Author Archive

PUTIN : “BIDEN RẤT KHÁC TRUMP” (VnExpress)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Putin: ‘Biden rất khác Trump’

VnExpress

Thứ tư, 16/6/2021, 23:12 (GMT+7)

https://vnexpress.net/putin-biden-rat-khac-trump-4295325-tong-thuat.html

Putin khen Biden là “chính khách giàu kinh nghiệm” và nhấn mạnh ông rất khác Trump trong cuộc họp báo hậu hội đàm.

Chi tiết Tổng thuật

Sau 3,5 giờ hội đàm tại Geneva, Thụy Sĩ, Putin tổ chức họp báo riêng để thông báo kết quả. Putin tin rằng ông và Biden nói “cùng ngôn ngữ” trong cuộc gặp, nhưng khẳng định họ không hình thành bất kỳ loại tình bạn lâu dài nào.

Ông mô tả Joe Biden là “chính khách giàu kinh nghiệm”, tiết lộ hai bên đã thảo luận chi tiết trong hai tiếng. “Ông ấy rất khác cựu tổng thống Donald Trump”, lãnh đạo Nga nhấn mạnh, chia sẻ cuộc gặp không mang không khí “thù địch” mà “rất giàu tính xây dựng”.

Tổng thống Nga Putin trong cuộc họp báo tại Geneva ngày 16/6.  Hình : AFP

Putin thông báo đại sứ Nga và Mỹ sẽ trở lại các đại sứ quán ở nước của đối phương. Trong vài tháng qua, giữa giai đoạn quan hệ song phương căng thẳng, Đại sứ Nga tại Washington Anatoly Antonov và Đại sứ Mỹ tại Moskva John Sullivan đã được triệu hồi về nước. Putin không tiết lộ thời điểm khôi phục cơ chế đại sứ, nhưng khẳng định đây là vấn đề “thuần kỹ thuật”.

Putin cho biết hai nước thống nhất khởi động tham vấn về an ninh mạng. “Cả hai phía phải chấp nhận một số ràng buộc trong vấn đề này”, ông nói.

Trong thời gian qua, Washington nhiều lần chỉ trích Moskva để yên cho tội phạm mạng trên lãnh thổ Nga tổ chức các vụ tấn công nhắm vào cơ sở hạ tầng tại Mỹ. Điện Kremlin đã bác bỏ mọi mối liên hệ với những vụ tấn công.

Tổng thống Nga cho rằng những cáo buộc nhân quyền từ Mỹ là không chính đáng, khi bản thân Mỹ để vấn nạn bạo lực súng đạn cùng những vụ không kích bằng máy bay không người lái khiến dân thường thiệt mạng tiếp diễn.

Putin và các phóng viên trong cuộc họp báo tại Geneva ngày 16/6. Ảnh: AP.

Putin lập luận Mỹ cũng đáng bị chỉ trích về nhân quyền, điển hình là chính sách gây tranh cãi về nhà tù Guantanamo. Bên cạnh đó, lãnh đạo Nga khẳng định việc Mỹ lo ngại Moskva quân sự hóa Bắc Cực là “vô căn cứ”. Ông nhấn mạnh Nga chỉ đang khôi phục cơ sở hạ tầng thời Liên Xô trong khu vực và Moskva muốn tuân thủ luật pháp quốc tế liên quan đến Đường Biển phương Bắc (NSR). Putin đồng thời đề nghị Nga và Mỹ thúc đẩy hợp tác tại Bắc Cực.

Hai bên đã thông qua một tuyên bố chung, tái khẳng định cam kết đối với nguyên tắc “không thể có người chiến thắng trong một cuộc chiến tranh hạt nhân và nó không bao giờ nên xảy ra”. Các cuộc thảo luận về kiểm soát vũ khí sẽ được khởi động và tổ chức ở cấp liên cơ quan.

Khi một phóng viên hỏi Putin ai đã “chiến thắng” tại hội nghị thượng đỉnh, Putin trả lời rằng ông và Tổng thống Biden đã có “cuộc trò chuyện thẳng thắn”. “Đây không phải là một cuộc thi”, ông nhấn mạnh. “Đây là một cuộc họp hiệu quả. Nó có kết quả, nó đi đúng vào vấn đề”.

Tổng thống Putin nói ông chưa nhận được lời mời đến Nhà Trắng từ người đồng cấp Mỹ. Ông xác nhận mình cũng chưa mời Tổng thống Biden đến Moskva. “Những cuộc gặp và chuyến thăm như vậy cần điều kiện phù hợp”, ông nhấn mạnh.

Phương Vũ – Trung Nhân

===============================

.

.

Ông Biden gọi điện nói lý do gọi ông Putin là ‘kẻ giết người’, ông Putin: ‘Tôi hài lòng’

Tuổi Trẻ Online

17/06/2021 07:21 GMT+7

https://tuoitre.vn/ong-biden-goi-dien-noi-ly-do-goi-ong-putin-la-ke-giet-nguoi-ong-putin-toi-hai-long-20210617070420213.htm

TTO – Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 16-6 nói Tổng thống Mỹ Joe Biden đã gọi điện cho ông để giải thích lý do gọi ông là “kẻ giết người” vào tháng 3 và lời giải thích đã khiến ông Putin hài lòng.

Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại họp báo sau hội đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden tại Geneva, ngày 16-6 – Ảnh: REUTERS

Trong một cuộc phỏng vấn phát sóng vào tháng 3 trên Đài ABC News, khi được hỏi liệu có tin ông Putin là kẻ giết người hay không, ông Biden đã nói “Tôi tin”.

Nga lập tức triệu hồi đại sứ ở Washington để tham vấn và đại sứ Mỹ tại Matxcơva cũng trở về nước. Tại hội đàm ở Geneva (Thụy Sĩ) ngày 16-6 vừa qua, hai nhà lãnh đạo đã đồng ý cho các nhà ngoại giao trở lại.

“Về những tuyên bố đó, chúng ta đều đã quen thuộc”, ông Putin nói về phát biểu của ông Biden trên Đài ABC trong họp báo sau hội đàm.

“Tổng thống Biden đã gọi điện cho tôi sau đó và chúng tôi đã trao đổi quan điểm về chủ đề này. Tôi hài lòng với lời giải thích”, ông Putin nói.

Trong cuộc họp báo, nhà lãnh đạo Nga nói thêm về việc vi phạm nhân quyền của chính quyền Mỹ và cáo buộc quân đội Mỹ sát hạ dân thường ở Afghanistan và Iraq.

“Ai chịu trách nhiệm cho chuyện đó? – ông Putin nói – Kẻ giết người là ai đây?”.

Trong phỏng vấn hồi tháng 3, ông Biden không chỉ nói ông Putin là kẻ giết người mà còn nói ông Putin phải “trả giá” vì đã can thiệp vào bầu cử Mỹ 2020.

Phía Nga lúc đó đã phản ứng giận dữ với bình luận của ông Biden. “Ông Biden đã xúc phạm người dân Nga với tuyên bố này” – Chủ tịch Duma Quốc gia (Hạ viện Nga) Vyacheslav Volodin lên tiếng, cho rằng việc công kích ông Putin là “tấn công quốc gia của chúng tôi”.

————————

Ông Putin họp báo trước, ngay sau cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Nga

TTO – Theo Hãng tin Reuters, cuộc họp thượng đỉnh giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Geneva đã kết thúc sau hơn 3 giờ thảo luận, ngắn hơn dự kiến.

MINH KHÔI

-===================================

.

.

Tổng thống Putin nói ‘đời chẳng có gì vui’ sau thượng đỉnh Mỹ – Nga

Người Lao Động Online

17-06-2021 – 07:49

https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/tong-thong-putin-noi-doi-chang-co-gi-vui-sau-thuong-dinh-my-nga-20210617074105407.htm

(NLĐO) – Tổng thống Nga Vladimir Putin nói rằng “đời chẳng có gì vui” sau hội đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden tại cuộc gặp thượng đỉnh diễn ra ở Thụy Sĩ hôm 16-6.

Đó là chia sẻ của ông Putin trong cuộc họp báo sau gần 4 giờ hội đàm với người đồng cấp Mỹ. Khi được hỏi liệu cuộc gặp có giúp xây dựng lòng tin giữa các nhà lãnh đạo hay không, ông Putin tỏ ra triết lý: “Không có niềm vui nào trong cuộc sống. Chỉ có ảo ảnh phía chân trời, vì vậy chúng tôi sẽ trân trọng điều đó”. Ông Putin nói thêm: “Nhưng tôi tin rằng có một tia hy vọng trong mắt ông Biden”.

Nhà lãnh đạo Nga nói với các phóng viên rằng rất “khó nói” liệu cuộc gặp có làm thay đổi quan hệ giữa hai nước hay không và đổ lỗi cho Mỹ về bản chất đối nghịch của các mối quan hệ. Cả hai nhà lãnh đạo đều sử dụng những ngôn từ tích cực, thận trọng để mô tả cuộc hội đàm tại Geneva.

Tổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Putin tại hội nghị thượng đỉnh đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo tại Geneva, Thụy Sĩ, hôm 16-6. Ảnh: AP

Tổng thống Putin nhận xét ông Biden là một đối tác có kinh nghiệm, có tính xây dựng, nói rằng cả 2 “có cùng tiếng nói”. Ông Putin khẳng định trao đổi giữa hai bên “hiệu quả”. Tuy nhiên, ông nói thêm rằng thay vì tình hữu nghị, đó là một cuộc đối thoại “thực dụng về lợi ích của hai nước”.

Tổng thống Putin cho rằng cuộc đối thoại mang tính xây dựng và không có thái độ thù địch, còn Tổng thống Mỹ khẳng định không gì có thể thay thế được các cuộc thảo luận trực tiếp. Tổng thống Biden nói với Tổng thống Putin rằng hai bên cần tuân thủ một số quy tắc cơ bản.

Hai bên cũng đồng ý đưa các đại sứ trở lại thủ đô của nhau sau lệnh triệu hồi vào đầu năm nay.

Tuy vậy, hai bên đã thể hiện sự khác biệt quan điểm trong nhiều vấn đề. Tổng thống Biden nói rằng Nga sẽ gánh chịu “hậu quả tàn khốc” nếu nhân vật đối lập Nga Alexei Navalny đang bị bắt giữ bị chết hoặc các cuộc tấn công mạng tại Mỹ tiếp tục xảy ra. Mỹ đã yêu cầu Moscow ngăn chặn các cuộc tấn công bằng mã độc tống tiền mà Washington cho là do tin tặc Nga gây ra.

Tổng thống Biden hỏi ông Putin rằng ông sẽ cảm thấy thế nào nếu xảy ra một cuộc tấn công bằng mã độc tống tiền nhằm vào hệ thống đường ống dẫn dầu của Nga. Câu hỏi này đã gợi nhắc lại vụ tấn công mạng nhằm vào đường ống dẫn của Mỹ vào tháng 5, gây gián đoạn nguồn cung tại bờ Đông nước Mỹ.

Ngoài an ninh mạng, ông Biden cho biết cuộc hội đàm dành rất nhiều thời gian cho vấn đề kiểm soát vũ khí. Hai nhà lãnh đạo Nga và Mỹ cho biết họ sẽ cùng chia sẻ trách nhiệm về sự ổn định hạt nhân, tổ chức các cuộc đàm phán về những thay đổi có thể xảy ra đối với hiệp ước hạn chế vũ khí New START vừa được gia hạn gần đây của 2 nước.

Theo trang Business Insider, nhìn chung, cả hai nhà lãnh đạo đều mô tả cuộc hội đàm là bước đầu tiên để có tiến bộ trong một loạt vấn đề khúc mắc giữa Mỹ và Nga. Cả hai cũng nói rõ rằng hội nghị thượng đỉnh không có cách nào đại biểu cho việc thiết lập lại hoàn toàn mối quan hệ song phương.

Huệ Bình

======================================

VIDEO

Báo Thanh Niên

Hai Tổng thống Biden – Putin nói gì trước cuộc gặp đầu tiên?

.

VTC NOW

Thượng đỉnh Mỹ – Nga: Cuộc đấu trí lớn giữa lãnh đạo hai cường quốc

.

RFI Tiếng Việt

Vladimir Putin trông đợi gì ở thượng đỉnh Nga-Mỹ tại Geneve ?

.

.

.

MỸ – EU RA THUYÊN BỐ CHUNG CAM KẾT CHẤM DỨT ĐẠI DỊCH COVID-19 (Tuổi Trẻ Online)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Mỹ – EU ra tuyên bố chung cam kết chấm dứt đại dịch COVID-19    

Anh Thư  –  Tuổi Trẻ Online

16/06/2021 06:58 GMT+7

https://tuoitre.vn/my-eu-ra-tuyen-bo-chung-cam-ket-cham-dut-dai-dich-covid-19-20210616063454148.htm

TTO – Mỹ – EU ngày 15-6 ra tuyên bố chung đánh dấu sự khởi đầu của quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương mới và thiết lập chương trình nghị sự chung cho hợp tác Mỹ – EU hậu đại dịch COVID-19 sau khi kết thúc hội nghị thượng đỉnh ở Bỉ.

Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel (phải) và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen (trái) chụp hình cùng Tổng thống Mỹ Joe Biden tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ – EU ở Brussels, Bỉ ngày 15-6-2021 – Ảnh: REUTERS

Theo tuyên bố, Mỹ và EU cam kết sẽ chấm dứt đại dịch COVID-19, tiếp tục hỗ trợ sáng kiến COVAX và khuyến khích thêm nhiều nhà tài trợ sản xuất 2 tỉ liều vắc xin cho toàn thế giới vào cuối năm 2021. Đồng thời, Mỹ và EU mong muốn cung cấp đủ liều vắc xin để tiêm chủng cho 2/3 dân số thế giới trước cuối năm 2022.

Các lãnh đạo EU và Mỹ thành lập một Lực lượng đặc nhiệm chung Mỹ – EU phụ trách chuỗi cung ứng và sản xuất vắc xin COVID-19. Mục tiêu của lực lượng này là mở rộng năng lực sản xuất vắc xin và thuốc điều trị bệnh COVID-19.

Ngoài ra, theo trang mạng của Hội đồng Liên minh châu Âu, Mỹ và EU sẽ tăng cường hợp tác để cải tổ Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Các lãnh đạo Mỹ và EU cũng kêu gọi một nghiên cứu giai đoạn hai về nguồn gốc của virus corona. Họ mong muốn đây là một nghiên cứu minh bạch, dựa trên chứng cứ và do WHO dẫn đầu với sự tham gia của các chuyên gia.

Các lãnh đạo cũng hoan nghênh các cuộc thảo luận của nhóm G7 nhằm xây dựng lại thế giới một cách tốt hơn, hướng tới giải quyết những thách thức như xây dựng cơ sở hạ tầng và công nghệ có khả năng chống chịu và giải quyết tác động của biến đổi khí hậu.

Mỹ và EU cũng cam kết thực hiện Hiệp định Paris, thành lập Nhóm hành động khí hậu cấp cao Mỹ – EU để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu, ngăn chặn và đảo ngược tình trạng mất đa dạng sinh học.

Các lãnh đạo cũng có ý định hướng tới một Liên minh công nghệ xanh xuyên Đại Tây Dương để thúc đẩy hợp tác phát triển và triển khai công nghệ xanh, cũng như thúc đẩy thị trường mở rộng quy mô các công nghệ này.

Các lãnh đạo cũng cam kết hợp tác để bảo vệ các đại dương trên thế giới, bao gồm việc ngăn rác thải trên biển.

Đồng thời, Mỹ và EU cũng cam kết tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư và công nghệ. Các lãnh đạo cam kết phát triển mối quan hệ thương mại và đầu tư song phương cũng như duy trì và cải cách hệ thống thương mại đa phương dựa trên luật lệ.

Các lãnh đạo Mỹ và EU đã thành lập Hội đồng công nghệ và thương mại Mỹ – EU cấp cao để tạo nền tảng hiệu quả cho sự hợp tác trên.

Mỹ và EU cũng cam kết xây dựng quan hệ đối tác Mỹ – EU về tái cân bằng chuỗi cung ứng toàn cầu về chất bán dẫn nhằm tăng cường an ninh nguồn cung ở EU và Mỹ, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất của đôi bên.

Ngoài ra, hội nghị cũng cho thấy triển vọng giải quyết các tranh chấp thương mại lâu nay giữa Mỹ và EU. Hơn nữa, Mỹ và EU cũng quyết tâm thúc đẩy một hệ thống thuế quốc tế công bằng, bền vững và hiện đại.

Các lãnh đạo Mỹ và EU cũng cam kết xây dựng một thế giới dân chủ, hòa bình và an ninh hơn.

“Chúng tôi nghiêm túc quan ngại về tình hình ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, đồng thời phản đối mạnh mẽ bất cứ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng và gia tăng căng thẳng” – tuyên bố chung nhấn mạnh.

Mỹ và EU cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan, khuyến khích giải quyết hòa bình các vấn đề xuyên eo biển. Các lãnh đạo cũng thể hiện mối quan tâm chung về những vấn đề ở Tân Cương và Hong Kong, Trung Quốc cũng như các vấn đề an ninh khu vực.

——————-

.

Ông Biden: Trung Quốc phải cho phép tiếp cận điều tra nguồn gốc COVID-19

TTO – Tổng thống Mỹ Joe Biden nói vẫn chưa có kết luận về nguồn gốc dịch COVID-19 và Trung Quốc cần phải minh bạch, cho phép phương Tây tiếp cận để điều tra xem liệu đại dịch có phát sinh từ phòng thí nghiệm không.

.

.

.

THƯỢNG ĐỈNH GENEVA CĂNG THẲNG : BIDEN và PUTIN MONG ĐỢI GÌ TỪ ĐỐI THỦ? (BBC Tiếng Việt)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Thượng đỉnh Geneva căng thẳng: Biden và Putin mong đợi gì từ đối thủ?

BBC Tiếng Việt

16 tháng 6 2021, 15:29 +07

https://www.bbc.com/vietnamese/world-57495821

Ảnh chụp ngày 16/6

Trước khi hai tổng thống Joe Biden và Vladimir Putin gặp nhau lúc 13:00 ngày thứ Tư ở một villa cổ bên hồ Geneva, Thụy Sĩ, họ đều đã lên tiếng thừa nhận xung khắc ở cấp cao nhất.

Hy vọng duy nhất là hai bên đạt được đồng thuận ở một số lĩnh vực nhỏ, theo BBC News trước giờ họp thượng đỉnh.

Khác với các cuộc họp thượng đỉnh của lãnh đạo Liên Xô cuối cùng, Mikhail Gorbachev, và các tổng thống Mỹ, Ronald Reagan và George Bush vốn mang tính hòa giải, giảm nhiệt căng thẳng giữa hai hệ thống, hội nghị thượng đỉnh Mỹ -Nga 16/06/2021 diễn ra khi các khác biệt tăng cao.

Tuần trước, ông Biden nói về “những hoạt động gây hại của Nga” và nếu Moscow tiếp tục thì sẽ phải đối mặt với “hậu quả mạnh mẽ”.

Hồi tháng 3, trả lời phỏng vấn ABC News, ông Biden dùng từ ngữ chưa từng có, gọi tổng thống Nga là “kẻ giết người”.

Trả lời đài Mỹ NBC hôm 12/06, khi ông Biden bước vào hội nghị G7 ở Anh để thúc đẩy một liên minh chống lại Nga và Trung Quốc, Tổng thống Putin xác nhận rằng quan hệ Nga – Mỹ “ở điểm thấp nhất, tồi tệ nhất sau nhiều năm”.

Stephen Collinson viết trên trang CNN (15/06) rằng cốt lõi trong chính sách ngoại giao của ông Putin lâu nay là “làm vỡ ổn định chính trị và uy tín của Hoa Kỳ”.

“Ông ta bị cáo buộc là đã can thiệp vào hai cuộc bầu cử ở Mỹ nhằm giúp ông Donald Trump, người bị cho là mối đe dọa nội bộ cho dân chủ Mỹ.”

Mỹ mong Nga “ngừng quấy rối”

Kỳ vọng của Biden về cuộc gặp xem ra không cao.

Cố vấn an ninh quốc gia Jake Sullivan nói rõ điều đó khi cho biết thượng đỉnh Geneva là nhằm để “dựng lối bằng lan can cho quan hệ” (nguyên văn –to establish handrails).

Tới Geneva, ông Biden có thế mạnh là vừa họp G7 và gặp các đồng minh Nato nhằm tuyên bố “Nước Mỹ trở lại” trong tinh thần đoàn kết với các đồng minh châu Âu, Đông Á, sau thời Trump.

Cờ Mỹ, Nga và Thụy Sĩ ở Villa La Grange trước cuộc họp

Nói ngắn gọn thì Hoa Kỳ cần vạch ra một lối đi tạm gọi là thỏa thuận được với Nga để tránh bị bất ngờ trước các chiêu của một đối thủ tinh quái (cunning).

Ngoài hòa hoãn để tránh leo thang quân sự, Mỹ muốn Nga đồng ý về nghị trình chống biến đổi khí hậu.

Ông Putin có thể sẽ chấp nhận điều đó để đổi lấy những thứ khác, nhưng giới quan sát cho rằng kinh tế Nga vốn dựa vào khai khoáng và dầu khí, sẽ khó cải tổ kịp để đạt các chỉ tiêu cắt giảm C02 đầy tham vọng mà G7 đưa ra.

Các báo châu Âu nhắc rằng hội nghị thượng đỉnh đôi khi là dịp các lãnh đạo thể hiện điều họ muốn nói cho công chúng và đồng minh hơn là đạt được gì từ đối tác, đối thủ.

Thượng đỉnh Trump-Biden năm 2018 bị cho là “tai hại khủng khiếp” và ông Biden ý thức được điều đó.

Oliver Carroll viết trên The Independent tại Anh sáng thứ Tư rằng ông Biden “mong muốn qua cuộc gặp với ông Putin, Hoa Kỳ phục hồi lại ảnh hưởng bị mất vì khoảng trống thời Trump để lại”.

Còn về phía Nga, ông Putin “mong giành lại danh dự, uy tín cho Nga sau Crimea”.

Tất cả bắt đầu từ vụ Crimea

Nước Nga bị cấm vận, tẩy chay sau khi đơn phương sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine.

Các hoạt động sau đó ở vùng “biên giới gần” mà Nga thực hiện trực tiếp hoặc thông qua các nhóm được ủy nhiệm gây bối rối cho châu Âu.

Tuy thế, càng về gần đây, những hoạt động tại vùng Đông Ukraine, Biển Đen và biển Baltic của Nga chỉ khiến EU và Nato “tìm ra mục tiêu chung” và đoàn kết lại.

Những tuyên bố mới nhất của Nato khi đón ông Biden ở Brussels đầu tuần cho thấy nước cờ “gây áp lực vào phía Đông Nato” không đạt mục tiêu.

Cùng lúc, khu vực Caucasus phía Nam của Nga cũng có nhiều vấn đề.

Thủ tướng Mikhail Mishustin vừa lên tiếng công khai phê phán chương trình phát triển Bắc Caucasus.

Thiếu vắng đầu tư và nạn tham nhũng, thất nghiệp cao đang khiến các nhóm thanh thiếu niên tại khu vực này bất mãn và tìm đến con đường dân tộc chủ nghĩa Hồi giáo, gây ra nguy hiểm cho an ninh Nga.

Các vấn đề bất ổn bên ngoài như Afghanistan, Iran…đều có tác động trực tiếp đến biên giới phía Nam của Liên bang Nga.

Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Shoigu vừa phải thị sát Dagestan vào tuần trước và chỉ thị cải tổ hải đội trên biển Caspi mà Nga chia sẻ với một số nước trong vùng.

Từ một hai năm qua, Nga đã cạnh tranh với Mỹ và các nước Bắc Âu bằng việc tăng cường quân sự ở Bắc Cực.

Ngay trước cuộc gặp với ông Biden, Nga ra lệnh cho Hạm đội Thái Bình Dương tập trận lớn nhất kể từ thời Liên Xô.

Hải quân Nga cũng vừa điều một số tên lửa siêu thanh Kinzhal đến Quân khu phía Tây, theo báo Nga Izvestia. Với tầm bắn 2000 km, loại hỏa tiễn không đối đất này đã có mặt ở các căn cứ phía Nam của Nga.

Bức tranh chung là Nga vẫn có tiềm năng quốc phòng để thể hiện sức mạnh, nhưng kinh tế nói chung là yếu kém, theo đánh giá của thinktank Geographical Futures.

Tổng thống Biden từng gọi người tương nhiệm Putin là ‘kẻ giết người’

Mọi động thái quân sự có mục tiêu tối cao là làm sao để Nga phải có “một ghế bên chiếc bàn chính trị cao cấp quốc tế”, điều tối quan trọng cho chính sự nghiệp của ông Putin.

Sarah Rainsford chia sẻ quan điểm này khi viết trên BBC News từ Moscow rằng hội nghị Geneva là “vấn đề vị thế” (status thing) cho ông Putin.

Với hội nghị thượng đỉnh Geneva tuần này, ít nhiều ông Putin đã đạt mục tiêu đó, nhưng chỉ là về hình thức.

Nếu ông đồng ý “hạ nhiệt” các điểm nóng bên ngoài biên giới như Syria, Iran, Libya, ông Putin thậm chí còn có thể ghi điểm với công chúng Nga vốn không mặn mà với các “thắng lợi” ở chốn xa xôi khi mà mức sống của họ đang cần cải thiện.

Báo Nga, tờ Moscow Times (15/06) có bài của Felix Light viết rằng đa số các nhà quan sát ở Nga “không mong đợi cuộc gặp Biden – Putin tạo ra đột phá gì hết”.

May lắm là hai bên sẽ “phục hồi quan hệ ngoại giao ở mức sơ đẳng nhất, sau một thời gian quan hệ này bị tan rã hoàn toàn”, tác giả từ Nga cho biết.

                                                    ***

TIN LIÊN QUAN

Tình báo Mỹ: Putin thúc đẩy chiến dịch ủng hộ Trump, ‘can thiệp’ bầu cử Mỹ

17 tháng 3 năm 2021

.

Navalny, người chỉ trích Putin có thể ‘chết trong vài ngày tới’, theo bác sĩ

18 tháng 4 năm 2021

.

Vụ hack của Nga: Joe Biden nói Trump cần ‘trưởng thành’

6 tháng 1 năm 2017

.

Trước hội đàm Geneva, Nga tập trận tỏ sức mạnh với Mỹ tại Thái Bình Dương?

12 tháng 6 năm 2021

.

Putin thực sự muốn gì ở Biden

14 tháng 6 năm 2021

.

.

.

CỰU ĐẠI SỨ MỸ TẠI VIỆT NAM : TRUNG QUỐC LÀ THÁCH THỨC ĐỊA CHÍNH TRỊ LỚN NHẤT CỦA HOA KỲ (Trần Phương – Tuổi Trẻ Online)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam : Trung Quốc là thách thức địa chính trị lớn nhất của Mỹ    

Trần Phương  –  Tuổi Trẻ Online

16/06/2021 09:08 GMT+7

https://tuoitre.vn/cuu-dai-su-my-tai-viet-nam-trung-quoc-la-thach-thuc-dia-chinh-tri-lon-nhat-cua-my-20210616081657575.htm

TTO – Cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam – ông Daniel Kritenbrink trong phiên điều trần cho vị trí trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương đã khẳng định Trung Quốc là thách thức địa chính trị lớn nhất của Mỹ.

Ông Daniel Kritenbrink phát biểu trong phiên điều trần tại Thượng viện Mỹ ngày 15-6 – Ảnh: chụp màn hình tại trang foreign.senate.gov

Báo South China Morning Post ngày 16-6 dẫn lời nhà ngoại giao kỳ cựu của Mỹ liệt kê hàng loạt lo ngại về các hành động của Trung Quốc trong và ngoài nước, bao gồm các hành vi thương mại không công bằng, tham nhũng, vấn đề quyền con người ở Tân Cương.

“Chúng tôi sẽ củng cố năng lực của các đối tác để chống lại sự hăm dọa của Trung Quốc và phản đối các tuyên bố hàng hải phi pháp của Trung Quốc” – ông Kritenbrink nói về vấn đề Biển Đông trong phiên điều trần tại Thượng viện Mỹ ngày 15-6 (giờ địa phương).

Ông Kritenbrink từng là đại sứ Mỹ tại Việt Nam trước khi được Tổng thống Joe Biden đề cử làm trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương. Nhiều khả năng đề cử ông sẽ được thông qua.

Các nghị sĩ lưỡng đảng cũng đặt nhiều câu hỏi cho ông Kritenbrink về quan hệ Mỹ – Đài Loan và liệu Washington có nên tiếp tục các chính sách cũ đối với vùng lãnh thổ này hay không.

Cựu đại sứ Mỹ tại Việt Nam cho rằng quan hệ với Đài Loan đang “mạnh hơn bao giờ hết” kể từ năm 1979 (thời điểm Mỹ cắt đứt quan hệ với Đài Bắc và chuyển sang công nhận Trung Quốc) và chính quyền ông Biden sẽ thân thiết với lãnh thổ này hơn.

“Khi mối đe dọa từ Trung Quốc ngày càng tăng, hành vi hung hăng và bắt nạt của Bắc Kinh đối với Đài Loan ngày càng gia tăng, tôi nghĩ rằng phản ứng của chúng ta cũng phải được điều chỉnh” – ông nói.

Ông Biden đến nay vẫn đang đi theo cách tiếp cận của người tiền nhiệm Donald Trump về vấn đề Đài Loan. Mới nhất, Washington mới đây đã tuyên bố nối lại các cuộc đàm phán thương mại với vùng lãnh thổ này.

Ông Kritenbrink nhận được sự ủng hộ của nhiều thành viên lưỡng đảng tại Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ, cho thấy sự nhất trí của cả hai đảng đối với chính sách về Trung Quốc. Ông có 27 năm kinh nghiệm làm ngoại giao, trong đó 24 năm là ở châu Á, và nói được tiếng Trung, Nhật.

“Tôi nghĩ ông ấy là ứng viên hoàn hảo được đề cử cho vị trí này” – thượng nghị sĩ Bill Hagerty nói.

—-

Ông Biden đề cử đại sứ Mỹ tại Việt Nam giữ ghế ngoại giao cao nhất ở châu Á

TTO – Tổng thống Mỹ Joe Biden vừa đề cử ông Daniel Kritenbrink – Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, giữ cương vị trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương.

TRẦN PHƯƠNG

.

.

.

TRUNG QUỐC LẦN ĐẦU THỪA NHẬN NHÀ MÁY HẠT NHÂN GẶP SỰ CỐ (Phạm Nghĩa – NLĐ Online)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Trung Quốc lần đầu thừa nhận nhà máy hạt nhân gặp sự cố    

Phạm Nghĩa   –  Người Lao Động Online

16-06-2021 – 18:54

https://nld.com.vn/thoi-su-quoc-te/trung-quoc-lan-dau-thua-nhan-nha-may-hat-nhan-gap-su-co-20210616183934394.htm

(NLĐO) – Chính phủ Trung Quốc ngày 16-6 cho biết nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn gần Hồng Kông có 5 thanh nhiên liệu bị vỡ nhưng “không gây rò rỉ phóng xạ”.

Theo AP, đây là lần đầu tiên Bắc Kinh thừa nhận sự cố trên.

Bộ Sinh thái và Môi trường Trung Quốc cho biết trên tài khoản mạng xã hội rằng bức xạ phát ra bên trong lò phản ứng số 1 của nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn ở tỉnh Quảng Đông nhưng đã được ngăn chặn.

“5 trong số 60.000 thanh nhiên liệu của lò phản ứng đã bị hư hỏng. Không xảy ra rò rỉ phóng xạ ra môi trường. Bức xạ trong chất làm mát lò phản ứng tăng lên nhưng vẫn nằm trong phạm vi cho phép” – Bộ này khẳng định.

Chính quyền Hồng Kông tuyên bố họ đang theo dõi tình hình và yêu cầu các quan chức ở Quảng Đông cung cấp thông tin chi tiết.

Một lò phản ứng hạt nhân đang được xây dựng tại nhà máy điện hạt nhân Đài Sơn năm 2013. Ảnh: AP

Trước đó, đồng sở hữu nhà máy Đài Sơn, công ty mẹ của Framatome, Electricite de France SA (EDF – Pháp), hôm 14-6 cảnh báo “lượng khí hiếm” tăng lên trong lò phản ứng tại nhà máy này. Đài CNN đưa tin Framatome sau đó gửi thư yêu cầu Bộ Năng lượng Mỹ hỗ trợ.

Các chuyên gia cho rằng các thanh nhiên liệu bị vỡ, làm rò rỉ khí phóng xạ sinh ra trong quá trình phân hạch hạt nhân. Một số khí hiếm như xenon và krypton là sản phẩm phụ của quá trình phân hạch cùng với các hạt cesium, strontium và các nguyên tố phóng xạ khác.

Nhà máy Đài Sơn đi vào hoạt động từ tháng 12-2018. Lò phản ứng thứ hai bắt đầu hoạt động vào tháng 9-2019.

Tổng công ty Điện hạt nhân Trung Quốc (CGN) sở hữu 51% cổ phần trong liên doanh Đài Sơn. Công ty mẹ của Framatome, Electricite de France SA (EDF), nắm 30% cổ phần, còn lại thuộc về Công ty tiện ích Yuedian (Trung Quốc) ở tỉnh Quảng Đông.

Theo Hiệp hội Hạt nhân Thế giới, Trung Quốc hiện có 50 lò phản ứng có thể hoạt động và đang xây dựng thêm 18 lò nữa. Nước này xây dựng các lò phản ứng dựa trên công nghệ của Pháp, Mỹ, Nga và Canada. Các công ty quốc doanh cũng đã phát triển lò phản ứng của riêng họ và đang tiếp thị ra nước ngoài.

Phạm Nghĩa

.

.

.

AFGHANISTAN : NGHĨA ĐỊA CÁC ĐẾ CHẾ và CẠM BẪY ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC (Financial Times)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Afghanistan: ‘Nghĩa địa các đế chế’ và cạm bẫy đối với Trung Quốc

Financial Times  

Trần Hùng biên dịch

17/06/2021

http://nghiencuuquocte.org/2021/06/17/afghanistan-nghia-dia-cac-de-che-va-cam-bay-doi-voi-trung-quoc/

Không phải ngẫu nhiên mà Afghanistan được gọi là nghĩa địa của các đế chế. Alexander Đại đế, đế chế Anh, Liên Xô và bây giờ là nước Mỹ hùng mạnh, tất cả đều đã thất bại trong nỗ lực chinh phục đất nước khốc liệt này. Giờ đây, Trung Quốc, siêu cường mới nổi của thế giới, có nguy cơ rơi vào cái bẫy tương tự ngay khi họ thậm chí chưa bắt đầu dự án tân đế quốc của riêng mình.

Khi cuộc chiến dài nhất của Mỹ dần kết thúc trước ngày mang tính biểu tượng là 11 tháng 9 năm 2021, các nhà lãnh đạo và nhà hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc đang phải vật lộn với những suy nghĩ mâu thuẫn nhau. Một mặt, Bắc Kinh luôn cảm thấy các chiến dịch của Mỹ ở Afghanistan là một phần của “Âm mưu vĩ đại” mới nhằm bao vây, kiềm chế và có khả năng gây bất ổn cho Trung Quốc, quốc gia có chung một dải biên giới nhỏ với nước này. Vì vậy, sự rút lui nhục nhã cuối cùng của Mỹ và khả năng tái lập quyền kiểm soát của Taliban ở nước này được Trung Quốc hoan nghênh trên khía cạnh đó.

Mặt khác, khoảng trống quyền lực sắp xuất hiện có khả năng tạo ra hỗn loạn trong một quốc gia vốn có thể gây bất ổn toàn khu vực. Một cuộc nội chiến mới có thể thu hút các lực lượng thánh chiến vốn đang chuyển sự chú ý của họ sang những gì mà một số chính phủ phương Tây mô tả là “cuộc diệt chủng” đối với cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi của Trung Quốc ngay bên kia biên giới. Bắc Kinh đặc biệt lo lắng về việc các chiến binh Duy Ngô Nhĩ trở về từ Syria, nơi một số đã chiến đấu bên cạnh Tổ chức Nhà nước Hồi giáo.

Đầu tháng này, các bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc, Afghanistan và Pakistan đã gặp nhau để thảo luận về các dàn xếp an ninh sau khi Mỹ rút khỏi nước này. Trung Quốc cũng đã tán tỉnh Taliban và thậm chí còn đề nghị cung cấp cơ sở hạ tầng và các dự án tái thiết cho nhóm này. Bắc Kinh đang hy vọng sẽ mở rộng dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Vành đai và Con đường của mình từ dự án chính ở Pakistan nối lên Afghanistan và lạc quan rằng điều này có thể giúp mang lại sự ổn định cho đất nước vốn đã bị chiến tranh tàn phá.

Chứng kiến ​​và vui mừng trước sự dàn trải quá mức của Mỹ trong “các cuộc chiến không hồi kết” trong hai thập niên qua và vẫn còn nhớ rõ những trải nghiệm của Liên Xô ở Afghanistan trong những năm 1980, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không muốn sa vào vũng lầy Afghanistan của chính họ. Bắc Kinh coi việc Mỹ vướng vào Afghanistan và Iraq sau vụ khủng bố 11/9 chủ yếu như là một sự phân tâm trong chính sách đối ngoại Mỹ, mang lại cơ hội giúp Trung Quốc vươn lên xác quyết hơn.

Giờ đây, Nhà Trắng đã công khai cho biết họ đang kết thúc chiến tranh một phần là để giải phóng các nguồn lực nhằm ứng phó với các thách thức từ Trung Quốc. Việc kỳ vọng Bắc Kinh sẽ bị hút vào Afghanistan có thể là một phần lý do dẫn tới quyết định rút khỏi Afghanistan của Tổng thống Biden.

Kế hoạch của Bắc Kinh nhằm đưa Sáng kiến Vành đai và Con đường vào Afghanistan chứa đầy rủi ro. Ở hầu hết các quốc gia khác, các dự án này thường được thực hiện với các khoản vay từ Trung Quốc để trả lương cho công nhân Trung Quốc nhằm xây dựng các dự án đường bộ, đường sắt, bến cảng và cầu. Nhưng một phần vì cách Trung Quốc đối xử với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, các nhà thầu Trung Quốc đã bị nhắm đến trong các cuộc tấn công ở một số nơi của Pakistan. Với việc nguy cơ này ở Afghanistan là lớn hơn nhiều và cái giá chính trị đối với Tập Cận Bình là rất lớn nếu các công nhân trở về nhà trong các túi đựng xác, rất có thể bất kỳ dự án Vành đai và Con đường nào ở nước này đều sẽ phải đi kèm với một sự hiện diện an ninh đáng kể.

Các cố vấn của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã khuyến nghị Trung Quốc gửi lực lượng gìn giữ hòa bình đến nước này dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc để bảo vệ “an toàn và lợi ích” của công dân và các công ty Trung Quốc ở đó. Những sứ mạng như vậy thường dần dần dẫn tới các can dự sâu rộng hơn nhiều. Chủ tịch Tập nên chú ý đến các bài học lịch sử và tránh lặp lại số phận của các đế chế khác từ trước tới nay.

                                               ***

NGUÔN :

 “The graveyard of empires calls to China”, Financial Times, 16/06/2021.

.

.

.

QUỐC GIA TẦM TRUNG VỚI ĐỊNH HƯỚNG NGOẠI GIAO CHUYÊN BIỆT : MỘT SỐ GỢI Ý CHO VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030 (Vũ Lê Thái Hoàng & Đỗ Thị Thủy)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Quốc gia tầm trung với định hướng ngoại giao chuyên biệt: Một số gợi ý cho Việt Nam đến năm 2030

Vũ Lê Thái Hoàng* – Đỗ Thị Thủy**

16/06/2021

http://nghiencuuquocte.org/2021/06/16/quoc-gia-tam-trung-voi-dinh-huong-ngoai-giao-chuyen-biet/

Tóm tắt: Ngoại giao chuyên biệt nhiều thập niên qua đã, đang là lựa chọn và định hướng chính sách đối ngoại quan trọng, phổ biến, phù hợp với thế và lực của các nước tầm trung trong một môi trường chiến lược biến động nhanh chóng, phức tạp nhưng cũng mở ra nhiều dư địa, cơ hội. Với thế và lực gia tăng ấn tượng sau 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế thành công cũng như với tầm nhìn, khát vọng phát triển đến năm 2045 được Đảng ta đề ra tại Đại hội XIII (tháng 1-2021), Việt Nam ngày càng có những đóng góp tích cực, chủ động, trách nhiệm vào hòa bình, an ninh, phát triển và thịnh vượng chung của khu vực, thế giới. Vì lẽ đó, ngoại giao chuyên biệt cần được xem là hướng đi, ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Quốc gia tầm trung với vị thế đặc thù trong quan hệ quốc tế

“Quốc gia tầm trung” là một khái niệm mang tính so sánh, về cơ bản có hai cách để phân loại, định nghĩa “quốc gia tầm trung”. Cách thứ nhất dựa trên các thước đo năng lực, sức mạnh quốc gia (sức mạnh cứng và sức mạnh mềm), như chỉ số tổng sản phẩm quốc gia (GNP)/tổng sản phẩm quốc nội (GDP), lợi thế cạnh tranh về kinh tế, sức mạnh quân sự, diện tích lãnh thổ, dân số và chất lượng dân số, tài nguyên thiên nhiên, sức hấp dẫn của văn hóa và mô hình chính trị, vị trí địa – chính trị, địa – kinh tế, uy tín/ảnh hưởng quốc tế… Cách thứ hai dựa trên kiểu hành vi/chính sách đặc thù của quốc gia, đặc biệt là ưu tiên sử dụng phương thức ngoại giao đa phương trong chính sách đối ngoại, thể hiện qua số lượng các tổ chức/cơ chế hợp tác quốc tế/khu vực tham gia, mức độ đóng góp tài chính vào các cơ chế đa phương, các hoạt động ngoại giao đa phương, như số lượng sáng kiến, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hoạt động viện trợ nhân đạo quốc tế, vai trò hòa giải/trung gian trong tranh chấp quốc tế… Trên thực tế, cách thứ hai thường được sử dụng làm cơ sở chính cho các định nghĩa/phân loại, còn cách thứ nhất đóng vai trò bổ sung. Do đó, năng lực, sức mạnh của quốc gia tầm trung là điều kiện cần, còn chính sách, hành vi đặc thù của quốc gia tầm trung là điều kiện đủ để kết hợp tạo nên một thực thể được công nhận là “quốc gia tầm trung”.

Các nước tầm trung có vị thế đặc thù trong hệ thống quốc tế. Nhóm nước này tuy có nguồn lực hạn chế, chưa đuổi kịp/cạnh tranh được với các nước lớn, nhất là về sức mạnh kinh tế, công nghệ, quốc phòng, song có lợi thế tương đồng với các quốc gia tầm trung khác và vượt trội so với các nước nhỏ, trình độ phát triển thấp. Vị thế đó, một mặt, có thể tạo nên áp lực phải thích ứng, phòng vệ trong thế “tiến thoái lưỡng nan” về ứng xử phù hợp của nước tầm trung với các bên (lớn hơn, ngang bằng, nhỏ hơn) trong một số hoàn cảnh; mặt khác, cũng tạo nhiều dư địa, cơ hội khi có được lòng tin lớn hơn của quốc tế về vai trò cầu nối, trung gian, xúc tác một cách xây dựng, thực tâm; tạo động lực chủ động, sáng tạo để tối ưu hóa không gian chiến lược chật hẹp và lựa chọn chính sách hạn chế, giúp duy trì khả năng độc lập, tự chủ, linh hoạt và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các nước, trong đó có việc mở rộng, tăng cường mạng lưới quan hệ giữa các nước tầm trung với nhau để giảm áp lực từ cạnh tranh chiến lược các nước lớn; phát huy vai trò, sáng kiến đóng góp cho hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới. Dư địa, cơ hội đó sẽ tiếp tục được mở rộng hơn khi bên cạnh các “điểm nóng” nan giải về an ninh truyền thống, các vấn đề toàn cầu (an ninh phi truyền thống, an ninh con người) nổi lên ngày càng nhiều, càng phức tạp, tác động không loại trừ nước nào và cũng không một nước nào tự mình có thể giải quyết hiệu quả. Nhu cầu cần có sự chung tay, hợp tác rộng lớn về cả nguồn lực lẫn ý tưởng, sáng kiến dường như là vô tận, kéo theo xu hướng phát triển khó đảo ngược của xu thế đa phương và dân chủ hóa quan hệ quốc tế. Quốc gia tầm trung có vai trò không thể thiếu được trong xu hướng đó.

Ngoại giao chuyên biệt (niche diplomacy) là lựa chọn và định hướng chính sách quan trọng, phù hợp với thế và lực của các nước tầm trung trong môi trường chiến lược biến động nhanh, phức tạp, khó lường. Triển khai ngoại giao chuyên biệt sẽ tạo nên một bản sắc quốc gia riêng biệt, phục vụ hiệu quả cho lợi ích an ninh, phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của nước tầm trung. Từ góc độ đối ngoại, đó là cách tiếp cận chủ động, tích cực nhưng chọn lọc, linh hoạt, thực tế (không dàn trải, có trọng tâm, trọng điểm, ít bị nước lớn chi phối, có khả năng tập hợp lực lượng, nhất là từ các nước nhỏ và các nước tầm trung khác), hợp thế mạnh, hợp lợi ích (tìm ra những vấn đề lợi thế có thể phát huy, đóng góp, thường thiên về an ninh phi truyền thống), mang tính liên ngành, toàn chính phủ/cộng đồng, thông qua đề xuất, dẫn dắt sáng kiến/ý tưởng, xúc tác, kết nối, điều phối với các đối tác chính phủ và phi chính phủ, cả kênh song phương và đa phương, trong đó ngoại giao đóng vai trò tích cực, chủ động, thậm chí tiên phong, nòng cốt.

Ngoại giao chuyên biệt: Sự lựa chọn phù hợp với quốc gia tầm trung

Xuất phát từ khái niệm “thị trường ngách” (niche market) trong kinh doanh, “ngoại giao chuyên biệt” là một khái niệm do các học giả người Ô-xtrây-li-a và Ca-na-đa phát triển và được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước. Thuật ngữ này lần đầu tiên được Ngoại trưởng Ô-xtrây-li-a Ga-rết E-van (Gareth Evans) và học giả Bru-xơ Gran (Bruce Grant) đưa ra vào năm 1991 trong cuốn sách bàn về chính sách đối ngoại của Ô-xtrây-li-a sau Chiến tranh lạnh. Theo Ngoại trưởng Ô-xtrây-li-a Ga-rết E-van, ngoại giao chuyên biệt đồng nghĩa với chuyên môn hóa (specialization). Ông định nghĩa ngoại giao chuyên biệt là “tập trung nguồn lực trong những lĩnh vực cụ thể để có thể thu được kết quả tốt nhất đáng có, hơn là tìm cách phủ bóng lên mọi lĩnh vực”(1). Theo đó, ngoại giao chuyên biệt tập trung vào khả năng của một nước nhằm xác định và lấp những khoảng trống hẹp (niche spaces) thông qua phương thức, kỹ năng ngoại giao. Cụ thể là, các nước thực thi ngoại giao chuyên biệt lựa chọn một hoặc một vài vấn đề, tổ chức hay lĩnh vực cụ thể để chuyên môn hóa và định hướng chúng thành nền tảng quan trọng trong chính sách đối ngoại của mình.

Ngoại giao chuyên biệt trên thực tế được triển khai hiệu quả nhất bởi các quốc gia tầm trung – những nước có đủ năng lực và vị thế để đóng vai trò nổi bật trên trường quốc tế, song lại không đủ mạnh để áp đặt các lập trường và giải pháp của họ(2). Do nguồn lực có hạn so với các nước lớn nhưng vẫn đáng kể so với các nước nhỏ, các nước tầm trung có thể thể hiện vai trò trong chính trị quốc tế bằng cách tập trung vào các vấn đề quốc tế mới nổi và thiết thực. Do vậy, sự tích cực của các nước tầm trung được giải thích không chỉ như là cách thức nhằm vượt qua những hạn chế về sức mạnh vật chất so với các nước khác mà bằng cách phát triển những chiến lược can dự ngoại giao, bao gồm việc xác định các “lĩnh vực chuyên biệt” để hành động và vận dụng các nguồn lực sức mạnh mềm như khả năng tạo sức hấp dẫn, lôi cuốn.

Đặc điểm trung tâm trong nền ngoại giao của các nước tầm trung là sự can dự với quản trị toàn cầu/khu vực trong các lĩnh vực chuyên biệt mà họ có thể dẫn dắt và định hình các chương trình nghị sự cũng như đóng góp vào sự phát triển các năng lực trong quản trị toàn cầu, điển hình là trong các cơ chế đa phương.

Thứ hai, các nước tầm trung tận dụng uy tín của họ như là những “công dân tốt toàn cầu”. Nước tầm trung có một vai trò đặc biệt trong việc dẫn dắt ý tưởng và kỹ thuật trong các lĩnh vực chuyên biệt, nơi có thể thể hiện một mô thức nghệ thuật quản trị đặc thù nhấn mạnh vào xây dựng liên kết và hợp tác. Các nước tầm trung cũng thích nghi trên cơ sở chọn lọc vai trò xúc tác (catalyst) thông qua các sáng kiến ngoại giao, điều phối, dẫn dắt (facilitator) thông qua xây dựng các chương trình nghị sự, xây dựng đồng thuận, xây dựng lòng tin, quản lý (manager) thông qua hỗ trợ xây dựng thể chế đa phương(3).

Thứ ba, kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các nước tầm trung đã đạt được sự tự chủ tương đối trong việc can dự vào ngoại giao chuyên biệt ở cấp độ toàn cầu, đóng vai trò dẫn dắt, điều phối trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống (và an ninh con người) vốn là những vấn đề chính trị tầm thấp phi quân sự (low politics), như biến đổi khí hậu, kinh tế, nhân khẩu so với những vấn đề chính trị tầm cao (high politics), như kiểm soát vũ khí và cân bằng chiến lược.

Thứ tư, kết nối mạng lưới (networking) là một khâu quan trọng trong thực thi ngoại giao chuyên biệt. Các nước tầm trung nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua các hoạt động ngoại giao công chúng ở tầm quốc tế và khu vực, vận động trực tiếp của các quan chức và các nhà ngoại giao… trong việc thu hút sự phối hợp và ủng hộ của cộng đồng quốc tế(4).

Thứ năm, các nước tầm trung tăng cường khả năng định hình sáng tạo các ý tưởng chính sách và nuôi dưỡng một mạng lưới chính sách với các tổ chức quốc tế. Ngoại giao chuyên biệt của các nước tầm trung không cần kiến thức khoa học vĩ đại hoặc những nguồn lực lớn để xây dựng mạng lưới. Thay vào đó, tập trung vào một vấn đề cụ thể và xây dựng một mạng lưới quốc tế mới là điều quan trọng.

Ngoại giao chuyên biệt: Hướng đi mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030

Tại phiên khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (ngày 26-1-2021), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhận định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(5). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu mục tiêu cụ thể thời gian tới: 1- Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; 2- Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; 3- Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao(6). Đây là tầm nhìn và khát vọng của Việt Nam trong những thập niên tới.

Có thể nói, sau hơn ba thập niên đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã khẳng định được vị thế ngày càng cao trong quan hệ quốc tế xét theo ba tiêu chí năng lực, chính sách và sự công nhận của quốc tế(7).

Về năng lực hay sức mạnh, Việt Nam tuy còn hạn chế nhiều mặt và phải nỗ lực rất lớn nếu so với nhóm cường quốc và tầm trung dẫn đầu, song không thua kém, thậm chí vượt trội so với các quốc gia khác trên một số phương diện. Đơn cử như, Việt Nam xếp thứ 68 về diện tích, xếp thứ 15 về dân số, thứ 46 về quy mô nền kinh tế, các chỉ số phát triển kinh tế – xã hội tích cực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá Việt Nam đã phát triển vượt bậc từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nước thu nhập trung bình thấp, với GDP đầu người đạt khoảng 2.800 USD năm 2019, hơn 45 triệu người thoát nghèo; là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và năng động nhất trong khu vực (dao động từ 5,25% – 7,08% liên tục từ năm 2012 đến năm 2019); Chỉ số vốn con người (HCI) xếp thứ 48/157 nước và vùng lãnh thổ và đứng thứ hai trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), chỉ sau Xin-ga-po(8), Chỉ số Phát triển con người (HDI) là 0,63 – thuộc nhóm cao nhất thế giới, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) xếp thứ 67/141 nước và nền kinh tế. Về sức mạnh quốc phòng(9), theo tổ chức Global Firepower, Việt Nam xếp thứ 23/137 nước và vùng lãnh thổ năm 2019(10), được đánh giá là một trong những nước có sức mạnh quân sự hàng đầu khu vực, nhất là khu vực Đông Nam Á.

Về chính sách, từ tư duy, đường lối đến triển khai đối ngoại của Việt Nam trong hơn ba thập niên qua đều thể hiện sự kết hợp biện chứng giữa nguyên tắc độc lập, tự chủ và chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa, cân bằng động và linh hoạt trong quan hệ với các đối tác; là sự phát triển tiệm tiến từ phương châm muốn là bạn, đối tác tin cậy đến thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế đóng góp vào nỗ lực chung giải quyết các thách thức toàn cầu, tức là trở thành “công dân tốt” của cộng đồng quốc tế; là sự chuyển dịch từ hội nhập kinh tế sang hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, chủ động, tích cực, gắn liền với nâng tầm đối ngoại đa phương, từ chủ yếu chấp nhận “luật chơi”chuyển sang góp phần định hình “luật chơi” của hệ thống quốc tế, vươn lên đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải tại các diễn đàn đa phương, khu vực quan trọng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế”; Chỉ thị số 25-CT/TW, ngày 8-8-2018, của Ban Bí thư, “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030” và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là những văn bản định hướng lớn về chiều hướng phát triển đó. Như vậy, với Việt Nam, việc định vị vị thế quốc gia theo hướng tự tin, chủ động, tích cực hơn trong quan hệ quốc tế, sẽ góp phần phục vụ hiệu quả cho bảo đảm lợi ích cao nhất quốc gia  - dân tộc trong bối cảnh mới. Chủ trương, đường lối, chính sách đó cũng góp phần tạo nên bản sắc đối ngoại Việt Nam(11).

Về sự công nhận quốc tế, với đường lối đối ngoại nói trên, vị thế của Việt Nam ngày càng được quốc tế công nhận rộng rãi. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với hầu như tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc (189/193) và năm 2019 được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 với số phiếu 192/193 – số lượng phiếu cao kỷ lục chưa từng có trong 75 năm phát triển của Liên hợp quốc; đã xác lập khuôn khổ quan hệ với tất cả năm nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong tổng số 17 đối tác chiến lược, 13 đối tác toàn diện; là thành viên của hơn 70 tổ chức/diễn đàn khu vực, toàn cầu; nền kinh tế có độ mở lớn, hội nhập sâu rộng vào khu vực, thế giới, có quan hệ thương mại, đầu tư với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) với 65 nền kinh tế, là điểm đến ngày càng hấp dẫn, an toàn, đáng tin cậy cho các nhà đầu tư, khách du lịch quốc tế. Việt Nam là một trong số ít các nước được thế giới đánh giá là điển hình phòng, chống dịch bệnh COVID-19, thể hiện trách nhiệm và uy tín cao trong hợp tác quốc tế, khu vực.

Xét chiều hướng phát triển thế và lực tổng thể cũng như định hướng đối ngoại của Việt Nam đến năm 2030, có thể thấy, ngoại giao chuyên biệt cần và phải là hướng đi, ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030 (và xa hơn trong thế kỷ XXI), góp phần hoạch định, triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030 và Chiến lược đối ngoại đến năm 2030, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước.

Đề xuất ưu tiên và đầu tư nhiều hơn cho ngoại giao chuyên biệt nên được hiểu là sự bổ trợ, nâng tầm và tăng tính hiệu quả cho ngoại giao Việt Nam nói riêng và đối ngoại Việt Nam nói chung trong thời gian tới. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, chính sách và hoạt động đối ngoại của Việt Nam được thiết kế và triển khai theo trục chủ thể (đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại quốc hội, đối ngoại nhân dân), theo các nhóm đối tác (láng giềng, khu vực, nước lớn, bạn bè truyền thống và các đối tác khác, đối ngoại đa phương), theo khuôn khổ (đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược theo lĩnh vực), theo trụ cột nội dung (ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài). Việc đi sâu vào một chủ đề/vấn đề/lĩnh vực (nhất là về phát triển) hay phương thức chuyên biệt, cụ thể, phù hợp với thế mạnh và lợi ích của Việt Nam đã có một số tiền lệ và bước đầu thử nghiệm, nhưng chủ yếu đặt trong tổng thể quan hệ với một số đối tác và tại một số diễn đàn đa phương, chưa trở thành một định hướng đối ngoại chung mang tính hệ thống, xuyên suốt, được triển khai bài bản, đồng bộ, rộng khắp với nhiều đối tác, tại nhiều diễn đàn, tạo nên “thương hiệu quốc gia” và hiệu ứng tổng thể phục vụ hiệu quả cho lợi ích của đất nước. Ngoại giao chuyên biệt trước hết là sự đề cao vai trò tích cực, chủ động, tiên phong của ngành ngoại giao trong tìm tòi cách làm mới, sáng tạo, có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn và xây dựng chiến lược dài hạn hiện thực hóa một số chủ đề, phương thức, lĩnh vực phù hợp với lợi ích, thế mạnh quốc gia và xu thế của quốc tế, qua đó kết hợp tối ưu hóa nguồn lực bên trong và bên ngoài, phục vụ hiệu quả nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, nhất là lợi ích phát triển. Theo đó, có thể xem xét hoạch định và triển khai chiến lược về ngoại giao trung gian – hòa giải, ngoại giao công chúng, ngoại giao số, ngoại giao công nghệ, ngoại giao năng lượng, ngoại giao nước, ngoại giao y tế, ngoại giao bình đẳng giới…

Ngoại giao chuyên biệt như một phương thức và công cụ sẽ mang lại nhiều lợi ích về chiến lược, an ninh, phát triển và vị thế cho Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, góp phần định hình, làm phong phú thêm bản sắc đối ngoại, “thương hiệu quốc gia” của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, không chỉ quan tâm đến lợi ích của mình mà còn quan tâm, phối hợp, giúp đỡ các nước khác trong điều kiện, khả năng phù hợp.

Thứ hai, thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề phi chính trị, ít nhạy cảm, giúp mở rộng không gian, dư địa chiến lược, qua đó tăng cường xây dựng lòng tin, đan xen lợi ích với các đối tác, vừa duy trì được khả năng độc lập, tự chủ, vừa đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa, phát huy vai trò, vị thế quốc tế của đất nước. Do đó, ngoại giao chuyên biệt đòi hỏi đáp ứng hai đặc tính cơ bản là lồng ghép chính sách (giữa đối ngoại và các lĩnh vực chuyên ngành) và phối hợp triển khai (giữa Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện và các bộ, ngành, doanh nghiệp, địa phương).

Thứ ba, góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả hơn theo tinh thần ngoại giao phục vụ phát triển, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chọn lựa và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực/vấn đề phù hợp, mang tính chiến lược, dài hạn, qua đó thu hút, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để tiếp tục thúc đẩy công cuộc đổi mới, cải cách, nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Thứ tư, cụ thể hóa triển khai chủ trương đẩy mạnh, nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030, phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải tại các cơ chế đa phương có tầm quan trọng chiến lược với Việt Nam (trong đó có ASEAN), thông qua các sáng kiến, nỗ lực hợp tác trong những vấn đề/lĩnh vực cụ thể phù hợp với lợi ích, thế mạnh của ta và được khu vực, quốc tế quan tâm, nhất là các thách thức an ninh phi truyền thống, các vấn đề toàn cầu; đa dạng hóa các liên kết, hợp tác theo vấn đề/lĩnh vực cụ thể với các nước cùng lợi ích/quan điểm (like-minded), góp phần thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, dân chủ hóa quan hệ quốc tế, xây dựng trật tự dựa trên luật pháp quốc tế.

Thứ năm, việc triển khai hiệu quả ngoại giao chuyên biệt phụ thuộc nhiều vào định hướng xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại thời gian tới(12); chú trọng nâng cao năng lực thể chế, phối hợp liên ngành (toàn chính phủ) và phát triển nguồn nhân lực công tác đối ngoại ở trong nước, đặc biệt là phát huy vai trò cầu nối, xúc tác, song hành của mạng lưới các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao chuyên nghiệp, chính quy, hiện đại, được trang bị kiến thức tổng hợp, đa ngành và các kỹ năng phù hợp.

* TS, Bộ Ngoại giao; ** TS, Học viện Ngoại giao

Bài viết được xuất bản lần đầu trên Tạp chí Cộng sản số 967, tháng 6/2021.


(1) Gareth Evans and Bruce Grant: Australia’s Foreign Relations in the World of the 1990s, Melbourne: Melbourne University Press, 1991, pp. 323

(2), (3) Xem: Vũ Lê Thái Hoàng – Lê Linh Lan: “Vai trò của ngoại giao đa phương trong chính sách đối ngoại của quốc gia tầm trung: Trường hợp của Indonesia”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 97, tháng 6-2014, tr.  87  - 116

(4) Henrikson, Alan K: “Niche diplomacy in the world public arena: The global ‘corners’ of Canada and Norway”, The new public diplomacy, Palgrave Macmillan, London, 2005, p. 71

(5) Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, https://nhandan.com.vn/chinhtri/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-636568/, truy cập ngày 5-3-2021

(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr.  326 – 327

(7) Xem: Lê Đình Tĩnh: “Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh ngoại giao Việt Nam sau năm 2030”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2 (113), tháng 6-2018, tr. 22- 53; Lê Hồng Hiệp: “Đã đến lúc Việt Nam định vị mình là “cường quốc hạng trung””, https://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/dachieu/da-den-luc-viet-nam-dinh-vi-minh-la-cuong-quoc-hang-trung-469844.html, ngày 17-8-2018

(8)  Xem:  https://www.worldbank.org/vi/country/vietnam/overview

(9) Xem thêm: Sách trắng Quốc phòng 2019, https://dskbd.org/2019/12/03/toan-van-sach-trang-quoc-phong-viet-nam-2019/

(10)  Xem  thêm:  https://globalfirepower.com/countries-listings.asp, truy cập ngày 10-5-2020

(11) Xem: Lê Đình Tĩnh: “Mục tiêu cường quốc tầm trung và viễn cảnh ngoại giao Việt Nam sau năm 2030”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 2 (113), tháng 6-2018, tr. 47 – 48

(12) Xem: Phạm Bình Minh: “Hướng tới nền ngoại giao toàn diện, hiện đại và những kỳ vọng đối với cán bộ ngoại giao tương lai”, https://baoquocte.vn/ngoai-giao-vie-t-nam-huong-toi-nen-ngoai-giao-toan-dien-hien-dai-va-nhung-ky-vong-doi-voi-can-bo-ngoai-giao-tuong-lai-136447.html, truy cập ngày 18-2-2021

.

.

.

TẠI SAO TRUNG QUỐC CẦN TRÁNH ĐI VÀO VẾT XE ĐỔ CỦA NGA? (Minxin Pei – NIKKEI ASIA)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Tại sao Trung Quốc cần tránh đi vào vết xe đổ của Nga?

Minxin Pei   –  NIKKEI ASIA  

Phan Nguyên biên dịch

16/06/2021

http://nghiencuuquocte.org/2021/06/16/tai-sao-trung-quoc-can-tranh-di-vao-vet-xe-do-cua-nga/

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tự hào về việc học được các bài học từ sự sụp đổ của các chế độ độc tài khác. Sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đặt hàng các nghiên cứu của giới hàn lâm và tổ chức các cuộc hội thảo nhằm tìm hiểu xem chế độ Liên Xô hùng mạnh một thời đã sụp đổ như thế nào.

Đây hoàn toàn không phải là một việc làm vô ích. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ sự sụp đổ của Liên Xô, chẳng hạn như sự dàn trải sức mạnh quá đà, chạy đua vũ trang tốn kém và kinh tế trì trệ, đã giúp ĐCSTQ hình thành chiến lược tồn tại của mình trong thời kỳ hậu khủng hoảng Thiên An Môn. Nhìn chung, đảng đã được hưởng lợi từ những bài học này – cho đến khi Chủ tịch Tập Cận Bình áp dụng một chiến lược hoàn toàn mới sau khi lên nắm quyền vào cuối năm 2012.

Giờ đây, khi Trung Quốc đã thực sự trở lại chế độ một người cai trị, ĐCSTQ có thể muốn xem xét kinh nghiệm của Nga dưới hai thập niên cầm quyền của Tổng thống Vladimir Putin.

Con đường phía trước mà ĐCSTQ vạch ra tiềm ẩn một số nguy cơ làm đẩy nhanh sự sụp đổ giống như của Liên Xô, chẳng hạn như cuộc chiến tranh lạnh đang bùng nổ với Hoa Kỳ, nhưng những nguy cơ khác thì hoàn toàn khác. Về mặt lý thuyết, việc tránh những sai lầm mà Putin đã mắc phải ít nhất cũng có thể giúp củng cố sự cai trị của ĐCSTQ khi ông Tập bắt đầu thập niên cầm quyền thứ hai của mình.

Chắc chắn, tuyên truyền chính thức của Trung Quốc miêu tả thời kỳ cầm quyền của Putin là một thành công ngoạn mục, với việc người hùng Nga hồi sinh nền kinh tế, khôi phục trật tự và vị thế cường quốc của Moskva. Sự thật, tất nhiên, là rất khác.

Thập niên cầm quyền đầu tiên của Putin trùng với thời điểm giá dầu tăng, giúp phục hồi nền kinh tế Nga. Mặc dù ông đã phá bỏ nền dân chủ non trẻ của Nga trong vòng vài năm sau khi lên nắm quyền năm 1999, nhưng Putin đã không bắt đầu thể hiện sức mạnh địa chính trị của Nga cho đến nhiệm kỳ thứ hai. Khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ ba vào năm 2012 – sau khi tạm giữ chức thủ tướng từ năm 2008 đến năm 2012 – Putin đã tăng cường chiến lược này để đưa nước Nga vĩ đại trở lại.

Bảng kết quả của Putin trong chín năm qua chứa đầy những lời hứa không được thực hiện và những sai lầm tốn kém. Về mặt kinh tế, Nga vẫn phụ thuộc vào dầu lửa, với dầu và khí đốt chiếm 39% nền kinh tế vào năm 2018. Dự án đầy tham vọng của Điện Kremlin nhằm phát triển các ngành công nghệ cao và đa dạng hóa nền kinh tế vẫn chưa thành công như mong đợi.

Trong khi đó, sự bám víu quyền lực vững chắc của Putin đã biến nền chính trị Nga trở thành một show diễn một người. Do đó, các hành động của Moskva xoay quanh việc bảo vệ hình ảnh và quyền lực của Putin hơn là thúc đẩy lợi ích quốc gia của Nga và giải quyết các thách thức kinh tế – xã hội về lâu dài của nước này.

Hậu quả tai hại nhất của chính sách đối ngoại theo khuynh hướng phục thù của Putin, thể hiện trong việc chiếm Crimea vào năm 2014, là việc Nga bị quốc tế cô lập và leo thang đối đầu với phương Tây. Putin có thể cảm thấy hài lòng về chuỗi thành tích chiến thuật của mình, chẳng hạn như cuộc chiến ở miền đông Ukraine, sự can thiệp quân sự của Nga ở Syria hay việc can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 đã giúp Donald Trump giành được Nhà Trắng.

Nhưng phí tổn chiến lược đối với Nga là cao đáng kinh ngạc. Các biện pháp trừng phạt do phương Tây áp đặt sau khi chiếm Crimea đã gây ra một tổn thất nặng nề cho nền kinh tế Nga. Cuộc chiến tranh ủy nhiệm đang diễn ra ở miền đông Ukraine làm tiêu hao nguồn lực hạn chế của Moskva. Sự cô lập về ngoại giao đã buộc Putin phải sa vào vòng tay của Trung Quốc, một liên minh chiến thuật mà Putin sẽ xa lánh nếu có quyền lựa chọn. Putin đã duy trì một lập trường rất lãnh cảm đối với Trung Quốc trong thập niên cầm quyền đầu tiên của mình.

Nếu ĐCSTQ muốn tránh những khó khăn mà nước Nga đang gặp phải, thì họ nên chú ý đến một số bài học quý giá của chủ nghĩa Putin.

Bài học đầu tiên là đừng đặt chiếc xe địa chính trị trước con ngựa kinh tế. Sai lầm lớn nhất của Putin là đánh giá quá cao sức mạnh của mình và chấp nhận đối đầu với phương Tây từ một vị thế yếu kém về kinh tế. Nga có thể sở hữu hàng nghìn đầu đạn hạt nhân, nhưng những điểm yếu về cơ cấu kinh tế của nước này – chẳng hạn như sự phụ thuộc quá nhiều vào tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế chỉ bằng 1/10 quy mô nền kinh tế Mỹ và thiếu lĩnh vực công nghệ cao trong lĩnh vực dân sự- không thể giúp chống đỡ một chính sách đối ngoại quá tham vọng.

Do đó, những thành công về mặt chiến thuật hầu hết chỉ tạo ra những lợi ích địa chính trị mang tính ảo tưởng. Ví dụ, sự can thiệp quân sự của Putin vào Syria có vẻ là một bước đi sáng suốt trên giấy tờ, nhưng các lợi ích lâu dài cho Nga là không đáng kể vì Trung Đông quá xa so với khu vực lân cận của Moskva.

Một bài học khác mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể học được từ Nga là không nên xem thường những cái giá phải trả khi đối đầu với phương Tây. Mỹ và các đồng minh sở hữu một loạt các công cụ, chẳng hạn như trừng phạt tài chính, hạn chế công nghệ và viện trợ cho Ukraine, những biện pháp đã làm tăng đáng kể chi phí cho Nga sau khi chiếm Crimea.

Bài học cuối cùng mà Trung Quốc nên để ý là do sự điều chỉnh giữa chừng gần như không thể xảy ra dưới sự cai trị của một nhà lãnh đạo chuyên chế, mọi thứ có xu hướng trở nên tồi tệ hơn trong thập niên cầm quyền thứ hai vì hầu hết các nhà lãnh đạo chuyên quyền sẽ thường kiệt sức vào giai đoạn đó. Nếu những cải cách đã hứa hẹn không trở thành hiện thực trong thập niên đầu tiên, hầu hết các nhà lãnh đạo cũng khó có thể hoàn thành được gì nhiều trong thập niên thứ hai. Đồng thời, họ nhiều khả năng tái phạm những sai lầm của mình hơn là sửa chữa chúng để tránh làm cho quyền lực của mình bị suy yếu.

Nếu xét mối quan hệ có vẻ ấm áp giữa Trung Quốc và Nga hiện nay, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể lấy nước Nga của Putin làm ví dụ về cách thức điều hành một quốc gia. Nhưng nếu vậy họ đang mắc một sai lầm rất lớn. Nếu Tập Cận Bình có ý định đi theo con đường mà Putin đã chọn một thập niên trước, nước Nga ngày nay cũng có thể là Trung Quốc của ngày mai.

————-

Minxin Pei là giáo sư ngành quản trị chính quyền tại Claremont McKenna College và là nghiên cứu viên cao cấp không thường trú của Quỹ Marshall Đức tại Hoa Kỳ.

NGUỒN :

Putin’s Russia is a trap China should avoid

Minxin Pei

June 13, 2021 05:00 JST

NIKKEI ASIA  

.

.

.

THỜI CỦA THIẾU VẮNG BIỂU MẪU (VietTuSaiGon)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Thời của thiếu vắng biểu mẫu

VietTuSaiGon

Thứ Tư, 06/16/2021 – 05:51 — VietTuSaiGon

https://www.rfavietnam.com/node/6834

Thần tượng là thứ chủ nghĩa không có giá trị trong thế giới tri thức, bởi với người trí thức, biểu mẫu, năng lượng hay tư duy mới là vấn đề then chốt. Nhưng với đám đông xã hội loài người, chủ nghĩa thần tượng chưa bao giờ phai màu, nếu không muốn nói nó càng ngày càng trở nên khủng hoảng thừa. Và điều đáng sợ nhất là chủ nghĩa thần tượng mạnh nhất ở các quốc gia độc tài, với các quốc gia này, thần tượng là thứ duy nhất, là thức ăn tinh thần và là bàn thờ để đám đông con dân sùng bái, tín vọng. Nhưng, cũng trong các quốc gia độc tài, chủ nghĩa thần tượng đi từ khủng hoảng đến băng hoại một cách tự nhiên cho đến khi mọi thứ sụp đổ. Để trả giá cho sự sụp đổ này, có rất nhiều thế hệ bị biến thành súc vật trong cái trại tư duy của nhà độc tài.

Đám đông hò hét đến vỡ cầu trường và tạo ra những trận bão giao thông khiến tai nạn liên hoàn, khỏa thân trên đường để hò hét hay đập phá… sau một trận cầu.

Một nhóm, thậm chí nhiều nhóm sẵn sàng hôn lên chỗ ngồi của một diễn viên xứ Hàn, sẵn sàng bỏ ra cả ngày để ra sân bay đón một sao Hàn trong khi đó, cha mẹ, người thân của họ từ xa về chưa chắc đã được họ đón nhiệt thành như vậy.

Một kẻ sẵn sàng vác dao đến nhà người khác để hành hung chỉ vì cái người xa lạ, nạn nhân ấy có lời chỉ trích thần tượng của họ là một ca sĩ mệnh danh “ông hoàng” trong làng Showbiz.

Một người đứng lên livestream chửi tới tấp một ai đó và khi người này phát sóng, có đến gần triệu lượt theo dõi.

Một thanh niên sẵn sàng hành hung người khác khi người này có ý chê Hồ Chí Minh không phải là một người toàn diện hoặc Hồ Chí Minh cũng chẳng phải là bậc thánh nhân.

Thậm chí, một chế độ chính trị sẵn sàng bắt nhốt, đày ải, ám hại người khác chỉ vì người này có lời mạo phạm đến Hồ Chí Minh.

Còn rất nhiều hành vi vượt ra ngoài khả năng quản lý của đạo đức, nhân tính để nhằm một mục đích duy nhất là bảo vệ thần tượng.

Và điều này cho thấy một khi thần tượng, hay nói khác đi là chủ nghĩa thần tượng đã được bảo vệ, xây dựng một cách có hệ thống, có sách lược và nó được đặt lên làm kim chỉ nam phát triển đất nước thì đương nhiên, hệ quả của nó khó mà lường được.

Và, sự nguy hiểm của chủ nghĩa thần tượng đến từ hai hướng: Biểu mẫu có sai số và; Tính lây lan của chủ nghĩa.

Ở khía cạnh thứ nhất: biểu mẫu có sai số, đây là chuyện phổ biến nhất trong thứ chủ nghĩa mang dấu hiệu bệnh hoạn này. Hầu hết các thần tượng đều được tô vẽ, phủ lên một lớp màu rực rỡ, thậm chí sặc sỡ, không tì vết và giấu đi mọi thứ sinh hoạt, đặc tính thường tình nhất của một con người để đặt thần tượng lên hàng thánh. Và đương nhiên sau chiến dịch này là sự sùng bái tập thể, sự sùng bái này đến theo cách chủ động hoặc thụ động đón nhận, mưa dầm thấm lâu.

Và một khi đối tượng đã thành thần tượng trong mắt của đám đông thì đương nhiên, bên cạnh sự sùng bái, cuồng tín, vẫn có những câu hỏi hoặc những nghi vấn tự thân. Chính câu trả lời cho các nghi vấn tự thân này sẽ nhanh chóng mở gói, cho thấy con người thật của thần tượng. Và nguy cơ sụp đổ của thần tượng cũng là nguy cơ chia rẽ, thậm chí mâu thuẫn dẫn đến cừu thù trong một đám đông từng và đang sùng bái.

Trường hợp thần tượng lớn nhất của Việt Nam là Hồ Chí Minh là một ví dụ cho vấn đề này. Câu chuyện chia rẽ ngấm ngầm xảy ra ngay trong nội bộ những con người sùng bái ông và cả những người nhìn nhận khách quan với những người đang sùng bái ông. Mâu thuẫn xã hội đơn giản này lại đẩy thành mâu thuẫn chính trị và mâu thuẫn ý thức hệ, nguy cơ của nó còn cao hơn cả mâu thuẫn tôn giáo.

Đó là thần tượng của thần tượng tại quốc gia độc tài như Việt Nam, ngoài thần tượng Hồ Chí Minh, các ngôi sao trong Showbiz cũng được lăng xê, đẩy lên thành một thứ thần tượng có thể khiến cho đám đông tuổi trẻ khóc cười theo chuyện vui buồn của họ (chứ không phải khóc cười theo vận nước).

Và các thần tượng này cũng được tô son trét phấn trở thành một loại “phó thánh” trong mắt đám đông, được tung hô, được bơm hết cỡ cho đến khi chính họ dính scandal và tạo ra chuỗi mâu thuẫn không đáng có, hay nói khác đây là thứ mâu thuẫn rẻ tiền trong xã hội hiện đại, nếu không muốn nói là nó không nên tồn tại trong xã hội tiến bộ.

Cuộc khủng hoảng thần tượng trong xã hội nhanh chóng đi đến chỗ hiển thị các lỗ hổng về văn hóa và đáng sợ hơn là nó đi đến chỗ làm rõ nét một xã hội băng hoại, thiếu biểu mẫu cần thiết về mặt tri thức, lương tri hay nhân cảm.

Một xã hội mà khi tuổi trẻ được hỏi Nguyễn Trãi là ai? Lý Thường Kiệt là ai? Trần Quốc Tuấn là ai? Quang Trung là ai?… Thì có không ít người trẻ cho rằng đó là tên một cầu thủ nào đó trong đội tuyển Việt Nam hoặc nếu có biết các danh nhân thì cũng biết rất hời hợt, không đầu không đũa. Nhưng khi hỏi Hồ Chí Minh là ai? Hoặc hỏi các nhân vật showbiz là ai thì họ sẽ trả lời một cách rành rõi, nhiệt tình và không thiếu sót chi tiết nào về thần tượng của họ.

Điều này cho thấy rằng khi các thần tượng xã hội đã được kĩ nghệ hóa để che lấp mọi danh nhân văn hóa hay các danh tướng, những người có công với dân tộc… thì hướng nhìn của thế hệ bị đánh lệch và khái niệm về dân tộc hay nhân loại đã bị đánh tráo từ trứng nước.

Và một khi mọi biểu trưng, hình tượng bị đánh tráo, cái giá phải trả cho một dân tộc là lạc đường, không mục tiêu và bị cuộn tròn trong thứ vỏ kén gọi là lý tưởng nhưng kì thực đó là chương trình hành động theo sau chiến dịch thần tượng, biến đám đông xã hội thành một loại súc vật và đất nước, chính trị trở thành chuồng trại và người chăn dắt.

Một đất nước được chăn dắt bởi chủ nghĩa thần tượng làm bình phong chính trị thì chắc chắn một điều là mọi thứ được hô xung phong theo hiệu ứng đám đông và khi hiệu ứng này tắt ngúm, bản năng không được giải tỏa, nó sẽ chuyển hướng theo chiều xấu đi, băng hoại, nổi loạn.

Chính vì tính khủng hoảng hình tượng, biểu mẫu trong chủ nghĩa thần tượng đã nhanh chóng đẩy xã hội đến thứ phản ứng phụ, đó là tính lây lan thần tượng. Nghĩa là sống trong môi trường luôn được ấn định theo thần tượng thì người ta quan tâm thần tượng một cách chủ động hay thụ động trong chính cái sinh quyển tồn tại của họ. Và họ cũng đặt ước mơ hay huyễn hoặc bản thân thành một loại thần tượng nào đó trong xã hội.

Những hành vi bứt phá không giống ai, những kiểu phá bỉnh, những trò phù phép chính trị để tìm cổ vũ đám đông hay những kiểu anh hùng phim tàu xuất hiện đầy rẫy trong xã hội Việt Nam. Đặc biệt, khi mà chủ nghĩa thần tượng chính thống khủng hoảng và đối mặt với nguy cơ sụp đổ thì thứ chủ nghĩa thần tượng bên lề nổi lên, có hàng loạt tay xăm trổ hay các nghệ sĩ sống theo lối xăm trổ nhanh chóng trở thành biểu tượng và thần tượng của không ít thanh niên.

Họ làm cho giới trẻ khóc cười theo họ và quên hết mọi thứ cần thiết của một con người nói riêng và một dân tộc nói chung. Mãi cho đến khi các thần tượng sụp đổ, người ta lại đổ xô đi tìm thần tượng mới và biểu mẫu ngày càng lệch lạc theo kiểu chợ búa, bản năng.

Một xã hội trở nên sống bản năng, nhặng xị, chợ búa và hỗn tạp, nguyên nhân khởi thủy của nó, phải nhắc tới biểu tượng chính trị, thần tượng chính trị và sau đó là hàng loạt các loại thần tượng, các kiểu phong thần đã lấp cả hệ thống giáo dục và cũng có thể hệ thống giáo dục ngay từ đầu đã bị biến thành một thứ nhân vật phụ họa cho thần tượng chính trị.

Và cái giá phải trả cho chủ nghĩa thần tượng là một dân tộc mất phương hướng, mất biểu mẫu tri thức và đánh mất nhân bản, không còn khả năng sáng tạo. Sâu xa hơn thì có lẽ là sự vong thân và vong nô. Thật đáng buồn!

VietTuSaiGon’s blog

.

.

.

CHIẾN LƯỢC VẮC-XIN CỦA VIỆT NAM : THẤT BẠI TRÊN NHIỀU PHƯƠNG DIỆN (Nguyễn Vũ Bình)

Tháng Sáu 17, 2021

.

.

Chiến lược Vắc xin của Việt Nam: thất bại trên nhiều phương diện

Nguyễn Vũ Bình 

Thứ Tư, 06/16/2021 – 00:46 — nguyenvubinh

https://www.rfavietnam.com/node/6833

 Trong quá trình đối phó với đại dịch covid-19, các nước trên thế giới đã có chiến lược rõ ràng đẩy nhanh quá trình sản xuất Vắc xin bằng ứng dụng công nghệ mới, từ đó có thành cộng vượt bậc tạo ra Vắc xin trong thời gian kỷ lục (8 tháng). Ngay sau đó họ đã khởi động một chiến lược tiêm chủng đại trà Vắc xin nhằm tạo ra miễn dịch cộng đồng. Hiện nay có một vài nước đã và đang hoàn thành chương trình tiêm chủng, một số nước đang gấp rút hoàn thành chương trình tiêm chủng, trên cơ sở đó, tháo bỏ những quy định phong tỏa, giãn cách để người dân của họ trở lại sinh hoạt bình thường.

     Số liệu về tiêm chủng của Việt Nam hiện nay, theo số liệu mới nhất, số lượng Vắc xin được cung cấp là 1.552.651 liều, số người đã hoàn thành việc tiêm cả hai mũi Vắc xin theo quy định là 59.608, đạt tỷ lệ 0,06% dân số cả nước. Trong khi đó, số liệu tiêm chủng Vắc xin của thế giới cách đây một tuần, số Vắc xin được cung cấp là 2,26 tỷ liều, số lượng tiêm đủ hai liều là 480 triệu người đạt 6,2% dân số. Như vậy, con số của Việt Nam đã tiêm đủ hai liều có tỷ lệ 0,06% so với thế giới là 6,2% là quá thấp. Quan trọng hơn, việc tiêm Vắc xin là điều kiện để miễn dịch cộng đồng, điều kiện để gỡ bỏ các phong tỏa, giãn cách giúp cho xã hội trở lại bình thường đồng thời là giấy thông hành để hội nhập với thế giới thì với tốc độ và khả năng đáp ứng nhu cầu của Việt Nam hiện nay vô cùng khó khăn trì trệ và nhiêu khê. Vậy nên, có thể nói, chiến dịch Vắc xin của Việt Nam đã thất bại. Nhưng sự thất bại này không chỉ ở việc chậm tiêm chủng Vắc xin mà còn trên nhiều phương diện khác. Đó là việc thất bại trên các phương diện: tuyên truyền, chiến lược tổng thể, chuẩn bị nguồn lực, triển khai thực hiện (tiêm Vắc xin).

     Vấn đề tuyên truyền: lật lại các bài báo cũ trên hệ thống báo chí quốc doanh, chúng ta thấy nhan nhản các bài viết với tiêu đề “Việt Nam thành công trong việc sản xuất Vắc xin Covid-19; Việt Nam sẽ trở thành cường quốc xuất khẩu Vắc xin…”. Đây là thói quen của báo chí quốc doanh, chuyên bịp bợm và phét lác. Nếu như việc dập dịch thành công, và việc tiêm chủng Vắc xin chưa trở thành điều kiện bắt buộc cho việc miễn dịch cộng đồng thì cũng không ai chú ý tới những bài báo của bọn bút nô này. Nhưng khi Việt Nam cần Vắc xin để tiêm chủng thì những bài báo được lôi ra để tố cáo sự yếu kém của nhà cầm quyền và sự khinh bỉ đối với các tác giả và hệ thống báo chí quốc doanh. Điều trớ trêu là các nhà lãnh đạo Việt Nam mới đây đã yêu cầu các nước chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin cho Việt Nam, nhưng các công ty tư nhân mới là chủ thể nghiên cứu và sản xuất Vắc xin thì làm sao có chuyện họ chuyển giao công nghệ cho Việt Nam.

     Chiến lược tổng thể: thất bại trong chiến lược tổng thể của Việt Nam có thể nói ngắn gọn, đó là các nhà lãnh đạo không nghĩ được, không chuẩn bị được chiến lược sử dụng Vắc xin để tiêm đại trà, từ đó sẽ làm miễn dịch cộng đồng và triệt tiêu dịch. Về nguyên nhân của thất bại này, có lẽ có hai nguyên nhân: thứ nhất, không nghĩ vắc xin có thể được sản xuất nhanh quá mức như vậy; thứ hai, chủ quan nghĩ rằng Việt Nam sẽ dập được dịch như mấy lần trước, không bị  bùng phát như đợt dịch sau (từ 27/4/21) này.

     Chuẩn bị nguồn lực: Do không có chiến lược tổng thể về Vắc xin, nên Việt Nam cũng không chuẩn bị nguồn lực. Vả lại, giới lãnh đạo có thể vẫn suy nghĩ rằng, đại dịch lớn lần này như vậy, thế giới có thể sẽ cho không tất cả Vắc xin các nước nghèo, đang phát triển. Nhưng các nước lớn trên thế giới cũng vẫn cho không, nhưng nhắm đến các nước nghèo, dịch bùng phát mạnh trước nên Việt Nam chưa xét đến. Chính vì vậy mà Việt Nam bị hụt hẫng. Sau này lãnh đạo phải Việt Nam đã phải viết thư, xin và kêu gọi các nước viện trợ Vắc xin… về việc này thì Việt Nam rất lão luyện và cũng có kết quả. Nhưng việc kêu gọi và xin tiền người dân đóng góp vào quỹ Vắc xin trong khi đại dịch xảy ra hơn một năm trời người dân điêu đứng chính phủ đã không giúp được gì nhiều khiến người dân trong nước rất phẫn nộ. Việc xin tiền người dân và doanh nghiệp đóng góp vào quỹ Vắc xin đã được cả thế giới biết đến, vì hầu như không có một chính phủ, một quốc gia nào trên thế giới làm như vậy.

     Triển khai thực hiện: Việc triển khai thực hiện như số liệu ở trên đã nêu rõ, một tỷ lệ tiêm đủ hai liều theo quy định của Việt Nam quá thấp so với bình quân chung của thế giới. Trong điều kiện cần phải thực hiện tiêm chủng nhiều người, tiêm chúng nhanh thì quá trình chuẩn bị là yêu cầu số một. Việc chuẩn bị triển khai trên quy mô cả nước cần một kế hoạch lớn và chu đáo, liên quan tới nhiều ngành, nhiều cấp, cần sự phối kết hợp của rất nhiều cơ quan địa phương và ban ngành. Nhưng với việc thiếu chuẩn bị tổng thể, không có nguồn lực nhập khẩu Vắc xin, không có kế hoạch triển khai tổng thể tiêm chủng trong thời gian ngắn… thì kết quả tiêm chủng của Việt Nam hiện nay chính là phản ánh hệ quả tất yếu của tất cả các khâu trong chiến lược Vắc xin của chính phủ. Và đó là một thất bại toàn diện, rất ê chề./.

Hà Nội, ngày 16/6/2021

N.V.B

nguyenvubinh’s blog

.

.

.