Archive for Tháng Chín, 2011

Ý NGHĨA LỊCH SỬ của THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM (Hồ Bạch Thảo)

Tháng Chín 13, 2011

 

 

Ý nghĩa lịch sử của THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM

Hồ Bạch Thảo

Cập nhật : 13/09/2011 13:01

http://www.diendan.org/viet-nam/y-nghia-thu-ngo/

 

 

Ý nghĩa lịch sử của
THƯ NGỎ

GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM

VỀHIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC

 

HồBạch Thảo

 

Ðọc sử Việt Nam, chúng ta không khỏi có những lúc hồi hộp lo âu, vì vận nước hiểm nguy tưởng chừng không có phương cứu vãn; nhưng rồi như có một phép lạ, quân dân ta vùng lên với tinh thần bất khuất, một lòng đoàn kết keo sơn, tạo nên sức mạnh dị thường,đánh tan kẻ thù lớn hơn ta hàng chục lần:

 

Cuối đời nhà Ðinh [980] quân Tống trên đường xâm lăng nước ta. Khi triều đình đang bàn kế hoạch xuất quân, thì Ðại tướng Phạm Cự Lạng cùng các tướng quân mặc áo trận đi thẳng vào nội phủ tuyên bố nội dung vua còn nhỏ, không đủ sức coi việc nước, xin tôn lập Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua. Quân sĩ nhiệt liệt ủng hộ, đồng loạt tung hô “vạn tuế”. Thái hậu nhà Ðinh thấy được chúng tâm hướng về Lê Hoàn, bèn lấy áo Long Cổn khoác lên mình, rồi tôn lên ngôi Hoàng đế hiệu là Lê Ðại Hành. Quyết định của Thái hậu giải quyết được cuộc khủng hoảng chính trị, khiến lòng quân dân nô nức; nên chưa đầy 1 năm sau, quân ta đánh bại quân Tống, chém tướng chỉ huy là Hầu Nhân Bảo, khiến nhà Tống phải giảng hòa.

 

Vào hậu bán thế kỷ thứ 13, quân Mông Cổ sang xâm lăng nước ta. Mông Cổ là đế quốc kiêu hùng vào bậc nhất thời bấy giờ. Dưới vó ngựa trường chinh bách chiến bách thắng, đế quốc Mông Cổ đã chiếm cứ tổng số đất đai lớn hơn cả đế quốc La Mã. Thế lực Mông Cổ so với nước ta bấy giờ, quả thực như trứng chọi với đá! Tuy nhiên vương hầu nhà Trần biết cách đương đầu với kẻ cường địch, bằng cách đề cao truyền thống yêu độc lập, cùng hô hào đoàn kết toàn dân. Sự đoàn kết bắt đầu từ anh em nhà vua, Trần Thái Tông và Trần Liễu; giữa các vương hầu, như Trần Hưng Ðạo và Trần Quang Khải. Rồi rộng ra đến toàn dân, với hội nghị Diên Hồng, các bô lão đồng tâm quyết đánh; hội nghị Bình Than quân đội trên dưới một lòng. Quân sĩ chứng tỏ quyết tâm diệt giặc, khắc hai chữ “sát thát” vào cánh tay. Lòng yêu nước căm thù giặc như sóng triều dâng, lớn mau như Phù Ðổng Thiên Vương, tạo nên sức mạnh dời non lấp bể, ngoài sức tính toán của những đầu óc bình thường. Dồn dập chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Ðằng; giết tướng Toa Ðô, bắt sống Ô Mã Nhi, tổng chỉ huy Trấn nam vương Thoát Hoan hai lần tháo chạy thoát lấy thân; đạo binh bách chiến bách thắng Mông cổ rước lấy hoàn toàn thất bại.

 

Riêng về khởi nghĩa chống quân Minh thì thực gay go, Tiến sĩ Trịnh Vĩnh Thưòng, Giáo sư đại học Ðài Loan, đã làm bản liệt kê với 64 cuộc nổi dậy (1), có nghĩa là 63 cuộc đã bị chìm trong biển máu, chỉ riêng cuộc khởi nghĩa của vua Lê Lợi thành công.

Buổi đầu cuộc kháng Minh, Lê Lợi và các nghĩa binh nếm mật nằm gai, trải qua những ngày tháng cam go thử thách:

Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi huyện quân không một lữ

Càng gian lao tấm gương nghĩa khí càng sáng ngời, đủ làm gương soi cho cả nước. Ngay cả con cháu tôn thất nhà Trần, như Trần Nguyên Hãn, hoặc Nguyễn Trãi, cháu ngoại Tư đồ Trần Nguyên Ðán, cũng đều lặn lội đến xin làm bầy tôi. Lòng dân qui phụ được thể hiện qua việc thanh niên trai tráng tình nguyện chiến đấu dưới cờ; phụ lão, dân quê tụ tập dâng bò rượu, lương thực để ủy lạo quân sĩ (2). Và từ đây thế lực quân ta lớn lên như một phép lạ, với sức tấn công mạnh bạo như chẻ tre, liên tiếp dành chiến thắng này đến chiến thắng khác; đánh tan hai lần viện binh của Vương Thông, Liễu Thăng, Mộc Thạnh; rồi cuối cùng giặc lâm vào cảnh thế cùng lực kiệt, đành phải xin giải hòa để rút quân về nước.

 

Những sử liệu nêu trên là bằng chứng hùng hồn về sức mạnh dân tộc. Sức mạnh chỉ đến được khi nhà cầm quyền biết coi trọng và vun bồi tinh thần yêu nước, cùng ra sức thực hiện đoàn kết toàn dân. Bởi lý do đó nên trong Thư Ngỏ, chúng tôi đã bày tỏ sự ủng hộ bản Tuyên Cáo ngày 25 tháng 6/2011 và Kiến Nghị ngày 10/7/2011 của nhân sĩ trí thức trong nước, cùng đặt vấn đề với chính quyền về trách nhiệm huy động sức mạnh dân tộc và những điều kiện để thực hiệnđược trách nhiệm ấy.

 

Cũng cần nhấn mạnh thêm, sách lược của Trung Quốc đời nối đời,đều chủ trương chia rẽ nước ta. Các triều Minh, Thanh liên tiếp đòi hỏi triều đình nước ta phải duy trì họ Mạc tại Cao Bằng. Một thời nhà Mạc bị đánh chạy sang tỉnh Quảng Tây, thì chính vua Khang Hy sai Khâm sai Lý Tiên Căn đến nước ta [1669] tuyên đọc thánh chỉ mệnh trả lại cho Mạc Nguyên Thanh đất Cao Bằng. Phải đợi đến khi vua nhà Lê có được bằng chứng họ Mạc đã giúp cho phản thần nhà Thanh là Ngô Tam Quế; lợi dụng kẽ hở này, nhà Lê mang quân đánh Mạc, thì nhà Thanh không còn lý do để phản đối. Thời Thanh Càn Long mang quân sang đánh nước ta, vị vua này đã có kế hoạch sau khi chiến thắng, sẽ khôi phục tàn dư Chiêm Thành, rồi giao cho họ đất miền Trung nước ta (3). Cái điều đối phương hằng mong đợi, ta quyết không làm; bởi vậy xét tình hình đất nước hiện tại, việc đoàn kết dân tộc thành một khối là điều bức thiết.

 

Lịch sử bang giao Trung Việt cho biết Trung Quốc nhiều lần lật lọng, tay phải chìa tay ra bắt, thì tay trái lại lấy dao đâm; như việc Minh Thái Tông gửi sắc dụ hứa giao chức quan cho Giản Ðịnh Ðế, thì cùng lúc vị vua này sai Mộc Thạnh mang quân đi đánh dẹp (4). Vậy không thể tin họ và dùng lời nói khéo để kêu xin; điều khả thi là làm tốt nội bộ, diệt tham nhũng, đoàn kết toàn dân, cùng thực hiện điều 2 trong Thư Ngỏ là tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hợp tác với thành viên ASEAN cũng như những nước then chốt khác. Một khi làm tốt những điều nêu trên, thì tự nhiên sẽ gặt hái thắng lợi ngoại giao với Trung Quốc.

 

Thể theo lời cổ nhân “Ôn chuyện xưa để biết chuyện ngày nay”, nội dung Thư Ngỏ phần lớn dựa vào lịch sử Việt Nam, mong được đồng bào trong, ngoài nước đón nhận.

 

Hồ Bạch Thảo

 

Chú thích:

 

1.Trịnh Vĩnh Thường, Chinh chiến dũ khí thủ_ Minh đại Trung Việt nghiên cứu, trang 84, Ðài Loan thị: Quốc Lập Thành Công đại học xuất bản, 1998.

2.Ðại Việt Sử Ký Toàn thư,bản kỷ quyển 13.

3.Thanh Thực Lục, bản dịch của HồBạch Thảo, văn bản số 10.

4.Minh Thực Lục, bản dịch của HồBạch Thảo, văn bản số 272, 275.

 

———————————–

 

BÀI LIÊN QUAN : 

.

Nhân một bài viết của Ông Trần Phong Vũ

Bàn thêm về “Thư Ngỏ” của 36 trí thức hải ngoại

Lê Xuân Khoa   –     Posted by basamnews on 11/09/2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/09/11/ban-them-ve-thu-ngo-cua-36-tri-thuc-hai-ngoai/

.

Vài suy nghĩ rời về “Thư Ngỏ” của nhóm Trí Thức hải ngoại gửi Nhà Nước CSVN

Trần Phong Vũ   –   Posted by basamnews on 12/09/2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/09/12/350-vai-suy-nghi-roi-ve-thu-ngo-cua-nhom-tri-thuc-hai-ngoai-gui-nha-nuoc-csvn/

.

THƯ NGỎ GỬI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO VIỆT NAM VỀ HIỂM HOẠ NGOẠI BANG VÀ SỨC MẠNH DÂN TỘC

Posted by basamnews on 30/08/2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/08/30/thu-ngo-gui-lanh-dao-vn-cua-tri-thuc-hai-ngoai/

 

.

.

.

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4) – Tác giả: Philippe Papin và Laurent Passicousset

Tháng Chín 13, 2011

 

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (4)

Tác giả: Philippe PapinLaurent Passicousset

Người dịch: Hoàng Hà. Hiệu đính: Diệu Linh

Posted by basamnews on 13/09/2011

http://anhbasam.wordpress.com/2011/09/13/354-s%E1%BB%91ng-v%E1%BB%9Bi-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-vi%E1%BB%87t-4/

 

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (3) Tác giả: Philippe Papin và Laurent Passicousset

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/song-voi-nguoi-viet-3-tac-gia-philippe.html

 

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (2) Tác giả: Philippe Papin và Laurent Passicousset

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/song-voi-nguoi-viet-2-tac-gia-philippe.html

 

SỐNG VỚI NGƯỜI VIỆT (1) Tác giả: Philippe Papin và Laurent Passicousset

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2011/09/song-voi-nguoi-viet-1-tac-gia-philippe.html

 

 

CÔNG, TƯ: NHỮNG MÁNH KHÓE LỪA ĐẢO CŨ RÍCH

Sau cơn bão Ketsana, chúng tôi đi tàu hỏa đến Đà Nẵng, thành phố khôn ngoan không để lộ ngay hết nét duyên thầm của mình. Nếu đến bằng đường quốc lộ, dù điểm vào thành phố là ở đâu thì cũng thấy đầy rẫy các loại xe tải và xe chở công ten nơ. Ầm ĩ và bụi bặm. Đâu đâu cũng thấy vận chuyển hàng hóa. Thành phố sống theo nhịp của cảng. Thành Tourane ngày xưa, trở thành căn cứ quân sự Mỹ trong chiến tranh, một thời gian dài sống nhờ vào cảng biển. Mới năm 2010 đây thôi, nhờ một địa điểm đặc biệt nằm lọt trong một vịnh vòng cung ba phần tư khép kín, thành phố thu hút rất nhiều tàu du lịch hạng sang, bổ sung thêm cho lượng khách du lịch đông đảo vẫn đổ xô đến bảo tàng Chàm, thánh địa Mỹ Sơn, Ngũ Hành Sơn và khu thương cảng cổ Hội An. Bãi biển Mỹ Khê tuyệt đẹp, nơi trong chiến tranh lính thủy đánh bộ Mỹ vẫn về nghỉ phép, cũng không hề tỏ ra thờ ơ với khách vãng lai. Tiếc thay, chúng tôi đến Đà Nẵng đâu phải để du lịch, càng không phải để đi tắm biển.
Thăng trầm một gia đình doanh nhân

Chúng tôi đến thăm vợ chồng ông bà Luân-Ngọc, hầu chuyện họ có rất nhiều điều thú vị. Ông bà sống trong một căn nhà nhỏ nơi trung tâm thành phố, giống như ở Hà Nội hay Hải Phòng, những căn nhà như vậy được xây sau năm 1954 trong vườn của những tòa biệt thự mặt phố của thực dân ngày xưa. Cho nên cứ phải đi một vòng mới tìm lại được căn nhà lớn nay đã xuống cấp, nơi 23 người là con cháu của những người chủ xưa hiện nay đang sinh sống. Nhà chủ xưa không phải người Pháp. (Người ta thường hay quên rằng những người Việt giàu có cũng sở hữu các biệt thự kiểu thực dân như thế này). Với 3 tầng gác, ban công chấn song và mái bằng nơi quần áo phơi cạnh bàn thờ tổ tiên, căn nhà của ông bà Luân-Ngọc gần như không có gì đặc biệt, có chăng là ở chỗ ông bà không tận dụng khoảng không gian giữa phố và phòng khách để mở cửa hàng.

Họ có đủ tiền để không cần phải bán đồ ngũ kim, quần áo hay bàn ghế Trung Quốc, nhưng vẫn luôn mở rộng cửa suốt cả ngày, làm việc của mình mà không ngại thiên hạ dòm ngó. Để thế cho thoáng, cho đỡ buồn và cho giống ở quê. Vả lại, trong các khu chung cư hiện đại người ta vẫn sống như thế. Cửa vào các căn hộ được đánh dấu bởi đủ kiểu giày dép các loại nhưng hàng xóm vẫn có thể vào được.

Ngôi nhà của ông bà Luân-Ngọc đang lâm nguy. Từ vài năm nay, số lượng các dự án bất động sản tăng nhanh, làm thay đổi bộ mặt thành phố. Nhà cao tầng thương mại mọc lên trong trung tâm thành phố, chung cư ở ngoại vi, biến Đà Nẵng thành một công trường khổng lồ không lúc nào ngơi nghỉ, mật độ nhà ở không tăng nhưng nhà cổ bị phá đi không thương tiếc. Tuy thế, ông bà bạn chúng tôi không tỏ ra lo lắng mấy.

Ông Luân nhận xét tuy khoảng hơn 20 dự án lớn đã triển khai, phần lớn các khu nhà vẫn còn nằm trong giai đoạn áp phích quảng cáo và những pa nô tuyên truyền về một khu đô thị mới sắp ra đời “giàu, đẹp, văn minh, hiện đại”. Từ thiết kế đến thực tế còn xa. Vả lại, phản đối để mà làm gì? Như ông Luân, con người của vận động và nghị lực phi thường, vẫn nói: “Hướng của lịch sử là như thế. Không thể cứ mãi là một cảng công nghiệp trong suốt hàng thế kỷ được!”.

Người thấp, đậm, khoảng ngoài 60, cực kỳ thân mật, ông Luân không chịu ngồi yên. Từ lúc chúng tôi tới đến giờ khoảng 10 phút, ông đã gọi đến 3 cuộc điện thoại, mời trà, tưới cây và đi 200 mét qua phòng khách, nhà bếp, ra phố, vào phòng ngủ. Năng lượng của người đàn ông này thật không tưởng. Vợ ông giữ kẽ bao nhiêu thì ông lại nói nhiều và hăng bấy nhiêu về tất cả những gì đang vận động và thay đổi. Không gì làm ông chán bằng sự lặp đi lặp lại, thói quen hay truyền thống. Đời sống nghề nghiệp của ông là minh chứng cho khả năng thích nghi vốn làm nên sức mạnh của nhiều người Việt Nam. Sự trải nghiệm của ông ở thời điểm bản lề giữa hai chế độ chính trị cho chúng tôi hiểu thêm về giới kinh doanh và về sự ảnh hưởng của những thói quen năm xưa đến cách làm ngày nay.

Ông Luân cưới vợ năm 1965, khi những người lính Mỹ đầu tiên tới Việt Nam. Lúc đó ông bà là chủ một doanh nghiệp nhỏ chuyên vận tải đường bộ. Họ có 3 xe tải, lấy được từ kho quân đội Pháp, và một nhà kho phía bắc thành phố, không xa ga xe lửa và cảng biển là mấy. Nhờ nguồn cầu lớn từ quân đội chính quyền miền Nam Việt Nam được Mỹ thành lập và tài trợ, doanh nghiệp của ông bà phát triển nhanh chóng. Tham dự tất cả các đợt đấu thầu, hết hợp đồng này đến đặt hàng khác, doanh nghiệp trở thành số một của thành phố, rồi của cả vùng, đến mức mở rộng ra cả Sài Gòn, vốn là đất riêng của giới mafia địa phương và Hoa kiều.

Khi đã có trong tay 4 chiếc xe tải cũ, năm 1967, ông Luân tậu thêm 8 tiếng Ford mới coóng vài năm liền sau này sẽ ngược xuôi trên khắp các tuyến đường phía Nam. Ông thú nhận thời đó ông bà giàu lên trông thấy. Vợ ông ngồi đó và không có vẻ gì là muốn cải chính lời chồng. Tiền vào như nước, tỷ lệ thuận với việc Mỹ ngày càng can dự sâu hơn vào chiến trường miền Nam, và với mức gia tăng nguy hiểm cho các chuyến xe. Chính trị không phải là vấn đề. Như tất cả mọi người, một mặt ông Luân trao phong bì cho các công chức miền Nam, mặt khác ông lại trả thuế cách mạng cho những người thân cộng sản (thậm chí có lần, năm 1972, ông còn vận chuyển nhiều thùng súng máy kalachnikov giấu dưới các bao xi măng).

Khi quân đội miền Bắc chiếm được Đà Nẵng tháng 3 năm 1975, mọi thứ đột nhiên sụp đổ hết. Vì có quan hệ với những người chiến thắng nên ông thoát khỏi tình trạng tồi tệ nhất là phải vào trại cải tạo. Nhưng những quan hệ ấy không đủ để giúp ông giữ việc kinh doanh: từ hôm trước đến hôm sau, doanh nghiệp của ông bị quốc hữu hóa, tài sản bị tịch biên. Ông bà Luân-Ngọc hoàn toàn trắng tay, sống khép mình lại và không dám thử hối lộ các cán bộ chính quyền mới nhằm giữ lại chút gì, có chăng chỉ là ngôi nhà ngày nay ông bà vẫn đang ở. 15 năm sau đó, ông bà sống cũng không cực khổ lắm, vì có mấy cây vàng như tất cả các gia đình Việt Nam thời đó vẫn dùng để bảo quản tài sản ngay trước thời điểm tháng 4/1975. Tuy sống không cực, nhưng ông bà phải rất dè chừng, không để ai thấy mình sống không khổ bằng họ: “Cái xa xỉ nhất lúc đó là ăn thịt gà nhờ người ta mua hộ, mà cắt gà phải cắt bằng kéo chứ nếu chặt bằng dao thì sợ hàng xóm nghe thấy mất, nhỡ họ lại đi tố cáo thì chết”. Đến đây thì chuyện chẳng có gì lạ, vì ai chẳng thế. Phần tiếp theo mới cho chúng ta thấy mọi chuyện ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa diễn ra như thế nào.

 

Đầu tiên là doanh nghiệp của ông bà Luân-Ngọc không biến mất. Nó chính thức được nhập vào sở Giao thông vận tải tỉnh, dưới cái tên bí hiểm “công ty 28”, đặt dưới sự quản lý của cán bộ ủy ban nhân dân thành phố, và họ nhanh chóng hiểu rằng cần phải làm gì để khai thác nó cho hiệu quả nhất. Mấy chiếc Ford được vội vã gắn thêm xi téc vào khung xe để chở xăng từ các kho miền Bắc đến các kho miền Nam. Việc chọn mặt hàng này là đúng sách vì xăng là mặt hàng duy nhất được mua bán tự do, chỉ đơn giản là vì miền Nam quá cần và việc trao đổi trái ngược hẳn với những gì diễn ra ở chợ đen khổng lồ và nhục nhã vẫn chuyển hàng hóa tiêu dùng từ phía Nam ra phía Bắc. Việc làm ăn này của doanh nghiệp vừa kín đáo, hợp pháp lại có lãi, đến nỗi cuối cùng các cán bộ thành phố coi đó là tài sản của mình. Họ lập ra sổ kế toán kép và chia lãi với nhau, sự vi phạm nhỏ này đối với chủ nghĩa xã hội không làm ai thấy phải lăn tăn gì, chẳng qua nó chỉ như một sự đền bù thích đáng cho những thiếu thốn họ đã phải trải qua suốt những năm chiến tranh. Đó chính là sự xuất hiện, ngay năm 1975, của một thực tế sau này sẽ còn kéo dài: tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước ngay trong lòng của nó.

Vài tháng sau, cán bộ đến nhà nhờ ông Luân giúp. Tổ chức các chuyến xe, quản lý các kho nhiên liệu, tìm lái xe giỏi và thợ máy đáng tin cậy: đâu phải tự nhiên mà làm được. Thế là ông lại đi làm. Thời gian đầu là làm tư vấn ở nhà, sau đó ông được mời đến giúp việc cho sở Giao thông, một vị trí thuận lợi để các sếp trên có thể nhờ đến những lời khuyên của ông. Ông không phải công chức, cũng chẳng phải đảng viên, nhưng đã tìm được chỗ đứng trong xã hội mới và nhờ thế mà có cách xóa đi quá khứ doanh nhân tư bản của mình. Về mặt chính thức thì lương ông chỉ ba cọc ba đồng, nhưng thực tế ông kiếm được nhờ việc thỉnh thoảng tham gia chở lậu xà bông, dầu gội đầu, quần áo, ti vi, máy điều hòa Mỹ giấu trong xi téc chở xăng. Ông cựu chủ doanh nghiệp sống lay lắt trong cái doanh nghiệp nửa nhà nước nửa mafia đang đi những bước chập chững đầu tiên này.

Thập niên đầu tiên sau mở cửa, từ 1986 đến 1995, ông bà Luân-Ngọc tận hưởng tối đa sự tiếp tay của các quan chức thành phố, trong đó một số đã trở thành bạn bè. Chính họ đứng ra bảo trợ cho ông vào đảng năm 1994, bất chấp những hoạt động ông đã làm trong chiến tranh và lý lịch có vấn đề của ông (cha ông làm cho bưu điện thời thực dân). Vậy là ông có thẻ đảng, thứ không phải là thực sự thiết yếu nhưng, như ông vẫn nói đùa là “cái mà không có nó thì”.

Về phần mình, bà Ngọc cũng tham gia cuộc chơi. Bà gia nhập hội phụ nữ và hoạt động “nhiệt tình như gái đôi mươi”, theo lời bà. Được bảo vệ trên phương diện chính trị, năm 1996, ông bà thành lập một doanh nghiệp vận tải mới và ngay lập tức liên doanh với “công ty 28” vì chẳng thể khác được, làm ăn với một doanh nghiệp về mặt chính thức vẫn là doanh nghiệp nhà nước thì dễ có lãi hơn nhiều. Phải ghi nhận điều này: doanh nghiệp năm 1996 khác hẳn với doanh nghiệp đã từng hoạt động trong chiến tranh. Không phải là quay lại với cách kinh doanh tự do kiểu cũ mà là một hình thức kinh tế mới, một cách kinh doanh chưa từng có và sự thực là đặc biệt hợp với bối cảnh bấy giờ. Nghe có vẻ trái khoáy. Vào thời điểm mà chủ nghĩa xã hội như vầng trăng đã cũ, các doanh nghiệp nhà nước sa thải hàng loạt, đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào và biên giới được mở ra, những người bạn của chúng tôi lại chọn cách núp bóng Nhà nước. Cách đấy hóa ra lại hay: doanh nghiệp của họ không ngừng ăn nên làm ra trong cả chục năm.

 

1975: Hà Nội gặp thị trường

Đến lúc này, câu chuyện của ông bà Luân-Ngọc đã rất bổ ích vì nó cho thấy cú sốc của sự thống nhất năm 1976, sau suốt 30 năm chiến tranh, thực tế đã phức tạp hơn vẻ ngoài của nó rất nhiều. Về mặt chính trị, chiến thắng áp đảo của chế độ Hà Nội và những người thân cộng sản đã trói buộc miền Nam, nơi dân chúng bị buộc phải lưu vong, giới tinh hoa địa phương bị đi cải tạo, cộng sản trở thành ông chủ và, trong khi bầu không khí nói chung chuyển sang màu đỏ Mạc-Tư-Khoa, kinh tế bị đặt dưới sự kiểm soát của Nhà nước từ nay sẽ lo tuốt mọi việc. Cái khó thấy hơn, ngoài những câu chuyện đời cá nhân, chính là sức mạnh của cú sốc ngược lại.

 

Ở Sài gòn, thành phố phản bội và đồi bại, mà người ta đã vẽ ra cho họ bức tranh khủng khiếp nhất có thể, các anh du kích và bộ đội gốc nông dân mở to đôi mắt ngây ngô trước những quầy đầy hàng họ chưa từng thấy bao giờ. Lang thang trong các chợ ngoài trời, họ phát hiện ra có những con rô bốt làm việc nhà, búp bê nhựa, mỳ ăn liền, máy sưởi, máy lạnh và ti vi màu. 20 năm sau khi chiếm được Hà Nội, ngày 10/10/1954, sự kiện đã làm cha anh của họ bối rối đến mức khi vào dinh thự thực dân phải lịch sự bỏ dép cao su ở ngoài mới dám bước lên thảm trải sàn, sự sửng sốt lần này quả là kinh khủng. Sài Gòn đầy những người khốn khổ, nghiện ngập, đĩ điếm, nhưng cũng có những thứ giúp sống tốt hơn và làm dịu đi nỗi đau của cuộc chiến tranh tàn bạo nhất. Đó không chỉ là một chiến lợi phẩm: miền Nam có tất cả, miền Bắc chẳng có gì, họ nghĩ rằng đó là vì miền Bắc đã làm sai. Ý tưởng về sự thay đổi bắt đầu. Nền kinh tế tự do của miền Nam, được minh họa bởi sự giàu có mà người Mỹ bỏ lại, gieo vào đầu người ta ý tưởng rằng có thể có một cách làm khác. Sự li dị với chủ nghĩa xã hội, hay nói đúng hơn là vụ xung đột gia đình đầu tiên diễn ra tại đây, ngay thời điểm chiến thắng vẻ vang.

Trong khi chờ đợi, luồng khí được tạo ra giữa sự trống rỗng của miền Bắc và sự thừa mứa của miền Nam đã làm đảo lộn mọi thông lệ. Giao thương được phép và buôn lậu dần xói mòn cấu trúc đẹp đẽ của chủ nghĩa xã hội. Dân thường nhảy bước ngắn, cán bộ nhảy bước dài, một hệ thống trao đổi khổng lồ chuyển ra Bắc nào thuốc, tủ lạnh, đài, máy lạnh và xe đạp, và chở vô Nam nào xăng, đồng và ni ken. Dễ hiểu tại sao ở Đà Nẵng, bản lề của đất nước, cán bộ thành phố không mất mấy thời gian chần chừ để lấy lại doanh nghiệp của ông bà Luân-Ngọc. Để có thể có một cái nhìn chính xác về Việt Nam ngày nay, cần phải hiểu rằng năm 1975 đã làm đảo lộn cả hệ thống, về ngắn hạn là tạo ra những thị trường song song, về dài hạn là làm lung lay lòng tin chắc chắn vào chủ nghĩa tập thể.

Thế mà, khác với vẻ bên ngoài, tác động của cú đánh kép này còn tăng lên trong những năm sau. Về mặt ý thức hệ, việc cắt đứt quan hệ với Trung Quốc và bước vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô cho phép Việt Nam thoát khỏi Mao và lâu lâu sau đó là Stalin. Về mặt thực tiễn, việc hội nhập kinh tế với các nước anh em được thể hiện qua sự mở cửa đón chào những kinh nghiệm khác (Hung-ga-ri hay Tiệp khắc), qua những trao đổi hàng hóa trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế Comecon, và một cách rất cụ thể là qua việc gửi hàng ngàn công nhân Việt Nam ra nước ngoài. Khi hết hợp đồng, những người này mang về nước những công ten nơ đầy bàn ghế tủ giường, linh kiện cơ khí, đồ gia dụng và dụng cụ bằng sắt tây, tất cả đều để bán lại, được hợp pháp hóa bởi một con dấu chả mấy khi vô tư. Tủ lạnh Saratov và xe máy Babetta, với một núi bàn là và thùng đá, bổ sung cho nguồn dự trữ Sài Gòn. Còn siêu hơn nữa: người ta đã tìm cách bán lại được sang các nước Đông Âu số son môi và đồng hồ mà người Mỹ đã bỏ lại. Anh Nguyễn Văn Bình, công nhân về hưu trước làm cho mỏ than ven vịnh Hạ Long kể chúng tôi nghe anh đã bán được sang tận vùng Silesie của Ba Lan cả một va li đầy đồng hồ và nước hoa made in USA mà trước đó anh đã rắp tâm mua bằng được ở Hà Nội. Tiền lời anh chuyển ngay thành 25 chiếc quạt Liên xô (gọi là quạt tai voi) và 100 chậu sắt tây to đùng sau đó mang về Việt Nam nấu chảy ra để sản xuất những xô chậu bé hơn cho dễ bán…

Vào thời ấy, chợ đen, hay nói đúng hơn là chợ xám, trở thành chuẩn mực. Cán bộ công chức tất nhiên là những người hưởng đầu tiên nhưng do mối quan hệ gia đình dây mơ rễ má nên tất cả mọi người đều chịu ảnh hưởng, kể cả nông dân. Phần kiếm thêm nhờ chợ đen là nguồn thu nhập chủ yếu, hơi giống như có mảnh đất riêng ở quê, bởi vì không phải ai cũng may mắn như ông bà Luân-Ngọc có của để dành để mà làm cho nó sinh lời. Chính nhờ buôn lậu mà dân chúng sống sót qua được giai đoạn 1975-1990 mà lẽ ra trên nhiều phương diện đã có thể là một thảm họa (thảm họa thật sự năm 1988, với nạn đói chết người ở nhiều nơi). Chúng ta thử nghĩ xem vào thời gian đó, khi mà tư thương bị chính thức cấm đoán, các quầy hàng Nhà nước vẫn được lén lút đem cho tư nhân thuê, mà người đem cho thuê lại chính là người nhà các quan chức quản lý chúng.

Đó chính là trường hợp của đại siêu thị xã hội chủ nghĩa trên phố Tràng Tiền, Hà Nội, nơi có không khí đúng như kiểu Bắc Triều Tiên (đèn đóm tù mù, thiếu hàng thường xuyên, mậu dịch viên đanh đá) nhưng về mặt tài chính đã ít chính thống hơn. Thời nay vẫn còn sót lại đôi chút hơi hướng thời đó khi nhân viên bưu điện hay hỏa xa lúc thối lại tiền thừa cho khách cứ phải lục mãi trong ví mình.

 

Chính trị thì không đi nhanh đến thế. Dù chính quyền để yên cho làm – mà đôi khi cũng lồng lên tí chút – chính quyền không chịu công nhận thời thế nay đã khác. Về mặt chính thức, không gì được phép cả. Tại sao? Ngoài sức ỳ quan liêu, lý do chính là tình hình quan hệ quốc tế thời bấy giờ. Việc Khmer đỏ tay sai của Bắc Kinh xâm lược Cam pu chia (1978) rồi cuộc chiến với Trung Quốc sau đó (bắt đầu tháng 2-3/1979 và còn dây dưa mãi đến 1989) làm cho về mặt chính trị là không thể bắt chước cải cách kinh tế mà đích thân Đặng Tiểu Bình khởi xướng vào chính thời điểm đó (đại hội XI Đảng cộng sản Trung Quốc, tháng 12/1978). Không lấy kẻ thù làm hình mẫu được. Hình mẫu Trung Quốc trước đây được ca ngợi hết lời nay không còn hợp thời nữa. Cho nên có thể nói căng thẳng với Trung Quốc làm chậm lại không phải bản thân sự thay đổi mà là việc hợp thức hóa sự thay đổi ấy. Việt Nam mở cửa, qua miền Nam và khối các nước Đông Âu, nhưng chiến lược của nước này trong phe xã hội chủ nghĩa là thân Xô ghét Trung đã không cho phép Việt Nam nói ra điều đó. Cải cách chỉ đến 10-15 năm sau đó, chính thức là năm 1986, trên thực tế là năm 1992. Sự chênh lệch này chính là nguyên nhân của tình hình 2010.

 

Trong suốt gần hai thập niên, tự do hóa được dung thứ nhưng không được công nhận, không có một khuôn khổ pháp luật và chính trị chung có thể cho phép nó vươn tới những cơ cấu hợp pháp của nền kinh tế, ví dụ như công nghiệp, ngân hàng, ngoại thương hay quản trị doanh nghiệp nhà nước, như ở Trung Quốc. Tác động kéo theo các lĩnh vực khác coi như bằng không. Buôn bán nhỏ giúp dân sống được qua ngày, nhưng không có tác dụng gì tích cực lên sự vận hành của các thể chế Nhà nước. Không nắm được tình hình đang thay đổi, các thể chế này vẫn tiếp tục vận hành theo lối cũ. Nếp hằn ấy sâu đến nỗi bây giờ vẫn còn. Ví dụ, mặc cho kinh tế biến chuyển nhanh chóng, khủng hoảng ngân hàng, đầu tư nước ngoài giảm sút và lạm phát tăng trở lại năm 2008, một vài bộ vẫn hoạt động theo kiểu kế hoạch hóa và thi đua xã hội chủ nghĩa, y như ngày xưa, dựng lên những bảng biểu thống kê để mà đưa ra những kết quả dự đoán phải đạt được, mà chẳng thèm đếm xỉa tới bối cảnh thực tế hay những kết quả thực tế đã đạt. Con số, kế hoạch, chỉ tiêu vẫn là những giá trị cơ bản. Từ đó đến phủ nhận thực tế không còn xa. Khi tháng 9/2008, Thủ tướng công bố lạm phát đã được kiềm chế ở mức 1,6%, như dự đoán, không một người Việt Nam nào không biết trên thực tế nó đã ở mức 25%, thậm chí 40% đối với lương thực thực phẩm.

 

Trong khi chờ đợi, giữa 1975 và 1992, vì không thể cải tổ thể chế, hoạt động tư nhân vẫn tiếp tục phát triển, nhưng không có sự thay đổi về bản chất cũng như về quy mô: bơi giữa dòng nước đục và kiếm chác trên chợ đen, như ngày xưa. Cái lẽ ra chỉ là tạm thời, là một đòn bẩy cho sự phát triển lại trở thành quy tắc. Vì thế nếu muốn tồn tại, chỉ còn cách là lại cậy nhờ đến quen thân. Làm sao khác được? Nếu không có gì được cho phép thì có nghĩa là làm gì cũng được. Ông bà Luân-Ngọc nói đã giàu lên được mà không thấy áy náy gì nhờ chi phong bì để kiếm hợp đồng, nhậu nhẹt với ủy ban nhân dân và trốn thuế. Từ việc kinh doanh xăng dầu, doanh nghiệp vận tải của ông bà, canh ty với quan chức địa phương, chuyển sang buôn đủ loại: vài năm sau khi chuyển hàng từ Sài Gòn ra Bắc, doanh nghiệp quay sang vận chuyển những thùng đồ mà hải quân Liên Xô đã “bỏ quên” tại các bến cảng Đà Nẵng và Cam Ranh (vải và gạo đổi lấy đồng hồ Boctok và vodka Smirnoff). Cũng giống như doanh nghiệp của ông bà, toàn bộ khối tư nhân chuyển sang lén lút, lách luật và hối lộ.

 

Khi cuối cùng đã đến thời điểm mở cửa chính thức, những thói quen xấu này đã trở nên vô cùng tệ hại. Các khái niệm như đối tác, hợp đồng, tôn trọng cam kết xa lạ đến nỗi việc hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài là vô cùng phức tạp. Nếu có thể lách là lách ngay. Nhân công không phải lúc nào cũng được khai đầy đủ; có hai sổ kế toán (một sổ thật và một sổ dởm); thuế hàng năm nộp trao tay và hóa đơn tiền điện có thể đàm phán. Trong giới làm ăn, theo như một vài tạp chí quốc tế đánh giá thì uy tín của Việt Nam ở vị trí thấp chưa từng có. Nhớ lại một số tạp chí Kinh tế viễn đông khi đánh giá môi trường kinh doanh đã xếp Việt Nam hạng bét châu Á trong hầu hết các lĩnh vực (số báo này có thể tìm thấy ở Việt Nam, nhưng bị kiểm duyệt dùng bút dạ đen gạch hết những chỗ nhạy cảm). Tóm lại, đến thời điểm thuận lợi, khối tư nhân vốn đã chìm đắm trong thói quen lén lút và phi pháp, trước đây là những cách làm duy nhất có thể làm được và có thể sinh lời, nay hoàn toàn không đủ tầm với thời cuộc. Không có doanh nghiệp địa phương nào có khả năng giúp doanh nghiệp nước ngoài triển khai các dự án kinh tế lớn. Chính quyền quá đỗi ngạc nhiên, họ vẫn tưởng mở cửa là để doanh nghiệp tư nhân phải bì bõm trong sự không chính thức và để tăng cường vai trò của Nhà nước và quan chức Nhà nước.

 

1986: muốn cứu chế độ, hãy cứu Nhà nước!

Việt Nam, đất nước vốn sống nhờ viện trợ Liên Xô, hoàn toàn bất ổn trước perestroika. Tự nhiên 1/5 thu nhập quốc gia bay mất tiêu, thị trường chắc chắn bên các nước anh em (70% giá trị xuất khẩu và 85% giá trị nhập khẩu), sự gia hạn nợ của những năm chiến tranh mà Liên Xô dành cho cũng mất luôn. Đất nước mất khả năng đảm bảo những chi trả hàng ngày, chưa nói đến những khoản chi bất thường do sự kiện 1979 gây ra (lưu 200 ngàn quân ở Cam pu chia, 400 ngàn quân ở biên giới Trung Hoa, Mỹ cấm vận, quốc tế ngừng viện trợ). Nhà nước cạn vốn, đành phải in thêm tiền và tiến hành một cuộc cải cách tiền tệ tai hại. Năm 1986, lạm phát đạt 480% (1000% năm 1988, năm có người chết đói), các sản phẩm cơ bản phải mua theo tem phiếu.

Chế độ đành phải mở cửa để tự cứu mình, chứ không phải vì đó là một sự lựa chọn có cân nhắc. Và họ làm điều này cẩn trọng, từ từ, với vô số biện pháp đề phòng, chỉ đơn giản là để tránh xảy ra trường hợp mọi việc diễn biến theo kiểu Nga. Do phá sản kinh tế mà ra, nhưng mở cửa vẫn được coi như một chiến lược chính trị. Lúc đầu là để thay thế tiền của Liên Xô bằng tiền của các doanh nghiệp nước ngoài, của Việt kiều và các nhà tài trợ quốc tế, sau đó là để tận dụng thời cơ mà nắm lấy khu vực kinh tế thực sự vốn lâu nay bị lấp trong sự lén lút khiến cho chính quyền không thể kiểm soát 15 năm nay. Cách tính này tốt, với điều kiện là nối thẳng nguồn vốn nước ngoài tới các cơ quan Nhà nước: mọi việc diễn ra đúng như thế, với trò cấp phép đầu tư và vai trò cực lớn của bộ Kế hoạch đầu tư lúc đó trở thành một dạng bộ tài chính đứng ra chia lộc. Hệ thống ấy vận hành suốt 20 năm. Đến năm 2010, tiền nước ngoài vẫn còn chiếm 1/3 tài sản quốc gia.

 

Sự chậm trễ này so với Trung Quốc cuối cùng cũng bắt Hà Nội phải trả giá đắt. Ở bên đó, ngay từ đầu những năm 1980, cải cách kinh tế đã buộc các doanh nghiệp nhà nước phải có trách nhiệm hơn, sử dụng hợp đồng lao động thay vì chế độ làm việc đến hết đời, và nhất là, tinh giảm biên chế triệt để. Do số lao động liên quan chiếm đến 20% tổng số lao động, chương trình cải cách đã vấp phải những sự kháng cự đông người, từ rất sớm, bạo lực và kéo dài. Sự phản đối của công nhân khối quốc doanh đã khơi mào cho sự kiện Thiên An Môn 1989, rồi đến các vụ đình công lớn ở tỉnh Tứ xuyên 8 năm sau. Vậy là Trung Quốc tinh giảm biên chế, nhưng vô cùng khó khăn.

 

Việt Nam cũng triển khai như thế, bằng cách xóa bỏ một nửa số doanh nghiệp nhà nước, nhưng sau Trung Quốc 10 năm, làm ngay một lúc nhưng dễ dàng hơn vì cả ngành công nghiệp Nhà nước chỉ chiếm 5% số tài sản quốc gia và 2% số công nhân. Sự khác biệt trong cách tiến hành và nhịp độ tiến hành cải cách thay đổi tất cả. Ở Trung Quốc, trong khi các doanh nghiệp quốc doanh sa thải khó khăn và mất thời gian giải quyết xung đột và trì trệ, khối doanh nghiệp tư nhân đã kịp tận dụng thời cơ để lột xác: trở nên nhẹ nhõm hơn, trang bị tốt hơn, hiện đại hơn, hướng về xuất khẩu để đối phó với việc sản xuất thừa mứa, và thắng khu vực Nhà nước nay đã hoàn toàn không thể cạnh tranh nổi. Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân không có may mắn đó (hay là các doanh nghiệp Nhà nước không bị cái hạn đó). Khối tư nhân đã không biết cách tận dụng thời cơ doanh nghiệp quốc doanh chậm tinh giảm bộ máy, và cũng không lao ngay vào cuộc cạnh tranh vì bản thân họ cũng chẳng có gì để bán.

 

Sự tự do hóa kinh tế, nói chữ là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vì thế đã gây ra những hậu quả hoàn toàn trái ngược. Ở Trung Quốc, từ 1978 đến 2000, phần đóng góp của Nhà nước trong GDP đã giảm từ 1/3 xuống còn 1/10, buộc chính phủ, với sự hỗ trợ của phái “tân tả”, phải can thiệp để đưa con số này lên 20% (mục tiêu đã đạt được năm 2007). Giới lãnh đạo Việt Nam không gặp phải vấn đề này. Phần của Nhà nước đã tăng, từ 1/3 lên đến ½ GDP, rồi ổn định ở mức 40%, gấp đôi so với Trung Quốc. Đứng trên phương diện này, việc mở cửa đã thành công. Khối quốc doanh, đặt cược sự sống còn của mình, trong vòng 10 năm đã trở thành động lực của nền kinh tế và là nhân tố chủ đạo.

Bối cảnh này lý giải tại sao, cũng trong năm 1996, ông bà Luân-Ngọc thấy nên có quan hệ đối tác với một doanh nghiệp Nhà nước liên quan đến ủy ban nhân dân thành phố. Họ làm như thế vì không thể phát triển mà không núp bóng Nhà nước và có sự trợ giúp của công chức Nhà nước. Bà Ngọc cho biết: “Trước khi mở cửa, ông Luân đã làm cho “công ty 28”, công ty trước năm 1975 còn thuộc về chúng tôi. Sau khi mở cửa thì có gì khác? Lúc đầu là không có gì, phải mất 10 năm chúng tôi mới lại lập thêm được một công ty mới. Sau đó kiếm tiền có khá hơn, nhưng điều kiện kinh doanh và khách hàng vẫn thế. Trừ một hợp đồng công ten nơ béo bở mà chúng tôi tự kiếm được với một công ty nước ngoài, thì vẫn là việc vận tải cho tỉnh và các thành phố lớn, thông qua các doanh nghiệp quốc doanh, tức là việc làm thuê cho Nhà nước, đi kèm với đó là móc nối, là hoa hồng. Nếu không có quan hệ với ủy ban nhân dân thì doanh nghiệp đã phải đóng cửa rồi. Mà quan hệ chính là cái “công ty 28” ấy. Chúng tôi làm hết, nhưng họ ký: thế là đáng một nửa số lãi của chúng tôi rồi.”

 

Công-Tư: tù mù

Hệ thống không thay đổi. Ở Việt Nam, sáng kiến cá nhân thì có nhưng muốn thành công thì phải vào trong khuôn khổ Nhà nước. Một nhúm các doanh nghiệp quốc doanh lớn, do nhóm đặc quyền đặc lợi trong đảng lãnh đạo, thực sự nắm độc quyền nhiều lĩnh vực kinh tế. Xây dựng và các công trình công cộng nằm trong tay khoảng 5-6 công ty, trong đó có 2 công ty bao trùm đấu thầu lần nào cũng thắng. Nói rằng chỉ có mỗi họ là đủ tầm và tiềm lực kinh tế để tiến hành dự án là đúng nhưng không đủ: họ lớn thế chính là bởi họ được đặc quyền đặc lợi. Nhà nước cấp lại cho họ, dưới dạng hợp đồng, một phần tiền mình nhận được qua viện trợ quốc tế hay vay lãi xuất thấp. Vòng tròn khép kín từ Nhà nước đến doanh nghiệp quốc doanh này làm họ mạnh lên ngay trước thời điểm tư nhân hóa hàng loạt. Trong khi chờ đợi, chẳng gặp nguy hiểm cũng như khó khăn gì, họ đóng góp 45% giá trị sản xuất công nghiệp (tư nhân: 32%), hơn 1/3 GDP, chiếm một nửa số đầu tư và tín dụng mà ¾ số tín dụng này nằm trong tay của 4 ngân hàng Nhà nước. Các doanh nghiệp tư nhân không có cách nào lọt vào được vòng quay này. Hoặc chỉ có một số trước đây vốn là doanh nghiệp Nhà nước bị tư nhân hóa, nay nhờ các mối quan hệ cánh hẩu mà thỉnh thoảng được chia cho suất thầu phụ hay được hưởng tí nước từ vòi tín dụng chảy ra.

 

Trong cái vẫn gọi là khối doanh nghiệp tư nhân, cần phân biệt rõ 3 loại kinh doanh: doanh nghiệp gia đình giỏi lắm là kiếm được hợp đồng thầu phụ; các công ty, lớn hay nhỏ, phần nhiều trong đó trước là công ty Nhà nước được tư nhân hóa 80/100 và sống nhờ hợp đồng Nhà nước; và cuối cùng là khoảng 100 tập đoàn lớn của Nhà nước chiếm độc quyền trong các lĩnh vực sinh lợi và tiến hành chính sách đa dạng hóa đủ loại, tùy theo cơ hội.

 

Doanh nghiệp đã tư nhân hóa và các tập đoàn khổng lồ của Nhà nước có gắn kết với tầng lớp lãnh đạo, hay nói cho đúng hơn là với gia đình của lãnh đạo. Quỹ đầu tư VietCapital thuộc về Nguyễn Thanh Phương, ái nữ của Thủ tướng, có bằng master ở Đại học tổng hợp Genève, và lấy chồng là doanh nhân Mỹ gốc Việt. Anh trai Nguyễn Thanh Nghị là một doanh nhân lớn nắm phần lớn cổ phần trong công ty bất động sản cao cấp Bitexco. Trong lĩnh vực bất động sản còn có con gái một phó Thủ tướng và phu nhân của một vị lãnh đạo cao cấp trong đảng. Tập đoàn khổng lồ về viễn thông FPT được đặt dưới sự lãnh đạo của cựu con rể đại tướng Võ Nguyên Giáp, người chiến thắng ở Điện Biên Phủ; và công ty Galaxy (điện ảnh, nhà hàng Tây phương, truyền thông) được điều hành bởi con gái một cựu bộ trưởng Ngoại giao. Cũng trong lĩnh vực này, có thể kể ra cả vị con rể ông Đỗ Mười (cựu Tổng bí thư), con trai ông Phan Văn Khải (cựu Thủ tướng) và tướng Nguyễn Chí Vịnh (con trai ông Nguyễn Chí Thanh, người đã tham gia thành lập quân đội nhân dân).

 

Ở cấp thấp hơn, người ta biết rằng các vụ trưởng thuộc bộ Xây dựng vị nào cũng có doanh nghiệp riêng đủ mạnh để có được các hợp đồng Nhà nước. Một số trong các doanh nghiệp này còn đóng trụ sở ngay tại bộ (có hơn 200 công ty xây dựng đặt dưới sự chủ quản của bộ này đã được chuyển thành công ty cổ phần, ai chả đoán được là có lợi cho ai). Ưu tiên, nhượng bộ, thậm chí là cả độc quyền là những yếu tố đảm bảo thành công cho những doanh nghiệp này. Nhưng đó chỉ là phần dễ thấy của một hệ thống được thu nhỏ, nhưng vẫn y nguyên, ở các tầng thấp hơn của chính quyền, cụ thể là ở các ủy ban nhân dân, tỉnh uỷ và thành uỷ. Ở đây chúng tôi ít thông tin hơn nhiều, vì vốn của các doanh nghiệp cổ phần hóa được chia cho các cổ đông mà chúng tôi không nắm được hết. Tuy nhiên, điều này minh họa cho một thực tế là giới tinh hoa chính trị theo kiểu xưa đang dần trở thành tinh hoa kinh tế xã hội của nước Việt Nam ngày mai. Trong khi chờ có bằng chứng, chúng ta vẫn có thể tiến hành điều tra hiện trường và lắng nghe những lời tâm sự.

 

Nhiều, thậm chí có thể nói là đa số các doanh nghiệp vừa và lớn của tư nhân đều do cán bộ, công chức đương quyền bí mật nắm giữ thông qua vợ, hoặc người thân của họ, điều này xảy ra ở khắp mọi cấp chính quyền. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng cần như vậy. Rất nhiều công ty chính thức thuộc về các cựu quan chức (Đảng và Nhà nước) hay cựu nhân viên doanh nghiệp Nhà nước: theo một điều tra của Malesky và Taussig (đăng năm 2008 trên Journal of Law, Economics and Organization), số này chiếm 1/3 số doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cho nên phải thận trọng khi nói tới “khu vực tư nhân” ở Việt Nam.

 

Nói về “khu vực Nhà nước” cũng cần đề phòng y như vậy. Những doanh nghiệp chúng tôi vừa đề cập trên đây, thường là ăn nên làm ra và ít bị cạnh tranh, có cách ứng xử không khác gì doanh nghiệp tư nhân. Lương của lãnh đạo, cách làm việc, cách phân chia lợi nhuận không có gì giống với nhận định của chúng tôi về một doanh nghiệp Nhà nước cả. Các quan chức cao cấp thích lợi nhuận có thể làm ăn một cách thuận lợi nhất ngay trong lòng Nhà nước. Việc biến đổi các doanh nghiệp Nhà nước không phải là một điều xấu về mặt bản chất. Tuy thế điều đó không hẳn là điều kiện để có dịch vụ tốt hơn. Giống như trường hợp một ngân hàng Nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh, về mặt lý thuyết thì phải dành cho việc cải tạo nhà ở cho vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, nhưng trên thực tế thì không chăm lo gì việc này mà lại đi đầu tư chứng khoán, tín dụng và những thứ khác sinh lời nhanh hơn. Trong lĩnh vực bất động sản thì ta còn thấy rõ hơn: rất ít nỗ lực được bỏ ra cho những chỗ không mang lại lợi lộc gì, ví dụ như việc cấp nước, về mặt cơ cấu đương nhiên là lỗ bởi việc thu phí là do Nhà nước quyết định, hay việc xây vỉa hè.

 

Cho nên, hệ thống kinh tế hiện nay dựa trên một nghịch lý: khu vực tư nhân có dây dưa đến khu vực Nhà nước, trong khi khu vực Nhà nước lại hành xử như tư nhân. Tất cả những cái đó dẫn đến sự tù mù về tư cách. Đâu là tư? Đâu là công? Chia chác ở đâu? Như thế nào? Người ta cứ cố sức gắn cái mác pháp lý chung chung cho một thực tế vốn phức tạp hơn rất nhiều. Nguyên nhân là do cách đánh giá của phương Tây, nhất là của các tổ chức lớn, khi so sánh các quốc gia với nhau, chỉ chăm chăm soi vào mỗi tư cách pháp lý và dựa theo cách phân loại thống kê mà họ tự hào coi là có giá trị phổ quát của họ. Một yếu tố khác là do chiến lược của chính quyền muốn giữ sự tù mù để không ai biết được bản chất hoạt động của nó là gì.

 

Ở trong nước, qua báo chí, ta thấy nước Việt Nam chính thống tự khen đã tăng cường được kinh tế Nhà nước, nền kinh tế thuộc về nhân dân, nghĩa là đất nước vẫn là nước xã hội chủ nghĩa và rằng nền kinh tế Nhà nước không ngừng gia tăng đóng góp vào kinh tế quốc dân, điều này đúng; nhưng khi nói chuyện với các tổ chức quốc tế vốn chỉ thích nghe những lập luận mang tính tự do kinh tế, chính quyền lại nhắc đi nhắc lại rằng số doanh nghiệp Nhà nước đã giảm đi và cùng lúc đó, số doanh nghiệp tư nhân tăng lên, điều này cũng không sai. Trong cả hai trường hợp, chính quyền chơi với các con số và tính đa nghĩa của khái niệm Nhà nước (ở Việt Nam cũng như ở nơi khác). Sự lẫn lộn này phục vụ những lợi ích rất cụ thể. Nếu những vụ kinh doanh nhỏ của tư nhân chỉ tồn tại được nhờ vào các cấu trúc của Nhà nước và các công chức, nếu những tập đoàn lớn của Nhà nước được bí mật tư nhân hóa làm lợi cho chính những người đó, thì người ta có thể thắc mắc cuối cùng ai là người được hưởng lợi nhất từ sự tăng trưởng 20 năm nay, và đang tiếp tục được hưởng lợi.

 

Một giai đoạn mới sắp được vượt qua: Công không chỉ đang hành xử như Tư, mà là sắp trở thành Tư. Thực vậy, phần lớn các thành phố và ủy ban nhân dân tỉnh đang là sân khấu của một trò ảo thuật siêu đẳng được diễn trong ba hồi. Đầu tiên, các lĩnh vực của doanh nghiệp công được nhóm lại, cho phép phân chia rõ ra một bên là những hoạt động không bao giờ sinh lời, một bên là những hoạt động có thể sinh lời. Tiếp theo, nhóm các doanh nghiệp có khả năng sinh lời được tách ra thành các doanh nghiệp độc lập, vẫn trực thuộc Nhà nước nhưng có nhiều quyền tự chủ hơn nhờ tư cách “công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên” (thành viên ấy chính là Nhà nước). Cuối cùng, nguồn vốn của các công ty trách nhiệm hữu hạn này được mở ra cho các đối tác bên ngoài dưới hình thức phân chia theo cổ phần. Tài sản công bị tư nhân hóa lúc nào không hay. Ai cũng có thể đoán được việc này có lợi nhất cho những tên bịp ở vị trí tốt để nắm giữ cổ phần. Tiến trình ấy đang diễn ra. Ở đâu cũng thế. Chỉ có nhịp độ là khác nhau giữa địa phương này với địa phương khác, vì nó phụ thuộc vào đặc điểm hệ thống chính trị địa phương (nội bộ lãnh đạo phải hiệp thương bàn bạc) và tình hình phát triển (tư nhân hóa chỉ có lợi khi có khách hàng tương lai có khả năng chi trả). Lối sống ăn mồi của doanh nghiệp công ở địa phương là bộ mặt hợp pháp và kín đáo của cả một sự vận động nhằm chiếm lấy tài sản công của tầng lớp cán bộ, công chức. Nó khó được nhận diện hơn là việc biển thủ công quỹ hay mua đất phi pháp, đuổi nông dân khỏi đất của họ hay chiếm nhà công vụ. Tuy nhiên, đó chính là dấu hiệu rõ nhất của hướng đi mà chính quyền, hay nói đúng hơn là người của chính quyền, lựa chọn: để cứu mình, hãy cùng tư nhân hóa Nhà nước…

 

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

(Còn tiếp nhiều kỳ)

.

.

.

 

BÌNH LUẬN BÀI “ĐỪNG NUỐI TIẾC NHỮNG GÌ MÀ LOÀI NGƯỜI ĐÃ BỎ ĐI” (LBS)

Tháng Chín 13, 2011

 

Từ chủ nghĩa xã hội bạo lực, nguyên nhân nào khiến Mác – Ănghen chuyển qua chủ nghĩa xã hội dân chủ?

LBS

Tác giả gửi tới Dân Luận dưới dạng phản hồi. Tựa đề do Dân Luận đặt.

Thứ Ba, 13/09/2011

http://danluan.org/node/9921

 

 

Bài của bác Hoàng Lại Giang thể hiện tâm huyết rất đáng quý của một người trí thức cộng sản trước hiện tình của đất nước, giữa lúc Đảng Cộng sản ngày càng băng hoại, cam tâm đầu hàng ngoại bang để giữ vững địa vị và quyền lợi của mình.

 

Đáng tiếc là những gì bác viết về Mác, Ăng-ghen và Lênin lại không hoàn toàn chính xác. Các vị này không «sáng suốt », không tự nhận thức được sự sai lầm của mình như bác tưởng.

 

Xin trả lời vài câu hỏi mà bác đặt ra:

 

– Vì sao ngày 17 tháng 11 năm 1852 Mác – Ăng-ghen giải tán “Đồng minh những người Cộng sản”?

Việc giải tán “Đồng minh những người Cộng sản” không có liên quan gì đến sự hình thành phong trào dân chủ – xã hội. Từ ngày 4 đến ngày 12 tháng 11 năm 1852, vụ án xét xử 11 thành viên của tổ chức này diễn ra tại thành phố Cologne ở Đức (tên trong tiếng Đức của thành phố này là Köln). Trong vụ án này, Chính phủ Phổ đã kết tội 7 người, với mức án từ 3 đến 6 năm. Việc giải tán “Đồng minh những người Cộng sản” chỉ nhằm để tránh khó khăn cho phong trào cộng sản nói chung. Hơn 10 năm sau đó (1864), Mác thành lập Quốc tế I. Như vậy “giai đoạn đầu của phong trào công nhân độc lập Đức” không hề kết thúc từ năm 1852 như bác đặt vấn đề,

 

– Và có phải chính Mác – Anghen đã thành lập Đảng dân chủ xã hội Đức – chính đảng xã hội chủ nghĩa vào tháng tám năm 1869?

Đảng thành lập vào năm 1869 có tên là Đảng Công nhân Dân chủ – Xã hội (SDAP). Lãnh tụ của đảng này là August Bebel và Wilhelm Liebknecht, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx. Đảng này được hình thành từ một số tổ chức chính trị của giai cấp công nhân ở vùng Saxony và miền Nam nước Đức. Nhưng đảng này không phải là nguồn gốc duy nhất của Đảng dân chủ – xã hội Đức.

Nguồn gốc thứ hai của Đảng DCXH Đức là Tổng hội Công nhân Đức do Fernidand Lassalle (1825-1864) sáng lập vào năm 1863. Đó là tổ chức chính trị có quy mô lớn đầu tiên của giai cấp công nhân ở Đức. Tổ chức này chịu ảnh hưởng của Lassalle, mà Mác lại rất “kỵ” Lassalle , thường xuyên phê phán ông này.

Hai trường phái mác-xít và Lassalle cạnh tranh nhau mãi cho đến năm 1875, khi hai phái này hợp nhất với nhau thành một đảng có tên gọi là Đảng Công nhân Xã hội Chủ nghĩa (SAP). Đến năm 1890, đảng này đổi tên thành Đảng Dân chủ – Xã hội Đức (SPD) và giữ tên đó đến tận ngày nay. Năm 1875, tức là thời điểm hợp nhất giữa hai phái mác-xít và Lassalle, được coi là thời điểm thành lập đảng.

Mác không hề ủng hộ Lassalle mà luôn luôn đả kích Lassalle, cho ông này là kẻ cơ hội, thỏa hiệp với giai cấp tư sản. Vì vậy ngay khi hai phái hợp nhất với nhau vào năm 1875, Mác đã viết bài phê phán Cương lĩnh của Đảng DCXH, về sau tác phẩm này được Ăng-ghen công bố dưới tên gọi là “Phê phán cương lĩnh Gotha”.

 

– Từ chủ nghĩa xã hội bạo lực, Mác – Anghen chuyển qua chủ nghĩa xã hội dân chủ xuất phát từ nguyên nhân nào?

Sự hình thành trào lưu dân chủ – xã hội không phải là công lao của Mác. Nếu có thể nói đến chút ít “công lao” đối với trào lưu dân chủ – xã hội thì chỉ có thể nói đến Ăng-ghen, người vào lúc cuối đời đã ủng hộ việc Đảng DCXH Đức tận dụng con đường hợp pháp (phổ thông đầu phiếu) để mở rộng ảnh hưởng.

Như trên đã nói, Đảng dân chủ – xã hội Đức là kết quả của hai dòng tư tưởng: Mác và Lassalle. Sự trỗi dậy của phái Lassalle (chủ trương đấu tranh ôn hòa trong khuôn khổ của chế độ dân chủ tư sản) mới là nguồn gốc của chủ nghĩa dân chủ – xã hội. Người đánh giá lại vai trò của Lassalle và vạch ra con đường sửa chữa chủ nghĩa Mác là Eduard Bernstein (1850-1932), một học trò của Ăng-ghen. Tác phẩm nổi tiếng của Bernstein gây sóng gió trong phong trào mác-xít ở Đức có tên là “Những tiền đề của chủ nghĩa xã hội và những nhiệm vụ của Đảng dân chủ – xã hội“ được xuất bản vào năm 1896, 3 năm sau khi Ăng-ghen qua đời.

Bác có thể tìm đọc bài viết Dân chủ – xã hội là gì? của tác giả Mai Thái Lĩnh để biết thêm chi tiết.

 

– Vai trò của Lê-nin:

Chính Lê-nin là người đi đầu trong việc “chống xét lại” trong lòng phong trào mác-xít, dẫn đến sự thành lập Quốc tế III (tức Quốc tế cộng sản). Nếu không có Lê-nin, nhân loại sẽ không phải gánh chịu tai họa của chủ nghĩa cộng sản.

Lê-nin chẳng bao giờ thấy được sự sai lầm của mình như bác tưởng. Mục đích của NEP chỉ nhằm cứu kinh tế nước Nga – lúc bấy giờ đang cực kỳ be bét. Nhưng Lê-nin chỉ chủ trương tạm lùi một bước để khôi phục kinh tế, sau đó sẽ lại tiến hành công hữu hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Riêng về chính trị, ông ta chưa bao giờ từ bỏ chuyên chính vô sản. Chính Lê-nin là người đẻ ra quan niệm “dân chủ vô sản” mà thực chất là “chuyên chính vô sản” (tức là “độc tài vô sản”).

Đảng cộng sản Việt Nam muốn giải phóng dân tộc, giành độc lập mà lại chọn con đường của Lê-nin. Đó mới thật sự là “lỗi hệ thống” mà ngày nay dân tộc ta phải gánh chịu.

 

LBS

.

.

.

 

 

BÀN VỀ HIẾN PHÁP CHXHCN VIỆT NAM (Phạm Văn Bản)

Tháng Chín 13, 2011

 

Bàn về Hiến Pháp CHXHCN Việt Nam

Phạm Văn Bản

Tác giả gửi tới Dân Luận

Thứ Ba, 13/09/2011

http://danluan.org/node/9919

 

Phạm Văn Bản, nguyên sĩ quan phi công VNCH, nhà giáo dục của Trường Đại Học Western Washington University, và là chuyên viên The Save Children Foundation của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Hiện nay đang là chuyên viên phát triển của hãng chế tạo máy bay Boeing với 4 loại 747, 767, 777 và 787.

———————————-

 

Mục đích của hiến pháp là bảo vệ từng cá nhân trong cộng đồng chính trị. Tiếp đến là ứng dụng vào việc phân chia quyền lực chính trị, nguyên tắc phân quyền, được coi là mục tiêu thứ hai của hiến pháp. Một chính quyền hiến định, là một chính quyền đó phải bị hạn chế quyền hành qua phương pháp phân quyền, tản quyền, chia quyền… nhằm ngăn ngừa sự tập trung quyền lực vào một chính quyền trung ương.

 

Đọc bản Hiến Pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tôi có cảm tưởng rằng, ông chủ muốn dựng ngôi nhà tình thương cứu người. Nhưng khi xây cất lên, ông lại thay đổi ý định, muốn bế quan tỏa cảng, và ra lệnh cho đám thợ vít kín các ngõ ngách ra vào, để khiến cho mọi người sống trong nhà bị ngộp thở, bệnh họan, thiếu sinh khí! Dù rằng trên nóc gia trang, ông chủ có cho thợ sơn phết tấm bùa lỗ bang “Độc lập – tự do – hạnh phúc.” Nhưng lá bùa hộ mệnh này dường như hết hiệu nghiệm… và từ chủ chí nô, đều mắc chứng kinh phong lở lóet, ngứa ngáy khó chịu, sức mỏi trí mệt! Vì mình hại mình!

 

Phải thừa nhận rằng, đảng Cộng Sản Việt Nam cũng có kinh nghiệm soạn thảo 3 bản hiến pháp, nhưng tới bản thứ 4 viết vào năm 1992, thì tự dưng lại làm mất hết tín chỉ, hay cái gọi là “tích sạn chính trị” vì đã không theo bài bản và lịch sử chính trị của các nước dân chủ thế giới. Ngược lại, đảng ta lại học hỏi Bác Kim nhằm thực hiện chế độ độc tài toàn trị, và sọan thảo cái bản hiến pháp ngược đời. Hiến pháp của các nước dân chủ không ghi nhận chủ nghĩa, không ấn định độc đảng, không ghi các tổ chức ngoại vi Đoàn Thanh Niên, Nghiệp Đoàn, Mặt Trận Dân Tộc… Và từ đó Hiến pháp CHXHCNVN đã trở thành một văn kiện vô nghĩa, vô giá trị vì không đặt căn cứ theo sự thỏa thuận của hai phía, chính quyền và nhân dân, trên nền tảng của lý thuyết khế ước, mà ngược lại, xây dựng trên căn bản của chủ nghĩa Marx-Lenin, lấy Đảng Cộng sản làm giai cấp lãnh đạo, như Lenin từng nói, “Đảng Cộng sản đứng trên và đứng ngoài luật pháp.”

 

Theo đó, khiến chúng ta liên tưởng tới thời đại nông nghiệp xa xưa, khi còn sinh hoạt chính trị quân chủ, vua là con Trời, thế thiên hành đạo, đứng trên và đứng ngoài luật pháp như Lenin từng nói. Cũng như vua, Cộng Sản cũng đứng trên mà truyền lệnh xuống, lệnh của họ là lệnh của Trời, và ai trái ý Trời, trái ý “bác đảng” đều bị mang đi cải tạo, chu di tam tộc, hoặc bị đảng lôi ra bờ đìa đập đầu và cho đi mò tôm!

 

Việc làm rõ ràng như thế mà họ lại lấp liếm gọi là hiến pháp? Phải chăng chỉ là loại pháp lệnh, được cải danh hiến pháp cho có vẻ che đậy trước trào lưu dân chủ tiến bộ của nhân loại. Ngày xưa khi người dân bị áp bức, bị kèm kẹp tới tận cùng thì họ vùng lên đòi hỏi quyền làm người, đòi tự do dân chủ. Những ông vua đã phải nhượng bộ, phải lập ra hiến pháp để giới hạn quyền của vua, mà thêm quyền hạn cho dân. Nhưng hôm nay giai cấp cầm quyền mới, người Cộng Sản lại đi ngược trào lưu tiến hóa chính trị của loài người, mà dùng pháp lệnh là thứ hình luật được áp dụng trong cai trị, nhằm củng cố địa vị quyền hành, gia tăng độc tài chuyên chế, và phát triển bạo lực tội ác.

 

Nhìn lại từ cái thuở loài người mới kết xã, chưa có tiền tệ, chưa có chữ viết, chưa có luật lệ thì những giao tiếp, trao đổi hay liên hệ thường theo bản năng, thỏa thuận, giao ước từ hai phía, hai người, hai nhóm hoặc hai gia đình. Và lối giao tiếp, liên hệ này dần dà biến thành thói quen, thành ra cái lệ mà người ta gọi là tục lệ.

 

Tục lệ đã được bổ túc, biến cải cho thích hợp với nếp sống và phát triển của mỗi dân tộc qua bao ngàn năm. Những người sống chung trong xã hội, phần đông tuân theo, noi theo luật lệ theo thói quen của lớp tiền nhân thuở trước mà cư xử với nhau. Đang khi, phần nhỏ đã không tuân giữ điều lệ tự nhiên, nghĩa là trong giao tiếp họ có bội ước, bội tín và lật lọng, hành động ngang ngược đã khiến cho số đông phải chọn ra một Trưởng Lão, là người sống lâu và có nhiều kinh nghiệm, uy tín trong thôn làng hay bộ lạc mà phán quan xét xử.

 

Rồi những vụ xét xử như thế, dẫn đến kết quả bên đúng bên sai, bên có tội bên vô tội… dù là oan hay ưng, người ta đã phải ngăn ngừa tội lỗi mà đặt ra hình phạt cho kẻ có tội, để làm gương cho những người khác. Từ đó, luật lệ ra đời.

 

Nói rõ ràng như thế, thì trước khi có hình luật được khai sinh, con người đã có tục lệ, tức là những luật lệ dựa trên căn bản của sự thỏa thuận, thỏa hiệp để tồn tại và cùng phát triển của hai người, hai nhóm.

 

Vậy thì luật pháp phải chăng đã là cách gọi chung của hình luật và tục lệ. Và cả hai hình thức luật pháp này được đưa vào tổ chức cai trị để giúp cho xã hội phát triển, ổn định và điều hòa.

 

Tiếp đến, các dân tộc khắp nơi trên thế giới, khi thành lập quốc gia thì tục lệ đã giữ một vai trò quan trọng và thiết yếu trong việc điều hòa xã hội; và tổ chức cai trị, tức triều đình áp dụng hình luật để giữ gìn an ninh, trật tự xã hội.

 

Hai hình thức của luật pháp: Tục Lệ có nhiệm vụ giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun bồi luân lý đạo đức; và Hình Luật giữ nhiệm vụ trừng phạt những kẻ thác loạn, vi phạm hệ thống giá trị của xã hội và con người.

 

Theo thời gian, các vua quan của nền quân chủ cũng bỏ quên vai trò của Luật Pháp và Tục Lệ, và chỉ xử dụng một hình thức luật pháp, đó là hình luật. Hơn thế nữa họ phá bỏ nhiệm vụ trong sáng của hình luật ban đầu, là bảo vệ hệ thống giá trị của xã hội và con người. Họ xử dụng hình luật như một thứ vũ khí để tiêu diệt hay bịt miệng những ai có can đảm phê phán, chống đối hành động độc tài của họ.

 

Bởi thế trong suốt 3500 năm của lịch sử quân chủ phong kiến, chuyên chế thì người dân đã bị tròng lên đầu một thứ luật pháp duy nhất, là hình luật, là pháp lệnh khắc nghiệt và bất công.

 

Vào khoảng 500 năm trước nhật lịch, ở Á Châu có Khổng Tử, triết gia đã nhìn ra sự độc đoán, phi lý của pháp lệnh, nên đã thu góp lượm nhặt những điều tốt từ pháp luật tục lệ mà ghi chép lại thành ra quyển Thượng Thư, một trong những cuốn trong chương trình mà ông biên soạn Ngũ Kinh, nhằm giảm bớt độc tài, độc đoán dã man của các tầng lớp vua chúa quan lại, tức những nhà lãnh đạo chính trị ngày ấy,

 

Vào khoảng năm 384-322 trước tây lịch, triết gia Hy Lạp Aristotle cũng nhìn thấy sự phi lý của hình luật và nặng về pháp lệnh do giai cấp cai trị đặt ra. Ông cũng đã dựa trên luật pháp tục lệ để đưa ra một ý niệm chính trị, đặc biệt là sự liên hệ thỏa hiệp của giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, được người đời sau biết đến qua cái tên Lý Thuyết Khế Ước. Lý thuyết này xác nhận giai cấp cai trị là chính quyền, và muốn được chính danh, phải dựa trên Giao Kèo, trên sự Đồng Thuận của người dân bị trị.

 

Lý thuyết này cũng được Thomas Hobbes và John Locke khai triển vào cuối thế kỷ 17 ở Anh, và Jean Jacques Rousseau ở Pháp và cuối thế kỷ 18, với những nguyên tắc của Lý Thuyết Khế Ước là:

– Sự chấp thuận, thỏa thuận phải là giao ước nền tảng của sự cai trị
– Tối quyền của cá nhân đối với xã hội văn minh, và quyền lợi đối với nghĩa vụ
– Bảo vệ các quyền tự nhiên, nhân quyền là mục đích cuối cùng của chính quyền
– Quyền khởi loạn, làm cách mạng

 

Lý thuyết khế ước phân tích nguyên nhân căn bản của con người, từ đó dẫn đến những căn bản về đời sống chính trị. Theo thuyết này, nhân loại chịu ảnh hưởng bởi hai nguyên nhân chính là kiêu hãnh và sợ hãi.

 

Sự sợ hãi của con người dẫn đến sự xác định là, con người có những quyền tự nhiên như quyền tự vệ và cá quyền liên quan như tự do và sở hữu. Sự kiêu hãnh thì tạo ra mâu thuẫn và xung đột. Nếu thiếu đời sống xã hội văn minh thì sự xung đột này sẽ dẫn đến chiến tranh.

 

Bản tính tự nhiên của con người là gây chiến, và để tránh sự ghê gớm này, cũng như bảo đảm các quyền tự nhiên của con người, thì chính quyền phải được thành lập do khế ước. Các chính quyền đều bị hạn chế bởi mục đích đã đưa đến sự thành lập chính quyền. Nếu chính quyền nào vượt quá mục đích thì người dân có quyền phản kháng, khởi nghĩa và làm loạn.

 

Do đó, chính quyền được hiện hữu trong một xã hội, thì bộ luật thành văn phải được lập ra, và được sự đồng ý bởi những người bị cai trị. Sự đồng ý thỏa thuận về pháp luật của thành phần cai trị và bị trị trong chính trị được gọi là Hiến Pháp.

 

Từ những luận cứ này, nhiều định nghĩa về hiến pháp được xuất hiện. Theo quan điểm của pháp lý, thì hiến pháp được gọi là Luật Căn Bản, là bộ luật mẹ trên đường hướng hợp nhất với các luật lệ căn bản trong ý niệm cộng đồng, và trong ý niệm cai trị một nước. Bởi thế, định nghĩa về hiến pháp thời nay là sự tổ chức công quyền, các bộ, sở của chính phủ và sự liên quan của các cơ sở đó.

 

Tóm lại, đọc hiến pháp của CHXHCNVN, chúng ta đã thấy ngay rằng những người CSVN chỉ xử dụng Hình Luật và sản sinh ra pháp lệnh. Đang khi, Tục Lệ mới giúp sản sinh ra Hiến Pháp, như những điều mà người viết đã trình bày rõ ràng ở phần trên. Tuy rằng luật pháp là cách gọi chung, nhưng hiến pháp và hình luật là hai vấn đề, hai mục đích trong việc thi hành luật. Mục đích của hiến pháp là bảo vệ các thành phần cá nhân trong cộng đồng chính trị, chống lại sự can thiệp của quyền lực tiến vào đời sống tự do, tự trị của từng cá nhân.

 

Với phạm vi cá nhân, nhân quyền là tự chủ. Nhân quyền là quyền tối thượng của con người và vượt trên phạm vi quốc gia. Dân quyền là tự do. Chính quyền là dân chủ. Chính quyền và dân quyền được tôn trọng ngang nhau theo nguyên tắc bình quyền. Đó chính là xã hội nhân bản.

 

Nhưng trên thực tế, nhân quyền thường bị thay đổi theo tùy nơi, trường hợp và thời đại. Bởi thế nhân quyền tại Việt Nam lại trở thành vấn đề phức tạp nhiêu khê vì do nhà cầm quyền sở tại ấn định. Vậy chúng ta muốn đánh giá hay xác định nấc thang giá trị của một chính phủ, chúng ta cần phải khảo sát về quyền cá nhân mà chính quyền tuyên bố trong hiến pháp, và so sánh thực tế tự do cá nhân của nước đó đang hưởng ra sao.

 

Tóm lại, mục đích của hiến pháp là bảo vệ từng cá nhân trong cộng đồng chính trị. Tiếp đến là ứng dụng vào việc phân chia quyền lực chính trị, nguyên tắc phân quyền, được coi là mục tiêu thứ hai của hiến pháp. Một chính quyền hiến định, là một chính quyền đó phải bị hạn chế quyền hành qua phương pháp phân quyền, tản quyền, chia quyền… nhằm ngăn ngừa sự tập trung quyền lực vào một chính quyền trung ương, một đảng chính trị cầm quyền như đảng Cộng sản tại Việt Nam. Bởi thế, mỗi chế độ chính trị đã cần có một Khung Tổ Chức để phân chia quyền hành của một cơ quan công quyền, một hệ thống định nghĩa quyền cá nhân, và một quy chế cộng đồng.

.

.

.

NÓI GÌ VỀ TRƯỜNG SA CHIỀU NAY ? (Nguyễn Đình Đông)

Tháng Chín 13, 2011

 

Nói gì về Trường Sa chiều nay?

Nguyễn Đình Đông

Đăng ngày: 16:46 11-09-2011

http://vn.360plus.yahoo.com/nguyendinhdong/article?mid=7156

 

Dường như bây giờ thì các hải đảo, một phần lãnh thổ của Việt Nam như Trường Sa, cũng như Hoàng Sa, đã được người Việt biết đến nhiều rồi. Thật đáng mừng.

 

Mừng, vì cho đến những năm gần đây còn rất nhiều người trong số người quen, nhất là những người lao động đầu tắt mặt tối đến Tivi còn không có thời gian xem. Một số khác, rất đáng buồn, lại là các trí thức trẻ, sản phẩm của nền giáo dục “nhiều không”, đã không biết Trường Sa và Hoàng Sa nay mất gì còn gì, là đơn vị hành chính của tỉnh nào và thậm chí nhiều em còn không biết Hoàng Sa, Trường Sa ở đâu. Nay thì đã nhiều người biết đến tên các phần lãnh thổ này của đất nước, dù mới dừng lại ở “nghe nói là tranh chấp với Tàu chứ không biết ở đâu ngoài biển”.

 

Cũng không trách được, không phải ai cũng có một ông bố nào cũng như cụ thân sinh nhà tôi nay đã “lên núi”. Ngay khi chúng tôi mới 7, 8 tuổi thì khi ở trong gian nhà tranh vách nứa hay nhà ngói tường gạch, suốt một thời chiến tranh hay sau 1975, luôn có treo hai bức bản đồ to. Một là bản đồ Thế giới, một bản đồ Hành chính Việt Nam, mà trên đó luôn in rõ hai quần đảo nằm rất xa bờ biển, đó là Hoàng Sa và Trường Sa, dưới tên hai quần đảo luôn chú thích rất rõ (Việt Nam). Bốn chị em chúng tôi ngay từ tấm bé đã đinh ninh, và bây giờ vẫn đinh ninh rằng đất nước chúng ta trải dài từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, còn biển Đông thì nghiễm nhiên là của Việt Nam rồi, chẳng phải đã có hai quần đảo như hai tiền đồn trấn giữ lãnh hải “của ta” rồi đó sao.

 

Ba tôi mất đã mấy năm nay, chẳng để lại gì sau cả cuộc đời theo đảng của mình, nhưng một trong những gia tài quý ông để lại cho con cái có lẽ là tấm bản đồ đất nước Việt Nam, luôn là hình ảnh to nhất, treo ở chỗ sáng nhất trong các ngôi nhà thời suốt một thời thơ bé chúng tôi long đong theo cha dọc những tuyến đường ông làm, và nay vẫn treo trong tâm trí của tôi, to nhất, rõ nhất.

 

Trong rất nhiều cuộc tranh luận, trên rất nhiều diễn đàn tôi luôn có một quan điểm “bất biến” rằng đất nước tôi không thể không có Hoàng Sa, Trường Sa, dù ngoài biển Đông có dầu hay không có dầu đi nữa thì Hoàng Sa, Trường Sa vẫn là một phần lãnh thổ không thể thiếu. Vì vậy, tôi dành cảm tình đặc biệt cho bất cứ người nào, từ anh dân chài Lý Sơn hay ông Chủ Tịch Nước nào đó luôn thẳng thắn nói lên một chân lý: Chủ quyền biển đảo là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm.

 

Tôi cũng đặc biệt ngưỡng mộ những người đã xuống đường biểu tình “Vì Hoàng Sa, Trường Sa” vừa qua. Trong hàng ngàn gương mặt yêu nước ấy tôi tìm thấy niềm tin của tôi, niềm tin được Ba tôi ngầm trao gửi về một Việt Nam không thể thiếu biển Đông, không thể thiếu Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi cảm phục họ và cám ơn họ.

 

Một người còn rất trẻ, trước đến nay tôi hay nghĩ về nó như một đứa trẻ con nhí nhách thế thôi, bỗng một hôm tôi thấy nó, vẫn cái dáng nhí nhách trẻ con, đôi mắt trong trẻo của tuổi hai mươi tinh nghịch, nhưng cái chỗ nó đứng khiến tôi nể quá, từ nay sẽ không gọi nó là “nó” nữa mà phải gọi là “NÓ” vậy. Ai tôi không biết chứ tôi tin “NÓ”, cũng như tôi, chẳng có “thế lực phản động thù địch” nào lôi kéo cả. Cũng như vậy, tôi tin rằng Ba tôi đã không “phá hoại tình đoàn kết Trung –Việt” khi treo lên tấm vách nứa trong căn nhà tranh một bức bản đồ in rõ Hoàng Sa- Trường Sa và nói rằng đó là lãnh thổ của nước ta, Việt Nam.

 

Sáng nay nghe nói sứ quán đang vận động “Góp đá cho Trường Sa” mà trong lòng ngổn ngang, không biết sẽ phải nói thế nào để mỗi người công nhân chịu bớt một ngày lương cho Trường Sa đây. Họ mới “xuất ngoại” sang Nga có đôi ba tuần, trên móng chân còn nguyên phù sa sông Hồng, rồi ngay sau đó lại vẫn những ngày tháng triền miên bên bàn máy may công nghiệp may áo ấm cho người ta mặc, kiếm tiền gửi về cho một hai đứa con nhỏ ở nhà có manh áo ấm mùa đông sắp tới, có cái đèn Trung Thu nay mai…Nhìn những vóc dáng Á đông nhỏ bé, gầy se sắt như khuất chìm đi trong đống bán thành phẩm ngồn ngộn bông vải mà thương cho thân phận người phụ nữ Việt Nam.

 

Sẽ phải nói thế nào với họ chiều nay?

Sẽ nói về Trường Sa, về Hoàng Sa, về Biển Đông. Tất nhiên rồi. Nhưng…

Sẽ nói thế nào về cái lưỡi bò ? Về lưỡi gươm cướp biển nhưng khắc 16 chữ mạ vàng?

Sẽ phải nói thế nào về lịch sử với những Hải đội Hoàng sa với hải đoàn luôn được tế sống và phong danh Liệt sỹ trước khi ra đi.

Và sẽ phải nói gì về trận hải chiến Hoàng Sa 1974, Ngụy Văn Thà sẽ là Liệt sỹ đã hy sinh vì biển đảo của Tổ quốc hay chỉ là một tên ngụy bị người “anh em cùng phe” Trung Quốc nổ súng tiêu diệt?

 

Nói gì về những con sói biển như Mai Phụng Lưu kiên cường bám biển, kiếm sống và ngày đêm làm những cột mốc chủ quyền trên vùng biển Hoàng Sa, bất chấp bọn “tàu lạ” hoành hành, và bất chấp luôn sự vắng bóng một cách “khó hiểu” của lực lượng vũ trang đáng ra phải làm nhiệm vụ giữ yên ngư trường cho dân làm ăn sinh sống.

 

Đúng, sẽ phải nói thật, nói hết, về sợi cáp của Tàu Bình Minh, về hơn 6 ngàn đô la ngư dân Quảng Bình mới đây phải gom góp để nộp cho bọn Trung Quốc, chuộc tàu ngay trên biển nhà.

 

Nói hết, về những Hồ Xuân Sơn âm thầm đi đêm với bọn chúng, về Nguyễn Chí Vịnh công khai hứa với Tàu sẽ dẹp yên những phản kháng của dân chúng đối với “bạn vàng”, dù có phải đạp gót giày vào mặt đồng bào….

 

Sẽ phải nói hết.

 

Và cuối cùng sẽ cùng nhau xem lại clip ngắn về vụ thảm sát 1988, trong đó những loạt đại liên do lính Trung Quốc bắn thẳng vào những người lính công binh Việt Nam, bắn điên cuồng cho đến khi những người cuối cùng chìm xuống với đảo, nằm lại đảo, vĩnh viễn không trở về.

 

Đó chính là những viên đá đầu tiên, bằng chính cuộc đời mình, các Liệt sỹ ấy đã là những viên đá tảng đầu tiên chìm xuống làm cái nền đầu tiên, để chúng ta mỗi người Việt Nam yêu nước góp thêm vào những viên đá nhỏ.

Hàng triệu viên đá nhỏ sẽ thành thành lũy giữa biển Đông, giữ biển đảo, giữ Nước.

 

Chín mươi triệu viên đá sẽ đủ để không những đè dập cái lưỡi bò kia, còn đủ nặng để không kẻ bán nước nào vác đi bán được.

.

.

.

TÀU CÁ TRUNG QUỐC TRÀN NGẬP TRƯỜNG SA (Thanh Niên online)

Tháng Chín 13, 2011

 

Tàu cá Trung Quốc tràn ngập Trường Sa

Theo báo Thanh Niên

Tháng Chín 12, 2011

http://haydanhthoigian.wordpress.com/2011/09/12/tau-ca-trung-qu%E1%BB%91c-tran-ng%E1%BA%ADp-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-sa/

 

Khoảng 500 tàu cá Trung Quốc đang ngang nhiên hoạt động lâu dài ở khu vực Trường Sa của Việt Nam. Thông tin trên được Cục trưởng Cục Ngư chính Nam Hải (cách Trung Quốc gọi biển Đông) Ngô Tráng tiết lộ trên Tân Hoa xã. Ông này nói rằng sở dĩ có nhiều tàu đến vậy bởi chính quyền Trung Quốc đã tổ chức cho ngư dân phát triển dự án nuôi cá lồng tại đầm nhiệt đới khu vực Mỹ Tế (tức Đá Vành Khăn thuộc Trường Sa).

 

Con tàu đa chức năng Quỳnh Phú Hoa Ngư – 01 vừa được tung đến Trường Sa từ ngày 10.9 từ cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam trực thuộc Công ty TNHH phát triển ngư nghiệp Quỳnh Phú Hoa Ngư. Công ty này mới thành lập vào tháng 3.2010. Với trọng tải 1.200 tấn, đây là con tàu lớn nhất trong số 500 tàu cá trên, có trang thiết bị hiện đại. Khi thông tin về tàu Quỳnh Phú Hoa Ngư-01 vừa được công bố, trên không ít các diễn đàn quân sự Trung Quốc như Wenhui.ch, T.qq.com, Xfjs.org, Picaes.com/topic… đã nảy sinh tranh luận sôi nổi. Nhiều ý kiến nghi ngờ con tàu này được trang bị vũ khí và có thể có cả tên lửa.

Ngọc Bi (xem nguồn tại đây)

.

.

* Trong một bản tin khác của Thanh Niên ngày hôm qua, 11/9/2011.

Giới chức Trung Quốc lại ngang nhiên đưa tàu cá Quỳnh Phú Hoa Ngư-01 từ cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam đến hỗ trợ việc nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

 

Theo Tân Hoa xã ngày 10.9, đây là con tàu đa chức năng có trọng tải khoảng 1.000 tấn và mới ra khơi lần đầu. Giới chức Trung Quốc không nói rõ nhiệm vụ của tàu Quỳnh Phú Hoa Ngư-01 mà chỉ tuyên bố con tàu sẽ “hỗ trợ đưa nghề nuôi trồng ngư nghiệp nhiệt đới trong khu vực vào giai đoạn mới”. Tân Hoa xã dẫn lời Cục trưởng Cục Ngư chính khu vực Nam Hải (cách Trung Quốc gọi biển Đông) Ngô Tráng cho biết nước này hiện có đến 500 tàu cá đang hoạt động lâu dài ở khu vực Trường Sa.

 

Trong một động thái khác xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, đại diện hải quân Trung Quốc cùng Tập đoàn China Mobile ngày 9.9 tổ chức lễ nghiệm thu công trình xây dựng trạm điện thoại di động tại những đảo do nước này chiếm giữ ở Trường Sa. Theo Tân Hoa xã, China Mobile đã gửi tổng cộng 70 kỹ thuật viên, vận chuyển 30 tấn vật tư đến khu vực để xây dựng 8 trạm cơ sở truyền thông di động và 3 trạm vệ tinh mặt đất.

 

Bên cạnh đó, báo Liberty Times ngày 10.9 dẫn một số nguồn tin cho hay lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu cũng sẽ thăm đảo Ba Bình thuộc Trường Sa trong tuần tới. Theo Liberty Times, chuyến thăm của ông Mã nhằm “khẳng định chủ quyền của Đài Loan đối với đảo này” và do đó gây nhiều lo ngại cho các bên liên quan. Đây là chuyến thăm đảo Ba Bình thứ hai của một lãnh đạo Đài Loan. Hồi tháng 2.2008, người tiền nhiệm của ông Mã là ông Trần Thủy Biển cũng đã thăm đảo Ba Bình.

 

Văn Khoa – Ngọc Bi (xem nguồn tại đây)

 

 

.

.

QUẢNG BÌNH : HỌC SINH PHẢI BƠI QUA SÔNG ĐỂ ĐẾN TRƯỜNG (báo Dân Trí)

Tháng Chín 13, 2011

 

Quảng Bình:

Rơi nước mắt trước cảnh học sinh bơi qua sông đến trường

Đặng Tài (Dân Trí)

Thứ Hai, 12/09/2011 – 10:41

http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/dantri.com.vn/Roi-nuoc-mat-truoc-canh-hoc-sinh-boi-qua-song-den-truong/6973005.epi

 

Hàng chục học sinh ngày hai buổi bơi qua sông đến trường. Để áo quần và sách vở không bị ướt, các em chuẩn bị sẵn một bao nilon lớn, cho quần áo và cặp sách vào, buộc kín lại. Qua đến bờ sông bên kia, các em lại lấy quần áo ra mặc vào…

 

Nhận được thông tin từ nhiều giáo viên ở xã Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình về thực trạng học sinh bản ông Tú, bản Ka Oóc đi học phải bơi qua sông, chúng tôi đã vượt quãng đường hàng trăm km để có mặt tại khe Rào (thượng nguồn sông Danh), tận mắt chứng kiến cảnh tượng buồn rơi nước mắt: Hàng chục học sinh, giáo viên phải bơi qua sông đến trường Tiểu học Hưng (xã Trọng Hoá, huyện Minh Hoá). Để áo quần và sách vở không bị ướt, các em chuẩn bị sẵn một bao nilon lớn, cho quần áo và cặp sách vào bao, buộc kín lại. Qua đến bờ sông bên kia, các em lại lấy quần áo ra mặc vào.

 

Hôm chúng tôi đến, sau cơn mưa rừng hôm trước, nước khe Rào còn sâu và chảy xiết. Qua một bãi đá bồi sau những trận lũ chừng 20m, 15 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 người đen nhẻm, cởi hết quần áo, cho cùng toàn bộ sách vở cho vào một túi ni-long rồi thổi căng lên, hì hục bơi qua đoạn sông dài khoảng 15m. Những chiếc túi đó, ngoài tác dụng giữ khô quần áo, sách vở còn như một cái phao giúp các em qua sông.

 

Em Hồ Không (học sinh lớp 5A, trường Tiểu học Hưng) cho biết: “Nước chỗ này sâu và chảy xiết nên chúng cháu sợ lắm. Nhưng vì muốn đến trường học cái chữ để mong sau này có cái nghề cho đỡ khổ nên phải liều mình bơi qua sông thôi”.

 

Được biết gần một năm trước, gần bản Hưng có một chiếc thuyền độc mộc chở khách qua sông nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu nên nhiều người vẫn phải chọn cách bơi qua sông. Nhưng trận lũ lịch sử cuối năm ngoái đã cuốn trôi mất con thuyền này.

 

Chị Hồ Thị Thanh – một người dân sống lâu năm ở đây – cho biết: Trên con sông này đã có nhiều người bị nước cuốn trôi, nhưng may mắn chưa ai mất mạng.

 

Mùa lũ năm 2009, cô Cao Thị Thức – giáo viên Trường Mầm non Trọng Hóa – cùng một giáo viên khác qua bản ông Tú dạy học trên con đò nhỏ; ra giữa dòng gặp nước xoáy làm lật đò. Cô giáo kia biết bơi nên bơi được vào bờ; còn cô Thức bị nước cuốn trôi gần 200m; rất may sau đó đã được một người dân cứu sống.

 

Trường hợp gần đây nhất là ông Hồ Nhâm ở bản ông Tú; trong khi bơi qua sông đã bị chuột rút, nước cuốn trôi nhưng cũng may mắn có người đến cứu giúp kịp thời.

 

Gặp chúng tôi bên dòng sông Danh, thầy Đinh Thanh Tùng – giáo viên trường Tiểu học Hưng – cho biết: “Việc học sinh bản ông Tú bơi qua bản Hưng để học lấy con chữ đã diễn ra khá lâu nay. Học sinh ở đây khó khăn lắm. Để có con chữ các em nhiều khi phải đổi lấy cả tính mạng”.

 

Thầy Đinh Thiêm – Hiệu trưởng trường Tiểu học Hưng – bày tỏ niềm lo lắng: “Thấy học sinh bơi qua sông đến trường học chữ nhà trường cũng bất an lắm. Dù nhà trường đã phối hợp với phụ huynh cùng giáo viên các lớp trực ban theo dõi mỗi khi học sinh qua sông đến lớp hoặc về nhà nhưng vẫn thấy không an tâm”.

Thầy Thiêm cho biết thêm, mùa mưa về nước khe Rào dâng lên rất nhanh và chảy mạnh nên học sinh phải nghỉ học dài ngày. Trung bình mỗi năm, học sinh bản ông Tú phải nghỉ học ít nhất 1 tháng do mưa lũ. Chính vì thế nên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học.

 

Trao đổi với PV Dân trí ông Hồ Phin – Bí thư Đảng ủy xã Trọng Hóa cho biết: “Không riêng bản ông Tú mà bên trong còn có bản Ka Oóc mọi hoạt động đi lại cũng đều phải bơi qua sông. Để xây dựng cầu phải cần một khoản kinh phí rất lớn trong khi kinh tế xã lại đang còn rất khó khăn. Vừa rồi đã có một đoàn về tiến hành kiểm tra khảo sát nhưng nghe bảo với nguồn kinh phí 5 tỉ đồng là chưa đủ để xây dựng một cái cầu. Hiện chúng tôi đang mong các cấp ban ngành quan tâm hơn nữa để các em học sinh, giáo viên và người dân bản ông Tú, bản Hưng, bản Ka Oóc, xã Trọng Hoá sớm có một cây cầu nhằm thuận tiện và an toàn cho việc đi lại”.

 

Đặng Tài

 

XEM HÌNH :  http://www.baomoi.com/Home/GiaoDuc/dantri.com.vn/Roi-nuoc-mat-truoc-canh-hoc-sinh-boi-qua-song-den-truong/6973005.epi

 

.

.

.

ĐIỀU GÌ CHÚNG TA CÓ THỂ LÀM, HÔM NAY ? (Hành Khất)

Tháng Chín 13, 2011

 

Điều gì chúng ta có thể làm, hôm nay?

Hành Khất

04:11:am 13/09/11

http://www.danchimviet.info/archives/42199

 

Trước sức mạnh của nhà cầm quyền cs, tồn tại hơn ½ thế kỷ trên đất nước 3 miền, đã đâm chồi cắm rễ khắp nơi, chúng ta như bị trói buộc bằng những sợi dây gai vô hình. Thêm vào đó là chính sách quản lý dân rất chặt chẽ theo hệ thống phường khóm, còn hơn cả sự kiểm soát của Nazi thời Hitler.

 

Người cộng sản biết rằng, trong công cuộc giành lấy chính quyền của họ, nếu không có lực lượng nhân dân làm hậu thuẫn, họ sẽ không bao giờ thành công. Nên qua kinh nghiệm quí báu đó, họ tìm mọi phương cách để lôi cuốn nhân dân về phía họ, dù phải dùng những thủ đoạn: gạ gẫm, bịa đặt, gian trá, ngay cả đe đọa, đàn áp bằng bạo lực. Dù là thời chiến hay thời bình, phương sách đó vẫn không thay đổi, và càng nặng nề, khắc nghiệt hơn khi tình hình biến chuyển bất lợi cho họ. Điều đó không khó gì được nhận thấy, nhất là trong cuộc diện xã hội hôm nay. Vậy chúng ta có thể làm gì để chống trả lại nhà cầm quyền đương thời? Đó là nan đề, chúng ta sẽ phải suy xét và tìm cách giải.

 

Thiết nghĩ, chúng ta chỉ là một nhóm người sớm nhận thức trước cái họa ngoại xâm, và chế độ cầu vinh bán nước, trong khi số đông vẫn chưa nhìn thấy, dù là những người trí thức, vì họ lo sợ bị “làm khó” bởi công an nên không dám tự tìm hiểu thêm tin tức qua những trang mạng bị gọi là “lề trái”. Hoặc dù họ cảm được sự bất ổn trong những bản tin “lề phải”, họ cũng không dám nói ra ý mình với ai, ngay cả người bạn đồng nghiệp hay người hàng xóm chung vách.

 

Như vậy, làm sao phá bỏ khung ngăn cách biệt của mỗi cá nhân để giữa họ và chúng ta có cùng khoảng không gian gần gũi hơn, để tạo nên sự liên kết như nhịp cầu nối dài cho đoàn người cách mạng vững nhịp bước? Và ai cũng biết rằng sức mạnh luôn nằm trong sự đoàn kết. Vậy, chúng ta thử chiêm nghiệm những điều sau đây xem chúng có thể làm nên sức mạnh đó :

 

a Vận động :

1_ Quảng bá, giới thiệu những trang mạng phản ảnh trung thực những gì đã và đang xảy ra trong xã hội, đất nước VN qua những lời bình luận thiết thực, không chỉ là một bản tin về sự kiện nào đó.

2_ Quảng bá, giới thiệu những clip hình ảnh, thông tin qua video để chứng thực sự kiện, và tạo sự thu nhận thông tin dễ dàng hơn.

3_ Tạo niềm tin đối với người cùng khổ để được cảm thông hơn qua sự bày tỏ tư tưởng trong mọi vấn đề, dù đồng tình hay không.

4_ Khuyến khích cùng nhau góp phần ít nhiều qua những bài viết hay phần comments trên mạng.

5_ Mở rộng vòng tay thân ái, và kéo dài nhịp cầu khi cơ hội (hoặc)và điều kiện có thể, đến mỗi nơi khi được dịp đi qua.

 

b Hành động:

1_ Thu thập sự kiện trong cuộc sống, học đường, nơi làm việc, v.v. thường ngày để phản ảnh qua bài viết đăng trên mạng (chắc chắn đó là những câu chuyện rất thú vị mà báo chí không biết đến_ Để tránh va chạm không cần thiết, nên đổi tên nhân vật hay viết tắt nếu muốn).

2_ Thu thập tài liệu từ sách báo bên ngoài, dữ liệu trên những trang mạng của nhà nước cầm quyền, (và) hay bất kỳ trang mạng nào trong tất cả đề mục để làm tư liệu cần thiết cho bài viết.

3_ Lược dịch những bản tin, bài viết từ sách báo ngoại quốc (nếu có thể) mang tính chất phù hợp với tình hình đất nước.

4_ Lên danh sách những tên “công bộc” bá quyền, tham lam, hại người để viết về những gì chúng đã và đang làm, qua câu chuyện được kể lại hay từ tai-nghe-mắt-thấy nơi cư ngụ hay bất kỳ vùng heo hút nào.

5_ Tham dự những cuộc nhóm họp của dân (nếu có thể), thành đoàn, hay bất kỳ tổ chức văn hóa, văn bút v.v. hợp lệ nào đó, để lắng nghe và truyền đạt tư tưởng đến người khác dù chỉ là tiệm tiến

6_ Tham dự những hoạt động xã hội của nhà nước, hay tư nhân thiện nguyện trong và ngoài nước, để được nhìn tận mắt, hiểu thêm sinh hoạt địa phương, và cảm thông hơn cuộc sống những nơi xa xôi qua chia sẻ nhu cầu, thông tin cần.

 

c_ Hoạt động:

1_ Thành lập nhóm bạn tín nhiệm để cùng tham khảo, chia sẻ ý kiến, hay dự kiến nên làm gì và phân chia công tác cụ thể tùy theo khả năng cá nhân, hay điều kiện thích hợp (trong phần (b) ở trên).

2_ Gợi ý hay giúp đỡ người dân phản kháng qua cách nêu vấn đề, đặt câu hỏi thế nào với đám “công bộc” khi nhóm họp hay đối mặt. Đồng thời có thể giới thiệu người dân đến tư vấn luật sư (những người làm việc vì dân, không cần lệ phí) hay tự liên lạc luật sư để tham khảo ý kiến thêm.

3_ Kết hợp những nhóm bạn từ khắp nơi, và tạo cơ hội gặp gỡ (trong sinh nhật, đám cưới, đám giỗ, v.v.) để tạo thêm niềm tin cho nhau

4_ Tạo nhịp cầu giữa trong và ngoài nước (cá nhân hay nhóm, có thể qua những trang mạng uy tín là bước đầu)

5_ Ngầm cố vấn, và trợ lực một cách khéo léo (nên tránh ra mặt) trong điều kiện có thể cho những cuộc đình công của công nhân để tạo sự gần gũi với những người lao động (đây là lực lượng đáng kể nhất trong những thành phố, nếu lôi cuốn được họ).

 

Tuy nhiên, trong một tập thể của xã hội chủ nghĩa, điều quan trọng là sự “hoà nhập”. Vì vậy, chúng ta cần mang cùng màu áo của họ, cùng tham gia đoàn, đảng một cách tích cực hơn. Lại càng không nên bày tỏ ý kiến, hay hành động không đồng thuận. Không những thế, chúng ta càng “phấn đấu” hơn để đạt được kết quả tốt, vị trí cao trong học đường, công sở, hay hãng xưởng. Đó là lớp áo pha chút ánh sáng quyền uy để che đậy, bảo vệ chúng ta trong một tập thể cùng màu.

 

Chúng ta luôn luôn phải cảnh giác rằng, người cộng sản rất lão luyện về vấn đề chính trị. Hay nói thực chất hơn là mưu mô xảo quyệt, vì họ dám làm những gì mà người ta không dám; chỉ vì thông thường, người ta luôn cố gắng giữ lấy đạo đức, nhân tính cơ bản. Họ, quả thật, mang nhiều lớp áo màu sắc khác nhau tùy theo hoàn cảnh để đối phó riêng từng cá nhân như loài kỳ nhông biết biến dạng theo thời tiết, môi trường. Vì vậy, để đánh đổ thế chính trị đó, chúng ta cũng sẽ tự biến thành loại kỳ nhông đa sắc, linh động, và khéo léo hơn. Thường khi, chúng ta cho rằng họ có trình độ thấp, nhưng kinh nghiệm và gian xảo là hai yếu tố có thể quật ngã chúng ta. Chúng ta phải chứng minh, sự khôn ngoan của mình hơn hẳn họ trong thực tế (có thể qua tham khảo bạn bè, rút tỉa kinh nghiệm từ những người xung quanh). Và nhất là không bao giờ xem thường đối thủ!

 

Dĩ nhiên, càng không để họ thủ thắng qua sự khích động lòng tự ái của chúng ta. Càng không làm kẻ anh hùng, khi chưa cần thiết. Sự hy sinh, nếu phải có, thì cần đánh đổi bằng giá trị cao hơn như chính sự quí trọng sinh mạng của chúng ta! Điều đó không có nghĩa là chúng ta hèn nhát, nhưng sự can đảm hợp lúc, hợp thời mới tạo nên tiếng sấm làm kẻ thù khiếp sợ.

 

Tóm lại, chúng ta nên gìn giữ bản thân như có thể, để cho lửa cách mạng còn sáng mãi khi những người bạn vẫn cần có chúng ta bên cạnh, và khi chiến thắng sau cùng chưa đạt đến. Đường còn quá dài, mong chúng ta bảo trọng cùng nhau, vì ngoài kia ngoại xâm cũng đang chờ đón.

 

© Hành Khất

© Đàn Chim Việt

——————————

 

Ps. Xin các bạn bổ sung và đóng góp thêm ý kiến để sấp xếp lại phương hướng tốt nhất cho chúng ta_ những người chỉ vì đất nước, dân tộc.

 

Ps. Bức tâm thư cùng những cán bộ, công can, và bộ đội :

“Trước hết, xin được gọi những cán bộ, công an, và bộ đội bằng danh từ chung: các bạn. Và xin xác định rằng chúng tôi, những người vì đất nước, dân tộc, chỉ chống lại chế độ cộng sản bạo quyền chuyên chế, không phải là các bạn; trừ khi chính các bạn đã khiến chúng tôi không còn cách lựa chọn nào khác.

 

Tất cả chúng ta, ai cũng là người Việt, cùng quê hương dân tộc dù không cùng quê nhà, nhưng chắc chắn rằng trên mảnh đất đó có máu xương tổ tiên dòng họ ta. Trót sinh ra là người Việt, và trót sống trong thời nhiễu nhương, chúng ta không thể không nương tay đóng góp ít gì cho dân tộc, và càng không thể làm ngơ trước họa ngoại Hán. Vì rồi đây, tất cả chúng ta hôm nay_ vợ chồng con cái, anh chị em_ và cả con cháu ngày mai sẽ phải cúi đầu ngã nón khi gặp người Hán (đó là sự thật đã và đang diễn ra bên Tân Cương, Tây Tạng, Nội Mông, v.v. và trong kế tiếp là Lào, Campuchia), nếu ngay từ bây giờ các bạn và chúng ta không thể cùng nhau quật khởi với toàn dân, để thay thế chế độ vong nô cộng sản.

 

Một khi Việt Nam đã biến thành lệ thuộc lần nữa, các bạn có chắc rằng sẽ vẫn giữ được những gì đã có hôm nay không? Ngay cả vợ con, khi kẻ thống trị ngoại bang muốn, chúng ta cũng phải cắn răng, nhắm mắt trước sự kêu than cầu cứu của người thân. Sự giàu sang nào đó mà các bạn đang có, cũng không ai bảo đảm sẽ thuộc về các bạn mãi, khi kẻ ngoại bang muốn chiếm lấy. Các bạn có thể cho rằng, còn đảng còn mình; có nghĩa, đảng sẽ đứng ra bảo vệ cho gia đình, của cải của các bạn (?). Hay vì lợi ích cho đảng, bắt buộc các bạn, và gia đình mình phải chịu hy sinh như những tế vật cho nhu cầu ngoại bang để biểu dương quyền lực thống trị đối với đảng. Sự lựa chọn tế vật có thể là ngẫu nhiên, hay do chủ ý trong số những gia đình của các bạn, vì thường dân đã được mặc nhiên xem là thuộc về họ nên họ không cần chứng tỏ quyền lực.

 

Các bạn hãy đọc lại những trang sử xa xưa thời Bắc thuộc lần thứ nhất đến thứ ba, để thấy rằng khả năng của kẻ thống trị có thể chà đạp người lệ thuộc một cách không thương tiếc như thế nào. Chắc hẳn, các bạn cho rằng, những điều đó quá xưa, và không thể nào xảy ra trong thế kỷ 21 này. Thật mà nói, không có gì bảo đảm rằng điều đó không thể không xảy ra; và chắc chắn sẽ xảy ra dù dưới nhiều hình thức khác nhau, trong khuôn khổ che đậy, giấu kín hơn.

 

Xin các bạn hãy vì đất nước, dân tộc hôm nay trước họa thôn tính của ngoại Hán. Hãy suy nghĩ lại, và nhận thức hiện tình Việt Nam. Hãy mỡ rộng tư duy qua những trang mạng “lề trái-lề phải” để so sánh, phân tích, và tìm ra lý lẻ đúng nhất. Hãy tự đặt nhiều câu hỏi, và đi tìm lời giải thích qua sự tích lũy kiến thức của mình.

 

Thế giới chắc chắn sẽ đứng lên với chúng ta, cùng mọi người dân hải ngoại. Sự đóng góp chung này sẽ tạo áp lực lớn hơn và hy vọng sẽ khiến nhà cầm quyền đương thời sớm ý thức, bằng cách giải thể toàn đảng, để máu của chính người Việt không cần phải đổ xuống lần nữa một cách phi lý và vô ích. Vì chúng ta rất cần bảo tồn thực lực để chống lại ngoại Hán.

 

Một lần nữa, xin tha thiết kêu gọi các bạn: những cán bộ, công an, và bộ đội, đừng quay súng vào chính những người Việt mình, mà hãy nhìn lại sau lưng: kẻ thù ngoại Hán đang mỉm cười đắc chí.”

 

Chào đoàn kết

.

.

.

TIN & BÀI của NGÀY 12-9-2011

Tháng Chín 13, 2011

TIN & BÀI của NGÀY 12-9-2011

.

CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỦNG BỐ ĐẾN CẢ TRẺ THƠ (Lư Thị Thu Trang)

LÃNH ĐẠO : NGHỀ LÀM THUÊ (Nguyễn Hưng Quốc)

QUAN HỆ TRẮC TRỞ VIỆT NAM – LIBYA MỚI (Bùi Tín)

TÒA ÁN NHÂN DÂN : HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG & CÁC NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ (Trịnh Viên Phương)

NGƯỜI TÙ LÂU NHẤT TRONG LỊCH SỬ VN : ÔNG TRƯƠNG VĂN SƯƠNG ĐÃ QUA ĐỜI TRONG TÙ CSVN

TÌNH ĐỒNG CHÍ & ĐỒNG PHỤC LỚN HƠN TÌNH YÊU QUỐC GIA (Trần Hoàng)

SỨ THẦN VATICAN BỊ CÔNG AN VÂY, BỊ CẤM NGỦ Ở NHÀ THỜ (Người Việt)

ĐẢNG VIỆT TÂN TRI ÂN CHIẾN HỮU BỎ MÌNH VÌ ĐẠI CUỘC (Người Việt)

TRUNG QUỐC : ĐE DỌA NÀO CHO VIỆT NAM ? (Nguyễn Văn Huy)

PHẢN ĐỘNG hay NÔ LỆ TINH THẦN ? (Việt Hoàng)

Làm thế nào để giải trừ HIỂM HỌA BẮC THUỘC ? (GS. Vũ Quốc Thúc)

NGOẠI CẢM TA, DƯỚI MẮT TÂY (Trần Khải)

HỒ SƠ WIKILEAKS (6): Tướng Kỳ từng bị Nguyễn Tấn Dũng chặn đường về

HỒ SƠ WIKILEAKS (5): RFA nói về Hồ Chí Minh, Việt Nam phản đối với Mỹ

HỒ SƠ WIKILEAKS (4): ‘Đường Lưỡi Bò’ thiếu chứng cứ lịch sử – ngoại giao Mỹ nhận định

HỒ SƠ WIKILEAKS (3): Tổng lãnh sự: Ðiếu Cày bị vu cáo

HỒ SƠ WIKILEAKS (2) – Vatican ép TGM Ngô Quang Kiệt từ chức

HỒ SƠ WIKILEAKS (1): Tô Huy Rứa: Thủ cựu, thân Phiêu, chống Kiệt, ‘bad boy’

KHÔNG ĐI BIỂU TÌNH VẪN BỊ SÁCH NHIỄU (Gia Minh, RFA)

TIN & BÀI của NGÀY 11-9-2011

 

 

 

 

CHÍNH QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM KHỦNG BỐ ĐẾN CẢ TRẺ THƠ (Lư Thị Thu Trang)

Tháng Chín 13, 2011

 

Tố cáo nhà cầm quyền CSVN vẫn duy trì việc đàn áp, khủng bố tinh thần các con của Lư Thị Thu Trang

Lư Thị Thu Trang

12-9-2011

http://danlambaovn.blogspot.com/2011/09/to-cao-nha-cam-quyen-csvn-van-duy-tri.html

 

Tôi tên Lư Thị Thu Trang. Sinh năm 1968. Hiện đang cư trú tại số nhà 77/13B đường Trần Bình Trọng, Phường 1, Quận Gò Vấp, Thành Phố Sài Gòn, Thành viên Khối 8406 đang tham gia đấu tranh đòi Dân chủ, Nhân quyền tại Việt Nam, từ năm 2007 cho đến nay.

 

Kể từ ngày 28/4/2010 khi tôi bị lực lượng CA TP. Sài Gòn vô cớ bắt bớ và đánh đập tôi tại nhà của chị Dương Thị Tân ở Quận 3 TP Sài Gòn. Sau đó đưa về đồn CAQ. Gò Vấp tiếp tục đánh rồi 7 CA ( có 2 nữ) đè tôi ra xét người giật lấy tài sản gồm: 1 xe máy tay ga + 4 ĐTDĐ + Giấy tờ tùy thân và những vật dụng cần thiết phải mang theo khi ra đường (đã có thư tố cáo ngày 19/5/2010 ) và tôi cũng đã gửi 6 thư tố cáo đến Nhà Cầm Quyền CSVN vào các ngày 15/5/2010 + 27/7/2010 + 28/8/2010 + 15/10/2010 + 22/12/2010 + 3/5/2011. Nhưng đến lúc này họ vẫn ngoan cố chưa trả lại tài sản, đồng thời tiếp tục khủng bố, trù dập, đe dọa các con tôi bằng những việc làm như sau:

 

– Ngày 1/6/2010 khi tôi đưa 2 con về nghỉ hè tại Vũng Tàu nơi nhà bà nội và ba các cháu đang sống, đến nơi tôi được biết CA an ninh TP Sài Gòn cùng cảnh sát khu vực tại địa phương (Phường 6 TP vũng Tàu) đã đến “làm việc” với gia đình chồng tôi trước khi 3 mẹ con tôi về đến nhà. Hằng ngày, khi tôi đưa các cháu đi tắm biển thì đều có CA đứng trên bãi biển để canh tôi. Đến đầu tháng 7/2010 tôi đưa các con trở lại Sài Gòn. Vào lúc hơn 9 giờ sáng ngày 9/7/2010 tôi đi chợ thì bị CA an ninh chặn đường bắt lại sau đó kêu lực lượng tới ép tôi phải quay về nhà. Tôi hỏi lệnh đâu? Họ nói bắt tôi không cần có lệnh!

 

– Vào tối chủ nhật ngày 11/7/2010 các con tôi muốn đi nhà sách, khi gia đình tôi vừa dắt xe ra cửa thì bị CA vây chặn lại. Một CA thuộc TP Sài Gòn tên Tuấn nói với chồng tôi: Anh không được chở vợ con đi đâu hết, vì vợ anh chống Đảng, chống Chính quyền. Thái độ hung hăng của CA làm đứa con trai nhỏ của tôi sợ hãi khóc thét lên, cháu run rẩy cả người lạnh ngắt. Đã phải nhìn thấy CA bắt bớ đánh đập tôi ở nhà chị Tân nên cứ giữa đêm đang ngủ cháu lại giật mình khóc và cứ như vậy suốt thời gian qua, có đêm tôi còn đang nói chuyện với Cha Nguyễn Văn Lý qua điện thoại thì cháu khóc, anh Nguyễn Ngọc Quang cũng nhiều lần nghe cháu khóc khi chúng tôi còn đang nói chuyện qua hệ thống Skype, anh Phan Thanh Hải (Ba Sài Gòn) trước ngày bị bắt có khuyên tôi nên đưa cháu đi điều trị. Anh nói: cháu bị sang chấn tâm lý có nguy cơ ảnh hưởng cả cuộc đời của cháu. Riêng Cha Lý thì dạy cho tôi một đoạn kinh để các cháu cầu nguyện hoặc hát trước khi ngủ, dù rất tin tưởng đã được Chúa che chở nhưng hễ mỗi khi CA đến tìm tôi hoặc khi bước ra đường mà bị CA chặn lại hỏi đi đâu thì đêm đến thế nào cháu cũng bị giật mình, ngủ không yên giấc được.

 

Vào sáng ngày 5/8/2010 tôi chạy ra đầu đường mua thức ăn cho gia đình, thì đích thân ông trung tá CA tên Võ Minh Hà chạy xe ủi thẳng vào xe tôi, miệng nói: mày đi hả ? tao ủi cho mày chết luôn! Thấy ông ta hùng hổ ngăn chặn, tôi không đôi co với ông ta mà quay về nhà, tôi nói chuyện với anh Quang, anh nói: Bọn họ trả thù cô vì chuyện đến nhà Bác sĩ Quế đó! Sự căng thẳng kéo dài đến suốt tháng 8, mỗi ngày tôi đưa đón con đi học thì họ cũng vào tận sân trường, theo sát bên tôi, đứa con gái 9 tuổi của tôi thường nói: Mẹ ơi con sợ lắm, con không muốn đi học nữa!

 

– Tôi nhận giấy mời đến CA Q. Gò Vấp để làm việc vào ngày 24/8/2010 về lý do CA thu giữ tài sản+ vật dụng cũng như giấy tờ tùy thân của tôi vào ngày 28/4/2010. Suốt buổi làm việc họ buộc tôi phải nhìn nhận 4 chiếc điện thoại là phương tiện để tôi hoạt động chống chính quyền và họ cũng răn đe tôi không được gặp gỡ những người cùng đấu tranh với tôi nữa. Nếu tôi cam kết thì CA sẽ để tôi được đi chợ + chở con đi nhà sách, thăm viếng họ hàng và sẽ trả lại chiếc xe máy và giấy tờ tùy thân của tôi, còn điện thoại thì không trả được vì còn phải điều tra tiếp??? Tôi phản đối cách làm việc tùy tiện, qui chụp để chạy tội của CA, đồng thời yêu cầu họ trả hết tài sản hợp pháp mà CA đã đè tôi ra giật lấy như ăn cướp vào ngày 28/4/2010, chứ cá nhân tôi không có phạm tội gì để phải ký cam kết với CA hay nhà cầm quyền CSVN.

 

– Chiều ngày 18/9/2010 lúc 18 giờ, vợ chồng tôi định đưa các cháu đi thăm người bà con ở Tân Bình, vừa ra khỏi cửa gặp viên CA tên Khanh, người đã bắt và đánh tôi tại nhà của chị Tân ngày 28/4/2010. Biết tên Khanh sẽ kiếm chuyện để khủng bố tinh thần chồng và các con tôi, tôi nói 3 cha con cứ đi, rồi tôi vào nhà. Tên Khanh không có cớ để chận xe lại nhưng vẫn hậm hực nhảy lên đá vào cửa nhà tôi rồi nói với những CA kia: Hôm nay không phải ca trực mà tao cũng phải đến đây để xử con này. Nó mà đi coi tao có đập chết nó không?

 

– Ngày 18/10/2010 tôi nhận được lời hẹn miệng của CA đến để nhận lại số tài sản họ đã giật của tôi. Thật nực cười, vẫn những điều kiện như lần trước, tôi không phí thời gian. Tôi phản đối hành động xách nhiễu của họ rồi về ngay. Buổi tối đó, lực lương CA chốt chặt nhà tôi không cho đi đâu hết. Cứ mỗi lần có bất cứ sự kiện gì thì Nhà Cầm Quyền CSVN luôn coi các con tôi như cá nằm trên thớt.

 

-Tôi lại nhận được giấy mời làm việc với Thanh tra CATP Sài Gòn vào ngày 4/11/2010 trong giấy ghi người làm việc với tôi là 2 ông, Phan Thành Á và Trần Công Thành. Nội dung là: Hỏi rõ về đơn Tố cáo của bà. Đúng ngày giờ tôi đến theo giấy mời. Có CA an ninh đi kèm từ nhà tôi, buổi làm việc diễn ra đúng như tôi đã dự đoán. Vào việc không phải 2 mà là 3 ông CA họ chỉ giới thiệu tên chứ không nói chức vụ+ với 3 CA an ninh kèm tôi từ nhà là 6 người họ có máy ghi âm, cách làm việc của họ như sau: Ông CA tên Phan Thành Á nói: “Ngày hôm đó chị đến nhà bà Tân để làm gì? Có biết ông Nguyễn Văn Hải là một tội phạm nguy hiểm không? Vì chị đến nhà một người xấu nên mới bị các anh em đến đó đưa chị đi. Các anh em hành xử với chị như vậy là có lý do chính đáng, chứ không tự ý làm.

 

Tôi nói: Ông xác nhận những việc CA đã làm với tôi ngày hôm đó là do được lệnh? Và lực lượng CA được hưởng đặc quyền khi vi phạm Pháp Luật? Ông Á không trả lời câu hỏi của tôi mà lại nói: Tôi thành thật khuyên chị nên dừng lại nếu không thì chắc chắn rằng gia đình chị sẽ còn bị nhiều khó khăn hơn bây giờ nữa! Tôi hỏi: đây có phải là lời đe dọa mới không? Ông Á nói: Đó là sự thật chứ tôi không dọa chị đâu! Ông Á nói thêm: Nếu đúng những việc chị đã làm như các “anh em báo cáo” nếu là tôi ngày hôm đó(28/4/2010) chị sẽ bị nặng hơn nữa chứ không chỉ vậy. Vì chị đã tham gia vào tổ chức phản động 8406 hay gặp những người có âm mưu lật đổ Chính quyền. Chị kích động dân oan các tỉnh lên Sài Gòn biểu tình rồi móc nối cho những người đó trả lời phỏng vấn các báo đài phản động ở Hải ngoại để nói xấu chính quyền, đối xử với chị như vậy là còn nhẹ đó (!?)

 

– Lại nhận được giấy mời đến CAQ. Gò Vấp để làm việc vào ngày 9/11/2010. Trong buổi làm việc này, ông CA tên Thanh Hải nói thẳng: “Nếu Trang chịu viết vài chữ, ký tên từ bỏ Tổ chức 8406 thì mới “được” trả lại những thứ đang bị thu giữ vào ngày 28/4/2010 và có thể sẽ được chiếu cố trả một phần đất đai mà gia đình đang thưa kiện, chúng tôi nhìn nhận chính quyền có làm nhiều chuyện sai trái, có lỗi với gia đình nhưng nếu trả hết số tài sản mà gia đình họ Lư đang đòi thì không được vì nếu như vậy thì Trang thắng còn Chính quyền thua hay sao?”.

 

Tôi nói: Tôi không cần chuyện thắng hay thua. Vấn đề ở đây là: Nhà cầm quyền CSVN có tôn trọng Luật pháp hay không? Hay nói một đường làm một nẻo? Tôi chỉ cần các ông thực hiện đúng những điều các ông đã cam kết trong Công ước Quốc Tế hãy thể hiện một chính quyền thực sự vì nhân dân chứ không phải chỉ vì Đảng Cộng Sản của các ông!

 

– Ngày 1/1/2011 gia đình tôi lại bị côn đồ khiêu khích gây sự. Chúng chuẩn bị hành hung và có cầm hung khí lăm lăm trên tay. Việc này tôi đã có bài viết tường thuật lại sự việc (có kèm theo hình ảnh) vào ngày 10/1/2011.

 

– Ngày 9/2/2011, buổi chiều tôi và chị Dương Thị Tân có gặp nhau tại quán café Hương Uyển số 10 đường Nguyễn Trung Trực thuộc P5 Q. Bình Thạnh. Sau đó ra về, tôi chở chị Tân chạy 1 đoạn đường mới phát hiện xe máy không thắng được. Tôi cố gắng điều khiển xe đưa được Chị Tân về đến nhà an toàn sau đó tôi dắt bộ, đem xe đến nơi sửa quen vì tưởng xe bị hư, người thợ kiểm tra xe xong nói với tôi: Chị có thù oán với ai thì cẩn thận, xe của chị bị tháo cả 2 thắng chứ đâu có bị hư gì!

 

– Khuya ngày 24/2/2011 lúc khoảng hơn 23 giờ, viên CA tên Tuấn thuộc CA An Ninh TP. Sài Gòn (trong nhóm đóng chốt tại nhà tôi) đến tận cửa sổ phòng ngủ của mẹ con tôi nói: “Chị đang làm chuyện gì chúng tôi biết hết, chị làm gì thì hậu quả các con chị sẽ phải gánh chịu. Cho dù những việc các anh chị đang làm là chính nghĩa thì trước chị cũng có nhiều người làm rồi, mà có thay đổi được gì không? Hậu quả như thế nào thì chị biết rồi đó. Trên đã có lệnh triển khai triệt để rồi, chị không thoát khỏi đâu!”.

 

– Gia đình tôi có một Ngôi Miếu Thờ Thần Ngũ Hành tọa lạc trong khu đất của Gia tộc họ Lư đã hơn 100 năm nay (đúng vị trí CA đặt chốt gác nhà tôi). Hàng năm đều có lệ cúng Miếu vào ngày 18/2 (Âm Lịch). Cư dân trong vùng cứ tự nhiên mang Lễ vật đến cúng Thần chứ không cần phải xin phép ai kể cả gia đình tôi. Năm nay bà con trong khu phố cũng muốn cúng Thần nên gia đình tôi có làm đơn báo đến Ủy Ban Phường 1, Q. Gò Vấp về nghi lễ cúng thế nào. Vậy rồi họ không nhận đơn, đồng thời đổ quân hơn cả 100 người vây hết các ngã đường vào Miếu trong cả 3 ngày, 2 đêm (20-21-22/3/2011). Họ còn cử CA đến từng nhà dân trong khu vực đe dọa: nếu đến cúng Miếu của gia đình họ Lư thì sẽ bị bắt đưa về CA Quận nhốt hết. Có những người không sợ vẫn đến cúng thì bị bắt đưa về đồn CA, bị đánh đập rồi phạt tiền, bắt làm cam kết không được qua lại với tôi.

– Vào đầu tháng 3 Â.L năm nay (dịp lễ Thanh Minh), chiếc xe của ông anh rể mà tôi hay mượn đi bị tháo cốt bánh xe sau. May là mấy ngày đó, anh rể tôi sử dụng xe thường xuyên nên phát hiện ra ngay, chưa bị thiệt hại về người. Từ hôm đó, tôi không dám chở các con đi nhà sách hay siêu thị và hạn chế gởi ở nơi giữ xe công cộng.

 

Suốt 2 niên học từ lớp 2 sang hết lớp 3, mỗi ngày con gái tôi đến trường học rồi về nhà đều có CA đi theo sau lưng, có những ngày thấy CA đóng chốt quá đông hoặc thái độ hung hăng thì cháu sợ không dám đi học. Kỳ nghỉ hè vừa qua tại Vũng Tàu (từ đầu tháng 6 đến hết tháng 7/2011), các con tôi không biết là vẫn bị CA bám sát, đến lúc phát hiện ra vẫn bị CA rình rập mỗi ngày. Con gái tôi (mới 9 tuổi) đã nói rằng: Sao mẹ con mình ở đâu cũng có họ rình vậy mẹ? Con ước gì ở trên đời này không có CA. Tôi phải trấn an con rằng: Không phải CA nào cũng xấu, chỉ có những CA tuyệt đối làm theo lệnh độc ác của Nhà cầm quyền CS mới xấu thôi!

 

– Ngày 16/6/2011 gia đình chồng tôi có người thân ở Quận Tân Bình TP. Sài Gòn qua đời, vợ chồng tôi đưa 2 con về chịu tang Bà của chúng. Đặt chân đến đất Sài Gòn đúng 1 giờ sau tôi đã thấy CA an ninh tên Tuấn có mặt. Sau đó có 3 CA AN đến đóng chốt tại nơi có tang lễ, dù đó chỉ là nơi cư ngụ của người vừa mới qua đời.

 

Tôi trở lại Sài Gòn để nộp hồ sơ nhập học cho đứa con trai nhỏ vào lớp 1. Thủ tục cũng không có gì rắc rối ngoài việc bị ông Cảnh, Phó chủ tịch UB Phường 1 từ chối xác nhận: Có cư trú tại địa phương. Theo như qui định của nhà trường. Tuy nhiên, xin cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Tiểu Học Nguyễn Thượng Hiền đã mở lòng tạm nhận con tôi vào học trong Trường khi tôi viết giấy cam kết sẽ bổ sung đủ hồ sơ nhập học cho con sau.

 

Ngày đầu tiên đi học lớp 1 của con trai tôi (15/8/2011) cũng có CA An ninh theo sát (vào tận sân trường học) cả lúc đi lẫn về. Hơn 2 tuần qua niềm vui được đến trường chen lẫn sự sợ hãi của cháu mỗi khi thấy có bóng dáng CA đưa đón cháu cùng với mẹ. Mấy ngày gần đây cô giáo của cháu hỏi tôi: chị ơi sao em thấy cháu Trung hay bị giật mình, sợ hãi và ít chơi đùa với bạn vậy hả chị? Tôi nói vì hoàn cảnh gia đình tôi có sự khó khăn và nhờ cô quan tâm đến cháu. Câu hỏi vì sao con tôi trở thành như vậy ? Đó là 1 trong những tội ác mà Nhà Cầm Quyền Cộng Sản Việt Nam đã gây ra với gia đình tôi.

 

Mấy ngày qua cảm nhận được sự sợ hãi lo lắng của các con đang lớn dần theo từng ngày đi học. Tôi ước gì mình đủ sức mạnh dẹp bỏ được chế độ độc tài tàn bạo này, để những đứa trẻ như các con tôi không còn phải sống trong tình cảnh đang phải chịu đựng nữa. Chân thành cảm ơn Quý vị đã đọc hết bài tường trình này. Xin trân trọng kính chào!

 

Người viết:

Lư Thị Thu Trang – Thành Viên Khối 8406.

Địa chỉ : 77/13B Đường Trần Bình Trọng, Phường 1.

Quận Gò Vấp. TP. Sài Gòn.

 

danlambaovn.blogspot.com

 

.

.

.