Archive for the ‘Uncategorized’ Category

ĐẢO ÁNH SÁNG : NHÌN LẠI PHONG TRÀO VƯỢT BIỂN & GIỚI TẢ KHUYNH CHÂU ÂU (Thi Vũ – Da Màu)

Tháng Năm 3, 2016

 

Đảo Ánh Sáng: Nhìn lại phong trào người vượt biển và giới tả khuynh Châu Âu

Thi Vũ

2.05.2016

http://damau.org/archives/42324

 

Lời giới thiệu của tác giả: Tạp chí World Affairs (Thế giới Vụ) ra đời từ thế kỷ XIX, năm 1837, hiện là tạp chí của giới trí thức và chính trị gia Hoa Kỳ. Khách mua báo giấy dài hạn, ngoài số độc giả bình thường còn là Toà Bạch Ốc và Quốc hội Hoa Kỳ dành cho các Viên chức, Thượng Nghị sĩ và Dân biểu. Chưa kể 12 nghìn độc giả mua bản điện tử Email, 100 nghìn người đọc qua Facebook, và 40 nghìn người theo dõi qua Twitter của World Affairs.

Bài viết “Đảo Ánh Sáng, Nhìn lại phong trào Người Vượt Biển và giới Tả khuynh Châu Âu”- Isle of Light: A Look Back at the Boat People and the European Left, đăng trên số tháng Ba và Tư năm 2014 của  World Affairs, được ông James S. Denton, Chủ nhiệm phát hành, giới thiệu trong Lá Thư Người Biên tập như sau:

“Thêm vào số bài về những diễn biến quốc tế, chúng ta có một tiểu luận như món quà thưởng ban thêm của nhà văn Việt Nam Võ Văn Ái đưa chúng ta về lại kinh đô Paris năm 1978, khi tin tức xuất hiện chuyện chiếc tàu của khoảng hai trăm năm mươi người tị nạn Việt Nam chết đói và mất nước bị mắc cạn trên bờ biển Mã Lai mà chẳng có quốc gia nào đón nhận. Họ trốn khỏi triều đại khủng bố của Cộng sản Bắc Việt ngự trị lên Miền Nam trước đó ba năm, sau cuộc rút quân nhục nhã của Hoa Kỳ. Thời ấy, nửa triệu người tị nạn chết chìm trên biển khi tìm cách trốn khỏi ngục tù gulag của Hà Nội vừa thiết lập, và đã giết nửa triệu người khác trong quãng thời gian 1975 đến 1985. Nhưng chủ đề của Võ Văn Ái là một tia sáng, bị lịch sử bỏ quên, chiếu rực vào tấn thảm kịch. Vào lúc những người tị nạn vô vọng trong dòng nước chết, một nhóm trí thức Pháp có gốc rễ tả khuynh tung chiến dịch vận động quốc tế để đi vớt và tái định cư hàng nghìn những “thuyền nhân” này, một từ ngữ được phổ biến. Họ vận động giới tả khuynh Pháp và Châu Âu, không những tham gia nỗ lực nhân đạo này, mà còn xác nhận và tố cáo sự tàn bạo của những kẻ mà trước đây họ hậu thuẫn mạnh mẽ. Điều suy nghĩ can đảm thứ hai này đã gây tác động — không riêng trong nghĩa cứu sống người, mà trong nghĩa khẳng định tư cách và ứng xử của người trí thức”.

Những chú thích trong bài viết, bản dịch Việt ngữ hôm nay, nhằm cho độc giả người Việt biết thêm các nhân vật quốc tế, vốn không có trong bài đăng trên World Affairs.

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/05/world-affairs-cover_thumb.jpg

Hình bía Tạp chí World Affairs (Thế giới Vụ)

Một ngày tháng 11 năm 1978, đang ngồi trong quán Cà phê bên bờ tả ngạn sông Seine, bỗng nghe tin loan 2564 người vượt biển cập bờ Mã Lai trên con tàu han gỉ Hải Hồng. Họ đã trốn khỏi Việt Nam trong niềm tuyệt vọng đi tìm tự do và tị nạn ở nước ngoài. Sau mười sáu ngày lênh đênh trên Biển Đông, vùi dập trong bão tố, khi thì nóng cháy nung người, không thức ăn nước uống, họ cập bờ Nam Dương rồi Mã Lai, nơi nào cũng bị lính gác biển xua đuổi. Họ không còn đất sống, và tàu không thể đi xa hơn. Kẹt lối không người cứu, đói cồn cào và cơ thể mất nước, họ đang chết trước mắt chúng ta khi giăng tấm biển viết bằng tiếng Anh bên hông tàu : “LHQ ơi ! Hãy cứu vớt chúng tôi.”.

Họ không phải là những người đầu tiên làm cuộc hải trình vô vọng thoát khỏi Việt Nam. Từ năm 1975, khi Hà Nội “giải phóng” Miền Nam và chấm dứt cuộc chiến dai dẳng, hơn một triệu người liều chết trên những chiếc thuyền đổ nát để thoát xa cuộc khủng bố. Nửa số người trong họ đã bỏ thân — vì chết đuối, vào bụng cá mập, hay bị hải tặc hãm giết trong vịnh Thái Lan. Lúc ấy, truyền thông quốc tế chẳng chú ý bao lăm chuyến hải hành hoảng hốt này, ai ai cũng chỉ muốn phủi tay với vấn đề Việt Nam. Nhưng con tàu Hải Hồng lại hình tượng lên tấn thảm kịch nhân sinh nơi phòng khách mỗi nhà. Uyển ngữ “thuyền nhân” trở thành chuyện đầu môi.

Lẽ ra những người Việt Nam này đã phải thoát đi trong những ngày cuồng động khi Hoa Kỳ rút quân. Nhưng họ đã ở lại. Nhiều người chống chính thể quân đội của Tướng Thiệu ở miền Nam, đặt niềm tin trong hy vọng họ có thể góp tay tái thiết và làm lại đất nước. Nói cho cùng, thì chiến tranh đã chấm dứt, cộng sản cũng là người Việt Nam thôi. Hà Nội đã ký kết Hoà ước Paris hứa hẹn kiềm chế mọi cuộc trả thù. Người cộng sản có thể đối đãi hung ác không khoan nhượng với kẻ thù, nhưng chắc hẵn sẽ có cái nhìn khác với anh chị em đồng chủng ?

Thế nhưng, những ai mắc mình vào ảo tượng này, những ai còn tin rằng có chỗ đứng cho mình trên đất nước thống nhất dưới mái nhà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo đường lối cai trị của Hà Nội, thì chẳng có sai lầm nào sai lầm hơn. Tức khắc nhà cầm quyền Cộng sản phân loại dân chúng Miền Nam thành ba thành phần : bọn ngụỵ quân phản động, bọn nguỵ quyền phản động, và nhân dân phản động. Nói tóm, toàn dân miền Nam đều “phản động”. Những tháng kế tiếp cuộc cưỡng chiếm, một mạng lưới rộng lớn “trại cải tạo” phủ trùm khắp lãnh thổ miền Nam, mà kỳ thật chỉ là những trại tập trung lao động khổ sai, giống như hệ thống Lao cải bên Tàu. Khởi sự lùa đi những sĩ quan rồi binh lính Việt Nam Cộng hoà, tiếp đến là các nhà văn, nghệ sĩ, giáo sư đại học, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn, nhà giáo, sinh viên, nông gia, tất cả mọi thành phần xã hội đoàn lớp kéo nhau vào “trại cải tạo”. Thoạt đầu họ được lệnh mang áo quần và lương thực đủ dùng cho hai tuần lễ. Nhưng biết bao người chẳng trở về. Có những kẻ mút mùa hai mươi năm trong những trại này, hay được trả tự do khi sức khoẻ kiệt cùng, và nhắm mắt khi tới nhà[1].

Dù chẳng có bản thống kê nào được công bố, nhưng Hà Nội đã thú nhận có hai triệu rưỡi người bị giam giữ trong các trại cải tạo từ năm 1975 đến 1985[2]. Khoảng một trăm năm mươi nghìn người bị xử tử hình[3], với hàng trăm nghìn người chết vì đói, kiệt sức, hay đau ốm không thuốc men trong hệ thống tù ngục Gulag Việt Nam. Cùng thời gian, hàng trăm nghìn dân chúng bị đưa đi Kinh tế mới làm vật trái độn dọc biên giới Việt Trung và Kampuchia. Ai chống đối sẽ bị bỏ tù vì tội phá rối an ninh quốc gia[4].

Trong quán cà phê một buổi tối năm 1978 ấy, các bạn Việt và tôi đều nghĩ rằng con tàu Hải Hồng không chở đi những người tị nạn kinh tế, mà là những người đi tìm tự do thoát khỏi chế độ độc tài toàn trị, và đây là chuyến hải trình không tiền khoáng hậu. Trải qua lịch sử bốn nghìn năm, vào những giai đoạn bi thảm nhất vì nạn đói hay chiến tranh, người Việt chúng tôi chưa bao giờ rời bỏ mảnh đất chôn nhau cắt rốn của cha ông. Thế mà nay Người Vượt Biển đã bỏ phiếu bằng đôi chân đổi lấy sự sống.

Trong nhóm bạn chúng tôi thời ấy có chị Claudie và anh Jacques Broyelle, những nhà Hán học và cựu Mao-ít mới trở về từ Trung quốc, với nỗi thất vọng tràn trề về chế độ Bắc Kinh; Alain Geismar, cựu lãnh tụ sinh viên nổi dậy năm 1968 từng làm lung lay chính phủ De Gaulle tại Pháp; và André Glucksmann[5], nhà văn được xem như khuôn mặt tân triết gia của thời đại. Những người bạn nung nấu trong nhiệt tình lý tưởng, tất cả mang nặng quá khứ tả khuynh, nhưng chẳng ai còn ảo tượng về đời sống con người dưới chế độ Cộng sản. Chúng tôi họp nhau và quyết định phải làm một cái gì cho lớp Người Vượt Biển.

Thập niên 1970, Paris là bến đổ ẩn náu cho các nhà ly khai Liên xô và Đông Âu. Đầu năm 1976, tôi xuất bản tạp chí Quê Mẹ bằng tiếng Việt, một thứ samizdat cổ võ cho phong trào dân chủ và nhân quyền, các nhà ly khai này là kẻ hậu thuẫn đầu tiên cho chúng tôi. Nữ thi sĩ Nga Natalya Gorbanevskaya[6], nhà toán học Leonid Plyushch[7], người xứ Ukraine, và Vladimir Bukovsky[8] tham gia cuộc vận động của chúng tôi mà chẳng cần chúng tôi mời gọi. Nhà văn Lỗ Mã Ni, Paul Goma, viết trên tạp chí Quê Mẹ số Quốc Kháng 30 tháng Tư năm 1978 rằng : “Ngay cả những người phu quét đường ở thủ đô Bucharest còn thấu tỏ hơn các chính trị gia Tây phương về những chi đang xẩy ra tại Việt Nam, và họ có chánh kiến. Chỉ trong vòng bốn năm mà Cộng sản Việt Nam trả thù và tàn phá hơn ba mươi năm chiến tranh”.

Trong khi các nhà ly khai khắn khít bảo bọc mục tiêu chiến đấu của chúng tôi, thì việc thuyết phục công chúng Tây phương vô cùng khó khăn, đặc biệt trong giới tả khuynh. Thời chiến tranh Việt Nam, hàng nghìn người đổ xuống các đường phố ở Paris, Berlin, Washington, Tokyo… và nhiều nơi khác để tố cáo xâm lược Mỹ vào Việt Nam, hô gào chấm dứt sự chém giết. Thế nhưng ngày nay, cùng những người xuống đường biểu tình mấy năm xưa ấy, lại im lặng thin thít khi hàng nghìn người Việt Nam chết âm thầm trong các trại cải tạo hay chết đuối trên Biển Đông. Giới phản chiến tả khuynh chẳng sao chấp nhận chuyện các “anh hùng liệt sĩ” chiến đấu cho tự do thời trước, nay trở thành kẻ bạo ngược, và những kẻ “tay sai của đế quốc Mỹ” đang hoá thành nạn dân.

Đáp ứng cuộc vận động cho Người Vượt Biển của chúng tôi, đông đảo trí thức Pháp toàn tâm và tự nguyện hậu thuẫn, không những cứu sống hàng nghìn người lâm nạn, mà còn phá vỡ lối nhìn rập khuôn tác động sâu sắc quan điểm giới tả khuynh Châu Âu và Pháp.

Cuộc họp đầu tiên vào tháng 11 năm 1978 tại Paris, chúng tôi tập trung việc xây dựng phong trào nhắm mục tiêu cứu sống Người Vượt Biển. Tối hôm sau chúng tôi gặp sử gia Ilios Yannakakis trong một căn hộ ở đại lộ Saint Michel, chuyển đề án thành sự thực. Ban đầu chúng tôi quyết định ra tuyên cáo khẩn về vụ Hải Hồng để lấy tối đa chữ ký hậu thuẫn. Nhưng tôi thúc đẩy các bạn phải tiến xa hơn vụ Hải Hồng, bởi vì Hải Hồng không là sự cố riêng biệt nhất thời. Đang có hàng nghìn trường hợp như thế trên Biển Đông, và người Vượt biển lâm nạn mỗi ngày. Lúc ấy, nhà văn Bernard-Henri Levy đề nghị làm cuộc biểu tình lớn tấn công Toà Đại sứ Việt Cộng tại Paris. Chợt một ý kiến bật ra — tại sao không đưa tàu ra Biển Đông vớt Người Vượt Biển ? Thế là một Uỷ ban thành lập ngay, cử nhà văn nữ Claudie Broyelle làm chủ tịch, dự án “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” nổi lên trên mặt nước nhân tình. Ngày 17 tháng 11 năm ấy, 1978, chúng gửi đi lời kêu gọi đến các cơ quan báo chí truyền thông:

SOS – Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam

2564 người tị nạn trên con tàu Hài Hồng. Họ vừa rời khỏi Việt Nam trước bao hiểm nguy tính mạng. Chúng ta phải giúp đỡ họ tìm đất sống tiếp đón. Phải tức khắc cứu họ ra khỏi cảnh lênh đênh trôi nổi. Chính phủ Pháp vừa tuyên bố đón tiếp họ, ta hãy tin lời đó đi. Và hãy cùng nhau tới Kuala-Lumpur đón những nạn nhân trên tàu Hài Hồng. Tuy nhiên, không riêng gì nước Pháp phải lo chuyện này. Và con tàu Hải Hồng không là con tàu độc nhất.

Mỗi lần có những chuyến vượt biển chênh vênh trên bão táp giữa Thái Bình dương, hàng nghìn người Việt Nam đang đi tìm lẽ sống. Một nửa bị chết chìm, bị cưỡng bức, bị bọn hải tặc cướp giết. .. Chúng ta hãy tìm cho ra những quốc gia đón tiếp họ tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á. Và hãy làm hơn nữa : Hãy tới tận nơi cứu sống họ. Một chiếc tàu thường trực hoạt động trên Biển Đông để tìm và vớt họ — những người Việt Nam hy sinh thân mạng rời nước ra đi.

Không riêng gì các chính quyền phải lo lắng, dù nhiều nước đã tích cực cứu trợ. Đây là trách vụ mà chúng ta phải lo toan cứu cấp tức thì. Nhu cầu cấp thiết : Một chiếc tàu, một đoàn thuỷ thủ và tiền bạc. Đó chính là chiếc phao cứu mạng, mẩu đất nương tựa phò nguy. Để sau đó đưa tới các xứ sở tiếp thu.

Chúng tôi ký tên dưới đây  ngày hôm nay, xin đem thân quy hợp những cơ hội và phương tiện cần thiết để thể hiện cuộc cứu sống cấp kỳ này.

Paris, ngày 17 tháng 11 năm 1978

Vào lúc Uỷ ban “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” chính thức ra đời ngày 27 tháng 11 năm 1978, chúng tôi thu nhận được 160 chữ ký của các nhân vật nổi danh hậu thuẫn chiến dịch. Danh sách bao gồm các siêu sao điện ảnh, nghệ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà báo, nhà hoạt động công đoàn, và chính giới đủ mọi khuynh hướng — đọc lên như cẩm nang Who’s Who các nhà văn hoá Paris: Yves Montand, Brigitte Bardot, Simone Signoret, Simone de Beauvoir, Mstislav Rostropovich, Eugene Ionesco, Lionel Jospin, Michel Rocard, Jean Lacouture (nhà văn viết tiểu sử Hồ Chí Minh), Michel Foucault, Claude Mauriac, Olivier Todd, Jean François Revel, Bernard Kouchner…

Lần đầu tiên, kể từ năm 1945, hai triết gia đại thụ của Pháp, nhưng thù nghịch không đội trời chung, người phóng khoáng Raymond Aron và Jean-Paul Sartre, có thời biện hộ cho Staline — gặp nhau nơi lời kêu gọi cứu sống những nạn dân của chế độ độc tài toàn trị Hà Nội. Vài tháng sau, trong cuộc họp báo do Uỷ ban Con Tàu tổ chức, hai người ngồi cạnh bên nhau — lần đầu tiên trên ba mươi năm trời họ mới cùng nhau ngồi chung trong một căn phòng ở Paris. Sartre, kẻ địch thủ cuồng hung chống Mỹ can thiệp vào Việt Nam, và hậu thuẫn cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam do Cộng sản giật dây, đã tuyên bố rằng vì “nghĩa vụ đạo đức” và “nhân quyền cấp bách phải cứu sống những con người lâm nạn”, dù rằng họ không bạn hữu với chúng ta. Lời tuyên bố của Sartre mang tác động khổng lồ. Với tiếng tăm uy tín của Sartre, người dám từ khước Giải Nobel Văn chương, được làm thước đo cho một lời phát biểu thời thượng trong giới tả khuynh Paris thời bấy giờ : “Thà sai lầm với Sartre còn hơn là có lý với Aron”. Thế là “Con Tàu Cho Việt Nam” mớm cho mọi người chuyện khả thể, là chúng ta đều có lý với cả hai người.

Mối khẩn nguy hiện hình trong thực tế. Lúc chúng tôi họp nhau vào tháng 11 năm 1978, mỗi giờ có 55 người vượt biển cập bờ biển Mã Lai, số lượng này ngày càng tăng. Theo Cao uỷ Tị nạn LHQ, đã có một triệu rưỡi người Vượt Biển rời Việt Nam thời gian ấy, nhưng một nửa chết trên đại dương. Các trại tiếp cư ở Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương, và Hồng Kông đầy ắp như muốn vỡ ra. Bỗng nhiên, ông Phó Tổng thống Mã Lai, Mahatir Mohamad, tuyên bố không chấp nhận người vượt biển, và xuống lệnh đuổi bảy mươi sáu nghìn thuyền nhân ra biển. Một sắc luật ban hành cho phép bắn vào bất cứ ai quay lại vào bờ. Những ai tự phá huỷ thuyền của mình trong niềm tuyệt vọng mong được tị nạn đều bị lâm lụy.

Chống lại bối cảnh ấy, chúng tôi quyết gia tăng nỗ lực đưa con tàu đi vớt bằng bất cứ giá nào. Hồi đó Olivier Todd làm Chủ bút tuần báo Express, đã ráo riết vận động giới truyền thông. Hầu hết các báo chí lớn của Pháp đều cho đăng miễn phí lời kêu gọi của chúng tôi, kể cả tuần báo bình dân Télé 7 Jours, có số lượng phát hành bảy triệu bản mỗi tuần. Tiền đóng góp bắt đầu gửi tới, cùng với những hứa hẹn cho nhà ở, công ăn việc làm, áo quần, thực phẩm, đủ thứ không thiếu thứ nào. Mổi buổi sáng toà soạn Quê Mẹ ở Gennevilliers, ngoại ô bắc Paris, nhận được năm trăm bức thư hậu thuẫn như thế.

Do thị xã Gennevilliers nằm dưới sự cai quản của đảng Cộng sản Pháp, trong vòng “đai đỏ” bao quanh thành phố Paris, ông thị trưởng không mấy vui có một cơ sở như chúng tôi, nên nhiều lần hăm doạ tống xuất cơ sở Quê Mẹ khỏi thị xã. Song với tình thế lúc bấy giờ, ông ta đành cúi đầu trước sự liên đới hậu thuẫn lời kêu gọi vang ra rộng rãi của chúng tôi.

Phải nói một trong những người đầu tiên ủng hộ chiến dịch của chúng tôi là Irving Brown, Trưởng phòng Châu âu của Công đoàn Hoa Kỳ AFL-CIO. Chúng tôi tiếp xúc ông một năm trước đó, 1977, khi chúng tôi tổ chức cuộc họp báo quốc tế đầu tiên tại Paris để công bố hệ thống tù cải tạo tại Việt Nam với bản Chúc thư đầu tay của các tù nhân chính trị Việt Nam do Đoàn Văn Toại, một trong những lãnh tụ sinh viên đấu tranh, vừa thoát khỏi Việt Nam mang tới. Đó đã là lần đầu tiên tiếng nói của giới tù nhân chống kháng thuộc miền Nam cũ tố cáo những ghê tởm độc địa của hệ thống trại cải tạo. Brown thấy ngay ý nghĩa của bản Chúc thư, và tức khắc ra tay giúp đỡ.

Không những ký tên hậu thuẫn chúng tôi, ông còn lấy thêm chữ ký của Chủ tịch Công đoàn AFL-CIO, George Meany, và Paul Hall, Chủ tịch Liên đoàn Thuỷ thủ Hoa Kỳ, đang có mặt tại Paris. Trước đây tôi chưa hề quen biết giới thuỷ thủ, nhưng Hall ứng vào mắt tôi hình ảnh một thuỷ thủ lão luyện. Mái tóc bạc, cử chỉ nghiêm nghị, cứng rắn, chắc hẳn ông phải ở cấp chỉ huy. Trong mắt ông, chúng tôi là bọn tài tử. Ông ngắt lời tôi với vẻ khó chịu : “Các anh nói tàu — ship, chứ đâu phải thuyền — boat, phải không”. Nhưng rồi ông cũng chào đón mục tiêu chúng tôi nhắm. Sau buổi nói chuyện, tôi mừng rỡ gọi điện cho các bạn trong Uỷ ban Con Tàu thông báo tin bất ngờ : “Chúng ta chưa thể có một con tàu, nhưng Công đoàn AFL-CIO hứa giúp chúng ta một thuỷ thủ đoàn điều hành tàu không lấy lương”.

Irving Brown đề nghị phát huy chiến dịch bằng một cuộc họp báo quốc tế tại Paris về phong trào Người Vượt Biển. Nhấc vài cú điện thoại, Brown đã nhận được lời hứa của những nhân vật đầy biểu tượng như Leo Cherne[9], Chủ tịch Uỷ ban Cứu trợ Quốc tế, và nhà hoạt động dân sự Bayard Rustin[10] tham gia họp báo. Tiếc thay cuộc họp báo chẳng bao giờ xẩy ra. Nguyên do vì có tranh chấp ý kiến trong nội bộ Uỷ ban. Bernard Kouchner và vài người không ưa Công đoàn AFL-CIO nhúng tay, e ngại sự dấn thân mạnh mẽ chống Cộng làm dao động phong trào. Nhóm người này nại cớ “Con Tàu Cho Việt Nam” phải thuần tuý phi chính trị. Không thể là một con tàu cứu người khỏi chế độ Cộng sản, mà là “chiếc xe cứu thương” trên biển, một thứ bệnh viện nổi bỏ neo bồng bềnh trên mép biển Đông Nam Á. Với chúng tôi, hay những bạn như Alain Geismar, thì vị trí chính trị là chính yếu. Người Vượt Biển hy sinh thân xác mang lại thông điệp cho thế giới về bản chất chế độ Cộng sản. Nghĩa vụ của chúng tôi không những phải cứu họ, mà còn phải vọng âm tiếng nói họ. Mãi lâu sau, bị công luận tác động, Kouchner mới chịu thay đổi quan điểm. Nhưng Irving Brown nhận thức ra sự bất hoà nên bỏ dự tính ban đầu.

Mặc dù tiền được gửi tới, chúng tôi phải chi trả hai mươi nghìn quan Pháp (khoảng hai nghìn Mỹ kim) mỗi ngày cho việc ăn uống và cung cấp y tế, nhưng ngân qũy chưa đủ cho Con Tàu lên đường. Đang cơn bối rối, một sự kiện làm đảo lộn hoàn cảnh. Đài Truyền hình Hoà Lan đến toà soạn Quê Mẹ xin phỏng vấn tôi. Ông ký giả thuộc đảng Xã hội, tâm tư ông giống như đa số người Hoà Lan ủng hộ cho phong trào Hoà bình trong cuộc chiến Việt Nam. Tôi đang giải thích chiến dịch cứu Người Vượt Biển, thì đột nhiên ông ta hỏi : “Vì sao ông cứu những người miền Nam này ? Bọn này nối giáo cho chế độ quân phiệt tham nhũng, chúng là bọn ma cô, đầu cơ trục lợi, rất đáng để cho chúng lâm nạn ngày nay. Vì sao ông — vì sao chúng tôi, phải cứu giúp họ ?”. Tôi nhẹ nhàng đáp : “Nếu ông đang đi cạnh những con lạch ở thành phố Amsterdam và thấy có người đang chết chìm trong nước, phản ứng ông lúc ấy ra sao ? Ông ngừng lại và lên tiếng hỏi “Người chết chìm kia khuynh tả hay khuynh hữu ?” — hay ông nhảy ngay xuống nước cứu người ấy ?”.

Cuộc phỏng vấn trước lễ Giáng Sinh năm 1978, đem về chiếu tại Hoà Lan mấy lần. Chỉ trong một tuần lễ nhân dân Hoà Lan gửi tặng 8 triệu quan Pháp (tương đương một triệu Mỹ kim thời ấy) đáp ứng lời kêu gọi của chúng tôi (tôi nhớ mãi khi Truyền hình Hoà Lan gọi sang thông báo, tôi đã bàng hoảng hỏi “Mấy con zeros sau số 8 ?”). Một sự tăng cường tài chính khích lệ tuyệt vời, đưa chiến dịch vào quỹ đạo quốc tế. (Vào thời điểm chúng tôi đưa tàu ra biển, có thêm hàng chục tàu khác cứu trợ trên Biển Đông do những uỷ ban nối gót ra đời tại Na Uy, Đức, Ý Đại Lợi, vân vân).

Tiền có đó, nhưng vấn nạn khôn giải khác hiện ra — kiếm không ra tàu cho thuê. Chúng tôi cần thuê loại tàu cắm cờ Pháp để đoan chắc có thể cứu người Vượt biển nhập cảnh Pháp. Tất cả tàu cho thuê ở Pháp nằm dưới sự bảo trợ tập trung của một Công đoàn. Bất hạnh cho chúng tôi, Công đoàn này nằm trong tay Đảng Cộng sản Pháp,Confédération Générale du Travail (CGT, Tổng Liên đoàn Lao động). Thời gian ấy Đảng Cộng sản rất mạnh — một phần tư cử tri Pháp bỏ phiếu cho phe Cộng sản tại Pháp, và Tổng Liên đoàn Lao động rất thế lực, một thứ quốc gia trong quốc gia, có khả năng đình công làm tê liệt toàn quốc trong chớp nhoáng. Khi Tổng Liên đoàn Lao động biết rằng chúng tôi thuê tàu đi vớt Người Vượt Biển Việt Nam, họ liền phá bĩnh các nỗ lực điều đình thuê mướn. Tuần này sang tuần khác kéo lê, chiến dịch trên báo chí Pháp khựng lại. Tuần báo cực hữu Minute chạy hàng tít lớn “Con Tàu Ma”, nhật báo Cộng sản Pháp L’Humanité (Nhân loại) tung những bài mạ lỵ chiến dịch con tàu.

Bỗng nhiên từ trời xanh hiện ra sự cứu thoát. Nửa khuya tiếng điện thoại của một nữ độc giả tạp chí Quê Mẹ gọi tôi từ Nouméa, thủ phủ xứ New Caledonia, quần đảo nằm trên Thái bình dương giữa Úc châu và Fiji. Chồng bà là người Pháp, có con tàu dài tám mươi lăm thước cho thuê. Tàu thượng cờ Pháp. Bà kể cho chồng nghe chuyện Việt Nam, các trại cải tạo, những khổ đau nguy biến của người vượt biển đi tìm tự do. Ông liền đồng tình giúp đỡ. Chiếc tàu mang tên kỳ diệu — Île de Lumière — Đảo Ánh sáng. Dường như định mệnh đặt để. Chiếc tàu như hòn đảo ánh sáng nổi trên đại dương đi vào vũng tối tuyệt vọng của Người Vượt biển.

Tàu Đảo Ánh Sáng nhổ neo vào tháng Tư năm 1979 với đoàn thiện nguyện gồm những y sĩ và y tá. Tàu vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai cung cấp thuốc men và chữa bệnh cho khoảng ba mươi sáu nghìn thuyền nhân sống chen chúc trên dải đất chỉ có thể chứa hai nghìn người. Tháng sáu năm ấy, chính quyền Mã Lai xuống lệnh đuổi người vượt biển ra khơi, Đảo Ánh Sáng ra khơi vớt người, cứu sống hàng nghìn kẻ lâm nạn. Chúng tôi được chính phủ Pháp hứa cho nhập cư vào Pháp tị nạn tất cả những ai được tàu vớt.

Những tháng tiếp đấy, lượng người vượt biển đến trời Âu kể lại thảm cảnh họ cho báo chí truyền thông Âu Mỹ. Lời kể xoá nhoà hình ảnh và thành kiến gán lên họ như những tướng tá, chính trị gia tham nhũng hay tội phạm chiến tranh : những kẻ đã rời nước trước khi Saigon thất thủ, ra đi với hai túi đầy vàng. Không. Họ là những dân thường, mà thảm nạn rơi lên đầu họ qua từng câu chuyện làm mủi lòng dân Pháp. Các thầy giáo nói lên nỗi lăng nhục phải đi bán hủ tiếu cho con cái cán bộ giàu sang để nuôi thân. Tăng sĩ Phật giáo, Linh mục Thiên chúa giáo, Tin Lành, chức sắc hay tín đồ Hoà Hào, Cao Đài bị bắt tù vì thực hành tín ngưỡng đạo mình. Những bà vợ của tù nhân cải tạo bươn chãi nuôi con trong khốn cùng, chắt chiu những món quà nhỏ đi thăm nuôi chồng. Nỗi khốn cùng của những nhà văn bị đóng vai kiểm duyệt nơi văn phòng, chụp mũ “tác giả phản động quốc tế” cho những nhà văn như Pearl S. Buck hay Victor Hugo, hoặc bị bắt giam vì trích dẫn những tác giả kia trong tác phẩm mình.

Cảnh trạng các trại cải tạo vô cùng khủng khiếp. Những ai cứng đầu “học tập” không chuyên sẽ bị biệt giam trong thùng sắt, hay “connex”, ban ngày nóng như lò lửa, đêm về lạnh thấu xương, cốt cho họ phải thú khai tội lỗi mình không phạm. Tất cả tù cải tạo đều bị đói, lằn ranh giữa sống còn và chết đói mảnh như tơ. “Những chi động đậy đều chứa protein”, họ nói như thế và tranh nhau một con gián, con nhện, con chuột nhắt…

Các chuyện kể thương tâm như thế tác động công luận mà ít bài diễn văn chính trị nào đạt tới. Chính Người Vượt Biển đã thay đổi lối suy nghĩ của giới tả khuynh Châu Âu, và phá vỡ xung lượng của các đảng Cộng sản Pháp, Ý, cùng các nước Châu Âu khác. (Riêng tại Pháp, cử tri bầu cho Đảng Công sản rơi từ 25% xuống còn 6, 7% thôi),

Chiến dịch “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” là cuộc mạo hiểm kỳ dị cho tất cả chúng tôi. Có chăng trong tôi là một điều tiếc nuối. Jean-Paul Sartre đề nghị làm một cuộc hội thoại. Ông đã tỏ ra khó khăn phải dẹp bỏ tình cảm ủng hộ cách mạng, và vô cùng bối rối đối với chế độ ở Hà Nội, mà ông đánh giá cao cuộc chiến đấu anh dũng cho nền độc lập, nay bỗng trở thành những tên đao phủ cho nhân dân họ. Vì sao như thế ? Là Phật tử, tôi từng bị bắt, bị tra tấn năm mười một tuổi vì tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp, tôi đã quá biết rõ về Cộng sản Việt Nam trước khi tôi rời nước ra đi để vận động cho một giải pháp thứ ba không-cộng-sản trong thời chiến tranh Việt Nam, cuối cùng phải lưu vong ở Paris.

Thực tình tôi muốn được thảo luận về vấn nạn cộng sản và “cách mạng” với con người khác thường này. Buồn thay, Sartre đến tham dự cuộc họp báo của chúng tôi năm 1979 là lần ông xuất hiện cuối cùng trước công chúng. Ông gần như mù hẳn, và qua đời ngày 15.4.1980 vì chứng phù phổi.

Thi Vũ – Võ Văn Ái

04.2014

__________________

[1] Như trường hợp xẩy ra rất sớm cho thi hào Vũ Hoàng Chương, và trường hợp Nhà văn Hồ Hữu Tường bị bệnh ở trại Hàm Tân, sắp chết thì được cho đưa về nhà. Nhưng chỉ còn khoảng 100 mét quanh qua góc đường Trần Quang Khải là đến nhà, thì Hồ Hữu Tường tắt thở trên xe.

[2] Lời tuyên bố với báo chí của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch năm 1985 nhân 10 năm chiến thắng (chiếm Saigon).

[3] Xem Repression in the Socialist Republic of Vietnam: Executions and Population Relocationby Jacqueline DesbaratsThe Vietnam debate edited by John Norton Moore, 1990 and “Vietnam 1975-­1982: The Cruel Peace”, Desbarats and Jackson, 8 Wash. Q. 4 (Fall 1985). Cơ sở Quê Mẹ đã cộng tác với bà Jacquelines Debarats và nhóm nghiên cứu tại Đại học Berkeley, Hoa Kỳ, về số liệu điều tra tù nhân Trại Cải tạo thời ấy.

[4] Trên báo Saigon Giải phóng ngày 2.6.1975 ông Lê Đức Thọ viết rằng : “Chúng ta phải đưa chế độ cũ vào hồ sơ. Chúng ta không thể xoá đi món nợ máu đối với đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Nhân dân ta phải vạch trần và xác định những tội ác của chế độ cũ, để càng thấy rõ xấu xa của chúng, ta càng quyết tâm… quét sạch những tàn dư [chế độ cũ] để xây dựng đời sống mới tốt đẹp. Chúng ta phải tiếp tục chiến đấu chống bọn thù địch trong thành phố, đồng thời xây dựng đời sống tốt đẹp”.

[5] André Glucksmann xúc động vụ tàu Hải Hồng, vì gia đình người Do Thái của anh sống sót sau vụ Đức Quốc xã tàn sát dân Do Thái, được  tàu SS Exodus chở đi năm 1947, nhưng đã bị các quốc gia từ khước, nên cuối cùng bị đưa về Đức để chấm dứt sinh mạng trong các trại tập trưng.

[6] Khi Hồng quân Xô viết đưa quân xâm lược Tiệp Khắc năm 1968, ngày 25.8.1068 chị Natalya Gorbanevskaya đẩy chiếc nôi con mới sinh 3 tháng cùng với bốn người bạn biểu tình phản đối trên Công trường Đỏ mênh mông ở Mạc Tư Khoa.

[7] Nhà toán học ly khai nổi danh xứ Ukraine nhờ áp lực của công luận quốc tế đã được cứu thoát khỏi Nhà thương điên Xô Viết đưa sang Pháp.  Năm 1981, khi Nhà in Quê Mẹ bị phá sản do vận động cho con tàu Đảo Ánh Sáng ra khơi vớt người vượt biển, và bị ba bên bốn bề đánh phá, Plyush kêu gọi các bạn ly khai Liên Xô và Đông Âu thành lập “Hội Những Người Bạn Của Quê Mẹ” để cứu sống Cơ sở đấu tranh Quê Mẹ, đăng lòi kêu gọi trên báo chí Pháp và tthe New York Review of Books (xem sách “Nguoi Tri Thức Hành Động và Dẫn đường” của Võ Văn Ái, NXB Quê Mẹ, Paris 2010, trang 279).

[8] Vladimir Boukovsky nhà văn ly khai Liên Xô nổi danh, nhờ áp lực của công luận thế giới được trả tự do năm 1976 trao đổi với một tù nhân chính trị Chili, sau 12 năm giam trong nhà tù và nhà thương điên. Hiện là Giáo sư Đại học Cambridge Anh quốc.

[9] Leo Cherne nhà nhân bản lớn, Chủ tịch Uỷ ban Cứu Cấp Quốc tế thành lập để cứu sống những nạn nhân Đức Quốc Xã ở Châu Âu. Sau này, Uỷ ban cứu cấp và giúp đỡ định cư cho những người tị nạn trong thế giới. Ông đã cứu giúp đông đảo các nạn nhân tại Cuba và Cam Bốt.

[10] Bayard Rustin, người Mỹ da màu, lãnh đạo phong trào dân sự Hoa Kỳ, và là người tổ chức cuộc biểu tình khổng lồ “Tiến về Hoa Thịnh Đốn” năm 1963 nơi Mục sư Martin Luther King thốt bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ – I have a dream”. Ông cũng không ngừng lên tiế

 

 

 

“THE SYMPATHIZER” : TRẬN HỎA MÙ & TUỔI TRẺ VIỆT NAM (Trùng Dương – Da Màu)

Tháng Năm 3, 2016

 

‘The Sympathizer’: Trận hoả mù và tuổi trẻ Việt Nam

Trùng Dương

2.05.2016

http://damau.org/archives/42338

 

Vào giữa tháng Tư năm thứ 41 kỷ niệm ngày 30 tháng 4, 1975 cộng đồng Việt hải ngoại, đặc biệt tại Mỹ, nhận được một ngạc nhiên vô cùng thích thú, nếu không là ngoài sức tưởng tượng của bất cứ ai. Đó là tin cuốn tiểu thuyết “The Sympathizer” (Cảm Tình Viên) của Việt Thanh Nguyễn, một người trẻ Việt thuộc thế hệ 1.5 hiện là giáo sư chuyên ngành văn học và sắc tộc tại trường Đại học University of Southern California, được giải thưởng Pulitzer về văn chương.

Giải Pulitzer, năm nay vừa tròn 100 tuổi, là một trong những giải thưởng văn học danh giá nhất của Hoa Kỳ, có thể nói đây là một giấc mơ của bất cứ người cầm bút nào, và đã từng được trao tặng cho những tác phẩm nổi tiếng của Mỹ, như “Gone With The Wind” của Margaret Mitchell, “The Old Man and the Sea” của Ernest Hemmingway, và “To Kill A Mockingbird” của Harper Lee. Giải Pulitzer, do ông Joseph Pulitzer, một nhà báo gốc Hungary sáng lập vào năm 1917, thoạt đầu dành cho báo chí sau mở rộng ra bao gồm cả các bộ môn văn chương, kịch nghệ và âm nhạc. Về ba bộ môn sau tác giả phải có quốc tịch Hoa kỳ. Riêng bộ môn báo chí, tác giả có thể là người ngoại quốc nhưng tác phẩm đọat giải phải đã xuất hiện trên các cơ quan truyền thông Mỹ. Năm 1973, Huỳnh Công Út, phóng viên nhiếp ảnh người Việt đầu tiên được giải Pulitzer về nhiếp ảnh phóng sự (spot news photography), với tấm ảnh “Cô bé Napalm.”

Vào tháng Tư năm ngoái khi cuốn tiểu thuyết “The Sympathizer” chào đời, do nhà Grove Press ở New York xuất bản lần đầu, một vài người bạn tôi sau khi đọc vài trang hay chương đầu, điện thư, giọng như có vẻ nhớn nhác nữa, hỏi tôi, thế là thế nào, có phải nhân vật ấy nhân vật nọ là ông này ông kia trong cộng đồng người Việt. Có chị bạn không có thì giờ đọc song muốn biết cốt chuyện, khi nghe tôi vừa bắt đầu kể đây là cuốn truyện về một tên gián điệp Việt Cộng nằm vùng, chị bật lên câu hỏi ngắt ngang lời tôi, thế anh ta sau có… hồi chánh không.

Các bạn tôi hoang mang phần lớn vì cuốn truyện vốn lấy góc nhìn (point of view) của một gã Việt Cộng nằm vùng từ trước 1975 ở Miền Nam và cả trong cộng đồng người Việt tại Mỹ vào thời điểm giữa thập niên 1980. Tôi không trách được họ, vì chính bản thân tôi cũng hơi bị “choáng váng” ở vài trang đầu. Nhưng vì hiếu kỳ, và cũng vì đã đọc một số nhận định phần lớn là ca ngợi của một số nhà điểm sách của những tờ báo lớn của Mỹ, nên tôi đọc tới, rồi dần bị lôi cuốn bởi văn phong duyên dáng, tài kể chuyện, có khi dí dỏm, có lúc châm biếm, và khả năng xây dựng nhân vật linh động, dàn dựng cốt chuyện chặt chẽ của tác giả.

The Sympathizer mở đầu trong bối cảnh sôi động cùng cực của Miền Nam vào những ngày tháng Tư năm 1975, qua nhãn quan của nhân vật xưng tôi, từ đầu tới cuối không có tên và cả tuổi, như phần lớn những nhân vật khác trong truyện. Tuy nhiên, dài theo chuyện kể thì ta có thể biết Cảm Tình Viên (CTV) có lẽ vào khoảng trên dưới 30 vào lúc Miền Nam sắp tan hàng, là một người con lai Pháp, con vô thừa nhận của một vị linh mục người Pháp và một phụ nữ giúp việc nhà người Việt, lúc nhỏ thường bị đối xử một cách kỳ thị bất công như hầu hết những đứa trẻ hai giòng máu sinh ra ở Việt Nam. Tuy vậy, anh ta cũng được vị linh mục cho theo học trường của ông, và với sự khuyến khích của bà mẹ ít học, anh ta học hành giỏi, và đã được học bổng đi du học tại Mỹ, trong vùng San Francisco.

Trong thời gian du học này anh ta được móc nối làm việc cho phía cộng sản. Khi về nước (Miền Nam), anh ta nhập ngũ và trở thành một đại úy trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà, là một thuộc hạ rất được tín cậy của một Ông Tướng, đến độ anh ta được Ông Tướng cho một phòng riêng trong giẫy nhà ngang ở sau biệt thự của gia đình ông. Từ vị trí cánh tay mặt thân tín của Ông Tướng, được giao phó việc thiết lập danh sách di tản, CTV có dịp tiếp xúc và quan sát những nhũng lạm của một số tướng tá vào những ngày cuối cùng của Miền Nam.

Trong khi đó anh ta vẫn tiếp tục làm gián điệp cho Miền Bắc. Người mà anh có phần vụ báo cáo các tin tức thu lượm được của phía Ông Tướng là một trong hai người anh em đã cùng cắt máu ăn thề kết nghĩa trọn đời bảo bọc cho nhau, trong truyện có tên là Man, một cán bộ VC nằm vùng. Người anh em kết nghĩa kia có tên Bon, là một sĩ quan trong quân lực VNCH. Bon la người duy nhất trong ba anh em kết nghĩa này không biết hai người kia cùng là VC nằm vùng.

“Tôi là một tên gián điệp, một gã nằm vùng, một bóng ma, một người với hai mặt,” cuốn truyện mở đầu. “Có lẽ cũng không đáng ngạc nhiên là tôi cũng còn là người mang hai bộ óc. Tôi không phải là một thứ biến thái nhìn lầm từ một cuốn sách hí hoạ hay cuốn phim kinh dị nào, mặc dù có vài người đã đối xử với tôi như [thể tôi là mấy thứ đó]. Thực ra tôi chỉ là người có khả năng nhìn bất cứ sự việc gì từ hai phía.” (Nguyen, Viet Thanh, 2015-04-02.The Sympathizer: A Novel, Kindle Locations 29-31. Grove/Atlantic, Inc.. Kindle Edition.)

Có lẽ cũng chính vì vị trí nhìn mọi sự việc từ hai phía của nhân vật xưng tôi này, nhiều độc giả Việt hải ngoại, những người không chấp nhận cộng sản, đã không cảm thấy gần gũi với người kể chuyện và cả câu chuyện kể. Dài theo 23 chương sách, người kể chuyện cũng như độc giả hầu như không chia sẻ, liên đới, “đan kết” được với nhau. Có lẽ cũng không quá lắm khi một người bạn tôi thốt lên là cuốn truyện “khó nhai,” là mình không cảm thấy xúc động ngay cả trước những cảnh di tản vốn nhiều đau thương, hay những phấn đấu cam go để tồn tại của các nhân vật trong thời gian đầu của cuộc sống lưu vong. Giản dị, khi đọc sách, đặc biệt sách văn chương, ta thường đọc bằng tất cả những kinh nghiệm, suy tư và cả định kiến cá nhân, một hành trình rất riêng tư. Chưa kể, tác giảThe Sympathizer lại sử dụng thể loại văn chương ít ai dùng, nếu không nói là ngoại lệ (unconventional), đó là loại phản người hùng (tạm dịch từ “antihero” hay “antiheroine”), mà trong đó nhân vật chính thiếu những giá trị ước lệ của xã hội, như lý tưởng, can trường và đức hạnh, để kéo người đọc nhập vào dòng chuyện và “đứng về phe mình.” Loại nhân vật này thường có cá tính đen tối như bất đồng quan điểm, thiếu thành thực, và năng động. Cũng “khó đọc” nữa là về hình thức, tác giả không theo các quy luật thông thường, như không để những ngoặc kép xung quanh những lời đối thoại, khiến nhiều khi phải đọc đi đọc lại một đoạn nào đó để biết ai đang nói cái gì. Điều này, theo cái nhìn của tôi, cũng chứa đụng một ẩn ý nào đó về phía tác giả nhằm vẽ lên những tranh tối tranh sáng, thay vì chỉ có trắng đen, của những vấn đề chưa ngã ngũ, còn trong thời kỳ khai triển, còn biến thái qua muôn hình vạn trạng.

Khi Saigon sắp đầu hàng, với tin Bắc quân với xe tăng đã nằm trấn ở các ngả vào thủ đô, nhân vật CTV tính ở lại, vì anh ta nghĩ đất nước đã tới lúc được giải phóng thì anh ta ở lại để tiếp tay xây dựng. Nhưng tổ trưởng Man ra lệnh cho anh ta theo gia đình Ông Tướng di tản để tiếp tục báo cáo mọi việc làm của Ông Tướng ở nước ngoài. Anh ta đành tuân lệnh. Trong chuyến di tản với gia đình Ông Tướng có cả gia đình Bon, gồm vợ và một đứa con trai nhỏ. Trong lúc chạy vào đuôi chiếc phi cơ vận tải quân sự của Mỹ chờ trên phi đạo ở phi trường Tân Sơn Nhất, vợ con của Bon bị đạn lạc chết. Bon trở thành thất trí, sang tới Mỹ chỉ một hai nung nấu ý định trở về VN để trả thù và khôi phục lại đất nưóc.

Sang tới Mỹ, Ông Tướng mở nhà hàng sinh sống, tiếp tục tin dùng CTV và bắt đầu thu thập tàn quân nuôi mộng khôi phục đất nước. CTV tất nhiên báo cáo mọi việc cho Man qua những lá thư gửi sang Pháp cho một “bà cô,” tường trình cả những buổi họp nuôi mộng phục quốc sôi sục đầy khí thế trong cộng đồng người Việt hải ngoại mà những người di tản năm 1975 và sau đó có lẽ còn nhớ, đã được tác giả mô tả khá sống động như thể đã từng tham dự, mặc dù lúc ấy tác giả chỉ là một cậu bé con.

Tình cờ, và vì sinh kế, CTV được thu nhận vào làm việc với tư cách cố vấn cho cuốn phim về chiến tranh Việt Nam kiểu Apocalypse Now được quay tại Phi Luật Tân, nơi các vai VC phụ diễn được tuyển trong đám thuyền nhân còn ở trong trại tị nạn, nhiều người là những cựu quân nhân trong quân lực VNCH, đóng vì cần tiền và cũng vì thường khi được tuyển đóng phim, nhất là làm phụ diễn (extras), không ai được biết cốt truyện và chiều hướng của nhà làm phim. Qua tiếp xúc với các thuyền nhân, tìm hiểu vì sao họ phải bỏ cửa bỏ nhà bỏ quê hương liều chết vượt biển, CTV bắt đầu chất vấn cái gọi là “lý tưởng cách mạng” mà anh ta theo đuổi lâu nay.

Trở lại Mỹ, CVT được biết Ông Tướng bắt đầu gửi người về chiến khu hoạt động, và một trong những người tình nguyện về là người anh em kết nghĩa Bon. Sau khi thuyết phục Bon đừng về vì nguy hiểm không xong, CVT cảm thấy, do đã cắt máu ăn thề đùm bọc lẫn nhau, mình phải xin đi theo để che chở cho Bon. Để được Ông Tướng chấp nhận cho về chiến khu, CTV đã tham dự vào vụ ám sát một cựu sĩ quan VNCH mà Ông Tướng tình nghi là “hai mang,” và chính tay giết thêm một nhân vật thường viết bài chỉ trích việc làm của nhóm Ông Tướng, để chứng tỏ lòng trung thành với chính nghĩa của mình.

Trong một cuộc đụng độ đâu đó trong rừng ở vùng biên giới Đông Dương, nhóm kháng chiến bị lọt ổ phục kích của quân cộng sản, một số bị giết và những người còn lại bị bắt, trong đó có Bon và CTV. Vì trường hợp đặc biệt khi thú nhận là đã hoạt động cho phe cộng, CTV càng bị tình nghi, bị biệt giam, bị tra tấn, phải viết tới viết lui một bản tự kiểm thảo, với kết quả là một tập giấy dầy tới gần 300 trang. Hành trình này – tự kiểm thảo tới lui, bị biệt giam và tra tấn – đã giúp CTV dần “giác ngộ,” để thấy là các đồng chí của mình “[M]ột khi đã giải phóng chúng ta dưới danh xưng độc lập và tự do – sao tôi mệt vô cùng khi nói tới những chữ này! – chúng ta lại cướp đi chính những thứ này từ những người anh em bị bại trận.” (Kindle Locations 5497-5498)

Qua sự can thiệp và cả hối lộ viên trưởng trại của tổ trưởng Man (bằng tiền bạc đút lót từ các bà vợ của các tù cải tạo để được thăm nuôi lo cho chồng) tình cờ là bí thư chính trị của trại tù nơi CTV bị giam giữ mà chỉ về sau này mới xuất đầu lộ diện, CTV cuối cùng được phóng thích cùng với Bon, và với cả bản tự kiểm thảo do Man trao lại: đó cũng chính là cuốn “The Sympathizer” mà độc giả đang cầm trên tay. Họ được hướng dẫn tới một trạm giao liên, và chờ ngày lên đường vượt biên.

http://bientap.damau.org/wp-content/uploads/2016/04/clip_image002_thumb.jpg

Tác giả Nguyễn Thanh Việt

http://www.damau.org/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004_thumb_thumb.jpg

và cuốn tiểu thuyết “The Sympathizer” (Ảnh Google/Images)

Tôi phải mất một thời gian để “tiêu hoá” câu chuyện, mặc dù biết đây chỉ là một truyện sáng tác, dù tác giả nhìn nhận trong phần công nhận (Acknowledgments) ở cuối sách, là “[N]hiều sự việc trong cuốn tiểu thuyết thực sự đã diễn ra, mặc dù tôi phải nhìn nhận là đã tùy nghi thay đổi tình tiết và thứ tự thời gian.” (Kindle Locations 5594-5595). Tôi có linh cảm về một tầm mức quan trọng của The Sympathizer do giá trị văn chương của cuốn truyện, hơn là tính cách chính trị của những vụ việc dù dựa vào sự thực hay có tính cách sáng tạo. Nhưng tin cuốn tiểu thuyết được giải Pulitzer quả là một bất ngờ. Những ghi nhận bên dưới hoàn toàn là của cá nhân tôi, và đã hẳn không phản ảnh suy tư của tác giả, người mà tôi chưa hề trực diện.

Do giá trị văn chương nổi bật của cuốn truyện – cái sức mạnh không thể chối cãi của một tác phẩm văn chương đã khiến một độc giả đọc mà tưởng như đang đọc chuyện có thật – đã, có lẽ, khiến đài BBC tiếng Việt đặt thành “vấn đề” bằng tựa đề cho một bài tường thuật gần đây, “Người Mỹ ‘phải nhìn khác về chiến tranh VN’,” như thể đây là cuốn sách biên khảo về chiến tranh VN, chứ không phải là tiểu thuyết (fiction). (*)

Cuộc chiến Việt Nam không chỉ là những bàn cãi chưa ngã ngũ giữa các học giả, sử gia và những người còn quan tâm thuộc thế hệ tôi, những người trên dưới 70, thế hệ người Việt di dân thứ nhất, mà còn là quan tâm của nhiều người trẻ Việt đặc biệt thuộc thế hệ 1.5, như tác giả The Sympathizer. Là những người trẻ lớn lên trong xã hội Mỹ, thụ huấn một nền giáo dục nhân bản và phóng khoáng, với tất cả những cơ hội phát triển và tiến thân có thể nói vào bậc nhất thế giới, họ tất nhiên không chấp nhận quan điểm của cha anh mình mà ngược lại, họ chất vấn những tin tưởng, giá trị của tiền bối. Trong cuộc hành trình trí thức đó, họ cũng đồng thời không chấp nhận quan điểm về cuộc chiến Việt Nam rất phiến diện của những cuốn sách giáo khoa mà họ phải học khi còn ở trung học, và nhan nhản trong nhiều cuốn sách về chiến tranh Việt Nam vốn ảnh hưởng bởi phong trào phản chiến vốn bị ô nhiễm bởi hệ thống tuyên truyền tinh vi của khối cộng sản vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Thế hệ Việt 1.5 và sau này muốn “nhìn […] sự việc từ hai phía,” để từ đó xây dựng một hệ thống giá trị của riêng họ.

Điều nổi bật nhất nơi, nếu không nói là một thứ căn cước của, những người di dân thuộc thế hệ tôi, đã hẳn, là tinh thần chống cộng. Làm sao không chống cộng được khi mà chủ nghĩa tàn độc này, từ gần một thế kỷ qua, trải dài cả thảy là ba, bốn thế hệ, đã hủy diệt bao nhiêu khát vọng độc lập tự do thật sự để xây dựng đất nước, vun sới tiền đồ của tổ tiên, dân tộc. Đấy là chưa kể con người đã và đang bị tha hoá, không còn phân biệt phải trái, chính tà; và một môi trường thiên nhiên đã không những không được bảo vệ mà còn bị tàn phá vì những lợi nhuận nhỏ bé cá nhân của tầng lớp lãnh đạo từ trung ương tới địa phương. Điển hình là vụ cá bị nhiễm độc chết trắng một vùng dọc bờ biển miền Trung Việt Nam do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh, thuộc tập đoàn Formosa Đài Loan (mà phiá sau cũng là từ Hoa Lục), hoạt động tại Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh, gây ra và hiện đang gây xôn xao, phẫn nộ trong dư luận cả trong và ngoài nước.

Nói đến tinh thần chống cộng thì ta cũng phải nhìn nhận là có nhiều thành phần trong cộng đồng hải ngoại đã trở thành chống Cộng hết sức cực đoan, tới độ nhìn đâu cũng thấy VC, rồi xoay ra tố cáo lẫn nhau, xẩy ra cái cảnh mà một nguời bạn của tôi đã gán cho cái nhãn “quân mình đánh quân ta,” tiếp nối một trận hoả mù đã từng diễn ra ở Miền Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh mà nấp phía sau là các đặc công VC mà nhiều người Miền Nam dạo ấy không thấy, có khi ngay cả chính nạn nhân cũng không thấy và không biết luôn. Trường hợp điển hình mà tôi biết đích xác là vụ nhà văn/nhà báo Chu Tử bị ám sát hụt vào giữa năm 1966. Cho tới khi chết — ông Chu Tử bị tử thương trên chuyến tầu di tản ngày 30 tháng 4, 1975 khi tầu còn trong sông Saigòn, nhiều người tin là bị B40 của VC – ông có lẽ vẫn tin là mình bị “người anh em quốc gia” thanh toán. Thực tế, ông bị đặc công Huỳnh Văn Long ám sát, nhưng một người nào đó, có thể là chính Long, được VC dàn dựng là người mưu sát ông tới tìm gặp ông, cho biết là cảm tình viên của Thượng toạ Thích Thiện Minh, thấy thầy mình bị ông Chu Tử chỉ trích, tức khí, đi tìm bắn nhà báo để trả thù, không ngoài chủ trương gây chia rẽ giữa báo chí và tôn giáo.(**)

Kết quả của những vụ “quân mình đánh quân ta” là nhiều người phát chán nản, không muốn dính vào chuyện cộng đồng. Thậm chí còn gọi cộng đồng Việt, đặc biệt ở vùng Orange County, Nam Cali, là chốn “gió tanh mưa máu.” Một số bạn báo chí Việt ngữ của tôi cảm thấy mặc dù mình đang sinh hoạt trong một xã hội mà quyền tự do báo chí được tuyệt đối bảo vệ qua Tu Hiến Pháp Thứ nhất (First Amendment) nhưng họ không thấy được tự do hành nghề. Rất ít những người trẻ thuộc thế hệ 1.5 còn sinh hoạt trong cộng đồng; phần lớn hội nhập vào và xây dựng sự nghiệp của mình trong giòng chính. Một số ít, vì một đam mê nghề nghiệp nào đó hoặc do nhu cầu phục vụ, đi về Việt Nam làm việc, cả phối hợp với các cơ quan trong nước, để làm những việc mà họ không có cơ hội và được sự hỗ trợ của cộng đồng hải ngoại. Điển hình là phần lớn những phim truyện được trình chiếu trong kỳ đại hội điện ảnh Việt Film Fest vừa qua đã xuất phát từ Việt Nam nhưng lại do những nhà làm phim gốc Việt tại Mỹ thực hiện, với sự phối hợp và giúp đỡ của các cơ quan trong nước. Ngoài ra, còn có những người trẻ về nước trong âm thầm để làm những việc xã hội cho những lớp người dân đã bị chế độ Hà Nội bỏ quên. Và không ít những người trẻ này đã bị nhiều người trong cộng đồng chỉ trích là làm lợi cho cộng sản, hay bị cộng sản lợi dụng.

Phải thẳng thắn mà nhìn nhận là giữa các thế hệ 1 và 1.5 – khoan nói tới thế hệ 2 trở đi, gồm các em sinh ra tại Mỹ — hiện có một hố sâu ngăn cách: chúng ta không hiểu các con em của mình, cho là chúng bị Mỹ hoá, và về quan điểm chính trị, chúng chưa hay không chống cộng đủ. Và ngược lại, các thế hệ trẻ không hiểu chúng ta. Một chuyện khá bi hài về bất đồng thế hệ mà tôi nghe kể, là có vài vị trưởng thượng tại một thành phố nọ ở Quận Cam đã đòi đuổi một ông thị trưởng trẻ gốc Việt về vườn, bằng luật “recall,” vì ông này không chống cộng đủ. Nhiều bậc cha mẹ còn giữ thói quen “nói xuống” các em, thay vì “nói với,” cho rằng chúng phải tìm tới mình, thay vì mình với tới (reach out) chúng. Tình trạng này xẩy ra phần lớn cũng còn vì ngôn ngữ bất đồng: cha mẹ không đủ tiếng Mỹ để nói chuyện sâu sắc với các con, mà con cái thì cũng không đủ tiếng Việt để đối thoại một cách có ý nghĩa với cha mẹ. Nhiều em lớn lên hay sinh ra ở Mỹ không thông thạo tiếng Việt thường bị các bậc cha mẹ hay trưởng thượng kỳ thị, không coi các em là người Việt; thế nhưng họ lại vui vẻ đón nhận và khen ngợi một người Mỹ hay ngoại chủng chỉ vì người này thích ăn cơm Việt, biết dùng nước mắm, và bập bẹ được vài câu tiếng Việt. Đấy là chỉ mới nói tới chuyện bất đồng ngôn ngữ và văn hoá, khoan nói tới lịch sử hay chính trị, đặc biệt là cuộc chiến Việt Nam.

Tuổi trẻ Việt, qua “The Sympathizer,” theo cảm nhận chủ quan của tôi, hình như đã nhìn thấy đường ra khỏi trận hoả mù mà cuộc chiến Việt Nam đã gây ra. Thái độ của tôi là chấp nhận họ với một trạng thái như thế, cũng như không nên gán cho cuốn tiểu thuyết cái nhãn “chống Cộng” hay “thân Cộng.”

Vả lại, đây chẳng qua chỉ là một cuốn tiểu thuyết. Và cũng có lẽ chỉ có văn chương vốn có một kích thước vô bờ bến, và với hình thức tiểu thuyết, mới có thể giúp tác giả nói lên được những suy tư chủ quan của mình, trong hành trình chữa thương nhằm “giải oan cho cuộc biển dâu” (***) này, chăng?

Tôi đọc đâu đó, được biết tác giả Nguyễn Thanh Việt đang viết cuốn “sequel” của The Sympathizer. Đã từng thưởng ngoạn tính chất văn chương của The Sympathizer, tất nhiên là tôi chờ đợi cuốn kế.

[TD2016/04]

Chú thích:

(*) “Người Mỹ ‘phải nhìn khác về chiến tranh VN’,”http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2016/04/160418_the_sympathizer_pulitzer_comments

(**) “Báo chí Miền Nam: Nhân 38 năm ngày giỗ Chu Tử, Nhìn lại vụ Chu Tử bị ám sát hụt, ngày 16- 4-1966,”http://www.diendantheky.net/2013/05/trung-duong-bao-chi-mien-nam-nhan-ky.html.

(***) Thơ Tô Thùy Yên, bài “Ta Về,” http://poem.tkaraoke.com/10069/Ta_Ve.html

————————-

TIỂU THUYẾT “THE SYMPATHIZER” CỦA NGUYỄN THANH VIỆT ĐOẠT GIẢI PULITZER 2016

NHỮNG Ý KIẾN về CUỐN TIỂU THUYẾT “THE SYMPATHIZER” CỦA NGUYỄN THANH VIỆT (Văn Việt)  21/4/2016

CHUYỆN TÌNH BÁO TRONG “THE SYMPATHIZER (Bùi Văn Phú)  19/4/2016

NGUYỄN THANH VIỆT ĐOẠT GIẢI PULITZER VỀ TIỂU THUYẾT “CẢM TÌNH VIÊN” – SYMPATHIZER (tin tổng hợp)  19/4/2016

 

 

 

TUYÊN BỐ của PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM về việc ÔNG TRƯƠNG MINH TAM BỊ BẮT (Con Đường Việt Nam)

Tháng Năm 3, 2016

 

Tuyên Bố Của Phong Trào Con Đường Việt Nam Về Việc Ông Trương Minh Tam bị bắt

VO MEDIA   –   Published on May 2, 2016

https://www.youtube.com/watch?v=-afid162MxY

 

Ông Trương Minh Tam là thành viên của Phong trào Con Đường Việt Nam. Ngày 26/4/2016, ông Tam đã có mặt tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh để tìm hiểu về vụ việc cá chết tại ven biển miền Trung từ đầu tháng 4 tới nay. Nội dung video, quý vị vui lòng xem tại: https://www.facebook.com/quyenconnguo… hoặc https://youtu.be/8gKIPdTDwlo
Đây là một hoạt động tiếp cận và chia sẻ thông tin bình thường theo Điều 25 Hiến Pháp năm 2013 mà ông Tam và các thành viên của chúng tôi thực hiện thường xuyên từ khi thành lập đến nay. Vui lòng xem thêm tại: https://www.facebook.com/quyenconnguo…

————————————–

Con Đường Việt Nam

Thusday, April 28, 2016 at 12:05am

BIỂN CHẾT 2016

Xin mời quý vị hãy cùng chúng tôi điểm lại những phát ngôn, những dấu mốc phản ứng của những người có trách nhiệm với đất nước cùng những phản ứng của người dân.

Phóng sự do Con Đường Việt Nam thực hiện tại Hà Tĩnh 28/4/2016
Link: https://youtu.be/8gKIPdTDwlo

Tam Trương Minh – Published on Apr 27, 2016

 

 

 

ĐIỂM TIN NGÀY 2-5-2016

Tháng Năm 3, 2016

 

 

ĐIỂM TIN NGÀY 2-5-2016

.

Tin Tức Hàng Ngày

http://www.tintuchangngayonline.com/

Điểm Tin Thứ Hai 02.05.2016

  • Venezuela : Tăng lương tối thiểu và đổi giờ để đối phó khủng hoảng(RFI) – Ngày 30/04/2016, một ngày trước lễ Quốc Tế Lao Động, tổng thống Venezuela Nicolas Maduro thông báo tăng mức lương tối thiểu thêm 30%. Nhiều cuộc biểu tình quan trọng được dự kiến vào ngày 01/05 tại nhiều thành phố, trong bối cảnh Venezuela đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.
  • Tổng thống Obama chế nhạo Donald Trump(RFI) – Chiều thứ Bảy 30/04/2016, tổng thống Mỹ Barack Obama tham dự buổi tiệc cuối cùng trong nhiệm kỳ do hiệp hội phóng viên hoạt động tại Nhà Trắng tổ chức.
  • Ngoại trưởng Anh ca ngợi Raul Castro nắm bắt thực tế thời đại(RFI) – Ngoại trưởng Anh Philip Hammond ngày 29/04/2016 ca ngợi chủ tịch Cuba Raul Castro đã nắm bắt thực tế của thế giới hiện đại sau một cuộc họp với nhà lãnh đạo Cộng sản. Chuyến công du Cuba của ngoại trưởng Anh được cho là đánh dấu sự « tan bang » trong mối quan hệ giữa Cuba và phương Tây.
  • Syria : Nga sẽ không yêu cầu Damas ngừng oanh kích Aleppo(RFI) – Nga sẽ không yêu cầu chính quyền Damas ngừng oanh kích thành phố Aleppo, hiện đang là chiến trường chính tại Syria. Thông tin trên được thứ trưởng Ngoại Giao Nga Guennadi Gatilov tuyên bố ngày 30/04/2016 để trả lời yêu cầu do Hoa Kỳ đưa ra.
  • Mỹ trang bị vũ khí cho tàu ngầm Úc mua của Pháp(RFI) – Úc mua 12 tàu ngầm tấn công hiện đại của Pháp nhưng hệ thống vũ khí tối mật trang bị cho lực lượng chiến lược này sẽ do Hoa Kỳ cung cấp.
  • Ngoại Trưởng Mỹ: Ngưng bắn ở Syria là ‘ưu tiên hàng đầu’(VOA) – Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Ngoại trưởng Kerry sẽ thảo luận về các nỗ lực đang tiếp tục để tái khẳng định việc chấm dứt các hành động thù nghịch khắp Syria
  • Biển Đông : Đài Loan gửi quân tăng viện tới đảo Ba Bình(RFI) – Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông và biển Hoa Đông, chính phủ Đài Loan thông báo sẽ gửi thêm lực lượng quân sự tăng cường tới các vùng biển đang có tranh chấp. Đây là một động thái quân sự nằm trong chiến lược an ninh của Đài Loan được đưa ra chỉ 20 ngày trước khi tổng thống Mã Anh Cửu mãn nhiệm.
  • Quốc Tế Lao Động : Ngày công nhân gây sức ép(RFI) – Ngày lễ Lao Động 01/05 là dịp để các công đoàn biểu duơng lực luợng gây sức ép với chính phủ. Nhưng tại Pháp, giới công đoàn luôn tổ chức ngày Lễ Lao Động một cách riêng rẽ.
  • Việt Nam : Biểu tình chống tập đoàn Formosa thải chất độc ra biển(RFI) – Hàng ngàn người dân Việt Nam ở Hà Nội, Sài Gòn cũng như tại một số thành phố miền Trung, đã xuống đường vào buổi sáng Chủ Nhật, 01/05/2016, để phản đối tập đoàn Formosa của Đài Loan thải chất độc tàn phá ngành thủy sản ở miền trung Việt Nam. Cuộc biểu tình được các mạng xã hội kêu gọi từ nhiều ngày trước.
  • Người VN ở nước ngoài biểu tình vụ cá chết(BBC) – Bạn đọc của BBC gửi hình ảnh công nhân Việt Nam tại Đài Loan xuống đường thể hiện quan điểm về sự kiện cá chết tại Hà Tĩnh.
  • ‘Cách trấn an ấy không có cơ sở’(BBC) – Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết bình luận về cách thức trấn an dân của quan chức các tỉnh miền Trung Việt Nam có cá chết hàng loạt.
  • Việt Nam xuống đường vì vụ cá chết(BBC) – Hàng ngàn người tại Việt Nam xuống đường biểu tình vụ cá chết hàng loạt, một số nơi đã xảy ra hiện tượng trấn áp người tham gia.
  • Tắm biển, ăn cá và trách nhiệm quan chức(BBC) – Cựu Dân biểu Việt Nam, GS Nguyễn Minh Thuyết bình luận động thái trấn an của quan chức VN sau vụ cá chết hàng loạt và trách nhiệm giải trình.
  • Thắng lợi ‘trả biển cho dân’ 1/5: Người Việt đã bớt vô cảm!(VOA) – Ít nhất 4.000 người dân Sài Gòn không hề vô cảm đã tràn xuống đường để biểu tình phản đối doanh nghiệp Formosa xả thải
  • Người dân Việt Nam xuống đường biểu tình vụ cá chết(VOA) – Hàng ngàn người đã xuống đường ở Hà Nội, Sài Gòn và một vài thành phố khác hôm nay để phản đối Tập Đoàn Formosa Plastics xả thải làm cá chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung
  • Biểu tình ở Hà Nội và Sài Gòn kêu gọi bảo vệ biển(RFA) – Hàng ngàn người dân Hà Nội và Sài Gòn hôm nay xuống đường biểu tình kêu gọi bảo vệ môi trường biển Việt Nam, mà vừa qua bị nhiễm độc khiến cá chết hằng loạt tại các tỉnh miền Trung từ Hà Tĩnh, sang Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế và đến cả Đà Nẵng.
  • Ủng hộ ngày cả nước biểu tình vì môi trường sinh thái của Việt Nam(BoxitVN) – Chúng tôi tuyệt nhiên không tin rằng các ông lớn trong chính quyền Việt Nam từ trung ương đến địa phương Hà Tĩnh khi long trọng rước Formosa vào Vũng Áng và bán đất bán biển của quốc gia cho họ (với thời gian những 70 năm và với cái giá rẻ mạt khiến ai cũng sửng sốt) là có một tầm nghĩ muốn đổi mới nông-ngư nghiệp cổ truyền của đất nước thành công nghiệp hiện đại. Không! Không! Hoàn toàn không có gì cao sang như thế cả, mà đằng sau nó chỉ là một sự thật trần trụi, xin ức đoán mà không sợ lầm: các vị đã mờ mắt trước những bọc đô la nặng trĩu tư túi. Vậy nên không phải tận bây giờ vỡ lở ra vụ cá chết, khu công nghiệp Vũng Áng mới như một cái gai đâm vào mắt nhân sĩ trí thức, mà ngay từ khi nó mới vừa được dọn bãi và tàn bạo đuổi dân đi, bắt họ rời bỏ nghề nghiệp bền vững trên mảnh đất cổ truyền kéo nhau đến những nơi khỉ ho cò gáy đến ma cũng không dám bén mảng, nó đã khiến dư luận tại Hà Tĩnh cũng như Hà Nội dấy lên không ít sự xôn xao, bức bối. Nhưng mỗi lần có họp hành, có tiếng nói thắc mắc, lại một lần các quan chức địa phương hùng hổ lên tiếng đánh bạt đi. Nhiều người đành phải giữ lại trong lòng như một cái gai chưa được nhổ, cứ nhức buốt âm ỉ với thời gian. Riêng trong dân chúng sở tại thì đấy là một cái bọc nung mủ mà bạo phát biểu tình tháng 5-2014 giết 20 lao động Trung Quốc tại chỗ chỉ mới là một dấu hiệu mở màn.
  • Hãy chung sức cứu lấy đất nước khỏi thảm họa cá chết miền Trung(BoxitVN) – Kể từ khi Bắc miền Trung (Hà Tỉnh đến Đà nẵng) bị thảm họa cá chết ven bờ biển đến nay, nhà chức trách Việt Nam đã rất chậm trễ trong việc truy tìm thủ phạm, hiện tại vẫn chưa đưa ra được minh chứng thuyết phục là tổ chức, cơ quan hay nhà máy cụ thể nào gây ra thảm họa này.

    Mặc dù hiện nghi can số một là khu công nghiệp FORSOMA, nhưng để giới khoa học và các tổ chức quốc tế thừa nhận rộng rãi, giúp đỡ chúng ta, lên án sự hủy diệt môi trường thủy sinh vật, diệt chủng dân tộc Việt Nam, diệt chủng loài người, nhằm đưa những thủ phạm ra trước vành móng ngựa, chúng ta cần phải đảm bảo tính pháp lý quốc tế nghiêm ngặt trong việc truy tìm thủ phạm.

    Với thảm họa cá chết này, trước mắt và lâu dài là họa diệt chủng cho dân tộc VN chúng ta.

  • Tăng Đoàn lên tiếng về thảm họa do Formosa – Hà Tĩnh gây ra(BoxitVN) – Buộc tập đoàn Formosa phải chịu trách nhiệm khắc phục khủng hoảng, bồi thường thiệt hại cho người dân. Trả lại môi trường biển trong sạch cho người dân ở đây.

    Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất rất mong nền kinh tế của đất nước được phát triển, nhưng đòi hỏi một sự phát triển bền vững, không chấp nhận hy sinh môi trường sống và tương lai dân tộc cho sự phát triển kinh tế, vì suy cho cùng sự phát triển nào cũng để phục vụ con người, nếu hy sinh đời sống và sự an lạc của con người thì sự phát triển đó là vô nghĩa.

  • Tìm ở đâu? Tìm trong đầu ấy! (Mênh mông thế sự 35)(BoxitVN) – Là nói chuyện tìm nguyên nhân thảm hoạ môi trường trong cái nóng hầm hập. Càng nóng hơn về hình ảnh ngư dân thẫn thờ bên xác cá chết trên biển miền Trung. Thế mà nóng đầu hơn lại là chuyện trống đánh xuôi kèn thổi ngược của những thủ đoạn chối tội trơ trẽn và khốn nạn từ những con rô bốt ngô nghê được đẩy ra hứng chịu búa rìu của dư luận về thảm hoạ môi trường thay cho sự lẩn trốn của chính danh thủ phạm.

    Thật ra, đâu chỉ là thảm hoạ môi trường. Phải gọi đúng tên thảm hoạ, chỉ đúng mặt kẻ rước thảm hoạ đó về phá nước hại dân để giữ bằng được cái ghế quyền lực. Chỉ khi vạch rõ chính danh thủ phạm là ai, là những ai, chúng đang chối tội, chạy tội và tìm cách lấp liếm bằng giọng lưỡi lừa mị dối trá nhà nghề như thế nào đi liền với trấn áp bằng bạo lực ra sao, thì mới có thể bàn được giải pháp trị tận gốc thảm hoạ hôm nay.

  • DIỆT  ĐẾ  QUỐC  MỸ, PHÁ  TAN BÈ  LŨ BÁN  NƯỚC(BoxitVN) – Người ta đã lấy sự thành thật và vì đại sự (quan hệ quốc tế) trọng thị đón tiếp lãnh đạo Việt Nam mấy lần. Thì lần này, ta cũng nên, ít nhất, đối xử như thế vì tương lai của đất nước chứ chẳng phải sợ thằng Tây, thằng Tàu nào. Đừng như lần đón Tổng thống Bill Clinton (bắt tay không chặt, bảo sinh viên (giả vờ) không thèm nghe những gì ông ấy nói trong hội trường…). MTDTGPMN và CPCMLTCHMN hết vai trò lịch sử ngay sau 1975, còn là “di sản cấp quốc gia” chỉ còn trong hồi ức/ký của một số vị có tham gia.

    Sự việc gì cũng có “số” của nó, bài (quốc) ca GPMN cũng thế, nay rất ít khi nghe hát. Lời thề năm xưa “diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước” nên đổi thành “diệt đế quốc X, phá tan bè lũ Y bán nước”. Có ai tự nhận là X, là Y? Nếu không muốn là X, là Y thì hãy theo DÂN.

  • Để tiêu diệt một dân tộc(BoxitVN) – Để tiêu diệt một dân tộc nó “là một tiến trình, không phải một sự kiện” như GS Sheri Rosenberg quan sát. Tiến trình này TQ lâu nay thực hiện cho dân tộc Việt Nam. Nó lâu dài và đa dạng, được tăng tốc bởi chế độ chính trị của nước nạn nhân. Chế độ khoá tay bịt miệng người dân, không cho đất nước có sức mạnh dân tộc, hai đảng cộng sản đàn anh và đàn em rù rì rủ rỉ với nhau trong bóng tối. Nó biến VN trước tiên là bãi rác, kế đến là con đường mòn nam tiến. Nó bào mòn sức sống của dân tộc và tàn phá một đất nước xinh đẹp mà thiên nhiên ban bố. Lối thoát là đâu? – Nó nằm trong sự thông minh và dũng cảm của dân tộc ta, cho dù đã một lần uống phải bùa mê thuốc lú của chủ nghĩa cộng sản nên còn dật dờ cảnh trí. Lịch sử ngàn năm đã chứng minh, sức sống của dân ta mãnh liệt, dân tộc này không để bị tiêu diệt mà sẽ tỉnh thức để vùng lên.
  • TỪ HIỂM HỌA ĐẾN VỰC THẲM(BoxitVN) – Nhiều nhà khoa học từ lâu đã cảnh báo bài toán “được và mất” nhất là thảm họa về môi trường khi phát triển công nghiệp, nhất là các nhà máy thép.

    Đối với duyên hải miền Trung, điều đáng lo nhất là những di hại sau thảm họa này: hệ động thực vật biển trong một vùng rộng lớn lan tỏa theo hải lưu chưa bị chết ngay vì mức độ nhiễm độc chưa tới ngưỡng gây tử vong tức thời nhưng, cũng đã bị nhiễm độc và sẽ di hại rất lâu dài khi đánh bắt để làm thực phẩm.

    Nhiều nơi trong nước cũng đã coi trọng môi trường sống của người dân lên hàng đầu, cương quyết từ chối đầu tư các nhà máy sản xuất thép tỷ đô như Vân Phong–Khánh Hòa, nhà máy thép Quảng Ngãi, nhà máy thép Đà Nẵng do liên doanh Đài Loan và Nhật Bản, v.v. là những quyết định của những nhà quản lý thông minh, biết nhìn xa trông rộng nhưng đáng tiếc không được Hà Tĩnh tham khảo.

  • Thảm họa cá chết miền Trung: Nguồn độc có khả năng lan xuống tận Phú Quốc(BoxitVN)– Qua tính toán dòng chảy đáy biển, KS Doãn Mạnh Dũng, phó Chủ tịch – Tổng thư ký Hội Khoa học kỹ thuật và kinh tế Biển TP.HCM, cảnh báo: nếu không cắt ngay nguồn độc đang gây cá chết tại 4 tỉnh ven biển miền Bắc Trung Bộ, và mới ngày hôm nay 29.4 là Đà Nẵng, thì nguy cơ chất độc sẽ còn lan xuống tận Phú Quốc! Đặc biệt, cần nhìn nhận Sơn Dương – Vũng Áng là một yếu huyệt bảo vệ sự an ninh lãnh thổ Việt Nam từ hướng biển!
  • Bảo vệ môi trường biển là bảo vệ chủ quyền(BoxitVN) – Nếu Việt Nam không ngăn ngừa ô nhiễm biển và không trừng phạt các thủ phạm, Trung Quốc có thể dùng lý lẽ này để bác bỏ chủ quyền của Việt Nam trên biển.
    Trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Toà Trọng tài Thường trực Quốc tế, hành vi phá hoại môi sinh và không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường biển trong việc xây dựng đảo nhân tạo trong vùng biển tranh chấp của Trung Quốc, đã bị phía Philippines lập luận là hành vi phản chủ quyền. Lý do là vì Trung Quốc đã đi ngược lại các điều khoản của Công ước Luật Biển (UNCLOS) 1982 mà theo đó, các quốc gia phải cam kết thực hiện các luật, cũng như các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển [1]. Vụ kiện lịch sử này sắp có phán quyết trong những ngày sắp tới.
  • Biểu tình kêu gọi bảo vệ môi trường tại các tỉnh thành Việt Nam(RFA) – Hàng trăm người đã xuống đường biểu tình ở các thành phố lớn Sài Gòn, Hà Nội, kêu gọi bảo vệ môi trường, sau khi cá biển chết hàng loạt tại các tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế hồi đầu tháng tư.
  • ‘Tôi cảm nhận ở Thủ tướng sự thật lòng’(BBC) – Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận về các động thái thay đổi chính sách của tân Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Xuân Phúc.
  • Về cải cách ban đầu của Thủ tướng Phúc(BBC) – Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận hai đổi mới chính sách với doanh nghiệp, doanh nhân, người lao động của tân Thủ tướng VN Nguyễn Xuân Phúc.
  • Tháng tư đen tối và những kế hoạch của phụ nữ Việt hiện đại(RFA) – Tháng Tư dương lịch có một cái “Tết” vô cùng đặc biệt trong năm, với mỗi người Việt. Không giống như những ngày tết âm lịch khác được người Việt đặc biệt lưu tâm và vui vẻ chào mừng trên khắp cả nước, “tết độc lập” – 30/4 là một ngày tết mà suốt 41 năm qua vẫn gây ra nhiều tranh cãi giữa mỗi nhóm người Việt về sự chính danh của Việt Cộng trong việc “giải phóng” miền Nam.
  • ‘Cởi trói’ cho những ca khúc sau gần 40 năm(RFA) – Kể từ năm 1975, với nhiều lý do khác nhau, những ca khúc được sáng tác trước đó từng được gọi là “nhạc vàng”, “nhạc tiền chiến” đã bị cấm biểu diễn ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau 40 năm, một số trong gia tài âm nhạc giá trị ấy đã được sống lại trên mảnh đất mà các nhạc sĩ đã sáng tác ra những ca khúc ấy.
  • Linh mục dẫn đầu phong trào phản chiến Việt Nam qua đời(VOA) – Linh mục Daniel Berrigan là người hoạt động tích cực cho hoà bình. Ông là người đã đốt những giấy tờ nhập ngũ để phản đối chiến tranh Việt Nam
  • Người lao động khắp Châu Á tuần hành đòi quyền lợi, tăng lương (VOA)– Người lao động trên khắp Châu Á hôm nay đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc trong khi cử hành Ngày Quốc tế Lao động
  • Cam Bốt : Tai tiếng tình ái thành áp-phe chính trị(RFI) – Tại Cambốt, nhiều tổ chức phi chính phủ bảo vệ nhân quyền hiện đang là đích ngắm của của chính phủ. Các tổ chức này bị tố cáo là đã xúi giục một người phụ nữ phủ nhận là người tình của nhân vật quan trọng thứ hai của phe đối lập.
  • Đài Bắc chỉ trích Malaysia trục xuất người Đài Loan sang Trung Quốc(RFA) – Đảng Dân tiến nắm quyền ở Đài Loan lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ việc chính phủ Malaysia trục xuất 32 người Đài Loan sang Hoa Lục sau khi những người này bị kết tội gian lận cước viễn thông ở Malaysia.
  • Người Mỹ gốc Đài Loan bán bí mật hạt nhân cho TQ(VOA) – Một công dân Mỹ gốc Đài Loan thú nhận đã bán các thông tin về hạt nhân cho Trung Quốc khi ông này là một viên quản lý cấp cao của một công ty do chính phủ làm chủ.
  • Đài Loan và Nhật Bản tranh chấp biển đảo(RFA) – Đài Loan gửi hai tàu tuần tiểu đến một rặng san hô hiện do Nhật Bản quản lý ở miền Tây Thái Bình Dương.
  • Trung Quốc muốn hợp tác với Nhật Bản(RFA) – Hôm thứ bảy vừa qua (30/4/2016), Bộ ngoại giao Bắc Kinh lên tiếng nói là Trung Quốc mong muốn hợp tác với Nhật Bản chứ không tìm cách đối đầu.
  • IS nhận trách niệm vụ chém chết người Ấn Độ giáo ở Bangladesh(VOA) – Nhà Nước Hồi giáo đã nhận trách nhiệm về vụ giết nạn nhân bởi vì theo họ, ông này đã báng bổ tiên tri Muhammad
  • Quốc hội Iraq tan rã, các nhà lập pháp bỏ chạy khỏi Baghdad(VOA) – Người biểu tình Iraq đang chiếm đóng những khu vực từng là khu an toàn quốc tế, các nhà lập pháp đã tháo chạy trong khi quân đội đang trong tình trạng báo động đỏ.
  • Trụ sở cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ bị đánh bom, 2 cảnh sát thiệt mạng(VOA) – Một vụ nổ bom xe bên ngoài trụ sở cảnh sát ở thành phố Gaziantep ở đông-nam Thổ Nhĩ Kỳ đã giết chết ít nhất 2 cảnh sát viên, và làm bị thương ít nhất 22 người
  • Người Hồi giáo Shia chiếm tòa nhà Quốc hội(BBC) – Những người ủng hộ một giáo sĩ Hồi giáo Shia quyền lực đã cắm trại ngay bên ngoài tòa nhà Quốc hội ở Baghdad để đòi cải cách.
  • Leicester hòa MU: Sức ép rất lớn cho Tottenham(BBC) – Hòa MU 1-1 trong trận cầu hôm chủ nhật, Leicester vẫn chưa thể đăng quang tại Old Trafford.
  • Leicester muốn đăng quang ở Old Trafford(BBC) – Leicester City chỉ cần 3 điểm trong ba trận cuối, nhưng chiến thắng tại Old Trafford trước MU hôm Chủ nhật sẽ giúp họ vô địch sớm.
  • Tổng thống Obama pha trò tại Dạ tiệc Thông tín viên Tòa Bạch Ốc(VOA) – Tổng Thống Obama trở thành tâm điểm của sự chú ý giữa lúc các ký giả, chính khách và những người nổi tiếng tham dự Dạ tiệc Thông tín viên Tòa Bạch Ốc

——————————–

ĐỐI THOẠI

https://doithoaionline.wordpress.com/

Đối Thoại Điểm Tin ngày 2 tháng 5 năm 2016

Posted on 02/05/2016 by Doi Thoai

  • Tin Ngoài Nước-Tín Châu
  • Tin Trong Nước-Lê Hồng Lĩnh

Đọc tiếp →

———————

Đài Đáp Lời Sông Núi

http://radiodlsn.com/

Thứ Hai 02-05-2016

.

Theo dõi đài Đáp Lời Sông Núi qua:

Youtube

Twitter

Facebook

.

Youtube: THẢM HỌA ĐỎ BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

.

Youtube: Sự Thật Hồ Chí Minh

.

Youtube: Ho Chi Minh, The Man and The Myth

.

Youtube: Cải cách ruộng đất

.

Youtube: Nhân Văn Giai Phẩm

.

————————

Viet Studies

Thứ hai, 2 tháng 5, 2016

http://viet-studies.info/

Kinh tế Việt Nam

Tổng thống sắp tới của Mỹ nên đối phó thế nào với vần đề Biển Đông: How the Next US President Should Handle the South China Sea (Diplomat 2-5-16)

Văn Hóa & Giáo Dục

Chuyện tình của cựu đại sứ Pháp và cô gái Việt (Zing 2-5-16)

 

 

 

ĐẤT NƯỚC SẼ VỀ ĐÂU ? (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Năm 3, 2016

 

Đất nước sẽ về đâu?

Nguyễn Hưng Quốc

02.05.2016

http://www.voatiengviet.com/content/dat-nuoc-se-ve-dau/3311636.html

 

Tôi có khá nhiều bạn bè hiện đang sinh sống tại Úc, trước đây, khi còn làm việc, cứ ao ước đến ngày về hưu, con cái khôn lớn, có gia đình và có việc làm ổn định cả, sẽ về Việt Nam an hưởng tuổi già. Bức tranh người ta vẽ ra rất đẹp: với số tiền hưu trí tại Úc, người ta có thể dễ dàng có một cuộc sống rất phong lưu ở Việt Nam. Có thể thuê người ở. Có thể đi đây đi đó. Có thể ăn hết món lạ này đến món lạ khác. Thế nhưng, đến ngày họ thực sự về hưu, sau vài chuyến thăm viếng Việt Nam, người ta lại đổi ý. Theo họ, Việt Nam chỉ là nơi để đi du lịch chứ không phải là nơi có thể sống được lâu dài. Người ta đưa ra hai lý do chính: Một là nhớ con cháu tại Úc; hai là, Việt Nam hoàn toàn không an toàn.

Tôi cũng có khá nhiều bạn bè ở hướng ngược lại: Họ sống tại Việt Nam, phần lớn đều khá thành đạt, có chức có quyền và có tiền. Họ cho con cái du học ngoại quốc. Học xong, các cháu có việc làm đàng hoàng, sau đó, bảo lãnh cho cha mẹ từ Việt Nam, sau khi về hưu, ra ngoại quốc sinh sống. Họ bỏ lại sau lưng cuộc sống rất dư dả và cũng rất vui vẻ trên quê hương để sang sống ở một quốc gia xa lạ về cả ngôn ngữ lẫn văn hoá; và vì sự xa lạ ấy, cũng khá buồn rầu. Hỏi tại sao, họ cũng nêu lên hai nguyên nhân: Một là muốn gần gũi con cháu; và hai là, ở ngoại quốc, dù buồn, vẫn an toàn hơn hẳn Việt Nam.

Bỏ qua việc sống gần con cháu, cả hai nhóm người ấy đều có nhận thức giống nhau: Việt Nam, dù là quê hương người ta rất yêu mến, không còn là một nơi an toàn để sống.

Trước hết là thiếu an toàn về chính trị. Ở bình diện cá nhân, người ta có thể bị bắt bớ hay tra tấn bất cứ lúc nào nếu muốn có một tư duy độc lập và nếu muốn thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ở bình diện quốc gia, dù nhà nước Việt Nam luôn xem sự ổn định là một trong những mục tiêu lớn nhất của họ, ai cũng biết, Việt Nam lúc nào cũng ẩn chứa đầy những nguy cơ bất ổn. Bất ổn trong nội bộ đảng với các khuynh hướng và phe phái khác nhau. Nhưng quan trọng nhất là bất ổn trong quan hệ với Trung Quốc: Không ai dám chắc những mâu thuẫn giữa Việt Nam và Trung Quốc trên Biển Đông sẽ không bùng nổ thành chiến tranh. Đã đành Việt Nam lúc nào cũng nhân nhượng Trung Quốc. Nhưng sự nhân nhượng nào cũng có giới hạn. Mà Trung Quốc thì rõ ràng không muốn dừng lại ở bất cứ giới hạn nào cho đến lúc hoàn toàn trở thành bá chủ trên Biển Đông.

Thứ hai là thiếu an toàn về giao thông. Mỗi năm ở Việt Nam có khoảng 10.000 người chết vì tai nạn xe cộ. Mười ngàn: tức mỗi ngày trung bình gần 30 nạn nhân. Đó là người chết. Con số những người bị thương tật chắc chắn sẽ nhiều hơn hẳn. Bởi vậy, ở Việt Nam, nhiều người nói, cứ mỗi lần bước ra khỏi cửa nhà là thấy phập phồng. Con đường nào cũng đầy bất trắc. Đi đúng luật và lái xe cẩn thận cũng có thể bị những chiếc xe “điên” bị mất tay lái cán chết. Ngay cả đi bộ cũng không an tâm. Mỗi lần băng qua đường là một lần đối diện với rủi ro.

Nhưng quan trọng nhất là mất an toàn thực phẩm. Báo chí đã nói rất nhiều về thực phẩm bẩn ở Việt Nam. Hầu như tất cả đều bẩn. Hầu như bất cứ loại gia súc nào cũng được cho ăn các hoá chất độc hại để tạo nạc và tăng trọng. Tệ hại hơn, người ta còn đem bán cả thịt thối rữa, sau khi tẩm ướp bằng các loại hoá chất để bay mùi và săn thịt. Ngày trước, đã có nhiều người giả thịt trâu thành thịt bò. Bây giờ, “tài” hơn, người ta còn biến cả thịt heo thành thịt bò. Thịt giả như vậy cũng được đi. Nhưng vấn đề là để làm giả như thế, người ta lại sử dụng các loại hoá chất độc hại để nhuộm màu thịt. Ăn chúng, người ta ăn cả các chất có thể gây ung thư.

Thịt đã thế, rau trái cũng thế. Cũng đầy hoá chất. Hoá chất trong phân bón và trong các loại thuốc trừ sâu. Hoá chất còn được dùng để ướp trái cây cho chúng bắt mắt hơn. Ngay cả nước dừa cũng không an toàn. Để trái dừa có màu tươi như mới, người ta lại nhúng chúng vào hoá chất. Lại hoá chất.

Trước, người ta tưởng ăn cá tôm và các loại hải sản là an toàn. Nhưng không phải. Tôm cá và hải sản nuôi trong các hồ nhân tạo cũng nhiễm đầy các chất cấm. Còn tôm cá và hải sản được đánh từ sông và biển? Từ đầu tháng 4 vừa rồi, chúng lại cũng bị nhiễm độc. Hàng trăm tấn cá bị chết, tấp trắng các bờ biển từ Hà Tĩnh vào đến Huế, kéo dài cả hơn 200 cây số. Chính quyền còn ú ớ trong việc xác định nguyên nhân cá chết nhưng có một điều chắc chắn: chúng bị nhiễm độc các loại hoá chất do con người thải ra. Thành ra tôm cá đánh bắt từ biển khơi cũng không còn an toàn nữa.

Thịt: độc. Tôm cá: độc. Rau, trái và củ: độc. Cả không khí người ta thở, đặc biệt tại hai thành phố lớn, Hà Nội và Sài Gòn, cũng nhiễm đầy chất chì và thuỷ ngân: độc. Cả nước bị nhiễm đầy chất độc. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tỉ lệ người Việt Nam mắc bệnh ung thư rất cao. Càng ngày càng cao.

Lâu nay, nói đến những khó khăn mà Việt Nam đang đối diện, chúng ta hay nghĩ đến các yếu tố chính trị và địa chính trị, đến vấn đề dân chủ và nhân quyền, đến chuyện các đại công ty phá sản và nợ công chồng chất. Nhưng ngay cả về phương diện xã hội, liên quan đến chuyện ăn uống và hít thở hàng ngày, Việt Nam cũng đối diện với bao nhiêu nguy hiểm.

Tôi cứ tự hỏi: Trong một khí quyển như thế, làm sao người Việt Nam có thể sống được và tương lai đất nước sẽ đi về đâu?

Tự dưng lại nhớ đến bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh” của Trần Thị Lam, một cô giáo dạy Văn ở Hà Tĩnh, viết sau biến cố hàng trăm tấn cả bị chết ở miền Trung. Bài thơ đăng trên facebook của cô, sau, công an địa phương buộc cô phải gỡ xuống. Lời thơ đơn giản, thật thà, nhưng thể hiện được những trăn trở của cả hàng triệu người Việt Nam hiện nay.

Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…

Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay…

Đất nước mình buồn quá phải không anh
Biển bạc, rừng xanh, cánh đồng lúa biếc
Rừng đã hết và biển thì đang chết
Những con thuyền nằm nhớ sóng khơi xa…

Đất nước mình thương quá phải không anh
Mỗi đứa trẻ sinh ra đã gánh nợ nần ông cha để lại
Di sản cho mai sau có gì để cháu con ta trang trải
Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu…

Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu…

——————————-

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 

 

 

VỀ CUỘC PHẪN NỘ CỦA NGƯỜI DÂN HÀ NỘI SÁNG 1/5/2016 (Đào Tiến Thi)

Tháng Năm 3, 2016

 

Về cuộc phẫn nộ của người dân Hà Nội sáng 1-5-2016

Đào Tiến Thi

2 Tháng Năm, 2016

http://vanviet.info/van-de-hom-nay/ve-cuoc-phan-no-cua-nguoi-dn-h-noi-sng-1-5-2016/

 

Sáng 1-5, trước khi đi, được tin một số anh em đã bị canh cổng, tôi đã đoán được ý chí quyết phá cuộc biểu tình này của nhà cầm quyền nên sắp đến điểm hẹn liền đổi phương tiện: gửi xe máy để bắt taxi. Y như rằng, khi chiếc taxi đỗ lại bãi gửi để chúng tôi xuống thì đồng thời có mấy người đến gửi xe máy bị từ chối. Một người đàn ông không rõ là người trông xe hay chính là công an tuyên bố thẳng thừng: hôm nay ở đây có biểu tình nên không nhận trông xe. Một phụ nữ bị từ chối tỏ vẻ bực tức nói: “Biểu tình là của bọn phản động, chúng tôi liên quan gì mà phải chịu?”. Một bác trung niên vừa đi đến (có lẽ cũng là người đi biểu tình) rọi ánh mắt tức giận vào cô ta quát: “Cô bảo ai là phản động? Đi biểu tình mà là phản động à?”. Người phụ nữ quay xe vù nhanh, không thèm trả lời.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image002.jpg

Cuộc biểu tình diễn ra sớm, có lẽ chính do cách hành xử ác nghiệt vô lối của “lực lượng chức năng” (LLCN). Chả là khi mới có một nhóm nhỏ người tập hợp trên bậc thềm Nhà hát lớn thì LLCN đã vừa xua đuổi vừa dùng tiếng loa gào lên những lời đe dọa mà lại không đưa ra được lý do gì cho ra… lý do một chút. Một chị trung niên (sau biết chị là Trần Thị Thảo, giáo viên THPT về hưu) đã kiên quyết phản đối. Chị còn dùng lời lẽ đanh thép tố cáo sự vô trách nhiệm và thái độ đầy mờ ám của một số quan chức nhà nước trong thời gian xảy ra vụ cá chết khiến LLCN phải chùn bước. Cuối cùng nhóm người đã trụ lại được trên bậc thềm và cuộc biểu tình diễn ra sớm hơn dự định.

Đoàn người tụ lại trên thềm Nhà hát lớn đông, mạnh chưa từng thấy. Biểu ngữ, khẩu hiệu vô cùng phong phú: “Hãy trả lại Vũng Áng cho nhân dân”. “Đả đảo Formosa”. “Formosa cút đi”. “Bảo vệ biển Việt Nam”…. LLCN bắt đầu tỏ ra khó xoay sở, buộc phải để cho đoàn người diễu hành về phía Bờ Hồ. Bài hát “Dậy mà đi” cùng dàn nhạc của cụ Tạ Trí Hải vang suốt dọc đường. Có ai đó nhắc nên đi chậm. Đúng, đi chậm để gây được ảnh hưởng ra xung quanh, vì vào ngày lễ, người xe đi lại khá đông. Những chỗ đèn đỏ, nhiều người đi đường lấy điện thoại ra chụp.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image004.jpg

Gặp lại người quen hôm nay chỉ bắt tay chứ không kịp nói chuyện. Có một số tôi chỉ hơi quen trong những cuộc biểu tình hồi đầu (2011) sau đó không thấy nữa, thì hôm nay lại gặp lại. Có người tôi gặp lần đầu nhưng lại biết tôi, cứ bảo “Tôi/ em vẫn đọc anh đấy”. Nhưng chủ yếu là những người không quen biết. Tức là số mới đi biểu tình lần đầu hôm nay rất đông. Chung một nỗi đau, chung một sự phẫn nộ, mọi người không kể quen lạ đều thấy thân thiết với nhau vô cùng. Tôi để ý một cháu thanh niên cao lớn, gương mặt thư sinh mà rắn rỏi (sau được biết cháu tên là Nguyễn Anh Tuấn, cháu nói nghề nghiệp nhưng tôi quên mất), luôn hô khẩu hiệu cho mọi người hô theo. Khẩu hiệu của cháu chỉ gồm ba câu giản dị và ôn hòa: “Công bố tội phạm”, “Đền bù ngư dân”, “Không được chậm trễ”. Thì ra không cứ phải là người “già dặn kinh nghiệm”, chỉ cần nhận ra vấn đề là có thể có ngay những con người xuất sắc làm nòng cốt.

Ra đến Bờ Hồ, lực lượng “quan sát viên” đa dạng hơn. Tôi tranh thủ hỏi thái độ của họ. Có người giơ tay ủng hộ nhưng mời họ cùng đi thì họ lắc đầu. Có một bác chê dân mình “thiếu bình tĩnh”. Tôi bảo: “Thế nào mới là bình tĩnh, chờ cả gần tháng nay rồi; cá ban đầu chỉ chết ở Hà Tĩnh rồi vào Quảng Bình, rồi vào Quảng Trị, rồi vào Thừa Thiên Huế,… Chờ đến bao giờ nữa, thưa bác?”. Bác ta bảo: “Nhưng mà nó khó”. (Rõ là toàn nghe tuyên truyền một phía). Tôi bảo: “Không đến nỗi khó lắm đâu bác. Chỉ cần lấy mẫu vật đưa về một phòng xét nghiệm hóa sinh, một cử nhân hóa học cũng phân tích ra. Vả lại, rất nhiều dấu hiệu cho thấy thủ phạm là “thằng” Formosa. Muốn biết rõ thì cứ múc tí nước ở cái cửa cống thằng Form này xả ra, phân tích xem có những chất độc gì. Lại múc tí nước ở chỗ cá chết, bất kỳ chỗ nào, tìm xem có chất độc nào giống của thằng Form, thì chẳng lẽ không làm được?”. Bác ấy ậm ừ “biết rồi, biết rồi” và xua tay ra hiệu tôi đi đi.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image006.jpg

Đi ngang qua một ghế đá có ba người, người thanh niên ngồi giữa đang hùng hồn: “Chính phủ cũng kém mà dân cũng ngu”. Tôi dừng lại hỏi: “Chính phủ kém, đồng ý, còn dân ngu, xin hỏi cháu, đó là loại dân nào, dân đang biểu tình kia hay là dân đang ngồi chơi ở đây?”. Cháu ấy không trả lời. Tôi bảo: “Chú hiểu rồi. Dân ngu là dân đang biểu tình, chứ không thể là dân đang ngồi chơi như cháu, đúng không?”.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image008.jpg

  1. Nguyễn Xuân Diện đang làm truyền thông, bên cạnh là GS.VS. Toán học Hoàng Xuân Phú

Có hai sự cố đáng kể:

Một là, LLCN sau hồi ở Nhà hát lớn, còn cố gắng giải tán đoàn biểu tình khi đoàn đã ra gần Bờ Hồ. Họ chăng dây và có những viên an ninh to khỏe đứng nắm giữ nhưng đoàn người bất chấp, người cao thì trèo qua, người thấp chui dưới, cuối cùng đều lọt cả. Tiếp theo họ lại dùng hàng rào người để cản. Nhưng đoàn người cứ “ủn” nhau mà đẩy tới, làm “đứt” phăng hàng rào. Đặc biệt, khi LLCN xông vào bắt một số thanh niên, đã vấp phải sự phẫn nộ hừng hực của đoàn người biểu tình, thế là họ buộc phải buông luôn.

Hai là vụ trùm DLV Trần Nhật Quang đến phá đám. Cuộc thứ nhất, ông Trần Nhật Quang đang ngồi trên xe máy ở một chỗ dừng thì gặp đoàn biểu tình. Có người giơ biểu ngữ cho bác ta xem (như thường làm với tất cả mọi người đi đường), thế là bác ta chửi um lên, rằng “phản động, phản động”. Lời chửi gây chú ý tức thì. Khi phát hiện ra đây là một ông trùm DLV, một ông DLV đầy hăng hái và “có lý luận” thì nỗi phẫn nộ của đoàn người không sao kiềm chế được. Người ta rủa xả thậm tệ và bác DLV này cũng chống đỡ khá “ngoan cường”. Sau công an phải đến giải thoát cho bác ta. Lần thứ hai, lúc trở về Nhà hát lớn, tôi không rõ đầu mối từ đâu. Cuộc này đông người hơn, dữ dội hơn và cuộc “huyết chiến” giữa bác với người biểu tình do không có công an đến giải tán nên diễn ra khá dài và cực kỳ sinh động.

Xin tạt ngang một chút về hiện tượng Trần Nhật Quang (TNQ). Theo dõi hiện tượng TNQ bao giờ tôi cũng nghĩ đến thành ngữ “Bảo hoàng hơn vua”, một thành ngữ chỉ những người ủng hộ, bảo vệ cái gì đó một cách mù quáng. Vua là biểu tượng của bảo hoàng, “tuyệt đối trung thành” với cái ngai vàng của mình. Tuy nhiên, khi hết thời thì nhiều vua cũng biết bỏ ngai vàng để cứu lấy sinh mạng mình, chứ kẻ bảo hoàng hơn vua thì không. Lúc nào nó cũng “tuyệt đối trung thành”; ngoài ông chủ, nó không còn biết cái gì nữa. Vì cái phần bản năng tăm tối của con người đã được những ông chủ khôn ngoan khai thác hết cỡ. Hiện tượng TNQ khiến tôi liên tưởng đến nhân vật Khun trong truyện Vệ sĩ của quan châu của Ma Văn Kháng. Khun là một vệ sĩ tuyệt đối trung thành của quan châu Vàng A Ký. Năm 1954, công an tấn công vào hang ổ của tên trùm phỉ này. Vàng A Ký thế cùng muốn hàng nhưng Khun không nghe và thế là Vàng A Ký đã phải rút súng khử tên đầy tớ trung thành ấy.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image010.jpg

Bác DLV Trần Nhật Quang đang “khẩu chiến” với người biểu tình

Trường hợp của bác TNQ, ở một góc độ khác, thật là đáng thương. Những kẻ đầu độc tinh thần bác, xúi giục bác làm những việc tội lỗi thực ra là những kẻ tỉnh táo, ý thức rõ thật giả, đúng sai, chỉ có bác TNQ là hoàn toàn “tử vì đạo” một cách mù quáng. Có thể nói đây là một ca “hết thuốc chữa”.

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2016/05/clip_image012.jpg

Viên sĩ quan (thấp, áo xám) luôn quan sát và chỉ huy, bên cạnh là viên an ninh (cao lớn, áo xanh) nhận lệnh

Trở lại câu chuyện biểu tình ngày 1-5-2016. Cá và các loại hải sản miền Trung chết được phát hiện từ 6-4-2016, nhân dân đã biết bao lo lắng và sau đó trở thành nỗi bất bình trước sự thờ ơ và chậm trễ của các cơ quan chức năng. Mãi những ngày cuối tháng Tư, các cơ quan chức năng mới vào cuộc. Nhưng vào cuộc theo kiểu ậm ờ cho qua chuyện như kiểu Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nói rằng không được vào khu Formosa), thậm chí có dấu hiệu bao che cho thủ phạm như Bộ Tài nguyên – Môi trường, thì việc bùng phát nỗi phẫn nộ của nhân dân là tất nhiên và rất cần thiết. Đáng tiếc, các cơ quan có trách nhiệm thay vì khẩn trương có biện pháp hữu hiệu thì lại chỉ lo che chắn. Nực cười và nguy hiểm là mới đây một số quan chức của vùng xảy ra thảm họa lại đi diễn trò ăn hải sản và tắm biển! Theo tôi, đây là một trò cực kỳ ngu dốt và vô trách nhiệm. Cái việc trên, có thể một người dân chơi ngông mà làm. Có thể một nhà khoa học vì khoa học, vì cộng đồng mà dấn thân thử nghiệm. Nhưng ở cương vị nhà quản lý thì không thể “chơi ngông” hay “thử nghiệm” như thế. Càng không thể cổ xúy cho toàn dân khi không có một cơ sở nào đảm bảo sự an toàn, trái lại chỉ bằng những kiến thức thông thường đã cho thấy những việc đó sẽ để lại hậu quả cực kỳ nguy hiểm.

Nhân đây xin gửi đến ông Nguyễn Xuân Phúc, tân Thủ tướng Chính phủ, thay vì huy động trí khôn và lực lượng khổng lồ để đàn áp người dân biểu tình, ông hãy nghiêm khắc rút kinh nghiệm và kỷ luật một số trường hợp cần thiết trong bộ máy chính phủ và bộ máy quan chức địa phương; ông hãy huy động tối đa trí tuệ nhân dân, đặc biệt là các nhà khoa học (nước ta không hề thiếu) tham gia cứu trợ thảm họa. Nếu ông làm được như thế thì không những giải quyết được vụ này mà còn làm tiền đề cho cả guồng máy quản trị của chính phủ hoạt động có hiệu quả. Trong vụ việc trên, cần thấy cả khả năng có thể có yếu tố Trung Cộng: biết đâu họ cố tình xúi Formosa xả độc vào đúng thời điểm này để làm mất mặt nội các mới, giáng một đòn chia rẽ cực ác giữa nhân dân và chính phủ để làm trầm trọng hơn nữa tình trạng quốc gia đang hồi suy yếu.

Đ.T.T.

 

 

 

BLOGGER PHẠM THANH NGHIÊN BỊ CÔNG AN ĐÁNH ĐẬP DÃ MAN KHI THAM DỰ BIỂU TÌNH VỤ CÁ CHẾT (CTV Danlambao)

Tháng Năm 3, 2016

 

Blogger Phạm Thanh Nghiên bị đánh đập dã man khi tham dự biểu tình vụ cá chết

CTV Danlambao

5/03/2016 88 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2016/05/blogger-pham-thanh-nghien-bi-anh-ap-da.html#more

 

Blogger Phạm Thanh Nghiên, một cựu tù nhân lương tâm từng bị kết án 4 năm đã bị CA bắt cóc và đánh đập dã man khi chuẩn bị tham dự cuộc biểu tình bảo vệ môi trường vào sáng 1/5/2016 tại Sài Gòn.

Khi đang gửi xe tại bãi giữ xe nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, cô Nghiên cùng chồng là ông Huỳnh Anh Tú bất ngờ bị nhiều kẻ bịt mặt bất ngờ xông đến trấn áp thô bạo.

Những người bị bắt cùng thời điểm còn có bà Dương Thị Tân và các ông Đỗ Đức Hợp, Việt Quân, Nguyễn Hữu Tình…

Trên đây là lời tường thuật của vợ chồng blogger Phạm Thanh Nghiên và Huỳnh Anh Tú về toàn bộ việc.

Video do CTV Danlambao thực hiện.

Blogger Phạm Thanh Nghiên bị đánh đập dã man khi dự biểu tình vụ cá chết

Dân Làm Báo   –   Published on May 2, 2016

https://www.youtube.com/watch?v=U5-1CeMW41w

Blogger Phạm Thanh Nghiên, một cựu tù nhân lương tâm từng bị kết án 4 năm đã bị CA bắt cóc và đánh đập dã man khi chuẩn bị tham dự cuộc biểu tình bảo vệ môi trường vào sáng 1/5/2016 tại Sài Gòn.
Khi đang gửi xe tại bãi giữ xe nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, cô Nghiên cùng chồng là ông Huỳnh Anh Tú bị nhiều kẻ bịt mặt bất ngờ xông đến trấn áp.
Những người bị bắt cùng thời điểm còn có bà Dương Thị Tân và các ông Đỗ Đức Hợp, Việt Quân, Nguyễn Hữu Tình…
Trên đây là lời tường thuật của Phạm Thanh Nghiên về toàn bộ việc. Video do CTV Danlambao thực hiện.

.

Blogger Huỳnh Anh Tú tường thuật vụ bị CA hành hung

Dân Làm Báo   Published on May 2, 2016

https://www.youtube.com/watch?v=RDWc2za8_TE

Blogger Huỳnh Anh Tú tường thuật vụ việc bị CA hành hung hôm 1/5/2015 khi chuẩn bị tham dự cuộc biểu tình bảo vệ môi trường tại Sài Gòn.
Video do CTV Danlambao thực hiện

CTV Danlambao

danlambaovn.blogspot.com

94 Comments

 

 

 

HENRY KISSINGER & TOM HAYDEN, AI LÀ TỘI PHẠM CHIẾN TRANH ? (Nguyễn Việt Nữ – Danlambao)

Tháng Năm 3, 2016

 

Henry Kissinger và Tom Hayden ai là tội phạm chiến tranh?

Nguyễn Việt Nữ

5/03/2016 6 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2016/05/henry-kissinger-va-tom-hayden-ai-la-toi.html

 

Bạn sẽ hỏi do đâu mà có sự so sánh hai nhân vật này: Xin thưa, là từ “The Vietnam War Summit”, và sau khi nghe hết nội dung, độc giả sẽ tìm được thủ phạm.

Ngày thứ ba 26 tháng 4 năm 2016, là ngày Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên, ông Henry Kissinger sẽ thuyết trình. Ngày đó có buổi phỏng vấn riêng có thu âm vì ông ta năm nay đã 92 tuổi rồi, có thể là lần cuối cùng trong đời ông ta nói về Chiến tranh Việt Nam nên ông muốn trả lời hết những câu hỏi về Chiến tranh Việt Nam.

Ông Giám đốc thư viện LBJ Library là Mark Updegrove hỏi ông Kissinger là người được hưởng giải Nobel Hòa Bình mà nhiều người gọi là “tội phạm chiến tranh” vì đã ủng hộ cuộc dội bom bên Miên. (Nobel Peace Prize winner who’s considered a war criminal by many for his support of bombing in Cambodia.)

Ông Kissinger nói: “Tuổi tôi hiện giờ đã trên 90 rồi, tôi từng nghe như thế, nhưng cụm từ ‘tội phạm chiến tranh’ không nên buông xã tùm lum trong cuộc hội luận nội bộ nầy. Xấu hổ quá! Vì nó sẽ dội lại trên những người đã dùng nó. (I’m now in my 90s, so I’ve heard this,” Kissinger said. “I think the word ‘war criminal’ should not be thrown around in the domestic debate. It’s shameful, it’s a reflection on the people who use it.)

Sau khi nói theo kiểu Việt Nam là “Ngậm máu phun người dơ miệng mình

ông Henry Kissinger trả lời thẳng vào câu hỏi:

“Dội bom là giới hạn và cần thiết để quét sạch kho vũ khí của Bắc Việt sát hại nặng nề binh sĩ Mỹ và VNCH..”

Tóm lại trong buổi thuyết trình, ông Henry Kissinger đã nói trong chiến tranh Việt Nam, ông đã cố gắng hết sức mình – để có hòa bình trong danh dự – (I tried to do the best I could). Tôi không hối tiếc về cuộc chiến ở Việt Nam (…). Chỉ tiếc cho sự phải chấm dứt cay đắng… Hội nghị Thượng đỉnh này còn để nhắc nhở chúng ta đối phó với sự chấm dứt ấy cách nào?” (Kissinger expressed no regrets about Vietnam… But it was a bitter ending…. The summit reminded us how we’re still dealing with the ending.)

Tom Hayden (chồng cũ của Jane Fonfa) trên trang Web của nhà chống chiến tranh Việt Nam chuyên nghiệp này, xuất hiện bố cáo: “Cá nhân tôi đã làm nhiều chiến dịch hòa bình để đến đây chờ nghe lời hối tiếc và xin lỗi của Dr. Kissinger trong hội nghị thượng đỉnh này để hòa giải nội bộ. Nay mất dịp đó rồi, tôi phải từ chối lời mời dự buổi tiệc chiều ngày 26 tháng 4 với Dr. Kissinger” (Tóm tắt theo báo American-Statesman Thursday, April 28, 2016 “Austin summit proves Vietnam War still provocative” của Herman).

*

Chúng ta sẽ là người xem những sự nghiệp vì hòa bình của cặp Tom Hayden và Jane Fonda so với ông Kissinger ai phải xin lỗi ai? Ai phải hối hận hơn ai? Ai là “tội phạm chiến tranh”?

  1. Nixon—Kissinger oanh tạc Cambodia

Trong quyển “No More Vietnams” (xuất bản năm 1988) tác giả Richard Nixon đã viết khá dài việc oanh tạc xứ Chùa Tháp và kết quả. Chuyện Nixon làm dĩ nhiên có ý kiến Kissinger vì ông ta là Cố vấn An ninh quốc gia và sau là Ngoại trưởng của Nixon.

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/05/f74b6-henry.png

Henry Kissinger

Sách có nhiều chi tiết về cuộc oanh tạc nầy mà đa số ta chưa hề biết. Nên chúng tôi xin trình bày luôn vì liên quan đến chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến kéo dài nhất của Hoa Kỳ mà đến nay cả thế giới vẫn còn hiểu lầm.

Những chủ đề hay gạch dưới do chúng tôi đặt ra để dễ chú ý. Nhiều đoạn chỉ dịch nghĩa thôi để rút ngắn. Xin quí vị thông cảm.

  1. Lý do Nixon dội bom sang Miên trong Chiến tranh Việt Nam

Khác với quân đội Pháp chiến đấu để ở lại Việt Nam, chúng tôi chiến đấu để từ từ rút ra khỏi nơi đó. Vì chiến lược mới là rút quân Mỹ hoàn toàn mà vẫn đạt mục đích chúng tôi đã chiến đấu ở Việt Nam 4 năm qua. [thời LB Johnson].

Chúng tôi rút hết quân nhưng vẫn giữ trọn trách nhiệm với đồng minh Nam Việt Nam, nên chúng tôi vẫn chiến đấu cho tới khi nào Bắc Việt ngồi vào hội đàm Paris bàn chuyện hòa bình một cách công bằng và danh dự; hoặc cho tới khi nào chính phủ Miền Nam Việt Nam mạnh có thể tự bảo vệ chính mình. Tùy cái nào tới trước.

Tháng 2, 1969 khi chúng tôi có cuộc hội đàm tại Paris để tìm sáng kiến hòa bình mới để dò xem phản ứng của Hà Nội thế nào thì Bắc Việt phát động nhiều đợt pháo kích dã man vào miền Nam.

Tuần lễ đầu Bắc Việt giết chết 453 quân nhân Mỹ, tuần thứ nhì 336 người, tuần thứ ba 331. Còn quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị giết trung bình 500 người mỗi tuần.

Bắc Việt còn bạo ngược tấn công thẳng vào vùng phi quân sự và nã rocket vào Sài Gòn. Đối phương quả thật đã khiêu khích trắng trợn để thử thách.

Cho nên tôi thấy một sự trả đũa là cần thiết. Đầu tiên là tái oanh tạc Bắc Việt để họ liệu nghĩ lại mà đừng tấn công miền Nam nữa; nhưng lại vướng phải lệnh ngưng dội bom trước đây của TT Johnson.

Rồi lại thổi lên lớp người phản chiến, sẽ hủy hoại nỗ lực đem lại sự gần nhau của đất nước chúng tôi vốn có kế hoạch vì hòa bình.

Nên tôi quyết định chọn sự đoàn kết quốc nội nặng hơn sự trả đũa thẳng vào Bắc Việt.

Vì vậy ý kiến thứ hai là dội bom vào kho vũ khí của Hà Nội đặt trên đất Miên dọc theo ranh giới Nam Việt Nam.

Cambodia là đất nước theo qui chế trung lập. Mỹ tôn trọng, còn Bắc Việt thì vi phạm. Vì từ năm 1965, họ xử dụng vùng này để đem hàng loạt loại vũ khí vào dự trữ, đuổi chính dân Miên khỏi đất đai họ vì sợ tiết lộ chuyện vi phạm. Họ dùng hải cảng thành phố Shihanoukville chuyên chở hàng tấn vũ khí đạn dược vì họ biết rằng đất đó được “miễn” tấn công.

Được 4 năm thong thả trên đất người như vậy, cứ chở dụng cụ giết người tới chất cho đầy rồi chạy trốn vào vùng an toàn nào đó của họ trong rừng rậm Cao Miên. (No More Vietnams, tr.106—108)

  1. Mỹ oanh tạc Cambodia là do Norodom Sihanouk yêu cầu

Tôi đã đến Nam Vang năm 1953 và đã có trò chuyện lâu giờ với Quốc vương Norodom Sihanouk. Ông vốn tánh hay xoay chiều tùy tình hình, là một người thông minh, một chính khách tùy thời cơ để sống.

Những gì ông Vua Sihanouk làm, hay có thể làm hình như chỉ tùy tình hình Việt Cộng. Rất nhiều năm ông nhượng bộ Bắc Việt vì thấy họ là đại diện cho bên sẽ thắng trận… nên làm ngơ để cho kho vũ khí và bộ đội Hà Nội đầy trên đất Miên. Rồi bây giờ nhìn sang Hoa Thịnh Đốn để nhờ “giải phóng” giùm.

Đầu tiên là vào tháng Giêng 1968, Sihanouk nhờ một nhân vật thân cận của TT Johnson chuyển lời với Tổng thống rằng:

“Chúng tôi không muốn một đứa Việt Cộng nào ở trên nước Miên. Xin đuổi chúng ra để giải phóng chúng tôi. Sẽ không có sự phản đối nào từ chúng tôi khi quí Ngài săn đuổi chúng ra khỏi Cambodia cả”. 

Nên trong một cuộc họp báo tháng 12 năm 1967, Quốc vương Sihanouk trả lời phỏng vấn viên rằng ông ta “chấp thuận cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa được quyền hành quân trên lãnh thổ ông để ruồng bố quân đội Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra khỏi đất nước ông miễn đừng làm hại gì đến nhân dân ông” (No More Vietnams, tr.108, 109)

III. Lý do phải dội bom bí mật

Khi dội bom căn cứ quân sự Bắc Việt ở Miên vào tháng 3 năm 1969, Nixon nói: “Chúng tôi tính toán theo tiêu chuẩn đó” vì biết Sihanouk cũng chuẩn thuận hành động này, nhưng cũng biết ông ta không thể công khai xác nhận vì hai lẽ: Sợ vi phạm nguyên tắc Trung lập, thứ hai là sợ sự nguy hiểm bị trả đũa của Bắc Việt. Nên Sihanouk chọn cách làm thinh.

Cho nên Nixon tiến hành cuộc dội bom bằng cách bí mật, vì nếu công khai tuyên bố, thì Sihanouk sẽ buộc lòng phải lên tiếng phản đối, dân Miên phản đối…, làm chúng tôi phải ngưng dội bom. Vì vậy chúng tôi phải tiến hành bí mật.

Trận bom đầu tiên ngày 18 tháng 3, 69 đã được kết quả vô cùng lớn lao. Báo cáo về Tổng Thống rằng một trận bom mà có kết quả như hai trận, vì dội nhằm giếng dầu, đếm được tới 73 giếng bừng cháy đỏ và nổ rền trời, tăng thêm 5 lần cường độ nơi vùng bị dội bom.

Tại Paris, phái đoàn Hà Nội phản ứng ngay: lập tức chấp nhận hòa đàm riêng rẽ (a session of private talk)

– Chúng tôi chuẩn bị tự bảo vệ nếu có ai chống đối công khai trước công luận. Không có ai cả. Hà Nội không dám, vì mấy năm nay họ đều phủ nhận sự hiện diện quân sự trên xứ Miên. Còn Sihanouk thì như dự đoán, là sẽ im lặng.

Tháng 4 và 5/69 còn thêm trận bom nữa xuống 5 dặm của vùng ranh giới miền Nam, nơi bị kẻ thù chiếm đóng.

Luật của Tòa Bạch Ốc là chuẩn thuận hành động của Tổng thống chỉ cho tới tháng 8/1969 nhưng đòi hỏi phải xin phép cho mỗi tần tấn công. Cho nên tôi chuyển việc nầy cho vị chỉ huy tại mặt trận làm.

Bị cạn kiệt nhiên liệu, vật liệu chiến đấu bởi những trận bom đều đặn, Hà Nội phải ngưng tấn công miền Nam. Việc làm bí mật nầy đã tiết kiệm biết bao sinh mạng chiến sĩ chúng tôi và cho tôi đủ thì giờ thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh”

Vào tháng 5/69, việc bí mật nầy được tiết lộ ra. Sihanouk phản ứng bằng cách cho hiểu rằng ông ta bằng lòng với việc tôi đã làm. Bằng trả lời với báo chí trong buổi họp báo rằng: “Nè, nè, đầu tiên nghe báo cáo vài chiếc B-52 đi dội bom, nhưng tôi không hề được báo trước gì cả, bởi tôi không bị mất gì cả, không mất nhà nào, không mất người dân nào cả… Không mất gì hết, không mất gì… Nếu có một con trâu hay một người Miên nào chết, tôi là người đầu tiên phải được báo trình tức khắc… Nhưng vì đó là vấn đề của Hoa Kỳ và Việt Cộng- Mình không hề có người Miên nào làm chứng cả… Vậy làm sao tôi phản đối”? (No More Vietnams, tr.109, 110)

  1. Dội bom bí mật có phạm Hiến Pháp Mỹ hay Công pháp Quốc Tế không?
  1. Hiến Pháp Hoa Kỳ: Sau này có vài chỉ trích rằng đó là Tổng thống đã lạm quyền. Nhưng Richard Nixon có ý kiến rằng không có văn kiện nào nói về tội lạm quyền đó. Hiến Pháp không cấm Tổng thống với tư cách một của một Tổng Chỉ huy Quân đội oanh tạc vùng kẻ địch dùng làm căn cứ để tấn công người Mỹ và đồng minh của mình.

Quốc hội được tham vấn về sự cần thiết phải giữ bí mật. Hai Thượng Nghị sĩ Richard Russel và John Stennis là Chủ tịch và thành viên Ủy ban Quân vụ Thượng viện được thông báo và chấp thuận.

Duy nhất chỉ có cựu Tổng thống Eisenhower là nhân vật nằm ngoài chính phủ lúc ấy tuy bệnh nặng đang nằm điều trị tại bệnh viện Walter Reed Hospital cũng được Nixon tìm đến để tham vấn.

Khi nghe hết kế hoạch nầy, cựu Tổng thống Eisenhower cũng mạnh mẽ ủng hộ chương trình này.

* (Chúng tôi thêm: Nixon từng có 8 năm làm Phó Tổng thống của Tổng thống Eisenhower (1953-1961). Sở dĩ Nixon đặc biệt tham khảo người ngoài chánh phủ về một vụ quân sự bí mật quan trọng như vậy vỉ Dwight David Eisenhower vốn là một vị tướng 5-sao trong Lục quân Hoa Kỳ lại từng phục vụ với tư cách là Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh tại châu Âu thời Đệ nhị Thế chiến. D.D Eisenhower cũng có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước Pháp và Đức năm 1944–45 từ mặt trận phía Tây. Năm 1951 còn là Tư lệnh tối cao đầu tiên của khối NATO.)

  1. Không vi phạm Luật Quốc tế 

Vì đúng là bất hợp pháp nếu dội bom trên một quốc gia Trung lập.

Nhưng trung lập là đứng giữa, không ngả về một bên nào trong hai phe đối lập Theo Công ước Hague năm 1907 thì “Một quốc gia trung lập có bổn phận không được để lãnh thổ mình bị dùng bởi một phe đối lập. Nếu quốc gia trung lập không muốn hay không thể làm gì để chấm dứt vụ việc nầy thì bên đối lập kia được quyền dùng biện pháp thích ứng để chấm dứt

Rõ ràng Bắc Việt đã dùng đất Miên làm căn cứ chứa quân đội và quân cụ để tấn công phía đối lập kia là Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa. Thì tức nhiên Mỹ và đồng minh VNCH có quyền oanh tạc quân lực, quân nhu Bắc Việt tích – trữ trên lãnh thổ trung lập Cambodia.

Nên giữa năm 1969, tức tháng June, trong một buổi họp báo, Sihanouk phàn nàn với các phóng viên rằng Hà Nội có đông nghẹt bộ đội tại một tỉnh miền Bắc Cao Miên y như tỉnh nầy là lãnh thổ của Bắc Việt vậy.

Than phiền công khai như thế chứng tỏ Sihanouk biết tội lỗi là từ Bắc Việt trước chứ không phải từ Hoa Kỳ. Lại còn một chuyện nguy hiểm khác cho dân tộc Miên là đất nước ông bị đe dọa lôi kéo vào chiến tranh.

Cho nên chỉ một tháng sau, Sihanouk mời Nixon thăm Cambodia, là mốc thời gian cải thiện liên hệ giữa hai quốc gia. (No More Vietnams, tr.110, 111)

  1. Mặt nạ Hòa Bình diễn tuồng Chiến tranh của Hồ Chí Minh

Trong khi làm áp lực quân sự như vậy, Nixon không quên mặt trận ngoại giao: ngày 20 tháng 12 năm 1968 Nixon gởi Hà Nội một bức thư qua Jean Sainteny (người rất thân với Hà Nội mà Nixon gặp ở Pháp từ 1965), tỏ ước muốn rằng Mỹ muốn có một thương lượng công bằng [cho VNCH nơi hòa đàm Paris].

Nhưng không nhận được hồi âm nào… Nixon phải vận động ngoại giao với cả chục lãnh tụ quốc gia khác nữa về Việt Nam. Một bức thứ hai kêu gọi hòa bình cũng nhờ Jean Sainteny chuyển thẳng cho Hồ Chí Minh. Được Hồ trả lời ngày 25 tháng 8 năm 1969 với giọng khiến Nixon biết những công lao vận động cho hòa bình của mình trở thành vô ích: Hồ Chí Minh bác bỏ điều khoản hòa bình của tôi và đòi hỏi “chúng tôi phải đơn phương rút quân và lật đổ Tổng thống Thiệu khi chúng tôi ra đi…

Nhưng ngày 3 tháng 9, Hồ Chí Minh chết. *[CS công bố ngày nầy, 20 năm sau mới nhìn nhận là Hồ chết ngày 2 tháng] Vài quan sát viên nghĩ có thể người thừa kế sẽ thân thiện hơn Hồ để chấm dứt chiến tranh bằng hòa đàm. Nhưng họ sai. Lãnh đạo miền Bắc đổi nhưng chính sách của họ không thay đổi. (No More Vietnams, tr.111, 112) (Hết trích)

Rõ ràng chưa? Mặt nạ Hòa Bình để lừa gạt thế giới, Hồ Chí Minh gần chết vẫn chưa chịu lột xuống. Vậy thì chúng ta, hải ngoại và quốc nội, hãy cùng nhau lột mặt nạ Hồ gian hùng!

  1. Tom Hayden

Tom Hayden là người Mỹ sáng lập phong trào “Student for Democratic Society” hay SDS. Phong trào Free-speech moment (FSM) Rồi nhóm Weather Underground. Lập chiến dịch Hòa Bình Đông Dương (IPC=Indochina Peace Campaign) mà sau này ông ta là Dân biểu Quốc hội California.

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/05/27b20-tom.png

Tom Hayden

Tom Hayden và tổ chức FSM, Weather Underground của ông ta nổi dậy cùng đám sinh viên đại náo các đại học, như Đại học San Francisco, Berkeley ở miền Bắc California để đòi Free-speech là tự do ngôn luận, tức giáo sư được tự do dạy cả thuyết Mác-Lê để sinh viên hiểu!

Nên tai Đại học Berkeley, kêu gọi sinh viên hãy thể hiện tinh thần Xã Hội Chủ Nghĩa Berkeley (Create a soulful Socialism in Berkeley) bằng cách chiếm chiếm sân trường và vùng phụ cận làm “People’s Republic of Berkeley” hay là “People’s Parks”, còn lập cả “Mặt Trận Giải Phóng tại Berkeley” v.v…

Nhưng sự thật là nơi tập trung đám tuổi trẻ hippy, đông đảo bọn xì ke ma túy, sex, đập lộn nhau v.v…

Ban trật tự Đại học, Cảnh sát thành phố can thiệp để giải tán chẳng những không được mà Cảnh sát còn bị bao vây lại bởi mấy vòng sinh viên “Quậy” nữa chớ!

Tình trạng như đám giặc cướp phá như vậy kéo dài mấy tháng trời.

Đến đổi trong sách “REUNION” của Tom Hayden cũng viết rằng từ mùa thu 1968 tới mùa xuân 1969 (Tức thời gian LB Johnson và Nixon oanh tạc Miên) đã có 6 trận đụng độ lớn ngoài đường phố khiến 2000 người bị bắt, 150 sinh viên Berkeley bị đuổi học, 40 ngày bị vây bởi Cảnh Sát các thành phố lân cận kéo tới. [Hayden đổ lỗi cho Cảnh sát bao vây sinh viên!)

Tổng Thống Ronald Reagan lúc ấy là Thống Đốc California. Tom Hayden viết: Ngày 5 tháng 2, 1969 Reagan phải đặt toàn thể tiểu bang trong “tình trạng tối khẩn cấp” mà báo chí châm biếm là một “lệnh khẩn cấp” để “Chấm dứt chiến tranh du kích” (End guerrilla war).

Thật vậy, đám giặc du kích ấy phá hoại học đường đến đổi Thống Đốc Ronald Reagan phải dùng phi cơ trực thăng chở cả trên 200 Vệ Binh Quốc Gia xịt hơi cay xuống để giải tán.

Mà phải như vậy trong bao lâu? Tom Hayden trả lời: 22 ngày của National Guard; 5 tháng ban hành “Extreme emergency” của Reagan. (REUNION, tr. 330, 331, Tom Hayden)

– Trong sách, Tom Hayden khoe đã cùng với chủ tịch Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ là Herbert Aptheker đến Miên năm 1965, để nhận tù binh Mỹ do Mặt Trận Giải Phóng thả ra qua ngã Miên.

– Nhóm Weather Underground có Đảng Cộng Sản Maoist tên là Black Panther Party, có khủng bố nội địa Bill Ayers và vợ là Bernardine Dohrn đặt bom phá hoại hàng trăm cơ sở Cảnh Sát, Công thự, v.v… bị FBI liệt vào danh sách “Most wanted” có hình ảnh dán khắp nơi để truy tìm.

Tom Hayden có liệt kê những tên này trong tác phẩm REUNION. Sách nầy còn kê khai công tác của cả trăm nhân vật khác nữa.

– Tom Hayden cũng có tên trong Liên minh để vận động ngừng tài trợ ngân sách cho chiến tranh (Coalition to Stop Funding the War.)

Chỉ vắn tắt như vậy chắc quí vị trả lời câu hỏi “Kissinger và Tom Hayden ai là tội phạm chiến tranh?”

Dài quá rồi, xin hẹn trình tiếp chuyện “The Vietnam War Summit” kỳ sau.

Mùa Quốc Hận Thứ 41

Nguyễn Việt Nữ

danlambaovn.blogspot.com

6 Comments

 

 

 

TẬN CÙNG CỦA SỰ NGU XUẨN (Thạch Đạt Lang – Danlambao)

Tháng Năm 3, 2016

 

Tận cùng của sự ngu xuẩn

Thạch Đạt Lang

5/03/2016 37 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2016/05/tan-cung-cua-su-ngu-xuan.html#more

 

Bàn đến những lời nói dốt nát, ngu xuẩn của các lãnh đạo cộng sản Hà Nội thì đã có quá nhiều người đề cập tới, trở thành như chuyện thường ngày ở huyện. Tuy nhiên từ trước đến nay, người dân Việt Nam thường chỉ thấy lãnh đạo CS biểu lộ sự ngu dốt, xuẩn động của họ qua lời nói, ít ai thấy họ hành động như đã tuyên bố.

Tuy nhiên vừa qua, biến cố cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung đã tác động không ít đến tư duy (ngu dốt, xuẩn động) của các cán bộ lãnh đạo CS, biến những tư duy này không những chỉ trở thành lời nói mà còn thành hành động.

Hành động ngu xuẩn đầu tiên là của các lãnh đạo trong ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, từ chủ tịch Huỳnh Đức Thơ đến phó chủ tịch, trưởng phòng, sở… các cái ra bãi biển Đà Nẵng tắm, sau đó làm việc và ăn cá nục hấp ở cảng cá Thọ Quang.

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/05/70a11-tam.jpg

Ông Nguyễn Điểu – giám đốc Sở TN&MT Đà Nẵng tắm biển sáng 30-4 – Ảnh: Hoàng Khánh Hưng

Tương tự như đồng chí (và đồng rận) Huỳnh Đức Thơ, giám đốc (đốc chứ không làm) sở Tài Nguyên & Môi Trường tỉnh Hà Tĩnh Võ Tá Định đã cùng nhân viên trong sở (anh dũng) đi tắm ở bãi biển Thiên Cầm, tắm xong các “ngài” vào nhà hàng đớp hải sản (tươi sống) tại chỗ.

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/05/0efb6-lanhdao.jpg

Dàn lãnh đạo chủ chốt của Đà Nẵng cùng xuống “tắm biển”. Ảnh Báo Giao Thông

Những hành động (can đảm) chỉ thua (anh hùng) Lê Văn Tám (một sợi tóc) này được báo chí lề phải trong nước như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VOV… chụp hình, loan tin đưa lên báo mạng khen nức nở khiến nhiềungười nhẹ dạ hoan nghênh (quá cỡ thợ mộc).

https://ngoclinhvugia.files.wordpress.com/2016/05/72fc3-lanhdao1.jpg

Tắm xong các “ngài” vào nhà hàng ăn hải sản (tươi sống) tại chỗ. Ảnh Zing

Không nói đến chuyện hình ảnh có thể được lắp ráp bởi photoshop, so sánh 2 bản tin nói về Huỳnh Đức Thơ và Võ Tá Định, người ta có thể thấy rõ giám đốc sở Tài Nguyên & Môi Trường Hà Tĩnh Võ Tá Đinh khôn ranh, láu cá vặt hơn chủ tịch UBND Đà Nẵng Huỳnh Đức Thơ, bởi ông Đinh đi tắm biển ở Thiên Cầm nằm về phía Bắc và tương đối xa thị xã Kỳ Anh, trong khi dòng thủy triều nhiễm chất độc từ Formosa chảy xuống phía Nam.

Hơn nữa nước biển, dù nhiễm độc hay chứa kim loại nặng thì những chất này cũng không thấm nhanh qua da. Chất độc hay kim loại nặng trong nước biển chỉ thấm nhanh qua đường ruột, phổi, mang, tức là đường hấp thụ oxy để đi vào máu. Thí nghiệm của VTO cho thấy cá chết chỉ trong hai phút bơi trong nước biển lấy ở Vũng Áng chứng minh điều đó vì cá thở bàng mang, nước biển đi qua mang, được lọc lấy oxy rồi thải ra ngoài.

Ngâm mình vào trong nước nhiễm độc hay kim loại nặng với nồng độ nhẹ vài ba phút để chụp hình sẽ không có khả năng nguy hại nếu ngay sau đó tắm lại bằng nước tinh khiết. Trường hợp có cũng khó phát hiện được ngay, phải chờ thời gian, có thể là vài năm hay cả chục năm sau mới thấy được triệu chứng, ảnh hưởng.

Tuy nhiên nếu nồng độ nhiễm độc chất cao, ngâm người lâu trong nước thì chất độc sẽ thấm qua da và có ảnh hưởng nhanh hơn, nhưng cũng không thể làm chết hoặc có dấu hiệu tổn thương ngay.

Do đó hình ảnh tắm biển, ăn cá hấp, hải sản của các lãnh đạo CS ở Đà Nẵng, Hà Tĩnh có là thật đi nữa thì những hành động đó cũng chỉ nói lên nếu không gian manh thì là sự ngu xuẩn tột cùng của họ.

Làm người dân bình thường mà ngu xuẩn thì cũng chỉ chết một mình hoặc nhiều lắm thêm một số ít người chung quanh. Làm lãnh đạo mà ngu xuẩn thì chết cả dân tộc.

Sự ngu dốt và xuẩn động đó sẽ có tác hại rất nhiều vì người dân, nếu nhẹ da tin theo họ mà tắm biển lâu hay ăn cá nhiễm chất độc sẽ bị hậu quả khó lường.

Đà Nẵng, Hà Tĩnh đều có sở Tài Nguyên & Môi Trường, những cán bộ, chuyên viên, tiến sĩ, kỹ sư của nơi này sống bằng tiền thuế của dân, đã làm gì trong gần một tháng qua mà không có được một báo cáo về phân tích, thử nghiệm nước nơi cá chết để đến nỗi ông chủ tịch UBND và giám đốc sở TN&MT phải chứng minh nước biển sạch, an toàn bằng những hành động anh hùng rơm được dàn dựng, đạo diễn khéo léo?

Nếu các ông Huỳnh Đức Thơ, Võ Tá Định thật sự muốn chơi đẹp, chứng tỏ bản lãnh của lãnh đạo, hãy đến ngay vùng biển có cá chết ở Vũng Áng, ngâm mình trong nước 30 phút cho người dân chài ở đó mãn nhãn, đồng thời thưởng thức hải sản của người dân vừa đánh bắt.

Còn không thì nên dẹp ngay cái trò xúi trẻ ăn cức gà bằng những hình ảnh mị dân hay những lời dao to, búa lớn như định vị khu vực cá ngư dân đánh bắt được hoặc kiểm tra cá sạch đóng 3 con dấu của sở y tế, nông nghiệp, công thương.

Ngư dân đi biển làm sao có được những dụng cụ hải hành tân tiến, bản đồ để có thể báo cáo chính xác vùng biển đánh bắt cá? Rồi cán bộ đâu để kiểm soát, định vị ngư trường của người dân? Có điều gì bảo đảm cán bộ của 3 sở y tế, nông nghiệp, công thương không ăn hối lộ để đóng dấu cá không chết vì nhiễm độc?

Xin các ông đừng đùn đẩy, bán cái cho nhau bằng những lý luận vớ vẩn, những biện pháp chắp vá, những hứa hẹn mơ hồ không biết bao giờ thực hiện và có thực hiện được hay không.

Đã gần một tháng trôi qua từ ngày biến cố xảy ra, chẳng những trong tứ đầu chế gồm Phúc, Quang Trọng, Ngân, 3 người đã trốn biệt không thấy tăm hơi, chỉ còn lại Xuân Phúc thỉnh thoảng ló ra, thụt vào như cái đầu rùa mà ngay cả 500 ông bà nghị (gật) “cuốc hội” khóa 13 cũng bốc hơi không kèn, không trống. Chẳng thấy ông bà nào ló mặt ra đến vùng biển có cá chết, thăm hỏi dân tình, tìm hiểu sự việc.

Chưa có một công bố kết quả chính thức nào về một việc chỉ cần 24-48 tiếng đồng hồ là kiểm nghiệm, phân tích nước tại vùng biển ở những nơi cá chết cũng như nguyên nhân gây ra.

Những tuyên bố rời rạc, chòng chéo nhau, những phản ứng yếu ớt với công ty Formosa, những lời hứa rỗng tuếch sẽ thế này, sẽ thế kia… và những trò hề tắm biển, ăn hải sản để xoa dịu lòng dân, cho họ yên tâm đã chứng tỏ thái độ hèn hạ và sự ngu xuẩn tột cùng của các lãnh đạo chế độ CSVN với vấn nạn đất nước.

Thạch Đạt Lang
danlambaovn.blogspot.com

37 Comments

 

 

 

CÁ CHẾT, RỒI CỘNG CŨNG CHẾT (Bảo Giang – Danlambao)

Tháng Năm 3, 2016

 

Cá chết, rồi Cộng cũng chết

Bảo Giang

5/02/2016 20 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2016/05/ca-chet-roi-cong-cung-chet.html#more

 

Hôm nay cá chết trắng bờ.

Ngày mai cộng sản đến giờ chết theo!

Lúc đầu, tôi không có ý định viết về chuyện cá chết tràn ở bờ biển Hà Tĩnh – Nghệ An, dù rằng, nó đã và đang làm tổn hại đến đời sống thường nhật của người dân. Tôi không muốn viết gì chỉ vì cái gai nhọn, cái xương cá ngác cắm ngập vào cổ người dân mình là Hồ Chí Minh, là cái tập đoàn lãnh đạo của nó. Với những cái vảy như Võ tuấn Nhân, Trần hồng Hà… thì đáng gì để mà nhắc tới. Nhưng rồi, tôi phải viết. Viết vì nỗi thống khổ của người dân đang bị lớp vảy cá đáng ghê tởm kia gây thêm nhiều bất hạnh. Viết vì nó lại trùng hợp với những ngày tháng 4 đen của 41 năm về trước.

  1. Điểm lại đôi nét vào những ngày đầu tháng 4-1975.

– Từ 10/3 – 13/3: CS đánh Ban Mê Thuột.

– Ngày 14/3: rút quân từ cao nguyên về duyên hải.

– Ngày 16/3 đến ngày 1/4: Triệt thoái khỏi Pleiku, Kontum. Máu quân dân miền Nam ngập các tuyến đường 7,9, 10 vì những cuộc pháo tràn, pháo dập của cộng quân đuổi theo sau. Người ta sẽ không bao giờ có thể thống kê được số nhân mạng của quân dân miền Nam đã chết trên quãng đường chạy loạn này.

– Ngày 24/3: TT. Hoa Kỳ Gerald Ford tuyên bố tại đại học Tulane, Louisiana: “Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc đối với Hoa Kỳ”. Tin này gây chấn động cho miền Nam Việt Nam. Và cùng ngày 24/3 CS Bắc Việt ra lệnh tổng tấn công.

– Ngày 25/3: TT Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút lui khỏi Huế. Hàng triệu đồng bào không quên thảm cảnh Tết Mậu Thân đã ùn ùn kéo nhau di tản về Đà Nẵng ngang qua đèo Hải Vân. Rồi Máu người dân chạy loạn loang đỏ ở Tư Hiền, Đà Nẵng, Nha Trang… vì pháo của cộng quân ập theo sau. Không ai, không một sổ sách nào có thể kiểm tra được danh tánh cũng như số nhân mạng đã bị chết chìm trong thảm nạn Cộng quân bắn tràn trên đường lộ hay ra cửa biển. Thảm nạn còn tệ hơn đại lộ kinh hoàng vào năm 1972.

– Ngày 21 tháng 4: rút bỏ Xuân Lộc, vòng đai phía Đông Sài Gòn bỏ ngỏ…

– Ngày 30-4-1975, vào khoảng 9 giờ 30 trận chiến cuối cùng ở ngã tư Hàng Xanh. Khoảng 10giờ 30 Sài Gòn rơi vào tay cộng sản.

Ngày 1-5- 1975. Miền tây, vùng IV vĩnh biệt những Danh Tướng vì Tổ Quốc… Sông nước Việt Nam từ đây rơi vào vòng tay của tập đoàn cộng phỉ bắc việt. Câu chuyện này là bài học đắng cay ngàn đời cho Việt Nam. Tại sao? Câu trả lời chính là cuộc sống của người dân sau 41 năm.

  1. Chuyện sau ngày Việt cộng nhuộm đỏ Sài Gòn.

Ở trên là những giờ khắc định mệnh tang thương của dân tộc Việt Nam, nơi bị nhuộm đỏ bằng máu và nước mắt cách nay đúng 41 năm. Nay nhìn lại, sự bất hạnh cho dân tộc Việt Nam từ giờ phút ấy không phải chỉ là những xác chết vì tầm pháo và mã tấu của Việt cộng gây ra. Nhưng chính là những cuộc pháo cuồng của tập đoàn này đã làm cho tan tành ước mơ Tự Do, Độc Lập, Hòa Bình và Công Lý của người Việt Nam. Dĩ nhiên, nỗi bất hạnh ấy chưa phải là cái đoạn kết mà tập đoàn cộng sản dành cho người Việt Nam. Nó mới chỉ là đoạn mở đầu trong chương xin làm nô lệ cho Tàu cộng theo sách lược của tập đoàn bán nước Hồ chí Minh đang mở ra. Nó mở ra với nhiều thảm nạn cho dân tộc Việt Nam như:

  1. Tiêu diệt cuộc sống và nhân sinh quan Tự Do, Độc Lập của dân tộc:

Sau ngày cộng sản chiếm Sài Gòn là cảnh hàng trăm ngàn sỹ quan, công chức của Việt Nam, Những người suốt đời, thậm chí lấy máu xương bảo vệ Tự Do, hoài bão Độc Lập, Tự Chủ của dân tộc Việt Nam bị Việt cộng ôm súng của Tàu Nga, lùa, càn, đưa vào trong các nhà tù nơi rừng hoang nước độc, không một tiện nghi để sống. Kế đến, là hàng triệu triệu người dân bị chúng truy đuổi ra khỏi thành phố để chúng cướp lấy nhà, lấy tài sản của họ. Rồi hàng triệu, triệu người bỏ nhà bỏ cửa ra đi tìm Tự Do. Hàng trăm ngàn người đã không bao giờ tới bến ước mơ và cũng không có cơ hội quay về nhà. Hàng triệu người khác lại vào tù. Khi ấy, nhìn vào cuộc sống là nỗi bi thương, khốn cùng. Ngó lên, nỗi uất nghẹn sau cùng giết chết cuộc sống của toàn dân Việt là cái lá cờ đỏ của Phúc Kiến lơ láo được chúng treo lên trên bầu trời Việt Nam. Từ đó, chúng gọi là giải phóng. Nghĩa là, người Việt Nam từ đây được giải phóng khỏi cuộc sống Tự Do, Độc Lập, Công lý và Ấm No, Hạnh Phúc, rồi được thay thế theo bối cảnh làm nô lệ cho lá cờ Phúc Kiến của tập đoàn cộng sản bắc Việt.

  1. Công bố sách lược trong ý thức cộng sản:

Trong khi người Việt Nam còn bàng hoàng vì cuộc sống bước vào vòng nô lệ. Từng đoàn xe Môlôtôva của cộng quân vội vàng vào Nam và vơ vét đem về miền Bắc tất cả những gì chúng có thể vơ vét được. Nhỏ thì từ cái đinh, cái bát ăn cơm, miếng ván, tấm tôn. Lớn thì như ranh ngôn chúng loan truyền cho nhau là: Điện Đài Đá Đổng Đạp… Khi ấy, các đoàn đảng viên cán bộ Cộng sản từ trung ương cho đến địa phương rỉ tai nhau: Nhớ đấy, trong tay chưa có điện đài đá đổng đạp của miền Nam thì chưa thể thành đồng chí của bác!

Kết quả, sách lược “cướp của người làm của ta” của cộng sản đã tạo nên một cuộc “Đại thắng Mùa Xuân” ở miền Nam. Người dân Nam Việt ngơ ngác rồi kinh hoàng vì những chuyến xe chở hàng từ Nam ra Bắc trong tiếng cười ngạo nghễ của những hàm răng bừa, được che úp một nửa bởi cái mũ cối! Khi viết, nhắc lại câu chuyện này, tôi không muốn mỉa mai, khinh miệt ai. Nhưng muốn dùng những sự kiện này để chứng mình đây không hẳn là hành động của cá nhân nào, nhưng chính là việc muốn vạch trần ra sách lược “cướp của người là của ta” của cộng sản. Một sách lược do họ chủ trương và thực hiện tại miền nam và sau này nó trở thành sách trị quốc của chúng. Sách lược này, lẽ dĩ nhiên, nó đã và sẽ tồn tại cho đến khi nào cái chủ nghĩa này bị loại trừ ra khỏi xã hội.

Trước những cảnh cướp giựt này, anh em tôi hoang mang hỏi bà cô vừa vào từ miền bắc (tháng 7-1975). Cô tôi bảo: “Thế đã ăn thua gì? Khéo mà cái quần phơi chưa khô cũng đã bị chúng lấy mất”. Anh em tôi phì cười. Cô tiếp: “Nếu mà phải nhốt, thì nhà tù đâu mà chứa. Từ các văn phòng, các của hàng các hợp tác xã, từ nha phủ bộ trở xuống sẽ không có một kẻ nào thoát lưới! Nhà đâu mà chứa trộm cướp”. Câu chuyện là thế. Chúng tôi le lưỡi nhìn nhau. Nay xem ra, điều cô tôi nói chỉ là chuyện mở đầu thôi. Tại sao ư? Hãy nhìn căn nhà của Nguyễn văn Quý, trưởng công an huyện Bình Chánh sẽ thấy cái khả năng “truyền nghề” của chúng ra sao? Lương cán bộ thế nào mà cái nhà như thế? Hãy nhìn lại cảnh cũ xem sao? Có lẽ, không có một vị bộ trưởng, tướng tư lệnh vùng nào của miền nam trước kia mà có được một căn nhà riêng như của viên công an huyện này!

Đó chỉ là một thí dụ nhỏ, trong muôn một để dẫn chứng về nghề của chúng và nói lên cái uất nghẹn đau thương của người dân sống trong nước nô lệ CS ra sao mà thôi. Thực tế, chúng ta không thể kiểm chứng về chúng, và cũng không thể đong đếm được những đau thương mà người dân ngày đêm phải gánh chịu. Chỉ riêng trong tháng này, chuyện cá chết dọc bờ biển miền Trung là một thí dụ.

  1. Người ta nói gì về chuyện cá chết?

Có lẽ, một chuyện không ai ngờ được là đứng trên đất nước Việt Nam, đứng trước một tai họa lớn do chính chúng gây ra mà một tên phó Giám Đốc người Hoa, dám vung tay phùng miệng thách đố: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay là nhà máy, hãy chọn đi. Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được”! Hãy hỏi xem, với tư cách nào để y dám nói kiểu trên đầu trên cổ như thế? Hỏi xem, có phải cấp hạng thủ tướng Việt cộng cũng chỉ là tôi tớ của chúng hay không? Nếu không, Y dám càn dở như thế ư?

Nhớ lại, 41 năm trước, toàn dân trong đau thương khi tập đoàn tay sai của Tàu cộng dập tràn pháo. Nay cũng tháng tư, đau thương cũ chưa quên, lại được tiếp thêm thuốc độc của Tàu. Trước mắt là nạn cá chết dọc biển, sau là đến người Việt Nam ăn cá biển. Câu chuyện này, ai cũng biết thuốc độc từ khu nhà máy Formosa của Tàu thải ra, giống như nhờ bom đạn pháo của Tàu mà người Việt Nam mất Độc Lập, mất Tự Do, tiêu Công Lý. Tuy nhiên, chúng không bao giờ dám nói lên sự thật ấy. Trái lại chỉ là những quanh co dối trá quen mồm.

Tuy nhiên, khi tang thương chưa có dấu hiệu ngừng lại, những cánh chim trời dần thưa thớt và mất bóng dọc theo các làng chài ven biển làm cho cho lòng người đau xót thêm. Nơi nơi, người Việt Nam ngơ ngác nhìn nhau:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn.

Ngờ đâu, khi câu hỏi chưa tròn, những cánh tay cầm búa đã vang lên:

“Tắt máy. Tắt máy (im mồm, im mồm) nhá! Đừng hỏi câu đó. Hỏi câu đó là tổn hại cho đất nước mình”! (Võ nhân Tuấn)

Hỡi ơi, người dân đặt câu hỏi với người được coi là có trách nhiệm về chuyện cá chết dọc biển là chuyện rất thường. Có ai ngờ, quan cán nhớn khi nghe hỏi, phải lau mồ hôi trán, nói vội một câu rồi bỏ chạy. Họ chạy, người dân biết hỏi ai đây? Họ là quan chức Tổng, Bộ trưởng của nhà nước “độc nập” Việt cộng hay làm quan cán nô lệ cho Trung cộng đây? Xem ra, qua câu chuyện này, người ta hiểu ra rằng: Cái gông trong cổ người dân do Việt cộng trao tặng còn nhẹ hơn Cái ách do Tàu đặt vào cổ của bọn quan cán Tuấn, Hà hay nhóm Trọng Dũng Sang Hùng… nhiều! Tội nghiệp chưa!

Nhớ hôm rồi, sau khi đọc bản tin nhớn này, bạn tôi bảo: “loại ăn càn nói bậy này mà xuất hiện ở những nước phương tây như Mỹ Canada, Úc hoặc Anh Đức Pháp… thì Y chưa về đến nhà đã nhận được điện xa thải rồi”. Còn nơi đây, tại sao họ không thể rõ ràng hơn? Hoặc giả, cứ theo lời nhận tội của tập đoàn Formosa kia mà truy cứu. Nên nhớ, khi họ cúi đầu nhận trách nhiệm là đã có đủ lý chứng để buộc trách nhiệm rồi. Bởi lẽ, nếu không làm điều sai trái, họ kéo nhau ra đó cúi đầu làm chi? Chẳng lẽ để diễn tuồng? Chuyện đơn giản là thế, cấp có quyền hạn không biết xử trí thì để họ ngồi ở đó làm chi? Chẳng lẽ:

  1. Kẻ ác luôn đi theo cái bóng của nó?

Ai cũng biết, thành phần trí thức xã hội của Việt Nam đã bị đấu tố, đã bị đào tận gốc, trốc tận rễ từ những năm 1953-1956 rồi. Từ đó, hầu như tất cả mọi trí thức vì xã hội, vì con người đã bị tận diệt. Hoặc giả, họ không thể tồn tại để có chỗ đứng trong chế độ CS. Điển hình như những trường hợp Lê thị Công Nhân, Lê công Định, Nguyễn văn Đài… đều bị lớp sâu bọ dùng cái bằng đảng viên để loại họ ra khỏi vòng sinh hoạt của xã hội. Thay vào đó là từng hàng, từng lớp cũng áo giáp cân đai với hàm tiến sỹ, thạc sỹ nhưng do tập đoàn Việt cộng ôn tập, cấp giấy hoặc chụp cho cái nón và nằm dưới sự điều động của chúng. Kết quả, tập thể này được đánh giá như một bầy sâu múa kiếm chém người bằng cách này hay cách khác để tùng phục cộng sản, phản bội cuộc sống của con người. Để đưa đến nghiệt ngã hôm nay là:

Đất nước mình ngộ quá phải không anh

Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ

Những dự án và tượng đài nghìn tỉ

Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay. (Trần thị Lam, Hà Tĩnh)

Lời như thật. Quả là những đắng cay, uất nghẹn. Nhưng cũng đầy mỉa mai khinh miệt. Tuy nhiên, chẳng có gì lạ trên đất nước này sau ngày Việt cộng vào đây. Bởi vì, Phạm văn Đồng, một thủ tướng tại vị lâu năm nhất của cái chế độ ấy đã công bố “định luật” mang tính khoa học XHCN cho dân biết là: “Một ký rau muống có chất bổ dưỡng ngang một ký thịt bò”! Một đất nước với những “thiên tài” tật bệnh như thế thì sinh mạng con người dĩ nhiên “chỉ như cái móng tay” thôi, cô giáo ạ! Cô bằng lòng vậy nhá!

  1. Loài ký sinh không bao giờ biết đến tội ác của mình.

Những con vi trùng, vi khuẩn như trùng lao trùng dịch, có bao giờ biết đến tội ác của chúng khi chúng tiêu diệt mạng sống con người không? Không, hoàn toàn là không? Chúng hành sử theo bản năng sinh tồn trong dạng chúng được sinh ra. Chúng chỉ có một cái đầu là đục khoét phá hoại nhân sinh bằng phương cách mà chúng đã được sinh ra và tập nghề. Chúng hầu như không hề biết là việc lao đầu vào tìm sống cho mình trở thành một đại họa cho con người. Như thế, “tội ác” của chúng xem ra còn thua kém cái tàn độc, bất nhân, bất nghĩa của những Hồ chí Minh, Trường Chinh… và những cái vẩy của chúng nhiều lần. Kém vì bản thể của các loại vi trùng lao, vi trùng dịch hạch theo nhau nẩy nở, thênh thang sống và tàn giết đối phương vì bẩm sinh theo giống loài. Trong nó không hề có cái ý thức hủy diệt nhân bản con người như Mác, Lê, Mao, Hồ và đệ tử của chúng. Dẫu vậy, con người cũng không bao giờ dung dưỡng khoan nhượng để có cuộc hòa giải và sống chung với loài ký sinh. Nhưng phải tiêu diệt nó. Đó là lý do để bác sỹ Heinrich Koch cũng như Penicilline xuất hiện. Rồi ở Balan, Hungary đã có những Lech Walesa,Németh Miklós đưa trùng cộng sản về bên kia và đem sự sống lại cho con người.

Thế giới đã có nhiều đổi thay, Việt Nam thế nào đây? Liệu có ngủ yên trong đáy mồ cộng sản không? Không, không bao giờ. Tôi tin rằng, chúng ta sẽ không phải nằm chờ trong ngõ tối bi quan. Trái lại, chuyện cá chết dọc bờ biển miền Trung trong những ngày qua, trước mắt là những thiệt hại cho đất nước và nó đang tạo nên thêm những thống khổ cho người dân. Tuy nhiên, khi nhìn vào cuộc xoay vần của lịch sử, chúng ta sẽ thấy đoạn kết tốt đẹp của ngày mai đang đến. Việt Nam sẽ không bao giờ nằm ngủ yên trong ngục tù cộng sản. Cá chết vì thuốc độc của chúng gieo rắc, bản thân của cộng sản cũng sẽ không tồn tại.

Hỡi thanh niên Việt Nam, 41 năm sống trong gông cùm CS đã quá nhọc nhằn khổ đau rồi. Đã đến giờ người Việt Nam phải nắm lấy tay nhau. Hãy đứng dậy đi! Hãy cùng nhau đập nát gông cùm cộng sản để giải phóng Dân Tộc và đem nguồn sống mới trong yên vui thái bình về cho đất nước thân yêu của chúng ta.

30-4-2016

Bảo Giang

danlambaovn.blogspot.com

20 Comments

 

 

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers