Archive for Tháng Chín, 2011

LÃNH ĐẠO : NGHỀ LÀM THUÊ (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Chín 13, 2011

 

Lãnh đạo: nghề làm thuê

Nguyễn Hưng Quốc

Thứ Hai, 12 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/quoc/lanh-dao-nghe-lam-thue-09-12-2011-129672733.html

 

Trong bài diễn văn của Tổng thống Barack Obama tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 9 vừa rồi, có một hai câu nói tôi rất thích.

 

Ông nhắc đến dân chúng như “những người đã cử chúng ta đến đây; những người đã thuê chúng ta làm việc cho họ” (the people who sent us here – the people who hired us to work for them).

Rồi ông tự hỏi và hỏi các nghị sĩ và dân biểuMỹ : “Dân chúng ở đất nước này làm việc vất vả để hoàn tất trách nhiệm của họ. Câu hỏi tối nay là: liệu chúng ta có hoàn tất trách nhiệm của chúng ta hay không?” (The people of this country work hard to meet their responsibilities. The question tonight is whether we’ll meet ours.)

 

Thực tình, tôi không quan tâm mấy đến các chính sách Obama đã đưa ra nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp trầm trọng cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài tại Mỹ. Đã đành kinh tế Mỹ có quan hệ mật thiết đến kinh tế toàn cầu, trong đó có Úc; tuy nhiên, từ Úc, nhìn sang Mỹ, thấy chuyện của họ xa vời quá. Tôi nghe bài diễn văn của Obama một cách khá ơ hờ. Nhưng đến mấy câu nói trích ở trên, tôi bỗng thấy thích hẳn.

 

Thích chủ yếu vì thấy chúng khác hẳn với những gì chúng ta thường nghe ở Việt Nam. Có lẽ ở Việt Nam chưa có lãnh tụ nào đặt vấn đề trách nhiệm với dân chúng một cách cụ thể đến như vậy. Càng chưa có ai nhìn nhận một thực tế: Họ là những người làm thuê của dân chúng. Mà không phải là những người làm thuê vĩnh viễn. Họ chỉ là những người làm thuê theo hợp đồng. Cứ bốn năm, dân chúng lại xét lại hợp đồng ấy một lần. Làm giỏi, người ta thuê tiếp. Làm kém thì xin vui lòng về… hưu.

 

Giới lãnh đạo Việt Nam bao giờ cũng cho những chức vụ mình đang nắm giữ như những sứ mệnh vĩ đại từ trên trời rơi xuống. Một thứ thiên mệnh. Ngay cả khi họ giả vờ nói khiêm và nói nịnh họ là “đầy tớ” của dân chúng thì người ta, tự trong vô thức, vẫn xem cái chức “đầy tớ” ấy là một thiên mệnh. Là thiên mệnh vì, thật ra, không có ai thực sự bầu cho họ cả (hiểu bầu theo nghĩa tổng tuyển cử chứ không phải bầu bán trong nội bộ đảng với nhau). Là thiên mệnh vì họ không thực sự chịu trách nhiệm trước ai cả. Đất nước lạc hậu, dân chúng nghèo khổ ư? Đó là trách nhiệm của “thằng” lịch sử hay “thằng” khách quan nào đó. Đất nước phát triển ư? Thì đó là công của họ, bất kể mồ hôi và nước mắt của mấy chục triệu người lao động quần quật trong cả nước.

 

Quan niệm chức vụ lãnh đạo như là thiên mệnh nên các “đầy tớ” bất cần các ông bà “chủ” có đồng ý cho họ làm việc tiếp hay không. Và cũng không cần nhớ, thậm chí, biết tất cả bổng lộc của họ là đến từ dân chúng.

Không biết như thế nên thay vì “biết ơn” những người đã hùng hục làm việc và đóng thuế để nuôi mình, người ta lại làm một chuyện oái oăm: bắt dân chúng phải biết ơn và nhớ ơn mình!

 

Có lẽ một trong những chiến lược tuyên truyền lớn nhất của chính quyền Việt Nam, từ khi lên nắm quyền vào năm 1945 đến nay, là nhấn mạnh vào chuyện ơn nghĩa. Hầu như toàn bộ guồng máy tuyên truyền đều tập trung vào vấn đề công ơn của đảng và của lãnh tụ. Người ta tổ chức các đợt sáng tác rầm rộ để giới cầm bút kể lể công ơn “tái sinh” của cách mạng. Ăn một bát cơm ngon cũng nhớ ơn cách mạng. Mặc bộ quần áo mới cũng nhớ ơn cách mạng.

Thời kháng chiến, trong bài “Thơ dâng Bác Hồ” sáng tác ngày 19.5.1953, Xuân Diệu viết:

Chúng con dưới vực sai lầm
Đang vươn mình được Bác cầm tay lên.

Cũng ngày 19.5.1953, Nguyễn Bính từ Nam bộ, làm bài Thư gửi về Cha:

Trước con cơ cực nhọc nhằn
Nhờ Cha nay mới nên thân nên người..

Sau năm 1954, ở miền Bắc, Xuân Diệu lại viết:

Hãy cảm ơn đảng Cộng sản, lòng ta ơi!
Hãy cảm ơn những người dựng con người,
Hãy cảm ơn Hồ Chí Minh đồng chí
Đã rèn luyện một nửa già thế kỷ

Xưa lệ sa, ta oán hận đất trời
Nay lệ hoà, ta lại thấy đời tươi!

Chế Lan Viên cũng có rất nhiều những bài thơ tương tự như thế. Lại Nguyên Ân có lần nhận xét về thơ Chế Lan Viên: “Thơ Chế Lan Viên có cả một loạt những bài thơ ăn năn sám hối cho sự lỡ lầm thuở trước, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của nhà thơ với chế độ mới, lý tưởng mới – cái lý tưởng mà nhà thơ có lúc như muốn quỳ xuống bái lạy cho tỏ sự biết ơn của một tín đồ đã bỏ “đạo” cũ để từ đây theo nó đến cuối đời.” (Một thời đại văn học mới, Hà Nội, 1987, tr. 106).

Sau này, hầu như không có nhà văn hay nhà thơ nào đủ vô liêm sỉ để nịnh bợ như vậy nữa. Và nhà cầm quyền cũng không đủ vô liêm sỉ để lớn tiếng tuyên truyền như vậy nữa. Nhưng đây đó, dưới những hình thức diễn tả khác nhau, chúng ta vẫn nghe thấp thoáng những giọng kể công và đòi hỏi sự biết ơn của dân chúng đối với những người đã suốt đời hy sinh gánh chịu…bổng lộc đến hầu như vô tận!

 

Đương quyền, người ta muốn dân chúng biết ơn. Về hưu, người ta cũng muốn dân chúng biết ơn. Với từng cá nhân, người ta đòi hỏi sự biết ơn. Với cả đảng và chế độ, người ta cũng đòi sự biết ơn.

 

Người ta cố tình ngoảnh lưng lại sự thật này: Làm lãnh đạo, thực ra, là làm thuê. Lương bổng của họ là do dân chúng trả. Tất cả tiện nghi và quyền lợi mà họ có là do dân chúng cung cấp. Ở đây không có chuyện ân nghĩa. Mà chỉ có vấn đề là: làm việc có hiệu quả hay không.

Làm được việc: Xin tiếp tục.

Làm không được việc: Xin mời xuống!

 

—————————————————

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

.

.

.

 

QUAN HỆ TRẮC TRỞ VIỆT NAM – LIBYA MỚI (Bùi Tín)

Tháng Chín 13, 2011

 

Quan hệ trắc trở Việt Nam-Libya mới

Bùi Tín viết riêng cho VOA

Thứ Hai, 12 tháng 9 2011

http://www.voanews.com/vietnamese/blogs/tin/quan-he-vn-libya-moi-09-12-2011-129668388.html

Tình hình Libya đang ở thời kỳ kết thúc. Kết thúc cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân lật đổ ách độc tài tham nhũng kéo dài 42 năm. Mở ra thời kỳ nước Libya dân chủ đa nguyên, như dự thảo Hiến pháp mới được Hội đồng Quốc gia Chuyển tiếp CNT công bố tại thủ đô Tripoli.

Đầu tháng 8-2011, nhà độc tài Moammar Gadhafi còn lên màn vô tuyến hô hào toàn dân cầm súng quét sạch “bọn chuột bẩn thỉu”– là quần chúng nổi dậy – đầu tháng 9 này, chính Gadhafi cho vợ con xin tỵ nạn ở Algerie, còn bản thân và phe cánh thì giấu kín tung tích, biết rằng đang bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy tố và truy nã ráo riết.

Các nhà báo Pháp, Anh, Đức, Nhật, Hoa Kỳ có mặt tại Tripoli tự do 1 tuần nay đều tỏ ra bất ngờ một cách hào hứng. Trước đây họ lo ngại rằng tình hình chiến sự ở Tripoli sẽ kéo dài, một cuộc trả thù đẫm máu giữa các phe phái thân và chống Gadhafi sẽ diễn ra trong hỗn loạn, vì lẽ ý thức quốc gia, đoàn kết dân tộc còn yếu, ý thức thượng tôn luật pháp lại càng thiếu, các cơ chế nhà nước còn rất sơ khai, không có hiến pháp, không có quốc hội, không có tổ chức quần chúng, xã hội công dân là con số không, tinh thần bộ tộc còn rất nặng.

Ấy vậy mà những điều bất ngờ kỳ diệu đã xảy ra. Chính chế độ độc đoán bất nhân tàn bạo của Gadhafi đã góp phần thức tỉnh cả một dân tộc, nhen nhóm lòng yêu nước, trau dồi khái niệm quốc gia và xã hội. Các cuộc phỏng vấn của báo Pháp, Đức như Le Monde, Der Spiergel…với một số trí thức, sinh viên ở Tripoli cho thấy một cục diện mới rất đáng mừng. Không có cảnh cướp phá các cửa hàng. Thanh niên các khu phố tự đảm nhiện trật tự an ninh từng khu phố. Các chợ từ nhỏ đến lớn lần lượt mở. Viên chức công sở chuyên môn cũ tiếp tục làm việc và nhận lương. Cuộc sống mới đang hồi phục.

Cuộc họp của 60 nước “Bạn của nước Libya mới” ở Paris đầu tháng 9 này là một cú hích quan trọng cho sự nghiệp hồi sinh. Các nước phương Tây cam kết giúp tiếp về quân sự – tuy không đưa bộ binh chiến đấu vào – cho đến khi bắt được Gadhafi.

Các nước quyết định tháo khoán ngay gần 10 tỷ đôla vốn là tài sản của Libya cho Hội đồng CNT chi dùng cho việc khôi phục đất nước. Số tiền các nước cam kết viện trợ khẩn cấp còn cao hơn, khoảng 15 tỷ đôla. Với số dân chỉ hơn 6 triệu, các số tiền này là rất có giá trị. Chương trình làm việc của chính quyền mới tập trung vào việc giữ gìn trật tự xã hội, đoàn kết dân tộc, khôi phục hệ thống điện, nước, giao thông, các bệnh viện, trường học. Hàng loạt trí thức, giáo sư, bác sỹ, sinh viên Libya từ Pháp, Anh, Ý, Hoa Kỳ về nước cùng với hơn chục ngàn trí thức dân chủ ở tù trở về đang là nòng cốt quý của chính quyền mới.

Trong 8 tháng nữa sẽ có bầu cử đa nguyên có quan sát quốc tế để bầu ra một quốc hội mới. Giữa niềm vui chung của thế giới, của châu Phi và thế giới Ả Rập.

Mối quan hệ giữa các nước với nước Libya mới – nước Libya hậu Gadhafi – sẽ tùy thuộc ở thái độ chính trị của từng nước đối với cuộc thức tỉnh lịch sử của nhân dân Libya vừa qua. Các nước liên minh ủng hộ mùa Xuân Bắc Phi không những dẫn đầu trong yểm trợ cuộc chiến đấu vừa qua còn đang dẫn đầu trong viện trợ nhân đạo, viện trợ kinh tế, viện trợ tái thiết đất nước trên quy mô lớn. Đó là những nước Pháp, Anh, Ý, Canada, Na Uy, Thụy Điển, Hoa Kỳ. Tất nhiên, ân đền oán trả, để đáp lại, nước Libya sẽ dành cho các nước này những phần quan hệ thuận lợi hậu hỹ nhất.

Còn Việt Nam? mối quan hệ Việt Nam-Libya ra sao? Không có quan hệ giữa nhân dân 2 nước, giữa các ngành, các giới. Hội hữu nghị Việt Nam – Libya là hội duy nhất, nhưng chỉ riêng giữa các quan chức cầm quyền. Libya là nơi Việt Nam xuất khẩu lao động xa xôi nhưng dễ dãi. So với Malaysia, Đài Loan, Trung Đông, lao động Việt Nam được đối xử khá tốt, ăn ở tươm tất, lương trả đúng hạn, vì Libya ít dân, giàu tài nguyên, nhiều dự trữ ngoại tệ. Nhưng điều tệ hại là thái độ của chính quyền Việt Nam cứng đờ, kiểu giáo điều, cứ phải theo chân Bắc Kinh, lại còn khinh thường miệt thị lực lượng nổi dậy, nên đang có nhiều trắc trở.

Sáu tháng nay, báo chí lề trái, các blogger tư do ở trong nước tỏ cảm tình với quần chúng yêu nước xuống đường ở Libya bao nhiêu thì báo chí lề phải, đài phát thanh, Thông tấn xã VN luôn tỏ ra dè dặt, còn có lúc tỏ ra mặn mà với nhóm độc tài, theo quán tính cũ.

Điều rất dại dột là ngay sau khi khối Bắc Đại Tây Dương NATO cùng Hoa Kỳ thực hiện nghị quyết 1973 của Liên Hợp Quốc, khóa chặt bầu trời Libya, trừng phạt máy bay, xe tăng, trạm thông tin, sở chỉ huy của Gadhafi, thì viên đại sứ Việt Nam ở Tripoli là Đào Duy Tiến trong tháng 7 và tháng 8, vẫn 3 lần phát biểu trên mạng internet của Sứ quán ở Tripoli theo xu hướng ủng hộ cuộc chiến đấu của chính phủ để phục hồi an ninh trật tự. Ngay sau đó báo Quân đội Nhân dân nhanh nhẩu đăng tin quân chính phủ chiếm lại Misrata, và còn đưa lời của Gadhafi kêu gào “toàn dân chống quân phiến loạn”.

Tất cả những chi tiết trên được báo phương Tây kể lại, cũng được cơ quan ngoại giao của Hội đồng Quốc gia Chuyển tiếp ghi nhận. Điều dại dột hơn nữa là bộ ngoại giao Hà Nội còn lưu ý phía chính quyền mới là ngày 27/ 8 trụ sở đại sứ quán Việt Nam ở Tripoli bị “cướp phá”. Các nhà báo Pháp, Anh bật cười. Anh đứng về phía bọn tội phạm, bọn sát nhân, chống lại người yêu nước thì ai còn có nghĩa vụ bảo vệ anh? Còn kêu la nỗi gì! Đến nay, Hà Nội đã chính thức công nhận chính quyền mới ở Libya chưa? và coi lực lượng nổi dậy là chính đáng, chính nghĩa hay chưa? Tại cuộc họp tại Paris mới đây, để ngỏ cho mọi nước có thiện chí với nước Libya mới đến tham dự, có 60 nước tham dự, Việt Nam vẫn im thin thít. Một sự chậm trễ dại dột, một sự bất động như kẻ còn mơ ngủ. Lý do là Bắc Kinh vẫn trù trừ, viễn cớ tình hình chưa chín (!).

Những người cầm quyền trong nước có biết rõ hay không là mấy năm qua Việt Nam đã phải nhập mỗi năm một số lớn dầu từ Libya, chiếm đến hơn 1/ 3 số dầu nhập khẩu, với giá khá hữu nghị; hầu hết số dầu ấy được vận chuyển qua trung gian của các công ty hàng hải Trung Quốc. Từ nay việc mua bán này sẽ không thể như xưa. Vì cả Bắc Kinh và Hà Nội đều vẫn lạnh nhạt với chế độ mới, lưu lại những tỳ vết không đẹp khó quên, lại ở giữa thời điểm của những thử thách hiểm nghèo.

Nước Libya mới đang hồi sinh khá nhanh, là nét khỏe và đẹp của cuộc Cách Mạng mới bên bờ Địa Trung Hải. Nhà bình luận nổi tiếng Bernard Henry Levy tửng đi Tunisia, Ai Cập và Libya 6 lần trong 8 tháng nay vừa viết bài phóng sự chỉ rõ tình hình Libya chuyển mình là không thể đảo ngược; một sự chuyển mình mang tính thời đại, khi cả thế giới tiến bộ nhận trách nhiệm hành động tiếp sức cho nhân dân một nước khao khát tự do, theo phương châm “quyền can thiệp” và “nghĩa vụ can thiệp” (droit d’ingérence et devoir d’ingérence) – một phương châm có gốc nhân bản, nói lên mối quan hệ chí cốt giữa người và người trên toàn địa cầu. Phương châm nhân bản này đang được phổ cập sẽ làm thay đổi tận gốc thế giới hiện đại khởi đầu từ mùa Xuân này. Từ nay mọi chế độ độc đoán đều chỉ là hổ giấy.

Những nhà nghiên cứu lý luận, nghiên cứu chính sách của các học viện, các viện khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các viện quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa ở trong nước hãy nghiên cứu nghiêm chỉnh tình hình Libya, cuộc thức tỉnh mùa Xuân của thế giới Ả Rập để hiểu rõ tình hình, điều chỉnh các chính sách cho thích hợp, không thể cứ theo những giáo điều sáo mòn, những chính sách lỗi thời, chỉ dẫn đến thua thiệt bẽ bàng cho đất nước.

—————————————-

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

.

.

.

NGƯỜI TÙ LÂU NHẤT TRONG LỊCH SỬ VN : ÔNG TRƯƠNG VĂN SƯƠNG ĐÃ QUA ĐỜI TRONG TÙ CSVN

Tháng Chín 13, 2011

 

Tin Buồn: Ngươì Tù Trương Văn Sương Qua Đời Trong Tù CSVN  

VietNamDanChu’s Blog

Ngày 11 Tháng 9 Năm 2011

http://diendanchinhtri.blogspot.com/2011/09/tin-buon-nguoi-tu-truong-van-suong-qua.html

 

Nhà Báo Nguyễn Khắc Toàn vừa loan tin, người tù Trương Văn Sương qua đời trong tù CSVN.

 

Tù nhân chính trị Trương Văn Sương đã chịu án tù chung thân tại Trại giam Nam Hà (tỉnh Hà Nam) trong cùng vụ án với ông Trần Văn Bá năm 1984.

 

Tháng 7/2010, ông Sương được tạm đình chỉ thi hành án về nhà chữa bệnh tim.

 

Ngày 19/8/2010, cảnh sát Trại giam Nam Hà đã đến địa phương nơi ông Sương cư ngụ, thuộc thành phố Sóc Trăng làm thủ tục đưa ông Sương về Trại giam.

 

Ông Sương là sỹ quan QL VNCH, bị bắt tù bình năm 1975 và “tập trung cải tạo” đến năm 1982.

 

Tính đến nay, thời gian ông ngồi tù sau năm 1975 là 33 năm và trong những năm tới. Ông mất người vợ, và con gái, và cha, mẹ khi ông đang còn ở trong tù, và cho đến ngày về đến nhà vào năm 2010 thì ông mới được biết tin cả 4 người thân đã mất.

 

Theo lời người con, ông Sương cũng đã chuẩn bị tinh thần để trở về Trại giam với tâm trạng bình thản. Sức khỏe của ông Sương cũng tương đối tốt so với khi rời Trại giam một năm trước đây, nhưng cũng không phải là khỏe hẳn và có hiện tượng ông bị thêm bệnh gan. Sau khi ông rời Trại giam tháng 7/2010, ông đến tá túc tại nhà nguyện của Hội thánh Tin Lành Menonite (quận 2 – Sài Gòn) do MS Nguyễn Hồng Quang quản nhiệm để chữa bệnh và an dưỡng. Ông đã được MS Quang làm lễ để trở thành một người hầu Chúa.

 

Chúng ta tiễn ông trở lại nhà tù và cầu nguyện cho ông được Ơn Trên gia hộ. Ông Sương đang tiếp tục làm tròn trách nhiệm của một người con của Đất Mẹ Việt Nam với lý tưởng mà ông theo đuổi là TỰ DO.

 

Thông tin đang được cập nhật.

 

———————————-

 

Trương Văn Sương

Trung Úy Sĩ Quan Trừ Bị Quân Lực VNCH
Sinh: 1943
Từ Trần: 12/9/2011 vào lúc 10h 20 sáng VN

Bị tù đày 33 năm 4 tháng trong nhà tù Cộng Sản Việt Nam

 

VIDEO :

 

14/7/2010 – TVSƯƠNG: Hình ảnh và ý chí bất khuất của người tù chung thân

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=ipmPprcvMSA

 

Nha Truong Van Suong

http://www.youtube.com/watch?v=z3G_5eRRmF0&feature=player_embedded

 

————————

 

Ông Trương Văn Sương đã chết sau khi bị bắt giam trở lại

Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok

2011-09-12

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tran-v-suong-died-aft-bck-to-pris-09122011063136.html

 

Ông Trương Văn Sương, cựu sĩ quan miền Nam bị án tù chung thân vì tội phản động, bị đưa trở lại nhà tù tháng trước sau một năm tạm tha để chữa bệnh, đã qua đời vào lúc 10:20 sáng nay, ngày 12 tháng Chín, hưởng thọ 68 tuổi.

 

Ảnh chụp anh Trương văn Sương bên di ảnh vợ ngày được tạm tha về sau hơn 33 năm tù. Tại ngôi nhà nghèo nàn người vợ mỏi mòn đợi chờ đã không còn để đón anh. (tháng 7,2010)  .  RFA file

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/tran-v-suong-died-aft-bck-to-pris-09122011063136.html/truong-v-suong-305.jpg

 

Chỉ hai mươi lăm ngày sau

 

Từ Sóc Trăng, thứ nam của ông Trương Văn Sương là anh Trương Tấn Tài cho biết gia đình nhận tin là lúc một giờ trưa nay:

Vào 1 giờ thì ở trên trại điện cho cậu nói là báo cho anh Trương Văn Dũng biết ba đã mất rồi, 10:20 sáng ngày 12 tháng Chín. Thì Tài mới điện lên trên trại thì gặp một cán bộ, hỏi thì cán bộ đó không dám nói là chết rồi, cán bộ đó nói bây giờ tình cảnh nguy kịch lắm ráng thu xếp lên liền đi. Mình mới hỏi ba con thật sự mất chưa chú, ông nói các cháu cứ lên lẹ đi. Thì anh Dũng mới điện lại cho cái ông thông báo đó thì ông mới nói là mất rồi.
Trả lời đài Á Châu Tự Do về tin ông Trương Văn Sương mất, một cán bộ ở trại Nam Hà chỉ nói:
Cái đấy chúng tôi không có trách nhiệm chúng tôi không biết, tôi không rõ, nên liên lạc với lãnh đạo của trại …

Hiện trưởng nam của ông Trương Văn Sương là anh Trương Văn Dũng đang trên đường ra trại Nam Hà.

Ông Trương Văn Sương bị bắt năm 1984 , bị truy tố tội phản động, cấu kết với một Việt kiều Pháp là Trần Văn Bá để chống phá chính quyền cách mạng Việt Nam.
Sau đó ông Trấn Văn Bá bị án tử hình, ông Trương Văn Sương lãnh án chung thân và bị giam tại trại Nam Hà miền Bắc. Ngày 12 tháng Bảy 2010, vì đau ốm bệnh tật liên miên, ông được tạm cho về nhà một năm để chữa chạy.
Đến ngày 19 tháng Tám ông Trương Văn Sương bị áp tải trở ra trại giam Nam Hà để tiếp tục thi hành án và đã qua đời chỉ hai mươi lăm ngày sau khi trở lại vòng lao lý.

 

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.

 

——————————–

 

TIN LIÊN QUAN :

 

Tù nhân chính trị Trương Văn Sương đã bị áp tải trở lại trại giam

Thanh Trúc, phóng viên RFA, Bangkok    –    2011-08-19

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/life-priso-ordr-bck-to-pris-08192011064129.html

 

Tù nhân chính trị Trương Văn Sương trở về nhà tù

Nguyễn Bắc Truyển    –   19-8-2011

http://danlambaovn.blogspot.com/2011/08/tu-nhan-chinh-tri-truong-van-suong-tro.html   

 

Tù Nhân TRƯƠNG VĂN SƯƠNG, MỘT VỊ BỒ TÁT TRÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/tu-nhan-truong-van-suong-mot-vi-bo-tat.html

 

THƯ CẢM TẠ của Người Tù TRƯƠNG VĂN SƯƠNG

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/thu-cam-ta-cua-nguoi-tu-truong-van.html

 

CHỊU ĐỰNG KHỔ ĐAU, CHỜ CHỒNG ĐẾN CHẾT (VỢ người tù TRƯƠNG VĂN SƯƠNG)     (RFA)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/chiu-ung-kho-au-cho-chong-en-chet-vo.html

 

TRƯƠNG VĂN SƯƠNG là MỘT ANH HÙNG   (ngô Nhân Dụng)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/truong-van-suong-la-mot-anh-hung.html

 

TRƯƠNG VĂN SƯƠNG : TỪ ĐỊA NGỤC TRỞ VỀ VẪN KIÊN CƯỜNG  (Nguyễn Ngọc Quang)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/truong-van-suong-tu-ia-nguc-tro-ve-van.html

 

NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG và CUỘC HỒI HƯƠNG VỀ QUÊ NHÀ  (Nguyễn Khắc Toàn)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/nguoi-tu-truong-van-suong-va-cuoc-hoi.html

 

TIN THÊM về NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT TRƯƠNG VĂN SƯƠNG  (Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/tin-them-ve-nguoi-tu-bat-khuat-truong.html

.

ĐỊA CHỈ của NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT TRƯƠNG VĂN SƯƠNG   (Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/ia-chi-cua-nguoi-tu-bat-khuat-truong.html

Liên lạc con trai ông Sương, là anh Trương Văn Dũng, số 124/9, khóm 2, phường 3, đường 30 tháng 4, thị xã Sóc Trăng, Việt Nam. Ðiện thoại: (+84) 939460657

 

NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG KỂ CHUYỆN  (Đàn Chim Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/nguoi-tu-truong-van-suong-ke-chuyen.html

.

NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG LÊN TIẾNG TRÊN ĐÀI RFA   (RFA)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/nguoi-tu-truong-van-suong-len-tieng.html

.

MỘT NELSON MANDELA CỦA VIỆT NAM   (Người Việt)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/mot-nelson-mandela-cua-viet-nam.html

.

HÃY CHUNG TAY CỨU GIÚP NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG  (Đối Thoại) http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/hay-chung-tay-cuu-giup-nguoi-tu-truong.html

.

NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG RA KHỎI NHÀ TÙ NHỎ (Đối Thoại, Mỹ Linh)

http://nhanquyenchovn.blogspot.com/2010/07/nguoi-tu-truong-van-suong-ra-khoi-nha.html

.

TRƯƠNG VĂN SƯƠNG : NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT (Lê Minh)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2144/2144

.

NGƯỜI TÙ TRƯƠNG VĂN SƯƠNG (Tưởng Năng Tiến)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2143/2143

.

TÙ NHÂN TRƯƠNG VĂN SƯƠNG, MỘT NELSON MANDELA CỦA VIỆT NAM (Phạm Văn Thành)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2142/2142

.

VIẾT VỀ TÙ NHÂN TRƯƠNG VĂN SƯƠNG và NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÁC (Nguyễn Khắc Toàn)

http://lamvienbaoloc.multiply.com/journal/item/2141/2141

.

.

.

TÌNH ĐỒNG CHÍ & ĐỒNG PHỤC LỚN HƠN TÌNH YÊU QUỐC GIA (Trần Hoàng)

Tháng Chín 13, 2011

 

Tình đồng chí và đồng phục lớn hơn tình yêu quốc gia

Trần Hoàng

Posted on Tháng Chín 12, 2011 by hoangtran204

http://hoangtran204.wordpress.com/2011/09/12/tinh-d%e1%bb%93ng-chi-va-d%e1%bb%93ng-ph%e1%bb%a5c-l%e1%bb%9bn-h%c6%a1n-tinh-yeu-qu%e1%bb%91c-gia/

 

Khi quân đội của một nước khác đang chiếm lấy đất đai biển đảo của nước mình, và ngư phủ thì đang bị hiếp đáp, bắt cóc, bỏ tù, đòi tiền chuộc…thì những người dân trong nước bị ức hiếp, dù mạnh hay yếu, lẻ ra theo thói thường, đều phải lên tiếng phản đối, biểu tình, chất vấn, đòi lại người, đòi lại đất đai, biển đảo, lãnh hải đã bị mất. Và một số những người dân thường Việt Nam đã làm đúng như thế; họ đã phản ứng và làm hết sức mình những gì họ có thể làm, dẫu cho chính phủ của họ thì không (và viện cớ rằng họ có cách đòi khác…).

 

Hóa ra ở trên đời cách cư xử không phải chỉ có thế.

 

Chỉ đến khi nhìn thấy những bức hình dưới đây, thì các hình ảnh nầy đã nói thay tất cả.

 

Trong hình: Thủ tướng và Tổng bí thư của đảng cai trị đều có nét mặt tươi rói khi đón tiếp kẻ thù. Ông tổng bí thư thì chọn tông màu sao cho tiệp với màu cà vạt của kẻ thù. Và đặc biệt thay, ông thủ tướng đã không có một chút ngượng ngùng khi đã cố tình mặc áo quần có màu sắc, kẻ sọc giống y hệt như của kẻ thù; và ngay cả cái cà vạt mà cũng cố tình chọn sao cho có cùng một màu y hệt với màu cà vạt của kẻ thù!

Lẻ nào trên đời nầy lại có loại người như thế này vậy ta!

 

Tình “Đồng Chí và Đồng phục”

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2011/09/dongchi-dongphuc.jpg

 

.

.

.

SỨ THẦN VATICAN BỊ CÔNG AN VÂY, BỊ CẤM NGỦ Ở NHÀ THỜ (Người Việt)

Tháng Chín 13, 2011

 

Sứ thần Vatican bị công an vây, bị cấm ngủ ở nhà thờ

Người Việt

Saturday, September 10, 2011 5:40:04 PM
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=136906&z=2

 

PLEIKU (TH) – Sứ thần Tòa Thánh Vatican không thường trú tại Việt Nam, Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đã bị cấm ngủ qua đêm tại một nhà thờ ở thành phố Pleiku, trong khi một lực lượng đông đảo công an và bộ đội CSVN được rải ra tại nhiều nhà dân ở địa phương.

 

Một bản tin của Truyền Thông Dòng Chúa Cứu Thế cho hay như vậy về chuyện thăm viếng giáo phận Kontum của TGM Girelli.

Như chương trình đã sắp đặt, TGM Girelli và phái đoàn sẽ ngủ qua đêm tại nhà thờ Pleichuet, thuộc thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

 

Theo nguồn tin chuacuuthe.com: “Lý do chính thức từ phía chính quyền đưa ra là vì Ðức sứ thần là yếu nhân, nên không thể ở nơi an thiếu an toàn được. Trước đó, Ðức cha Micae Hoàng Ðức Oanh, giám mục Kontum, đã đề nghị chính quyền tôn trọng sự sắp xếp trước của Giáo Hội, tức là Ðức sứ thần vẫn sẽ qua đêm tại nhà thờ Pleichuet. Về phía Giáo Hội sẽ tăng cường bảo vệ an ninh, nên chính quyền không cần bận tâm việc tăng cường thêm an ninh đặc biệt.”

 

Tuy vậy, nhà cầm quyền địa phương cương quyết buộc TGM Pirelli phải ngủ qua đêm ở Tòa Giám Mục địa phận. Chuacuuthe.com nói rằng: “Mọi cố gắng đối thoại không có kết quả, mà chỉ có mệnh lệnh từ phía chính quyền đưa ra mà không hề dựa trên bất cứ quy định nào của luật pháp.”

 

Một điều được giáo dân ở Sài Gòn đang có mặt ở Pleichuet ghi nhận là: “Nếu như vùng Pleichuet không an toàn, vậy thì thời gian qua công an và bộ đội ở cả trong dân đã làm gì? Rõ ràng đây là cách gây khó dễ cho hoạt động tôn giáo.”

 

Không thấy có vấn đề gì đặc biệt xảy ra khi vị sứ thần Tòa Thánh đến Huế, Ðà Nẵng và Qui Nhơn những ngày trước đó.

 

Theo chương trình, từ ngày 3 đến 16 tháng 9, 2011, Ðức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam sẽ viếng thăm mục vụ các giáo phận thuộc giáo tỉnh Huế của Giáo Hội Việt Nam: Huế (3-5 tháng 9); Ðà Nẵng (5-7 tháng 9); Quy Nhơn (7-9 tháng 9); Kon Tum (9-12 tháng 9); Ban Mê Thuột (12-14 tháng 9) và Nha Trang (14-16 tháng 9).

 

Sáng ngày 10 tháng 9, 2011, sau Thánh lễ chính thức tại nhà thờ chánh tòa xong, TGM Girelli đã “đi viếng Ðức Mẹ Măng Ðen tại huyện Kon Plông, tỉnh Kontum, rất nhiều anh chị em giáo dân dùng phương tiện tự túc tháp tùng theo đoàn xe của Ðức sứ thần. Công an Kontum đã ngăn chặn giáo dân đi theo, gây rối loạn giao thông. Nhiều giáo dân phải tìm đường vòng, băng đường tắt để được đi. Những người khác đã phải tranh luận với công an, để đòi quyền đi lại của công dân,” theo chuacuuthe.com.

Lý do chính người ta tin rằng vị sứ thần Tòa Thánh Vatican bị cấm ngủ qua đêm ở nhà thờ Pleichuet là vì nhà thờ này do các vị linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cai quản. Có thể Hà Nội sợ các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế “tỉ tê” gì với TGM Girelli?

 

Nhà cầm quyền CSVN vốn có ác cảm với Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Các cuộc biểu tình đòi đất, đòi tài sản của nhà dòng ở giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, cũng như các buổi thắp nến cầu nguyện ở đó và ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn cầu nguyện cho công lý và sự thật, được chế độ nhìn như những tụ tập chống sự cai trị độc tài, đảng trị. Giám tỉnh DCCT Việt Nam, LM Phạm Trung Thành, hồi giữa tháng 7 đã bị nhà cầm quyền cấm xuất ngoại, mà không có một lý do chính đáng nào.

 

Nhà thờ Pleichuet là một nhà thờ đặc biệt của người Thượng thuộc sắc tộc Jrai, kiến trúc rất đặc biệt theo kiểu Nhà Rông. Bên cạnh nhà thờ Pleichuet là tu viện Dòng Chúa Cứu Thế trong địa phận Kontum và giáo xứ Pleichuet dược trao cho các linh mục thuộc DCCT coi sóc.

 

TGM Leopoldo Girelli được bổ nhiệm làm đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam từ ngày 18 tháng 6, 2011, kiêm nhiệm chức vụ Sứ Thần Tòa Thánh cạnh tổ chức các nước Ðông Nam Á, gọi tắt là ASEAN. Hiện nay, Ðức TGM Girelli cũng là Sứ Thần Tòa Thánh tại Singapore và Ðông Timor, kiêm Khâm sứ Tòa Thánh tại Malaysia và Brunei.

 

Nhà thờ giáo xứ Ðức An, phường Ia Kring trong thành phố Pleiku đã bị buộc gỡ tấm biểu ngữ căng ở cổng nhà thờ sát với lề đường để chào đón vị đại diện Tòa Thánh và phải treo ở trước nhà thờ, theo chuacuuthe.com.

Trong khi vị sứ thần Vatican không thường ở Việt Nam bị kiếm chuyện ở Pleiku thì giáo dân giáo xứ Cầu Rầm, giáo phận Vinh, biểu tình đòi nhà cầm quyền địa phương trả tài sản cho giáo xứ mà họ nói đang bị cướp đoạt trắng trợn. Khoảng 1,000 giáo dân Cầu Rầm, sáng 10 tháng 9, 2011, kéo đến trụ sở tiếp dân – UBND TP Vinh, đòi trả lại khu đất của nhà thờ bất chấp trời mưa gió.

Trước đó, giáo dân Cầu Rầm đã biểu tình nhiều lần đông hàng ngàn người, nhất quyết đòi lại đất thánh.

 

———————————–

 

TIN LIÊN QUAN :

Đức Sứ thần hướng dẫn hành hương tại Măng Đen – 11/09/2011

Đức TGM Leopoldo Girelli thăm UBND tỉnh Gia Lai: Đề nghị chính quyền quan tâm đến nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam – 11/09/2011

Nhớ về ngày 11.09 cách đây 10 năm – 11/09/2011

Kính Thăm Giáo Phận Vinh trong cơn bách hại – 11/09/2011

Hơn 1.000 giáo dân Cầu Rầm lên UBND tp. Vinh đòi công bằng cho nhà thờ – 11/09/2011

Đức sứ thần: Là giả dối khi bỏ qua thập giá trong đời sống kitô hữu – 10/09/2011

Tin mới nhận từ Kontum !!! – 10/09/2011

Đức sứ thần chủ tế thánh lễ tại nhà thờ Chánh toà Kontum – 10/09/2011

Nói chuyện với linh mục, tu sĩ Kontum: Đức sứ thần Tòa thánh quan tâm việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam – 10/09/2011

Xe máy cày trở thành xe chuyên dụng đón Đức sứ thần tại làng Kon Hring – 10/09/2011

 

 

.

.

.

ĐẢNG VIỆT TÂN TRI ÂN CHIẾN HỮU BỎ MÌNH VÌ ĐẠI CUỘC (Người Việt)

Tháng Chín 13, 2011

 

Ðảng Việt Tân tri ân chiến hữu bỏ mình vì đại cuộc

Ðỗ Dzũng/Người Việt

Sunday, September 11, 2011 6:05:58 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=136937&z=3

 

WESTMINSTER (NV) – Ðảng Việt Tân vừa tổ chức “Ngày Tri Ân” tại The Rose Center, Westmisnter, hôm Chủ Nhật để “tri ân các chiến sĩ đã đền nợ nước” với một nghi thức tưởng niệm rất long trọng.

 

Các cụ cao niên thắp nhang trước bàn thờ trong “Ngày Tri Ân” do Ðảng Bộ Nam California thuộc đảng Việt Tân tổ chức. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/136937-DP-VietTan-1—400.gif

 

Trong lời mở đầu, ông Trần Trung Dũng, bí thư Ðảng Bộ Việt Tân Nam California, nói: “Ðây là lúc chúng tôi suy nghĩ về những hy sinh của các chiến hữu tiên phong đã dày công thành lập đảng và các kháng chiến quân đã bỏ mình trên con đường mưu tìm tự do cho Việt Nam.”

“Ngoài ra, chúng tôi cũng muốn tri ân đồng bào, các đoàn thể, và thân hữu luôn sát cánh cùng đảng Việt Tân trong hơn ba thập niên qua trong công cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ tại quê nhà,” ông Dũng nói tiếp.

 

Không khí trang nghiêm và long trọng của buổi lễ làm một số người bùi ngùi và xúc động, khi nghĩ đến những người đã hy sinh.

 

Ông Ðỗ Hoàng Ðiềm (thứ nhì từ phải) và đồng hương thắp nhang trước bàn thờ. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/136937-DP-VietTan-2—400.gif

 

Chị Dạ Thảo Lê, cư dân Midway City, một thành viên của đảng, cảm động nói với nhật báo Người Việt: “Lần nào tham dự lễ tri ân tôi cũng xúc động. Những người hy sinh là người đi trước, trải đường cho chúng tôi. Hành động của họ thật dũng cảm, dám nghĩ đến công sức tổ tiên ông bà bỏ xương máu xây dựng đất nước, trong khi chúng tôi chưa làm được gì.”

“Qua buổi lễ này, chúng tôi sẽ cố gắng làm phần việc của mình và dạy thế hệ sau nối gót công cuộc đấu tranh, mong có ngày tự do cho Việt Nam. Chúng tôi cũng hy vọng người đấu tranh trong nước kết hợp với người Việt hải ngoại để đấu tranh chung,” chị nói thêm.

 

Bà Thanh Vân Nguyễn, từ Burbank xuống dự lễ, không phải là đảng viên Việt Tân, cho rằng “bất cứ ai đấu tranh cho đất nước nên được tri ân”.

“Họ bỏ công đấu tranh, hy sinh mạng sống, cũng nên tưởng nhớ và tri ân hàng năm, vì họ lo việc chung,” bà Thanh Vân chia sẻ.

Bà cũng cho biết bà tham dự lần này để “coi đường lối của đảng, tìm hiểu xem công việc của họ có ích lợi cho Việt Nam hiện nay không,” dù chưa biết có gia nhập đảng này hay không.

 

Quang cảnh “Ngày Tri Ân” của đảng Việt Tân tổ chức tại The Rose Center, Westminster. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/136937-DP-VietTan-3—400.gif

 

Cuối bức tường của hội trường là một bàn thờ lớn, có cờ VNCH, cờ đảng Việt Tân, bộ lư, dĩa trái cây, hoa, hai cây nến đỏ hai bên và hình của cố Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh và 11 người bỏ mình trong cuộc Ðông Tiến. Hai bên bàn thờ là cờ Mỹ, VNCH và Việt Tân.

 

Cuối hội trường là khu triển lãm với nhiều hình ảnh về cuộc vận động của đảng Việt Tân kèm theo hình ảnh của các thành viên và một số nhà tranh đấu trong nước. Ở một góc khác là những cuốn sách do một số thành viên của đảng viết.

 

Trước khi ông Trần Trung Dũng phát biểu, cụ Nguyễn Tư Mô bước lên bàn thờ thắp nén hương đầu tiên và vái ba lạy tưởng niệm những người đã khuất.

Kế đến, ban tổ chức cho chiếu bộ phim tài liệu “Ngày Dựng Ðảng” kể về hoạt động của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, tiền thân của đảng Việt Tân, ra đời ngày 30 Tháng Tư, 1980, từ Nhật, lan sang tới Pháp, Úc, Mỹ và Thái Lan.

Cũng theo bộ phim, “ngày 26 Tháng Mười Một, 1981, mặt trận mở chiến dịch Ðông Tiến, lập chiến khu đầu tiên mang số 81, với 15 chiến hữu tiên khởi”.

“Việt Tân có mạng lưới ở nhiều nơi trong và ngoài nước, riêng ở Việt Nam có khoảng 400 thành viên, và là nền tảng của Việt Tân ngày nay,” bộ phim cho biết tiếp.

 

Trong nghi thức tưởng niệm, chín cụ cao niên mặc áo dài khăn đóng bước lên bàn thờ thắp nhang vái lạy 12 di ảnh trong lúc bài hát “Trăng Chiến Khu” được cất lên.

“Bài hát này do chiến hữu Trần Thiện Khải phổ nhạc, dựa theo lời thơ của cố Phó Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh,” chị Dạ Thảo Lê cho biết.

Trong khi đó, từng người lần lượt xếp hàng lên thắp nhang tưởng niệm người quá cố.

 

Trước khi kết thúc chương trình là phần đọc lời tri ân, diễn đọc thơ, bài “Chiều Sâu Của Biển,” và trao đổi của ông chủ tịch đảng Ðỗ Hoàng Ðiềm cùng đồng bào.

 

–––-

Liên lạc tác giả: DoDzung@nguoi-viet.com.

 

————————–

 

Audio : Ngày Tri Ân

Radio Chân Trời Mới

Phát thanh/cập nhật: 12/09/2011

http://radiochantroimoi.com/spip.php?article9251

 

.

.

.

TRUNG QUỐC : ĐE DỌA NÀO CHO VIỆT NAM ? (Nguyễn Văn Huy)

Tháng Chín 12, 2011

 

Trung Quốc : đe dọa nào cho Việt Nam ?    

Nguyễn Văn Huy

Thứ hai, 12 Tháng 9 2011 11:15

http://www.ethongluan.org/index.php/trung-quoc-de-dao-nao-cho-vn.html

 

Trong suốt hai tháng hè vừa qua, không những dư luận trong và ngoài nước Việt Nam mà cả dư luận quốc tế đã rất quan ngại trước những tham vọng của Bắc Kinh trên vùng Biển Đông.

 

Tàu thuyền quân sự và dân sự của Trung Quốc đã liên tục xâm nhập vào hải phận của các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là khu vực độc quyền lập trường (EEZ-Exclusive economic zone) của hai nước Philippines và Việt Nam. Không những thế, các tàu tuần dương và tàu đánh cá của Trung Quốc còn xông vào cắt cáp dò tìm lòng đại dương của tàu thuyền Việt Nam và đổ dụng cụ xây dựng trên các hải đảo ngoài khơi Philippines. Những hành vi côn đồ này tuy có bị dư luận quốc tế lên án trong những hội nghị ASEAN cấp cao, nhưng Bắc Kinh đã không những không nhìn nhận sai trái của mình mà còn đưa thêm tàu quân sự vào tuần tra trên các vùng biển đang tranh chấp, đặc biệt là cho hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, Thị Lang, ngày 11/8 vừa qua như để răn đe quốc gia nào dám cản trở tham vọng bành trướng của họ trên Biển Đông.

 

Dư luận Việt Nam đã rất quan ngại trước áp lực này, nhiều cuộc xuống đường biểu tình chống Trung Quốc đã xảy ra trong suốt hai tháng hè vửa qua và chưa có dấu hiệu nào sẽ suy giảm, mặc dầu bị ngăn cản bởi các chính quyền địa phương. Không những người dân trong nước mà cả các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đều rất lo sợ bị Trung Quốc tấn công bằng quân sự.

 

Sự sợ hãi này là chính đáng vì Trung Quốc quá lớn và quá mạnh so với Việt Nam, số người thiệt mạng và tài sản bị hư hại trong các cuộc xung đột võ trang trên đất liền và ngoài biển cả sẽ rất cao, như đã từng xảy ra trong những năm 1979-1980 tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Nhưng thực tế đã không đúng như vậy, các cấp chính quyền cộng sản Việt Nam kể cả quân đội sợ khi xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, họ sẽ mất cơ hội làm ăn với các công ty, xí nghiệp Trung Quốc, lợi tức của họ sẽ giảm đi.

 

Tuy nhiên đe dọa bằng quân sự của Trung Quốc là một sự kiện có thực nếu chỉ nhìn vào số lượng những trang thiết bị hiện đại mà báo chí trong và ngoài nước cho biết. Kinh phí quân sự hàng năm của Trung Quốc được ước lượng khoảng 130 tỷ USD (ngang bằng ngân sách hàng năm của Việt Nam), đứng hạng hai thế giới, sau Hoa Kỳ. Một cách khách quan, trang bị quân sự của quân đội Trung Quốc ngày nay được xếp ngang hàng với những quốc gia phát triển nhất thế giới, nghĩa là được hiện đại hóa một cách đáng kể. Trung Quốc có hàng ngàn chiến đấu cơ, hàng ngàn tàu chiến, gần 100 tàu ngầm đủ loại, đó là chưa kể những binh chủng thiện chiến chính quy đang được đào tạo gấp rút trong những năm qua. Nếu xảy ra chiến tranh, với những trang thiết bị hiện nay, Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc.

 

Nhưng Trung Quốc có dám đánh Việt Nam không? Câu hỏi có ngay câu trả lời: Không! Trung Quốc sẽ không có lợi gì khi đánh Việt Nam. Thứ nhất sẽ bị dư luận thế giới lên án và bị cô lập về chính trị và ngoại giao; thứ hai hàng hóa của Trung Quốc sẽ bị tẩy chay trên các thị trường quốc tế để phản đối, điều này sẽ gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế Trung Quốc; thứ ba là sự đề kháng của dân tộc Việt Nam mà thiệt thòi nhất là những cơ sở và cư dân gốc Hoa đang sinh sống tại Việt Nam, và sau cùng là không đủ khả năng tài chánh duy trì áp lực quân sự trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

 

Hơn nữa Trung Quốc sẽ không tìm ra được lý cớ nào để đánh Việt Nam, vì Việt Nam không hề xâm phạm lãnh thổ và lãnh hải của Trung Quốc. Thái độ của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay là im lặng, nhẫn nhục chịu đựng để bão táp qua đi.

Thái độ của Philippines cũng không khác. Manila muốn giải quyết mọi tranh chấp trong hòa bình, nhiều buổi hội họp cấp cao giữa ASEAN và Trung Quốc đã được tổ chức trong suốt nhiều ngày qua. Phe nào cũng biết không có giải pháp cho một cuộc đụng độ võ trang trên Biển Đông.

 

Biển Đông tranh chấp

http://www.ethongluan.org/images/stories/images/dangsau_consong1.jpg

 

Vậy thì tại sao Bắc Kinh cứ tiếp tục gây hấn và làm áp lực với các quốc gia đang có tranh chấp về lãnh hải ? Đó là một câu hỏi cần phải trả lời một cách dài dòng, vì không giản dị. Chính Trung Quốc đang bị đe dọa chứ không phải những quốc gia nhỏ bé lận cận.

 

Quyết tâm bành trướng trên Biển Đông và phô trương lực lượng của Bắc Kinh chỉ nhằm che giấu một sự thật: Trung Quốc đang có nguy cơ bị tan rã. Bắc Kinh tung ra những đòn hỏa mù để đánh lừa dư luận quốc tế nhằm che đậy những khó khăn mà các cấp chính quyền trung ương và địa phương Trung Quốc đang phải đối phó: Trữ lượng ngoại tệ suy giảm, tổng số nợ khó đòi quá cao, nạn khan hiếm năng lượng, lỗ hỗng ngân sách quốc phòng, hỗn loạn xã hội và nạn sứ quân.

 

Trong suốt 30 năm qua, Trung Quốc đã đạt đến tỷ lệ phát triển cao hơn 10% nhờ gia tăng tốc độ sản xuất công nghiệp. Để đạt được con số 10% đó, nền sản xuất Trung Quốc cần rất nhiều nguyên nhiên vật liệu mà Trung Quốc không có. Tất cả đều phải nhập khẩu với giá cao. Tình trạng này không thể tiếp tục vì trữ lượng ngoại tệ của Trung Quốc đang suy giảm vì mất giá.

 

Số ngoại tệ dự trữ của Trung Quốc hiện nay lên đến hơn 2000 tỷ USD, hơn 2/3 được dùng để mua công khố của Hoa Kỳ. Cũng nên biết Trung Quốc hiện nay đang giữ trong tay khoảng 22% tổng số công phiếu của Hoa Kỳ (1268 tỷ trên tổng số 5763 tỷ USD), nếu kể thêm số công phiếu do Hồng Kông nắm trong tay, cả Trung Quốc giữ 25% tổng số công nợ của Mỹ, khoảng 1900 tỷ USD. Chỉ riêng trong tháng 8 vừa qua, khi hay tin Hoa Kỳ không đủ khả năng trả nợ, tổng trị giá công khố phiếu Hoa Kỳ do các ngân hàng Trung Quốc nắm giữ mất trắng 300 tỷ.

 

Bên cạnh đó là tổng số nợ khó đòi hiện nay của các ngân hàng Trung Quốc đã vượt trên 350 tỷ USD, tương đương với 5% GDP năm 2010. Khoảng tiền này được cấp để những công ty xí nghiệp xây dựng lớn hoàn tất các dự án xây cất cao ốc vào các dịp Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 và Hội Chợ Thượng hải 2010. Chi phí bảo trì những cao ốc không có văn phòng và người ở (40% diện tích xây dựng) rất cao, nhiều tòa nhà đang bị hư hỏng vì thiếu bảo trì. Thêm vào đó, những người vay tiền để mua phòng ốc không dùng để ở mà để đầu cơ. Bong bóng địa ốc trong các thành phố lớn đang sắp bùng nổ, đây là mối lo mà những nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang muốn giấu.

 

Quan trọng hơn là nạn khan hiếm nguyên nhiên vật liệu cho nền sản xuất công nghiệp và quốc phòng. Chính sự khan hiếm này đã buộc Bắc Kinh tìm mọi cách chiếm hữu các nguồn trữ lượng dầu khí trên Biển Đông. Đây là nguồn năng lực chính để duy trì tốc độ phát triển cao và sự hùng mạnh của quân đội. Cũng nên biết Trung Quốc ngày nay là cường quốc kinh tế thứ hai, sau Hoa Kỳ và trước Nhật Bản; ngoài than đá tổng số nhiên liệu cần cho một ngày hơn 100 triệu tấn dầu thô. Thêm vào đó, vì chưa làm chủ được nguồn năng lương nguyên tử, hệ thống quốc phòng Trung Quốc lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn dầu khí. Nếu xảy ra tranh chấp hay chiến tranh ngay trong lúc này và các đường vận chuyển năng lượng bị khóa, lực lượng tác chiến Trung Quốc không thể cầm cự quá một tháng vì thiếu nhiên liệu. Đây là mối lo chính của các cấp lãnh đạo đảng, dân sự lẫn quân sự. Chính vì thế, những hù dọa của Trung Quốc trên Biển Đông và biển Đông Á không làm ai sợ, trừ đảng cộng sản Việt Nam.

 

Một sự thật khác là ngân sách quốc phòng hiện nay là một lỗ hỗng không đáy, đổ bao nhiêu tiền vào cũng không đủ vì tham vọng của đảng cộng sản vượt quá khả năng thực hiện. Cũng nên biết nền quốc phòng Trung Quốc sẵn sàng chi tiêu bất cứ giá nào để thụ đắc những kỹ thuật quân sự mới. Quân đội Trung Quốc hiện nay được trang bị đủ loại vũ khí hiện đại nhưng công nghiệp quốc phòng chưa thiết kế hay sáng chế các loại động cơ, dù chạy bằng diesel hay nguyên tử, tất cả đều phải mua lại bằng sáng chế của nước khác. Không cần biết giới hạn của mình, các cấp lãnh đạo Trung Quốc còn muốn tranh đua với Hoa Kỳ ngôi vị lãnh đạo thế giới về quốc phòng với những kế hoạch sản xuất hàng không mẫu hạm, tàu ngầm nguyên tử, máy bay và tàu chiến tàng hình, và trong chương trình phóng vệ tinh hướng dẫn định vị (GPS). Không phải tình cờ Hoa Kỳ đứng đầu thế giới về các lãnh vực này, mỗi năm chính phủ Hoa Kỳ đã chi cho các chương trình này vài trăm tỷ USD, và sự tài trợ này đã kéo dài trong suốt 50 năm qua.

 

Một nỗi lo khác là bất ổn xã hội. Hiện nay những chu kỳ xây dựng cao ốc, nhà cửa đã hoàn tất, các ngành xuất khẩu hàng hóa đang sút giảm, các công ty, xí nghiệp Trung Quốc sa thải công nhân hàng loạt, đa số là những thanh niên từ nông thôn ra thành thị tìm việc. Khi mất việc không ai chịu trở về lại nông thôn. Nếu không tìm được việc làm ở nước ngoài, những thanh niên này ở lại thành phố, sống lây lất ngày này qua tháng nọ trong những khu nhà ổ chuột chờ tim một công việc khác. Trước kia thời gian tìm việc mới nhanh nhất từ một đến ba tháng, nay kéo dài đến 6, thậm chí 9 tháng. Trong suốt thời gian chờ đợi này, không ai biết cái gì sẽ xảy ra nếu những thanh niên này trở nên bất mãn. Đó là ở thành phố, còn ở thôn quê sự nổi dậy của nông dân dữ dội hơn, họ sẵn sàng chiếm đóng đồn bót, xung đột với cảnh sát. Theo dự trù, trong năm 2011 này có đến 300 000 vụ nổi dậy của dân chúng nông thôn chống lại chính quyền.

 

Nhưng sự tan vỡ của Trung Quốc không đến bởi những khó khăn về kinh tế, tài chánh hay khan hiếm nguyên nhiên vật liệu và bất mãn của dân chúng, nó đến từ sự bất mãn giữa những tỉnh duyên hải phát triển và giàu có phía Đông và những tỉnh lục địa chậm tiến và nghèo khó phía Tây. Chính quyền trung ương đã làm nhiều cố gắng để san bằng hố cách biệt này nhưng không thành công, những quan chức đến từ trung ương đã không những không giúp đỡ dân chúng địa phương mà còn thẳng tay đàn áp. Thực trạng này đã xảy ra tại Tân Cương, Tây Tạng và nay đang diễn ra tại Vân Nam và Quảng Tây. Các cấp chỉ huy các quân khu duyên hải sẵn sàng sử dụng bạo lực để duy trì trật tự, nhưng tình trạng này sẽ không thể tiếp tục kéo dài lâu. Sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo giữa các sắc dân thiểu số và người Hán đã quá sâu rộng khiến không thể hàn gắn vì bất mãn chất chứa từ nhiều đời và nhiều thế hệ. Bất mãn giữa các địa phương với trung ương hiện nay đã lên cao, chỉ cần một que diêm xuất phát từ một cấp chỉ huy có tài lôi kéo là bạo loạn sẽ liển xảy ra, và nạn sứ quân là điều không tránh khỏi.

 

Trước những khó khăn này, Trung Quốc sẽ không dám gây chiến với bât cứ quốc gia nào. Tất cả những phô trương và áp lực nói trên chỉ nhằm hù dọa những cấp lãnh đạo yếu bóng viá như Việt Nam mà thôi. Mặc dù Bắc Triều Tiên lệ thuộc vào Trung Quốc đủ mọi mặt, Bắc Kinh đã không sai khiến nỗi đàn em cứng cổ này.

 

Mối đe dọa về quân sự của Trung Quốc đối với Việt Nam coi như khó thực hiện. Nỗi lo sợ Trung Quốc hiện nay ở chính trong lòng các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam chứ không phải từ Trung Quốc. Đây là một sự thật. Nếu không biết quản lý đất nước một cách thông minh, Việt Nam sẽ không sớm thì muộn sẽ trở thành một hậu phương mờ nhạt của Trung Quốc. Tại sao ?

 

Tại vì với những khó khăn trước mắt, Trung Quốc không phải là mối đe dọa trực tiếp của Việt Nam. Muốn gây hấn với Việt Nam hay một quốc gia nhỏ bé nào đó như Lào, Miến Điện hay Thái Lan, Trung Quốc bị thiệt hại nhiều hơn là có lợi. Mối đe dọa chính của các quốc gia nhỏ bé lân bang với Trung Quốc đến từ văn hóa và kinh tế. Đe dọa này không có mùi vị thực dân hay bành trướng, nó đến vì chính người dân bản địa muốn.

 

Nhìn lại sinh hoạt văn hóa Việt Nam trong suốt 30 năm qua, tất cả bị bao trùm bởi văn hóa Trung Hoa. Lúc đầu đến từ Hồng Kông, Đài Loan, sau đó đến từ cộng đồng người Hoa hải ngoại rồi Trung Quốc. Trước năm 1975, dân chúng miền Nam say với với tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung của Đài Loan và phim chưởng của Hồng Kông. Sau 1975, dân chúng Việt Nam say sưa với những truyện phim kiếm hiệp hay xã hội nhiều tập của Trung Quốc. Các trường đại học ngoại ngữ có đông sinh viên học tiếng Quan Thoại hơn tiếng Anh hay tiếng Pháp. Áo quần và thời trang tại Việt Nam hiện nay bắt chước theo Trung Quốc.

 

Cũng từ văn hóa, các cấp lãnh đạo địa phương tại Việt Nam chấp nhận dễ dàng sự hiện diện của người Hoa trên những địa bàn nhạy cảm nhất của Việt Nam như các khu vực biên giới, sắc tộc ít người và các trục lộ giao thông vận chuyển chính để khai thác kinh tế. Quan sát kỹ hơn, không một địa phương nào, không một vùng trọng điểm nào không có sự hiện diện của người Trung Quốc, kể cả những vùng hẽo lánh nhất trên dãy Truờng Sơn tại Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị và Tây Nguyên. Khi ký những hợp đồng với các công ty xí nghiệp Trung Quốc, các cấp chính quyền địa phương không những được quà cáp mà còn được mời sang Trung Quốc tham quan miễn phí. Đó cũng là trường hợp của những hợp đồng xây dựng các hệ thống hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, bến cảng, phi trường, trường học, nhà cửa, v.v. Chính vì thế hơn 90% các hợp đồng kinh tế và đầu tư quốc tế đều do các công ty Trung Quốc nắm giữ, sinh hoạt kinh tế Việt Nam đang nằm trong tay người Trung Quốc.

 

Về công nghiệp, gần như tất cả các ngành sản xuất công nghiệp và bán công nghiệp đều nằm trong các công ty xí nghiệp Trung Quốc. Khi viếng thăm những thành phố dọc khu vực biên giới với Trung Quốc, du khách cứ tưởng là một thành phố của Trung Quốc, đó là trường hợp của các thành phố Quảng Ninh, Đông Hưng, Cao Bằng, Lạng Sơn, Sapa, v.v.

 

Văn hóa và kinh tế là mối đe dọa trực tiếp có thể làm mất bản thể Việt Nam mà các cấp chính quyền cộng sản hiện nay không thấy, hay thấy mà không biết phải làm gì. Đây là trách nhiệm của những cấp lãnh đạo mới.

 

Nguyễn Văn Huy

 

.

.

.

PHẢN ĐỘNG hay NÔ LỆ TINH THẦN ? (Việt Hoàng)

Tháng Chín 12, 2011

Phản động hay nô lệ tinh thần ?   

Việt Hoàng

Thứ hai, 12 Tháng 9 2011 11:59

http://www.ethongluan.org/index.php/phan-dong-hay-no-le-tinh-than.html

 

Tại Việt Nam, danh từ “phản động” thường được dùng để chỉ những nhân vật bất đồng chính kiến, những người đấu tranh cho dân chủ hoặc những trang mạng ở trong cũng như ngoài nước có nội dung phản đối chính quyền Việt Nam. Phản động theo nghĩa phổ biến của chính quyền Việt Nam ngày nay thì có nghĩa là: có tư tưởng chống đối và có thái độ thù địch với nhà cầm quyền, hay có hành động gây tác hại, làm cản trở sự phát triển của quốc gia hoặc gây bất ổn cho xã hội ?!

 

Từ phản động hiện nay được dùng phổ biến đến nỗi những ai có ý kiến khác biệt với đảng cộng sản Việt Nam, bất chấp ý kiến đúng hay sai, đều có thể bị gán cho cụm từ “phản động”. Và cũng chưa bao giờ động từ “phản động” này lại được dùng nhiều như thời gian qua, nhất là sau các cuộc biểu tình của người dân Việt Nam chống lại âm mưu xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc.

 

Từ phản động mà chính quyền Việt Nam, thông qua cơ quan báo chí, truyền thông và truyền hình, dùng để chụp mũ những người Việt Nam yêu nước tham gia các cuộc biểu tình tại Hà Nội đã gây ra một làn sóng phản đối dữ dội chưa từng có trong tầng lớp trí thức. Lý do cũng dễ hiểu: Trong những người trí thức yêu nước bị chụp cho cái mũ phản động có những tên tuổi lớn, những trí thức hàng đầu của Việt Nam.

 

Tôi chỉ xin đơn cử một trường hợp: Nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như “Đất nước đứng lên”, “Rừng xà nu”, “Rẻo cao”… Ông là người đã trải qua những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến “chống Mỹ cứu nước”. Nhà văn Nguyên Ngọc, năm nay đã 80 tuổi và được biết đến như là một người thẳng thắn, khẳng khái và… nghèo. Các tác phẩm của ông đều dựa trên những nhân vật và sự kiện có thật, như anh hùng Núp ở Tây Nguyên. Ông ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và các tấm gương người tốt, việc tốt. Nhiều tác phẩm của ông được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy trong trường học tại Việt Nam. Một con người có nhân cách lớn như ông, mặc dù đã lớn tuổi và bận rộn công việc, vẫn cố gắng tham gia biểu tình cùng người dân, hòa mình vào những khát vọng và lo lắng chính đáng của người dân là một biểu tượng đáng quý. Đáng lẽ ra chính quyền Việt Nam phải mời ông đến để nói chuyện và lắng nghe thì ngược lại họ đã đưa hình ảnh của ông lên truyền hình Hà Nội để bêu riếu những người tham gia biểu tình, họ còn trắng trợn vu cho ông bị các thế lực thù địch lôi kéo, xúi giục, lợi dụng và giật dây..?!

 

Nhà văn Nguyên Ngọc và các trí thức Việt Nam bị chụp mũ phản động đã phản đối bằng cách viết kiến nghị yêu cầu báo đài cải chính và xin lỗi, nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng, hoặc ù xọe cho qua chuyện. Đây là một sự xúc phạm nặng nề đến tấm lòng yêu nước của tầng lớp trí thức Việt Nam. Hơn 60 năm qua, chính quyền Việt Nam đã biến danh từ phản động thành phản đảng, phản cách mạng, nói chung có nghĩa là phản bội nhân dân, phản bội tổ quốc. Những ai bị chính quyền ghép cho tội phản động đều bị xem là thành phần nguy hiểm, xấu xa và đáng bị người dân xa lánh hoặc lên án.

 

Trong một bài viết cũ trên BBC, độc giả Trương Hùng (từ Hà Nội) đã viết rằng “Anh có thể kết tội tôi phản đảng. Tội ấy tôi xin nhận. Nhưng đừng suy diễn rằng phản đảng là phản quốc và kết tội tôi chống lại đất nước. Đó là sự xúc phạm ghê gớm nhất đối với mỗi con người Việt Nam còn giữ trong mình lòng tự hào và sự khắc khoải chờ mong về tương lai dân tộc”.

 

Thế nhưng, thế nào là phản động thì mỗi người lại hiểu một cách khác nhau. Với chính quyền cộng sản Việt Nam thì cứ ai đụng đến đảng, chỉ trích đảng, hay đơn giản là không đồng tình với đường lối của đảng thì đều bị coi là phản động. Nực cười hơn nữa là chỉ có đảng cộng sản Việt Nam có quyền phán ai là phản động và khi đảng đã bảo ai đó là phản động thì đương nhiên người đó là phản động. Những gì do đảng cộng sản Việt Nam phán ra đều là chân lý !

 

Cũng chỉ có đảng cộng sản Việt Nam mới có quyền thay đổi cách phán xét một người nào đó từ phản động thành anh hùng, hay ngược lại. Một ví dụ sinh động là trường hợp bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc: ông Kim Ngọc, một anh hùng trong công cuộc đổi mới của đảng (tác giả của “Khoán 10”), đã từng bị đảng xem là một kẻ phản động vì dám chống lại chính sách và đường lối của đảng trong việc đưa các hợp tác xã tiến lên xã hội chủ nghĩa. Bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” lấy ông Kim Ngọc làm nguyên mẫu đang được chiếu trên VTV4. Ai muốn biết thêm về sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của “đảng ta” thì nên chịu khó xem phim này.

 

Theo cách hiểu của tôi thì phản động là sự chống lại các trào lưu tiến bộ của xã hội”. Như vậy, “tất cả các hành vi, lời nói mà tác dụng của nó là chống lại những hành động, những tư tưởng tiến bộ, văn minh của con người đều là phản động”.

 

Nếu bạn đồng ý với nhiều suy nghĩa của tôi như trên thì những người trí thức Việt Nam đã không quản nguy nan để đồng hành cùng với người dân trong các cuộc biểu tình, hay những người cất cao tiếng nói đòi tự do dân chủ cho Việt Nam đều là những anh hùng của dân tộc. Họ không bao giờ là phản động cho dù chính quyền cộng sản Việt Nam cố gắng diễn giải cách nào đi nữa để gán ghép cụm từ phản động này cho họ. Bởi vì một lẽ đơn giản: tiêu chuẩn để đánh giá một người nào đó, hay một học thuyết nào đó là phản động hay tiến bộ phải là thực tế khách quan. Thực tế là thước đo cho sự đúng đắn của mọi chủ thuyết và hành động.

 

Trong một xã hội bưng bít và không có tự do như Việt Nam hiện nay thì vẫn còn hiện tượng vàng thau lẫn lộn. Những người yêu nước và tiên phong trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền tổ quốc và đòi tự do dân chủ cho nhân dân thì bị chụp mũ là phản động, còn những kẻ ăn trên ngồi trốc, thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiệm với vận mệnh của đất nước, của muôn dân thì lại ngạo ngược cho mình là chân lý, là đỉnh cao trí tuệ, là có chính nghĩa sáng ngời…

 

Những người tiên phong và đi trước thời đại, đi trước số đông luôn là những người cô đơn, chịu nhiều thiệt thòi nhất cho mình và cho gia đình, nhưng việc làm của họ sẽ được nhân dân và tổ quốc sau này ghi nhận. Giai đoạn hiện nay là giai đoạn mà vận mệnh đất nước đang lâm nguy vì thù trong, giặc ngoài, nhưng đồng thời đây cũng là cơ hội bằng vàng để những nhà trí thức, những người còn nặng lòng với non sông đất nước dấn thân, cất cao tiếng nói đòi tự do, dân chủ. Ai phản động? Ai yêu nước? Có lẽ cũng không khó để nhận ra!

 

Qua sự kiện chính quyền Việt Nam vu cáo và chụp mũ các nhà trí thức yêu nước là phản động, chúng ta còn thấy thêm một điều đáng buồn nữa đó là sự “nô lệ về tinh thần” của một số bộ phận người dân. Càng thất vọng hơn, trong đó có một số trí thức tên tuổi. Kịch bản đấu tố trí thức, bóng ma của quá khứ đấu tố địa chủ đang được chính quyền sử dụng trên các phương tiện truyền thông “lề phải”. Qua cách phát biểu của một số người vô danh tiểu tốt (được báo đài khuyến khích) trên truyền hình, kết tội người này là phản động, kẻ kia là phản quốc, mọi người đều biết là họ đã bị chính quyền cộng sản lôi kéo, kích động để đề nghị chính quyền nên có biện pháp mạnh với những người biểu tình v.v.

 

Những người này là ai ? Đa số là những công dân bình thường không ai biết đến. Và tôi tin rằng họ phát biểu và lên án những người xuống đường biểu tình là hoàn toàn tự nguyện chứ không bị ép buộc, sau khi được mớm lời. Họ là những người “nô lệ” hoàn toàn về tinh thần, chỉ biết ăn theo, nói leo những gì mà nhà nước nói, tivi nói. Họ không có khả năng, hoặc không muốn động não để nhận biết và tìm hiểu xem bản chất thật sự của một sự việc hay một con người nào đó. Họ vô tư và thản nhiên kết tội những người trí thức hàng đầu tại Việt Nam, trong đó có nhiều nhà văn, nhà giáo, giáo sư, tiến sĩ… Họ vừa lộng ngôn vừa phạm pháp, những người bị họ lên án có thể khởi kiện họ ra tòa về tội vu khống và xúc phạm người khác. Tất nhiên, bây giờ chưa có tòa án nào tại Việt Nam xét xử những vụ như vậy nhưng trong tương lai chắc chắn sẽ xảy ra, và hiện nay đang xảy ra.

 

Tin mới nhất vừa nhận được cho biết những nhà trí thức bị vu khống và chụp mũ phản động đã chính thức khởi kiện đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội. Đây là một việc làm cần thiết và là một tiền lệ để người dân bảo vệ mình trước sự vu cáo và bôi nhọ của báo chí nhà nước hoặc của những nô lệ về tinh thần.

 

Một số trí thức như phó giáo sư, tiến sĩ Vũ Duy Thông (báo Hà Nội Mới), hay đại úy Nguyễn Văn Minh (báo Quân Đội Nhân Dân)… (còn nhiều người nữa như Quí Thanh hay Hoàng Thu Vân nhưng tôi không muốn nhắc đến vì họ giấu mặt) cũng rơi vào tình trạng “nô lệ về tinh thần”. Họ nói và viết bất chấp sự thật, bất chấp thực tế trước mắt, họ chỉ biết nói đi nói lại những điều mà báo đảng đã nói suốt 60 năm nay.

 

Vì sao có tình trạng “nô lệ về tinh thần” này? Việt Nam có cần một cuộc Khai Sáng hay không? Thế nào là Khai Sáng? Triết gia lỗi lạc người Đức Immanuel Kant (1724-1804), người đặt nền móng cho kỷ nguyên Khai Sáng ở Châu Âu thế kỷ 18, trong bài “Khai Sáng là gì?” viết :

 

“Khai sáng là sự vùng thoát của con người khỏi tình trạng lệ thuộc mà anh ta đã tự cột mình vào. Tình trạng lệ thuộc là khi người ta không có khả năng sử dụng được trí tuệ của mình nếu không có sự giám hộ của kẻ khác. Tình trạng lệ thuộc là khi người ta có trí tuệ nhưng không đủ quyết tâm và dũng khí để sử dụng nó nếu không có sự giám hộ của kẻ khác. Vì vậy khẩu hiệu của khai sáng chính là: Tri thức là sức mạnh ! Hãy dũng cảm sử dụng trí tuệ của chính mình !

Lười biếng và hèn nhát là nguyên nhân khiến cho nhiều người, ngay cả khi tự nhiên đã giải phóng họ khỏi giai đoạn cầm tay chỉ việc đáng ghét, vẫn lấy làm sung sướng được làm trẻ con suốt đời. Cũng vì lí do đó mà nhiều kẻ mới trở thành người bảo hộ một cách dễ dàng đến thế. Đóng vai con trẻ mới dễ chịu làm sao!”.

 

Nên chú ý rằng bài viết này tác giả viết từ năm 1783! Tức là đã cách đây 228 năm.

 

Trí thức nói riêng và con người nói chung phải có tính độc lập: Độc lập trong suy nghĩ, độc lập trong hành động và độc lập trong cuộc sống. Nếu không được như thế, người đó chỉ là một con cừu để người khác dắt mũi, một đứa trẻ mang hình hài của người lớn. Ai cũng biết là dưới những chế độ độc tài thì tự do và độc lập là những thứ cấm kỵ, nhưng không vì thế mà con người đành chấp nhận làm trẻ con mãi. Đứng trước một sự kiện hay thông tin mới chúng ta phải tìm hiểu xem đâu là sự thật bằng cách là đối chiếu sự kiện đó với cuộc sống thực tế trước mắt.

 

Quyền lợi của nhà nước (kẻ cai trị) luôn trái nghịch với lợi ích của đa số người dân (những người bị trị), nhất là trong một nhà nước độc tài. Đây là một sự thật rất hiển nhiên, tiếc thay không phải ai cũng hiểu. Tôi có một người bạn thân và một ông chú là trung tá bộ đội về hưu, rất quí nhau nhưng có một điểm mà tôi không bao giờ đồng ý với họ, đó là lúc nào họ cũng cho rằng chính quyền Việt Nam luôn luôn đúng! Còn tôi thì cho rằng người dân là luôn đúng, luôn luôn có lý! Họ chỉ là thường dân nhưng lúc nào cũng tưởng mình là quan chức của nhà nước để rồi từ đó ra sức biện minh cho mọi chính sách của nhà nước. Nếu một số đông những kẻ bị cai trị lại tưởng mình là kẻ cai trị thì rõ ràng là có một cái gì đó không bình thường. Tai họa chắc chắn sẽ đến với người bị trị, và kẻ cai trị sẽ được thể tha hồ làm mưa làm gió trong khi những kẻ bị trị ngày càng khốn khổ bởi sự bóc lột, lòng tham vô đáy và sự tàn nhẫn của những kẻ cai trị.

 

Mọi sự lầm lẫn đều phải trả giá nhưng lầm lẫn về giá trị của con người sẽ là lầm lẫn lớn nhất và phải trả giá cao nhất. Vì phản động, do không chịu hiểu qui luật của cuộc sống, không hiểu được bước tiến của bánh xe lịch sử, không hiểu được tâm tư nguyện vọng của người dân mà các nhà độc tài như Ali, Mubarak, Gaddafi và Ceaucescu trước đó đã phải gánh chịu một kết cục bi thảm cho bản thân và cho gia đình.

 

Thế giới đổi thay nhanh chóng, với sự hỗ trợ của internet, mọi bức màn bí mật và giả dối lần lần đều bị rơi rụng. Người dân ngày càng khôn ngoan và hiểu biết hơn. Đã đến một giai đoạn mà các chính quyền không thể muốn làm gì thì làm. Cái gì phải đến sẽ đến. Để thay đổi số phận của một dân tộc, một cuộc cách mạng thôi sẽ không đủ. Trước hết dân tộc đó phải được Khai Sáng.

 

Và “để có thể khai sáng một cộng đồng, điều cần thiết duy nhất là tự do. Quyền tự do chất vấn là hình thức tự do vô hại nhất để một người trình bày công khai lí trí của mình về mọi lĩnh vực” (I. Kant).

Để kết luận, tôi sẽ rất tự hào nếu được chính quyền Việt Nam xếp cùng với những người trí thức như nhà văn Nguyên Ngọc là thành phần phản động.

 

Việt Hoàng

 

.

.

.

Làm thế nào để giải trừ HIỂM HỌA BẮC THUỘC ? (GS. Vũ Quốc Thúc)

Tháng Chín 12, 2011

 

Làm thế nào để giải trừ HIỂM HỌA BẮC THUỘC ?

GS. Vũ Quốc Thúc

Lundi 12 Septembre 2011 18h27

thuc.vu-quoc@wanadoo.fr

 

Lời dẫn : Bài nghi luân này tôi viêt tu dâu nam 2002 . Không ngo nay lai tro nên ” thoi su nong hôi ” ! Chinh tôi cung quên mât là phô biên o bao nào : co le là trong tap chi Khai Thac Thi Truong sô Têt Nhâm Ngo .

 

——————————

 

Trong một bài xã luận viết hồi đầu tháng 4 vừa qua , nhan đề “Hiểm họa Bắc thuộc” , chúng tôi đã lưu ý quốc dân là nếu việc lên tiếng mạnh mẽ để phản đối nhóm cộng sản cầm quyền ở Hà Nội về vụ “cắt đất dâng biển” cho Trung Quốc là một việc cần phải làm thì đồng bào ta đừng quên một nguy cơ khác quan trọng hàng vạn, hàng triệu lần hơn nữa : đó là hiểm họa Bắc thuộc. Dựa trên một khẩu hiệu được Giang Trạch Dân dùng làm phương châm trong chính sách bang giao với Việt Nam ( “láng giềng hũu nghị , hợp tác toàn diện , ổn định lâu dài , hướng tới tương lai” ) chúng tôi đã nói lên ưu tư của chúng tôi khi tìm hiểu ẩn ý của chính quyền Bắc Kinh, đặc biệt về chủ trương hợp tác toàn diện nói ở khẩu hiệu. Phải chăng Bắc Kinh đang tìm cách thực hiện cái mộng nghìn xưa của Trung Hoa là thiết lập một đế quốc Ðại Hán trong đó Việt Nam sẽ là một tỉnh nhỏ, hoặc nhiều lắm là một tiểu bang được tự trị phần nào về mặt hành chính ?

 

Những việc xẩy ra trong mấy tháng vừa qua như : quyết nghị thành lập khu mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và các nước ASEAN , việc Bắc Kinh dự trù xây hàng chục cái đập trên thượng nguồn sông Cửu Long và dùng những dự án ấy để uy hiếp các nước ở hạ lưu sông này, việc Hà Nội xử tù một cách cực kỳ phi lý luật gia Lê Chí Quang chỉ vì nhân vật này đã cả gan công khai nêu vấn đề “cảnh giác Thiên Triều” và gần đây nhất là việc bắt giữ rồi khám xét tư gia của cựu đại tá Phạm Quế Dương cùng học giả Trần Khuê ( cả hai nhân vật này đều từng lên tiếng phản đối các hiệp định Việt Trung về biên giới và lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ )… cho thấy mối lo ngại của chúng tôi là chính đáng. Cổ nhân có câu : “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” . Một khi biết rõ nguy cơ đang đe dọa dân tộc mà không tìm cách đối phó, quả thực là bất trung nếu không phải là bất trí. Chính vì thế mà chúng tôi đưa ra một vài ý kiến thô thiển dưới đây với niềm hy vọng là có thể giúp ích phần nào cho những ai có khả năng và điều kiện thuận lợi hơn mình để hành động kịp thời.

 

* * *

 

Trước hết, cần xét lại sách lược mà tổ tiên chúng ta đã áp dụng trong quá khứ để bảo vệ chủ quyền thực sự của dân tộc cũng như sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.

 

Sau khi đã lật đổ chế độ nội thuộc – một chế độ trong đó nước ta bị coi là một quận của Trung Hoa, trực tiếp do Triều đình Trung Hoa cai trị qua một vị thái thú (dĩ nhiên là người Trung Hoa do hoàng đế Trung Hoa bổ nhiệm) – để được yên ổn trị quốc, các vua ta đành chấp nhận đế quyền của hoàng đế Trung Hoa, coi vua Tầu là Con Trời (Thiên Tử) còn mình thì chỉ là một quốc vương được Thiên Tử phong chức. Sự phục tòng được cụ thể hóa bằng chiếc ấn vàng do vua Tầu ban cho cùng với sắc phong vương : đối lại, cứ bốn năm một lần ta phải cử một sứ bộ mang lễ vật gồm vàng bạc và sản phẩm quý báu để cống hiến Thiên Tử Tầu . Dưới nhỡn quan của pháp lý Tây phương thì mối liên hệ này có tính cách thân trạng (personnelle ) nghĩa là có giá trị giữa “con người” của vua ta với “con người” của vua Tầu . Cơ sở của mối liên hệ là chủ thuyết phong kiến, theo đó chỉ có một Con Trời là Hoàng đế Trung Hoa còn vua nước ta – giống như vua các nước nằm trong quỹ đạo của Trung Hoa – đều do Hoàng đế Trung Hoa phong chức. Chính vì vậy mà mỗi khi có sự thay đổi triều đại ở nước ta, chẳng hạn chuyển từ nhà Trần sang nhà Hậu Lê, cần đươc sự chấp thuận, hay đúng hơn: sự thừa nhận của Hoàng Ðế Trung Hoa. Sự phục tòng này có tính cách nguyên tắc và nghi lễ nhiều hơn là thực tế vì trong thực tế các vua nước ta tự quyết mọi việc , kể cả trong lảnh vực quân sự và lãnh vực ngoại giao (dĩ nhiên trừ trường hợp ta chấp nhận sự đô hộ hay bảo hộ của một nước khác ngoài Trung Hoa). Ta đừng trách tổ tiên quá nhượng bộ Trung Hoa: trong hoàn cảnh lịch sử chung của toàn thế giới và đặc biệt của Á Ðông trước thế kỷ XIX, một nước nhỏ yếu như nước ta mà giữ vững được bản sắc dân tộc cũng như chủ quyền và lãnh thổ quốc gia, trước khuynh hướng bành trướng tất yếu của một láng giềng khổng lồ như Trung Hoa, phải công nhận là một thành công chiến lược. Mỗi lần Trung Hoa mưu toan dùng võ lực thôn tính nước ta để tái lập nền đô hộ, nhân dân ta đã không ngần ngại hy sinh xương máu chống trả cực kỳ oanh liệt. Nhưng sau khi chiến thắng, các vị lãnh đạo nước ta thời xưa đã có thái độ rất thực tiễn, biết chế ngự xu hướng tự ái, chịu nhượng bộ Triều đình Trung Hoa tới một mức nào coi là không làm thương tổn nền độc lập thực sự của dân tộc ngõ hầu bình thường hóa bang giao giữa hai nước.

 

Về phía Trung Hoa, khi xét lại quá khứ, chúng tôi nhận thấy họ đã áp dụng chính sách sau đây đối với nước ta, một láng giềng họ coi là “cứng đầu”, khó xâm chiếm bằng võ lực. Thay vì áp đặt nền đô hộ một cách công khai và trực tiếp, họ đã duy trì bá quyền xuyên qua hai lãnh vực văn hóa và tổ chức chính trị. Về văn hóa, yêu cầu bất biến của họ là ta phải dùng chữ hán trong mọi công văn, nếu phải dùng chữ nôm thì chỉ để bổ trợ cho chữ hán mà thôi (chẳng hạn khi không thể dịch những từ Việt ra chữ hán) . Ta cần nhớ rằng sự thống nhất quốc gia Trung Hoa, ngoài việc tổ chức lãnh thổ thành tỉnh, huyện đặt dưới sự cai trị của Triều đình, từ xưa đến nay dựa hoàn toàn trên chữ Hán: Mỗi vùng tuy có tiếng nói riêng của mình, nhưng nhờ chữ Hán nên vẫn có thể liên lạc với triều đình và các vùng khác. Một khi An Nam (tên cũ của nước ta) vẫn dùng chữ Hán, thì triều đình Trung Hoa coi ta chẳng khác chi các tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây, Vân Nam …! Chính vì để thỏa mãn yêu cầu của Triều đình Trung Hoa mà cho tới lúc Pháp thuộc, nước ta vẫn dùng chữ Hán làm chữ chính thức, mặc dù chữ Nôm đã được sáng chế từ thời Nhà Trần (thế kỷ XIII) và chữ quốc ngữ từ thời Trịnh – Nguyễn (thề kỷ XVII) . Dĩ nhiên, cùng với việc phổ bién hán tự nước ta đã dựa trên Nho Giáo của Trung Hoa để tổ chức nền quốc học: với chế độ khảo thí phỏng theo kiểu mẫu Trung Hoa, tầng lớp Nho sĩ rõ ràng đã giữ độc quyền trị nước từ thế hệ này qua thế hệ khác. Khỏi cần nói là các nhà nho thành thực tin rằng ngoài Trung Hoa, mọi dân tộc khác đều chưa văn minh: dù chẳng có áp lực nào, các cụ vẫn chấp nhận không chút dè dặt chủ trương Nho giáo độc tôn và Nho sĩ chuyên chính của Trung Hoa ! Ðiều này cho ta hiểu tại sao từ sau đời Gia Long, triều đình Huế đã thẳng tay đàn áp những gì coi là “bàng môn tả đạo” …

 

Dĩ nhiên các vua ta đã theo đúng kiểu mẫu quân chủ Trung Hoa trong sự tổ chức chính trị: đó là một cách để trấn an giới chức quyền Trung Hoa. Một khi thấy An Nam tổ chức giống hệt Thiên Triều, do đó có thể sáp nhập dễ dàng vào hệ thống đế quyền Trung Hoa, thì các giới chức này tin rằng chỉ cần “nắm” vị lãnh đạo tối cao của An Nam qua việc sắc phong vị này làm An Nam Quốc Vương, là có thể nắm được toàn nước An Nam ! Thật là giản dị ! Thật là kín đáo ! Mà lại không bị hao binh tổn tướng ! Sự phân tích vừa rồi cho hiểu tại sao Triều đình Trung Hoa hồi thế kỷ XIX luôn luôn chủ trương An Nam là một nước chư hầu của mình trong khi, dưới mắt của mọi người Việt, nước ta đã phục hồi độc lập từ thời Ngô Quyền (thế kỷ thứ X) . Tiền nhân đã chấp nhận bá quyền của Trung Quốc trong lãnh vực văn hóa vì cho rằng sự lệ thuộc tinh thần này không có hại cho dân tộc. Lịch sử chứng minh là các cụ đã tính lầm: vì nước ta đã bỏ lỡ cơ hội canh tân theo gương Âu Tây như Nhật Bản đã làm dưới triều Minh Trị Thiên Hoàng. Và rút cục, ta đã bị Pháp Quốc thôn tính trong hậu bán thế kỷ XIX.

 

Tóm lại, lịch sử đã cho ta một bài học đắt giá: chủ trương độc tôn về văn hóa và chế độ độc quyền lãnh đạo của một tầng lớp xã hội có thể kềm hãm sự tiến bộ của dân tộc và đưa tới nạn mất nước.

 

* * *

 

Ngày nay, quốc dân đang đứng trước một ngã ba lịch sử: hoặc là tiếp tục theo định hướng xã hội chủ nghĩa kiểu Trung Hoa như nhóm cầm quyền ở Hà Nội đang làm, hoặc là chọn kiểu mẫu dân chủ tự do Tây phương như nhiều người đề nghị. Trong sự quyết định, không những chúng ta phải phỏng theo xu hướng tiến hóa chung của thế giới mà phải luôn luôn lấy quyền lợi tối thượng của dân tộc làm tiêu chuẩn.

 

Dĩ nhiên, từ ngày chữ quốc ngữ được phổ biến trong toàn dân, ta không còn lệ thuộc hán tự như xưa nữa và ta cũng không cần phải qua trung gian hán văn để tìm hiểu khoa học cũng như kỹ thuật hiện đại. Như vậy, trên nguyên tắc, Trung Hoa không thể dùng hán tự và hán văn để chi phối người Việt. Khốn nỗi, nhóm cầm quyền ở Hà Nội đã tự ý đem giây buộc cổ mình: họ đã chọn chủ thuyết Mác Lê-nin làm triết lý độc tôn và chế độ vô sản chuyên chính (hay đúng hơn Cộng sản đảng chuyên chính) làm cơ sở chính trị. Do đó đảng Cộng sản Trung Hoa có thể lợi dụng “giây thòng lọng văn hóa” này để biến nước xã hội chủ nghĩa đàn em Việt Nam thành một chư hầu kiểu mới của nước xã hội chủ nghĩa đàn anh Trung Hoa. Ai cũng biết là sau khi khối cộng sản Liên Xô tan rã, không còn nước cộng sản nào khác có đủ khả năng đóng vai đối trọng so với Trung Hoa: Bắc Kinh đương nhiên trở thành trung tâm quyền lực chi phối những phần đất còn lại của thế giới cộng sản cũ. Không thiếu gì cán bộ cộng sản Trung Hoa đang nhớ lại ước mơ “đế quốc Ðại Hán” của tổ tiên họ thời xưa: tại sao lại không dùng chủ thuyết Mác-Lê nin làm một lợi khí văn hóa, thay cho Nho giáo, để xây dựng bá quyền ?

 

Vẫn biết, ngày nay không ai có thể làm sống lại các nghi lễ “phong sắc” và “triều cống” của thời phong kiến nhưng việc Hồ Cẩm Ðào đích thân cầm đầu một phái đoàn hùng hậu tới dự Ðại Hội IX của đảng Cộng Sản Việt Nam để “chứng kiến” việc bầu tân Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh có khác gì một hình thức thừa nhận ? Cuộc xuất ngoại chính thức đầu tiên của Tân Tổng Bí Thư họ Nông là dẫn một phái đoàn không kém hùng hậu sang Bắc Kinh để viếng thăm “hữu nghị” các lãnh đạo cộng sản Trung Hoa. Nếu những cuộc viếng thăm hữu nghị giữa hai chính đảng đồng mầu sắc ở hai nước khác nhau là chuyện thông thường thì những cuộc viếng thăm chính thức này có một tầm quan trọng đặc biệt khi hiến pháp dành cho đảng Cộng sản, ở nước ta cũng như ở Trung Hoa, độc quyền lãnh đạo đất nước !

 

Ta cũng nên biết rằng, trong điều kiện của thế giới hiện đại, bá quyền của Trung Hoa có thể vượt khỏi lãnh vực văn hóa để lan tràn sang nhiều lãnh vực khác, do đó nó có thể gây rất nhiều tai hại. Về mặt kinh tế chẳng hạn, làm sao Việt Nam có thể ngăn chặn hàng hóa Trung Hoa vừa rẻ vừa tốt tràn ngập thị trường quốc nội, bóp nghẹt những kỹ nghệ non yếu của ta ? Làm sao Việt Nam có thể cạnh tranh với những khu vực kinh tế đặc biệt ở Trung Hoa như Thượng Hải, Quảng Châu, Thẩm Quyến … để thu hút vốn đầu tư ngoại lai ? Việc thiết lập “Vùng mậu dịch tự do Á Châu” dù chỉ hoàn thành trong 10 năm nữa nhưng cũng vẫn khiến cho tư bản Âu Mỹ ngay từ bây giờ ưa chuộng lục địa Trung Hoa hơn là các nước Ðông Dương … Về mặt quốc phòng, khỏi cần nói là Trung Hoa đang kiểm soát thượng nguồn Cửu Long Giang và khi hữu sự có thể uy hiếp các nước ở hạ lưu sông này như: Thái Lan, Lào Quốc, Kampuchia và Việt Nam. Ðó là chưa nói tới việc hải quân Trung Hoa có thể phong tỏa Việt Nam một khi tầu chiến của họ làm chủ Ðông Hải, suốt từ Vịnh Bắc Bộ tới vùng quần đảo Trường Sa …

 

Kẻ viết bài này không có tinh thần bài ngoại, đặc biệt đối với Trung Hoa là một nước lớn có nhiều sắc thái. Tuy nhiên cái lô gích của sự chênh lệch giữa các quốc gia trên trường quốc tế, khiến cho những nước nhỏ, nghèo, yếu kém phải luôn luôn đề phòng. Ðừng nên để cho sự chênh lệch đưa tới tình trạng lệ thuộc khiến cho ta mất dần chủ quyền rồi tới bản sắc dân tộc, cơ hồ bị đại cường láng giềng hoàn toàn đồng hóa. Sự phân tích kể trên đưa chúng tôi tới kết luận: Muốn giải trừ hiểm họa Bắc Thuộc việc đầu tiên phải làm là chấm dứt tình trạng chủ nghĩa Mác-Lê nin giữ địa vị độc tôn về tư tưởng và Ðảng Cộng Sản Việt Nam giữ độc quyền về chính trị. Nói khác phải có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do giáo dục con em … Lại phải tôn trọng mọi quyền tự do của người công dân như ở những nước thực sự dân chủ.

 

Chúng tôi tin rằng một khi người dân Việt được tự do như vậy, thì qua các cuộc tuyển cử và đầu phiếu trung thực, nhân dân sẽ có những quyết định hợp lý, hợp tình để đối phó với mọi nguy cơ ngoại thuộc. Lúc đó những người yêu nước sẽ không còn lo ngại là vận mệnh của dân tộc hoàn toàn tùy thuộc vào sự quyết định thầm kín của một nhóm người bị ngoại bang chi phối ./.

 

Paris, tháng Chạp năm Nhâm Ngọ
Vũ Quốc Thúc

 thuc.vu-quoc@wanadoo.fr

 

.

.

.

NGOẠI CẢM TA, DƯỚI MẮT TÂY (Trần Khải)

Tháng Chín 12, 2011

 

Ngoại Cảm Ta, Dưới Mắt Tây

Trần Khải

(09/11/2011)

http://www.vietbao.com/D_1-2_2-66_4-179758_15-2/

 

Thế giới nhìn như thế nào về những trường hợp ngoại cảm tìm mộ tại Việt Nam? Đặc biệt là dưới mắt phóng viên phương Tây?
Báo The Economist trên ấn bản ngày 10-9-2011 đã có bài viết nhan đề “Talking to the dead in Vietnam: Visa procedures” (Nói Chuyện Với Người Chết tại VN: Thủ Tục Chiếu Khán Nhập Cảnh), trong đó tường thuật về hiện tượng sử dụng ngoạị cảm để tìm mộ tại VN.
Phóng viên báo này nói rằng, trong một khu phố văn phòng 4 tầng lầu cũ kỹ, ông Vũ Thế Khánh điều hành cái mà ông gọi là một trong những “tòa đại sứ” bận rộn nhất tại Hà Nội. Nhưng không giống như bất kỳ sứ quán bình thường nào, các vị khách của ông là những người đã chết.
Ông giám đốc tóc bạc của cơ quan được mệnh danh kỳ dị là Science and Technology Union for IT Application (Liên hiệp Khoa học Công nghệ Tin học Ứng dụng, thường viết tắt là UIA) giải thích, “Chúng tôi trao visa cho người chết tới đây và nói chuyện với thân nhân của họ.”
Mỗi ngày, tổ chức của ông giúp khoảng 100 người tìm xác người thân đã chết trong những cuộc chiến đẫm máu trong thế kỷ 20 của VN.
Nhiều người Việt tin rằng cần phải có nghi lễ mai táng tử tế cho tiền nhân để bảo đảm rằng họ sẽ là những vị thiện thần bảo vệ, chứ không thì lại trở thành những con ma giận dữ về quấy rối con cháu, mang theo bệnh hoạn và xui xẻo.

 

Gần 4 thập niên sau khi Bắc Quân thuộc phe CS chiến thắng Nam Quân VN thuộc phe tự do với hỗ trợ của Mỹ, hàng trăm ngàn xác bộ đội vẫn còn mất tích, gây nỗi đau buồn và (nhiều người nói là) xui xẻo cho gia đình của họ.
Đời sống khá giả hơn tại đất nước 87 triệu dân này đã thúc đẩy nhu cầu lên đồng và ngoại cảm được cho là có thể dò tìm xác bộ đội chết trận. Những trung tâm ngoại cảm giúp tìm mộ đã mọc lên, một số trung tâm tính tiền rất đắc.
Những hoạt động như thế trước kia bị cấm vì nghịch với ý thức hệ Cộng Sản, những người quy chụp là “dị đoan lạc hậu.” Nhưng niềm tin truyền thống của dân tộc đã hồi phục mạnh mẽ, trong khi chính phủ cho người dân thêm cởi mở kinh tế và xã hội trong thập niên qua.
Cùng lúc đó, theo lời ông Ngô Đức Thịnh, người điều hành một trung tâm nghiên cứu niềm tin truyền thống ở Hà Nội, xã hội ngày càng nhiều bất bình đẳng đang thúc đẩy những người thất thế trong xã hội hướng về thế giới tâm linh để được an ủi.
Bây giờ thì có thêm nỗi lo là nhiều gia đình đau khổ đang bị lừa gạt bởi những kẻ gian lận tự xưng là nối kết được thế giới bên kia. Hai tờ báo VietnamNet và Tuổi Trẻ đã có những bài viết lật tẩy các nhà ngoại cảm dỏm.
“Có lẽ chỉ có chừng 20 nhà ngoaị cảm thực tại VN, trong khi hàng trăm là đồ dỏm,” theo lời ông Vũ Thế Khanh, nơi trung tâm của ông nói là đã dò ra được trung bình từ 5,000 tới 10,000 xác liệt sĩ mỗi năm miễn phí.
Chính phủ CSVN ở thế khó xử. Mặc dù biểu lộ thù địch đối với các chuyện dị đoan, nhưng vẫn phải bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình nhiều triệu bộ đội đã hy sinh.

Một cách công khai, chính phủ nói là mặc dù biết ơn các nhà ngoaị cảm giúp tìm mộ liệt sĩ, nhưng không chính thức chấp thuận các phương pháp như thế. Chính phủ khuyến khích các gia đình sử dụng cách thử nghiệm DNA để tìm liên hệ thân tộc với hài cốt mà họ tìm được.
Vào giữa tháng 8-2011, chính phủ mở ra trang web có tên là “Honouring Martyrs” (Vinh danh liệt sĩ), trong đó cho người sử dụng trao đổi thông tin về những nơi có thể tìm được người thân đã chết trận, một trường hợp hiếm hoi được chính phủ CSVN cho “tụ tập đông người” trong một quốc gia toàn trị vẫn ngăn cản các trang web xã hội kiểu như Facebook.
Một cách lặng lẽ hơn, những kiểu được như ông Khanh và ông Thịnh đang làm việc với các nhà ngoại cảm và các cán bộ nhà nước để lọc ra những nhà ngoaị cảm dỏm chỉ muốn làm tiền.

Các quan chức VN vẫn còn cảm thấy nhu cầu can thiệp trong hầu hết lĩnh vực của đời sống kinh tế, nhưng họ có lẽ không muốn dính vào chuyện phân biệt xem ai là nhà ngoaị cảm thực và ai là dỏm.
Đó là toàn văn các thông tin từ bài viết trên tờ The Economist.

Tất nhiên, dưới mắt phóng viên phương Tây, ngôn ngữ lúc nào cũng dè dặt, cẩn trọng.

Có một câu hỏi lẽ ra nên đưa ra: bao giờ các nhà ngoại cảm Trung Quốc sẽ vào lãnh thổ VN để tìm mộ các chiến binh TQ đã chết trong những năm trước đây?

 

.

.

.