BẢN ĐỆ TRÌNH KIỂM ĐIỂM ĐỊNH KỲ PHỔ QUAT về VIỆT NAM của các tổ chức VĂN BÚT QUỐC TẾ, VĂN BÚT ANH, ARTICLE 19 và ACCESS (Article 19)

 

 
Bản dịch của Luna Nguyen (Defend the Defenders)
Posted on June 21, 2013 by DtD
 
Dành cho việc xem xét tại kỳ họp lần thứ 18 của nhóm công tác LHQ năm 2014

Ngày 17.6.2013

Giới thiệu
 
 1. Văn bút Quốc tế, Văn Bút Anh, Article 19 và Access hân hạnh có cơ hội đóng góp cho vòng thứ hai của quy trình Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) đối với Việt Nam. Dựa trên những lĩnh vực chuyên môn của các tổ chức trên đây, bản đệ trình này tập trung vào sự tuân thủ các nghĩa vụ nhân quyền quốc tế liên quan đến việc tôn trọng tự do ngôn luận của Việt Nam.
 
2. Tại cuộc Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát 2009, Việt Nam đã chấp nhận 94 khuyến nghị của Nhóm Công tác. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã thực hiện không đúng theo một số khuyến nghị này và tiếp tục đối mặt với chỉ trích của quốc tế cho những hành động trong một số lĩnh vực liên quan đến tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Điển hình, Quốc hội Mỹ, vào tháng 10.2009, đã thông qua một nghị quyết kêu gọi chính phủ Việt nam tôn trọng tự do Internet và phóng thích các blogger bị giam giữ. Gần đây hơn, vào ngày 18 tháng 4 năm 2013, Nghị viện châu Âu thông qua một Nghị quyết Khẩn cấp đối với Việt Nam, một phần lớn của bản nghị quyết tập trung vào vấn đề tự do ngôn luận.
 
3. Thay vì phải cải thiện, tình trạng nhân quyền tại Việt Nam tiếp tục xấu đi kể từ năm 2009, và cụ thể, chúng tôi quan ngại về tình trạng tự do ngôn luận, sự đàn áp liên tiếp lên các nhà văn, phóng viên, những nhà hoạt động và bảo vệ nhân quyền. Bản đệ trình này sẽ xem xét những vấn đề mấu chốt sau đây:
 
            – Truyền thông do nhà nước kiểm soát và tình trạng thiếu tự do báo chí
            – Pháp luật hạn chế tự do ngôn luận
                        + Hiến pháp
                        + Nghị định số 2/2011/NĐ-CP
                        + Quy định về Internet
                        + Quyền được thông tin
            – Giám sát Internet và tấn công mạng nhằm vào xã hội dân sự
            – Đàn áp các nhà văn, phóng viên, blogger và người bảo vệ nhân quyền.

Truyền thông do nhà nước kiểm soát và tình trạng thiếu tự do báo chí
 
4. Mặc dù Việt Nam đã đồng thuận với các khuyến nghị (Số 48 và Số 52) nhằm thúc đẩy quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, song những hạn chế đối với những quyền ấy vẫn được duy trì.
 
5. Chính phủ kiểm soát hoàn toàn việc in ấn và báo chí truyền thông; tất cả các bản tin phát hành tại Việt Nam đều thuộc sở hữu và quản lý của chính phủ. Các ấn phẩm hoàn toàn bị phụ thuộc vào các cơ quan và tổ chức trực thuộc Đảng Cộng Sản.
Các tổng biên tập thường xuyên bị triệu tập đến các cuộc họp với các cán bộ của Ban Tuyên giáo Trung ương (BTGTU). Các cán bộ này là những người lên danh sách chương trình tin tức hàng tuần. Tại những cuộc họp kín này, các quan chức xem lại các bản tin báo chí của tuần trước, khiển trách các tổng biên tập về nội dung không được cho phép đăng tải.
 
6. Theo các tổng biên tập, phóng viên, những người quen thuộc với chủ trương của Ban Tuyên giáo Trung ương thì những chủ đề bị cấm bao gồm các hoạt động chính trị của giới bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động, tham nhũng của các quan chức cao cấp, phân chia phe phái trong nội bộ Đảng Cộng Sản, các vấn đề nhân quyền, các quan điểm hoặc biểu tình chống Trung Quốc, bất cứ đề cập về khác biệt dân tộc trong giai đoạn phân chia nam, bắc, giữa các vùng khác. Khi tăng tưởng kinh tế gần đây bắt đầu giảm, danh sách chủ đề bị cấm mở rộng thêm những chỉ trích chính phủ về các quản lý kinh tế, mâu thuẫn đất đai giữa chính phủ và các cộng động địa phương, và các giao dịch kinh doanh của con gái Thủ tướng.
 
7. Chính phủ Việt Nam không thừa nhận có một danh sách đen chính thức đối với các nhà báo không tuân thủ chỉ thị của BTGTU hoăc những người được cho là có quan hệ mật thiết với giới bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, các nhà báo nhấn mạnh có một danh sách như vậy tồn tại.
 
Pháp luật hạn chế tự do ngôn luận
 
8. Mặc dù Việt Nam đã chấp nhận các khuyến nghị cải cách pháp luật của chính phủ để phù hợp với luật nhân quyền quốc tế (Số 10 và Số 38), song chính phủ đã không thực hiện như thế trong một số luật, bao gồm luật về internet (Số 47)
 
Hiến pháp
 
9. Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi Hiến Pháp. Chúng tôi hoan nghênh tiến trình này, và đặc biệt tán thành quyết định của chính phủ trong việc lưu hành công khai Dự thảo Hiến pháp cho việc góp ý. Những sửa đổi được đề xuất bao gồm một số điểm tích cực, cụ thể việc khẳng định tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, một số quyền mới được bổ sung như quyền được thụ hưởng và tham gia vào đời sống văn hóa (Điều 44) và tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp trong cộng đồng (Điều 45)
 
10. Dự thảo chỉ bảo vệ trong giới hạn quyền tự do ngôn luận và quyền được thông tin. Điều 26 của Dự Thảo đưa ra những bảo vệ sơ đẳng cho rất nhiều quyền khác nhau (tự do ý kiến, tự do ngôn luận, quyền được thông tin, hội họp và lập hội và quyền được đình công) song lại không đưa ra những bảo vệ đầy đủ cho mỗi quyền. Chúng tôi nhận thấy rằng quyền tự do ý kiến nên được bảo vệ mà không có bất kì hạn chế nào và không quy định pháp luật hoặc hiến pháp nào cho phép giới hạn quyền được giữ tư tưởng. Thêm nữa, trong Dự thảo Hiếp Pháp, việc thụ hưởng các quyền trên của công dân bị giới hạn, điều này cũng vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế.
 
11. Hơn nữa, tại Điều 15 của Dự thảo Hiến pháp, tất cả các quyền con người có thể bị hạn chế “trong trường hợp cần thiết vì mục đích bảo vệ quốc gia, an ninh quốc phòng, trật tự xã hội, dân tộc và sức khỏe cộng đồng” (Điều 15.2). Việc hạn chế rộng này không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo đó, bất kỳ những hạn chế nào phải được: ban hành đúng luật, mưu cầu mục đích chính đáng, cần thiết và tương xứng.
 
12. Dự thảo Hiếp pháp cũng đưa ra những hạn chế rộng và định nghĩa không đúng về việc “lợi dụng” tự do tôn giáo, nhân quyền và quyền được khiếu nại chính quyền. Những hạn chế mơ hồ lên việc thụ hưởng nhân quyền không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.
 
13. Chúng tôi cũng lưu ý rằng Việt Nam chưa thông qua Nghị định thư không bắt buộc (Optional Protocol) của ICCPR (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị). Việc thông qua Nghị định này sẽ cung cấp cho Ủy ban Nhân quyền, cơ quan giám sát hiệp ước cho ICCPR, thẩm quyền thụ lý những khiếu nại cá nhân liên quan đến việc tuân thủ các nghĩa vụ trong ICCPR của Việt Nam.
 
Nghị định số 2/2011/NĐ-CP
 
14. Nghị định số 2/2011/NĐ-CP năm 2011 về Trách nhiệm Quản lý các Hoạt động Báo chí và Xuất bản, ban hành ngày 6 tháng 1 năm 2011, cung cấp cho chính quyền những quyền hạn lớn hơn để xử phạt nhà báo, biên tập, và blogger đưa thông tin những vấn đề được cho là nhạy cảm đối với an ninh quốc gia. Nghị định đưa ra mức phạt đối với các nhà báo từ chối tiết lộ nguồn tin hoặc sử dụng bút danh. Nghị định sử dụng ngôn ngữ không cụ thể và tùy tiện, như những quy tắc hạn chế việc lưu hành trên internet những xuất bản phẩm “khuyến khích mê tín dị đoan, hủ tục và tệ nạn xã hội.” Nghị định cũng tăng trách nhiệm lên nhân viên truyền thông bằng việc quản trị những đăng ký không cần thiết, các biện pháp trừng phạt, ngăn cấm và kiểm duyệt. Nghị định đưa ra sự phân biệt rõ rệt giữa quyền lợi của phóng viên được nhà nước công nhận với các blogger độc lập, phóng viên online và phóng viên tự do (Điều 5), và áp dụng xử phạt đối với những hành vi như đe dọa phóng viên, tịch thu bất hợp pháp tài sản phóng của viên, tuy nhiên những điều luật bảo vệ này hoàn toàn không mở rộng thêm cho các phóng viên không được công nhận chính thức (Điều 6).
 
 Quy định về Internet
 
 15. Kể từ vòng Kiểm định Định kỳ Phổ quát đầu tiên, chính phủ Việt Nam đã tăng cường nổ lực kiểm soát Internet. Như một dự thảo nghị định mới được đề xuất vào tháng 4 năm 2012, Nghị định về việc Quản lý, Cung cấp và Sử dụng Dịch vụ Internet, với mục đích buộc các công ty Internet nước ngoài như Facebook và Google hợp tác với các nhà chức trách và yêu cầu họ đặt văn phòng hoặc cử đại điện ở Việt Nam. (Chỉ duy nhất Yahoo! tiếp tục duy trì một văn phòng tại quốc gia này.) Nghị định cũng yêu cầu tất cả các công ty liên quan đến Internet đặt trụ sở tại Việt Nam nhằm đặt các máy chủ (servers) của họ tại Việt Nam. Một yêu cầu mà các blogger ẩn danh lo ngại sẽ gây đe dọa việc bảo an địa chỉ IP của họ. Nếu nghị định này được ban hành, nó sẽ tạo ra một loạt bên trung gian, bao gồm nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), các mạng truyền thông xã hội, những trang mạng tương tác, và các blog cá nhân phải chịu trách trách nhiệm nội dung của bên thứ ba, và hành vi vi phạm bị phát hiện có thể đối điện với các mức xử phạt nặng.
 
Quyền được thông tin
 
16. Việt Nam đã chấp nhận các khuyến nghị bảo đảm quyền được nhận, tìm kiếm, và truyền đạt thông tin trong luật (Số 45 và Số 46). Chúng tôi hoan nghênh nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc dự thảo một điều luật mới cho truy cập thông tin từ tháng 1 năm 2009. Tuy nhiên, điều luật này vẫn chưa được thông qua hay thực thi.
 
Giám sát Internet và tấn công mạng nhằm vào xã hội dân sự.
 
17. Chính quyền Việt Nam đã tham gia giám sát và kiểm soát mạng một cách bí mật lẫn công khai. Trong năm 2009, một phần mềm được người dùng Việt Nam sử dụng rộng rãi là VPSKeys (một chương trình cho phép gõ ký tự tiếng Việt trên bàn phím thông thường), bị phát hiện nhiễm phần mềm độc hại (malware). Phần mềm này được thay đổi để cho phép các nhóm từ xa theo dõi những thao tác trên bàn phím của người chủ computer, cũng như chiếm quyền điều khiển kết nối máy chủ Internet để tham gia phối hợp tấn công các website bên ngoài. Chính quyền Việt Nam phủ nhận bất kỳ liên quan nào đến phần mềm độc hại này, tuy nhiên đáng chú ý là những website là mục tiêu tấn công lại là những trang chỉ trích việc khai thác mỏ bauxite ở Việt Nam, một chủ đề đặc biệt nhạy cảm đối với chính phủ Việt Nam.
 
 18. Chính phủ Việt Nam cũng tham gia vào việc công khai giám sát và điều khiển lưu lượng Internet. Kể từ năm 2009, chính quyền đã điều khiển lưu lượng Internet tại các cổng Internet quốc tế khi vào Việt Nam. Các cổng Internet này được điều hành bởi 15 nhà cung cấp dịch vụ Internet của quốc gia hoặc là những nhà cũng cấp được chính phủ điều hành. Các quán cà phê Internet công hoặc tư đều bị yêu cầu kiểm tra, sao lại chứng minh nhân dân và lưu thông tin các hoạt động online của khách hàng. Trong tháng 10 nằm 2009, Sở thông tin truyền thông của chính phủ đã thiết lập 300 quán cà phê Internet tại Hà Nội. Một phần mềm được thiết kế để ghi nhận và gửi báo cáo lên nhà chức trách khi người dùng truy cập các website bị cấm. Theo bản tin địa phương, ông Phạm Quốc Bản, giám đốc sở nói rằng một khi phần mềm này được thử nghiệm thành công, nó sẽ được nhân rộng ra cho 3000 quán cà phê Internet khác trên toàn thành phố.
 
19. Vào ngày 19 tháng 8 năm 2009, dịch vụ blog Yahoo! 360°, một nhà cung cấp blog rất phổ biến đối với các blogger Việt Nam, đã phải đóng cửa vì các máy chủ của hệ thống không nằm tại đất nước này mà đặt tại Singpapore. Yahoo! đã cho ra đời dịch vụ blog mới là 360° Plus, với máy chủ đặt tại Việt Nam. Các blogger lo ngại cho việc duy trì tình trạng ẩn danh đã chuyển sang nhà cung cấp blog mà máy chủ đặt ở nước ngoài, như WordPress và Blogspot, cũng như các trang mạng xã hội như Facebook và Multiply. Theo các báo cáo, Facebook bắt đầu không thể truy cập từ cuối năm 2010, tuy nhiên chính phủ phủ nhận có liên quan. Cuối cùng họ cũng thừa nhận sau khi Thứ tưởng Bộ Thông tin và Truyền Thông Đỗ Quý Doãn cho biết Bộ của ông sẽ tìm kiếm sự trợ giúp của Google và Yahoo! để “điều chỉnh” nội dung các blog và website.
 
20. Các tổ chức và thành phần tham gia xã hội dân sự Việt nam — bao gồm truyền thông độc lập, các nhà bảo vệ nhân quyền, và các nhà hoạt động — phải hứng chịu các cuộc tấn công mạng khác nhau từ những thành phần ủng hộ chính phủ. Các chiến thuật này được thay đổi theo thời gian — mục tiêu được tập trung ban đầu là các tài khoản email của những nhà hoạt động với mục đích phá hoại hoặc chiếm lĩnh, và phát triển chúng thành những cuộc tấn công phức tạp hơn như chiếm đoạt trên diện rộng, cài phần mềm độc hại và tấn công bằng các tên miền giả. Hậu quả của những đợt tấn công này vượt ra ngoài những mục tiêu là các thành phần mà họ nhắm đến, và gây cản trở nhiều hơn cho việc truy cập thông tin, quyền tự do hội họp và tự do ngôn luận tại Việt Nam.
 
21. Tấn công từ chối dịch vụ (DoS) làm cho website và các dịch vụ dựa trên website không thể truy cập, và đây là chiến thuận được thành phần ủng hộ chính phủ tận dụng để bịt miệng các tổ chức truyền thông độc lập, các nhà hoạt động và bảo vệ nhân quyền tại Việt Nam. Bên cạnh việc vi phạm quyền tự do ngôn luận, một thiệt hại do tấn công DoS đối với toàn bộ người dùng Internet Việt Nam đó là người dân quốc gia này bị từ chối quyền được truy cập vào các trang đang là mục tiêu. Việc cấm nói đến những thông tin chính trị là sự vi phạm trực tiếp lên tự do ngôn luận và quyền được tiếp nhận thông tin.
 
22. Các tổ chức dân sự và các nhà hoạt động tại Việt Nam luôn là đối tượng để chiếm lĩnh tài khoản. Các tài khoản thường được dùng để kết hợp với các cuộc tấn công khác. Tác nhân từ các tên miền giả hoặc email lừa đảo, những chiến thuật này được sử dụng để chọc thủng hệ thống an ninh kỹ thật số của người dùng Internet nhằm đánh cắp hoặc đọc những thông tin tài khoản cá nhân. Các hoạt động lừa đảo bằng phương thức thiết lập những tên miền giả để thu thập thông tin tài khoản hoặc bằng phương thức gửi email có cài mã độc. Nếu người nhận truy cập vào những tài liệu có chứa mã độc, computer của họ sẽ bị chiếm lĩnh và bên thứ ba có thể chiếm quyền truy cập các dữ liệu và computer cá nhân.
 
23. Các mã độc nhắm vào những người tham gia xã hội dân sự tại Việt Nam đã trở thành vấn đề ngày càng được sử dụng. Trong tháng 5 năm 2013, thông tin về hệ thống máy chủ FinFisher tại Việt Nam được phát hiện. FinFisher lén lút cài những mã độc vào điện thoại di động và computer thông qua các tài liệu và các cập nhật phần mềm, cho phép chính phủ Việt Nam theo dõi các giao tiếp và trích xuất thông tin bao gồm các địa chỉ liên lạc, tin nhắn và email. Những mã độc này là sự can thiệp tùy tiện vào quyền riêng tư cá nhân. Thêm vào đó, các trang phổ biến cho các nhà hoạt động, như blog, các trang truyền thông độc lập, luôn là mục tiêu để phát tán mã độc (được ví như cuộc tấn công vào những vũng nước). Vào ngày 26 tháng 5 năm 2013, một blogger Việt có ảnh hưởng, Trương Duy Nhất, đã bị bắt, những người truy cập vào trang web của Trương Duy Nhất đã bị mã độc tải về một cách lén lút và cài đặt vào máy của họ.
 
 24. Việc hạ uy tín các trang web được Việt Nam sử dụng như một chiến thuật nhằm  ngăn chặn ngôn luận và tác động đến chính kiến của công chúng. Bằng việc thay đổi nội dung trang mạng – ví dụ như một trang truyền thông độc lập – không hề có sự cho phép của người chủ trang web, những kẻ tấn công có thể cổ vũ những quan điểm khác với trang web gốc. Hành động hạ uy tín trang web nhằm nổ lực không hợp thức hóa các tổ chức truyền thông độc lập và các hoạt động nhân quyền, và gây trở ngại đối với quyền được tiếp nhận thông tin của các cá nhân ở Việt Nam, và có thể cản trở quyền tự do lập hội.
 
25. Việc tấn công bằng tên miền giả cũng trở thành một chiến thuật phổ biến ở Việt Nam. Tấn công bằng tên miền giả có thể thực hiện dưới một số dạng: nó không những có thể sao chép thông tin thật của một tên miền hợp pháp được nhắm là mục tiêu mà còn cài mã độc, hoặc có thể giả dạng như tên miền hợp pháp đang là mục tiêu và thay đổi nội dung và quan điểm thể hiện trên trang web đó. Tại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy việc tấn công bằng tên miền giả theo cách thức đầu tiên là phổ biến nhất, cũng như mã độc đây là những tác động tiêu cực lên nhân quyền. Hành động này vi phạm quyền riêng tư cá nhân ở Việt Nam, cản trở tự do ngôn luận và hạ mức truy cập thông tin.
 
Đàn áp các nhà văn, phóng viên, blogger và người bảo vệ nhân quyền.
 
 26. Việt Nam đã chấp nhận các khuyến nghị (Số 41 và Số 49) để tiến hành gia tăng trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ những người bảo vệ nhân quyền, cũng như xem xét lại Bộ Luật Hình sự nhằm hạn chế tình trạng các  thẩm phán diễn giải tùy tiện (Số 11). Tuy nhiên, việc bắt bớ tùy tiện các cá nhân đang thực thi quyền tự do ngôn luận vẫn diễn ra.
 
 27. Chính phủ Việt Nam thường xuyên sử dụng Điều 88 Bộ Luật Hình Sự, “tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam”, để bỏ tù tùy tiện các văn sĩ, blogger, những nhà phê bình và các nhà hoạt động. Điều 79 Bộ Luật Hình Sự “thực hiện những hành vi nhằm lật đổ chính quyền” để bịt miệng những chỉ trích. Điều 88 đưa ra hình phạt từ 3 đến 20 năm tù đối với những hành động như “tuyên truyền”, “lưu hành những tài liệu hoặc văn hóa phẩm”, hoặc “chiến tranh tâm lý” chống lại nhà nước. Chỉ trong năm 2011, chính quyền Việt Nam đã sử dụng Điều 88 Bộ Luật Hình Sự kết án ít nhất 10 blogger và các nhà hoạt động vì thể hiện các quan điểm của họ. Điều 79 đặc biệt được sử dụng như một sự vi phạm hình sự đối với việc “thực hiệc các hoạt động, thành lập hoặc tham gia các tổ chức có mục đích lật đổ chính quyền nhân dân”. Những người bị kết án theo Điều 79 có thể đối diện với mức án từ 5 năm đến chung thân.
 
28. Có ít nhất 40 trường hợp là những nhà văn, phóng viên và blogger đang thụ án từ 2 đến 16 năm vì những hoạt động ôn hòa và những bài viết phê bình của họ. Số lượng người viết bị bắt một cách tùy tiện tại Việt Nam tăng gấp 3 so với năm 2009, trong khi đó có 24 trường hợp bị kết án dưới Điều 88 Bộ Luật Hình Sự (“Tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”) và 13 trường hợp dưới Điều 79 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam (“âm mưu lật đổ chính quyền”)
 
29. Những quan ngại nghiêm trọng về việc đối xử tệ với tù nhân, như các vụ tấn công có chủ đích, thiếu chăm sóc y tế, và xét xử không công bằng. Việc theo dõi và sách nhiễu người viết và thân nhân cũng được diễn ra trên diện rộng, đặc biệt khi họ đang thực thi án quản chế. Ví dụ:
 
            + Một nhà văn, nhà tiểu thuyết, nhà thơ, nhà tiểu luận, nhà hoạt động và đồng thời là cựu biên tập cho tạp chí bất đồng chính kiến Tổ Quốc (Fatherland), Trần Khải Thanh Thủy bị theo dõi gắt gao và sách nhiễu kể từ tháng 9 nằm 2006 vì những bài viết chỉ trích của bà đăng tải trên mạng. Bà liên tục bị tố cáo và hạ nhục trong các cuộc họp công khai do chính quyền ViệtNam tổ chức, nhà của bà bị băng nhóm tấn công, gọi bà là kẻ phản bội, gái điếm,và đe dọa hành hung. Cảnh sát từ chối bảo vệ bà. Họ kêu gọi bà từ bỏ các hoạt động để đảm bảo an toàn cho bản thân. Bà bị bắt vào ngày 8 tháng 10 năm 2009 sau khi công khai thể hiện sự ủng hộ cho 6 nhà bất đồng chính kiến đang bị xét xử. Thanh Thủy bị kết án 3 năm rưỡi vào ngày 5 tháng 2 năm 2010 theo Điều 104 Bộ Luật Hình Sự trong một phiên tòa diễn ra chưa đến một ngày và không tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về công bằng. Bà được phóng thích vào ngày 5 tháng 7 năm 2011 với điều kiện phải chấp nhập lưu vong sang Mỹ. Bà bị buộc rời khỏi đất nước bỏ lại hầu hết các vật dụng cá nhân trong tù, bao gồm cả những bài thơ được viết trong thời gian bị giam giữ, và chỉ được cho không đến 20 phút để tạm biệt chồng. Bà phải chịu các vấn đề sức khỏe một thời gian dài là hậu quả của việc đối xử tệ và thiếu chăm sóc y tế trong suốt thời gian ở tù.
 
            + Một nghệ sĩ khác đang phải đối mặt với việc khởi tố là nhà thơ Bùi Chát, thành viên của phong trào thơ được biết với tên ‘Mở Miệng’ (những thành viên của nhóm sử dụng ngôn ngữ đường phố để viết thơ, và mục đích thơ của họ là gây shock và làm khó chịu, và họ tự xuất bản các tác phẩm của mình (thông qua NXB Giấy Vụn – ghi chú của người dịch), những tác phẩm không được các nhà xuất bản nhà nước chấp nhận.) Các buổi họp mặt nhà thơ của họ đã trở nên phổ biến tại Sài Gòn nhưng đã bị chính phủ ViệtNam ngăn cấm. Bùi Chát bị bắt sau đó, khi anh quay về từ Buenos Aires sau khi nhận giải thưởng Tự do Xuất bản 2011 của Hiệp Hội Các Nhà Xuất Bản Quốc Tế (IPA). Anh được thả 2 ngày sau đó, vào ngày 2 tháng 5 năm 2011, tuy nhiên vẫn bị giám sát chặt chẽ. Vào ngày 5 tháng 6 năm 2011, anh lại bị bắt và giam giữ trong 24 tiếng, nhằm ngăn cản tham dự một buổi lễ trao giải ở Đại Sứ Quán Thụy Điển. Vào ngày 7 tháng 6 năm 2011, 4 kẻ không rõ danh tính đã hành hung anh khi anh trên đường về nhà. Hiện tại anh không tìm được chỗ ở hay công việc ổn định lâu dài vì sự sách nhiễu của chính quyền.
 
             + Nhà văn và nhà hoạt động nhân quyền Hồ Thị Bích Khương bị bắt vào ngày 15 tháng 11 năm 2011, và bị kết án trong tháng sau đó với tội danh “tuyên truyền chống phá Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự tại Tòa án nhân dân Nghệ An. Những bài viết của bà kêu gọi việc trả tự do cho những tù nhân lương tâm, những tù nhân chính trị, và thúc đẩy tự do ngôn luận, tôn giáo cũng như lập hội. Bên truy tố khẳng định bà và Nguyễn Trung Tôn, mục sư và người hoạt động cùng chí hướng, đã thu thập trên mạng các tài liệu và bài viết gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bà bị cáo buộc là đã trả lời phỏng vấn các đài phát thanh nước ngoài mà các đài này chỉ trích chính phủ lạm dụng quyền lực và bà bị cáo buộc tham gia các tổ chức nhân quyền bất hợp pháp. Trong phiên tòa, bà công khai chỉ trích Đảng Cộng sản. Đây là lần thứ ba bà Hồ bị bắt vì những hoạt động nhân quyền. Trước lần bắt giữ mới nhất này, bà bị tấn công, đe dọa, và bị bắt giữ ngắn hạn trong những lần khác. Có quan ngại rằng sức khỏe bà Hồ đang xấu đi do điều kiện giam giữ bà. Theo gia đình bà, bà Hồ bị bạn tù tấn công nhiều lần, do sự sắp xếp của quản giáo.
 
             + Blogger Tạ Phong Tần bị bắt vào ngày 5 tháng 9 năm 2011 và kết án 10 năm tù vào ngày 24 tháng 9 năm 2012 với tội danh “tuyên truyền chống phá nhà nước” theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự vì những bài viết của cô trên trang web Câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do hiện nay đã bị cấm và trên blog của cô. Câu lạc bộ này do cô đồng sáng lập. Cô được biết qua những bài viết về tham nhũng, lạm dụng quyền lực, cướp đất và những vấn đề khác. Các bài viết của cô đã từng được đăng tải trên các phương tiện truyền thông chính thống tại Việt Nam như Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Vietnamnet và BBC tiếng Việt. Phiên tòa xét xử bị hoãn nhiều lần và không phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về công bằng. Ngày 30 tháng 7 năm 2012 mẹ cô đã chết sau khi tự thiêu bên ngoài một cơ quan chính quyền để phản đối việc bắt giữ con mình và sau những tháng bị an ninh sách nhiễu.
 
             + Tháng 11 năm 2013, 13 blogger và nhà hoạt động thuộc Dòng Chúa Cứu Thế bị kết án theo Điều 79 Bộ Luật Hình Sự Việt Nam với tội danh “âm mưu lật đổ chính quyền”
 
 Các khuyến nghị:
 
 30. Việc thông qua các văn kiện quốc tế:
 + Việc thông qua Nghị định thư không bắt buộc (Optional Protocol) của ICCPR (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị) nhằm cung cấp cho Ủy ban Nhân quyền thẩm quyền thụ lý những khiếu nại cá nhân liên quan đến việc tuân thủ các nghĩa vụ trong ICCPR của Việt Nam.
 
31. Truyền thông do nhà nước kiểm soát và tình trạng thiếu tự do báo chí:
+ Từ bỏ việc giám sát của nhà nước đối với toàn bộ hệ thống truyền thông quốc gia, và tạo ra một môi trường cho phép sự phát triển của truyền thông độc lập và đa nguyên.
+ Chấm dứt việc áp chế các phương tiện truyền thông thông qua BTGTU.
 + Chấm dứt việc ngược đãi các phóng viên không tuân thủ các yêu cầu của BTGTU.
 
 32. Pháp luật hạn chế quyền tự do ngôn luận:
+ Loại bỏ hoặc làm sáng tỏ những điều kiện mơ hồ và không chính đáng đối với các biện pháp bảo vệ nhân quyền trong hiến pháp và trong luật lệ quốc gia.
+ Cải cách những điều luật hạn chế quyền tự do ngôn luận nhằm bảo đảm những điều luật này được: ban hành đúng luật, mưu cầu mục đích chính đáng và cần thiết cho xã hội dân chủ.
+ Đảm bảo tất cả điều luật và sửa đổi mới trong bộ luật hiện hành tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế về tự do ngôn luận.
 + Sửa đổi Hiến Pháp được đề xuất nhằm bảo vệ đầy đủ nhân quyền và những biện pháp bảo vệ riêng rẽ và toàn diện cần được dành cho những quyền: i) tự do ý kiến; ii) tự do ngôn luận; iii) tiếp cận thông tin; iv) tự do báo chí; và v) tự do hội họp và lập hội ôn hòa.
 Cụ thể:
             + Quyền tự do ngôn luận phải được giải thích rộng rãi và chỉ rõ quyền này bao gồm quyền được tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin.
             + Quyền “được thông tin” nên được xây dựng lại nhằm bảo vệ dứt khoát “quyền tiếp cận thông tin”
             + Quyền “lập hội” nên được xây dựng lại  thành “quyền tự do lập hội ôn hòa”, phản ánh Điều 21 của ICCPR. Hiến Pháp nên thiết lập một giả định có lợi cho việc lập hội.
             + Quyền “tự do báo chí” nên bao gồm việc bảo vệ tự do truyền thông và trực tuyến cũng như ngoại tuyến độc lập; bảo đảm tính độc lập của báo chí; bảo vệ quyền bảo vệ nguồn tin của phóng viên; bảo vệ truyền thông online và báo giấy khỏi bất cứ các yêu cầu đăng kí hoặc giấy phép; đưa ra sự đảm bảo tính độc lập và đa nguyên đối với các lĩnh vực truyền thông thu phát sóng.
 + Thông qua một đạo luật dễ hiểu đối với việc tiếp cận thông tin mà hoàn toàn tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực này.
 
 33. Việc khủng bố các nhà văn, phóng viên, blogger và người bảo vệ nhân quyền:
 + Chấm dứt việc sách nhiễu, đe dọa, kết tội hoặc bắt giữ các nhà văn, phóng viên, blogger, nhà hoạt động chính trị và người bảo vệ nhân quyền vì những lý do liên quan đến các hoạt động ôn hòa của họ, bao gồm việc thực thi hợp pháp quyền tự do ngôn luận.
 + Phóng thích các nhà văn, phóng viên, nhà hoạt động chính trị và người bảo vệ nhân quyền đã bị bắt giữ gần đây vì những lý do liên quan đến các hoạt động ôn hòa của họ, bao gồm việc bày tỏ chính kiến hợp pháp.
 
 34. Kiểm soát Internet và tấn công mạng nhằm vào xã hội dân sự:
 + Bãi bỏ những điều luật được sử dụng để ngăn cấm triệt để việc ẩn danh online, được sử dụng để yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ Internet hạn chế tự do ngôn luận.
 + Chấm dứt việc kiểm soát tùy tiện người dùng Internet tại ViệtNam.
 + Đảm bảo bất kỳ việc kiểm soát giao tiếp chỉ diễn ra trong điều kiện tuân thủ các nghĩa vụ nhân quyền, tôn trọng các yêu cầu về sự cần thiết và tương xứng.
 + Tôn trọng quyền truy cập vào blog và các hệ thống giao tiếp có trụ sở bên ngoài ViệtNam của người dùng Internet.
 + Chấm dứt việc gây trở ngại và tấn công các thiết bị, tài khoản và dịch vụ được sử dụng cho các hoạt động và giao tiếp trên mạng của người dùng Internet tại ViệtNam.
 
 35.  Gửi lời mời thường trực đến tất cả các Báo Cáo Viên đặc biệt của LHQ và hợp tác với họ trong việc liên lạc, những yêu cầu viếng thăm đất nước, kể cả những sứ mạng về:
             + Tự do ý kiến và ngôn luận.
             + Tự do hội họp và lập hội ôn hòa.
             +  Những người bảo vệ nhân quyền
 
 Nguồn: Article 19
 
 
 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s


%d người thích bài này: