Archive for Tháng Chín, 2011

LS HUỲNH VĂN ĐÔNG BỊ CẤM XUẤT CẢNH (RFA)

Tháng Chín 13, 2011

 

Luật sư Hùynh Văn Đông bị chặn tại sân bay Nội Bài

Gia Minh, biên tập viên RFA

2011-09-13

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/anothr-case-barre-fr-go-abroad-09132011070231.html

 

Người luật sư tham gia một số vụ kiện dân oan mất đất và chống chính phủ, luật sư Hùynh Văn Đông vừa bị công an cửa khẩu Nội Bài cấm xuất cảnh.

 

Luật sư Hùynh Văn Đông  .   Source Nuvuongconly

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/anothr-case-barre-fr-go-abroad-09132011070231.html/ls_huynh-van-dong-305-nuvuongcongly.jpg
Một tháng trước đây vào ngày 12 tháng 8, luật sư Hùynh Văn Đông, phải chịu kỷ luật xóa tên ra khỏi danh sách đòan luật sư Tỉnh Dak Lak nơi ông đăng ký tham gia hành nghề luật sư. Những lý do được đưa ra của Ban Khen thưởng- Kỷ luật của Đòan Luật sư tỉnh Dak Lak bị cho là không thuyết phục như chuyện không đóng đòan phí, chuyện không tham gia bào chữa theo phân công mà người luật sư không nhận được công văn, và theo đề nghị của tòa án tỉnh Bến Tre.

 

Cấm không được xuất cảnh rời Việt Nam

 

Những người theo sát tình hình Việt Nam, thì chính việc tham gia bào chữa cho hai bị cáo Trần Thị Thúy và Phạm Văn Thông, những người dân oan mất đất sau bao lần đi khiếu kiện không được giải quyết đã nhận ra những sai trái của các cấp chính quyền Việt Nam và chống lại các đường lối ‘không vì người dân’ đó. Hai bị cáo này cũng đã bị kết án vì rải truyền đơn với nội dung ‘Hòang Sa- Trường Sa’ là của Việt Nam. Luật sư Hùynh Văn Đông đã đứng ra bào chữa cho họ và tỏ thái độ giận dữ đối đối với những luận điểm buộc tội của Hội đồng xét xử trong phiên xử các bị cáo hôm ngày 30 tháng 5 ở Bến Tre. Trước đó, luật sư Hùynh Văn Đông từng tham gia những phiên xử cho các giáo dân tại giáo xứ Thái Hà ở Hà Nội và những người dân bị thu hồi đất ở giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng.
Kết quả của những việc làm vừa nêu của ông là vào ngày 12 tháng 9 vừa qua khi xuất cảnh tại cửa khẩu Nội Bài, Hà Nội ông đã bị chặn lại như lời kể của chính bản thân ông sau đây:
Ngày hôm qua tôi ra phi trường Nội Bài để làm thủ tục sang Singapore. Các thủ tục hành lý của tôi đã làm xong, đến thủ tục xét an ninh, công an an ninh đã mời tôi vào phòng làm việc và thông báo cho tôi là không được xuất cảnh. Một lúc sau họ đưa ra lý do ‘theo đề nghị của công an tỉnh Dak Lak’.

 

LS Huỳnh Văn Ðông (giữa) ôm bó hoa do giáo dân tặng sau khi ông bào chữa cho 8 giáo dân trong phiên tòa phúc thẩm ngày 27 tháng 3, 2009. Source blog CL&ST

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/anothr-case-barre-fr-go-abroad-09132011070231.html/ls_huynh-van-dong–305.jpg

 

 

Theo luật sư Hùynh Văn Đông thì trước khi được chính thức thông báo ông không được xuất cảnh, nhân viên an ninh tại cửa khẩu Nội Bài đã mời ông vào nói chuyện và cho rằng ông có những vi phạm tại địa phương, rồi buộc ông phải viết bản tự khai. Cuối cùng qua nhiều trao đổi trên điện thọai họ chính thức báo anh không được xuất cảnh rời Việt Nam.
Bản thân là một luật sư, nên ông Hùynh Văn Đông cho biết những vi phạm của phía an ninh cửa khẩu qua những việc làm của họ:
Theo tôi thấy vi phạm rõ ràng nhất là việc họ có quyền ngăn cản quyền tự do đi lại của bất kể công dân nào dù không có lý do hay theo một qui định pháp luật cụ thể. Ngay cả biên bản tôi nhận được ‘cấm xuất cảnh theo đề nghị của công an tỉnh Dak Lak, bản thân nó cũng là một vi phạm rồi. Như vậy nếu theo đề nghị của ai, tôi cho rằng trường hợp đó nếu có, thì có thể hạn chế hay tước đọat quyền đi lại của công dân hay sao? Trong khi đó tôi cũng không biết vì lý do gì mà công an Dak Lak đề nghị như vậy. Trên thực tế như thế nào tôi cũng chưa biết. Tôi đang thu xếp để về Dak Lak, và có cuộc làm việc cụ thể với công an tỉnh Dak Lak.
Trong thời gian qua, một số người cũng rơi vào trường hợp như luật sư Hùynh Văn Đông không được xuất cảnh vào giờ phút chót, trước khi ra máy bay hay đi qua cửa khẩu đường bộ. Đơn cử như trường hợp anh Trần Văn Huy, một thành viên Khối 8406, cũng bị an ninh cửa khẩu Nội Bài chặn lại hồi ngày 6 tháng 7 không cho xuất cảnh đi Nga theo phân công công tác của công ty mà anh đang làm việc cho.

Vào ngày 10 tháng 7, linh mục Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, Phạm Trung Thành, bị chặn lại tại cửa khẩu Tân Sơn Nhất không cho đi Singapore tham dự Hội nghị Bề trên các giám tỉnh DCCT vùng Đông Nam Á và Úc Châu. Ngày 28 tháng 12 năm 2010, ông cũng không được cho xuất cảnh đi Mỹ.

 

Linh mục Phạm Trung Thành vào ngày 15 tháng 7 năm 2011, đã có kháng thư gửi các cấp lãnh đạo chính quyền Việt Nam việc cấm ông xuất cảnh như thế đã vi phạm điều 68 Hiến pháp Việt Nam, Điều 48 Bộ Luật Dân sự, các điều 21, 22 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của chính phủ Hà Nội về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.
Tuy nhiên đến sáng ngày 13 tháng 9, linh mục Phạm Trung Thành cho biết ông không hề nhận được trả lời nào từ phía các cơ quan chức năng Việt Nam về kháng thư đó của ông:
Không ai trả lời tôi và không hề giải quyết gì cả. Tôi vẫn yêu cầu họ trả lời tôi mà họ không trả lời thì biết làm sao bây giờ.
Đối với Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam thì không riêng gì linh mục giám tỉnh Phạm Trung Thành mà một số người khác trong dòng như linh mục Đinh Hữu Thọai, linh mục Nguyễn Văn Phượng cũng bị cấm xuất cảnh mà có người thấy được lý do hiện trên màn ảnh của công an xuất nhập cảnh là ‘thành phần bất mãn chế độ, chống lại đường lối của Đảng’.
Truyền thông DCCT có bài viết lập luận “ Bất mãn là một trạng thái của cảm xúc, không phải hành vi tội phạm, nên không thể dựa vào cảm xúc của ai đó để kết tội họ. Chưa nói việc dựa vào cảm xúc đó có bằng chứng hay chỉ là qui chụp, vu khống. Còn đường lối của Đảng cộng sản chỉ buộc các đảng viên theo thôi chứ, tại sao lại bắt một công dân không đảng phải theo đường lối đó, nếu họ thấy đường lối đó không đúng?”

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

.

.

.

TÙ NHÂN BẤT KHUẤT TRƯƠNG VĂN SƯƠNG QUA ĐỜI (Người Việt)

Tháng Chín 13, 2011

Tù nhân bất khuất Trương Văn Sương qua đời

Người Việt

Monday, September 12, 2011 5:45:44 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=136993&z=1

 

NAM HÀ (NV) – Ông Trương Văn Sương, tù nhân chính trị nổi tiếng bất khuất và dũng cảm ở Việt Nam, qua đời hôm Thứ Hai, 12 tháng 9, sau gần một tháng bị buộc quay trở lại trại tù Nam Hà, miền Bắc Việt Nam.

 

Anh Trương Quang Dũng, con lớn của ông Trương Văn Sương, xác nhận tin này với báo Người Việt và cho biết, ông Sương qua đời lúc 10 giờ 20 phút sáng Thứ Hai.

Ông Trương Văn Sương thắp nén hương trên bàn thờ di ảnh người vợ thân yêu đã mất năm 2007 sau hàng chục năm mỏi mòn chờ đợi ngày ông trở về. Trong tấm hình này còn thấy rõ trên cổ ông đang quàng vòng hoa Chiến Thắng Ngục Tù CSVN do cựu tù chính trị Nguyễn Bắc Truyển thay mặt Phong Trào Ðấu Tranh Dân Chủ Việt Nam trao tặng. (Hình: Internet)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/136993-VN_TruongVnSuong-400.jpg

 

Theo lời anh Dũng kể, ba anh bị bệnh tim trầm trọng, được nhà tù cho về một năm để chữa bệnh. Ngày 12 tháng 7, 2011 là vừa đúng một năm.

Anh Dũng và người em trai làm giấy bảo lãnh để ba tiếp tục điều trị nhưng đến ngày 19 tháng 8, 2011 thì được lệnh từ công an phường 2, thành phố Sóc Trăng, bắt ông Sương trình diện rồi bắt đi liền.

“Con xin bảo lãnh cho ba con chữa bệnh thì họ nói không có thẩm quyền, muốn xin phải trực tiếp ra Hà Nội mà xin. Họ lập biên bản bắt ký tên, con không kịp về nhà lấy thêm quần áo cho ba con.”

Sáng ngày Thứ Hai, anh Dũng nhận được điện thoại từ nhà tù báo cho biết ba anh đã qua đời. Ông Sương bị đột quị từ buổi tối ngày Thứ Bảy, đưa ra bệnh viện Phủ Lý, tỉnh Nam Hà, cấp cứu rồi qua đời ở đó.

Theo lời anh Dũng, ba anh bị hở hai van tim nhiều đêm ông phải ngủ ngồi hai ba tiếng đồng hồ vì nằm xuống thì nghẹt thở.

“Trước khi tạm tha cho ba con về, con nằm cả tháng với ba con ở bệnh viện Phủ Lý. Rồi khi thấy ba con nguy kịch quá thấy chết đến nơi thì chỉ cho về một năm.”

Tin tức về ông Trương Văn Sương được kể qua lời tường thuật của nhiều tù nhân chính trị khác. Nhờ sự đấu tranh quyết liệt do ông cầm đầu, ban quản trại Nam Hà đã giảm bớt ăn cắp thực phẩm, phần ăn của tù nhân khi tất cả mấy ngàn tù nhân ở trại này đồng loạt tuyệt thực phản đối.

Ông Trương Văn Sương sinh năm 1944, nguyên là trung úy Ðịa Phương Quân. Khi miền Nam sụp đổ, ông bị bắt đi tù cải tạo từ ngày 1 tháng 5, 1975. Sáu năm sau ra tù, ông vượt biên sang Thái Lan, tham gia nhóm phục quốc của Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh. Về Việt Nam lập chiến khu thì bị bắt năm 1983, và bị kết án tù chung thân với tội danh gián điệp.

Trong tù, ông nhất định không xin giảm án hay nhận tội để có thể giảm xuống còn 20 năm tù.

Tuy nhiên, đến khoảng năm 2009, thấy bệnh trở nên nghiêm trọng và muốn nhìn thấy mặt vợ con trước khi chết nên ông đã nhận tội và được giảm án. Nhờ vậy, ông được chuyển từ khu biệt giam tới ở với các tù nhân khác trong đó ở chung buồng giam với LS Nguyễn Văn Ðài hơn một năm.

Theo lời nhiều tù nhân kể lại, ông Trương Văn Sương đã bị biệt giam và bị cùm rất nhiều lần vì tính nết cương nghị, không khuất phục trước các lệnh ngang ngược của quản giáo.

“Ngày Thứ Ba, 13 tháng 9, con mua vé máy bay cùng với em con đi ra Bắc. Con cầu mong người ta cho anh em con được nhìn mặt cha chúng con lấn cuối.” Anh Dũng nói.

Tin ông Sương được thả về tháng 7, 2010 được loan truyền rộng rãi, nhiều người cảm phục một tù nhân chính trị bất khuất đã gửi tiền giúp ông chữa bệnh.

Ông đã lên Sài Gòn, tạm cư ở nhà Mục Sư Nguyễn Hồng Quang để tới bệnh viện cho gần. Sau khoảng ba tháng thì ông bị công an buộc rời Sài Gòn về Sóc Trăng. Tại đây, ông vừa đến một bác sĩ địa phương và uống thêm thuốc Nam.

“Bệnh ba con mới giảm được chừng năm tới sáu phần chứ không dứt.”Anh Dũng nói.

Theo lời anh Dũng, không có lệ cho tù nhân mang xác về nhà chôn.

“Họ nói chờ cho chúng con ra rồi mổ tử thi giám định xem ba con chết thế nào. Con nói ba con chết rồi, chúng con không thích mổ vì không cứu cho ba con sống lại được. Chúng con chỉ mong muốn được nhìn mặt ba lần cuối khi chúng con ra đó ngày mai.”

Ðiện thoại của anh Trương Quang Dũng: 84-9394-60657.

Ðịa chỉ nhà: 162 Trương Công Ðịnh, Khóm 6, Phường 2, thành phố Sóc Trăng, Việt Nam. (TN)

 

BẢN TIN VIDEO TÙ NHÂN BẤT KHUẤT TRƯƠNG VĂN SƯƠNG QUA ĐỜI

http://www.youtube.com/watch?v=3bzGjf8H6Bc&feature=player_embedde

 

——————————–
Ông Trương Văn Sương đã chết sau khi bị bắt giam trở lại
Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok, 2011-09-12
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tran-v-suong-died-aft-bck-to-pris-09122011063136.html
Việt Nam : Thêm một tù chính trị chết trong trại giam
Thanh Phương   –   RFI   –   Thứ ba 13 Tháng Chín 2011
http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110913-them-mot-tu-chinh-tri-chet-trong-trai-giam
Thêm tù nhân VN thứ hai chết trong ngục
BBC  –  Cập nhật: 09:26 GMT – thứ ba, 13 tháng 9, 2011
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/09/110913_truong_van_suong_death.shtml
Một tù nhân chính trị ở Việt Nam qua đời trong nhà tù
VOA   –    Thứ Ba, 13 tháng 9 2011
http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam/vietnamese-prisoner-dies-in-prison-09-13-2011-129715958.html
.
.
.

 

NHIỀU CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG TRUNG QUỐC & CÔNG HÀM PHẢN QUỐC 1958 (Người Việt)

Tháng Chín 13, 2011

 

Nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc và Công Hàm 1958

Người Việt

Monday, September 12, 2011 6:49:22 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=137006&z=1

 

ORANGE COUNTY (TH) – Nhiều cuộc biểu tình chống Trung Quốc được các hội đoàn người Việt tổ chức, bắt đầu từ ngày 14 Tháng Chín, qua nhiều hình thức biểu dương lực lượng và văn nghệ đấu tranh.

 

Ngày 14 Tháng Chín năm 1958 là ngày cố Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc Việt Nam) ký công hàm “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 Tháng Chín, 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Trước đó, một phần bản tuyên bố của Trung Quốc được ghi như sau: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác trên biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Tên gọi “Tây Sa” chính là quần đảo Hoàng Sa, bị Trung Quốc đánh chiếm năm 1974 từ tay chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

Còn quần đảo Nam Sa là Trường Sa, cũng do Việt Nam kiểm soát, nhưng bị Trung Quốc đánh chiếm một phần năm 1988 trong trận hải chiến Gạc Ma.

 

Nhân dịp này, nhiều cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ tổ chức một số cuộc biểu tình theo lịch trình sau:

 

Thứ Ba, 13 Tháng Chín

-Biểu tình chống Trung Quốc xâm lược tổ chức vào lúc 5 giờ chiều tại thư viện SNBA, 1482 E. University Ave., Las Vegas, NV 89119.

 

Thứ Tư, 14 Tháng Chín

 

-Tại San Francisco, thông báo do ông Nguyễn Phú, thay mặt ban tổ chức, ký gởi ra hôm 3 Tháng Chín, cho biết: “Hội Ái Hữu HO San Francisco phối hợp cùng một số tổ chức hội đoàn tại Bắc California đứng ra tổ chức cuộc biểu tình vào lúc 11 giờ sáng tại Tổng Lãnh Sự Việt Nam, 1700 California St., Suite 403, San Francisco, CA 94109. Sau đó, đoàn biểu tình sẽ tuần hành tiến về Tổng Lãnh sự Trung Quốc trên đường Geary.”

 

-Cộng đồng Việt Nam tại Toronto, Canada, biểu tình từ 12 giờ trưa đến 2 giờ chiều tại tòa Tổng Lãnh Sự Trung Quốc, 250 St. George Street.

 

-Tám hội đoàn ở San Diego tổ chức biểu tình lúc 5 giờ chiều, tại trụ sở Hiệp Hội Người Việt San Diego, 7833 Linda Vista Road, San Diego, CA 92111.

 

-Tại San Jose, cộng đồng Việt Nam sẽ có một cuộc mít tinh trước tòa thị chính thành phố vào lúc 6 giờ chiều “để phản đối bọn bạo quyền và đảng cộng sản Việt Nam đã cam tâm dâng công hàm bán nước.”

 

-Tại miền Nam California, chương trình văn nghệ Thắp Sáng Niềm Tin, từ 6 giờ chiều đến 9 giờ tối, tại Tượng Ðài Việt Mỹ, Westminster, do hai đài truyền hình SBTN và SET TV phối hợp với Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Nam California và hàng chục hội đoàn khác tổ chức, bao gồm biểu tình, thắp nến cầu nguyện và văn nghệ đấu tranh. Phần văn nghệ sẽ do ca sĩ của Trung Tâm Asia phụ trách.

 

-Tại Úc, Cộng Ðồng Người Việt Tự Do, Victoria tổ chức đêm thắp nến cầu nguyện cho đồng bào quốc nội từ 7 giờ tối đến 10 giờ đêm tại Ðền Thờ Quốc Tổ, số 90 Knight Street, North Sunshine 3020, Victoria.

-Tại Pháp, cộng đồng Việt Nam tổ chức biểu tình từ 4 giờ chiều đến 7 giờ tối trước Tòa Ðại Sứ Việt Nam, Paris.

 

Thứ Bảy, 17 Tháng Chín

 

-Tại Seattle, Liên Minh Người Việt Quốc Gia Vùng Tây Bắc Mỹ tổ chức biểu tình từ 10 giờ 30 sáng đến 2 giờ 30 chiều tại Henry M Jackson Federal Building, 915 Second Avenue (giữa Madison và Marion).

 

-Cộng Ðồng Người Việt Hoa Thịnh Ðốn và Vùng Phụ Cận tổ chức biểu tình lúc 11 giờ sáng trước Tòa Ðại Sứ Trung Quốc, 3505 International Place NW, Washington, DC 20008, và lúc 1 giờ chiều trước Văn Phòng Hành Chánh Tòa Ðại Sứ Việt Nam, 1233 20th Street, NW, Washington, DC 20036.

 

-Tập Thể Cựu Chiến Sĩ VNCH tại CHLB Ðức cho biết sẽ tổ chức biểu tình từ 11 giờ 30 sáng đến 1 giờ 30 chiều, trước tòa Tổng Lãnh Sự Việt Nam ở Frankfurt để “cực lực lên án thái độ nhu nhược, hành vi của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam qua bức Công Hàm bán nước cầu vinh ngày 14 Tháng Chín, 1958 của Thủ Tướng Việt Cộng Phạm Văn Ðồng ký kết.”

 

Chủ Nhật, 19 Tháng Chín

 

-Các hội đoàn quân dân cán chính VNCH Louisiana tổ chức biểu tình lúc 10 giờ sáng tại khu Ðền Tổ Hùng Vương (New Orleans East), với chủ đề “Ðáp Lời Sông Núi.”

 

Thứ Bảy, 1 Tháng Mười

 

-Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Tại CHLB Ðức và Ủy Ban Ðiều Hợp Công Tác Ðấu Tranh Tại CHLB Ðức sẽ tổ chức biểu tình từ 12 giờ trưa đến 5 giờ 30 chiều, trước hai tòa đại sứ Việt Nam và Trung Quốc ở Berlin.

 

-Cộng đồng Việt Nam tại Paris biểu tình từ 3 giờ chiều đến 6 giờ chiều trước Tòa Ðại Sứ Trung Quốc.

.

.

.

.

TRUNG QUỐC : SỰ THAY ĐỔI LỚN ĐANG ĐẾN GẦN (Lê Ngọc Thống)

Tháng Chín 13, 2011

 

Trung Quốc: sự thay đổi lớn đang đến gần

Lê Ngọc Thống

(viet-studies 12-9-11)

http://www.viet-studies.info/kinhte/LeNgocThong_KinhTeTrungQuoc.htm

 

Trong xã hội loài người khi có sự phân công lao động là có sự phân hóa giàu- nghèo. Sự phân hóa theo tự nhiên diễn ra chậm, quy mô nhỏ. Số lượng người giàu được tăng lên đồng nghĩa với số lượng người nghèo giảm đi. Sự phân hóa này mang tính tích cực. Chẳng hạn đội ngũ những người có học, có điều kiện tiếp xúc với khoa học, họ biết cách làm giàu và sẽ trở nên giàu có. Những người giàu loại này được xã hội tôn vinh, vị nể.

 

Sự phân hóa theo cơ học tức do bất công của nền kinh tế và chính trị gây ra thì nhanh, quy mô lớn tạo ra rất nhiều người nghèo, tạo ra người giàu ít hơn nhưng loại người giàu này phất lên rất nhanh, chiếm hầu hết tổng sản phẩm xã hội. Và đương nhiên một khi nền kinh tế bất công với chế độ bất công sinh ra họ, o bế họ thì chính họ làm chủ và chi phối kinh tế và chính trị quốc gia. Tầng lớp này mới thực sự là giai cấp thống trị. Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và bị trị thực chất là mâu thuẫn giữa người nghèo và người giàu loại này. Khi sự chênh lệch giữa giàu và nghèo quá ngưỡng chịu đựng thì mâu thuẫn sẽ trở thành đối kháng, là mầm họa bất ổn cho xã hội. Thực tế những cuộc cách mạng “màu” xảy ra gần đây đều chứng minh điều đó.

 

Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng…“Giai cấp công nhân là người đào mồ chôn chủ nghĩa Tư bản” là chung chung không chính xác. Nếu vậy thì Mỹ, Anh… bị chôn lâu rồi nhưng tại sao họ vẫn tồn tại và phát triển không ngừng? Bởi lẽ khoảng cách giàu nghèo không quá lớn. Điều đó cho thấy xã hội có sự công bằng, dân chủ, đồng thời cũng khẳng định loại người giàu mà do nền kinh tế và chế độ bất công sinh ra ít, không đủ sức lũng đoạn kinh tế và nhà nước của quốc gia đó. Công nhân, người lao động, họ được bảo đảm một quyền lợi tối thiểu và một nền dân chủ tối đa ứng với khả năng của mình thì họ thỏa mãn. Không đình công, biểu tình, bạo loạn là điều chắc chắn, dễ hiểu.

 

Mọi người sẽ rất ngạc nhiên là tại sao một nước như Trung Quốc giàu có như thế, GDP chỉ sau Mỹ, lại là chủ nợ 15000 tỷ USD của Mỹ mà dân lại nghèo (Ngân hàng thế giới xếp thứ 100). Đặc biệt là một đất nước sắp bá chủ thế giới mà dân chúng bạo động liên tục gia tăng. Năm 2006: 60 ngàn vụ. Năm 2007: 84 ngàn vụ; năm 2008: 128 ngàn vụ và 180 ngàn vụ là con số cho năm 2010. Và đa số người giàu họ chỉ coi Tổ quốc của mình chỉ là nơi kiếm tiền; có tiền là chuyển ra nước ngoài; tìm mọi cách để trở thành công dân của nước khác là tại sao?

 

Thế giới chính xác khi gọi Trung Quốc là một “nước nghèo giàu có”, nghĩa là người dân thì nghèo nhưng tổng khối lượng kinh tế cả nước thì giàu. Một điều phi lý vô cùng là sau bao nhiêu năm tích lũy, của cải của quốc dân tăng lên rất nhiều nhưng sự phân phối tài sản lại mất công bằng nghiêm trọng. Ông Kỷ Ngọc Thành – Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh nói: “Theo số liệu chính thức nhà nước công bố thì chỉ 10% số người giàu đã chiếm 45% tổng tài sản quốc dân”. Đến nay con số đó đã khác, có một tỷ lệ ít trong xã hội (thành phần thượng lưu) 0,2% dân số – khoảng 2,5 triệu người lại nắm gần 70% tài sản của Trung Quốc (Theo báo cáo của doanh nghiệp tư vấn Boston Consulting Group). Không những thế, điều đặc biệt nguy hiểm là sự chênh lệch về giàu nghèo quá lớn: 23 lần là con số do chính phủ đưa ra, trong khi con số điều tra độc lập là 25 và của thế giới đưa ra là 65 lần.

 

Chênh lệch giàu nghèo là chênh lệch về mức thu nhập, là chênh lệch về việc sử dụng các tiện ích trong xã hội như giáo dục, sức khỏe, việc làm, đi lại, nhà ở … Tỷ lệ chênh lệch càng lớn thì sự oán hờn càng tăng là điều tất yếu. Chênh lệch giàu nghèo chính là sản phẩm của sự bất công của nền kinh tế và sự bất công của chế độ chính trị. Là nguồn gốc của sự bất ổn.

 

Thực tế cho thấy lực lượng can thiệp từ bên ngoài dù có hùng hậu, mạnh mẽ bao nhiêu cũng không thể làm gì và chẳng là cái gì nếu như không có “lực lượng” bên trong do nền kinh tế và chế độ chính trị của nhà nước đó “sinh ra và nuôi dưỡng”.

 

Đến đây chúng ta không còn ngạc nhiên khi chỉ một đụng độ nhỏ giữa cảnh sát với một người dân thôi là lập tức có hàng vạn người nổi dậy. Điều đáng nói là chính quyền chỉ có một cách giải quyết là đàn áp. Nhưng càng đàn áp bạo loạn càng nổ ra và số lượng tham gia tăng đột biến. Có cảm giác như lòng oán hờn, căm phẫn của nhân dân với chính quyền đã tích tụ quá lâu, quá gay gắt, ngột ngạt. Ngay như Thủ tướng Trung Quốc cũng đã phải thừa nhận sự “oán hờn ghê gớm” của dân chúng trước một loạt vấn đề như chênh lệch giàu nghèo, tham nhũng, giá nhà đất, lạm phát…

 

Vậy tăng trưởng, tăng trưởng để GDP đứng hàng đầu thế giới làm chi? Người dân có được lợi lộc gì hơn so với hậu quả mà họ phải gánh chịu? Với lại tiền của về tay ai, họ làm gì và họ đi đâu? Trả lời những câu hỏi này không phải là quá khó, và khi đó những người hiểu biết và yêu nước chân chính Trung Quốc không thể không đặt vấn đề về cái giá của sự trỗi dậy trong 3 thập kỷ qua để lại là: Phải chăng cái “chế độ XHCN mang màu sắc Trung Quốc” thực chất là chế độ thực dân kiểu mới ngay tại đất nước của mình hay không?

 

Khi phê phán Trung Quốc có biểu hiện “ chủ nghĩa thực dân mới” ở châu Phi bà Ngoại trưởng Mỹ nói, đại ý: “ Chúng ta đã thấy trong thời thuộc địa, rất dễ đến, lấy đi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trả tiền cho nhà lãnh đạo và ra đi. Và khi bạn ra đi, bạn không để lại nhiều thứ phía sau cho người dân nơi ấy”. Ngẫm nghĩ lại thì biểu hiện đặc điểm “chủ nghĩa thực dân mới” của Trung Quốc đâu chỉ có ở châu Phi mà còn ngay ở chính quốc của mình. Bởi lẽ, tăng trưởng kinh tế thì phải gắn liền với sự phát triển xã hội dân chủ văn minh… và phải hướng đến con người, vì con người. Nhưng ở Trung Quốc thì không như thế. Thế giới chỉ cảm nhận được qua sự tăng trưởng của Trung Quốc bằng máy bay, tàu chiến và hành động “quả quyết, cơ bắp”; những tuyên bố hoanh hoang hiếu chiến, bắt nạt, chèn ép các nước nhỏ láng giềng mà thôi.

 

Nếu như bất ổn chính trị là một quả bom đe dọa sự tồn vong của xã hội Trung Quốc hiện hành thì quả bom này có 3 ngòi nổ nguy hiểm mà Trung Quốc bằng mọi giá ngăn chặn. Đó là lạm phát; thất nghiệp và khu tự trị.

 

Một nền kinh tế phát triển lành mạnh là phải đem lại hiệu quả ngày càng cao cho người dân, thân thiện với môi trường. Trung Quốc với mục tiêu tăng trưởng cao đã bất chấp tất cả. Vùng tự trị như Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng chính phủ hành xử và đối xử như Thực dân khai thác thuộc địa gây nên thảm họa về môi trường, bóp chết môi trường sống của người dân…( Nên nhớ đây là những khu tự trị của đất nước Trung Hoa vĩ đại chứ đâu phải châu Phi) Họ không uất ức, vùng lên bạo loạn đối đầu với chính quyền mới là chuyện lạ. Vụ ngày 15/5 xảy ra ở khu tự trị Nôi Mông vừa qua khiến một sinh viên ĐHSP Nội Mông cắt tay lấy máu viết huyết thư rằng: “Các người coi khinh người Mông Cổ chúng tôi như thế này, chúng tôi quyết liều mạng với các người” Không hồ nghi gì nữa đó là một ngòi nổ nguy hiểm.

 

Ngòi nổ thứ hai là thất nghiệp, mất việc làm. Kinh tế Trung Quốc tồn tại 3 loại doanh nghiệp tạo thành một hình chóp: DN nhà nước trên cùng, được ưu đãi đặc biệt về chính sách. Phía dưới là DN tư nhân lớn cũng được ưu đãi nhờ quan hệ chính trị và tiền bạc với giới “tai to mặt lớn”. Dưới cùng là hàng triệu DN vừa và nhỏ sống nhờ vào hệ thống sản xuất và làm gia công cho các đại gia ở trên với mức lời rất thấp nhưng lại có vị trí xã hội rất quan trọng vì tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho dân chúng địa phương. Tại cái “hình chóp” này tỷ lệ phá sản của các DN nhỏ và vừa tăng đột ngột từ 0,3% năm ngoái lên 16% năm nay, tức là nền móng của cái “hình chóp” ấy bị xói mòn và đương nhiên hàng chục triệu công dân bị đẩy ra đường, con số thất nghiệp tăng. Trong khi kinh tế Trung Quốc chủ yếu là xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu quan trọng nhất và lớn nhất là Mỹ. Nếu Mỹ ngừng nhập khẩu vì ‘hết tiền” thì lập tức hàng trăm triệu công nhân mất việc. Vì vậy, dân Mỹ thì giàu hơn 10 lần dân Trung Quốc nhưng Trung Quốc vẫn phải cho Mỹ vay tiền để dân Mỹ tiêu xài, còn bắt dân Trung Quốc thì thắt lưng buộc bụng chi tiêu thấp nhất thế giới 34% so với Mỹ 70%. Cái giá phải trả quá đắt nhưng thất nghiệp với số lượng lớn trong tình hình hiện nay của Trung Quốc thì thảm họa còn khủng khiếp hơn.

 

Đối với ngòi nổ lạm phát. Lạm phát thì nước nào cũng có nhưng với Trung Quốc thì có một dân số quá lớn có nghĩa là cũng có quá lớn người bần cùng theo tỷ lệ. Cho nên khi đã rơi vào lạm phát là đất nước có sự bất ổn, luôn gieo vào lòng giới lãnh đạo Bắc Kinh nỗi khủng khiếp. Hơn 30 năm nay Trung Quốc chủ yếu là giảm phát, nghĩa là hàng hóa chỉ giảm giá chứ không tăng giá. Chỉ có 3 lần lạm phát là các năm 1985; 1989 và 93-1996. lần nào cũng có sự cố, đặc biệt vụ Thiên An Môn vào 6/1989.

 

Lạm phát lần này xảy ra trong tình hình mức thu nhập của các hộ gia đình giảm, có hàng nghìn cuộc bạo động xảy ra. Nếu như hàng ngàn cuộc bạo động xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau cho nên các cuộc bạo động mang tính riêng lẻ ở từng địa phương thì lạm phát là nguyên nhân chung ảnh hưởng trực tiếp đến bát cơm manh áo của tầng lớp nghèo trong xã hội, nên không cần kêu gọi, tuyên truyền, không cần Interrnet cũng huy động được nạn nhân của sự lạm phát. Nạn nhân của nó thì số lượng quá lớn không thể đàn áp. Lạm phát là chất dẫn hết sức nhanh nhạy cho các mâu thuẫn bùng nổ.

 

Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung quốc đang bất ổn. Khi tiêu chuẩn đánh giá cán bộ bằng mức độ bất ổn của địa phương; khi chi phí cho chính quyền nhiều hơn cả quốc phòng; khi có hàng trăm ngàn cuộc bạo động liên tiếp xảy ra; khi người giàu chuyển tiền của ra ngoài chuẩn bị sẵn sàng “biến”… thì một đất nước như thế sao gọi là ổn định, hạnh phúc…? Một đất nước như thế làm sao bá chủ được thế giới?.

 

Trung Quốc rất có kinh nghiệm để đàn áp các cuộc bạo loạn , khởi nghĩa trong nước mình. Một trong các kinh nghiệm đó là dùng chiến tranh xâm lược các nước láng giềng để hạ nhiệt bên trong. Tuy nhiên thời nay, ngoài những kẻ ngu đần ra thì dân Trung Quốc chẳng ai tin có một nước nào đó “khiêu khích Trung Quốc”, “xâm lược trung Quốc cả”.

 

Dừng lại để cải cách chính trị toàn diện hay choạnh choạng tiến lên? Câu trả lời vốn thuộc về giới lãnh đạo Bắc Kinh nhưng e là quá muộn, không còn cơ hội nữa. Nhân dân Trung Quốc sẽ trả lời câu hỏi đó. Những dấu hiệu của một sự đổi thay lớn đang đến gần.

 

Tác giả gủi cho viet-studies ngày 12-9-11

 

——————————

 

TRUNG QUỐC : ĐE DỌA NÀO CHO VIỆT NAM ? (Nguyễn Văn Huy)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/trung-quoc-e-doa-nao-cho-viet-nam.html

 

.

.

.

BỨC ẢNH ĐỒNG PHỤC & BÀI DIỄN VĂN (Le Nguyen, danlambao)

Tháng Chín 13, 2011

 

Bức ảnh đồng phục và bài diễn văn

Le Nguyen (danlambao)

Ngày 12 tháng 9 năm 2011

http://danlambaovn.blogspot.com/2011/09/buc-anh-ong-phuc-va-bai-dien-van.html?utm_source=BP_recent

 

Trong một đoạn “nhấn mạnh” trong bài diễn văn tiếp Đới Bỉnh Quốc ủy viên quốc vụ viện Trung Quốc tại trụ sở chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn dũng: “…nhân dân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của đảng, chính phủ và nhân dân Trung Quốc giành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay…” đi kèm với bài diễn văn gây “sốc”dư luận là bức ảnh đồng phục bộ đồ tây “giống sọc” và sợi giây “thắt cổ” cùng màu hồng nhạt của hai ông lãnh đạo không đồng cấp Thủ Dũng với ủy viên Quốc, làm vấy lên bức xúc, tức giận cho những ai tiếp cận thông tin này.

 

Người viết cũng không là ngoại lệ, đã không dằn lòng được, phải bật lên tiếng chửi thề cho hạ nhiệt. Tại sao chúng hèn nhược đến thế, lũ gian tham, độc ác? Nhưng sau một lúc lắng đọng cảm xúc, lấy lại bình tĩnh để xoa dịu nỗi đau chợt đến, để cố níu kéo một chút hy vọng cho thân phận làm người Việt Nam qua cách suy nghĩ khác ít bi quan, ít nhói lòng hơn.

 

Trước hết trong bức ảnh chụp cho chúng ta thấy, Đới Bỉnh Quốc cười vừa phải không toét miệng, run giật toàn thân ra vẽ khoái chí, không nhếch mép, cười nửa miệng phô bày sự sâu độc, nham hiểm của kẻ phàm phu nhưng kiểu cười của Quốc không che dấu được vẽ đắc ý của một kẻ được mách nước, thắng một thế cờ bí hiểm.

 

Riêng Nguyễn Tấn Dũng mím môi, mặt nghiêm nghị kém vui, phơi lộ sự không hài lòng của một kẻ bị ai đó gài vào thế “triệt buộc”, bị đẩy vào thế đã rồi, thế há miệng mắc quai, bị đẩy vào thế thua và phải thua không thể cựa quậy đươc. Nhưng qua bức ảnh đã hiện lên thái độ Thủ Dũng không tâm phục khẩu phục nên mọi uất ức hiện rõ lên nét mặt, ánh mắt kể cả cái mím môi, ngậm miệng của kẻ bị dẫn dắt như trẻ con, cũng qua bức ảnh này, với bộ óc hơi nhạy bén hoặc với cặp mắt bình thường chịu khó quan sát sẽ thấy tác giả bức ảnh thu vào ống kính hình ảnh hai ông Dũng – Quốc từ một góc độ “ lệch” không bình thường.

 

Quan sát cẩn thận bức ảnh lịch sử của Dũng-Quốc được xem như ngang bằng với bức ảnh lịch sử của tên an ninh Phạm Hải Minh đạp vào mặt thanh niên biểu tình bày tỏ lòng yêu nước Nguyễn Chí Đức và cũng từ quan sát, phân tích cách thể hiện thái độ trong bức ảnh, có thể đi đến kết luận. Nguyễn Tấn Dũng dù ngu tối, hèn kém thế nào đi nữa cũng không dám chủ động mặc đồng phục xuẩn ngốc như thế! Chắc hẳn mặc đồng phục theo kiểu đồng dạng được thu trong ống kính cho cả thế giới xem, là sự trùng hợp “ngẩu nhiên”có chủ ý của nội gián, tác động lên tạo ra và làm nên, nhằm phục vụ cho mục tiêu, kế hoạch của kẻ thù giấu mặt.

 

Kế đến là bài diễn văn của Nguyễn Tấn Dũng cũng có vấn đề không kém nghiêm trọng cho an ninh quốc phòng, cần tìm kiếm tên, nhóm soạn diễn văn này là ai? Không chỉ diễn văn của ông Thủ Dũng khá trân trọng: “luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc…” mà tất cả mọi bài diễn văn hay đáp từ của lãnh đạo Việt Nam với lãnh đạo Trung cộng, ngoài những sự kiện, biến cố, ngữ cảnh vớ vẩn, luôn luôn không thiếu nội dung ca ngợi “hết sức coi trọng mối quan hệ”…và nhất định phải có những con chữ khá ấn tượng “… nhân dân Việt Nam biết ơn sâu sắc…” nhiều hơn mức cần thiết, đáng nghi ngờ của ngôn ngữ ngoại giao quốc tế thời hiện đại!

 

Bức ảnh lịch sử “chụp” Dũng -Quốc và bài diễn văn của Thủ Dũng, nói rộng hơn là mọi bài diễn văn, đáp từ với đối tác Trung Quốc, dường như có lẽ đúng với ý nghĩ, có vấn đề của thế lực thù địch cần điều tra làm rõ, trừng trị đích đáng kẻ âm mưu phản bội tổ quốc. Phải công nhận, Thủ Dũng cũng là tay không vừa, có số má hẳn hoi so với số lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện tại nhưng Thủ Dũng đã phải ngậm hột thị trước tay “cáo” Đới Bỉnh Quốc của Trung Cộng nên biểu lộ tức tối trên khuôn mặt qua bức ảnh là hiển hiện vụ việc cay cú có thật.

 

Có lẽ Thủ Tướng Dũng chủ quan trước tên thấp bé quốc vụ viện Bỉnh Quốc nên đã bị hắn sai khiến bàn tay bí mật đưa hình ảnh “đồng phục” phản cảm ra chính trường quốc tế, phối hợp với “diễn từ”ngoại giao phản ngoại giao đặt lên miệng Thủ Dũng gây bức xúc, bực tức trong lòng nhân dân Việt Nam.

 

Kết nối bức ảnh đồng phục với diễn văn của Thủ Dũng gây phát sinh hậu quả tai hại không hề nhỏ cho hình ảnh Thủ Dũng trên chính trường Việt Nam cũng như quốc tế:

 

Trên trường quốc tế, Thủ Dũng không là gì cả, chỉ là con số không tròn trịa nhưng với các lãnh đạo Việt Nam hiện nay thì ông ta là lãnh đạo có thực lực dễ gần, dễ tiếp cận đối thoại nhất so với số còn lại, qua cái nhìn của các nước phương tây và Hoa Kỳ.

 

Lẽ khác,Thủ Dũng là nhân vật chủ chốt, là người dẫn dắt “lối chơi” của cộng sản Việt Nam đối với Trung Cộng và Hoa Kỳ. Do đó, Trung Cộng không thể kiên nhẫn chờ lâu hơn nữa mà muốn dứt khoát “nó và tao, mày chọn ai? Bởi Đới Bỉnh Quốc đại diện cho tham vọng của bá quyền phương Bắc, xem Nguyễn Tấn Dũng như chốt chặn cuối cùng cần bẻ gãy để loại bỏ “lối chơi” của Dũng và bức ảnh đồng phục đưa đi “triển lãm” quốc tế như là độc chiêu bịt mồm, vô hiệu hóa Dũng để Quốc lu loa với các nước trên thế giới “Dũng là của chúng tôi…tránh xa ra chúng tôi vừa là đồng chí, vừa là anh em Xã hội chủ nghĩa đấy nhé!”

 

Trong nước Việt Nam, các đồng đảng đấu đá, tranh giành quyền lực dù không ưa Thủ Dũng và với nhân dân Việt Nam ai cũng biết các lãnh đạo cộng sản đa số kém tài, thất đức như nhau nhưng Thủ Dũng là tay ít tồi dở, kém cỏi nhất trong đám tồi dở, kém cỏi đó! Thủ Dũng bề ngoài có vẽ gần gủi với các chính quyền phương tây và chưa có lý do rõ rệt để nhân dân căm giận ông ta!

 

Thường thì đa phần dân chúng ít chịu sự “tra tấn” lỗ tai của mình bởi các bài diễn văn năm nhờ(nh) “nhàm, nhảm, nhạt như nhau” của các lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, nhờ bức ảnh đồng phục đã thu hút công chúng làm xôn xao dư luận dẫn đến sự chú ý, quan tâm đặc biệt đến bài diễn văn của Thủ Dũng với các dòng chữ, giọng nhấn mạnh của báo, đài: “…nhân dân Việt Nam luôn luôn ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc…” khiến nỗi bức xúc, căm giận gần như nhân lên gấp bội gây ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh, ít chút “uy tín lãnh đạo”của Thủ Dũng trong lòng các đảng viên và nhân dân Việt Nam.

 

Thật, nhìn vóc dáng thấp bé tưởng rằng Đới Bỉnh Quốc có đầu óc, thấp bé xứng tầm với thể trạng của hắn. Nhưng không, Thủ Dũng cùng đồng đảng của ông đã lầm, Đới Bỉnh Quốc có cái đầu to, óc cao hơn hẳn bộ tham mưu cộng đảng Việt Nam nên với một động tác nhỏ như ảo thuật Quốc đã hô biến câu nói thoát ra từ cửa miệng của thứ trưởng bộ quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh: “Việt Nam không liên minh quân sự với nước này chống lại nước khác” thành sự thật!

 

Câu nói của Vịnh diễn tiến rất gần với sự thật theo hướng khác, qua chuyến nhập Việt của Đới Bỉnh Quốc, nó diễn biến theo hướng bất lợi hơn cho Việt Nam bởi hình ảnh Thủ Dũng lãnh đạo cộng sản Việt Nam được xem như chiếc cầu nối, như cơ hội để thiết lập liên minh quân sự với các nước phương tây ngăn chận hiểm họa Trung Hoa Đại Hán đã gần như bị vô hiệu hóa bởi bức ảnh đồng phục và bài diễn văn, tưởng chừng như trùng hợp tự nhiên.

 

Lối thoát hẹp của cộng sản Việt Nam đã bị Đới Bỉnh Quốc với vài động tác nghiệp vụ cho Thủ Dũng “mọc đuôi sam” khiến nhân dân Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế mất “niềm tin” vào Thủ Dũng, và trong tương lai muốn tiếp cận với các đối tác phương tây tìm hậu thuẫn cho chủ quyền biển đảo hoặc vận động quần chúng nhân dân hiến thân chống giặc xâm lược phương Bắc, sẽ là câu chuyện không hề dễ bởi các nước dân chủ tiên tiến, toàn dân Việt Nam đã nhận thấy bức ảnh đồng phục với bài diễn văn bất hủ “biết ơn sâu sắc kẻ thù xâm lược” của Thủ Dũng đại diện cho đảng, nhà nước CHXHCN Việt Nam, không thể một sớm một chiều mà xóa nhòa được.

 

Sự kiện nổi bật trong chuyến nhập Việt của Đới Bỉnh Quốc là bức ảnh “đồng phục” và bài diễn văn của Thủ Dũng, cả hai diễn ra khá nhanh, khá bất ngờ ngoài suy luận của nhiều người. Nếu nhìn thoáng qua sẽ nghĩ chỉ là chuyện nhỏ, chuyện đơn giản nhưng nghiệm lại sẽ thấy hậu quả của nó không hề nhỏ. Chốt chặn cuối cùng cho hai mặt trận quốc tế, quốc gia đã bị Đới Bỉnh Quốc bẻ gãy, nó cũng có nghĩa rằng với lối chơi “xấu” thông minh của Quốc, buộc Thủ Dũng không còn quyền lựa chọn mà phải chơi theo cách Quốc dẫn dắt.

 

Liệu Thủ Dũng và ban tham mưu của Dũng có đủ bản lãnh, trí tuệ để giành ưu thế trong ván kế tiếp hay ít nhất chiếm lại được hiện trạng lúc Đới Bỉnh Quốc chưa nhập Việt? Hãy chờ xem, đừng nôn nóng các bạn của tôi ơi. Dù thế thua đã hiển hiện nhưng cứ hy vọng, chờ hồi sau sẽ rõ!

 

 

 

Le Nguyen (danlambao)

danlambaovn.blogspot.com

 

——————————-

 

TIN LIÊN QUAN :

 

Nhất trí từ trong tới ngoài 

Bấm :  http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2011/09/dongchi-dongphuc.jpg

 

Thủ tướng tiếp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc

http://vietnam.vnanet.vn/vnp/vi-vn/13/124/124/26462/default.aspx

.

.

.

NHÀ VĂN TRẦN KHẢI THANH THỦY TRẢ LỜI PHỎNG VẤN TẠI ATLANTA (Song An Châu)

Tháng Chín 13, 2011

Phỏng Vấn Nhà Văn TRẦN KHẢI THANH THỦY nhân ngày 10/09/11 Chị đến gặp gỡ và cảm ơn đồng hương tại Atlanta

Phóng viên Tạp Chí Rạng Đông: SONG AN CHÂU

 

DienDanCTM

06:00 – 13/09/2011

http://diendanctm.blogspot.com/2011/09/phong-van-nha-van-tran-khai-thanh-thuy.html

 

1- Chào chị, xin chị cho biết sơ lược về tiểu sử và sự nghiệp?

Tôi sinh năm 1960, trong khi Tố Hữu vung bút ngợi ca:
“Chào 61 đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng
Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau.
Trông Bắc, trông Nam trông cả địa cầu

Thì mẹ tôi đứng trên gác tư của phòng làm việc, mắt nhìn…một hướng duy nhất, xuống cái…bụng chửa vượt mặt của mình. Và dù có “trông bắc, trông Nam trông cả địa cầu cũng không ngoài… bệnh viện phụ sản.
Hồi đó, từ năm một nghìn chín trăm…đã lâu, nó có tên là “Bệnh viện bà mẹ và trẻ em”. Sau này do tính chất phi nhân của nó mà người dân đặt thành: “Bệnh viện …mặc mẹ bà mẹ và trẻ em”. Kèm câu ca nổi tiếng:
“ Có tiền thì có tình thương
Không tiền… mặc sức kêu suông, hỡi người (!)

Lên 6 tuổi, tôi đi học, buộc phải trở thành.. cháu oan của bác, bị đầu độc, nhồi nhét đủ mọi thứ. Nào: “Có sách mới, áo hoa, đây là nhờ ơn đảng ta, vui tung tăng em ca có đảng cuộc đời nở hoa”. Còn tôi – như một con “quắm già”, chỉ cảm nhận điều ngược lại, có sách mới áo hoa đều do mẹ thắt lưng buộc bụng, ngồi lồng chun quần cho mậu dịch hàng năm trời , mới đủ tiền mua mà vừa kịp phơi ở dây phơi ngay trước cửa nhà đã bị mất cắp. Nghĩa là …áo mặc một lần, rồi không cánh mà bay. Sau đó ít lâu, tôi bị bệnh thấp khớp, mắt cá chân sưng vù như quả ổi, còn cả bàn chân đỏ bầm, nhức nhối. Mẹ tôi phải cõng trên lưng đi bộ 19 km từ nơi sơ tán tại tỉnh Bắc Ninh ra Hà Nội để kịp tới bệnh viện trước khi trời sáng. Để thấp khớp không “đớp” vào quả tim non nớt, bé bỏng của tôi, ngày nào mẹ cũng phải cõng tôi đi học, vì bác sĩ khuyên tôi không nên chạy nhảy nhiều, sợ bệnh càng nặng thêm.
Suốt bao ngày trời ngồi trên lưng mẹ, chứng kiến nỗi vất vả, nhọc nhằn của mẹ, tôi buột miệng than:
Mẹ sinh con để làm chi
Vô duyên có dễ tới khi bạc đầu”

Thương mẹ, tôi cũng chỉ còn cách chúi đầu vào học, và trở thành sinh viên Đại học Sư Phạm, một trong những trường được coi là “trọng điểm” và “chuẩn mực” nhất nước khi ấy.
Ra trường, đúng vào thời kỳ tinh giản biên chế, chỗ đứng của con cái phụ thuộc vào túi tiền cha mẹ , nên tôi – vì hèn mẹ cha ( do đảng cướp hết quyền lợi) phải chấp nhận cảnh “đêm khuya thân gái dặm trường”, đi “khai sáng văn minh” cho đồng bào dân tộc. Câu thơ đầu tiên chép trong Nhật ký dạy học của đời tôi là:
Tôi lặng lẽ cúi đầu trong tiếng nấc,
Trên dặm đường trăn trở những buồn thương!

Bảy năm “ăn cơm rau vật nhau với trẻ” nơi núi đỏ rừng xanh, thì có lệnh tách tỉnh từ Hà Sơn Bình thành Hà Tây và Hòa Bình, tôi nghiễm nhiên được về “cửa ngõ thủ đô” là Hà Tây cách nhà 22 km, và yên phận làm một giáo làng đến năm 1993, nghĩa là tròn 33 tuổi thì có “mệnh trời”, trở thành phóng viên báo đảng và bắt đầu viết như một kẻ bị hành. Phần vì đam mê sáng tác, phần vì “văn chương hạ giới rẻ như bèo”…Cả gánh bèo bán cho trung ương mới được vài chục đồng đủ để ăn khoai lang trừ bữa trong một tuần. Cả tháng phải có khoảng 15-20 “gánh bèo” như thế mới có thể tạm đủ để thỏa mãn bần cố nông: “Cơm ba bát, áo ba manh, thuốc ba thăng (ba lần sắc).

Viết mòn cả ngòi bút mà nghèo vẫn hoàn nghèo, năm 39 tuổi tôi mon men viết báo Hải Ngoại và bắt đầu xây dựng sự nghiệp, tên tuổi trên chính bi kịch của đời mình. Sau đó, bị tên Jiu đa phản chúa Phạm thị Lộc bán đứng bút danh Thái Hoàng- “thoáng hài” cho công an rồi bị bắt, như mọi người đã biết

2- Động cơ nào thúc đẩy chị tham gia đấu tranh cùng dân oan? Xin chị cho biết cụ thể?

Đơn giản vì từ ngoài 30 tuổi tôi đã là thư ký trung thành của thời đại, hơn nữa tôi còn là nhà văn, luôn đứng về phía nước mắt, mà dân oan Việt Nam thì qúa khổ, câu ca dao để đời của họ là:
Ăn mày là ai, ăn mày là ta,
Bị đảng cướp đất hóa ra ăn mày!

Không bỏ qua được cả bể nước mắt của họ tuôn trào nức nở suốt ngày đêm, tôi đành lặn ngụp trong bể nước mắt ấy và viết lại những nỗi đau ròng ròng máu rỏ của họ gửi ra Hải ngoại, hy vọng gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh với đảng …cướp sạch và công an…ăn dân (!)

3.Trong thời gian này, Cộng Sản đối xử với chị ra sao?

Cộng sản coi tôi là một kẻ bất trị nổi loạn nên tìm mọi cách để trừng trị , điển hình là nghị quyết CP, nghị quyết Chính Phủ, chính xác hơn là nghị quyết C. Phân. Không đối thoại được với tôi bằng lời, đảng dùng phân người thay cho miệng đảng, và tôi đã chụp lại thành tích của đảng để lưu lại cho đời sau như bà con đã thấy.
Nhờ có thư của Ông Brian Aggeler- Tham Tán Chính Trị Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, Hà Nội ( ngày 21 tháng 4 năm 2009) gửi Nguyễn Thanh Sơn- Chánh Văn Phòng Nhân Quyền của Bộ Công An để can thiệp về vấn đề này nên sau 4 tháng giằng co, tôi thoát khỏi cảnh tượng ô nhiễm trầm trọng … Cay cú vì trò bẩn bị chặn đứng ( bẩn như chính cái nền văn văn minh cùng chung hố xí do đảng sáng lập) đảng dựng vụ bắt tôi vào tù.
May mắn làm sao trời còn để tôi sống nhằm tố cáo việc làm bỉ ổi, mất dạy có một không hai của đảng, nên bức ảnh giả về một kẻ côn đồ thật (tay sai của đảng) đã bị giới truyền thông Hải ngoại bóc trần, và đảng đành phải thả tôi ra khi bộ ngoại giao Mỹ can thiệp.

4. Với sự vận động của tổ chức nào, chị mới được chánh phủ Mỹ can thiệp cho chị định cư tại Hoa kỳ?

Tất nhiên có rất nhiều tổ chức và hội đoàn yêu nước can thiệp cho tôi, từ tổ chức Human Rights Watch, Ký Giả Không Biên Giới, Văn Bút Quốc Tế, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam v.v nhưng đảng Việt Tân mà tôi là một thành viên, vận động sâu rộng hơn cả.
Trước sự đàn áp dã man của đảng cộng sản (đã dựng vụ để đánh tôi trọng thương, còn bắt giam tôi 42 tháng tù). Trong tù còn bạo hành tôi cả về thể xác lẫn tinh thần. Nào vô cớ cắt thuốc suốt hai tháng, cốt để tôi chết dần chết mòn, rồi “cấm vận” tình cảm của tôi với tất cả tù thường phạm khác, mượn tay đầu gấu để đánh tôi hết lần này lần khác (có sự chứng kiến của dân biểu Na Uy – Piter Gitmark) nên đảng Việt Tân đã quyết định vận động 19 dân biểu Mỹ và bộ trưởng bộ ngoại giao Hillary Clinton để tôi được ra khỏi tù.

5. Được biết chị có những tác phẩm vạch trần tội ác của Hồ Chí Minh và tập đoàn Cộng Sản Việt Nam là những tác phẩm nào ?

Một tập thơ “ Nghĩ cùng thế sự” gồm chân dung của 15 nhà lãnh đạo Việt Nam, 15 củ khoai hà thối và “Hồ Chí Minh nhân vật trăm tên nghìn mặt” mà nội dung của nó là lột bỏ thần tượng Hồ Chí Minh.

6- Những tác phẩm này được phổ biến qua hệ thống Internet và cơ quan truyền thông, trong đó có tờ báo Sài Gòn Nhỏ có đúng không? Nếu đúng, thì tại sao bây giờ báo Sài Gòn Nhỏ xoay 180 độ đánh phá Chị như vậy?

Có câu thành ngữ thế này :
“Yêu người vô lý thì hại người ta
Ghét người vô cớ thì tự hại mình”

Cá nhân tôi chẳng hề biết gì về tờ Sài Gòn Nhỏ này, họ yêu tôi vô lý ra sao và ghét tôi vô cớ đến mức nào là quyền của họ. Yêu lấy được và ghét lấy được là cách thể hiện của một người không có lập trường, quan điểm thiếu cả lòng tự trọng , danh dự vì như danh nhân thế giới nói: “Danh dự là sự hòa hợp tự nhiên giữa việc tôn trọng mọi người và tự tôn trọng chính mình”.
Còn tôi tôi luôn hành xử theo nguyên tắc của mình: “Kiên nhẫn làm tròn bổn phận và giữ im lặng, đó là câu trả lời tốt nhất cho sự vu khống”. Nếu Sài Gòn Nhỏ thực sự quay ngược 180 độ thì tôi đành phải coi “cái dáng đẹp nhất của họ là dáng nhìn từ phía… sau lưng (!) đơn giản vì khi người ta không hiểu hay không hợp với mình thì có giải thích hay nài nỉ cầu xin cũng bằng thừa. Hãy để thời gian trả lời tất cả

7- Mục đích chị đến Atlanta mong gặp gỡ đồng hương để nói lên điều gì ?

Như anh đã nói trong lời giới thiệu : Tôi đến để gặp gỡ và cảm ơn đồng bào tại Atlanta, những người đã giang rộng vòng tay nhân ái ra che chở, bao bọc tôi, cũng là nhường cơm xẻ áo cho tôi trong suốt những ngày đấu tranh tại quốc nội cả trong và ngoài nhà tù cộng sản . Ngoài ra cũng muốn kêu gọi bà con cùng đóng góp để yểm trợ cho các nhà đấu tranh dân chủ trong quốc nội, thông qua bữa cơm thân mật do ban tổ chức mời

8- Chị có cảm tưởng thế nào khi chị đã đến thủ phủ Atlanta nói riêng và nói chung đối với đồng hương mà chị đã gặp nơi hải ngoại ?

– Rất tốt, bà con luôn giang rộng vòng tay nhân ái chào đón tôi, coi tôi như người thân lâu ngày gặp lại, vẫn tiếp tục “nhường cơm xẻ áo” cho tôi trong những ngày đầu tiên tại nước Mỹ. Cái ơn của bà con đối với tôi là ơn sinh thành, cứu mạng .Nếu không có bà con cùng các tổ chức yêu nước tại Hải ngoại chắc tôi không đủ niềm tin để đối phó với mọi trò nhố nhăng, ươn hèn, hạ đẳng của đảng cộng sản trong suốt bao năm trời và hai lần tù đày như vậy.

9- Xin cảm ơn chị đã dành cho tạp chí Rạng Đông chúng tôi trong cuộc tiếp xúc này. Kính chúc chị sớm bình phục sức khỏe và vững niềm tin đấu tranh vì lý tưởng tự do, dân chủ cho Quê Hương Việt Nam.

Cám ơn anh đã dành cho tôi cơ hội được trả lời phỏng vấn này, mong sự nghiệp đấu tranh dân chủ tự do và nhân quyền trên quê hương Việt Nam cũng sẽ được… rạng đông như cái tên của tạp chí .

DienDanCTM

 

.

.

.

PHỎNG VẤN GIÁM ĐỐC HRW về NẠN CƯỞNG BỨC LAO ĐỘNG TRONG CÁC TRẠI CAI NGHIỆN VIỆT NAM (VOA)

Tháng Chín 13, 2011

 

Phỏng vấn Giám đốc HRW về nạn cưỡng bức lao động trong các trại cai nghiện VN

Hoài Hương – VOA

Chủ nhật, 11 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/news/vietnam-story/forced-labor-in-vietnamese-rehabilitation-centers-09-11-11-129616128.html

 

Thưa quý vị, “Hạt điều máu từ các trại cưỡng bách lao động Việt Nam” là tựa đề một bài viết do Tạp chí Time tải lên mạng hôm 6 tháng 9 vừa qua, sau khi Human Rights Watch công bố một phúc trình, phơi bày các hành động vi phạm nhân quyền nghiêm trọng trong các trại cai nghiện ở Việt Nam, mà tổ chức bênh vực nhân quyền này mô tả là “chẳng khác gì các trại cưỡng bức lao động”. Theo HRW, các học viên tại nhiều trại cai nghiện ở thành phố Hồ Chí Minh đã bị buộc phải lao động không công, những người từ chối bị đánh đập, và trong một số trường hợp, bị tra tấn, bỏ đói và biệt giam.

Giám đốc Ban Y tế và Nhân quyền của Human Rights Watch, Tiến sĩ Josep Amon, đã dành cho ban Việt ngữ cuộc phỏng vấn sau khi bản phúc trình này được công bố, ông cũng đề cập tới phản ứng của phía Việt Nam sau khi nhận được thư của Tổ chức Human Rights Watch.

Mời quý vị theo dõi câu chuyện giữa Hoài Hương với Tiến sĩ Joe Amon sau đây.

 

 

VOA: Thưa Tiến sĩ, phúc trình của Human Rights Watch được đặt tên là “Quần đảo Cai nghiện” (Rehab Archipelago), như cố ý gợi lại tác phẩm “Quần đảo Ngục Tù” của văn hào Nga và cũng là nhà bất đồng chính kiến thời Xô viết Alexandr Soljenitsin, điều đó có đúng không, thưa ông?

Tiến sĩ Amon:
“Đúng vậy!”

VOA: Thế thì tình hình các trại cai nghiện ở Việt Nam tệ hại tới mức nào mà Human Rights Watch phải mang ra so sánh với quần đảo ngục tù của Nga?

Tiến sĩ Amon: “Trọng tâm của phúc trình của chúng tôi là vấn đề cưỡng bức lao động và những hành động ngược đãi khác, kể cả các vụ tra tấn, đang diễn ra tại Việt Nam mà nạn nhân là giới nghiền ma túy. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là những người thuộc thành phần này đã bị câu lưu, giam giữ mà không qua quy trình tư pháp nào, họ hoàn toàn không được bảo vệ, không được xét xử mà bị đưa đi rồi cô lập trong các trại cai nghiện, nơi chẳng có ai giám sát, nơi diễn ra các hành động vi phạm nhân quyền thực sự đáng sợ.”

VOA:
Thưa, ông quy lỗi cho ai về tình trạng tệ hại này?

Tiến sĩ Amon:
“Chính phủ Việt Nam điều hành các trung tâm cai nghiện đó, họ còn bênh vực các trung tâm này và cho rằng đây là một đáp ứng thỏa đáng đối với nạn sử dụng ma túy. Theo chúng tôi, điều đó sai, đứng từ quan điểm khoa học, và là một hành động vi phạm nhân quyền cũng như cam kết bảo vệ nhân quyền của Việt Nam trên tinh thần các hiệp ước về nhân quyền.”

VOA: Thưa ông, những cá nhân hoặc tổ chức nào hưởng quyền lợi từ việc khai thác sức lao động rẻ tiền, hay lao động không công của các học viên ở các trại cai nghiện? Hãng thông tấn AP có nhắc tới một số công ty tư khai thác sức lao động của các trại viên, ông có thể nêu đích danh một vài công ty?

Tiến sĩ Amon:
“Chúng tôi đã thu thập các tài liệu từ nhiều nguồn và về các hình thức lao động khác nhau, kể cả nông nghiệp như sản xuất hạt điều, để phục vụ cả người tiêu thụ trong nước lẫn các công ty quốc tế. Một số công ty Việt Nam gồm các nhà sản xuất hạt điều chẳng hạn, nhưng cũng có một số công ty sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm nhựa plastic ví dụ như các túi nylông để đựng đồ mua sắm. Ngoài ra còn có một số sản phẩm khác thi công cho các công ty nước ngoài, kể cả một công ty Thụy Sĩ chuyên sản xuất mùng chống muỗi, và Columbia Sportswear, một công ty Mỹ chuyên may trang phục và áo khoác thể thao. Phải nói là trong cả 2 trường hợp, các hoạt động sản xuất đó diễn ra mà không được phép của các công ty liên hệ. Không những thế mà trên thực tế, còn đi ngược lại các nguyên tắc chống sử dụng lao động cưỡng bức của họ, thế nhưng các nhà thầu phụ Việt Nam, dù không được phép, đã liên hệ với các trung tâm giam giữ người nghiện.

Chính phủ Việt Nam đã cung cấp các biện pháp khích lệ thuế cho các công ty để sản xuất hàng hóa tại các trung tâm cai nghiện. Đây là một hành động quá đáng, một tình hình đáng sợ khi cưỡng bức lao động bị sử dụng vào việc chế tạo các sản phẩm cho tư nhân, nhằm mục đích sinh lợi.”

VOA: Thưa Tiến sĩ, liệu có bất cứ công ty nào thuộc quyền sở hữu của nhà nước can dự vào các hoạt động này không?

Tiến sĩ Amon:
“Rất khó có thể thực hiện cuộc nghiên cứu này để xác quyết chính xác ai được thu lợi và những ai được hưởng lợi lộc từ hoạt động này. Trong nhiều trường hợp, các công nhân… tôi xin lỗi, các cựu trại viên mà chúng tôi phỏng vấn không chắc về tên của các công ty liên hệ. Họ có thể nói với chúng tôi rằng họ không nhận được bất cứ tiền bạc gì, hoặc chỉ nhận được các món tiền rất ít ỏi, mà có nhận thì cũng trắng tay sau khi các chi phí ăn uống, nhà ở vv… bị khấu trừ. Nhưng chúng tôi không xác định được trong tất cả mọi trường hợp, công ty nào được hưởng lợi từ các hoạt động đó.”

VOA: Thưa Tiến sĩ, ngay cả các nước cấp viện như Hoa Kỳ và Australia chẳng hạn, và một số định chế quốc tế, cũng bị tố cáo là đã nhắm mắt làm ngơ trước những hành động vi phạm nhân quyền trong vụ này, nhưng họ có hảo ý, có phải không ạ? Các bên cấp viện đâu có trách nhiệm giám sát chương trình cai nghiện của nhà nước Việt Nam?

Tiến sĩ Amon: “Rõ ràng các nước cấp viện phải chịu trách nhiệm về những gì xảy ra cho các khoản cấp viện mà họ cung cấp. Khi chúng tôi liên lạc với các bên cấp viện, hầu hết đều nói rằng họ không giám sát xem liệu có xảy ra các vụ vi phạm nhân quyền hay không. Họ nói họ chỉ ủng hộ các hoạt động của trung tâm cai nghiện mà thôi. Tôi thì tôi cho rằng đây là một hành động vi phạm rõ rệt những trách nhiệm của họ. Các bên cấp viện có nguy cơ tài trợ chi phí để điều hành các trung tâm cai nghiện và cho phép nhà nước Việt Nam tăng tối đa mức thu nhập trong khi khai thác mồ hôi và sức lao động của giới nghiện ma túy.

Liên hiệp quốc đã nói rõ các trung tâm ấy vi phạm nhân quyền bởi vì họ giam giữ nhiều người mà không qua một quy trình tư pháp đúng đắn, trên thực tế họ còn tạo điều kiện cho sự lây lan của siêu vi HIV nữa. Trong các điều kiện đó, thật khó tưởng tượng được vì sao bất cứ tổ chức nào lại đồng ý tài trợ để trang trải các chi phí hầu duy trì hoạt động của các trung tâm như thế. Quan điểm mạnh mẽ của chúng tôi là các bên cấp viện nên kêu gọi đóng cửa lập tức các trung tâm cai nghiện đó, và các trại viên, những người mà các quyền bị chà đạp, phải được phóng thích lập tức.”

VOA: Thưa, đồng ý với Tiến sĩ là tình hình tuy tệ hại thật, nhưng giải pháp thay thế là gì? Không lẽ trả tự do cho những người nghiện ngập đang cần được cai nghiện, để họ lại trở về lây lất trên các đường phố?

Tiến sĩ Amon: “Thưa cô, các trung tâm ấy hoàn toàn vô hiệu quả trong việc xử lý các trường hợp nghiện ma túy, Tổ chức Y tế Thế giới đã thu thập đủ chứng cớ cho thấy tới 90% những người xuất trại sau đó lại rơi vào tình trạng nghiện ngập. Nếu các trung tâm đó không hiệu quả trong công tác cai nghiện thì lẽ vì sao chúng nên tiếp tục hiện hữu cơ chứ? Điều mà chúng ta cần là những chương trình cộng đồng, tự nguyện, nhấn mạnh tới sự hỗ trợ của những người đồng cảnh ngộ, với sự tiếp tay của các dịch vụ tư vấn phối hợp với các phương pháp thay thế như chương trình methadone, cho phép người ta hiểu rằng nghiện ma túy là một vấn đề nghiêm trọng, nó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận dựa trên y tế công chứ không dựa trên hình phạt, kể cả biện pháp cưỡng bức lao động.”

VOA: Thế thì thưa Tiến sĩ, ông trả lời người phát ngôn Nguyễn Phương Nga của Việt Nam như thế nào, khi bà bác bỏ tất cả những cáo buộc mà ông vừa nêu, và tái khẳng định rằng chương trình cai nghiện của nhà nước Việt Nam là một chương trình đã chứng tỏ là hiệu quả?

Tiến sĩ Amon: “Chính phủ Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh rằng cưỡng bức lao động là một đáp ứng thích hợp cho tật ghiền ma túy, điều đó hoàn toàn không đúng. Họ có thể đưa ra bất cứ khẳng định nào họ muốn, nhưng những dữ liệu thu thập được chứng minh rằng cưỡng bức lao động không hiệu quả. Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà ở các nước khác nữa. Sự thiếu hiểu biết về tình trạng nghiện ngập, thái độ bất công và kỳ thị đối với những người nghiện ma túy đều có ở hầu hết mọi nơi. Thế cho nên trong khi phúc trình của chúng tôi nói về Việt Nam và những hành động vi phạm khủng khiếp xảy ra tại Việt Nam, đây là một vấn đề chúng ta phải đối mặt trên khắp thế giới.”

VOA: Xin Tiến sĩ cho phép tôi có nhận xét này. Phúc trình của Human Rights Watch được dựa trên các cuộc phỏng vấn 34 đối tượng nghiện ma túy, không phải tất cả đều bỏ được thói nghiện ngập, các nhân chứng này có đáng tin cậy không? Và liệu mẫu nghiên cứu dựa trên 34 đối tượng có quá nhỏ để chúng ta có thể đi đến một kết luận bao quát, rằng có những hành động ngược đãi xảy ra tại các trung tâm cai nghiện trên khắp nước Việt Nam?

Tiến sĩ Amon: “Khi chúng tôi nói cưỡng bức lao động xảy ra một cách phổ biến và có hệ thống ở Việt Nam, chúng tôi không chỉ dựa vào lời chứng mà chúng tôi thu thập được từ những người nghiện ma túy và từng bị giam giữ trong các trung tâm cai nghiện, mà còn dựa trên chính sách của nhà nước Việt Nam. Chính sách ấy khẳng định rõ rằng dùng lao động như một phương pháp trị liệu là điều thích hợp, rằng những người bị giam giữ tại các trung tâm cai nghiện phải làm việc, nếu không họ có thể bị trừng phạt. Làm như vậy là phù hợp với định nghĩa quốc tế của cụm từ ‘cưỡng bức lao động’.”

VOA: Thưa Tiến sĩ, ông có nhận được sự phản hồi nào từ chính phủ Việt Nam về bản phúc trình của HRW hay không?

Tiến sĩ Amon: “Đáp lại bản phúc trình của chúng tôi, chính phủ Việt Nam không tranh cãi sự kiện các học viên tại các trung tâm cai nghiện bị buộc phải lao động, vì thế tôi cảm thấy tự tin rằng điều đó đang diễn ra, và diễn ra trên khắp Việt Nam. Nhưng ngoài chúng tôi, còn có nhiều bên khác, kể cả Liên hiệp quốc, đã xác định làm như vậy là cưỡng bức lao động. Những điều mà chúng tôi tố cáo Việt Nam, thật ra không bị thách thức.”

VOA: Xin Tiến sĩ xác định cụ thể đã nói chuyện với ai, chức vụ của người ông đã tiếp xúc là gì, thuộc cơ quan bộ sở nào?

Tiến sĩ Amon: “Phản hồi mà chúng tôi nhận được từ chính phủ Việt Nam là do Bà Đỗ thị Ninh Xuân, Phó Cục trưởng, Cục Phòng chống Tệ nạn Xã hội của Việt Nam gửi cho. Bà Xuân trả lời một bức thư mà chúng tôi gửi cho phía Việt Nam vào ngày 2 tháng 9, thư của bà viết ngày 5 tháng 9, chúng tôi nhận được vào ngày 7 tháng 9.”

VOA: Câu hỏi chót, theo Tiến sĩ, hệ quả của câu chuyện này đối với Việt Nam là gì? Liệu có tác động tiêu cực tới kế hoạch của giới đầu tư muốn đổ tiền vào làm ăn tại Việt Nam hay không?

Tiến sĩ Amon: “Tôi nghĩ rằng nếu nhà nước Việt Nam muốn duy trì quy chế ưu đãi về mậu dịch trong các giao dịch với các nước phương Tây, và nếu Hà Nội muốn được quốc tế coi là một nước văn minh tiên tiến, nơi mà các công ty quốc tế nghĩ tới lúc chọn địa điểm để thành lập các xưởng chế tạo, thì họ cần đảm bảo không có cưỡng bức lao động xảy ra ở bất cứ nơi nào trong nước. Tôi nghĩ rằng các công ty tư nhân đang tìm nơi để thành lập các hãng xưởng chế tạo sản xuất tại Á Châu, cần quan tâm về nguy cơ các sản phẩm của họ có thể đã được tạo ra bởi những người lao động bị đe dọa tra tấn hoặc ngược đãi, nếu họ không kiểm soát và giám sát một cách nghiêm ngặt tiến trình sản xuất, và bảo đảm các nhà thầu phụ không can dự với các trung tâm giam cầm người khác.”

VOA:
Xin cám ơn Tiến sĩ Josep J. Amon, Giám đốc Ban Y tế và Nhân quyền của Human Rights Watch, đã dành cho ban Việt ngữ cuộc phỏng vấn này.

 

——————————-

 

Xem video HRW kêu gọi Việt Nam đóng cửa các trung tâm cai nghiện ma túy

http://www.youtube.com/watch?v=fin-7bgptFE&feature=player_embedded

 

HRW: Nạn cưỡng bách lao động tại các trung tâm cai nghiện ở Việt Nam

 

HRW kêu gọi đóng cửa các trung tâm cai nghiện ở Việt Nam

 

VIỆT NAM BÓC LỘT TÙ NHÂN & NGƯỜI CAI NGHIỆN (Human Rights Watch)

 

Việt Nam: Tra tấn, cưỡng bức lao động trong Trung tâm cai nghiện

Các Công ty, Nhà tài trợ cần gây sức ép với Chính phủ Việt Nam để đóng cửa các Trung tâm

September 7, 2011

http://www.hrw.org/node/101490

.

.

.

THIÊN THẦN TRONG BÓNGTỐI (Hoàng Thanh Trúc )

Tháng Chín 13, 2011

 

THIÊN THẦN TRONG BÓNGTỐI

Hoàng Thanh Trúc

Posted on 12/09/2011 by Doi Thoai

http://doithoaionline.info/2011/09/12/thien-th%e1%ba%a7n-trong-bongt%e1%bb%91i/

 

Tôi dừng lại bên đường mua hộp bánhTrung Thu , kế bên tôi người phụ nữ lớn tuổi cũng mua bánh như tôi, Bác ấy rụt rè hỏi cô bán hàng : Cô ơi bánh này để được bao lâu ?

– Ủa ! bửa nay mười bốn, mai là trăng tròn rồi, Bác mua về cúng rằm rồi ăn luôn thì cần gì lâu mau ?

– Đưa tay chỉ hướng trại giam người phụ nử nhỏ nhẹ : Hổng có cúng đâu cô ! Tui tính mua chục cái gửi con gái tui trong trại giam,cho nó để dành ăn từ từ với mấy đứa bạn, nó thích bánh trung thu nhân thập cẩm hạt dưa lắm cô ơi !

– Nói nào ngay !cháu cũng muốn bán lắm chớ, nhưng cái gì mình biết thì nói để làm phước,Bác nên mua một cái thôi .

– Thưa cô ! Bộ mắc lắm sao ?

– Không phải mắc hay rẻ, mà chục cái như một, vô tới đó thì công an coi tù họ lấy dao bầu bằm ra tan nát như bằm rau nấu cháo heo để kiểm tra, rốt cục như đống xà bần, chừng hai ngày là mốc meo hết trơn !

 

Người phụ nử thương con gái nhưng đành thở dài, mua một cái duy nhất gói cẩn thận,dõi mắt xa xăm lặng lẽ bước đi… Tôi nhìn theo .. ngờ ngợ, sao Bác ấy phản phất giống mẹ của Đổ Thị Minh Hạnh …trong phiên tòa hôm nào …

 

Ngày 26 tháng 10 năm 2010 trong một phiên toà vội vã, không luật sư không nhân chứng, toà án CSVN tỉnh Trà Vinh xét xử chớp nhoáng rồi tuyên án 3 thanh niên nam nữ là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương và Đỗ Thị Minh Hạnh vì đã đứng lên, bên cạnh hàng vạn lao động nhà máy Mỹ Phong – Trà Vinh, những công nhân vinh danh là chủ đất nước, giai cấp công nhân tiên phong mà đảng CS là đại diện. Cả ba đã hướng dẫn anhchị em đình công đấu tranh đúng pháp luật, sau khi một số công nhân nữ bị xúc phạm nhân phẩm và bị bóc lột nặng nề mà Công Đoàn cơsở thì tê liệt . Tiếp theo sự kiện trên là các cuộc đình công khác lan ra trên khắp các tỉnh thành, kéo dài 7 ngày liên tục. Cả ba bị CA bắt giữ tra tấn thêthảm rồi đưa ra tòa . Kết quả của phiên tòa bỏ túi ấy là Hùng 9 năm tù ,Chương 7 năm tù và Đỗ Thị MinhHạnh 7 năm tù .

 

(Đỗ Thị Minh Hạnh : Thiên thần trong bóng tối)

http://doithoaionline.files.wordpress.com/2011/09/image0011.jpg?w=171

 

Có điều, sau đó tôi nhớ mãi là lời kể chân thực của bà Ngọc Minh ( Mẹ của Đỗ Thị Minh Hạnh ) trên đài phát thanh ÁChâu Tự do về phiên tòa phúc thẩm ngày 18 tháng 3 năm 2011 tại Trà Vinh. Bà nói: “Mỗi cháu như vậy là có hai CAkèm theo, tay bị còng. Hai đứa kia ( Hùng và Chương ) đi đứng thì cũng bìnhthường mà cái mặt lầm lì, còn riêng bé Hạnh( Đỗ Thị Minh Hạnh ) thì nghinh cáimặt lên, cái mặt con Hạnh nó nghinh lên trời, nó coi trời bằng vung, nó trềmôi, nó bĩu môi, nó khinh bỉ …”

 

Mẫu tử tình thâm. Ai hiểu tánh nết con hơn đấng sinh thành ? Ai thương con gái bằngmẹ ? – Vậy mà – Cũng y hệt như Bà Trần thị Lệ mẹ Luật Sư Lê Thị Công Nhân ( cựu tù nhân lương tâm ) ngày nào. Khi con gái bị đàn áp tù đày . Thương con – Tất nhiên rồi – Nhưng quả thật rất can đảm, cả hai người mẹ, giấu kín trong lòng nỗi niềm riêng tư thường tình của phụ nử, để hãnh diện công khai trước bạo quyền đàn áp và bất công của nhà nước CSVN về con mình như một cách nói : “ Lẽ Phải Và Chân Lý Thuộc Về Chúng Tôi – Cường quyền không khuất phục được con trẻ ! ” Đúng như thế, không cha mẹ nào muốn giáo dục con trẻ bằng những cái gương xấu xa ngược với đạo lý ở đời, thì bậc “Mẩu nghi thiên hạ” lãnh đạo nhà nước,chính quyền nhân dân còn phải thận trọng hơn thế nữa, chẳng thể nào giáo dục công dân, những sinh viên trẻ bằng những hành vi côn đồ, vũ phu với phụ nữ hạ cấp như thế, hãy nhớ rằng với tội phạm đích thực cái còng sắt như cánh cửa ngục tù giam hãm đời họ, còn người trí thức có học, yêu lẽ phải tự do nhân quyền công lý, cặp còng sắt bập vào cổ tay sẽ để lại một dấu hằn không thể phai mờ trong tiềm thức, khiến sự dấn thân sẽ nhân lên bội phần mà thôi.

 

Mà thật vậy, dù bị đối xử quá tệ như lời Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang bày tỏ sự phẩn nộ : “ …Riêng tôi, tôi chỉ có thể nghiến răng lại cho nước mắt khỏi trào ra khi đọc dòng tin dưới đây: “Ngày 23/01/2009, Minh Hạnh cùng mẹ và chị gái đến trụ sở công an để làm lại giấy chứng minh nhân dân. Khi vừa bước vào trụ sở, Hạnh bị nhiều công an bắt lên lầu đánh đập. Nghe tiếng hét, chị gái Hạnh chạy lên thì thấy khuôn mặt em mình đầy máu. Khi cơ quan công an áp giải Hạnh về nhà lục soát, dù đã bị còng tay, nhưng Minh Hạnh vẫn tiếp tục bị hành hung với những cú đấm vào đầu và mặt ”. – Hình như với nhân viên an ninh và CA, Minh Hạnh không phải là con gái, phụ nữ hay con người ?

Vậy mà thật ngạc nhiên, nếu bất cứ ai tham dự cả hai phiên tòa Sơ và Phúc thẩm, đều phải tròn xoe mắt trước phong thái của Đỗ Thị Minh Hạnh, như một Thiên Thần trong bóng tối tù ngục . Trước pháp đình chiếc còng số tám trên tay như là một món “nữ trang” làm Minh Hạnh vô tư tự tin thêm chứ không là vật đánh bại nhân cách của mọi tội nhân ! trong đôi mắt tưởng chừng ngây thơ vô tư ấy nhìn thẳng vào mặt quan tòa khi nghị án như thay cho lời : “ Vì công bằng và quyền lợi cho tất cả công nhân, dân oan nghèo, tôi vui lòng trả giá” .

 

Kể từ ngày ấy bóng dáng Minh Hạnh như thay cho cành Hồng trên bàn làm việc của tôi ……Tôi muốn lập lại cùng Minh Hạnh lời một bài hát nói về trách nhiệm tuổi trẻ không chỉ dành cho riêng ai của chế độ này và bài thơ nhỏ cho mọi tuổi trẻ và cho riêng “ai đó” tầm tuổi với Đỗ Thị Minh Hạnh hiểu rằng :

 

“ Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng,

Gian khổ sẽ dành phần ai ?

Ai cũng một thời trẻ trai

Cũng từng nghĩ về đời mình

Phải đâu may nhờ rủi chịu ?

Phải đâu trong đục cũng đành ?

Chân lý thuộc về mọi người

Không chịu sống đời nhỏ nhoi ”

(Một đời người,một rừng cây: trần Long ẩn)

 

“KHÔNG NHỎ NHOI ”

Gửi tặng : Mrs Nguyễn Thanh Phượng — Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị công ty quản lý quỹ đầu tư Bản Việt (Viet Capital Fund Management-VCFM)

 

Không nhỏ nhoi,nghĩa là đã khôn lớn

Cả trái tim và khối óc trên đầu

Biết yêu thương,và cảm nhận nỗi đau

Trong cõi tạm hay giữa lòng dân tộc

Không nhỏ nhoi, là đau, cùng tiếng khóc

Của người dân chợt mất đất mất nhà

Biết đau thương khi đất, biển, đảo ta

Thành bờ cõi của “láng giềng” xâm lược

Không nhỏ nhoi là : đừng xây sự nghiệp

Bằng hào quang hay bóng cả “phụ hoàng”

Hảy lớn lên cùng vạn kiếp dân oan

Tìm công lý cho ngàn đời đang khổ

Không nhỏ nhoi, là san bằng cách trở

Kẻ vinh thân, người oan khuất lao tù

Mọi người biết khi tại ngoại thiên thu

Nhật tại tù là cội nguồn thù hận

Không nhỏ nhoi, là trái tim mang nặng

Là : Ta đây không sống chỉ cho mình

Phải lớn thôi – Ngày – Là của bình minh

Hãy góp nắng cho huy hoàng dân tộc

 

Hoàng Thanh Trúc

 

.

.

.

GIAN KHỔ LÝ SƠN (Mẹ Nấm)

Tháng Chín 13, 2011

 

GIAN KHỔ LÝ SƠN

Mẹ Nấm

Tue, 09/13/2011 – 05:38 — trandongduc

http://rfavietnam.com/node/785

 

Lời Blog: Lý Sơn là một hòn đảo ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi. Người dân Lý Sơn bao đời đánh cá trên ngư trường truyền thống là Quần Đảo Hoàng Sa. Lý Sơn cũng chính là nơi lưu giữ di chỉ lịch sử rõ ràng nhất của triều đình nhà Nguyễn về Quần Đảo Hoàng Sa, điều mà Trung Quốc chỉ khai khống nhưng không có bằng chứng nào xác định chủ quyền Hoàng Sa tới cấp “trung ương” trong các triều đình phong kiến bên Tàu trước đây. Sau khi quần đảo Hoàng Sa bị mất, người dân vẫn tiếp tục đánh cá trong khu vực Hoàng Sa. Nhưng do chính sách hung hãn của hải quân Trung Quốc gần đây, quyết không cho ngư dân Việt Nam một con đường sinh nhai trên biển. Cuộc sống của ngư dân Lý Sơn bế tắc vô định.

Xin giới thiệu đến độc giả một phóng sự trực tiếp của blogger Mẹ Nấm đã ra tận đảo xa để tìm hiểu về nghịch cảnh của đồng bào Lý Sơn trước thế lực lang sói Trung Quốc đang hăm he ngoài khơi Quảng Ngãi. Xin cám ơn Mẹ Nấm đã cho phép đăng bài viết này trên blog RFA của Trần Đông Đức.

——————————–

 

AI ĐANG BÁM BIỂN CÙNG NGƯ DÂN???

Tôi đến Lý Sơn vào những ngày đầu tháng 9, thời tiết khá đẹp nên chuyến đi biển lần này thật thuận lợi. Cũng như sự thôi thúc tôi gặp nhân chứng Trường Sa trên đảo Gạc Ma 1988 tại khu Du lịch Suối Lương – Đà Nẵng, thì vấn đề ngư dân Lý Sơn đã phải đối mặt những khó khăn khi mưu sinh tại Hoàng Sa, chịu đựng những mất mát và dám vượt qua những thử thách đó cũng thôi thúc tôi đến thăm huyện đảo tiền tiêu này.

 

Từ cảng Sa Kỳ, sau hơn hai giờ đi bằng tàu tàu “cao tốc”, ấn tượng đầu tiên cho lần đặt chân đầu tiên lên huyện đảo này là : Đẹp! Nếu nói kỳ vỹ thì khách sáo, nhưng khó mà cưỡng nổi trước vẻ đẹp của thiên nhiên tại “hòn đảo cá”- “hòn đảo tỏi” của tỉnh Quảng Ngãi hôm nay.

 

Mặt trời lên chưa tới con sào, nhưng Lý Sơn đã nắng chang chang. Phía trong đất liền miền Trung đã có chỗ mưa giông, nhưng ở đây từ đầu Thu đến nay chưa hề một giọt.
Người ta biết Lý Sơn không vì chỉ có cá hay hải sản nói chung, cũng không chỉ vì vào siêu thị nhìn thấy sản phẩm có thương hiệu là tỏi Lý Sơn mà biết đến Lý Sơn, hòn đảo của những huyền thoại giữa đời thường. Những “vua đi biển” và những “sấu đào tẩu”. Từ năm 2007 tôi đã được biết việc Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam khi đi đánh bắt cá ở vùng biển Đông. Và tất cả cũng chỉ qua báo chí. Chưa một lần gặp được nhân chứng hay nạn nhân. Tất nhiên, tôi tin rằng người Tàu đã có những hành vi như vậy. Bởi đơn giản như lúc đó tôi nghĩ, họ là người Tàu.
Gặp gỡ nhiều cư dân trên đảo, được nghe kể những câu chuyện về sự khó nhọc của nghề đi biển. Dẫu văn chương nghệ thuật có bao nhiêu thủ thuật cũng không thể “vẽ” nổi những gì mà ngư dân phải chịu đựng, để lột tả cho người không chứng kiến biết rõ được. Trăm nghe không bằng nửa thấy chứ đừng nói chi đến một.

 

Thử “ngó” qua một chút về nghề đi biển. Ngư dân phải tự sắm sửa, trang bị ngư lưới cụ, phương tiện như tàu, thiết bị dẫn đường, cảnh báo và cả thiết bị chuyên môn như tầm ngư máy phát…Hiện đại hơn, nhưng tất cả là bằng chữ “vay” mà ra. Họ đặt cược tất cả với nghề nghiệp. Sống bám biển và có khi chết cũng trôi về biển. Vâng, gian lao và vất vả để kiếm sống, để đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu làm giàu cho đất nước. Đóng thuế xây dựng quê hương. Con số họ đóng góp cho “GDP” đâu có bé nhỏ chút nào!

 

Nghề đi biển, theo như lời kể và vốn hiểu biết của tôi, ngư dân đem mạng sống của mình ra thử thách với ông trời. Nhưng rồi, có lẽ ông trời cũng thấu. Và chuyện thời tiết thì có thể tránh. Một mối nguy hiểm hơn bất cứ nguy hiểm nào khác luôn rình rập họ, đó là những hành vi của những kẻ mang quốc tịch của nước láng giềng. Người hàng xóm xấu bụng đã mang 16 chữ vàng sang “giao hảo”.
Và cũng theo lời kể của chính những ngư dân Lý Sơn. Việc bị người Tàu bắt giữ, đuổi đánh và cướp hải sản của ngư dân mình xảy ra đã lâu. Trong những năm mà “môi hở răng lạnh” thì chuyện cũng dễ hiểu. Thế nhưng, từ những ngày trao nhau “bốn tốt mười sáu chữ vàng”, chuyện vẫn xảy ra như cơm bữa. Họ – những ngư dân Việt Nam đã xử trí như thế nào?

 

Rời Lý Sơn, tôi quay về cảng Sa Kỳ, để đến thăm gia đình anh Lê Văn Huy – người đã có cuộc tẩu thoát ngoạn mục khỏi Hoàng Sa, trong một lần bị Trung Quốc bắt giữ (*). Trở về Việt Nam, anh phải bán đi con tàu của mình để chi trả cho các khoản chi phí đã bỏ ra cho chuyến đi biển bất thành trước đó, và còn nợ lại ngân hàng khoản vay 30 triệu Việt Nam đồng.

 

Ngư dân bị bắt và đòi tiền chuộc. Bao nhiêu vụ được chính quyền các cấp biết đến? Bao nhiêu vụ họ phải tự xoay xở giữa biển khơi? Thông tin liên lạc bị hạn chế, rồi khó khăn khác chất chồng. Những người bị bắt làm món hàng chuộc sống ra sao?

 

Và rồi, chuyện tưởng chừng như không thể đã xảy ra. Một loại hình “làm ăn” xuất hiện. Môi giới chuộc người bị bắt. Chuyện tưởng đùa, vậy mà có.

 

Bao nhiêu chuyện trớ trêu cứ thế mà xảy ra với bà con ngư dân mình. Rồi các sự kiện xâm phạm trắng trợn chủ quyền biển đảo xảy ra. Đến lúc không thể giấu nhẹm để “thỏa thuận” nữa. Báo chí lề phải đã lên tiếng. Rồi thì các cuộc biểu tình phản đối và đỉnh điểm là chống Trung Quốc của những người yêu nước xảy ra. Nhà nước nói gì?
Nhà cầm quyền khuyến cáo: Những tranh chấp trên biển đã, sẽ đạt được những thỏa thuận nhờ đường lối ngoại giao mềm mỏng và khôn khéo…

 

Ngư dân lấy gì bám biển?
Đóng tàu với chi phí hàng tỷ đồng, mua sắm ngư lưới cụ và các thiết bị hỗ trợ an toàn cũng không thể tính hàng trăm triệu. Thử thống kê xem, có bao nhiêu ngư dân không chịu một khoản nợ vay đầu tư không? Câu trả lời: Không có! Nợ ngân hàng, nợ các tổ chức tín dụng hợp pháp cũng như bất hợp pháp luôn lửng lơ treo trên đầu họ.
Mối hiểm nguy luôn rình rập…

 

Chính sách khuyến ngư với những biện pháp bảo vệ an toàn cho ngư dân có liên quan như thế nào? Ngư dân đi biển, đánh cá với kinh nghiệm và cái nghiệp của gia đình dòng họ. Trên đồng ruộng, có kỹ sư nông nghiệp, chuyên gia trồng trọt hướng dẫn gieo trồng, thu hoạch.Dưới biển có chuyên gia hướng dẫn đánh bắt – “khai thác tài nguyên” không?
Vậy sự bảo đảm an toàn cho ngư dân nằm ở đâu?
Trên tàu đánh bắt có trọng tải lớn, họ được trang bị như thế nào, những gì?
Chống chọi với thiên tai bằng kinh nghiệm. Chống chọi với “nhân tai” bằng gì?

 

Ngư dân Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều mối lo trước mỗi chuyến ra khơi. Ngoài những hiểm nguy bất trắc đến từ thiên nhiên, họ còn phải khai thác trong nỗi lo vì nguy cơ bị Trung Quốc bắt giữ. Phập phồng lo sợ trước những khoản nợ treo trên đầu nếu như bị buộc phải chuộc tàu, chuộc người.. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục chọn con đường bám biển vì đối với bao thế hệ trong một gia đình – biển là hơi thở của cuộc sống của họ. Họ không có sự lựa chọn nào khác, ngoài việc tiếp tục ra khơi mang theo niềm tin vào sự may rủi của số phận mình ngay trên chính ngư trường quê hương.

Ai đang bám biển cùng dân? Câu trả lời xin dành cho các bạn, những người đã đọc và sẽ xem đoạn clip chia sẻ của gia đình ngư dân Lê Văn Huy dưới đây.

 

Bấm : http://www.youtube.com/watch?v=Lu8C-NhNFDM&feature=youtu.be

 

 

 

Mẹ Nấm

trandongduc’s blog

.

.

.

QUAN HỆ QUỐC PHÒNG ẤN ĐỘ – VIỆT NAM BỊ TRUNG QUỐC THÁCH THỨC (Trọng nghĩa, RFI)

Tháng Chín 13, 2011

 

Quan hệ quốc phòng Ấn Độ Việt Nam bị Trung Quốc thách thức

Trọng Nghĩa

Thứ hai 12 Tháng Chín 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110912-quan-he-quoc-phong-an-do-viet-nam-bi-trung-quoc-thach-thuc

 

Quan hệ thân thiện giữa Ấn Độ và Việt Nam đã có từ lâu, và trong thời gian gần đây đã được tăng cường đáng kể trên bình diện quốc phòng. Thế nhưng mới đây, Trung Quốc đã có động thái được cho là nhằm tỏ thái độ bất bình trước đà phát triển đó. Phản ứng quá chừng mực của New Delhi đã bị dư luận Ấn Độ chê trách và nhiều tiếng nói đã vang lên yêu cầu chính quyền phải tích cực hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của Ấn Độ tại Biển Đông.

 

Hành động của Bắc Kinh mà nhiều nhà phân tích cho là công khai « trắc nghiệm phản ứng » của New Delhi cùng với Hà Nội, xảy ra vào hạ tuần tháng Bảy vừa qua, khi một chiến hạm Ấn Độ bị tàu Trung Quốc gọi điện xét hỏi lúc đang di chuyển ngoài khơi Việt Nam, trong khuôn khổ chuyến ghé thăm cảng Việt Nam.

 

Theo nguồn tin chính thức từ phía Ấn, nơi chiếc INS Airavat bị « thăm hỏi » chỉ cách bờ biển Việt Nam có 45 hải lý, nhưng phía Trung Quốc thì lại đòi chiếc tàu Ấn Độ phải giải thích lý do hiện diện trong vùng biển của Trung Quốc.

Sự kiện này xảy ra hạ tuần tháng bảy, nhưng không hề được bất cứ bên nào tiết lộ, Trung Quốc đã đành, mà cả Việt Nam lẫn Ấn Độ cũng vây. Phải chờ đến đầu tháng 9 thì mới bị nhật báo Anh Financial Times tiết lộ. Trung Quốc đã bác bỏ thông tin về sự vụ, cho đấy là điều không đúng sự thật, còn Việt Nam thì hoàn toàn im tiếng, chỉ xác nhận là chiến hạm Ấn Độ thực sự là có ghé cảng Nha Trang và rồi Hải Phòng vào thời điểm ấy.

 

Về phần Ấn Độ, phản ứng khá lúng túng. Theo thông báo chính thức của bộ Ngoại giao, việc chiếc Airavat bị xét hỏi quả là đã xảy ra, nhưng thông qua máy điện đàm, còn trên mặt biển thì không thấy bóng dáng một con tàu nào. Theo các nhà quan sát, sở dĩ chính quyền New Delhi phản ứng chừng mực như vậy, đó là vì họ tránh gây căng thẳng với Bắc Kinh.

 

Tuy nhiên, công luận Ấn Độ đã không hài lòng với phản ứng kể trên. Trong một bài phân tích được báo trên mạng IB Times ngày 09/09 công bố, ông Pankaj Jha một chuyên gia phân tích chiến lược tại New Delhi, đã cho là vụ đối đầu giữa tàu đổ bộ Airavat của Ấn với một chiến hạm Trung Quốc tại vùng Biển Đông chứng tỏ rằng Bắc Kinh muốn “Ấn Độ và Việt Nam giảm bớt quan hệ, hay bang giao với nhau theo ý thích của giới chỉ huy Hải quân Trung Quốc“.

Nhận định về sự cố cuối tháng Bẩy, chuyên gia này ngỏ ý tiếc là trong khi Trung Quốc có ý chí chính trị và phương tiện để khẳng định sự hiện diện của họ ở Ấn Độ Dương, thì bản thân Ấn Độ lại là một cường quốc yếu kém, không có khả năng biểu thị quyền lợi của mình trong vùng Biển Đông, thậm chí cho đến gần đây còn lơ là khu vực.

 

Theo chuyên gia này, Ấn Độ cần quan tâm nhiều hơn đến Biển Đông và vùng Đông Á vì lợi ích chiến lược của mình, trong đó có nhu cầu phải bảo vệ quyền tự do đi lại trên các tuyến hàng hải quốc tế, việc hợp tác chống hải tặc… Ấn Độ cần tranh thủ quan hệ sẵn có với Việt Nam để phát huy vai trò của mình trong khu vực, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hoan nghênh hợp tác quốc phòng với Ấn Độ và đã tăng cường liên hệ song phương trong lãnh vực quân sự.

 

Theo nhận định của tác giả, các chuyến thăm viếng ngày càng gia tăng của tàu hải quân và các đoàn đại biểu cấp cao Ấn Độ đã làm Trung Quốc khó chịu. Thay vì thận trọng như hiện nay vì e ngại phản ứng của Bắc Kinh, chính quyền New Delhi cần phải năng động hơn nữa.

 

Theo Pankaj Jha, hợp tác quốc phòng mạnh mẽ với Việt Nam có thể giúp Ấn Độ đối phó được với các tàu ngầm hạt nhân hay tên lửa đạn đạo của Trung Quốc. An ninh được tăng cường cũng có nghĩa là Trung Quốc sẽ phải suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi đe dọa quân sự hoặc ngoại giao.

 

Trong bối cảnh căng thẳng với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông, Việt Nam rất muốn lôi kéo nhiều đối tác ngoài vùng nhập cuộc. Trong số này, Ấn Độ đang vươn lên thành một bạn đồng hành đáng giá. Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về châu Á và Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) cho rằng với tiềm lực hải quân và trình độ kỹ thuật sẵn có, Ấn Độ có thể là một đối tác rất tốt cho Việt Nam. Về toàn cảnh quan hệ Ấn Độ Việt Nam, ông ghi nhận :

“Quan hệ quốc phòng giữa Ấn Độ và Việt Nam đã có từ lâu, kể từ thời còn Chiến tranh Lạnh. Đó là những mối quan hệ được xây dựng trên nền tảng sự thông cảm của Ấn Đđối với Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh, cũng như trên một thực tế chính trị là cả hai nước đều đã ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô. Việt Nam cũng là một thị trường mới nổi quan trọng đối với Ấn Đ

Gần đây, yếu tố Trung Quốc càng lúc càng hiển hiện mạnh mẽ hơn. Một số nhà phân tích quốc phòng ở New Delhi cho rằng Ấn Độ nên thúc đẩy quan hệ với Việt Nam theo hướng tương tự như mối quan hệ giữa Pakistan – Trung Quốc.

Ấn Đđã theo đuổi một chính sách Hướng Đông (Look East) kể từ đầu những năm 1990, bao hàm cả việc phát triển quan hệ với Việt Nam cũng như Miến Điện. Với tiến tình cải tổ trong nước ngày càng được củng cố thêm, chính sách Hướng Đông của Ấn Độ càng lúc càng mở rộng.

Sự kiện Hải quân Ấn Độ triển khai hoạt động trên Biển Đông trong thời gian gần đây là một hành động ăn miếng trả miếng đối với việc Trung Quốc tăng cường triển khai tại Ấn Độ Dương.

Tóm lại, cao vọng của Ấn Độ muốn trở thành một cường quốc toàn cầu, đã hội tụ với chiều hướng của Việt Nam đang vươn lên thành một tác nhân chiến lược quan trọng trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Một trong những ví dụ là Việt Nam từng ủng hộ việc kết nạp Ấn Độ làm thành viên trong Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Trong bối cảnh cán cân lực lượng giữa quân đội, và nhất là hải quân, của Việt Nam còn thất lợi so với Trung Quốc, theo giáo sư Thayer, hợp tác với New Delhi sẽ giúp cho Hà Nội nâng cao tiềm lực quốc phòng của mình.

Trang thiết bị của quân đội Việt Nam một phần lớn là vũ khí có từ thời Liên Xô cũ và ngày càng tăng thêm với vũ khí do Nga chế tạo. Ấn Độ là nước có kinh nghiệm với cả hai loại thiết bị quân sự này.

Ấn Đđã cung cấp cho Việt Nam một khối lượng rất lớn linh kiện, phụ tùng cho tàu hải quân Việt Nam có từ thời Liên Xô. Ấn Độ cũng đã giúp Việt Nam bảo trì và nâng cấp động cơ đội máy bay phản lực MIG. Ấn Độ cũng là nguồn giúp huấn luyện và đào tạo lý thuyết cho quân đội Việt Nam.

Ấn Độ cũng có khả năng trở thành một nguồn cung cấp trang thiết bị quân sự hiện đại cho Việt Nam như tên lửa hành trình chống chiến hạm. Theo các nguồn tin báo chí, Việt Nam có liên quan đến thị trường hoả tiễn đạn đạo Brahmos do Ấn Độ và Nga cùng chế tạo.

Ấn Độ cũng có thể trợ giúp Việt Nam trong việc phát triển đội tàu ngầm loại Kilo mà Việt Nam sẽ nhận từ Nga trong tương lai. Ấn Đđã tập huấn cho nhân sự trong ngành Hải quân Việt Nam.

Ngược lại thì Ấn Đđã học hỏi kinh nghiệm chuyên môn của Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc trước đây, cũng như kinh nghiệm của Việt Nam trong kỹ thuật dùng lực lượng đặc công chiến đấu trong rừng sâu.

Ngoài ra Ấn Độ cũng có thể trông chờ vào hậu thuẫn chính trị của Việt Nam trên một số hồ sơ ngoại giao quan trọng.

 

So với Hải quân Trung Quốc, Hải quân Việt Nam còn non yếu đã đành, nhưng còn Hải quân Ấn Độ thì sao ? Theo giáo sư Thayer, nếu chỉ tính tới thời điểm hiện nay, về mặt tương quan lực lượng thuần túy thì Hải quân Ấn Độ có phần mạnh hơn Trung Quốc. Thế nhưng, với đà gia tăng ngân sách quân sự hiện nay, trong vòng hai thập niên tới đây, Hải quân Trung Quốc có thể qua mặt Ấn Độ.

 

Trên một số mặt, vào lúc này, Hải quân Ấn Độ hiện đại hơn Hải quân Trung Quốc. Ấn Độ hiện đang điều hành hai hàng không mẫu hạm, và có đội tàu ngầm loại Kilo. Hải quân Ấn Độ thực thụ có khả năng hoạt động trên đại dương xa bờ, điều mà Trung Quốc chưa làm được.

Tuy nhiên, rất khó mà so sánh tiềm lực hải quân của hai nước mà không nói rõ nơi mà hai hạm đội này thể đối chọi với nhau. Trong vùng biển Adaman và Ấn Độ Dương, Ấn Độ ở trong thế mạnh, trong lúc mà Trung Quốc lại phát triển đáng kể lực lượng của họ (tại Biển Đông), đặc biệt là Hạm đội Nam Hải và căn cứ trên đảo Hải Nam.

Lực lượng Hải quân Ấn Độ càng hoạt động xa vùng bờ biển của họ chừng nào thì họ lại càng yếu thế chừng ấy. Nhưng đối với Trung Quốc cũng thế. Hải quân Trung Quốc không thể hoạt động ở nơi xa hơn vùng nằm trong tầm yểm trợ của phi cơ đặt căn cứ trên đất liền.

Thế nhưng trong hai thập kỷ tới, hay lâu hơn một chút, thì cán cân lực lượng hai bên sẽ nghiêng về phiá Trung Quốc.

Hiện nay, Ấn Độ cũng đang ra sức phát triển phương tiện răn đe hạt nhân từ trên biển (tức là chế tạo các loại tên lửa mang đầu đạn hạt nhân bắn đi từ tàu ngầm hay tàu trên mặt nước). New Delhi cũng nỗ lực mở rộng tầm bắn của các dàn hoả tiễn đạn đạo đặt trên bộ, sao cho có thể bao trùm toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc.

 

Hiện nay, Ấn Độ vẫn còn thận trọng, không muốn trực tiếp đối đầu với Trung Quốc, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông. Câu hỏi đặt ra là nếu có yêu cầu từ các đối tác Đông Nam Á như Việt Nam, Indonesia hay Malaysia chẳng hạn, thì liệu New Delhi có mạnh dạn hơn hay không ?

 

Trên vấn đề này, Giáo sư Carl Thayer cho rằng do một số tranh chấp hiện nay với Trung Quốc ở nơi khác, Ấn Độ hoàn toàn có thể dấn thân sau hơn vào khu vực Biển Đông. Thế nhưng vấn đề là liệu các quốc gia ASEAN có dám đi quá trớn so với Trung Quốc hay không.

 

Ấn Độ vẫn còn tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở vùng biên giới hai nước. Trung Quốc cũng hậu thuẫn Pakistan (đối thủ truyền thống của Ấn Độ). Trọng tâm của New Delhi hướng về các yếu tố này.

Ấn Đđã chỉ trích thái độ quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, cũng đã ủng hộ lập trường của Việt Nam, nhưng một cách thật nhẹ nhàng, kín đáo.

Nếu có yêu cầu từ các quốc gia trong vùng, muốn Ấn Độ dấn thân tích cực hơn, Ấn Độ sẽ đáp ứng, đặc biệt là nếu điều này đẩy lùi được ảnh hưởng của Trung Quốc. Thái độ năng nổ hơn của New Delhi đã bắt đầu rồi.

Tuy nhiên các nước Đông Nam Á không tìm cách cô lập hoặc kềm tỏa Trung Quốc, mà chỉ muốn cân bằng thế lực của Bắc Kinh.

.

.

.

Ngoại trưởng Ấn Độ công du Việt Nam với Biển Đông trong chương trình nghị sự

Trọng Nghĩa

Thứ ba 13 Tháng Chín 2011

http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20110913-ngoai-truong-an-do-cong-du-viet-nam-voi-bien-dong-trong-chuong-trinh-nghi-su

 

Theo báo chí Ấn Độ vào hôm nay, 13/09/2011, ngoại trưởng Ấn Độ S. M. Krishna sẽ công du Việt Nam trong 4 ngày kể từ ngày mai 14/09. Khi được hỏi về khả năng hai bên có sẽ thảo luận hay không về vụ tầu Airavat của Ấn bị hải quân Trung Quốc “sách nhiễu” tại Biển Đông, ngoài khơi Việt Nam, các nguồn tin chính thức tại New Delhi xác định rằng hai bên “không loại trừ bất k chủ đề nào”.

 

Ngoại trưởng Ấn Độ đến Hà Nội từ ngày 14/09 đến ngày 17/09, để cùng với đồng nhiệm Việt Nam Phạm Bình Minh chủ trì kỳ họp của Uỷ ban Hỗn hợp Việt – Ấn lần thứ 14. Ngoài ra, chuyến đi này cũng nhằm chuẩn bị cho chuyến công du Ấn Độ của thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào tháng tới.

 

Theo phía Ấn Độ, chương trình nghị sự của cuộc họp khá rộng, và hai bên có thể mở rộng thảo luận ra bất kỳ lãnh vực nào. Theo nhật báo Ấn Độ Times of India, chính quyền New Delhi đã phải xác định như trên, sau khi bị chất vấn là liệu có sẽ cùng thảo luận với phía Hà Nội về vụ tàu Airavat hay không.

 

Xin nhắc lại là “sự cố Airavat” xẩy ra ngày 22/07, khi chiến hạm Ấn Độ bị hải quân Trung Quốc “quấy nhiễu” vào lúc đang trên đường từ Nha Trang ra Hải Phòng trong khuôn khổ một chuyến ghé thăm hữu nghị Việt Nam. Dù di chuyển cách bờ biển Việt Nam chỉ 45 hải lý mà thôi, nhưng chiếc tàu Ấn Độ đã bị hải quân Trung Quốc hạch hỏi là làm gì trong vùng biển thuộc chủ quyền của Bắc Kinh.

 

Hành động của hải quân Trung Quốc đã được nhiều chuyên gia cho là nhắm thách thức cả Việt Nam lẫn Ấn Độ. Phản ứng của Việt Nam trước vụ này bị cho là quá yếu ớt. Ngày 25/08 khi được hỏi về sự cố liên quan đến tàu Airavat bị tàu Trung Quốc khiêu khích ngay tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, phát ngôn viên bộ ngoại giao đã từ chối bình luận, khi cho rằng Việt Nam “Không có thông tin như phóng viên hỏi”.

 

Phản ứng phía Ấn Độ được cho là cứng rắn hơn, khi bộ Ngoại giao nước này khẳng định quyền tự do lưu thông trên các vùng biển quốc tế, kể cả Biển Đông và yêu cầu mọi quốc gia tôn trọng quyền qua lại theo luật pháp quốc tế.

Theo nhật báo Times of India, không chỉ có Ấn Độ là bị Trung Quốc sách nhiễu như trên, mà tàu của các nước như Hoa Kỳ, Malaysia, Việt Nam, Philippines và Brunei đều đã ghi nhận những sự cố tương tự, chứng tỏ rằng Bắc Kinh ngày càng có thái độ quyết đoán hơn trong khu vực.

 

Trong bối cảnh đó, Times of India ghi nhận là Ấn Độ và Việt Nam là đã tăng cường quan hệ quốc phòng và an ninh, với việc New Delhi tham gia đào tạo nhân lực, đồng thời cung cấp cho Việt Nam các loại phụ tùng dùng cho tàu chiến, phi cơ do Nga chế tạo.

 

Kỳ họp của Uỷ ban Hỗn hợp Việt – Ấn lần này được mở ra không đầy một tháng sau cuộc Đối thoại Chiến lược lần thứ 2 và Tham khảo Chính trị lần thứ 5 diễn ra trong hai ngày mùng 8 và mùng 9 tháng 8 tại Hà Nội ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao.

 

Theo nguồn tin từ bộ Ngoại giao Việt Nam, trong các cuộc họp kể trên, hai bên đã đề cập đến nhiều hồ sơ, trong đó có vấn đề hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước, đồng thời cho rằng “cần giải quyết vấn đề Biển Đông bằng những biện pháp hòa bình và trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển UNCLOS 1982”.

.

.

.