới bị bắt ngày mồng 5 tháng Chín năm 2011 không rõ tội danh. Nguyễn Bắc Truyển, sau khi thụ án 42 tháng tù, đang bị quản chế và không được tự do đi lại. Chỉ có mỗi Lê Trần Luật là không bị giam giữ, nhưng hàng ngày bị công an theo dõi rất sát sao. (Xem chi tiết tiểu sử trong phần dưới đây.)

 

Hồ Thị Bích Khương viết: “Tôi tha thiết mong rằng tự do dân chủ sẽ sớm đến với nhân dân tôi, mọi người trên đất nước mình phải được hưởng quyền con người như các nước tiến bộ khác trên thế giới. Tôi thấy trong cuộc đấu tranh này, một lời nói lên tiếng của quý vị không chỉ là nguồn động viên khích lệ mà chính các quý vị đang góp phần đấu tranh cho dân tộc và cho nhân dân Việt Nam.”

 

Giải thưởng thường niên Hellman/Hammett được trao cho các nhà văn trên khắp thế giới là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc lạm dụng về nhân quyền. Một ban tuyển chọn uy tín trao giải tiền mặt nhằm vinh danh và trợ giúp những cây bút mà tác phẩm và hoạt động của họ bị đàn áp do chính sách hà khắc của chính quyền.

 

Giải thưởng này mang tên nhà biên kịch người Mỹ Lillian Hellman và bạn đồng hành lâu năm của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett. Cả hai đều từng bị truy vấn trước các ủy ban quốc hội Mỹ về niềm tin chính trị và liên hệ với các nhóm phái của họ trong thời kỳ điều tra chống cộng ngặt nghèo do Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy dấy lên vào thập niên 1950. Hellman chịu thiệt thòi về nghề nghiệp và gặp khó khăn khi kiếm việc làm. Hammet phải vào tù một thời gian.

 

Năm 1989, những người chịu trách nhiệm điều hành di chúc của Hellman đề nghị Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thiết lập một chương trình nhằm giúp đỡ các nhà văn bị đàn áp vì bày tỏ những quan điểm ngược với chính phủ của họ, vì chỉ trích các quan chức hoặc các hành động của chính phủ, hoặc vì viết về những đề tài mà chính phủ của họ không muốn phơi bày ra ánh sáng.

 

Trong 22 năm qua, hơn 700 nhà văn từ 92 nước đã nhận giải Hellman/Hammett. Trong suốt những năm đó, hơn 3 triệu đô la đã được trao cho các cây bút bị ngược đãi. Chương trình này cũng trao những khoản tài trợ khẩn cấp nhỏ cho những nhà văn đang cần cấp tốc rời khỏi đất nước của họ, hoặc những người cần được điều trị y tế ngay sau khi ra tù hoặc bị tra tấn.

 

Lawrence Moss, điều phối viên của giải thưởng, phát biểu : “Giải Hellman/Hammett nhằm mục đích giúp đỡ những nhà văn đã chịu thiệt thòi vì bày tỏ những ý kiến hoặc thông tin chỉ trích các chính sách hay phê phán nhà cầm quyền,” “Nhiều nhà văn được vinh danh qua giải thưởng này cùng chia sẻ mục đích chung với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: Bảo vệ nhân quyền cho những người dễ bị tổn thương bằng cách đưa ra trước ánh sáng những vụ lạm dụng và xây dựng áp lực công luận để thúc đẩy những thay đổi tích cực.”

 

Lý lịch vắn tắt của những người được trao giải Hellman/Hammett năm nay ở Việt Nam:

 

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, 54 tuổi, là một họa sĩ có bằng tiến sĩ luật của Đại học Sorbonne. Ông xuất thân trong một gia đình ưu tú với nhiều đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam và lão thành cách mạng. Tiến sĩ Vũ nổi tiếng nhất với hai lá đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đơn kiện thứ nhất về việc đã ký Quyết định 167 tháng Mười một năm 2007, phê duyệt dự án khai thác bô-xít đang gây nhiều tranh cãi trên khu vực Tây Nguyên. Lá đơn thứ hai của Ts. Vũ kiện thủ tướng đã ký Nghị định 136 năm 2006, có hiệu lực cấm khiếu kiện tập thể. Ngoài ra, Ts. Vũ còn được biết đến với các hành động công khai chỉ trích các quan chức cao cấp của chính quyền, trong đó có Trung tướng Vũ Hải Triều của Bộ Công an vì bị cho là đã chỉ đạo tấn công vi tính nhằm vào các trang mạng nhạy cảm về chính trị không được lòng chính quyền, và Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh vì bị cho là đã tịch thu đất đai của các gia đình liệt sĩ. Ts. Vũ bị bắt vào tháng Mười một năm 2010. Ông bị đưa ra xử ngày mồng 4 tháng Tư năm 2011 với mức án 7 năm tù và 3 năm quản chế vì đã vi phạm điều 88 bộ luật hình sự có quy định cấm tuyên truyền chống nhà nước.

 

Hồ Thị Bích Khương, 44 tuổi, là thành viên của một nhóm đang hình thành và phát triển nhanh chóng gồm các nông dân sử dụng mạng Internet để bảo vệ quyền lợi của những người dân nghèo không có ruộng đất, và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận và tự do lập hội. Không những ghi chép rất cụ thể về các hình thức đàn áp và sách nhiễu mà bản thân và gia đình phải chịu, Hồ Thị Bích Khương còn viết về những khổ đau mà những người nông dân nghèo khó và các nhà hoạt động vì nhân quyền khác đã phải chịu đựng. Tháng Tư năm 2007, bà bị bắt tại một quán cà phê Internet ở Nghệ An và bị xử hai năm tù vì tội “lạm dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước” theo Điều 258 của bộ luật hình sự. Hồi ký về thời gian ở tù của bà được tờ Người Việt Online, một trong những tờ báo của người Mỹ gốc Việt có ảnh hưởng lớn nhất ở Quận Cam, bang California, xuất bản thành nhiều kỳ vào tháng Bảy và tháng Tám năm 2009. Ngày 15 tháng Giêng năm 2011, Hồ Thị Bích Khương bị bắt lại ở Nghệ An và bị tạm giữ từ đó đến nay.

 

Lê Trần Luật, 41 tuổi, nguyên là luật sư đã bào chữa cho nhiều vụ án nhạy cảm về chính trị ở Việt Nam. Ông cũng là một blogger viết rất năng nổ về cải cách pháp lý và các vấn đề nhân quyền. Văn phòng Luật sư Pháp quyền của ông bị chính quyền buộc đóng cửa vào năm 2009. Kể từ năm 2008, Lê Trần Luật bị công an sách nhiễu hàng ngày vì đã nhận các vụ án nhạy cảm,chẳng hạn như bào chữa cho các nhà vận động dân chủ Trương Minh Đức, Phạm Bá Hải và Phạm Văn Trội. Sau khi văn phòng luật của mình bị đóng cửa, Lê Trần Luật không tìm được việc làm vì công an gây sức ép với những nhà tuyển dụng tiềm năng để họ không nhận ông. Những bài viết của Lê Trần Luật mổ xẻ những nhược điểm của hệ thống pháp luật ở Việt Nam và lên tiếng bảo vệ mạnh mẽ những nhà vận động dân chủ. Blog của ông bị tấn công và phá hủy bởi những kẻ tin tặc không rõ danh tính vào tháng Mười một năm 2010.

 

Nguyễn Bắc Truyển, 43 tuổi, cựu tù nhân chính trị. Những bài viết của ông đóng góp cho các trang tin tức hải ngoại những thông tin về các hành động đàn áp bất công và vi phạm nhân quyền của chính phủ đã dẫn tới hậu quả ông bị bắt giữ vào tháng Mười một năm 2006 theo điều 88 của bộ luật hình sự về tuyên truyền chống nhà nước. Chính quyền xử ông ba năm sáu tháng tù giam. Kể từ khi được ra tù vào tháng Năm năm 2010, ông bị quản chế tại gia và luôn bị sách nhiễu. Những bài viết của Nguyễn Bắc Truyển sau khi ra tù tập trung vào các bạn tù chính trị của mình, và những nỗi khó khăn và sự kỳ thị mà cựu tù nhân chính trị phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Ông là một thành viên tích cực của Hội Ái Hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam, có tôn chỉ hỗ trợ các tù nhân và gia đình họ.

 

Nguyễn Xuân Nghĩa, 62 tuổi, là một nhà báo, tiểu thuyết gia, nhà thơ và thành viên ban biên tập tờ “Tổ Quốc,” một tập san dân chủ phát hành bí mật. Trong vai trò nhà báo, ông đã viết cho nhiều tờ báo lớn của nhà nước đến tận năm 2003, khi bị cấm đăng vì tham gia các hoạt động dân chủ. Là một thành viên lãnh đạo của Khối 8406, một tổ chức dân chủ bị cấm hoạt động, ông bị bắt vào tháng Chín năm 2008 và khởi tố về tội tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 bộ luật hình sự. Sau khi bị tạm giam hơn một năm, Nguyễn Xuân Nghĩa bị tòa án Nhân dân Thành phố Hải Phòng xử sáu năm tù cộng thêm bốn năm quản chế trong phiên xử ngày mồng 8 tháng Mười năm 2009.

 

Phan Thanh Hải, 42 tuổi, là một người viết blog bất đồng chính kiến có bút danh “Anhbasg.” Là một thành viên sáng lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, các bài viết của Phan Thanh Hải nhằm thúc đẩy sự minh bạch trong chính phủ, tự do ngôn luận và tự do lập hội. Sau khi ông tham gia một cuộc biểu tình ở Thành phố Hồ Chí Minh phản đối Olympics Bắc Kinh vào tháng Mười hai năm 2007, công an theo dõi Phan Thanh Hải rất ngặt nghèo, và nhiều lần câu lưu, thẩm vấn ông. Dù Phan Thanh Hải đã tốt nghiệp khóa luật và hoàn tất mọi thủ tục, đơn xin hành nghề luật sư của ông vẫn bị Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh từ chối vì ông đã tham gia biểu tình và các hoạt động trên blog của mình. Ông không kiếm được việc làm nào ổn định vì bị công an sách nhiễu. Vào ngày 18 tháng Mười năm 2010, công an bắt giữ Phan Thanh Hải ở Thành phố Hồ Chí Minh với cáo buộc tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 bộ luật hình sự. Ông vẫn đang bị tạm giam.

 

Tạ Phong Tần, 43 tuổi, là cựu sĩ quan công an, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản. Bà bắt đầu viết với tư cách nhà báo tự do vào năm 2004. Các bài báo của bà được đăng trên nhiều tờ báo chính thống, trong đó có Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Vietnam Net, Pháp luật TP Hồ Chí Minh, Thanh Tra, Cần Thơ và Bình Dương. Kể từ tháng Ba năm 2006, nhiều bài báo của bà đã được đăng tải trên trang mạng của Ban Việt ngữ Đài BBC. Điều đó cuối cùng đã khiến bà bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản. Kể từ khi khai trương blog riêng “Công lý & Sự thật” qua Yahoo 360 vào tháng Mười một năm 2006, bà đã trở thành một trong những người viết blog tích cực nhất ở Việt Nam. Bà đã chấp bút cho ra hơn 700 bài viết về các vấn đề xã hội, bao gồm ngược đãi trẻ em, tham nhũng, chính sách thuế bất công nhằm vào người nghèo, và những nỗi oan ức của nông dân do bị quan chức địa phương cưỡng chiếm đất đai. Bên cạnh đó, với kiến thức và kinh nghiệm trong công tác cũ trong ngành công an, bà đưa ra cái nhìn sắc sảo của người trong cuộc về tình trạng lạm dụng quyền lực tràn lan của công an Việt Nam. Hậu quả của những bài viết đó là bà bị công an liên tục sách nhiễu. Kể từ năm 2008, bà đã nhiều lần bị câu lưu, thẩm vấn về các việc bà làm, các mối quan hệ và nội dung các bài viết trên blog. Tạ Phong Tần bị bắt ngày mồng 5 tháng Chín năm 2011 và hiện vẫn chưa rõ đang bị giam ở đâu.

 

Vi Đức Hồi, 55 tuổi, một nhà văn, người viết blog từ Lạng Sơn, một tỉnh biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc. Ông là người dân tộc Tày, dân tộc thiểu số lớn nhất ở Việt Nam. Vi Đức Hồi đã thầm lặng ủng hộ lời kêu gọi tôn trọng nhân quyền và mở rộng dân chủ từ năm 2006, khi vẫn đang giữ các vị trí quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt Nam và cơ quan chính quyền tỉnh Lạng Sơn. Ông là Trưởng Ban Tuyên giáo và là ủy viên thường vụ Huyện ủy Hữu Lũng. Sau khi quan điểm trái chiều của ông bị phát hiện, ông bị khai trừ khỏi đảng, bị đưa ra kiểm điểm trong các cuộc họp quần chúng được dàn xếp trước, bị câu lưu và thẩm vấn. Các bài xã luận của ông về dân chủ, đa nguyên và nhân quyền, và hồi ký Đối mặt: Đường đi đến với phong trào dân chủ được lưu hành rộng rãi trên mạng Internet. Vi Đức Hồi bị bắt vào tháng Mười năm 2010 và khởi tố về tội tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 bộ luật hình sự. Ông bị kết án 8 năm tù vào tháng Giêng năm 2011, sau đó giảm xuống 5 năm trong phiên phúc thẩm vào tháng Tư năm 2011, cộng thêm 3 năm quản chế.

 

Trích lời những người được giải Hellman/Hammett năm 2011 ở Việt Nam

 

Tôi đã sống để không hổ thẹn với tất cả những ai đã dành trọn niềm tin nơi tôi trong cuộc đấu tranh vì Công lý, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam.”

Nhà vận động pháp lý Cù Huy Hà Vũ

 

Tôi chẳng có động cơ nào khác ngoài động cơ thấy mình cần phải bênh vực lẽ phải, bênh vực những người dân của tôi, vì thế tôi quyết định những năm tháng còn lại của cuộc đời tôi, tôi phải làm điều gì đó dù là ít ỏi để rồi khi từ giã cõi đời này sẽ giảm bớt đi những ân hận.

Nhà hoạt động dân chủ Vi Đức Hồi

 

Việc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam cần phải được làm vì điều đó rất cần thiết cho công cuộc phát triển đất nước Việt Nam.

Cựu tù nhân chính trị Nguyễn Bắc Truyển

 

Nhưng ở đâu đó, dưới những tán cây xanh kia cũng đang có các nhân vật hoạt động đối kháng bất bạo động, một lớp sinh viên và công dân ưu tú của đất nước đang đứng lên đòi tự do, dân chủ, nhân quyền cho quê hương, mặc dù bị đàn áp khốc liệt.

Nhà văn và nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Xuân Nghĩa

 

Tôi chỉ là một nhà báo tự do, tôi viết những điều tôi mắt thấy tai nghe, tôi bình luận các vấn đề xã hội theo cách nhìn của tôi…, tôi viết về những bất công do nhà nước Việt Nam gây ra mà chính tôi hay bạn bè tôi là nạn nhân, tôi bênh vực những người dân Việt Nam thấp cổ bé miệng bị oan khuất.

Cựu sĩ quan công an và blogger Tạ Phong Tần

 

Điều nguy hiểm nhất đó là chúng ta bị tước đoạt về tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận chẳng những là một quyền căn bản mà nó còn là công cụ, phương tiện để chúng ta bảo vệ các quyền tự do khác.

Luật sư và blogger Lê Trần Luật

 

Blog là lối thoát của những cá nhân bị kềm kẹp trong ý tưởng và hành động, là nơi bộc lộ ý thức phản kháng đối với những bất công và bạo quyền. Blog là nơi cá nhân thể hiện khát vọng tự do của mình một cách mạnh mẽ.

Blogger Phan Thanh Hải (a.k.a. Anhbasg)

 

Tôi tha thiết mong rằng tự do dân chủ sẽ sớm đến với nhân dân tôi, mọi người trên đất nước mình phải được hưởng quyền con người như các nước tiến bộ khác trên thế giới. Tôi thấy trong cuộc đấu tranh này, một lời nói lên tiếng của quý vị không chỉ là nguồn động viên khích lệ mà chính các quý vị đang góp phần đấu tranh cho dân tộc và cho nhân dân Việt Nam.

Nhà hoạt động vì nhân quyền Hồ Thị Bích Khương

 

.

.

.

8 NHÀ TRANH ĐẤU VIỆT NAM ĐƯỢC TRAO GIẢI NHÂN QUYỀN HELLMAN/HAMMETT (tin tổng hợp)

Tháng Chín 14, 2011

 

8 nhà tranh đấu VN được trao giải nhân quyền Hellman/Hammett

Gia Minh, biên tập viên RFA

2011-09-14

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/8vn-award-hrg-hellman-hammet-09142011062259.html

 

Tám người Việt Nam trong nước tham gia viết bài phổ biến trên các trang mạng Internet được trao giải Hellman/Hammett năm nay của tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch.

.

Những ngòi bút can đảm

 

Trong tổng số 48 người từ 24 quốc gia trên thế giới được trao giải Hellman- Hammett của Human Rights Watch năm 2011 có 8 người Việt Nam.

Đó là các nhân vật được nhiều người biết đến về các họat động đòi hỏi tự do, nhân quyền trong nước: tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ, người đấu tranh cho dân oan bà Hồ thị Bích Khương, luật sư Lê Trần Luật, cựu tù nhân Nguyễn Bắc Truyển, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, luật gia Phan Thanh Hải, blooger Tạ Phong Tần, và cựu đảng viên Vi Đức Hồi.

Trong số tám người vừa nói hiện chỉ có hai người đang ở bên ngòai nhà tù mà thôi; sáu người còn lại hoặc đang phải thụ án tù hay đang bị bắt giam mà chưa được xét xử.

Cụ thể tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, ông Vi Đức Hồi đang thụ án tù về tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN. Bà Hồ thị Bích Khương bị bắt lại hồi ngày 15 tháng giêng năm nay ỡ Nghệ An mà không có lý do cụ thể nào, hiện đang bị giam giữ.

Luật gia Phan Thanh Hải bị bắt hồi ngày 18 tháng 10 năm ngóai với cáo buộc tiến hành tuyên truyền chống nhà nước. Blogger Tạ Phong Tần bị bắt đi hồi ngày 5 tháng 9 vừa qua.

Nhân dịp công bố giải thưởng năm nay tại cuộc họp báo tổ chức ở Câu Lạc bộ báo chí Thái Lan tại thủ đô Bangkok, ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách khu vực Châu Á của Human Rights Watch, cho biết việc chọn những người được trao giải do một ủy ban độc lập xét duyệt căn cứ vào hồ sơ nộp cho các ứng viên.

Một trong tám người Việt Nam nhận được giải Hellman- Hammett năm nay, ông Nguyễn Bắc Truyễn cựu tù nhân chính trị được trả tự do hồi tháng năm năm ngóai và nay đang trong giai đọan quản chế thử thách, cho biết cảm tưởng khi được trao giải Hellman- Hammett năm nay: “Đây là một vinh dự cho bản thân tôi cũng như cho tất cả những tù nhân lương tâm”.

 

Tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ, ông Nguyễn Bắc Truyển, ông Vi Đức Hồi, luật gia Phan Thanh Hải (từ trái, trên xuống). RFA file

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/8vn-award-hrg-hellman-hammet-09142011062259.html/Image-1-270.jpg

 

Luật sư Lê Trần Luật, bà Hồ thị Bích Khương, blooger Tạ Phong Tần, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa
(từ trái, trên xuống) RFA file

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/8vn-award-hrg-hellman-hammet-09142011062259.html/image2-270.jpg
Vì những người được trao giải Hellman- Hammett là những người dám công khai lên tiếng chỉ trích nhà cầm quyền về những chính sách đàn áp, bắt bớ, giam tù những tiếng nói vì tự do, dân chủ, nhân quyền trong nứơc nên khả năng khi nhận giải họ có thể bị thêm khó khăn từ phía chính quyền.

Đây là lý do vì sao không thể có một đại diện nào trong số tám người Việt Nam được trao giải năm nay có mặt tại cuộc họp báo vinh danh và trao giải cho những người được chọn ở khu vực Đông Nam Á. Ông Phil Robertson nói về điều đó.

 

Quyền bày tỏ ý kiến

 

Trong khi đó thì bàn thân ông Nguyễn Bắc Truyển, một trong tám người được trao giải năm nay bày tỏ ý kiến về quan ngại vừa nói của Human Rights Watch:
“Đối với nhà nước cộng sản Việt Nam hay cơ quan an ninh việc họ tiếp xúc với tôi là chuyện bình thường rồi. Tôi nghĩ không có gì khó khăn thêm cho tôi. Việc đi tù mà mình vượt qua được rồi thì không có gì làm cho mình sợ hãi hơn nữa.”

Ông Nguyễn Bắc Truyển cũng nói đến tác động của giải thưởng Hellman/Hammett trao cho một số người cầm bút trong nước như ông:

“Có hai vấn đề: khi trong nước có nhiều người được giải tôi có nổi buồn vì điều đó chứng tỏ sự vi phạm nhân quyền của nhà nước cộng sản Việt Nam đang diễn ra hết sức trầm trọng, nên Human Rights Watch phải quan tâm đặc biệt với Việt Nam.
Điều vui là không phải ai cũng có nhận thức đúng đắn về những người như chúng tôi; nhất là những người đang làm vịệc cho Nhà nước Việt Nam đều nhìn chúng tôi như ‘chống đối’ họ; trong khi đó những việc chúng tôi làm đều phù hợp luật pháp nhà nước cộng sản Việt Nam, cũng như các tuyên ngôn nhân quyền quốc tế và công ước về các quyền dân sự và chính trị.

Thông cáo báo chí của Human Rights Watch nêu rõ tám người cầm bút Việt Nam được trao giải Hellman/Hammett năm nay tất cả đều chứng kiến những bài viết và họat động của họ bị chính quyền đàn áp với nổ lực hạn chế quyền tự do ngôn luận, kiểm sóat truyền thông độc lập và giới hạn việc tiếp cận mở và sử dụng Internet.

 

Xin nhắc lại, giải thưởng Hellman/Hammett của Human Rights Watch là giải thưởng hằng năm dành cho những người cầm bút trở nên mục tiêu của tình trạng bắt bớ chính trị hoặc vi phạm nhân quyền.

Tên gọi của giải thưởng được đặt theo danh tính của kịch tác gia Hoa Kỳ Lillian Hellman và người bạn đồng hành trong đời của bà là tiểu thuyết gia Dashiell Hammett. Cả hai đều bị các ủy ban quốc hội Hoa Kỳ chất vấn về chính kiến trong các cuộc điều tra chống cộng hồi thập niên 50 thế kỷ trước.

Vào năm 1989, theo ước nguyện Helman, Human Rights Watch lập giải thưởng nhằm giúp cho những nhà văn trở nên đối tượng bách hại của nhà cầm quyền vì bày tỏ những quan điểm trái với đường lối của nhà nước, phê phán các quan chức chính phủ và những hành xử của họ, hoặc viết về những chủ đề mà chính quyền không muốn đụng đến.

Trong hơn 22 năm qua, hơn 700 người cầm bút của 92 quốc gia trên thế giới đã được trao giải thưởng Hellman/Hammett.

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

 

———————————

 

HRW vinh danh 8 nhà bất đồng chính kiến Việt Nam, trong đó có Cù Huy Hà Vũ

Thụy My   –   RFI

Thứ tư 14 Tháng Chín 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110914-hrw-vinh-danh-8-nha-bat-dong-chinh-kien-viet-nam-trong-do-co-cu-huy-ha-vu

 

Hôm nay 14/8, Human Rights Watch công bố danh sách 8 nhà bất đồng chính kiến Việt Nam được chọn để trao tặng giải Hellman/Hammett năm nay, trong tổng số 48 cây bút của 24 quốc gia. Đặc biệt trong danh sách lần này có tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, vừa bị kết án 7 năm tù giam.

 

Tổ chức bảo vệ nhân quyền có trụ sở tại New York cho biết, giải thưởng này được trao để vinh danh lòng dũng cảm của họ trước tình trạng đàn áp về chính trị.

 

Danh sách nhng người được trao gii năm nay gm có: Tiến sĩ lut Cù Huy Hà Vũ, nhà đu tranh cho nhân quyn H Th Bích Khương, lut sư Lê Trn Lut, cu tù chính tr Nguyn Bc Truyn, nhà báo Nguyn Xuân Nghĩa, các blogger Phan Thanh Hi, T Phong Tn, Vi Đc Hi. Trong số này, các ông Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Xuân Nghĩa và Vi Đức Hồi hiện đang ngồi tù, Hồ Thị Bích Khương, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần đang bị tạm giữ, Nguyễn Bắc Truyển đang bị quản chế. Chỉ có Lê Trần Luật là không bị giam nhưng hàng ngày vẫn bị theo dõi rất sát sao.

 

Theo ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách châu Á của tổ chức này, những người cầm bút ở Việt Nam thường bị đe dọa, thậm chí bỏ tù chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa. Việc tặng giải Hellman/Hammett cho 8 nhân vật bất đồng chính kiến Việt Nam nhằm hướng sự chú ý của quốc tế đến những cá nhân mà chính phủ Việt Nam đang cố buộc họ phải câm lặng.

 

Giải thưởng Hellman/Hammett mang tên hai cây bút người Mỹ, được thành lập từ năm 1989, hàng năm được xét trao cho các cây bút trên khắp thế giới là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc vi phạm nhân quyền. Trong 22 năm qua, có trên 700 người từ 92 nước đã nhận giải, với hơn ba triệu đô la đã được trao cho các cây bút bị ngược đãi. Chương trình cũng dành những khoản tài trợ khẩn cấp cho những người viết cần cấp tốc rời khỏi nước, hoặc để chăm sóc y tế sau khi họ ra tù hoặc bị tra tấn.

 

———————————

 

Tám người VN được giải thưởng nhân quyền

BBC

Cập nhật: 13:56 GMT – thứ tư, 14 tháng 9, 2011

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/09/110913_hrw_vietnamese_awards.shtml

 

Việt Nam chiếm tám giải thưởng trong tổng số 48 giải Hellman/Hammett mà Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch trao cho các cá nhân từ 24 nước.

 

Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền, cơ quan quản lý giải thưởng thường niên Hellman Hammett, nói giải thưởng này “ghi nhận lòng dũng cảm và kiên định trước sức ép đàn áp chính trị.”

 

Những người được trao giải năm nay gồm có “Cù Huy Hà Vũ, một nhà vận động pháp lý; Hồ Thị Bích Khương, một nhà vận động nhân quyền; Lê Trần Luật, nguyên luật sư; Nguyễn Bắc Truyển, cựu tù nhân chính trị; Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà vận động tự do ngôn luận; Phan Thanh Hải, nhà vận động pháp lý; Tạ Phong Tần, người viết blog; và Vi Đức Hồi, nguyên cán bộ Đảng.”

 

Ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền được dẫn lời nói:

“Các nhà cầm bút ở Việt Nam thường xuyên bị đe dọa, tấn công, thậm chí bị bỏ tù chỉ vì bày tỏ quan điểm của mình một cách ôn hòa.

“Qua việc vinh danh các nhà văn dũng cảm, những người đã phải chịu đựng sự đàn áp chính trị, mất việc làm, thậm chí hy sinh cả tự do, chúng tôi muốn hướng sự chú ý và ủng hộ của quốc tế tới những cá nhân mà chính phủ Việt Nam đang cố buộc họ phải câm lặng.”

 

Thông cáo báo chí của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về lần trao giải thưởng này cũng nói:

“Tất cả những người được giải năm nay ở Việt Nam đều là những cây bút mà tác phẩm và hoạt động của họ bị chính phủ đàn áp với chủ ý hạn chế tự do ngôn luận, kiểm soát báo chí độc lập, giới hạn khả năng truy cập và sử dụng internet.

“Những người được giải trong quá khứ đã từng, hoặc hiện tại vẫn đang bị giam giữ.

“Vài người đã bị côn đồ được hợp thức hóa tấn công và đả thương, hay bị đấu tố và hạ nhục trong các buổi họp quần chúng được dàn dựng trước. Tất cả những người được trao giải đều từng bị chính quyền áp dụng các biện pháp đối phó, gây cản trở tới đời sống và công việc, từ cắt đường điện thoại và hạn chế đi lại, đến gây sức ép với gia đình để buộc họ chấm dứt các việc làm của mình.”

 

‘Theo dõi sát sao’

 

Trong số tám người được trao giải năm nay, ba người, ông Hà Vũ, ông Nghĩa và ông Hồi hiện đang chịu án tù.

Bà Khương, ông Hải và bà Tần đang bị tạm giữ trong khi ông Truyển đang bị quản chế tại gia.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói chỉ có một mình ông Luật “là không bị giam giữ, nhưng hàng ngày bị công an theo dõi rất sát sao.”

Thông báo về việc trao giải thưởng cũng đưa ra những phát biểu trước đây của những người được giải.

 

Ông Luật được dẫn lời nói: “Điều nguy hiểm nhất đó là chúng ta bị tước đoạt về tự do ngôn luận. Tự do ngôn luận chẳng những là một quyền căn bản mà nó còn là công cụ, phương tiện để chúng ta bảo vệ các quyền tự do khác.”

Trả lời BBC qua điện thoại từ Việt Nam hôm 14/9, ông Lê Trần Luật cho hay ông đã không còn bị công an giám sát hàng ngày nhưng vẫn bi quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

 

Còn ông Vi Đức Hồi, một cựu quan chức Đảng Cộng sản nói: “Tôi chẳng có động cơ nào khác ngoài động cơ thấy mình cần phải bênh vực lẽ phải, bênh vực những người dân của tôi, vì thế tôi quyết định những năm tháng còn lại của cuộc đời tôi, tôi phải làm điều gì đó dù là ít ỏi để rồi khi từ giã cõi đời này sẽ giảm bớt đi những ân hận.”

 

Việt Nam chưa có phản ứng gì về việc trao giải thưởng này nhưng chính phủ Việt Nam luôn khẳng định mọi người bị giam giữ ở Việt Nam đều là những người “vi phạm pháp luật” và coi việc vinh danh những người này là “can thiệp vào công việc nội bộ” của Việt Nam.

Hà Nội cũng từng nói các báo cáo của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền “có dụng ý xấu”.

 

Giải thưởng thường niên Hellman/Hammett được trao cho các nhà văn trên khắp thế giới, những người mà Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cho là nạn nhân của đàn áp chính trị hoặc lạm dụng về nhân quyền.

Giải thưởng mang tên nhà biên kịch người Mỹ Lillian Hellman và bạn đồng hành lâu năm của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett.

Cả hai là các nhân vật thiên tả, từng bị truy vấn trước các ủy ban quốc hội Mỹ về niềm tin chính trị và liên hệ với các nhóm phái của họ trong thời kỳ điều tra chống Cộng sản ngặt nghèo do Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy dấy lên vào thập niên 1950.

Bà Hellman chịu thiệt thòi về nghề nghiệp và gặp khó khăn khi kiếm việc làm còn ông Hammet phải vào tù một thời gian.

Năm 1989, những người chịu trách nhiệm điều hành di chúc của Hellman đề nghị Tổ chức Theo dõi Nhân quyền thiết lập một chương trình nhằm giúp đỡ các nhà văn bị đàn áp vì bày tỏ những quan điểm ngược với chính phủ của họ, vì chỉ trích các quan chức hoặc các hành động của chính phủ, hoặc vì viết về những đề tài mà chính phủ của họ không muốn phơi bày ra ánh sáng.

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói trong 22 năm qua, hơn 700 nhà văn từ 92 nước đã nhận giải Hellman/Hammett với giá trị tài chính của các giải thưởng là ba triệu đô la.

 

—————————-

 

8 nhà bất đồng chính kiến ​​Việt Nam được trao giải Hellman/Hammett

VOA

Thứ Tư, 14 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/hrw-honors-8-vietnamese-09-14-2011-129794738.html

 

.

.

.

 

HOA KỲ CÔNG BỐ PHÚC TRÌNH THƯỜNG NIÊN về TỰ DO TÔN GIÁO TRÊN THẾ GIỚI (tin tổng hợp)

Tháng Chín 14, 2011

Báo cáo của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo

Bill Bainbridge

14/09/2011 – 15:53

http://www.bayvut.com.au/s%E1%BB%B1-ki%E1%BB%87n/b%C3%A1o-c%C3%A1o-c%E1%BB%A7-hoa-k%E1%BB%B3-v%E1%BB%81-t%E1%BB%B1-do-t%C3%B4n-gi%C3%A1o

 

Theo báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về vấn đề tự do tôn giáo trên thế giới được đưa ra vào ngày 13/9, Trung Quốc, Myanmar và Bắc Triều Tiên nằm trong số tám quốc gia bị cho là vi phạm quyền tự do tôn giáo trầm trọng nhất.

Tám quốc gia đó bao gồm: Trung Quốc, Myanmar, Bắc Triều Tiên, Iran, Ả-rập Xê-út, Sudan, Eritrea, và Uzbekistan.

Chính phủ các nước này đã có những hành động vi phạm trầm trọng quyền tự do tôn giáo như đe dọa, giam cầm, tra tấn người dân.

 

Trước khi bản báo cáo được công bố, nhiều chính phủ đã tìm mọi cách tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhằm tìm hiểu xem liệu đất nước mình sẽ bị nêu tên hay không và nếu có thì sẽ tìm cách để được ra khỏi danh sách.

Điều này đã giúp Hoa Kỳ có cơ hội làm việc với những chính phủ đó nhằm nêu lên những vấn đề đáng quan tâm.

Hoa Kỳ là nước vẫn chủ trương tách rời các vấn đề tôn giáo ra khỏi chính trị và việc nước Pháp chủ trương cấm mang khăn choàng đầu Hồi giáo đã gây nhiều tranh luận giữa Hoa Kỳ với các nước Châu Âu.

 

Ông Michael Posner, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động cho biết, chính phủ Mỹ chủ trương mọi người dân đều được hưởng quyền tự do tôn giáo, đồng thời phản đối việc hạn chế quyền này đối với người Mỹ theo đạo Hồi.

Ông Posner nhắc lại việc hiến pháp Hoa Kỳ ủng hộ đa nguyên và tự do tôn giáo và cho rằng điều đó đã làm nền móng cho một xã hội Mỹ tự do và dân chủ.

 

Trung Quốc

Từ trước đến nay, Trung Quốc thường thực hiện các chính sách đàn áp và kỳ thị tôn giáo.

Ông Michael Posner, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách vấn đề Dân chủ, Nhân quyền và Lao động nêu ra một số ví dụ điển hình trong thời gian gần đây. Theo đó, nhà cầm quyền Trung Quốc đã bắt giam 300 nhà sư ở một tu viện tại Tây Tạng, hoặc vụ đàn áp những người Uighur theo đạo Hồi tại khu vực Tân Cương và vụ trấn áp các cộng đồng Thiên Chúa giáo và những tổ chức tôn giáo không đăng ký hoạt động với Nhà nước.

Hiện chính phủ Trung Quốc chỉ chấp nhận 5 giáo hội chính có đăng ký. Vì vậy, hàng ngàn tổ chức tôn giáo không đăng ký và các thành viên giáo hội của họ không thực sự có được quyền tự do tôn giáo.

 

Đa nguyên và đa văn hóa tại Indonesia

Chính phủ Indonesia thực sự ủng hộ chính sách đa nguyên và đa văn hóa. Indonesia hiện là chủ tịch của ASEAN và tổ chức này cũng nỗ lực cổ vũ cho những giá trị này.

Trong chuyến công du Indonesia của Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11/2010, chính phủ Indonesia đã bày tỏ quan điểm này cũng như việc tạo điều kiện để các tôn giáo đều có thể phát triển tại đất nước này.

Tuy nhiên, trên thực tế, chính phủ Indonesia đã có một số hành động khiến Hoa Kỳ quan ngại. Vì vậy, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục theo dõi vấn đề tự do tôn giáo ở Indonesia cũng như sẵn sàng lên tiếng để giúp cải thiện tình hình.

 

Việt Nam

Trước ý kiến cho rằng việc Mỹ không đưa Việt Nam vào danh sách 8 quốc gia vi phạm tự do tôn giáo trầm trọng nhất là một “sai lầm nghiêm trọng”, ông Posner cho biết đây không phải là một sai lầm.

Hoa Kỳ biết rằng Việt Nam hiện còn gặp nhiều vấn đề trong lĩnh vực tự do tôn giáo. Chính phủ Việt Nam vẫn rất chậm chạp trong việc cho phép các giáo hội đăng ký hoạt động, đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên.

Mặc dù tại Việt Nam vẫn xảy ra một số trường hợp ngược đãi các nhân vật liên quan đến tôn giáo như Linh mục Nguyễn Văn Lý, tuy nhiên, nếu xét về mặt tích cực thì chính phủ Việt Nam đã lần đầu tiên bắt đầu cho phép một số giáo hội được hoạt động tại nước này.

Bên cạnh đó, chính phủ Việt Nam cũng đang muốn tiếp cận với Hoa Kỳ và những quốc gia khác trong lĩnh vực này, đồng thời bắt đầu có những dấu hiệu cho thấy Việt Nam sẽ không đi theo đường lối tôn giáo của Trung Quốc.

Tuy nhiên, ông Posner khẳng định Hoa Kỳ sẽ tiếp tục nêu lên những quan ngại về tình hình tôn giáo tại Việt Nam với chính quyền Hà Nội.

 

——————————–

 

Phúc trình Thường niên về tự do Tôn giáo Quốc tế

Quỳnh Như, phóng viên RFA

2011-09-13

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/annual-report-on-int-religious-freedom-qn-09132011173458.html

 

Hôm thứ ba 13 tháng 9, Bộ Ngoại giao Hoà kỳ vừa công bố bản Phúc trình Thường niên về tự do Tôn giáo Quốc tế và công bố tên các nước nằm trong danh sách CPC (các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo).

 

Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton phát biểu trong buổi lễ nhân dịp công bố Phúc trình thường niên về Tự do Tôn giáo Quốc tế hôm 13-09-2011.  Photo courtesy of state.gov

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/annual-report-on-int-religious-freedom-qn-09132011173458.html/cpc1-305.jpg

 

Bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng

Hàng năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đều công bố bản Báo cáo về tình hình tự do tôn giáo tại các nước trên thế giới. Phúc trình này phản ánh tình trạng thực thi tín ngưỡng của người dân, đồng thời cũng cho thấy mức độ tôn trọng quyền tự do tính ngưỡng của chính phủ các nước.

 

Phát biểu trong buổi lễ nhân dịp công bố Phúc trình về Tự do Tôn giáo Quốc tế, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton nhấn mạnh:

 “Bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của người dân ở các nơi trên thế giới luôn là mối quan tâm cơ bản của Hoa Kỳ; mối quan tâm này xuất phát từ những ngày đầu tiên Hợp Chủng quốc được thành lập và nó vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay.Khi nhìn ra thế giới, chúng ta thấy ở một số nước chính phủ không tôn trọng hoặc không thừa nhận quyền tự do cơ bản nhất của con người; đó là quyền tự do tín ngưỡng của người dân. Người dân tại các quốc gia này không được tự do cử hành các nghi thức tín ngưỡng mà mình đã chọn, hoặc giáo dục con cái theo tín ngưỡng truyền thống của gia đình, và cũng không được tự do bày tỏ niềm tin về tôn giáo của mình. Ngược lại, nếu theo một tôn giáo không được chính phủ công nhận, họ còn bị đặt trước nguy cơ bị kỳ thị, bị ngược đãi bằng bạo lực, và có khi còn bị bắt bớ.”

 

Đồng thời với việc công bố Phúc trình về Tự do Tôn giáo. Hàng năm Bộ Ngoại giao cũng thông qua danh sách một số nước cần được quan tâm, theo dõi trong vấn đề tôn trọng quyền tự do tính ngưỡng của người dân nước họ, gọi tắt là CPC. Danh sách CPC mới công bố năm nay gồm 8 nước trong đó có: Trung Quốc, Miến điện, Bắc Hàn, Iran, Ả-rập Xê-út, Sudan, Eritrea, và Uzbekistan.

 

Từ đầu năm nay, ngoài 8 quốc gia được nêu trong danh sách CPC kỳ này, Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế còn đề nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa thêm vào danh sách CPC 6 nước gồm: Ai- cập, Nigeria, Iraq, Turkmenistan, Pakistan, và Việt Nam. Lý do là chính phủ của tất cả những nước này đều vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của người dân một cách nghiêm trọng. Do vậy việc đưa tên các nước này vào danh sách CPC, kết hợp với những biện pháp “trừng phạt” trong quan hệ song phương sẽ khiến họ phải thay đổi thái độ đối với người dân và cải thiện tình hình nhân quyền, trong đó có vấn đề tự do tôn giáo. Khi Bộ Ngoại giao chính thức công bố danh sách CPC, chính quyền Mỹ thường có kèm các khoản chế tài về tài chính hay quân sự đối với những nước này.

 

Tự do tôn giáo ở Việt Nam

 

Mặc dù Việt Nam không nằm trong danh sách CPC năm nay, phúc trình về tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Mỹ cũng dành 20 trang nói về tình hình tự do tôn giáo trong nước.

 

Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động, ông Michael Posner nhận định về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam như sau:

“Theo báo cáo này Việt Nam có vài cải tiến, những vẫn còn một số thụt lùi. Chính phủ cho phép xây dựng mới hàng trăm nơi thờ phượng, tín ngưỡng. Nhưng những vấn đề vi phạm nghiêm trọng vẫn còn tồn tại, nhất là ở các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là việc không thừa nhận một số tôn giáo như các nhóm Tin Lành ở các vùng cao hay Phật giáo Hoà Hảo. Báo cáo này cũng nêu rõ việc bắt bớ, đàn áp giáo dân Cồn Dầu. Ngoài ra, chính quyền cũng vừa đưa cha Nguyễn Văn Lý trở vào tù sau 16 tháng được trả tự do sau khi trải qua các cơn đột quỵ do bị giam giữ trong điều kiện nhà tù khắc nghiệt.”

 

Trước đây Việt Nam đã bị đưa vào danh sách CPC vào năm 2004, vì không đáp ứng đề nghị của Mỹ trong việc trả tự do cho một số người bị giam vì tín ngưỡng và một số yêu cầu khác. Cuối năm 2006, trước khi Tổng thống George W. Bush tới Hà Nội dự Hội nghị APEC, Hoa Kỳ đã đưa Việt Nam khỏi danh sách CPC vì cho rằng Việt Nam đã có những tiến bộ về tôn giáo. Nhưng liên tiếp từ năm 2006 cho đến nay các tổ chức nhân quyền và một số vị dân cử Hoa Kỳ yêu cầu đưa tên Việt Nam trở lại danh sách CPC, sau khi xảy ra các vụ khủng bố đàn áp tôn giáo trong nước.

 

Cũng xin được nhắc lại hồi tháng Mười năm ngoái, khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ ra phúc trình thường niên về tự do tôn giáo 2009 tại 198 quốc gia trên thế giới, trong đó ghi rằng, Việt Nam tiếp tục có tiến bộ tuy còn nhiều vấn đề. Và ngay sau đó Việt Nam phản đối, cho rằng báo cáo này “vẫn còn có những đánh giá không khách quan, dựa trên những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam.”

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

—————————-

 

Hoa Kỳ vẫn không đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC

Trọng Nghĩa

Thứ tư 14 Tháng Chín 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110914-hoa-ky-van-khong-dua-viet-nam-tro-lai-danh-sach-cpc

 

Hoa Kỳ tiếp tục duy trì 8 nước trong bản danh sách đen của các quốc gia vi phạm quyền tự do tôn giáo một cách nghiêm trọng nhất. Tuy nhiên, trái với khuyến cáo của nhiều tổ chức và chính khách, Bộ Ngoại giao Mỹ vẫn không đưa Việt Nam trở lại danh sách này.

 

Như thông lệ, hôm qua, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố bản báo cáo thường kỳ về tự do tôn giáo trên thế giới, dựa trên các cứ liệu của sáu tháng cuối năm 2010. Kèm theo bản phúc trình này là phần đánh giá các nước theo mức độ tôn trọng quyền tự do tôn giáo, và đặc biệt là « danh sách đen » của các quốc gia bị liệt vào diện ‘’Countries of Particular Concern’’, gọi tắt là CPC, tức là các nước đáng quan ngại nhất trong lĩnh vực tự do tôn giáo.

 

Đối với bộ Ngoại giao Mỹ, các quốc gia bị liệt vào danh sách CPC là những Nhà nước đã tiến hành hay dung túng “các vi phạm nghiêm trọng về tự do tôn giáo” trong đó có các hành vi ngược đãi, sách nhiễu, bạo hành, kỳ thị và giam cầm các cá nhân vì lý do tôn giáo, cũng như cấm đoán những tôn giáo không được Nhà nước chấp thuận.

Trong danh sách lần này vẫn có 8 nước : Trung Quốc, Miến Điện, Bắc Triều Tiên, Eritrea, Sudan, Ả Rập Xê Út và Uzbekistan, không thay đổi so với danh sách có từ năm 2009 đến nay. Khi bị đưa vào danh sách CPC, một nước hoàn toàn có thể bị Hoa Kỳ áp dụng một số biện pháp trừng phạt, điều đã xẩy ra đối với 6 nước, ngoại trừ Ả Rập Xê Út và Uzbekistan.

 

Bên cạnh danh sách đen kể trên, còn có 10 quốc gia khác bị xếp vào diện còn thiếu sót trong việc bảo vệ quyền tự do tôn giáo. Việt Nam nằm trong số các nước này, bên cạnh Afghanistan, Ai Cập, Irak, Nigeria, Pakistan, Nga, Tajikistan, Turkmenistan, Venezuela.

 

Sự kiện Việt Nam chỉ nằm trong danh sách thứ hai đã gây ra phản ứng bất bình từ các tổ chức hay chính khách Mỹ đã từng yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.

 

Xin nhắc lại là Việt Nam từng bị đưa vào danh sách này vào năm 2004. Nhưng đến năm 2006, trước lúc tổng thống Mỹ George W. Bush đến Hà Nội dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC, Hoa Kỳ đã xóa tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC.

Tuy nhiên ngay sau đó, liên tiếp từ năm 2006 đến nay rất nhiều người đã đòi đưa tên Việt Nam trở lại danh sách CPC, vì cho rằng chính quyền Hà Nội vẫn tiếp tục đàn áp tôn giáo, với các vụ việc nổi cộm như vụ giáo xứ Cồn Dầu ở Đà Nẵng, hay vụ Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng…

Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ USCIRF, cơ chế tham vấn cho chính quyền Mỹ trong lãnh vực tôn giáo, cũng đã thường xuyên đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC. Phát biểu vào hôm qua, ông Leonard Leo, chủ tịch Ủy ban này, đã tỏ ý lấy làm tiếc là danh sách CPC không có thêm nước mới. Còn dân biểu Ed Royce thì tố cáo bộ Ngoại giao Mỹ là đã phạm « sai lầm nghiêm trọng » khi để Việt Nam bên ngoài danh sách CPC.

 

Dẫu sao thì dù cho không liệt Việt Nam vào danh sách đen, chính quyền Mỹ cũng phê phán những yếu kém của Hà Nội trong lãnh vực tôn trọng quyền tự do tôn giáo. Phần nói về Việt Nam trong bản báo cáo công bố hôm qua dài 20 trang, ghi nhận tình hình đã được ông Michael Posner, trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền, và Lao động tóm tắt như sau :

“Việt Nam đã có một vài cải thiện, những vẫn còn một số bước lùi. Chính phủ cho phép xây dựng thêm hàng trăm nơi thờ phượng, nhưng vẫn còn tồn tại những vi phạm nghiêm trọng, nhất là ở các cấp chính quyền địa phương

 

————————-

 

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố phúc trình về Tự do Tôn giáo

VOA

Thứ Ba, 13 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/news/us-religious-freedom-corrected-9-13-11-129759478.html

 

.

.

.

TIN & BÀI của NGÀY 13-9-2011

Tháng Chín 14, 2011

TIN & BÀI của NGÀY 13-9-2011

.

UKRAINA – KHI STALIN BIẾN CON NGƯỜI THÀNH KẺ ĂN THỊT ĐỒNG LOẠI (Fanny Facsar)

ĐI XA NHÌN VỀ (Phạm Đình Trọng) [Kỳ 1]

CHỐNG TRUNG QUỐC TUYÊN TRUYỀN BẢN ĐỒ LƯỠI BÒ TRÊN CÁC TẠP CHÍ QUỐC TẾ

KHỐI 8406 : TUYÊN BỐ VỀ CÔNG HÀM BÁN NƯỚC 1958 (Khối 8406)

ẢO QUAN (Nguyễn Gia Thưởng)

LS HUỲNH VĂN ĐÔNG BỊ CẤM XUẤT CẢNH (RFA)

TÙ NHÂN BẤT KHUẤT TRƯƠNG VĂN SƯƠNG QUA ĐỜI (Người Việt)

NHIỀU CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC & CÔNG HÀM PHẢN QUỐC 1958 (Người Việt)

TRUNG QUỐC : SỰ THAY ĐỔI LỚN ĐANG ĐẾN GẦN (Lê Ngọc Thống)

BỨC ẢNH ĐỒNG PHỤC & BÀI DIỄN VĂN (Le Nguyen, danlambao)

NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY TRẢ LỜI PHỎNG VẤN TẠI ATLANTA (Song An Châu)

BIỂN ĐÔNG LÀ TƯƠNG LAI CỦA XUNG ĐỘT (Robert D. Kaplan, Foreign Policy)

PHỎNG VẤN GIÁM ĐỐC HRW về NẠN CƯỞNG BỨC LAO ĐỘNG TRONG CÁC TRẠI CAI NGHIỆN VIỆT NAM (VOA)

THIÊN THẦN TRONG BÓNGTỐI (Hoàng Thanh Trúc )

GIAN KHỔ LÝ SƠN (Mẹ Nấm)

QUAN HỆ QUỐC PHÒNG ẤN ĐỘ – VIỆT NAM BỊ TRUNG QUỐC THÁCH THỨC (Trọng nghĩa, RFI)

Ý NGHĨA LỊCH SỬ của THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM (Hồ Bạch Thảo)

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4) – Tác giả: Philippe Papin và Laurent Passicousset

BÌNH LUẬN BÀI “ĐỪNG NUỐI TIẾC NHỮNG GÌ MÀ LOÀI NGƯỜI ĐÃ BỎ ĐI” (LBS)

BÀN VỀ HIẾN PHÁP CHXHCN VIỆT NAM (Phạm Văn Bản)

NÓI GÌ VỀ TRƯỜNG SA CHIỀU NAY ? (Nguyễn Đình Đông)

TÀU CÁ TRUNG QUỐC TRÀN NGẬP TRƯỜNG SA (Thanh Niên online)

HÀ TĨNH : TRƯỜNG “LOẠN THU”, “BÓP NẶN” DÂN NGHÈO Kê Sơn, báo Tầm Nhìn)

QUẢNG BÌNH : HỌC SINH PHẢI BƠI QUA SÔNG ĐỂ ĐẾN TRƯỜNG (báo Dân Trí)

ĐIỀU GÌ CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM, HÔM NAY ? (Hành Khất)

TIN & BÀI của NGÀY 12-9-2011

 

.

.

.

UKRAINA – KHI STALIN BIẾN CON NGƯỜI THÀNH KẺ ĂN THỊT ĐỒNG LOẠI (Fanny Facsar)

Tháng Chín 14, 2011

 

Ukraina-Khi Stalin Biến Con Người Thành Kẻ Ăn Thịt Đồng Loại

Phương Tôn biên dịch

Theo Ukraine – Als Stalin die Menschen zu Kannibalen machte – Fanny Facsar

12 tháng 09 năm 2011

http://www.khoahoc.net/baivo/phuongton/120911-chetdoitaiukraina.htm

 

Sau khi vượt trên ngàn cây số, xuyên qua đất nước Hungary với những „tấm thảm lúa vàng“ chín mọng chạy dài đến tận chân trời hút mắt, đặt chân lên xứ Romania để rồi cuối cùng, chúng tôi cũng đạt đích cuối là một ngôi làng nhỏ xa xôi „tận cùng thế giới“ nằm trong khu vực ngã ba biên giới Hungary, Romania và Ukraina. Nhằm đúng vào những đêm trăng tròn nóng bức, sau một ngày lao động, đám đàn ông thường tụ dưới những giàn nho sai trái ,bên lò thịt nướng „Mici“ quốc hồn quốc túy và dĩ nhiên không thiếu những chai bia „Noroc“ 2,5lit chứa trong chai nhựa trông không „bắt mắt“ chút nào của Romania, trò chuyệm râm ran cho đến khi trời mát dịu mới chịu đi tìm một góc nào đó trong vườn để dỗ giấc ngủ.

 

Vào một tối khuya, khi những „thảm lúa“ vàng óng của Hungary và Romania vô tình được nhắc đến cùng người chủ nhà lớn tuổi. Ông ta chắc lưỡi cho biết, ruộng đất của Romania nhưng bắp lúa lại là của nông dân người Ý, người Pháp, người Đức sang khai thác: „Người dân hậu Cộng Sãn chúng tôi lấy tiền đâu ra mà đầu tư trồng trọt, làm ăn lớn như vậy!“. Ông tiếp lời: „ Nhưng như vậy cũng còn chưa ăn nhằm gì so với khi xưa. Cái xứ Ukraina đất đai màu mỡ bên cạnh đây lại xảy ra trận đói giết vô số người“. Ngụm Bia „Noroc“ bổng nghẹn ngang họng, trở nên khó nuốt khi một vài chi tiết về trận chết đói được ông chủ nhà kể lại. Cơn ớn lạnh chạy dọc theo xương sống,  „da gà“ nỗi lên không hiểu do cái mát lạnh đêm khuya hay do nỗi sợ hãi xâm chiếm?

 

Những gì ông chủ nhà kể lại cũng chỉ là „lời nghe kể lại“. Dù gây cảm xúc mạnh nhưng chưa đủ sức thuyết phục. Trở lại nhà, lùng sục trong Internet tìm kiếm về „trận đói Ukraina“. Một bài viết của cô Fanny Facsar chứng thực lời kể của ông chủ nhà. Bài viết phân tích về nguyên nhân và hậu quả „trận đói Ukraina“ thật rõ ràng với những chứng cớ khó tranh cãi cho thấy thêm tội ác của Stalin. Đây không phải là tội ác đầu tiên và cũng không phải là tội ác cuối cùng của Stalin tuy nhiên „trận đói Ukraina“ lại gợi nhớ đến „trận đói năm Ất Dậu“ của Việt Nam. Cũng là thảm nạn chết đói nhưng một bên do quân xâm lăng Phát Xít Nhật gây ra và một bên do đám người tự mệnh danh là quân giải phóng, vì một Thế Giới Đại Đồng.

 

Bài viết của Fanny Facsar còn gây liên tưởng đến nhà thơ Tố Hữu và những gì xảy ra trong thời gian „Cải Cách Ruộng Đất“ tại miền Bắc Việt Nam:

Vào tháng ba 1953 khi nghe tin Stalin, Đại nguyên soái Liên Bang Sô Viết qua đời, nhà thơ Tố Hữu làm bài thơ “Stalin! Stalin!” để đời… nguyền rủa. Từ đó đến nay đã có nhiều bình phẩm về giá trị sáng tạo văn chương và tư cách của nhà thơ bồi bút này. Ngày nay, cô nhà báo Fanny Facsar đưa thêm tài liệu về bộ mặt thật của Stalin. Đọc bài „Khi Stalin biến con người thành kẻ ăn thịt đồng loại“, ta có thêm cái nhìn về Tố Hữu. Tư tưởng và trí sáng tạo lố bịch của ông ta chỉ có thể được nhào nặn ra trong cuộc đấu tranh giai cấp mù quáng đi theo chỉ đạo của Stalin. Thử hỏi, còn lố bịch, tàn nhẫn nào hơn khi Tố Hữu đứng trên hàng triệu xác người dân Ukraina chết đói vì bị tước quyền tư hữu ruộng đất, để khóc và ca tụng tên „kiến trúc sư“ gây nên thảm họa đói, một tội đồ nhân loại, đã đem lại cơm no áo ấm cho người dân Việt Nam?

 

Bữa trước Ngày xưa khô héo quạnh hiu

Có người mới có ít nhiều vui tươi

Ngày xưa đói rách tơi bời

Có người mới có được nồi cơm no

Ngày xưa cùm kẹp dày vò

Có Người mới có tự do tháng ngày

Ngày mai dân có ruộng cày…

 

* * *

 

Đầu tiên họ ăn lá cây rồi đến chó đến mèo. Một vài người thậm chí còn ăn cả thịt người. Cách đây 70 năm, Stalin hành hạ người dân Ukrain qua một trận đói khủng khiếp. Hàng triệu người tử nạn nhưng hàng thập niên qua cho đến nay, “Holodomor” là một đề tài nhạy cảm cấm kỵ không được nêu ra.

 

Khi nghe đến chữ “Holodomor”, Natalia Mikitiwna Nidzelska bà cụ 86 tuổi tuôn tràn nước mắt. Người đàn bà mảnh mai, yếu đuối cư ngụ trong ngôi làng nhỏ Pilipi nằm về phía tây Ukraina đấm vào ngực, gào lên trong nỗi đau tận cùng: “Đau đớn quá, người ta phải chết thật dã man!” Holodomor – chữ tiếng Ukraina có nghĩa là nạn đói, nghe gần giống như „Holocaust”.

 

Người ta ăn lá ăn chồi cây, ăn chó ăn mèo, ăn khoai tây thối, dành nhau xác chết thú vật – Cuối cùng khi không còn gì để ăn, người ta ăn cả xác người, giết người để ăn. Những người sống sót qua thảm họa đói tại Ukraina trong khoảng thời gian 1932 đến 1933 vẫn còn nhớ rõ từng chi tiết “rợn người”. Tuy nhiên mãi cho đến bây giờ họ vẫn không nói ra một cách công khai.

 

Natalia Mikitiwna Nidzelska trải qua trận Holodomor. Vào năm 1991 bà xin di dân sang Hungary. Tại đây bà có thể tự do kể về trận đói này. Bà cho biết:” Tại quê hương Ukraina của bà, cho mãi đến ngày gần đây không ai dám nhắc đến chuyện này vì sợ những đứa Cộng Sản”. Nidzelska không thể quên được cảnh người ta chịu đày ải vào thời đó để có được mảnh bánh mì, cảnh tượng hàng ngày người ta phải chiến đấu để sống sót, cảnh những người hàng xóm trở thành những kẻ ăn thịt đồng loại.

 

Cảnh tượng kinh hoàng vẫn còn mãi trong trí nhớ các nạn nhân, Miklos Kun, nhà sử học người Hungary biết điều đó: “Trí nhớ tổng quan không thể bị xóa được. Đây là vụ giết hàng triệu người có tổ chức, có hệ thống trong lúc Stalin đang đi nghỉ dưỡng tại vùng Biển Đen”, Kun cho biết. Trong hơn hai thập niên qua, ông đã nghiên cứu tất cả hồ sơ lưu trữ trên khắp thế giới để tìm kiếm nguyên nhân và hậu quả của thảm họa để phá vỡ luận điệu thô bỉ của những tên Cộng Sản Nga và Ukraina cho rằng, Holodomor chẳng qua chỉ là hậu quả của thiên tai mà thôi.

 

Chết hàng loạt sau hàng loạt vụ tước quyền tư hữu đất ruộng

Tài liệu từ những kho chứa tài liệu tại Ukraina xác nhận những gì mà các nhà sử học cũng như những người sống sót đã từng thố lộ. Thảm nạn đói là do chính quyền Stalin từ Moskau chủ đạo tổ chức, được thi hành qua đám dân nghèo Ukraina (tạm gọi là đám thừa hành, LND) bị mua chuộc. Mục đích là để đánh gục sức đề kháng của nông dân Ukraina chống lại việc cưỡng bức tập thể hóa và bị đe dọa tước quyền tư hữu ruộng đất.

 

Nga chính thức phủ nhận nạn đói đã từng xảy ra và tảng lờ khi nhắc đến vai trò của Stalin. Chỉ lấp liếm cho rằng, chẳng qua chỉ là vụ mùa thu hoạch kém. Nhưng theo sử gia Kun: “Đó là luận điệu trơ trẽn. Ai cũng biết Ukraina được xem là mảnh đất nông nghiệp màu mỡ, từng nuôi ăn phần lớn Liên Bang Sô Viết.”

 

Ngày nay tại Ukraina sự thật về trận đói năm nào không còn là đề tài tối cấm kỵ. Vào cuối năm 2006 Tổng Thống Viktor Juschtschenko đệ trình một dự luật ra trước quốc hội, cho phép  trừng phạt những ai phủ nhận, nhạo báng trận đói. Mức án vẫn chưa được đề ra nhưng bộ luật là một bước tiến ngàn dặm trong sinh hoạt chính trị tại Ukraina. Người chết hàng loạt do bị tước quyền sở hữu ruộng đất cách đây 75 năm nay được quốc hội chính thức công nhận là Tội Ác Diệt Chủng chống lại người dân Ukraina.

 

Những năm khổ đau bắt đầu tại một vài khu vực ngay từ cuối năm 1930. Một vài thông tin còn cho thấy trận đói bắt đầu từ năm 1929. Vào giai đoạn đó, những tên Cộng Sản tại Moskau quyết định tập thể hóa tại Ukraina. Kế hoạch dự trù hoàn tất trong vòng hai năm nhằm đưa Sô Viết tiến nhanh hơn trong chương trình kỹ nghệ hóa. Đây lại là cái giá mà người nông dân bị cướp ruộng đất phải trả.

 

Juri Krawtschenko, 44 tuổi có Ông Nội là người sống sót sau trận đói tại Petriwka thuộc miền Nam Ukraina, kể lại những gì đã xảy ra: “Đầu tiên là Kulaken (những người nông dân giàu có), sau đến những người nghèo khó trong làng. Những ai không tự nguyện gia nhập vào Kolchosen ( một hình thức Hợp tác xã nhà nước theo lối Sô Viết), bị xem kẻ thù của đất nước. Họ không có công ăn việc làm cũng như bị cưỡng bức tước quyền tư hữu ruộng đất. Bảy anh chị em ông Nội của Krawtschenko chết trong trận Holodomor. “Những ai tự nguyện gia nhập vào Kolchosen thì được trả cho ít tiền, về sau thì chỉ được một nhúm thức ăn.”

Làng Petriwka ngày nay đã bị xóa tên. 90% tổng số 300 dân làng chết đói một cách đau đớn.

 

Trẻ con săn tìm nòng nọc và chim sẻ

Thời gian trước những năm thảm nạn, gia đình của Natalia Nidzelskas thuộc vào hàng trung lưu .”Chúng tôi ăn ngày ba bữa. Cha tôi là người thợ rèn duy nhất tại Pilipi nên ông có đủ việc làm”, Nidzelska hồi tưởng lại. “Năm 1931 những tên thừa hành đầu tiên vây chặt các làng mạc. Mọi người phải tự hiến đất ruộng rồi gia nhập vào Kolchosen. Sau đó thì họ tịch thu bò và thực phẩm dự trữ cho đến khi chúng tôi không còn gì trong tay. Cha tôi lại phải giao nộp toàn bộ dụng cụ hành nghề.” Đặc biệt những làng xóm như làng Pipili với 1500 dân cư nằm về phía Tây và Nam Ukraina chống đối mạnh việc cưỡng bức tập thể hóa, bị nạn đói hoành hành nặng nhất. Ngay cả dầu đốt và những que diêm cũng bị tịch thu.

 

Bốn anh chị em Nidelszka và cha mẹ sống sót được là nhờ vào họ còn có đủ sức để làm việc. “Anh em trai của tôi tìm cách bắn chim sẻ, bắt nòng nọc để ăn. Tôi và đứa em gái chẳng săn bắt gì được. Đói quá làm đôi chân của chúng tôi nặng cứng như cùm. Mẹ phải lén lút thêm cho chúng tôi nhiều hơn một ít cháo bột so với anh em trai của tôi. Thế rồi chúng tôi bị buộc ra đồng để làm việc.” Nidzelska kể lại. Trên đường về nhà, cô bé 12 tuổi vào thời đó phải gặm nhắm mẩu bánh mì lớn bằng hộp diêm, đây chính là lương ngày của cô bé. Vì nếu không, một khi những người hàng xóm đang đói thấy được họ sẽ nhào đến cướp hết. “Mẹ tôi phải nấu bột từ vỏ khoai, nấu nước vào đêm khuya để hàng xóm không thấy khói bốc lên”, bà kể với giọng còn run rẩy.

 

Tình trạng càng trở nên tồi tệ không lối thoát, đặc biệt với những gia đình đông người. Sang năm 1933 lại càng tệ hại hơn nữa. Tài liệu vào thời gian này chứng minh rõ, Stalin và Wjatscheslaw Michailowitsch Molotow, sau này trở thành bộ trưởng ngoại giao ban lệnh cấm nông dân chạy trốn vào tỉnh thành.

 

Nhiều gia đình tìm cách đưa con nhỏ vào Kiew và Charkow, thuở đó còn là thủ đô của Ukraina với hy vọng có ai đó sẽ cho chúng một ít thức ăn. Tuy nhiên bọn thừa hành lại tống chúng trở lui, liệng chúng ra ngoài đồng ruộng để rồi chúng phải quằn quại chết đói.

 

Buôn bán áo quần cũ hoặc những vật dụng quý giá thu giấu được cũng bị cấm. Tuy nhiên Mẹ của Nidzelska và nhiều người khác cũng liều lĩnh ẩn trốn trên nóc tàu lửa để đem vật dụng vào thành phố lân cận xin đổi lấy một miếng bánh mì. Cha của Nidzelska coi sóc máy gặt, lén lút lấy từng hạt lúa nằm trong góc kẹt của máy dù ông cũng biết đấy chính là án tử hình.

 

Các bà mẹ ăn thịt con cái của họ

Chết đói hàng loạt cũng xảy ra trong khu định cư người Ukraina tại Sibiria. Krawtschenko nhớ lại những câu chuyện do bà Cố của anh kể lại: „Trong các làng mạc, người ta dùng xe đẩy chở xác người chết để vất vào những hố chôn tập thể”. Dưới thời Stalin, người Ukraina bị xem là kẻ thù của Sô Viết. Họ được xem là loại “hàng lãng phí” của Sô Viết.

 

Tài liệu cho thấy, con số người chết phỏng chừng lên đến bảy triệu, trong đó ba triệu là trẻ em.

Cuối cùng cái đói cũng phá nát cái đạo đức cuối cùng của con người. Một vài bà mẹ đã ăn xác con cái bị chết hoặc giết chúng để ăn thịt. Nidzelska nhớ lại một trường hợp ăn thịt người xảy ra trong làng: „Tôi hết sức sợ khi nghe chuyện bà hàng xóm giết hai đứa con để ăn thịt trong lúc chồng bà đi làm thợ xẻ gỗ tại Sibiria. Cái đói đã mạnh hơn bản năng làm Mẹ của bà ấy. Tuy nhiên rồi bà cũng không sống sót được.“

 

Hàng thập niên qua chuyện kinh dị này được giữ kín . Một „Holocaus đói“ như những người sống sót đặt tên, là chuyện tuyệt đối cấm kỵ không được nói ra. „Người ta đã câm miệng quá lâu“, sử gia Kun tuyên bố, „Trong khi việc truy đuổi người Do Thái dưới thời Đức Quốc Xã được thế giới biết đến thì vẫn còn rất ít người biết về Holodomo này.“ Juri Krawtschenko hy vọng, việc chính thức xác nhận Tội Ác Diệt Chủng chống lại người dân Ukraina dẫn đến việc Nga sẽ cho mở kho hồ sơ nạn đói Ukraina, qua đó „toàn bộ sự thật sẽ được phơi bày ra ánh sáng.“

 

Phương Tôn biên dịch

Theo Ukraine – Als Stalin die Menschen zu Kannibalen machte – Fanny Facsar

 

.

.

.

CHỐNG TRUNG QUỐC TUYÊN TRUYỀN BẢN ĐỒ LƯỠI BÒ TRÊN CÁC TẠP CHÍ QUỐC TẾ

Tháng Chín 13, 2011

 

Chống Trung Quốc tuyên truyền  bản đồ lưỡi bò trên các tạp chí quốc tế

Nguyễn Hùng, Ngô Khoa Bá, Lê Quang Long
Gửi vào ngày Chủ Nhật, 11 Tháng 9, 2011.

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=10008

 

Ngày 10 tháng 09 năm 2011-09-08

Kính thưa anh chị:
Sau bức thư gởi cho tạp chí Science, ngày 20/09/2011 (http://boxitvn.blogspot.com/2011/08/thu-phan-oi-uong-luoi-bo-tren-tap-chi.html#more) , phản đối một bài viết xuất xứ từ Trung Quốc trong đó có một bàn đồ lưỡi bò, chúng tôi nhân thấy rằng chúng ta không thể thụ động chờ khi nào phát hiện một bài viết rồi mới bày tỏ thái độ mà cần nên chủ động tiếp tục tranh thủ sự quan tâm và hiểu biết của nhiều cơ quan truyền thông, nghiên cứu khoa học và phi khoa học khắp nơi đối với vấn đề biển Đông bằng cách gởi thư đến cho họ nhằm cảnh giác hành động mờ ám của Trung Quốc. Vì thiếu thông tin nên các tổ chức này không để ý đến việc làm gian xảo của một số người Trung quốc, vô tình đăng tải trong các tạp chí của họ những bài viết có kèm bản đồ sai trái của Trung Quốc, lấn chiếm toàn bộ khu vực biển Đông.

Đây là việc làm lâu dài, cần nhiều thời giờ và công sức. Nhưng chúng tôi thiết nghĩ đây là việc cần thiết nên làm song song với việc làm của nhiều tổ chức trong ngoài nước liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông . Để cho bản đồ sai trái của Trung Quốc không được xuất hiện trong các bài viết xuất xứ từ Trung Quốc , chúng ta cần phải tạo điều kiện để nhiều tổ chức, cá nhân người nước ngoài hiểu rỏ sự sai trái của những bản đồ lưỡi bò phi lý này.

Ngày 05/09/2011, chúng tôi đã chính thức gởi thư trong đó giải thích và cảnh giác về bản đổ lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc đến các cơ quan truyền thông, các tổ chức nghiên cứu tại một số nước trên thế giới. Trong những ngày vừa qua chúng tôi đã gởi cho gần 50 cơ quan, tạp chí và 50 khoa học gia đang làm công tác biên tập cho một số tạp chí khoa học. Chi tiềt bức thư (tiếng anh và bản phỏng dịch tiếng Việt) được đính kèm theo đây.

Chúng tôi kêu gọi anh chị trí thức đang làm công tác trong nhiều ngành chuyên môn trong ngoài nước cùng tham gia góp sức cho việc làm quan trọng và ích lợi này, bắng cách;
1. Truy tìm và cung cấp cho chúng tôi địa chỉ những trung tâm truyền thông, báo chí, tạp chí khoa học kỹ thuật, tổ chức/cá nhân có thể gởi thư này. Email liên lạc của chúng tôi:
Savevietnam09@gmail.com hay hungthuoc@yahoo.com

2. Trực tiếp gởi thư, có thể dùng lá thư chúng tôi soạn sẵn và thay đổi để mục người/tổ chức.
Xin chân thành cám ơn quí anh chị.
Trân trọng

Thay mặt 57 anh chị ký tên
Nguyễn Hùng, Ngô Khoa Bá, Lê Quang Long

———————————————————————————————

Đính kèm:

Bức thư tiếng Anh:

September 2011
The Editor
RE: China’s map incorrectly claiming most of Southeast Asia Sea as her territorial waters

Dear Sir:
We are a group of Vietnamese academics and professionals living in Vietnam and various parts of the world. We wish to alert your publication to the cartographic legerdemain that academics and professionals from China have been using in the articles that they submit to publications with a worldwide audience, such as Science, Nature, Climatic Change, Agricultural Water Management, Waste Management, to name just a few.

The legerdemain involves the inclusion of the disputed waters and islands to the east of Vietnam in tandem with the deletion of neighbouring countries such as Vietnam, Malaysia, Brunei, Indonesia, the Philippines in the map of China that appears in their articles. (Please see the attached maps to see how the sleight of hand is performed). It is part of a concerted effort by China to “authenticate” her territorial claims.

In the past few years, China has arbitrarily and unilaterally claimed virtually the whole Southeast Asia Sea as her “historical waters”. This area of about 350,000km2, also referred to as the East Sea by Vietnam, encircles the archipelagos of Paracels and Spratlys. It has been a subject of territorial dispute among Vietnam, the Philippines, Malaysia, Brunei, Taiwan, and China (which wrested control of the Paracels and some western islands of the Spratly Archipelago from Vietnam after bloody naval battles in 1974 and 1988).

China’s territorial claims to the hand-drawn U-shaped 9-dotted line zone in the doctored map that these Chinese academics and professionals have inserted in their articles have neither scientific facts nor geographical information to certify its authenticity. They also defy the internationally recognized legal basis as set out in UNCLOS (United Nations on the Convention of the Law of the Sea)”.

Inserting a doctored map of China that covers virtually the whole South East Asia Sea in articles originating from Chinese institutions and destined for scientific and non-scientific journals worldwide is part of the Chinese government’s ploy. China is hoping that over time frequent appearances of such a map in well-known publications and the absence of challenges from editors and readers will help establish de facto recognition of her claims over the disputed lands and waters.

In the interest of truth and integrity, we respectfully ask you to be on the alert and not lend the imprimatur of your prestigious publication to this sinister ploy.

Yours sincerely,
On behalf of signatories

Email:

 

 

Doctored map of China: Countries of South East Asia excluded;
Southeast Asia Sea included in a 9-doted zone, aka the “cow tongue”

http://i369.photobucket.com/albums/oo135/tntddc/vntq/f83c6748.jpg

 

True regional map of South East Asia showing the “cow tongue ” proximity to Southeast Asian countries

http://i369.photobucket.com/albums/oo135/tntddc/vntq/097d9d5f.jpg

LIST OF SIGNATORIES:

Hoang Tuy, Ph.D, Prof, Institute of Mathematics, Hanoi Vietnam
Vu Gian, Economist, former Consultant of Swiss State Secretariat of Economy, Switzerland
PhamXuan Yem, Ph.D., Prof, University of Paris 6, France
Nguyen Dang Hung, Ph.D., Prof , Liège, Belgium
Hoang Anh Tuan Kiet, Ph.D., Commissariat Energy Atomique -Cadarache, France
Trinh Khanh Tuoc, Ph.D., New Zealand
Tran Ngoc Bich, Ph.D. (Economics), CFP, E.A., USA
Nguyen Thuong Son. Ph.D., Australia
Ngo The Hoanh, M.Eng.Sc., P.Eng., Canada
Tran Mai, Ph.D., Australia

Tara T. VanToai, Ph.D., USA
Norman N. VanToai, Ph.D., USA
Le Quang Long, B.E. Mech, New Zealand
Tran Minh Phuong, M. Tech, Australia
Do Gia Tuyen, B.E. Elect, Saudi Arabia
Tran Ba Tuoc, M. Com., Vietnam
Bui Viet Long, B.E. Mech, Vietnam
Nguyen Van Xa, M.E. Civil, USA
Nguyen Van Tu, M.Com. (Econ.), New Zealand
Nguyen Quoc Lap, Ph.D.,USA

Huynh Huu Han, B.S. Tech (Food), USA
Duong Van Tuyet, M.Com. (Econ.), USA
Bien Cong Danh, M.E. Elect, New Zealand
Ngo Minh Triet, P.E. Civil, USA
Nguyen Huu Kho, Ph.D.(Chem Eng), P.E., USA
Truong Nham, Ph.D, Australia
Truong Kim Ngoc, B.E. Chem, USA
Le Ba Hong, M.Sc, Australia
Ngo Tung Huynh, B, Agr.Sc, Australia
Vu The Hung, B.S. Comp., USA

Nguyen Danh Ngon, P.E. Civil, USA
Nguyen Thi Mai Chi, B.Com., USA
Nguyen Bich Lien, B.A. Edu., USA
Dinh Mui, B.A. Edu., Australia
Bui Sy Tuan. Ph.D, MBA, MSCIS, USA
Tran Quang Duong, B Technology (Food), M.A., New Zealand
Bui Thi Bich Chau, M.A., USA
NguyenThien Nga, B.S. Comp., New Zealand
Do Thi Nhung, B.A. Edu., USA

Nguyen The Hung, Prof, Uni of Danang, Vietnam
Nguyen-Do Khanh, Ph.D., Australia
Vuong Ngoc Diep, M.Com.,Economics, USA
Vuong Thanh Truc, B.A.Edu, USA
Pham Phan Long, P.E, Chairman Viet Ecology Foundation, USA
Vu Quyet, M.A.Edu., USA
Marie Dung Burns, M.A. Edu., New Zealand
Le Thu Lieu, B.E. Chem, New Zealand
Ngoc Bich Becker, MTA. CANDMED, Germany
Nguyen Van Hao, M.E. Civil, Australia

Le Thi Tinh Tien, M.Com, Economics, Australia
Nguyen Thi Mong Trinh, B.A, New Zealand
Dang Ngoc Hung Thomas, M.B.A, CPEng, Australia
Nguyen Huu The, M.E. Mech., USA
Le Cong Hoai vong, M.Sc. Environment service, USA
Ngo Khoa Ba, M.B.A., USA
Nguyen Hung, B.E. Chem, Australia

———————————————————–
Bản dịch tiếng Việt của bức thư:

tháng 9 năm 2011

Trưởng Ban Biên Tập

Đề mục: Về bản đồ sai trái của Trung quốc, giành toàn bộ Biển Đông Nam Á là vùng lãnh hài của nước này.

Kính thưa Ông Trưởng Ban Biên Tập,

Chúng tôi là một số giáo chức và chuyên viên kỹ thuật đang sống tại nhiều nơi trên thế giới. Chúng tôi xin cảnh giác với nhà xuất bản về sự thiên vị thể hiện rỏ trong hình vẽ bản đồ nước Trung Quốc trong bài viết của những nhà khoa bản và chuyên viên Trung Quốc gởi đăng trên các tạp chí uy tín, như Science, Nature, Climate Change, Agricultural Water Management, Waste Management, đây chỉ nêu ra một vài thí dụ.

Trò ảo thuật liên quan đến việc bao gồm những vùng biển và đảo đang tranh chấp phía đông của Việt Nam song song với việc loại bỏ những quốc gia láng giềng của Trung Quốc như Viẹt Nam, Malaysia, Brunei, Nam Dương, Phi Luật Tân trong bản đồ vẽ tay nước Trung Quốc xuất hiện trong những bài viết của họ. (Xin tham khảo những bản đồ dưới đây để thấy sự quỹ quyệt của việc làm này). Đây là một phần của nhiều hành động đầy tính toán của Trung Quốc để hợp thức hóa những tranh giành lãnh thổ của họ.

Trong vài năm qua, Trung Quốc đã đơn phương giành chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông Nam Á, tự xưng là “vùng biển lịch sử” của Trung Quốc. Vùng biển này, diện tích khoảng 350,000km2, bao trùm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa, vẫn còn đang trong vòng tranh chấp chủ quyền giữa Viet Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Brunie, Đài Loan, và gần đây là Trung Quốc ( nước đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và một số đảo phía tây Trường Sa của Việt Nam sau hai trận hải chiến đẩm máu năm 1974 và 1988).

Chèn vào một bản đồ Trung Quốc vẽ tay ngụy tạo bao gồm toàn bộ Biển Đông trong những bài nghiên cứu có xuất xứ từ Trung Quốc nhắm vào các tạp chí khoa học và phi khoa học có tiếng trên thế giới là một trong những âm mưu thâm độc của nhà nước Trung Quốc. Chánh quyền Trung Quốc hy vọng với sự thường xuyên xuất hiện bản đồ Trung Quốc gồm đường biên giới lưỡi bò sai trái này trên các tạp chí nổi tiếng và có nhiều tín nhiệm trên thế giới và không bị phê phán, phản đối từ các ban biên tập và đọc giả thì họ dùng đó làm bằng chứng không chính danh cho chủ quyền trên toàn vùng Biển Đông.

Trong tinh thần tôn trọng sự thật và sự trung thực, chúng tôi xin đề nghị ông cảnh giác về sự việc này và không để cho những tập san của ông bị Trung Quốc dùng làm công cụ cho âm mưu nham hiểm của họ.

Trân trọng
Thay mặt những nguời ký tên

Email:
————————————————————————————

Danh sách địa chỉ gởi thư từ ngày 5/09/2011 đến ngày 10/09/2011

LIST OF EMAIL ADDRESSES
1 Newsweek letters@newsweek.com 5/09/2011
2 Time letters@time.com 5/09/2011
3 The New York Times letters@nytimes.com 5/09/2011
4 Le Monde rights@agenceglobal.com 5/09/2011
5 Nature p.campbell@nature.com Philip Campbell 5/09/2011
http://www.nature.com/nature/about/editors/index.html Editor-in -chief
6 The Journal of American Science editor@americanscience.org 5/09/2011
Editor-at Large
7 Financial Times ean@ft.com Newsdesk 5/09/2011
eas@ft.com Special Reports
8 The Wall Street Journal wsj.ltrs@wsj.com The Editor 5/09/2011
edit.features@wsj.com
9 National Geographic Society pressroom@ngs.org Mr Chris Johns Editor in Chief 5/09/2011
10 Google eschmidt@google.com
11 The Economist 5/09/2011
12 The Washington Post foreign@washpost.com 6/09/2011
13 Los Ageles Times jim.newton@latimes.com Jim Newton 6/09/2011
14 Marsland Publishers sciencepub@gmail.com 6/09/2011
15 The Telegraph news@thetelegraph.com.au The Editor 6/09/2011
16 The Canberra Times letters.editor@canberratimes.com.au The editor 6/09/2011
17 Sydney Morning Herald letters@smh.com.au The Editor 6/09/2011
18 The Age letters@theage.com.au The Editor 6/09/2011
19 Australian finance Review afreditor@afr.com.au Managing Editor Paul Bailey 6/09/2011
20 Engineers Australia memberservices@engineersaustralia.org.au 6/09/2011
21 Smithsonian Institution stthomasl@si.edu Linda St.Thomas, Chief Spokesperson 6/09/2011
22 San Francisco 6/09/2011
23 The Australian letters@theaustralian.com.au Editor 6/09/2011
24 Brisbane Times Conal Hanna General Editor 6/09/2011
27 International Journal of Engineering mark.kachanov@tufts.edu Editors in Chief 7/09/2011 plus 25 scientists
krajagopal@tamu.edu
25 Asia Times writeto@atimes.com The Editor 8/09/2011
26 Guardian letters@guardian.co.uk The Editor 8/09/2011
28 Environmental Science and Technology est@uiowa.edu Editor Jerald Schnoor 8/09/2011
Professor
29 European Geosciences Union executive-secretary@egu.eu Philippe Courtial 9/09/2011 plus 4 scientists
30 Journal of The American Chemical Society jacs@jacs.acs.org Managing Editor Sonjia Krane 9/09/2011 plus 24 scientists
31 Society of Chemistry Industry cieditor@tenalpspublishing.com Editor 9/09/2011
32 British Ecological society info@BritishEcologicalSociety.org 9/09/2011
33 American Society of Civil Engineers jacs@jacs.acs.org Editor 9/09/2011 5 branches
34 American Meteorological Society amsinfo@ametsoc.org Editor 9/09/2011
35 Chemical Institute of Canada maja.veljkovic@nrc.gc.ca Chair Maja Veljkovic 9/09/2011 plus 6 scientists
36 Soil and Water Conservation Society pubs@swcs.org Editor Dr Oksana Gieseman 9/09/2011 plus 2 scientists
37 Institute of Physics direct mail type 10/09/2011
38 International Journal of Environmental editor@ijest.org, editor@ceers.org, ijest.publication@gmail.com 10/09/2011
Science and Technology
39 International Journal of Food C.X.Smith@mmu.ac.uk Professor Christopher Smith 10/09/2011
Science and Technology
40 The Straits Times stonline@sph.com.sg Editor- in-Chief Patrick Daniel 10/09/2011
41 The New Zealand Institute of Food rosemary@nzifst.org.nz Executive Manager Rosemary Hancock 10/09/2011
Science and Technology
42 Dominion Post mark.steven@stuff.co.nz Editor 10/09/2011
43 Bangkok Post chiratasn@bangkokpost.co.th Managing Editor 10/09/2011

 

 

.

.

.

KHỐI 8406 : TUYÊN BỐ VỀ CÔNG HÀM BÁN NƯỚC 1958 (Khối 8406)

Tháng Chín 13, 2011

 

Khối 8406 : Tuyên bố về Công hàm bán nước 1958

Gửi vào ngày Thứ Ba, 13 Tháng 9, 2011

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=10011

 

Khối 8406
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
Web: http: //khoi8406vn. blogspot. com/
Email: vanphong8406@gmail. com

 

 

Tuyên bố về Công hàm bán nước 1958
Kính thưa Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

Những tháng ngày gần đây, Trung cộng gia tăng hoạt động trên Biển Đông và liên tục khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đất nước, bằng việc dùng Công hàm 1958 như một phương tiện bắt bí nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Trước thái độ ngang ngược này của ngoại xâm, tập đoàn lãnh đạo đảng tại Ba Đình vẫn không hề lên tiếng, trong khi toàn thể đồng bào đủ mọi giới cả trong lẫn ngoài nước đã phản ứng cách mạnh mẽ nhưng cũng bị nhà cầm quyền Hà Nội trả đũa cách thô bạo.

Hợp với toàn thể dân Việt thuộc mọi cộng đồng vốn sẽ biểu tình rầm rộ trên toàn thế giới nhân kỷ niệm 53 năm bức Công hàm ô nhục, Khối 8406 chúng tôi tuyên bố như sau:

1- Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Bộ Chính trị đảng Cộng sản năm 1958 đã ký công hàm “thừa nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc” không ngoài mục đích bán hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước cho Trung cộng để mua khí giới, quân trang quân dụng hầu chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa. Và thực tế Bắc Kinh sau đó đã ồ ạt viện trợ người và của, lương thực và súng ống cho Hà Nội.

2- Tiếp đó, để đầu độc tâm trí đồng bào miền Bắc, “Bản đồ thế giới” do Phòng bản đồ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân vẽ năm 1960 và “Atlas bản đồ thế giới” do Cục đo đạc và bản đồ thuộc Phủ Thủ tướng CSVN in ấn, đã chú thích “các đảo ở Nam Hải, bao gồm cả quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa] thuộc lãnh thổ Trung Quốc”. Còn sách giáo khoa địa lý trong trường phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục CSVN in ra năm 1974 đã viết ở bài “Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” rằng: “Các đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa], Nam Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan… đã tạo thành một bức trường thành bảo vệ đại lục Trung Quốc”.

3- Thành thử năm 1974, khi Trung cộng tấn công hải quân VNCH để chiếm trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa, Cộng sản Hà Nội đã hoàn toàn im lặng, thậm chí vui mừng. Đến năm 1988, khi Trung cộng tấn công tiến chiếm một số đảo ở Trường Sa, Bộ Chính trị CSVN chẳng những không cho kháng cự mà cũng không cho loan truyền tin tức. Từ đó đến nay, nhà cầm quyền Hà Nội chưa bao giờ chính thức hỗ trợ cũng như phổ biến rộng rãi các công trình của nhiều tác giả trong nước nghiên cứu về chủ quyền VN trên hai quần đảo này.

4- Thời gian gần đây, Trung cộng lại viện dẫn Công hàm 1958 để biện minh cho việc cấm tàu đánh cá Việt Nam hành nghề trên ngư trường ngàn năm của Dân tộc, cho việc cản trở phá hoại tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam thậm chí ngay trong lãnh hải Tổ quốc, cho việc tự tiện vẽ Đường lưỡi bò lấn chiếm tới 80% Biển Đông là tài sản thiên nhiên chung của nhiều nước trong khu vực. Việc này đã khiến toàn thể con Hồng cháu Lạc trong lẫn ngoài nước phẫn nộ, nên hàng ngàn trí thức đã lên tiếng bằng nhiều kiến nghị, hàng ngàn người dân đã lên tiếng bằng nhiều cuộc xuống đường, hàng trăm tổ chức và cộng đồng tranh đấu đã lên tiếng bằng nhiều kháng thư, để đòi hỏi Quốc hội CSVN phải ra nghị quyết về chủ quyền đất nước trên Hoàng Trường Sa, đòi hỏi nhà cầm quyền Hà Nội phải ra tuyên bố hủy bỏ bức Công hàm ô nhục.

5- Thế nhưng, đáp lại ý muốn toàn dân là thái độ im lặng hèn nhát của Bộ Chính trị, là tuyên bố yếu ớt mơ hồ của Bộ Ngoại giao, là hành động tránh đương đầu giặc để cứu dân giữ nước của Bộ Quốc phòng, là thủ đoạn trấn áp người dân phản kháng xâm lược (bằng xuống đường biểu tình hay viết bài lên tiếng) của Bộ Công an, là trò bưng bít xuyên tạc sự thật và vu khống công dân ái quốc của Bộ Thông tin, là trò bóp méo lịch sử trong sách giáo khoa và cấm cản sinh viên học sinh xuống đường của Bộ Giáo dục…

6- Những hành động trên cho thấy tổng bí thư cộng đảng Nguyễn Phú Trọng, thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng và Bộ Chính trị năm 2011 đang chủ trương mua lấy sự tài trợ, sự bảo vệ và củng cố sự liên kết, sự hợp tác với Trung cộng để duy trì dài lâu ngai vàng thống trị trên đất nước, cam tâm làm thái thú cho giặc. Điều này báo hiệu giờ phút nguy cấp của Đất nước, lúc kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc sắp tiến xuống từ Ải Nam quan, sắp xông vào từ Hoàng Trường Sa hải đảo, sắp đội đất chun lên từ các mỏ bauxite giữa Tây Nguyên, sắp tràn ra đường từ các làng Tàu, phố Tàu dựng khắp cả nước.

Do đó, Khối 8406 chúng tôi kêu gọi:

1- Xin Toàn thể Đồng bào hãy lắng nghe tiếng gọi của Tổ quốc, lời nhắc của Tổ tiên để cùng đứng lên bảo vệ Tổ nghiệp, một Tổ nghiệp vốn đã bắt đầu bị cắt xén từ ngày xuất hiện Công hàm ô nhục mà chúng ta kỷ niệm với tấm lòng đau xót hôm nay.

2- Xin Toàn thể Đồng bào, đặc biệt Đồng bào quốc nội, tiếp tục xuống đường biểu tình (như 11 lần vừa qua) với mục tiêu cũ: phản đối Trung cộng xâm lược, và mục tiêu mới: phản đối Công hàm bán nước, đòi lại quyền lực cho nhân dân và quyền người cho công dân, trong ôn hòa bất bạo động nhưng quyết liệt và kiên trì, đông đảo và khắp cả nước.

3- Chúng tôi cũng xin hết lòng ca ngợi tinh thần yêu nước của đồng bào hải ngoại vốn sẽ tổ chức nhiều cuộc biểu tình rầm rộ tại nhiều quốc gia trên thế giới, nơi đồng bào sinh sống, vào chính ngày kỷ niệm 53 năm bức Công hàm ô nhục. Đây là sự hiệp thông sống động với phong trào đấu tranh giải thể chế độ Cộng sản tại quốc nội.

Làm tại Việt Nam ngày 12-09-2011

Ban Đại diện lâm thời Khối 8406.
1. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, VN.
2. Linh mục Phan Văn Lợi – 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, VN.
4. Giáo sư Nguyễn Chính Kết – Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.

Trong sự hiệp thông với Linh mục Nguyễn Văn Lý, cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

 

——————————-

 

NHIỀU CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC & CÔNG HÀM PHẢN QUỐC 1958 (Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/nhieu-cuoc-bieu-tinh-chong-trung-quoc.html

.

.

.