Archive for the ‘Uncategorized’ Category

Đại Nhạc Hội “Cảm Ơn Nước Úc 1975-2015 – Thank You Australia” (Duy Khiêm – Cali Today)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Đại Nhạc Hội “Cảm Ơn Nước Úc 1975-2015 – Thank You Australia”

Duy Khiêm (tường trình từ Melbourne) –   Cali Today

Cập nhật: 27/04/2015 11:53

http://baocalitoday.com/vn/tin-tuc/van-nghe/dai-nhac-hoi-cam-on-nuoc-uc-1975-2015-thank-you-australia.html

.

Một trong những sự kiện nổi bật của dự án này là buổi Đại Nhạc Hội “Cảm Ơn Nước Úc 1975-2015 – Thank You Australia”, tưởng niệm quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 40 diễn ra vào ngày 25 tháng 4 năm 2015 vừa qua.

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT TỊ NẠN ÚC CHÂU TẶNG  BỊNH VIỆN NHI ĐỒNG MELBOURNE HƠN 500 NGÀN DOLLARS  QUA ĐẠI NHẠC HỘI “THANK YOU AUSTRALIA”

Trong vài tháng vừa qua, Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc-Đại-Lợi đã tổ chức nhiều sinh hoạt nhằm kỷ niệm 40 năm người Việt tỵ nạn và định cư trên đất Úc. Tại thành phố Melbourne, tiểu bang Victoria đang có một dự án mang tên ‘Cảm Ơn Nước Úc: 40 năm định cư của người Úc gốc Việt’ đã được khai mạc từ đầu năm nay.

Một trong những sự kiện nổi bật của dự án này là buổi Đại Nhạc Hội “Cảm Ơn Nước Úc 1975-2015 – Thank You Australia”, tưởng niệm quốc hận 30 tháng Tư lần thứ 40 diễn ra vào ngày 25 tháng 4 năm 2015 vừa qua.

Đây là một chương trình đại nhạc hội quy tụ hầu hết những nghệ sĩ nổi tiếng và được yêu thích của Trung Tâm Asia như MC Nam Lộc, Ngọc Đan Thanh, Nguyên Khang, Diễm Liên, Quốc Khanh, Đan Nguyên, Nguyễn Hồng Nhung, Hoàng Thục Linh, Phương Hồng Quế, Quang Minh và Hồng Đào hợp cùng MC luật sư Đan Phượng  đến từ Sydney và các thành viên trong ca đoàn Hoan Ca thuộc giáo xứ Keysborough, Victoria.

Chương trình nhạc hội này mang một ý nghĩa rất đặc biệt nhằm góp phần cho dự án tri ân nước Úc bằng cách gây quỹ từ thiện đóng góp cho Bịnh Viện Nhi Đồng Hoàng Gia ở Melbourne (Royal Children’s Hospital) . Ban tổ chức và các nghệ sĩ cùng những hội đoàn địa phương đã chung tay góp sức thực hiện một chương trình gây quỹ thật hào hứng và thành công  ngoài sự tưởng tượng của mọi người.

Đêm nhạc hội  được tổ chức tại sân khấu sang trọng Palladium của Crown Casino ở Melbourne với phần tiếp tân mở đầu lúc 6 giờ 30 dành cho các quan khách, đại diện chính quyền, các vị Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu Liên Bang, Tiểu Bang, cùng nhiều Thị Trưởng, Nghị Viên thành phố, các tổ chức hội đoàn và truyền thông báo chí dưới sự chủ tọa và phát biểu của ông Robin Scott, Bộ Trưởng Đa Văn Hóa Úc Châu, đại diện cho thủ hiến tiểu bang Victoria, cùng ông Mathew Guy, Thủ Lãnh Đảng Đối Lập (Opposition Leader). Kế tiếp là phần  trao bảng lưu niệm cho các mạnh thường quân đã bảo trợ và đóng góp cho dự án quan trọng này. Mọi người cũng đã có dịp chụp hình trên thảm đỏ với các nghệ sĩ của trung tâm Asia bên tiếng đàn piano của dương cầm thủ Phạm Hoàng nổi tiếng của Úc.

Cô Phượng Vỹ, Phó Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt tại Victoria và ông Lê Dũng, Giám Đốc Dự Án “Thanh You Australia” đang trao ngân phiếu $505,380.00 Úc Kim cho bà Anne Randall, Giám Đốc Royal Children Hospital in Melbourne.

http://baocalitoday.com/userfiles/image/News_Pictures/2015/04-26-2015/nhac%201.jpg

http://baocalitoday.com/userfiles/image/News_Pictures/2015/04-26-2015/nhac%202.jpg

http://baocalitoday.com/userfiles/image/News_Pictures/2015/04-26-2015/nhac%203.jpg

Sau đó, vào lúc 7 giờ 30, chương trình đại nhạc hội đã được chính thức mở màn với nghi thức rước cờ, chào cờ Úc Việt, phút mặc niệm. Tiếp theo là bài diễn văn với ý nghĩa “tri ân” thật cảm động của ông Lê Dũng, một thuyền nhân tỵ nạn VN và cũng là Giám Đốc Dự Án cùng phần chào mừng của ông Nguyễn Văn Bon, Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt tiểu bang Victoria, và lời cảm tạ của bà Anne Randall, Giám Đốc Bịnh Viện Nhi Đồng Hoàng Gia.

Gần 3000 khán giả ngồi chật kín hội trường đã say mê theo dõi tiết mục văn nghệ mở màn. Nguyên Khang và Diễm Liên đã cất cao giọng hát trong liên khúc Tự Do: Xin Đời Một Nụ Cười, Một Lần Miên Viễn Xót Xa và Bước Chân Việt Nam.

Kế tiếp các MC Nam Lộc, Ngọc Đan Thanh và luật sư Đan Phượng giới thiệu chương trình văn nghệ được chia ra làm 4 chủ đề: Quê hương thuở thanh bình, đất nước thời chinh chiến, những mảnh đời lưu vong và nỗ lực tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền trên đất nước Việt Nam. Các nghệ sĩ đã liên tiếp nhau trình diễn trong sự say mê theo dõi của khán giả qua từng bài hát quen thuộc từ trước năm 1975 cho đến những ca khúc đấu tranh sáng tác ở hải ngoại cũng như các bài hát vừa được gởi ra từ trong nước.

Quan trọng và mang nhiều ý nghĩa nhất của đêm Đại Nhạc Hội là phần quyên góp từ thiện cho Bịnh Viện Nhi Đồng. Đây là một nghĩa cử cao đẹp của người Úc gốc Việt trong hoạt động “uống nước nhớ nguồn” để tri ân người dân và đất nước Úc đã cưu mang đồng hương chúng ta suốt 40 năm qua.

Kết quả cua chương trình lạc quyên này được Ban Tổ chức công bố trong phần bế mạc của buổi đại nhạc hội là $505.380.00 Úc Kim (năm trăm lẻ năm ngàn ba trăm tám mươi Úc Kim). Đó là mức đóng góp vượt qua con số dự định ban đầu để cố gắng đạt được là nửa triệu Úc Kim.  Phần trao quà tặng là tấm ngân phiếu cho bà Anne Randall, Giám Đốc Bịnh Viện Nhi Đồng Hoàng Gia Melbourne là giây phút cảm động và đáng nhớ nhất của buổi Đại Nhạc Hội “Cảm Ơn Nước Úc”.

—————————–

VIDEO :   Lễ tưởng niệm quốc hận của Ban Đại Diện CĐVN Bắc Cali

https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=9js9RGhTZrk

40 năm nhìn lại hành trình người Việt tị nạn

Cali Today

Cập nhật: 26/04/2015 12:58

http://baocalitoday.com/vn/tin-tuc/cong-dong/40-nam-nhin-lai-hanh-trinh-nguoi-viet-ti-nan.html

.

.

.

Nguyễn Văn Lục và “Hai mươi năm miền Nam 1955–1975” (Trịnh Bình An – DCVOnline)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Nguyễn Văn Lục và “Hai mươi năm miền Nam 1955–1975”

Trịnh Bình An

Posted on April 24, 2015 by editor — 0 Comments

http://dcvonline.net/2015/04/24/nguyen-van-luc-va-hai-muoi-nam-mien-nam-1955-1975/

.

Miền Nam của Nguyễn Văn Lục có sông nước và điệu Vọng cổ, có lãng mạn thanh niên và tham vọng con người, có những thành tựu xây dựng và chia chác phe phái nhưng nổi bật, vượt trên tất cả vẫn là Tự Do.

Phải công nhận Nguyễn Văn Lục viết khoẻ!

Nếu ông Lục ngoài đời đúng là “một người đã nghỉ hưu, một tuần xoa mạt chược hai, ba ngày, như bà Hoàng Dược Thảo mô tả, thì viết như Nguyễn Văn Lục nghĩa là còn sung sức lắm.

Bài của ông Lục đăng nhiều nơi, báo giấy có, báo mạng có. Ngay trong email bạn bè truyền nhau cũng có Nguyễn Văn Lục. Loạt bài “Lịch Sử Còn Đó” của ông đã được đăng nhiều kỳ trên DCVOnline.net và in thành sách.

Giống như món phở được nhiều người ăn nên nhiều người bán, những đề tài ông Lục khai thác: lịch sử, miền Nam, Công giáo, Phật giáo, ông Diệm, ông Nhu… là đề tài nhiều người thích đọc nên nhiều người thích viết, thành thử đủ cả lời chê lẫn tiếng khen. Coi món phở “vàng” kia, người thích sẽ gật gù ấy bùi bổ béo, người không thích sẽ lắc đầu nguầy nguậy mỡ ễnh thế ăn vào có mà “đi” sớm. Ý kiến bạn đọc về Nguyễn Văn Lục cũng vậy, có người khen, cám ơn tíu tít một bài; nhưng ngay đấy cũng có người bĩu môi, chê ra rả.

Theo tôi, văn ông Lục hơi bị lung tung. Nói tử tế là “thiếu trật tự, lớp lang”, nói để chọc cười là “hầm bà lằng xắng cấu”. Đọc văn ông Lục cũng như bước vào một tiệm chạp phô Trung Đông. Tiệm bé tí nhưng chật ních; hàng họ chất lên nhau lung tung lẫn lộn và choán hết chỗ. Khách phải đi nghiêng mới len được vào trong, cũng phải khẽ khàng tránh va đụng không kéo đồ bày lại kéo nhau nhau đổ rầm.

Vào một tiệm như thế khách thấy ngán vì không biết sẽ kiếm được gì trong đống đồ tạp lục đó, lại cũng thấy ngộp vì quá nhiều thứ cùng lúc lọt vào tầm mắt. Thế là khách lắc đầu hỡi ôi rồi quay lưng bỏ đi.

Nhưng vẫn có những người khách kiên nhẫn hơn, hay có nhiều thì giờ hơn; người đó cứ nhẩn nha nhìn ngắm từng đồ vật một. Sau một hồi rị mọ trong đống đồ bụi bặm dày cả tấc, khách có thể bất ngờ kiếm ra những thứ thật độc đáo: một cái dọc tẩu hình thù cổ quái, cái đèn đúng đèn A-la-đanh (!?), hay, một vật chẳng biết để dùng vào việc gì nhưng sao trông thích mắt thế.

“Hai mươi năm miền Nam 1955–1975” của Nguyễn Văn Lục đối với tôi cũng giống như cái tiệm chạp phô Mô-ha-mét ấy.

Hình bìa sách “Hai mươi năm miền Nam 1955–1975”

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2015/04/20nammiennam.jpg

A… miền Nam, cái miền Nam của chúng ta – những người Việt bỗng một ngày nháo nhào tìm đủ mọi cách chạy trốn ra khỏi nó, để rồi những năm tháng sau cứ thấy váng vất trong lòng một nỗi nhớ đắng cay. Và người ta tìm kiếm, ngấu nghiến đọc những gì viết về mảnh đất miền Nam như để tự an ủi rằng mình vẫn chưa bị cắt lìa ra khỏi cái nơi thân yêu ngày cũ. Nhưng sự an ủi chỉ có khi những điều được viết là sự thực, chí ít cũng phải được viết với sự cẩn trọng; bằng không, đó chỉ là một trò đùa lố bịch, nếu không nói là một cái tát vào mặt người đọc.

Nhà văn Trùng Dương chắc cũng cảm thấy rát mặt vì cung cách hời hợt cẩu thả của một số sách viết về miền Nam nên đã phải viết “Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu” để chỉ chỗ kiếm tài liệu sao cho chính xác.

Công việc biên khảo quả có nhiều khó khăn như ông Vương Trí Nhàn nhận xét:

Cũng xung quanh vấn đề thiếu tài liệu, trong bài phỏng vấn của chị Thụy Khuê về văn học miền Nam, ông Vương Trí Nhàn, khi được hỏi “có thấy có những điều gì nói thêm về việc đưa Văn học miền Nam trở lại văn đàn, điều mà anh thật sự hết lòng mong muốn thúc đẩy”, đã trả lời như sau, xin trích lại nguyên văn:

“Tôi bị ám ảnh bởi một điểm là chúng ta đến chậm quá, làm muộn quá,” ông Nhàn nói. “Hiện nay nếu muốn quay trở lại Văn học miền Nam, ngoài khó khăn tôi nói trên về tư tưởng, các quan niệm, thì khó khăn vật chất cũng rất cụ thể. Như không khí chểnh mảng không ai chuyên tâm. Lòng người thì vẫn tâm lý hậu chiến, tức là vẫn bị ảnh hưởng ngày hôm qua, không tách ra được để nhìn đối tượng văn hoá, bình tĩnh làm công việc một cách tốt hơn. Thứ nữa, tư liệu thì mất rất nhiều. Gần đây trên mạng talawas cũng đã trích đăng lại một số tác phẩm cũ của Văn học miền Nam, ở bên Mỹ, nhiều tác phẩm cũ được in lại, nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Thỉnh thoảng trao đổi với một vài nhà nghiên cứu khác cũng thấy thế. Chúng tôi có cảm tưởng mỗi người nắm một tí, tức là mỗi người chỉ nắm được phần của mình thôi, còn sự thực người có khả năng bao quát chung thì không có.”

Khó đấy, nhưng vẫn có cách giải quyết:

Mặc dù Cộng sản Việt Nam hô hào đốt sách để thanh tẩy “tàn dư Mỹ Nguỵ” từ ngay sau khi chiếm miền Nam, kho tàng văn hoá phẩm của miền Nam thực ra đã được “tẩu tán” ra nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, từ lâu rồi. Trước thời Internet, những văn hoá phẩm này nằm trong hai thư viện lớn bên Mỹ, đó là Thư Viện Quốc Hội ở Washington, D.C. và thư viện Kroch Asia thuộc hệ thống thư viện của Đại học Cornell ở Ithaca, New York. Muốn tham khảo những tài liệu này ta phải tới tận nơi lưu giữ chúng.

Hóa ra, cái miền Nam bị xóa sổ kia vẫn còn sót lại vài mảnh, và khéo sao, những mảnh vụn vỡ ấy lại trôi dạt vào cùng một chỗ với nhau.

Tiệp chạp phô ở Istanbul. Nguồn: Bilouk-25/Flickr

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2015/04/Grand-Bazaar-Istanbul.jpg

Nói như thế không có nghĩa tôi sẽ lục tung thư viện Washington, D.C., thư viện New York để kiếm cho ra những cái sai, cái đúng trong “Hai mươi năm miền Nam”của ông Lục. Sức đâu! mà cũng không phải kiểu, bởi người đọc không có nhiệm vụ phê bình văn học, người đọc chỉ có một nhiệm vụ, nhiệm vụ với chính mình, đó là làm sao cho thời gian đọc sách trở thành những giây phút thống khoái nhất.

Một cách đọc cho khoái là thả mình theo bất kỳ dòng cảm xúc, suy nghĩ nào dấy lên trong khi đọc, cho dù đó có thể là những ý tưởng quái đản, điên rồ. Chớ cưỡng lại, cứ đi theo…

“Hai mươi năm miền Nam” gợi cho tôi một ý tưởng: Nguyễn Văn Lục là người như thế nào?

  • Vớ vẩn, phàm sách biên khảo, quan trọng nhất là sự kiện, sai hay đúng; hà cớ chi săm soi tới tác giả?
  • Xin thưa, biết bao nhiều sự kiện, diễn biến trong ngần ấy năm, tại sao chọn cái này mà không chọn cái kia, tại sao viết chuyện ni mà không viết chuyện nớ. Phải chăng bởi người viết đã chọn lựa sự kiện theo ý riêng của mình, vô tình tạo ra một bức self-portrait của chính mình.
  • Cứ cho là có bức truyền thần ấy. Thế ta thấy được gì nào?

Tôi thấy Nguyễn Văn Lục đang sám hối.

Trước khi tìm hiểu Nguyễn Văn Lục sám hối chuyện gì, sám hối thế nào, tưởng cũng cần nhắc tới một số tác giả nổi tiếng đã viết về miền Nam: Vương Hồng Sển với “Sài Gòn năm xưa”, Sơn Nam với “Văn minh Miệt Vườn”, Võ Phiến với “Văn học Miền Nam Tổng Quan” và Hồ Trường An với những truyện diễm tình trong khung cảnh đặc thù miền Nam.

Nhìn chung, những tác giả đó dường như chỉ quanh quẩn trong mong muốn tìm lại chút hương xưa. Lời đề tựa ngay trang đầu của “Sài Gòn năm xưa” thể hiện ý hướng ấy: Tập biên khảo thường đàm nầy để tưởng niệm những phút êm đềm đã qua. Tác phẩm của họ không mô tả miền Nam như nó đã từng là ở những góc độ khác, những góc độ không đẹp, không vui, gai góc và vô lý đến không thể hiểu nổi.

Nguyễn Văn Lục không nhìn miền Nam qua những giây phút êm đềm. Ông nhìn miền Nam trong một bối cảnh chính trị phức tạp và rối loạn. “Hai mươi năm miền Nam 1955–1975” có 3 chương thì chương 1, “Sinh hoạt chính trị miền Nam”, mở đầu sách như nhấn mạnh tầm quan trọng của những biến cố chính trị, bắt đầu bằng cuộc di cư vĩ đại đi tìm tự do của đồng bào miền Bắc.

Di cư vào Nam 1954-55. Nguồn: LIFE magazine

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2015/04/dicu1954_2.jpg

Một vùng đất trù phú nhưng hoang sơ được bổ sung bằng lượng chất xám khổng lồ và tinh thần làm việc cần cù bền bỉ của các nông dân, tiểu thương, trí thức miền Bắc cộng với thể chế tự do dân chủ đã là bệ phóng cho nhiều đổi mới và phát triển tốt đẹp của miền Nam. Thế nhưng, tại sao kết quả cuối cùng vẫn là đổ vỡ?

Điều đáng buồn là bản tuyên ngôn hình thành bằng những bước chân dứt khoát ra đi dù phải đạp trên chông gai nguy hiểm của những người Việt Nam di cư 1954-1955 đã không thể vang vọng tới mọi nơi và đi đến với mọi người để thúc đẩy những hành vi tương tự.

Vì thế, cho tới nay, cơ may giải thoát con người khỏi tối tăm cơ cực để tìm lại cuộc sống con người vẫn còn nằm trong mong đợi.

Chương 1 của sách ghi lại những sự kiện chính trị quan trọng trong 20 năm, và tuy không đưa ra những kết luận cụ thể nhưng người đọc có thể tự tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi trên, hay chí ít, hiểu được nền tảng cho sự thất bại của miền Nam.

Một trong những điều của quá khứ nhưng vẫn đang và sẽ còn là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm, đó là vai trò của trí thức. Trong tiểu mục “Trí thức miền Nam nhập cuộc” tác giả Nguyễn Văn Lục đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể để đi đến kết luận: giới trí thức miền Nam có khả năng cao về khoa học, nghệ thuật, văn chương nhưng như thế vẫn chưa đủ.

Nhược điểm lớn nhất của miền Nam là sự vắng thiếu ý thức đấu tranh cách mạng trong hàng ngũ trí thức – cụ thể là vắng thiếu đội ngũ lãnh đạo có đủ vốn liếng kinh nghiệm đấu tranh. Đó là sự vắng thiếu những hòn đá tảng có thể chuyển hướng một dòng sông.

Thực ra, miền Nam không thiếu nhân tài, có thể còn quá dư so với miền Bắc, nhưng thiếu một lý tưởng đấu tranh viễn kiễn. Lý tưởng “chống Cộng” biến miền Nam thành “tiền đồn của thế giới tự do” rõ ràng chỉ là yêu cầu giai đoạn của tình thế, không gắn bó lâu dài với vận mạng sống còn của đất nước. Kế tiếp là một thực tế không ai mong có từng được nhắc qua than thở của một nhân vật trí thức. Giáo sư Lý Chánh Trung từng lạy trời ban cho miền Nam một nhà lãnh đạo mà cái bụng nho nhỏ một chút và đi bằng hai chân.

Thiếu người lãnh đạo có tầm cỡ là nhược điểm từ đó dẫn tới những bất cập khác như việc báo chí (phương tiện chính trong mặt trận tuyên truyền) ngoảnh mặt quay lưng với chính trị, tuồng như coi đó không phải là việc của mình.

Tuy nhiên, đa số báo miền Nam được xuất bản đều nhắm mục tiêu thương mại nên không đặt nặng các đòi hỏi chính trị và nghề nghiệp. Đặc tính này giúp giảm nhẹ không khí căng thẳng khó tránh cho chính quyền khởi từ các hoạt động nghề nghiệp của báo chí, nhưng lại biến báo chí thành vùng đất màu mỡ cho các âm mưu xâm nhập, lũng đoạn do chủ nhiệm nhiều tờ báo không lưu tâm đến xu hướng chính trị của cộng sự viên, trong khi chính quyền chỉ đặc biệt lưu tâm tới những tờ báo có tiếng nói đối lập công khai.

Tìm hiểu vai trò của báo chí ngày trước là điều hữu ích cho tình hình hiện nay, giúp chỉ ra những sai phạm, lầm lỡ cần tránh. Một trong những sai lầm đó là tách rời chính trị ra khỏi văn chương, báo chí. Tiếc thay, nhiều người đã coi thái độ tách rời đó là một thể hiện của tự do.

Giới trí thức trẻ tại thành thị với khung cảnh giáo dục và xã hội thông thoáng có cơ hội tiếp xúc với nhiều chân trời lạ lại gần như thiếu hẳn hiểu biết về diễn biến lịch sử của đất nước Việt Nam trong giai đoạn trước đó. Kết quả là nhiều hướng nhìn trái ngược về cuộc sống tới mức hỗn loạn để xé nát giới trí thức ra nhiều mảnh vụn rã rời hoặc đối nghịch lẫn nhau.

Tự do ví như đôi cánh rộng, nhưng nếu không được hỗ trợ bằng ý thức chính trị vững chắc, tự do chỉ còn là đôi cánh bằng sáp của Incarus, đôi cánh giúp anh thoát trốn ngục tù nhưng nhanh chóng rệu rã dưới nắng mặt trời. Tự do không giúp trí thức miền Nam vượt qua những thử thách khắc nghiệt thời ly loạn để rồi họ, cũng như Icarus, rơi thảm thiết xuống cái vùng trống hoác dưới chân.

Cho tới nay, chính trị với nhiều người vẫn bị coi là một thứ độc địa, tồi bại, không nên dính vào. “Tôi chỉ làm nghệ thuật, tôi không làm chính trị” – Câu này nghe thường lắm. Nhiều “nhà” văn, “nhà” báo, “nhà” nghệ thuật, “nhà” phê bình… của miền Nam cho tới nay vẫn tự hào về cái mác phi-chính trị, cố tình không hiểu thái độ dửng dưng ấy đã là cái đinh đóng chặt quan tài chôn chết miền Nam của họ. Nguyễn Văn Lục thì không, qua những trang sách “sặc mùi chính trị”, ông đã dứt khoát đứng về một phía: phía của những người dấn thân.

Có thể ông thày dạy môn triết ngày nào cũng thờ ơ như bao kẻ khác, cũng chỉ quẩn quanh vui vầy với nào sen hồng nào phượng thắm; chỉ khi trở thành kẻ tha phương trên đất khách, nhớ lại cũng cái thời phượng thắm sen hồng kia mới bàng hoàng bừng tỉnh hiểu ra rằng sự trốn tránh đối đầu năm xưa của mình đã định đoạt số phận thê lương ngày nay của bản thân, của cả dân tộc.

Nguyễn Văn Lục không đấm ngực “mea culpa”, nhưng cố gắng của ông – lục lại những trang sử cũ, những trang sách cào cấu tim gan, để người sau có dịp nhìn kỹ và suy gẫm – đã là lời sám hối chân thành nhất.

***

Viết như trên kể cũng đủ dài về một người, nhưng xét ra vẫn chưa đủ nếu đã đọc “Hai mươi năm miền Nam”. Nếu bảo sách là tranh vẽ chân dung tác giả, thì đó là một bức chân dung nhiều chiều.

Tôi còn nghe “sách nói” Nguyễn Văn Lục là người mơ mộng.

Thế nào là mơ mộng? Theo nghĩa đơn giản nhất, mơ mộng là ước muốn những điều ngoài tầm tay mình. Vậy ông Lục mơ gì? Nguyễn Văn Lục mơ làm người khác Nguyễn Văn Lục, người khác ở đây là Bùi Giáng, Phạm Duy và… Lệnh Hồ Xung.

Trong 6 tiểu mục của chương hai “Sinh hoạt Văn học miền Nam”, có phần dành riêng hẳn hoi cho Bùi Giáng và Phạm Duy: “Bùi Giáng giữa chúng ta” và “Phạm Duy còn đó hay đã chết”.

Cứ cho rằng Bùi Giáng và Phạm Duy quả có những sáng tác vượt trội trong giới văn học nghệ thuật nhưng xét cho cùng tài năng của họ vẫn là cái tài trời cho. Phạm Duy và Bùi Giáng là những người ngoại hạng, cuộc đời và sản phẩm họ tạo ra không hẳn đã gắn liền hay thể hiện hoàn cảnh đặc biệt của miền Nam lúc ấy.

Có nên cho rằng nhờ miền Nam tự do nên Bùi Giáng tự do điên, và Phạm Duy tự do viết lung tung đủ thứ. Cũng có thể lắm! Nhưng theo tôi, sở dĩ Nguyễn Văn Lục chọn hai vị này để viết có lẽ chỉ vì ông mơ mộng muốn được như họ.

Bùi Giáng từng bán tất cả ruộng vườn được thừa kế để lấy tiền in sách, Phạm Duy từng lang thang với những mối tình lãng mạn. Cả hai đều được coi là những kẻ ngông cuồng nhất, cao ngạo, bất chấp thiên hạ nhất. Thế nhưng không ai có thể phủ nhận những bài thơ, bài hát của Bùi Giáng, Phạm Duy đã ảnh hưởng sâu đậm tới tâm tư của nhiều thế hệ vì đậm đà tình người và ảo diệu ngôn ngữ.

Tưởng tượng cảnh một ông thầy dạy triết, sớm vác ô đi tối vác về, đứng trước bảng đen phấn trắng, trước đám học trò trung học e dè. Ông thầy nhìn ra cửa sổ, nhìn những con chim bay nhảy chuyền cành, giá mình được điên, được ngông như thế…

Nói về “thế giới Bùi Giáng”, ông Lục viết:

Đáng lẽ tôi cần đổi nhan đề bài viết Bùi Giáng giữa chúng ta thành Bùi Giáng không bao giờ ở giữa chúng ta cả. Thế giới của ông là thế giới bên kia, mù khơi và đầy những vùng tối mà một vài sợi thần kinh trục trặc là đủ thay đổi toàn diện cuộc sống một người. Đó là một thế giới không thể tiếp cận, cũng không thể hiểu, không lý giải được, không vào được – impénétrable.

Nếu rút cục chẳng lý giải được thì ông Lục mất công làm gì khi đã có rất nhiều người đã viết Bùi Giáng? Phải chăng dù không hiểu được thế giới kỳ quặc của người điên kia, ông Lục vẫn cho đó là một thế giới kỳ thú và mơ mộng giá mình cũng biết ti ti về nó chắc sẽ khá là sướng.

Và nếu làm được như Phạm Duy hẳn cũng sướng!

Theo Nguyễn Văn Lục, Phạm Duy là người có nhiều khuôn mặt, hay có dở có; do đó nhạc Phạm Duy cũng có đủ cả hay lẫn dở.

Phạm Duy trái lại, đưa người nghe từ thái cực này đến thái cực khác, hay dở lẫn lộn, pha chế, dửng mỡ, thô tục, thanh cao, ngậm ngùi, tha thiết, xót xa, rẻ tiền… nói chung là lung tung, chắp vá và tùy tiện. Có vẻ ông muốn thay đổi, muốn có cái lạ, cái mới nhưng lại theo kiểu tiện đâu hay đó, hoặc có tiền thì làm, nên nhiều khi khiến người nghe khó chịu và bực dọc. So với các nhạc sĩ khác, Phạm Duy sáng tác nhiều nhất và cũng có không ít tác phẩm dở.

Ông Lục chê Phạm Duy sát ván thế, tại sao tôi cứ có cảm giác ông Lục muốn được như Phạm Duy? Bởi tuy chê ra rả đấy nhưng ông Lục vẫn thấy Phạm Duy là người đặc biệt vì Phạm Duy dám nói, dám yêu, dám làm những điều ông thích, nói tóm lại, dám sống hết mình.

Một nhận xét nhỏ của riêng tôi về con người Phạm Duy là ông không có một lời chê bai bất cứ ai, nhất là giới nhạc sĩ, dù trên thực tế ông luôn nói năng tùy tiện, lời lẽ huyênh hoang, suy đoán chủ quan về cái này cái kia. Đây là điều tôi ghi nhận khi đọc hồi ký của ông. Thêm nữa, cũng qua những dòng hồi ký, ông còn không ngần ngại kể lại đời tư của mình, ngay cả về những mối tình lớn nhỏ bất chấp khuôn nếp xã hội.

A… được lãng mạn với những-mối-tình-lớn-nhỏ-bất-chấp-khuôn-nếp-xã-hội phải chăng là điều ông giáo nghiêm cẩn kia mơ mộng?

Nhưng nghĩ kỹ mà xem, điên cỡ Bùi Giáng, ngông cỡ Phạm Duy cần có cái gan rõ to mới được. Không gan không dám nói: “Đây là con c… nhét vô cái l… Kim Cương” như Bùi Giáng, hay “Tôi thấy cách mạng bắt đầu lẩm cẩm khi kết án Vọng cổ trong các Đại hội (ĐảngCS) mà tôi vừa tham dự” như Phạm Duy. Thành thử, muốn điên muốn ngông như 2 người họ thật không dễ chút nào.

Thôi thì, mơ làm Lệnh Hồ Xung vậy.

Trong chương 3, “Sinh hoạt dịch thuật và báo chí miền Nam”, phần nói về Kim Dung và sách võ hiệp, Nguyễn Văn Lục chọn Lệnh Hồ Xung là nhân vật được nhiều độc giả thời ấy ưa thích nhất.

Chỉ nhìn vào nhân vật Lệnh Hồ Xung, phán định đầu tiên có thể là một sự chê bai hoặc ít nhất cũng là ý nghĩ coi thường. Trước tiên, nguồn gốc nhân vật không có gì đáng kể với gốc rễ ti tiện và cảnh ngộ mồ côi. Tính cách của nhân vật cũng không có gì nổi trội mà ngược lại còn sa đà vào nếp sống phóng túng như đam mê rượu chè, đắm đuối yêu đương và luôn bị cuốn theo tiếng kêu phiêu bạt để lê gót giang hồ sống vô định hướng.

Với nếp sống đó, nhân vật gần như không bao giờ biết phân biệt chính tà nên kết giao với bất kỳ loại người nào kể cả loại bị đời coi là cặn bã. Thế nhưng trong thế giới tiểu thuyết Kim Dung, chính nhân vật ấy đã nổi danh trên chốn giang hồ và đặc biệt đã trở thành mẫu người cuốn hút thiện cảm của hết thảy người đọc.

Giải đáp ra sao về sự trạng này?

Và ông tìm ra lời giải đáp:

Lời giải đáp cho thắc mắc đã nêu, do đó, có thể dựa trên một số nét tiêu biểu của nhân vật.

Trước hết Lệnh Hồ Xung không phải là kiểu mẫu lý tưởng mà là một mẫu người thực, gần gũi với mọi người về tính chất vì vẫn mắc nhiều nhược điểm. Kế tiếp, Lệnh Hồ Xung có con tim trong sáng hợp với sự trông đợi của mọi người và cũng gần gũi với mọi người.

Từ đây, Lệnh Hồ Xung đã thể hiện cuộc sống nằm trong khát vọng tìm kiếm của mọi người, cuộc sống thảnh thơi, vô tư, không gây tì vết cho cái nền nhân tính. Đó là cuộc sống của con người bình thường luôn gắn bó với ý hướng vĩnh cửu của sự sống là đạt tới khát vọng thể hiện tình người và tự do tuyệt đối. Cuộc sống được gọi là ước mơ hay đúng hơn đã biến thành một ước mơ trong chuỗi mơ ước liên tục và vô tận của cõi đời.

… mơ làm Lệnh Hò Xung. Nguồn: T.S. Tiếng Quê Hương.

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2015/04/nvls.jpg

Vậy nếu ông Lục hay bất kỳ ai có mơ được như Lệnh Hồ Xung cũng đáng lắm chứ, vì xét cho cùng đó là một ước mơ chân chính, mơ ước được thấy tình người hòa lẫn với khát vọng tự do.

Tính bộc trực vì thế càng bùng phát để con tim cất cao tiếng nói tự do. Cũng vì thế, Lệnh Hồ Xung có thể thoải mái khước từ không tiếc xót các cơ may nắm giữ vai trò lãnh đạo võ lâm và mở rộng vòng tay giao kết với mọi người, vừa thể hiện tấm lòng tương thân quảng đại vừa thảnh thơi tiếu ngạo giang hồ…

Tới đây tôi chợt nhớ tới bức hình chụp chân dung Nguyễn Văn Lục ở đầu sách. Một Nguyễn Văn Lục mặt vuông chữ điền; miệng cười rất tươi, rất bè bạn, rất tiếu ngạo giang hồ!

***

500 trang sách viết về miền Nam của tác giả Nguyễn Văn Lục chắc chắn không thể tóm gọn trong 1, 2 bài nhận xét cũng như một người khách không thể nhìn ra hết những đồ quý hiếm trong tiệm chỉ qua 1, 2 lần. “Hai mươi năm miền Nam 1955–1975” chứa đựng nhiều sự kiện, mỗi sự kiện lại hàm ẩn nhiều ý nghĩa khác nhau thành thử người đọc nếu muốn rút tỉa những điều hữu ích cần dành cho sách một sự chiếu cố đặc biệt. Nhưng đó chính là cái hay của một cuốn sách biên khảo, dù gấp sách xếp lên giá người đọc vẫn biết mình rồi sẽ phải quay lại với nó.

Miền Nam của Nguyễn Văn Lục có sông nước và điệu Vọng cổ, có lãng mạn thanh niên và tham vọng con người, có những thành tựu xây dựng và chia chác phe phái nhưng nổi bật, vượt trên tất cả vẫn là Tự Do. Dù tự do có vô tình đẩy miền Nam vào thảm họa nhưng cái mầm tự do gieo trồng vào mảnh đất miền Nam, vào con người miền Nam dù bị vùi lấp nhưng sẽ mãi còn đó và luôn tìm mọi cách bật dậy để vươn lên.

“Hai mươi năm miền Nam”của Nguyễn Văn Lục không là cuốn sách dễ đọc và có thể làm người ta buồn phiền nhưng đó là cái khó, cái phiền cần có của một người mắc bệnh tới lúc phải biết mình bị bịnh gì để rồi tìm ra cách chữa.

Tôi chỉ không thỏa mãn vì vẫn còn nhiều thứ “Hai mươi năm miền Nam”chưa đề cập tới như sinh hoạt của người Hoa, các ngành nghề tiêu biểu của miền Nam, sách báo dành cho trẻ em: Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc, Thiếu Nhi…và nhất là các trường trung học, đại học của miền Nam mà chỉ người trong nghề như ông giáo Lục mới có cái nhìn chính xác nhất. Thôi thì mong sao mai mốt sẽ có “Hai mươi năm miền Nam – Tập II”.

Cuối cùng, quay trở lại câu hỏi ban đầu: “Nguyễn Văn Lục là ai?”

Theo Uyên Thao: “Nguyễn Văn Lục không là sử gia, không là học giả, không là nhà văn và cũng không bao giờ là chính khách…” thế nhưng sách của Nguyễn Văn Lục lại có “tác động gợi nhắc từ những con người, những sự kiện đã ghi dấu một thời oan nghiệt của nhiều thế hệ con dân Việt Nam…”

Được như thế hẳn vì Nguyễn Văn Lục không phút nào quên mảnh đất miền Nam và con người miền Nam. Trong một buổi hội luận văn học, ông viết: “Tôi nhìn thấy nhiệm vụ của mình bây giờ là cày xới lại 20 năm văn học miền Nam để cho mọi người chưa có dịp biết thì biết.”

Và tôi thấy chân dung rõ nét nhất của Nguyễn Văn Lục: một người không là gì cả nhưng vẫn tự đặt lên vai mình trách nhiệm với đất nước, với những thế hệ sau.

Chúc tác giả Nguyễn Văn Lục tiếp tục tiếu ngạo giang hồ và tiếp tục viết với niềm đam mê mãnh liệt nhất.

© 2007 DCVOnline

.

.

.

Ngày “Quốc nạn” nhớ Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Già (Phạm Thanh Nghiên)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Ngày “Quốc nạn” nhớ Tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Già

Phạm Thanh Nghiên 

11:13:am 27/04/15

http://www.danchimviet.info/archives/95403/ngay-quoc-nan-nho-tu-nhan-luong-tam-nguyen-ngoc-gia/2015/04

.

Chút tâm tình của Nguyễn Ngọc Già:

Tròn bốn tháng kể từ khi có tin Nguyễn Ngọc Già- Nguyễn Đình Ngọc bi bắt, chúng ta vẫn không có thông tin chính thức gì về anh. Bốn tháng trước tôi từng viết: “Cho đến lúc này, Nguyễn Ngọc Già có lẽ là blogger duy nhất bị bắt với nghịch lý “ông rất nổi tiếng nhưng không ai biết ông là ai”.

Tiếc rằng nghịch lý ấy cho đến hôm nay vẫn chưa bị phá bỏ.

Bỏ qua những suy đoán nhân thân hay những phân tích về pháp lý quanh “vụ án” Nguyễn Ngọc Già. Hôm nay, trong những ngày “Quốc nạn” xin được chia sẻ với anh nỗi trăn trở về thân phận người tù mà anh của ngày hôm nay đang là một người mang thân phận như thế.

Tròn một năm trước, Nguyễn Ngọc Già từng bộc bạch:

“Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.
Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

– Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v… Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”.

– Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]” (Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa)

Với kinh nghiệm của một người từng ngồi tù cộng sản, tôi tin chắc Nguyễn Ngọc Già sẽ không được “may mắn” như ba anh, như chị gái và anh trai của anh nhất là khi anh vẫn còn là một “ẩn số” trước công luận. Chế độ lao tù cộng sản hoàn toàn tương phản, trái ngược với nhà tù dưới thời VNCH. Sẽ không có chuyện “được tha bổng sau vài tuần tạm giam vì không đủ chứng cớ kết tội”. Không có chuyện “ra tù sớm” đối với một tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm nếu không kèm theo một lợi nhuận mà nhà cầm quyền được hưởng. Càng không thể mơ đến một cơ thể khỏe mạnh sau ngần ấy năm tù. Một người đối kháng với chế độ, cho dù có bị bắt, bị kết án với những thứ tội danh trên trời rơi xuống, chẳng liên quan gì tới chính trị, vẫn kéo theo những hệ lụy vô cùng to lớn tới nguời thân, gia đình, họ hàng và bè bạn. Chưa nói tới những khó khăn trong việc mưu sinh. Kinh khủng hơn, người tù khi trở về sẽ phải chịu án “tù nhà” thêm vài năm nữa thậm chí đến hết đời. Nói cho chính xác, những cựu tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị chỉ thực sự được tự do khi đất nước này có tự do.

Khi viết những dòng bộc bạch trên, hẳn Nguyễn Ngọc Già đã mường tượng tới những ngày đang chờ đợi mình phía trước.

Sau cái chết của hai chiến sĩ Tự do Đinh Đăng Định và Huỳnh Anh Trí, Nguyễn Ngọc Già đưa ra ý tưởng cần có một lá cờ và một ca khúc riêng dành cho Tù Nhân Lương Tâm.

Anh đưa ra gợi ý:
– Nền trắng, biểu trưng cho tấm lòng trung trinh của Tù Nhân Lương Tâm?

– Trên nền trắng tinh khôi đó, một trái tim được cách điệu chan chứa ân tình, trang trọng đứng giữa “Tâm” lá cờ?

Lá cờ tựa như ghi ơn các thế hệ Tù Nhân Lương Tâm đã và đang đấu tranh, chịu hy sinh thân mình cho Quê Hương và Dân Tộc Việt Nam.

Lá cờ đó cũng nên được phủ lên quan tài những Tù Nhân Lương Tâm đã nằm xuống như Đinh Đăng Định, Huỳnh Anh Trí v.v… và cũng được sử dụng để vinh danh trong “Ngày Tù Nhân Lương Tâm”?

Cuối cùng, một nhạc khúc “Lương Tâm Ca” hình như cũng là điều thiết thực đang chờ đợi các nhà soạn nhạc? Đó chính là lời kêu gọi hàng triệu con tim Việt Nam cùng tiến lên giành lấy Quyền Con Người?”

Có lẽ, Nguyễn Ngọc Già là người đầu tiên (mà tôi biết) đưa ra ý tưởng về lá cờ và ca khúc riêng dành cho Tù nhân lương tâm, khi anh còn chưa là một người tù. Đến nay, mong muốn ấy vẫn chưa thành hiên thực.

Một chút Tháng Tư:

Tháng Tư, chúng ta sống với nhiều thân phận hơn một thân phận của riêng mình.

Tôi không là ai trong số những người vợ mất chồng, con mất cha, mẹ mất con.

Tôi không là ai trong số những con người khốn khổ liều mình trên biển để chạy trốn địa ngục dù biết rằng phía trước có thể là cái chết.

Tôi không là ai trong số những người phải chứng kiến người thân bị bắn chết trên đầm lầy của máu. Trong những mái nhà bị thiêu rụi, không đâu là nhà của tôi. Không ai trong số những con người lầm lũi, chết dần chết mòn trong các nhà tù khắp mảnh đất lầm than hình chữ S là bác, là anh, là cha tôi.

Năm bẩy mươi nhăm, tôi chưa chào đời. Nhưng tôi vẫn đau nỗi đau của bốn mươi năm về trước. Chúng ta đều đau đớn vì chúng ta cùng là con của Mẹ Việt Nam- CHÚNG TA LÀ MỘT.

Bốn mươi năm, đất nước này vẫn là một nhà tù. Dẫu thế, nhà tù khổng lồ này chưa bao giờ vắng bóng những con người sẵn sàng chiến đấu cho tự do dù phải trả giá bằng gông cùm, xiềng xích, biệt ly hay những vết thương hằn trên da thịt.

Hôm nay, tôi nhớ đến Nguyễn Ngọc Già để nhớ đến những chiến sĩ tự do thầm lặng khác.

Và hy vọng mỗi người chúng ta hãy “là một ngọn nến để làm nên hàng ngàn ánh đuốc. Mỗi người góp một bàn tay để làm nên hình ảnh vạn cánh tay giơ lên vì Tự do, Dân chủ và Nhân quyền”. Để tương lai sẽ không còn những Nguyễn Ngọc Già, Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Bùi Thị Minh Hằng, Việt Khang, Lê Quốc Quân, Nguyễn Viết Dũng….bị cầm tù trong cô đơn chỉ vì đấu tranh cho Tự do của chúng ta.

Tác giả gửi đăng

——————————–

Blogger Nguyễn Ngọc Già bị bắt

.

Nguyễn Ngọc Già, người chiến sĩ cô đơn.

Người Buôn Gió   24-04-2015

.

Tôi tiễn anh lên đường (thơ)

Nguyên Thạch  1/04/2015

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/01/toi-tien-anh-len-uong.html

.

Bạn đọc viết: Vì sao Blogger Nguyễn Ngọc Già bị phát hiện?

Đàn Chim Việt   11:00:am 06/01/15

http://www.danchimviet.info/archives/92990/ban-doc-viet-nguyen-ngoc-gia-bi-phat-hien-vi-tra-loi-pv-dai-rfa/2015/01

.

Nguyễn Ngọc Già – Một ngòi bút chính trực

Dương Hoài Linh       Thứ Tư, 31/12/2014

http://www.danluan.org/tin-tuc/20141230/duong-hoai-linh-nguyen-ngoc-gia-mot-ngoi-but-chinh-truc

.

Từ vụ blogger Nguyễn Ngọc Già đến bảo mật Internet

Công Luân    12/31/2014   8 Comments

http://danlambaovn.blogspot.com/2014/12/tu-vu-blogger-nguyen-ngoc-gia-en-bao.html

.

Một thách thức cho người đấu tranh

Mặc Lâm biên tập viên, Bangkok 2014-12-29

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/great-chalg-for-dissiden-12292014035813.html

.

Nguyễn Ngọc Già vượt lằn ranh đỏ

Lê Diễn Đức Mon, 12/29/2014

http://bon-phuong.blogspot.com/2014/12/nguyen-ngoc-gia-vuot-lan-ranh-o-le-dien.html

.

Vì sao họ lại bắt Nguyễn Ngọc Già? (*)   –   FB Hoàng Dũng   28-12-2014

.

Việt Nam tiếp tục bắt những cây viết phản biện     FB Người Buôn Gió   28-12-2014

December 28, 2014

.

Tin nóng: Blogger Nguyễn Ngọc Già bị bắt khẩn cấp?   Dân Luận tổng hợp 28/12/2014

.

Blogger Nguyễn Ngọc Già có thể đã bị CA “bắt khẩn cấp”?   Danlambao    28-12-2014

.

.

.

Cuộc đàn áp quy mô Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 30/4 (Ỷ Lan – RFA)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Cuộc đàn áp quy mô Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất sau 30/4

Ỷ Lan, Phóng viên RFA, Paris
2015-04-27

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/scale-of-a-crackdown-yl-04272015154522.html

.

Từ trái sang phải: HT Thích Quảng Độ, Nhật Thường, Thích Nhật Ban, Đồng Ngọc, Thích Trí Lực, Thích Không Tánh tại TAND TPHCM tháng 8 năm 1995.   Photo courtesy of lehienduc.blogspot.com

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/scale-of-a-crackdown-yl-04272015154522.html/4892908803_c9f120b1b7.jpg/image

Danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) ra đời tại Saigon ngày 4 tháng giêng 1964, sau cuộc đấu tranh đòi hỏi bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng năm 63. Vì trước đó, Dụ số 10 của Pháp bó buộc phải hoạt động theo quy chế Hiệp hội.

Kể từ tháng 9 năm 75, cuộc đàn áp Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bắt đầu theo Chỉ thị số 20 của Đảng do ông Lê Duẩn ký năm 1960, khiến  Phật giáo miền Bắc bị tiêu vong. Nay đem thực hiện tại Miền Nam.

Cuối tháng 9 năm 75, Hoà thượng Thích Huyền Quang nhân danh Viện Hoá Đạo đã có văn thư phản đối Chủ tịch Cách Mạng Lâm thời về việc đập phá các tượng Phật lộ thiên.

Nhiều hiện tượng khác, như bắt treo hình Hồ Chí Minh trên bàn thờ tổ tiên, áp lực chư Tăng hoàn tục, hoặc đưa sang chiến trường Kampuchia, cấm treo cờ Phật giáo trong các chùa viện, cưỡng chiếm các cơ sở văn hoá, giáo dục, từ thiện Phật giáo, như Cô nhi viện Quách Thị Trang, Viện Đại học Vạn Hạnh, v.v…, hàng chục nghìn Tăng Ni, Phật tử bị đưa vào trại Cải tạo.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thời đại nào mà số lượng Tăng Ni, Phật tử bị cầm tù đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Tình trạng đàn áp bức thiết khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2-11 năm 75 tại Thiền viện Dược Sư, tỉnh Cần Thơ, dưới hàng biểu ngữ “Chết vinh hơn sống nhục“. Đại đức Thích Huệ Hiền để lại chúc thư yêu sách chính quyền Cách mạng thực hiện nhân quyền, tự do tôn giáo, chấm dứt đàn áp GHPGVNTN.

Tình trạng đàn áp có chủ trương và chính sách này, không ai lên tiếng rõ hơn Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu. Năm Mậu Thân 68, ngài bị cộng sản bắt đưa lên rừng rồi đưa ra Hà Nội áp lực tuyên truyền cho chế độ, nhằm đánh lừa dư luận quốc tế là Phật giáo ủng hộ Bắc Việt. Thế nhưng, trở về lại miền Nam, ngài từ nhiệm tất cả các chức vụ mà Hà Nội gán cho, lại còn tố cáo đàn áp Phật giáo và thảm sát cố Hoà thượng Thích Thiện Minh.

Sau đây là tiếng Ngài qua một băng thu âm, được đăng tải trên tạp chí Quê Mẹ tại Paris :

“Từ khi giải phóng đến nay, Phật giáo đồ chúng tôi bị bao nhiêu khổ đau tan tác. Đi bất cứ đâu, đạo khác thì chúng tôi không biết, chớ về gặp các nhà chùa Phật giáo, cán bộ, bộ đội phát biểu “Hòa bình Độc lập rồi, tu mà làm gì nữa? Tuân thủ thờ Cách mạng hơn là thờ Phật“.

“Bắt đầu từ đó, sự vận động, khủng bố không cho họ được làm lễ. Phá hoại tượng Phật lộ thiên ở Gia Lai, Kontum, Ban Mê Thuột, Biện Hồ, Vũng Tàu, Quy Nhơn, Quảng Ngãi… Bộ đội cột giây lên kéo xuống, đập vỡ tan hết.

“Sau đây còn bắt các vị tu sĩ lấy lý do mấy ông Sư đó phản động theo CIA, theo Mỹ, theo Nguỵ. Rồi lần lượt bắt cho đến các vị lãnh đạo trong Viện Hoá Đạo nữa, Thượng toạ Huyền Quang, Thượng toạ Quảng Độ, rồi đến bắt Thượng toạ Thiện Minh nữa, để Thiện Minh chết nữa.

“Thiện Minh không có tội chi hết, thì tại sao chính phủ làm cái việc lạ lùng hết sức. Đi bắt tội người không có tội chi hết là Thiện Minh mà lại dung tha cho người có tội là cơ quan. Tôi thì không biết rõ luật quốc tế lắm. Nhưng tôi đoán chắc rằng, luật quốc tế không cho phép để cho người bị bắt chết trong trại giam. Mà đây Thiện Minh đã chết trong trại giam. Cơ quan nói Thiện Minh chết vì xuất huyết não. Tôi có thể kết luận, Thiện Minh chết không phải vì xuất huyết não, mà vì bàn tay tội ác chính trong cơ quan tạo ra. Là bởi được tin Thiện Minh chết, Viện Hoá Đạo về liền, thấy các ông bỏ trong hòm mà liệm rồi, chỉ chừa cái mặt. Viện Hoá Đạo xin đem về chôn cất, các ông không cho.

“Tại sao vậy ? Đây thấy rõ ràng quá. Rõ ràng như hai với hai là bốn. Là trong người của Thiện Minh đầy cả thương tích. Muốn che đậy thương tích đó, muốn che đậy lấp liếm cái việc làm của mình, bằng cách bỏ trong hòm liệm đi. Bởi vì sợ người ta thấy những cái vết thương mà các ông đã đánh đập.

“Là một công dân, tôi không thể để cho cơ quan làm những việc bất chính như vậy. Tôi xin nhắc lại ba điều yêu cầu:

“Một là yêu cầu chánh phủ trả tự do cho tất cả các tu sĩ bị bắt giam cầm đã lâu mà không can án;

“Thứ hai là đưa cái chết của Thượng toạ Thiện Minh ra ánh sáng, nghĩa là phải đưa người giết Thiện Minh ra ánh sáng. Không nói lôi thôi gì hết. Có người giết;

“Thứ ba phải chấm dứt tình trạng khủng bố các tín đồ ở các địa phương“.

Ngày 16-4-1977, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo kêu gọi Phật tử Saigon đấu tranh chống lại GHPGVNTN. Thông báo cho rằng, “trong giới lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phái Ấn Quang có nhiều người vốn có mưu đồ xấu chống cách mạng, chống Cọng sản” (…) “Số này đã thao túng Giáo hội âm mưu kích động Phật tử chống lại các chính sách của Nhà nước”. Thông báo còn hăm doạ ra tay đàn áp.

Hăm doạ biến thành sự thật, bảy vị lãnh đạo Viện Hoá Đạo bị bắt giam. Hoà thượng Huyền Quang, Quảng Độ bị giam 20 tháng, nhờ áp lực quốc tế mới được thả nhưng bị quản chế. Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết tại Trại thẩm vấn X4, đường Nguyễn Trãi, Saigon, như Hoà thượng Đôn Hậu tố giác.

Suốt 5 năm đàn áp, khủng bố, nhưng không thành công tiêu diệt GHPGVNTN. Năm 1981, nhà cầm quyền Cộng sản chuyển qua chiêu bài mới, gọi là Thống nhất Phật giáo“, thành lập “Hội Phật giáo Việt Nam” tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, ngày 4-11để làm công cụ chính trị cho Đảng và Nhà nước. Ép buộc Tăng Ni, Phật tử thuộc GHPGVNTN phải gia nhập.

Ông Xuân Thuỷ, Bí thư Trung ương Đảng kiêm Trưởng ban Dân Vận chỉ thị cho ông Đỗ Trung Hiếu, cán bộ tôn giáo vận, thực hiện cuộc Thống nhất Phật giáo này. Ông giải thích cho ông Hiếu vì sao phải dẹp bỏ GHPGVNTN như sau :

“Quan trọng là Đảng không bao giờ lãnh đạo được Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mà ngược lại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trở thành một tổ chức tôn giáo rộng lớn có đông đảo quần chúng, là một tổ chức có áp lực chính trị thường trực với Đảng và chính phủ Việt Nam”.

Năm 1994, hối hận việc làm sai lạc của mình, ông cho phát hành tập sách “Thống nhất Phật giáo” nói lên tất cả sự thật và tiết lộ :

Cuộc thống nhất Phật giáo lần này, bên ngoài do các Hòa thượng gánh vác, nhưng bên trong bàn tay Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt quá trình thống nhất để nắm và biến Phật giáo Việt Nam trở thành một tổ chức bù nhìn của Đảng. (…) Nội dung hoạt động là do cúng bái chùa chiền, không có hoạt động gì liên quan tới quần chúng và xã hội. Hội Phật Giáo Việt Nam ở trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, tuân thủ luật pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Kể từ đó, GHPGVNTN bị đưa ra ngoài vòng pháp luật, dù Nhà nước không có văn kiện nào chính thức giải thể. Một cuộc đàn áp mới sắp khai trương.

Vài tháng sau Giáo hội Phật giáo nhà nước ra đời tại Hà Nội, ngày 24-2-1982, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định trục xuất hai Hoà thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ về quản chế tại quê quán Quảng Ngãi và Thái Bình, không qua sự xét xử của toà án. Ngày 7-7 cùng năm, cưỡng chiếm chùa Ấn Quang là trụ sở của GHPGVNTN. Toàn bộ tư liệu, hồ sơ của Viện Hoá Đạo bị đốt sạch trong năm ngày mới hết.

Năm 1991, Đức cố Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu viên tịch tại chùa Linh Mụ, Huế. Nhà nước muốn lợi dụng tang lễ này tuyên truyền chính trị cho Đảng. Nhưng Di chúc Ngài ngăn cấm không tổ chức rầm rộ, không đọc điếu văn, ca tụng, v.v… Nên 50 Tăng Ni tuyệt thực phản đối tại chùa Linh Mụ. Có vị đòi tự thiêu. Ngài để lại khuôn dấu Giáo hội và trao quyền cho hai Hoà thượng Huyền Quang và Quảng Độ tiếp tục lãnh đạo GHPGVNTN để phục hồi quyền pháp lý cho Giáo hội. Mặc dù bị công an phong toả, cấm đoán, tại lễ tang, Hoà thượng Huyền Quang dõng dạc tuyên bố trước Linh đài quyết tâm thực hiện Di chúc giao phó :

“Pháp lý là cái gì ? Giấy tờ chỉ được viết ra cho một tổ chức tân lập, còn Giáo hội ta đã có mặt trên dải đất này 2000 năm rồi. Đinh, Lê, Lý. Trần đã chấp nhận Phật giáo.

“Pháp lý của Giáo hội là 2000 năm truyền đạo trên dải đất Việt Nam này. Địa vị của Giáo hội là 80% dân chúng và thành thị, nông thôn, hải đảo. Đó là cơ sở vững chắc, rộng rãi muôn năm của Giáo hội.

“Như vậy Pháp lý có thể cho ra và có thể thu lại. Vậy cho nên đừng đặt vấn đề pháp lý của thời đại, mà phải đặt lịch sử truyền đạo và sự chấp nhận của dân chúng Phật tử“.

Trước sự bùng dậy của khối Phật giáo đồ sau tang lễ, tài liệu Tuyệt Mật của Bộ Nội vụ viết ngày 18-8-1992 chỉ thị 5 biện pháp đấu tranh chống khối Phật giáo Thống Nhất, đặc biệt là phân hoá cao hàng ngũ giáo sĩ ; “cắt đứt chân tay” với số cực đoan chống đối ; và thâm nhập đặc tình trong Tăng tín đồ Phật giáo.

Vì thực hiện và phổ biến Di chúc Ngài Đôn Hậu, chư Tăng chùa Linh Mụ bị đàn áp dữ dội, đưa tới cuộc biểu tình bốn mươi nghìn Phật tử Huế xuống đường ngày 24-5-1993 đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất chưa hề có dưới chế độ Cộng sản. Tại Hội nghị “Diễn biến Hoà bình” ở Hải phòng ngày 26.6 cùng năm, Tướng Đặng Vũ Hiệp đánh giá cuộc biểu tình của Phật tử Huế có “nguy cơ mất nước.

Sự kiện hi hữu xẩy ra là ngày 2-4-2003, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp Hoà thượng Thích Huyền Quang, nhân dịp ngài ra Hà Nội giải phẫu khối u ở mặt. Một thủ tướng tiếp một tù nhân ! Thủ tướng xin Hòa thượng hỉ xả cho chuyện đã qua, vì cán bộ cấp địa phương làm sai. Nhiều nhà quan sát tưởng rằng vấn đề Phật giáo được lắng yên.

Thế nhưng, sau Đại hội Phật giáo kỳ VIII do Hoà thượng Huyền Quang triệu tập tại Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, ngày 1-10-2003, để bổ sung nhân sự vào hai Viện Tăng Thống và Viện Hoá Đạo, thì chuyến xe chở 10 vị giáo phẩm về lại Saigon bị chận bắt tại Lương Sơn hôm 8-10, trong số có hai ngài Huyền Quang và Quảng Độ. Tất cả đều bị bắt đi “làm việc” và ra khẩu lệnh quản chế.

Từ đó đến nay Giáo hội luôn bị đàn áp, sách nhiễu thường trực. Mọi hoạt động của 20 Ban Đại diện Giáo hội tại các tỉnh thành đều bị ngăn cấm. Chùa Giác Minh của Hoà thượng Thanh Quang ở Đà Nẵng bị phong toả thường trực, các Đại lễ Phật Đản, Vu Lan hay Tết bị ngăn cấm tổ chức.

Thế nhưng Giáo hội không ngừng lên tiếng cho những vấn nạn xã hội hay đất nước. Từ nơi quản chế Quảng Ngãi, ngày 20-11-1993, Hoà thượng Thích Huyền Quang ra Tuyên cáo Giải trừ Quốc nạn và Pháp nạn, yêu sách bỏ điều 4 trên Hiến Pháp và bầu cử lại Quốc hội dưới sự giám sát của LHQ với sự tham gia của tất cả các đảng phái quốc gia.

Đầu năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ bị bắt khi dẫn phái đoàn Viện Hoá Đạo đi cứu trợ nạn bão lụt khủng khiếp ở đồng bằng sông Cửu Long. Bị kết án 5 năm tù, giam tại nhà tù Ba Sao. Được ân xá năm 1998, nhưng vẫn còn quản chế tại Thanh Minh Thiền Viện, Saigon. Ngài tuyên bố : “Tôi đi từ nhà tù nhỏ vào nhà tù lớn”.

Năm 2001 ngài công bố “Lời kêu gọi cho Dân chủ” với giải pháp 8 điểm thực hiện, mà ngài xem như giải pháp duy nhất cứu nguy dân tộc.

Ngày 17-5-2007, Hoà thượng Quảng Độ đến uỷ lạo và tiếp tế thực phẩm thuốc men cho Dân oan khiếu kiện trước tiền đình Quốc hội II ở Saigon. Việc làm bị báo chí truyền thông nhà nước tố cáo, hăm doạ trong vòng 3 tháng. Ngài cũng nhiều lần lên tiếng tố cáo về việc Trung quốc xâm lấn lãnh thổ và biển đảo, nạn bô xít Tây nguyên nơi Trung quốc nắm yết hầu quân sự, chiếm đóng Hoàng Sa Trường Sa, cho đến gần đây, năm 2014, biến cố giàn khoan Hải dương 981.

Nhiều vị Đại sứ các nước như Hoa Kỳ, Na Uy, Đức, Anh, Pháp… vẫn thường  xuyên đến vấn an, trao đổi với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Liên tiếp nhiều năm, ngài được đề cử ứng viên Giải Nobel Hoà bình. Năm 2003, ngài và ngài Huyền Quang được trao Giải Nhân quyền của Tiệp dưới sự chủ trì của cựu Tổng thống Vaclav Havel, năm 2006 ngài được Giải Nhân quyền Quốc tế Rafto của Vương quốc Na Uy.

Nhờ sự lưu tâm quốc tế này mà ngài và hàng giáo phẩm Giáo hội không bị khủng bố, bắt giam tuỳ tiện như những năm sau 30 tháng Tư 75.

Ngài xác nhận lập trường Giáo hội suốt 40 năm qua không hề thay đổi như sau:

“Chừng nào mà chế độ Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam còn, thì Giáo hội không được sinh hoạt bình thường đâu.

“Họ dùng đủ cách để mà xoá sổ, xoá sạch cái danh nghĩa của Giao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trên đất nước Việt Nam. Mà chưa hết đâu, còn nhiều. Vì thế cho nên cứ sẵn sàng chuẩn bị tinh thần để đón nhận, để đương đầu.

“Cho nên trước khi tiễn đưa Đức Tăng Thống đến nơi an nghỉ cuối cùng, thì chúng tôi đã nói rồi : Chúng tôi sẽ tiếp tục con đường đi của Ngài.

“Còn rất nhiều khó khăn, còn rất nhiều chông gai, nhưng sẵn sàng vượt qua. Còn hơi thở thì vẫn cứ tiếp tục. Đó là cái chí nguyện của Giáo hội”.

————————————–

‘Ngày 30/4 gây điêu đứng cho Phật giáo VN’

Hòa thượng Thích Nguyên Trí   –   BBC

26-04-2015

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/04/150421_buddhism_situation_vietnam_war

Biến cố ngày 30/4 năm 1975 không chỉ là ‘bước ngoặt đau thương cho dân tộc’ mà còn ‘gây điêu đứng cho Phật giáo’, một tôn giáo đã đồng hành cùng lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc, một vị chức sắc cao cấp của Phật giáo tại hải ngoại nói với BBC.

‘Không phát triển được’

Trao đổi với BBC Việt ngữ tại chùa Bát Nhã tại miền Nam California, Hòa thượng Thích Nguyên Trí, viện chủ chùa cho biết chính ông đã ‘chịu đựng những đau thương từ sau năm 1975 cho đến năm 1981’.

“Vì quá đau thương không thể xây dựng được Phật giáo trong nước nên tôi phải tìm đủ mọi cách ra hải ngoại làm việc để duy trì Phật giáo cho đến ngày hôm nay,” Hòa thượng Thích Nguyên Trí nói.

Chùa Bát Nhã cũng là văn phòng thường trực của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một giáo hội bị chính quyền trong nước cấm, tại Hoa Kỳ. Hòa thượng Thích Nguyên Trí là phó chủ tịch điều hành của văn phòng này.

“Cộng sản không bao giờ có tín ngưỡng cho nên khi họ đi vào đánh chiếm miềm Nam thì hầu hết các tôn giáo bị tê liệt, trong đó có tôn giáo gắn liền với lịch sử dân tộc là Phật giáo,” ông nói.

Theo lời ông kể lại thì chính quyền của Đảng Cộng sản chiếm được miền Nam họ đã ‘thanh lọc những vị nào thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra một bên’ và ‘đưa vào danh sách cần phải lưu ý’.

“Tất cả những hành động từ cử chỉ đi đứng tới lui sinh hoạt trong chùa chiền gần như bế tắc,” ông nói.

“Họ không cho hoạt động bất cứ điều gì. Ngay các buổi lễ cũng không cho hành lễ. Những gia đình Phật tử hồi giờ sinh hoạt tại chùa cũng bị ngăn cấm. Tất cả những ban hộ niệm, những tổ chức Phật giáo bị tê liệt toàn bộ,” ông nói thêm.

“Ngay cả các vị lãnh đạo, các vị thầy của chúng tôi như Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng không còn cách nào phát huy tinh thần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.”

“Chính vì vậy khi chúng tôi đặt chân lên bến bờ tự do thì điều trước hết là mở Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở hải ngoại và ngày nay có mặt ở khắp nơi,” ông nói và cho biết từ ngày ông đặt chân đến Mỹ ông đã quyên góp được hơn một triệu Mỹ kim chuyển về trong nước làm từ thiện và xây dựng chùa chiền.

‘Chỉ có hình thức’

Nhận định về tình hình Phật giáo trong nước, Hòa thượng Thích Nguyên Trí nói ‘làm theo chiều hướng của Đảng Cộng sản chứ không theo tinh thần của Phật giáo’.

Theo lời ông giải thích thì trong thành phần lãnh đạo của giáo hội Phật giáo trong nước đều ‘đặt dưới sự chỉ đạo của Nhà nước chứ không được quyền tự bầu cử và ứng cử’.

“Vấn đề thọ giới thì là những người trong tôn giáo tự sắp xếp với nhau đưa lên hàng giáo phẩm: vị nào lên hòa thượng, thượng tọa, đại đức hoàn toàn do giáo hội bổ nhiệm và suy cử chứ Nhà nước không có quyền nhúng vô,” ông nói.

“Những ngày lễ như Lễ Phật đản, Lễ Vu Lan phải xin phép chính quyền và người họ đưa ra mới được quyền đứng ra trước quần chúng làm lễ,” ông nói thêm.

Ngay cả các Phật viện trong nước, theo lời Hòa thượng Thích Nguyên Trí, thì các tăng ni sinh đến tu học cũng bị ‘xét lý lịch cá nhân’ chứ ‘không xét theo đạo đức thế nào’.

Về đời sống của các tôn giáo trong nước hiện nay, ông nhận xét rằng ‘có phát triển’ nhưng ‘chỉ là hình thức’ vì ‘tự do không có’.

“Chẳng hạn như đối với Phật giáo Hòa hảo, vị tối tôn trọng của họ là Ngài Huỳnh Giáo chủ thì ngày lễ lộc tưởng niệm hết sức khó khăn,” ông nói thêm và cho biết Nhà nước ‘theo dõi các vị chức sắc chức sắc tôn giáo xem họ phát ngôn thế nào nếu nói trật đường lối là khó sống’.

Về phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam do chính quyền kiểm soát là ‘Đạo pháp-Dân tộc-Chủ nghĩa xã hội’, ông cho rằng do Đảng Cộng sản ‘ép buộc phải đưa chủ nghĩa cộng sản vào’ chứ ‘Đạo pháp không thể đi cùng chủ nghĩa xã hội’.

“Việc này làm thành phần trí thức hiểu biết rất đau lòng,” ông nói.

Cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ với Hòa thượng Thích Nguyên Trí được thực hiện trong tháng Tư, 2015 tại Nam California.

.

.

.

Vượt biên vì ‘mất niềm tin và khác quan điểm’ (Luật gia Trần Hưng – BBC)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Vượt biên vì ‘mất niềm tin và khác quan điểm’

Luật gia Trần Hưng   –   BBC

27 tháng 4 2015

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/04/150422_why_i_fled_my_country_vietnam_war

.

Một luật gia hiện đang sống ở miền Nam California nói với BBC rằng ông bỏ đất nước để đi vượt biên vì đã ‘mất hết niềm tin’ vào cuộc sống và ‘khác biệt trong quan điểm với chính quyền cộng sản’.

Luật gia Trần Hưng và vợ con đã đến Mỹ vào năm 1995. Ông kể lại cho BBC những gì đã xảy ra với gia đình ông vào ngày 30/4 năm 1975 và những năm tháng sau đó.

‘Bi thảm’

“Ngày 30/4, lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được thế nào là bi thảm,” ông Hưng nói và cho biết khi ông đang ở nhà thì nghe qua đài phát thanh Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.

“Ngoài đường nhốn nháo. Các quân nhân người cởi trần mặc quần đùi, người mặc áo may ô đi bị ngoài đường. Quần áo vứt đầy.”

“Nhà tôi gần Đại học Vạn Hạnh. Tôi ra đó thấy có những người đứng trên xe lam hô hào mọi người ra đón tiếp quân cách mạng vào rồi tôi thấy xe tăng chở bộ đội vào,” ông kể.

Ông mô tả tâm trạng của ông khi đó là ‘chẳng buồn chẳng vui’ và ‘bàng hoàng vì mọi chuyện đến quá nhanh’.

“Tôi không thể tưởng tượng một chính quyền như vậy chỉ sụp đổ trong vài chục ngày,” ông nói.

“Cũng như nhiều người người lúc đó chúng tôi không cảm thấy sợ hãi và chịu đón nhận tất cả những gì xảy ra cho mình, thậm chí cái chết vì trước đó tôi có nghe đến chuyện cánh đồng chết ở Campuchia.”

Theo lời ông Hưng thì người dân Sài Gòn lúc đó ra đường ‘có lẽ vì tò mò hơn là đón bộ đội miền Bắc vào’.

“Ở khu phố chúng tôi thật sự người ra đón bộ đội miền Bắc là không có,” ông nói và cho biết lúc đó bố ông, vốn phục vụ trong quân lực Việt Nam Cộng hòa, không muốn đưa gia đình ra nước ngoài dù có người khuyên nên di tản.

“Bố tôi biết ở lại có thể bị giết và bị mọi thứ và cả gia đình cũng vậy,” ông nói, “Có lẽ bố tôi cảm thấy bị đồng minh đâm sau lưng nên không muốn đi. Chúng tôi cũng muốn để xem như thế nào.”

Từ ‘đỉnh cao xuống vực sâu’

Ông Hưng cũng mô tả những ngày tháng sau đó khi gia đình ông trải qua rất nhiều khó khăn dưới chế độ mới.

“Sau năm 1975 chúng tôi từ đỉnh cao xuống vực sâu,” ông kể, “Họ (chính quyền) không giết nhưng khổ thì khổ rất nhiều.”

Ông cho biết lúc đó ông, vốn đang là sinh viên luật, ‘không có tập trung cải tạo gì hết mà chỉ có đến trình diện thôi’.

“Điều khó chịu là họ phát loa ở trước nhà tôi phát suốt từ 4h sáng đến 11h đêm, đọc các thứ báo Nhân dân, Sài Gòn giải phóng,” ông nói.

“Hàng xóm có những người đổi bên nhanh quá. Họ xộc vào nhà tôi bất lúc nào như là nhà không có chủ hỏi ‘đã đi trình diện chưa’ và thế này thế kia.”

“Sau đó ít lâu người ta yêu cầu đổi tiền. Mỗi gia đình chỉ được 200 đồng dù anh có bao nhiêu tiền đi nữa. Đồng bạc miền Nam coi như vứt đi. Có sổ hộ khẩu, sổ mua hàng, tất cả mọi thứ đều vào kỷ luật.”

“Cứ hơi một tí thì họ lôi lên bắt đi họp hành. Đủ thứ hội: hội phụ nữ, hội thanh niên, hội nhi đồng. Người nào cũng vào tổ chức và bị kiểm soát chặt chẽ,” ông nói thêm.

Ông cũng cho biết cuộc sống khi đó ‘khác hẳn cuộc sống ở miền Nam trước kia’.

“Chúng tôi đi đến thăm ai, ngủ lại nhà ai cũng phải khai báo dù đó là người thân của mình,” ông kể, “Muốn mua cái gì cũng phải có sổ sách chứ không phải tự nhiên đi ra mua cái này cái kia.”

Lúc đầu, gia đình ông còn được phân phối gạo nhưng từ từ ‘xuống tới gạo mốc, gạo ẩm, rồi bắp, bo bo’.

‘Mất niềm tin’

Ông Hưng cho biết gia đình ông đã tìm cách vượt biên nhiều lần và một người em của ông đã mất tích trên đường vượt biển.

Luật gia Hưng cũng nói lý do ông đi vượt biên không phải do khó khăn về kinh tế mà ‘khó khăn về mặt tinh thần’.

“Chúng tôi thấy rõ ràng quan điểm sống của chủ nghĩa cộng sản với chúng tôi không phù hợp,” ông nói và cho biết những ngày đầu tiên những sinh viên trường Luật như ông được cho đi học về Triết học Mác-Lênin ông đã thấy ‘chủ thuyết cộng sản sai ngay từ đầu, sai ngay từ khái niệm về giá trị’.”

“Chúng tôi nghe thấy không hợp lý thì chúng tôi cãi. Nhưng mỗi khi như vậy thì chúng tôi bị trừng phạt.”

Ông cũng kể lại lần ông đưa con của ông vào nhà thương đã khiến cho ông kiên quyết phải tìm đường ra đi.

“Khi chúng tôi vào đến phòng cấp cứu thì thấy có hai cô ngồi đó, trên áo đề chữ bác sỹ và có nghe cô này nói với cô kia rằng ‘Thôi chết rồi chị ạ, không biết 1cc có phải là 1ml không, không biết em có cho người ta lầm thuốc không’,” ông kể.

“Tôi nghĩ ngay trong bụng thôi đời thằng con tôi tiêu rồi. Từ lúc đó tôi nhất định bằng mọi giá phải đi.”

Một lần khác, khi ông đến thăm một người quen là đại tá công an khi ông này ốm và ông có nói rằng: “Tiêu chuẩn của chú là vào Bệnh viện Thống Nhất. Bệnh viện ấy to lắm nhiều thứ tối tân lắm ngày xưa bà Thiệu (phu nhân ông Nguyễn Văn Thiệu) xây.”

“Ông ấy bảo ‘Mày biết gì. Năm 1975 bọn nó chở về miền Bắc hết rồi,” ông Hưng thuật lại lời người Đại tá công an đó nói rằng “Đám bác sỹ trong đó toàn là con ông cháu cha. Vô trong đó chết chắc. Tao đi kiếm mấy thằng bác sĩ Nguỵ của mày cho chắc ăn.”

“Khi xảy ra những chuyện như vậy thì trong bụng chúng tôi mất niềm tin. Đằng nào cũng chết nên phải đi tìm sự sống trong cái chết,” ông kể về lý do đi vượt biên của mình.

“Lúc đó đi ra ngoại quốc không biết tương lai ra làm sao. Không biết mình có thể làm được những gì. Ra đại dương lớn như vậy mà con thuyền chỉ có 12 mét thì chỉ có 1 phần sống, 99 phần chết.”

“Thế nhưng tại sao người ta vẫn đi? Tại vì ở lại là chết chắc,” ông giải thích.

‘Lòng tốt của Hoa Kỳ’

Ông Hưng cho biết sau khi đến Mỹ thì ‘nhờ sự giúp đỡ của chính phủ Mỹ, nhờ sự bao dung của nhân dân Mỹ mà chúng tôi vẫn sống được và có tương lai tốt đẹp cho chính mình và con cháu’.

Khi đến Mỹ, gia đình ông được trợ cấp để sống trong tám tháng đầu tiên nhưng chưa hết thời gian đó ông đã xin làm, ông kể.

“Nước Mỹ rất là tử tế. Họ cho chúng tôi đi thi và nhận chúng tôi vào làm việc.”

“Điều làm chúng tôi buồn nhất là ở một xứ sở khác máu tanh lòng, không phải bà con đồng bào của mình lại đưa bàn tay ra giúp đỡ mình vô cùng tận tình trong khi ở trên quê hương mình thì mình bị lưu đày,” ông nói.

“Khó khăn thì có khó khăn nhưng với sự giúp đỡ của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ, chúng tôi đã vượt qua dễ dàng,” ông nói thêm.

Cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ với luật gia Trần Hưng được thực hiện tại văn phòng làm việc của ông ở Quận Cam trong tháng Tư, 2015 tại Nam California.

.

.

.

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết? (Nguyễn Hưng Quốc)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Chiến tranh Việt Nam có thực sự cần thiết?

Nguyễn Hưng Quốc

28.04.2015

http://www.voatiengviet.com/content/chien-tranh-vietnam-co-thuc-su-can-thiet/2736675.html

.

Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.

Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính:  Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

.

.

.

Nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp tuần hành bảo vệ cây xanh (Nguyễn Tường Thụy)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp tuần hành bảo vệ cây xanh

Nguyễn Tường Thụy

Mon, 04/27/2015 – 04:10 — nguyentuongthuy

http://www.rfavietnam.com/node/2557

.

Lãnh đạo Hà Nội chính thưc tỏ thái độ đối với việc bảo vệ cây xanh:

Sau khi việc chặt bừa bãi mang tính tàn sát cây xanh ở Hà Nội bị phát lộ, đã có 3 cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh vào các ngày 22/3 và 29/3 và 12/4 và 19/4/2015. Ba cuộc tuần hành này về cơ bản diễn ra khá suôn sẻ, trừ vụ bắt Trịnh Việt Dũng và 4 người khác sau buổi tuần hành ngày 12/4. Ngoài ra, còn có cuộc đạp xe vì cây xanh ngày 5/4/2015. Tuy nhiên việc tuần hành bảo vệ cây xanh có những dấu hiệu sẽ bị đàn áp ở việc cuộc đạp xe ngày 5/4 bị chia cắt từ Hồ Tây không thể về Hồ Hoàn Kiếm và việc Trịnh Anh Tuấn bị đánh dã man ngày 22/4.

Đến cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh ngày hôm qua 26/4 thì nhà cầm quyền Hà Nội đã ra tay đàn áp quyết liệt. Điều này cho thấy giới lãnh đạo Hà Nội đã chính thức tỏ thái độ về việc bảo vệ cây xanh Hà Nội

Đó là kiểu thi hành pháp luật quái gở ở Việt Nam, đến lúc thấy cần đàn áp thì đàn áp, chẳng có một cơ sở pháp luật nào. Vẫn là bài cổ điển: xe loa ra rả yêu cầu giải tán, cảnh sát, trật tự đô thị, an ninh ngăn chặn, chia cắt, bắt người còn xe bus được điều đến chở người bị bắt để giải tán.

Cẩm nang đàn áp tụ tập đông người: vẫn là Nghị định 38

Nghị định 38/2005/CP ngày 18-3-2005 cấm tụ tập từ 5 người trở lên. Đây là qui định bất khả thi nếu chưa nói đó là văn bản vi hiến. Nghị định này lần đầu tiên được mang ra áp dụng từ cuộc biểu tình ngày 24/7/2011 để cấm các cuộc biểu tình chống Trung Cộng. Và lần này, cái cớ để giải tán cuộc tuần hành cũng không có điều gì khác ngoài qui định cấm tụ tập đông người.

Vấn đề đặt ra là ở Hà Nội cũng như là các tỉnh, những cuộc tụ tập trên 5 người diễn ra hàng triệu mỗi ngày, liệu có giải tán được tất cả không. Buổi sáng dân ven hồ ra tập thể dục có cấm được không? Một gia đình từ 5 người trở lên đi với nhau cũng phải xin phép chăng?

Nhiều người bảo: Tôi ra đây một mình, chỗ nào thích thì đứng, thích đi thì đi, chẳng tụ tập với ai cả nên chẳng biết giải tán như thế nào và giải tán với ai.

Những câu hỏi ấy thắc mắc với công an nhưng đều không có câu câu trả lời. Họ không trả lời nổi nên việc cấm tụ tập từ 5 người trở lên rõ ràng là bất khả thi. Tuy nhiên, nhà cầm quyền muốn giải tán chẳng còn vin được vào văn bản qui phạm pháp luật nào khác.

Tôi bảo mấy cậu công an: “Này, ở Vườn hoa Lý Thái Tổ hôm nay tụ tập đông người lắm, gấp mấy chục lần ở đây, đến đó mà dẹp”. Có cậu im, cũng có cậu nói cùn: cứ biết gặp đâu là dẹp đó. Mọi người lại mách thêm mấy cán bộ công an khác, có tay bí quá nổi khùng lên.

Đi xuôi không được, đi ngược không được nhưng lại yêu cầu … giải tán:

Ở Vườn Hoa Lý Thái Tổ hôm nay diễn ra một cuộc tập nào đó, có tới gần 1 nghìn người, nghe nói giải việt dã gì đó. Nhưng mọi người đều có mặt ở Đài phun nước (Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục).

Nòng cốt của cuộc tuần hành hôm nay là dàn 10 chị em phụ nữ mặc áo dài thật đẹp.

Hình : https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets/proxy?url=http%3A%2F%2F1.bp.blogspot.com%2F-fFqt-QfZBMo%2FVT2nCy2_xpI%2FAAAAAAAAGkk%2FKX_kwmaMbK4%2Fs1600%2Fh2.jpg&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*

Ảnh facebook Tuyen Chi Nguyen

Lần này chỉ khoảng 40, 50 người tham gia tuần hành nhưng đám nhân viên cộng lực chủ yếu để mắt vào số chị em phụ nữ này. Như những lần đàn áp biểu tình chống Trung Cộng trước đây, chính quyền, công an chẳng có lý lẽ gì, chỉ biết huy động cơ bắp, làm náo loạn cả Bờ Hồ đang yên lành của người dân thủ đô..

Những tiếng quát tháo, ra lệnh, tiếng rít lên của còi, của loa điện, tiếng cự lại của người tuần hành inh ỏi cả Bờ Hồ. Người tuần hành phớt lờ những lệnh vô lý của công an.

Một người hỏi cậu công an:

– Thế nào là tuần hành trái phép?

Cậu ta bảo: “Cứ tụ tập trên 5 người là trái pháp luật.

Tôi hỏi:

– Thế khi đảng csvn tụ tập mấy triệu quân để chiếm miền Nam thì có trái pháp luật không?

Khi JB Nguyễn Hữu Vinh bị chõ loa điện vào mặt yêu cầu giải tán. Anh bảo: “Mồm ông thối hoắc mà cứ chõ vào mặt người ta mà nói, ai mà ngửi được. Ông về đánh răng đi”.

Muốn quát tháo gì thì quát, doàn người cứ đi trong trật tự. Đi đến đâu, công an tất tả vượt lên chặn trước, bắt quay lại. Đoàn người quay lại, họ lại vượt lên chặn, lại bắt quay lại. Thật không hiểu nổi bọn này thế nào nữa. Hỏi, vậy thì đi đâu? Chẳng đứa nào trả lời, chỉ thấy hô hét, giải tán, giải tán. Giải tán mà đi xuôi không được, đi ngược không được thì giải tán thế nào?

Mỗi khi bị chặn, đoàn tuần hành dồn vào một chỗ, hát to những bài hát. Bài hát được sử dụng nhiều nhất là “Dậy mà đi”

Video : Dậy mà đi (clip NTT)

https://youtu.be/AydrBDAg-IQ

Đàn áp

Giằng co được khoảng 30 phút thì một chiếc xe bus trờ tới, cho thấy sắp bắt người. Khoảng vài phút sau, màn bắt bớ diễn ra. Tất cả áo dài nằm hết ra vỉa hè, tất nhiên, với những cái đầu rỗng nhưng khỏe về cơ bắp, chúng vẫn cưỡng bức được chị em lên xe. Chúng bắt đi 16 người tất cả, kể cả một em bé 4 tuổi. Lần này, chúng không đưa lên trại Lộc Hà nữa mà đưa sang quận Long Biên. Rất nhiều anh em đã sang Long Biên đòi người. Những lần trước bắt chúng tôi sang trại Lộc Hà, thường là đến chiều tối, chúng mới thả ra hết nhưng lần này chúng thả sớm hơn, vào khoảng 3 giờ chiều.

Video : Công an bắt người (clip NTT)

https://youtu.be/k8bs8IMJO98

Cản trở không cho về:

Sau khi bắt người, còn lại vài chục người ngồi, người đứng nói chuyện với nhau, chụp ảnh. Họ lại đến bắt giải tán. Chẳng có lý do gì giải tán chúng tôi. Chúng tôi vừa cãi cự, vừa ngồi ỳ ra đấy. Không làm gì được, họ bỏ đi. Nhưng đến khi chúng tôi di chuyển về hướng Vườn hoa Lý Thái Tổ thì mấy tay, vẻ là sếp, hốt hoảng gọi quân chạy theo. Có lẽ trong số nhận viên làm nhiệm vụ ở đấy, cũng có người chẳng thiết gì cái trò làm dụng công vụ mà họ phải thường xuyên chứng kiến. Tay chỉ huy gọi lạc giọng:

-Các “đồng chí” đâu cả rồi, nhanh lên chứ, để thế này à?

Chúng tôi có làm gì đâu. Chúng tôi đang đi về phía gửi xe.

Thế nhưng họ cứ dàn hàng ngang chặn đầu không cho đi, bắt quay lại. Chắc là sợ chúng tôi tuần hành tiếp. Mà quay lại thì chúng tôi vẫn đi như thế. Mọi người nhau nhao phản đối còn bọn mấy cậu công an chỉ biết kiên quyết chặn lại, chịu cho mọi người mắng mỏ vì biết trả lời sao. Mặc cho họ dàn hàng chặn, chúng tôi cứ vượt lên. Qua 4, 5 lần như thế thì họ chặn được, vì lúc này họ đã tăng cường thêm quân.

Tôi chỉ vào phố Lê Lai đã gần ngay đó, bảo:

-Tôi gửi xe ở Lê Lai. Bây giờ tôi đến lấy xe để về. Các cậu bảo quay lại thì lấy xe thế nào?

Ấy vậy mà chúng cứ khăng khăng bắt quay lại. Thật là quái dị. Tôi bực mình kéo bà xã xuống lòng đường băng sang bên kia. Mấy đứa còn chạy theo định bắt tôi lại không cho về nữa cơ chứ.

Qua cách làm việc của công an nhằm giải tán tuần hành cho thấy, chính quyền và công an Hà Nội đã rất lúng túng khi thực hiện ý đồ của họ.

Chắc chắn nếu không có sự gây rối của công an thì Bờ Hồ hôm nay sẽ đẹp hơn bởi các tà áo dài bày tỏ tình yêu đối với cây xanh Hà Nội một cách ôn hòa và trật tự

Video : Công an cản trở quyền đi lại của công dân (clip fb Rita Nguyen)

https://youtu.be/14G0o_KvRVE

Hình : Bị bắt vào đồn. Ảnh fb Tuyen Chi Nguyen

Hình : Đòi người trước đồn CA Long Biên. Ảnh fb Nguyễn Lân Thắng

Không thể cấm được tình yêu cây xanh của người Hà Nội.

Vin vào việc cấm tụ tập đông người, vu cáo cho những người tuần hành ôn hòa gây rối trật tự công cộng, mục đích của nhà cầm quyền Hà Nội là nhằm giải tán cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh. Bằng chứng cho thấy hàng ngày, rất đông người có mặt từng cụm, từng đoàn ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm mà họ không cho là tụ tập đông người. Thái độ của lãnh đạo Hà Nội đã rõ. Họ còn nợ dân, nợ các nhà báo rất nhiều câu hỏi xung quanh việc hạ sát cây xanh. Còn quá nhiều điều vẫn nằm trong vòng bí mật mà dân thì đòi minh bạch.

Ngược lại, với những người bảo vệ cây xanh hà Nội thì chỉ khi nào, nhà cầm quyền Hà Nội đình chỉ việc chặt cây chứ không phải chỉ là tạm dừng và phải minh bạch vụ chặt 6700 cây thì mới thôi phản đối.

Hà Nội 26/4/2015

NTT

P/s: Một số hình ảnh ghi chú chung chung do chưa rõ. Thành thật xin lỗi tác giả.

Phụ lục: .

Danh sách bị bắt về đồn công an:

  1. Nguyễn Thúy Hạnh (FB Hạnh Liberty)
  2. Trần Thị Nga (FB Thuy Nga)
  3. Phạm Đoan Trang (FB Doan Trang)
  4. Nguyễn Lê Hùng (FB Le Hung)
  5. Trương Văn Dũng (FB Truong van Dung)
  6. Một người tên Trang
  7. Tuyet Anh Jethwa
  8. Trần Thị Hài
  9. Maria Thuý Nguyễn và 3 con gái
  10. Hoàng Trương Phước
  11. Nguyễn Thị Gam
  12. Nguyễn Thị Hướng
  13. FB Thảo Gạo
  14. Lê Thị Thanh Hương
  15. Nguyễn Thị Phương Anh
  16. Bé Đoàn Vĩnh Phúc 4 tuổi

nguyentuongthuy’s blog

.

.

.

Nghiệt ngã phận đời ngày làm công nhân, tối về… bán dâm (Khánh Hoà – Báo Dân Việt)

Tháng Tư 28, 2015

.

.

Nghiệt ngã phận đời ngày làm công nhân, tối về… bán dâm

Bài, ảnh: Khánh Hoà 

Báo Dân Việt

09:40 – 16 tháng 2, 2014

http://danviet.vn/xa-hoi/nghiet-nga-phan-doi-ngay-lam-cong-nhan-toi-ve-ban-dam-158892.html

.
Đoạn quốc lộ 1A trước cửa khu công nghiệp Vĩnh Lộc, đã khá nổi tiếng với những người “đi xe đạp bán dâm” bởi khu vực này cứ khoảng 20g đến quá nửa đêm là có hàng chục công nhân nghèo. 
Rời bỏ quê lên thành phố lập nghiệp với mong ước có một cuộc sống tốt đẹp hơn nhưng nghiệt ngã thay, nhiều bạn trẻ đi làm công nhân đã bị vướng cái vòng luẩn quẩn nơi phố phường hoa lệ là thu không đủ chi. Tiền lương công nhân trung bình khoảng trên dưới 3 triệu đồng/người/tháng dường như là quá ít so với cuộc sống thị thành, nhất là thời gian gần đây, mọi thứ đều tăng giá một cách chóng mặt.

Cũng vì đồng lương eo hẹp mà đa phần công nhân đều phải làm tăng ca, ăn uống dè sẻn, chi tiêu tằn tiện cũng như luôn phải sống trong những căn phòng trọ tồi tàn. Ngoài ra, họ phải gửi con ở những điểm giữ trẻ tự phát với vô vàn những rủi ro, bất hạnh có thể ập xuống bất cứ lúc nào.

Con đi viện, bố mẹ đi bán máu 

Trong thời gian tìm hiểu về đời sống công nhân ở các khu công nghiệp lớn như Sóng Thần, Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Biên Hòa… chúng tôi nhận thấy rằng, cuộc sống của công nhân thường vô cùng chật vật. Đa phần họ phải làm việc trong môi trường có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, rất dễ bị các bệnh nghề nghiệp nhưng lại hoàn toàn không có bảo hiểm hay chế độ lương thưởng phù hợp.

Tôi đã được nghe một công nhân giày dép xuất khẩu ở khu công nghiệp Linh Xuân (Thủ Đức, TP.HCM) tâm sự rằng, chuyện mọi người đi vệ sinh trong ca làm việc là khá bình thường, vì đó là nhu cầu sinh lý. Tuy vậy, với hàng ngàn công nhân mà công ty chỉ xây có vỏn vẹn 3 cái nhà vệ sinh nữ. Thế nên, nhiều chị em đang làm, muốn đi vệ sinh mà nghĩ cảnh phải chờ đợi quá lâu để đến lượt mình đành cố gắng “nhịn”, ngồi lại làm việc tiếp, để đảm bảo năng suất lao động ở mức cao nhất.

Mặc dù luôn phải làm việc với cường độ cao như vậy nhưng cuộc sống của công nhân, đa phần là cơ cực vì đồng lương quá thấp. Giá cả thì tăng vùn vụt nhưng lương, thưởng thì nhiều năm vẫn chưa tăng kịp. Cá biệt, nhiều doanh nghiệp làm ăn hiệu quả còn giảm lương công nhân nữa. Thế nên, nếu chẳng may trong cuộc sông có những biến cố như con cái bệnh tật, họ gần như “chết đứng” vì không biết cách gì xoay xở.

Gặp gỡ gia đình anh Đinh Văn Toàn, 33 tuổi quê ở Tánh Linh (Bình Thuận) trong một căn phòng trọ chật hẹp ở gần đường Võ Văn Vân (Vĩnh Lộc A, Bình Chánh, TP.HCM), chúng tôi được biết. Anh Toàn hiện nay đang là công nhân làm thủy sản đông lạnh của một công ty Hàn Quốc trên địa bàn. Mặc dù làm công nhân ở đây được gần 6 năm nhưng cuộc sống của anh vẫn không có gì thay đổi, luôn luôn phải lo lắng trước những bất trắc bởi lương tháng nào cũng chỉ đủ tiêu tiền ăn, tiền nhà trọ, điện nước, xăng xe và tiền mua sữa, bột cho con. Vừa ôm đứa con gái nhỏ hơn 2 tuổi vào lòng, anh vừa rầu rĩ kể.

Đa phần công nhân phải ở trọ trong những căn phòng chật chội, ẩm thấp

http://images.danviet.vn/Uploaded/Share/2014/02/16/078cong-nhan_01.jpg.ashx?width=415
“Tôi lấy vợ được 4 năm rồi. Cô ấy là người ở vùng núi Vĩnh Cửu (Đồng Nai), làm chung công ty với nhau. Vẫn biết đời sống khó khăn nên hai người chỉ biết nương nhau mà sống. Từ hồi bé Trà My ra đời, cuộc sống của hai vợ chồng càng cơ cực hơn nữa vì nhiều chi phí phải dành cho con như tiền sữa, tiền bột, tiền quần áo, đồ dùng cho trẻ… mà vợ thì phải nghỉ làm ở nhà trông con. Khi bé được đúng 1 tuổi, vợ chồng đành phải gửi con ở nhà trẻ tự phát gần khu trọ để đi làm chứ một mình tôi lo không xuể. Mấy ngày đầu, bé xa cha mẹ nên khóc suốt, lại không ăn uống gì nên người cứ lả đi, rồi ốm.

Thế là lại xin nghỉ, cả hai đưa con đi Bệnh viện Nhi đồng 1 dưới quận 10 mà cả nhà chỉ còn hơn 600 ngàn đồng. Vừa đợi khám bệnh cho con, vừa lo lắng không biết có đủ tiền hay không nữa. Thấy vậy, cả hai chỉ biết quay đi, nhìn con mà rơi nước mắt. Như hiểu được nỗi lòng của vợ chồng tôi, có một bác bán cà phê cóc ở cổng bệnh viện bảo, nếu thiếu tiền khám bệnh cho con thì cứ sang bên Bệnh viện Chợ Rẫy mà bán máu kiếm tiền, dễ lắm. Hỏi kỹ ra mới biết, mỗi lần đi bán máu như vậy thu được gần 500 ngàn đồng mà cũng không ảnh hưởng gì tới sức khỏe của người bán.

Vì quá thiếu tiền nên tôi nói dối vợ ra ngoài gặp người bạn ở gần đó mượn thêm ít tiền, rồi sang Bệnh viện Chợ Rẫy, ăn vội ổ bánh mì thịt nguội để có sức khỏe. Tìm đến khoa huyết học truyền máu, nơi mà ngày nào cũng có cả trăm người, chủ yếu là những công nhân, lao động nghèo tới bán máu, tôi được mấy người ở đây hướng dẫn, một lần bán máu như thế kiếm được 470 ngàn đồng. Sau một hồi bấm số thứ tự và chờ đợi, tôi được các bác sĩ gọi vào, lấy máu và đem đi kiểm tra.

Trong khi họ kiểm tra xem máu có “sạch” hay không thì mình ngồi hành lang chờ. Lúc này tôi mới để ý thấy, không chỉ có riêng mình mà còn rất nhiều người nữa cũng chung cảnh ngộ thiếu tiền nên phải đi bán máu để kiếm tiền sống qua ngày.

Ngay như chị Thủy ngồi cạnh tôi lúc đó cũng vậy. Chị bảo, mỗi tuần chị đi bán máu 1 lần, bán huyết tương (một loại máu chọn) 1 lần nên cũng thu về gần triệu đồng, đủ tiền chi tiêu cho gia đình. Trước, cả 2 vợ chồng chị đều làm công nhân dưới Tân Tạo nhưng từ hồi đầu năm, công ty thua lỗ nên cả hai đều mất việc. Về quê thì không đành mà ở lại thì biết lấy tiền đâu trả phòng trọ, sinh hoạt hằng ngày. Bí quá, chồng chị phải chạy xe ôm ngoài ngã ba An Lạc còn chị, giữa lúc không biết kiếm tiền đâu để nuôi con thì có người giới thiệu lên Bệnh viện Chợ Rẫy bán máu. Không chỉ ở bệnh viện Chợ Rẫy, những người thường xuyên bán máu như chị Thủy còn sang cả Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nữa nên thu nhập cũng… tàm tạm. Thực sự chẳng có ai muốn bán đi giọt máu của mình đâu, cũng vì sinh kế ép buộc mà thôi. Mà thực ra, ai tìm đến nơi bán máu này gần như cũng là bước đường cùng rồi. 

Nhiều công nhân phải đi bán cả máu mình để có tiền.

http://images.danviet.vn/Uploaded/Share/2013/12/12/cong-nhan_02.jpg.ashx?width=415
Gần trưa, khi có kết quả xét nghiệm, tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì mình… đậu bởi nhiều người, có thể sẽ không được bán máu để kiếm vài trăm ngàn đồng vì máu của họ không phù hợp hoặc có bệnh di truyền, truyền nhiễm. Cuối cùng, cầm gần năm trăm ngàn, tôi chạy xe như bay sang Bệnh viện Nhi đồng 1 để đưa tiền cho vợ. Cầm tiền, vợ tôi cứ ngân ngấn nước mắt bởi cô ấy biết, chắc tôi đã phải vất vả đi mượn bạn bè chứ cũng không nghĩ là tôi đi bán máu kiếm tiền. Cũng may, bé Trà My chỉ bị sốt nhẹ, bác sĩ khám bệnh rồi kê đơn thuốc cho về nhà chứ nếu phải nhập viện, nằm điều trị chừng tuần lễ thì tôi không biết mình phải bán bao nhiêu máu mới đủ tiền đóng viện phí, thuốc men cho con nữa”.

Câu chuyện của anh Toàn không phải là cá biệt bởi với những cặp vợ chồng công nhân ở thành phố này, lo cuộc sống thường nhật đã gần như kiệt sức rồi, nếu có xảy ra hoạn nạn đau ốm thì bán máu là chuyện bình thường.

6 mét vuông, 2 cặp vợ chồng sống chung

Nhưng không chỉ lúc hoạn nạn, ngay cả đời sống thường nhật của công nhân như nơi ăn chốn ở cũng vô cùng éo le, cơ cực. Trong những ngày tìm hiểu về đời công nhân, chúng tôi vô cùng ngỡ ngàng khi thấy, đa phần họ phải ở trong những căn nhà trọ tạm bợ, kiểu “ổ chuột”, đêm thì lạnh vì gió sương có thể luồn qua khe cửa vào phòng, ngày thì nóng nực vì chật và thấp, mái tôn mỏng manh. Cá biệt, có những căn phòng chỉ vài mét vuông nhưng có đến gần chục người ở trọ cùng bởi hiện nay, một căn phòng trọ giá rẻ ở thành phố cũng có giá từ 800 – 900 ngàn đồng/tháng, chưa kể điện nước, một hai người không thể lo nổi. Vì thế, ở ghép nhiều người gần như là giải pháp mà tất cả các công nhân đều lựa chọn. Những bạn trẻ còn độc thân thì ở ghép với nhau cũng dễ. Như 4, 5 bạn gái cùng công ty, cùng quê thuê chung một căn phòng ở với nhau thì cũng còn có thể chấp nhận được.

Nhưng, hoàn cảnh như cặp vợ chồng anh Sơn với vợ chồng anh Cảnh thì lần đầu chúng tôi thấy. Đó là việc cả 2 cặp vợ chồng này cùng thuê trọ 1 căn phòng ở trong con hẻm nhỏ trên quốc lộ 1A (quận Bình Tân). Căn phòng này chỉ có vỏn vẹn 6 mét vuông, nằm ở một dãy trọ dài có gần 20 phòng như thế, úp mặt vào nhau. Mặc dù những phòng khác, có kích cỡ và hình dáng tương tự cũng có đến 4, 5 hay thậm chí 6 người ở cùng nhưng họ toàn là bạn bè, đồng giới nên cũng thuận tiện trong sinh hoạt cá nhân. Đằng này đây lại là 2 cặp vợ chồng trẻ thì làm sao mà tránh khỏi phiền phức trong sinh hoạt, nhất là lúc quan hệ vợ chồng.

Tuy nhiên, trao đổi với chúng tôi ngay tại căn phòng với những chén bát, bếp ga mini, tủ đựng đồ, quần áo… anh Cảnh cho biết: “Tôi quê dưới Mộc Hóa (Long An) lên đây làm bảo vệ công ty đã 4 năm rồi. Sau đó có người bạn là Sơn cùng quê lên làm công nhân in ấn nên hai anh em ở cùng nhau trong căn phòng này, giá thuê là 900 ngàn đồng/tháng, cộng thêm điện nước là khoảng hơn một triệu. Cuối năm ngoái, tôi lấy vợ nên Sơn chuyển sang phòng bên cạnh, ngay sát đây, ở cùng mấy người khác. Đầu năm vừa rồi Sơn cũng lấy vợ, là một công nhân làm ở công ty chế biến thủy sản bên Tân Tạo nên hai vợ chồng loay hoay chưa biết ở đâu thì tôi bảo, hay chuyển qua ở cùng phòng với vợ chồng tôi cho tiết kiệm tiền nhà trọ bởi vợ chồng tôi chỉ làm ban đêm. Vợ làm ca đêm mà tôi cũng bảo vệ ca đêm còn vợ chồng Sơn lại làm ban ngày cả. Thế là, cứ 18 giờ, hai vợ chồng ăn cơm xong là đi làm còn vợ chồng Sơn, tan ca lúc 18g nhưng đi chợ đến 18g30 mới về đến nhà. Sáng hôm sau, vợ chồng cậu ta lại thức dậy đi làm từ 7 giờ còn chúng tôi, tan ca lúc 7 giờ mà phải 7g30 mới về tới phòng trọ. Vì thế, mặc dù danh nghĩa là ở cùng nhau nhưng thực chất, chúng tôi chỉ gặp nhau đúng ngày Chủ nhật, khi tất cả cùng được nghỉ. Phòng chật, lại nhiều đồ đạc nên những ngày đó, mỗi cặp vợ chồng nằm ngủ trên 1 chiếc chiếu, có căng một tấm vải ở giữa phòng”. 

Vừa kể với chúng tôi, anh Cảnh vừa nén tiếng thở dài. “Cũng vì hoàn cảnh cả thôi chứ có ai muốn như vậy đâu các chú ơi. Mai mốt mà có con cái chắc sẽ chấm dứt cái cảnh ở chung thế này thôi vì bất tiện lắm. Mà giờ mỗi tháng bỏ ra hơn triệu đồng tiền thuê nhà, rồi điện nước, ga nữa thì làm sao mà đủ sống. Giờ đi làm về, vợ chồng tôi ăn sáng rồi đi ngủ đến gần chiều mới dậy, nấu cơm ăn rồi lại chuẩn bị đi làm đêm. Như thế vừa khỏe người lại vừa đỡ được 1 bữa cơm trưa, giảm chi phí tiền ăn”– anh Cảnh nói tiếp. Thú thực, nghe người đàn ông ấy kể về hoàn cảnh sống và những nỗi niềm của mình chúng tôi mới thấy, mặc dù đã làm việc rất chăm chỉ, lại tiết kiệm hết mức, nhưng dường như cuộc sống của họ lúc nào cũng ở trong tình trạng thiếu thốn vật chất.

Ngày làm công nhân, tối về bán dâm

Hiện nay, chuyện những người công nhân đi làm phải tăng ca ban đêm đã là rất bình thường, thậm chí nhiều người còn mong mỏi xin được tăng ca, được làm thêm để có thêm thu nhập trang trải cho cuộc sống nhưng vì tình hình kinh tế chung đang trong giai đoạn suy thoái nên nhiều nơi, công ty chỉ hoạt động cầm chừng, có muốn tăng ca cũng không có. Thế nên, những công nhân này, ban ngày đi làm, chiều tan ca về thì đàn ông lại xách xe đi chạy xe ôm ở mấy ngã ba, ngã tư hòng kiếm thêm vài chục ngàn đồng. Ngoài ra, nhiều người phải nhận hàng về nhà làm thêm ban đêm hoặc đi bốc vác, phụ bồi bàn ở các quán ăn, quán cà phê ban đêm với mong muốn kiếm thêm chút đỉnh. Riêng với những công nhân nữ, dù biết là tội lỗi, là nhục nhã nhưng nhiều người vì miếng cơm, manh áo vẫn nhắm mắt đưa chân để làm cái việc nhơ nhuốc là đi bán dâm, như một cứu cánh duy nhất trong cơn cùng quẫn.

Từ lâu, đoạn quốc lộ 1A trước cửa khu công nghiệp Vĩnh Lộc, đã khá nổi tiếng với những người “đi xe đạp bán dâm” bởi khu vực này cứ khoảng 20g đến quá nửa đêm là có hàng chục công nhân nghèo, ban ngày đi làm ở công ty, ban đêm tranh thủ ra đây kiếm thêm tiền.

Chia sẻ trong nỗi niềm đầy nước mắt đắng cay, một chị xin giấu tên (quê ở Tràm Chim, Đồng Tháp) cho biết: “Mình năm nay đã 33 tuổi, có 2 con nhỏ nhưng chồng chẳng may mất trong một tai nạn giao thông cách đây 3 năm. Từ khi chồng mất, mình chẳng biết làm gì để nuôi con nữa đành gửi hai đứa nhà ông bà ngoại để lên thành phố cùng mấy người bạn trong ấp làm công nhân may mặc, hằng tháng dành dụm tiền gửi về nuôi con.

Không chỉ lao động cực nhọc, cuộc sống vất vả mà gần như 100% công nhân đều đối mặt với nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp. Theo đó, ai càng làm lâu thì càng có nguy cơ cao và bệnh càng nặng mà các chế độ đãi ngộ sau khi nghỉ việc thì hầu như không có gì. Theo bác sĩ Huỳnh Tấn Tiến, Giám đốc Trung tâm Sức khỏe lao động và môi trường TP.HCM, mặc dù nhiều công nhân bị ảnh hưởng sức khỏe do nghề nghiệp nhưng hầu hết chủ cơ sở chưa quan tâm đến môi trường lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động cho công nhân. Quy định bắt buộc cơ sở sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho công nhân ít nhất mỗi năm một lần, để phát hiện dấu hiệu người lao động mắc bệnh nghề nghiệp, từ đó có hướng can thiệp, nhưng rất ít doanh nghiệp thực hiện”. 

Gần đây, công ty làm ăn không được như ý muốn, lương công nhân vừa giảm, lại vừa chậm nên đến tháng mà vẫn chưa có tiền gửi về quê. Các con còn nhỏ, mà ông bà thì lại lớn tuổi, chẳng biết làm gì nuôi chúng. Ở thành phố này, người quen chả mấy ai nên khi cần tiền, không biết kiếm ở đâu. Thế là, biết rằng đó là việc làm tội lỗi, nhục nhã nhưng tôi đành cắn răng, theo mấy chị khác đêm đêm đạp xe ra đây đứng đợi khách. Ai thương thì cho năm trăm, ai kỳ kèo thì hai, ba trăm cho một lần “gặp gỡ” trong nhà nghỉ tôi cũng gật đầu. Chị còn bảo, có ông khách nghe chuyện thương quá còn hào phóng cho chị cả triệu đồng, bảo thôi đừng làm công nhân với nghề này trên thành phố nữa, về quê trồng trọt, rau cháo nuôi con có khi còn thanh thản hơn. Nhiều lúc, mình cũng biết đây là nghề phạm pháp nhưng cũng không còn cách nào khác. Có lẽ tôi chỉ làm việc này một thời gian nữa để dành đến tết về quê có tiền mua quà cho các con rồi thôi. Cầm những đồng tiền nhơ nhuốc này, tôi cũng tủi thân, cay đắng lắm nhưng làm phận đàn bà giữa thành phố đông đúc này, thân cô thế cô, biết lấy gì mà sống và lấy tiền nuôi con hả các anh ơi?”.

Nhưng ở khu vực này không chỉ có một mình chị ấy mà đa phần những người phụ nữ đang đứng dưới ánh đèn cao áp đêm nhập nhoạng của khu công nghiệp, bên chiếc xe đạp cà tàng của mình kia đều có hoàn cảnh tương tự, dù chẳng ai nói chuyện với ai một lời nào, vì ngại ngùng, vì nhục nhã bởi họ đang làm cái việc đáng bị xã hội lên án này.

Có thể họ sẽ bị xã hội lên án, bị mọi người xa lánh nhưng quả thực, hiện nay đang có rất nhiều công nhân phải làm thêm những công việc nặng nhọc khác sau khi làm chính ở công ty để có tiền trang trải cho cuộc sống của mình, kể cả những công việc đầy tội lỗi như trên. Thậm chí, cũng vì cùng quẫn, nhiều công nhân còn dại dột phạm những tội ác tày trời mà nguyên nhân sâu xa ban đầu cũng vì những khó khăn trong cuộc sống thường nhật mà thôi.

Theo Sở Lao động thương binh và xã hội TP.HCM, hiện nay, trên địa bàn TP.HCM có 10 KCN và 3 KCX đang hoạt động với khoảng gần 300.000 lao động, số lượng công nhân đến từ các tỉnh thành khác chiếm đa số. Mức lương trung bình khoảng 3 triệu đồng/tháng; nhưng mức chi tiêu lại khá tốn kém khiến nhiều công nhân rất chật vật với cuộc sống. Tiền lương chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu nên khi vật giá tăng cao thì ngoài việc cân đo đong đếm các khoản chi, công nhân buộc lòng cắt bớt nhu cầu cá nhân hoặc làm thêm những công việc khác mới có dư chút ít tiền gửi về quê cho gia đình.

Nguồn: DÂN VIỆT

.

.

.

Nông dân sau 40 năm thống nhất đất nước (Nam Nguyên – RFA)

Tháng Tư 27, 2015

.

.

Nông dân sau 40 năm thống nhất đất nước

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-01-27

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-vn-frmer-aft-40y-01272015121204.html

.

Hai phần ba dân số 90 triệu của Việt Nam sống trong khu vực nông thôn đã góp phần vào kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 31 tỷ USD năm 2014. Bốn mươi năm sau khi thống nhất đất nước, nông dân Việt Nam đã hưởng được thành tựu gì và có mức sống như thế nào.

Người trồng lúa không sống nhờ cây lúa

Sau ngày 30/4/1975 và đất nước thống nhất về pháp lý một năm sau đó, Việt Nam đã trải qua một giai đoạn chìm đắm và bế tắc trong chế độ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đặc trưng xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn đó xã hội chịu cảnh đói nghèo với thực tế ngăn sông cấm chợ khắp nơi. Cuộc đổi mới lịch sử cuối thập niên 1980 đã giúp Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực phải nhập khẩu hạt mì, bo bo ăn thay cơm, đã nhanh chóng tự túc lương thực rồi có dư gạo để xuất khẩu.

Tuy vậy, có một thực tế là ở Việt Nam người trồng lúa không sống được với cây lúa. Trong khu vực sản xuất lúa gạo nơi qui tụ nhiều nông dân nhất trên cả nước, người nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long được tiếng là có cuộc sống dễ thở nhất thì đời sống của họ ra sao?

Anh Tư Phương hiện nay 33 tuổi, khởi nghiệp làm ruộng từ 2006 kể cho chúng tôi câu chuyện bản thân:

“Cha mẹ để lại cho tôi là con trai út 8 công ruộng tầm 3 thước, Đông Xuân thì lời một công khoảng 3 triệu, Hè Thu khoảng 1 triệu ngoài, Thu Đông cũng vậy hơn 1 triệu. Sống cũng được nhưng nói thiệt là cũng đi làm thêm để dư ra chút xíu, làm công ty thêm rồi phụ ở nhà làm lúa thêm nữa mới đắp đổi được. Tôi làm công ty tới vụ thì đi về làm lúa, làm xong rồi trở lại công ty. Tôi làm công ty cá ba sa vợ tôi cũng vậy, mỗi khi tới vụ lúa thì xin nghỉ một tuần lễ gặt xong sạ lại rồi thì đi làm công ty. Nếu thấy lúa bệnh thì xin nghỉ một ngày về xịt thuốc. Đi làm sáng đi chiều về chứ không ở lại công ty, từ nhà đến công ty khoảng 10 cây số.”

Mơ ước của anh Phương là làm sao để vài năm nữa có đủ tiền mua thêm ruộng vì ngày nay làm ruộng đã đỡ vất vả hơn. Ở vùng anh máy móc đã làm thay nhiều công đoạn cho người nông dân.

Theo như lời kể của anh Tư Phương ở đồng bằng sông Cửu Long, thu nhập từ 8 công ruộng làm lúa mỗi năm 3 vụ được tổng cộng khoảng 40 triệu cho gia đình gồm hai vợ chồng hai đứa con. Nếu chia đầu người thì mỗi người trong nhà anh Phương chỉ được 10 triệu đồng/người/một năm vị chi bình quân đầu người hơn 840.000đ một tháng tương đương khoảng 40 USD. Con số này khác xa với mức thu nhập bình quân đầu người năm 2013 của Việt Nam là 1.960 USD hay khoảng 150 USD/tháng mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rất tự hào.

Đó cũng là lý do hai vợ chồng anh Phương đều phải đi làm ở công ty chế biến thủy sản; phần làm ruộng là để khỏi lo cái ăn, đi làm công ty để bù đắp các chi phí khác trong cuộc sống hàng ngày. Câu chuyện của gia đình Tư Phương có thể xem là một thí dụ điển hình cho tình cảnh của người nông dân Việt Nam.

Nhược điểm của nền nông nghiệp VN

Đất nước thống nhất đã 40 năm và hơn 25 năm sau đổi mới thành tựu của nông nghiệp-nông thôn-nông dân đạt được những gì? TS Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ Hà Nội nhận định:

“ Về Nông nghiệp đã có sự cải thiện rất đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam năm 1993 là vào khoảng 58% thì bây giờ có thể giảm xuống còn độ 18%-19% với tiêu chuẩn 2 đô la một đầu người một ngày. Như vậy là có sự cải thiện, nếu về nông thôn Việt Nam sẽ thấy phần lớn làng xóm ở Việt Nam đã có đường ô tô chạy đến nơi, đã có điện, điện thoại và Internet, đã có trường học, trạm y tế …Tuy vậy mức giảm nghèo ở nông thôn chậm hơn ở thành thị, thứ hai nữa là đời sống của người nông dân chậm được cải thiện bởi vì tỷ lệ đất trên đầu người nông dân ở Việt Nam quá thấp. Hơn nữa người nông dân chịu quá nhiều rủi ro, tủi ro của sâu bệnh, rủi ro của thời tiết và đặc biệt là rủi ro thị trường; nay thì giá cà phê tăng lên ngày mai lại giảm đi, giá cao su cũng biến động.

TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh tới những khiếm khuyết của nền nông nghiệp Việt Nam mà ông cho cần phải cải cách. Ông nói:

“Đặc biệt nền nông nghiệp Việt Nam chưa phát triển được công nghiệp gia công chế biến là làm tăng thêm giá trị gia tăng và ngân hàng khoa học công nghệ cũng như công nghệ chế biến xuất khẩu chưa kế nối được với nhau thì sắp tới đây trong công cuộc hội nhập nông nghiệp Việt Nam cũng cần phải tái cơ cấu và phát triển thành những doanh nghiệp nông nghiệp có những doanh nghiệp với qui mô khoảng vài ngàn héc-ta để có thể áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ và cơ khí hóa và kết hợp được với ngân hàng với các Viện khoa học và với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thì lúc bấy giờ Việt Nam hoàn toàn có khả năng phát triển một nền nông nghiệp phồn vinh.”

Đó là sự đánh giá của chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh đối với thành tựu và cả những nhược điểm của nền nông nghiệp Việt Nam sau một phần tư thế kỷ đổi mới.

Ông Nguyễn Minh Nhị là một đảng viên trung kiên từ nông dân trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang. Khi về hưu năm 2004 ông Nguyễn minh Nhị cũng trở về với cuộc sống ở Nông thôn. Hiểu rõ đồng ruộng và từng ở trong cương vị quản lý nhà nước, trả lời câu hỏi 40 năm sau thống nhất và hơn 25 năm sau cuộc đổi mới thành tựu phát triển nông nghiệp và phúc lợi của nông dân có tương ứng với khoảng thời gian dài như vậy hay không?  ông Nguyễn Minh Nhị nhận định:

“Thành quả đó tương ứng với chiều dài thời gian nhưng chỉ tương ứng về số lượng chứ chất lượng thì chưa. Các chính sách trực tiếp đối với người nông dân thì tương đối nhiều và rõ ràng nhưng đó là cái trực tiếp còn cái gián tiếp thì chưa đúng mức, tức là người nông dân giàu nghèo thì phải qua sản phẩm họ làm ra, sản phẩm đó phải bán được giá mà điều này thì phải qua người khác chứ không phải qua nhà nước, nói cách khác qua các doanh nghiệp. Vai trò các doanh nghiệp chỗ này chưa thể hiện nổi bật cho nên người nông dân coi như tự bơi. Cho nên mới có tình hình trồng cây gì nuôi con gì tức là nông dân bị lúng túng.”

Như lời TS Lê Đăng Doanh nhận định, mức độ giảm nghèo của nông thôn chậm hơn thành thị và mức sống của nông dân cũng chậm cải thiện. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị càng ngày càng lớn hơn rất nhiều. Nếu Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn khẳng định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì phải chăng họ đã thất bại trong chủ trương bảo vệ đời sống của người nghèo mà đặc biệt là nông dân. Cựu Chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị nhận định:

“Thất bại tôi chưa nói tới nhưng kết quả đạt được không như mong muốn. Cái khoảng cách giàu nghèo nó có những chỉ dấu báo động là mình phải quan tâm chứ còn so với nhiều nước thì chưa thành vấn đề gì lớn lắm. Nhưng mà nếu bây giờ chưa nhìn ra vấn đề này để mà chấn chỉnh thì sắp tới mức độ giãn ra còn lớn nữa. Bởi vì vấn đề hội nhập càng sâu mà giải quyết không đồng bộ thì vấn đề phức tạp sẽ lớn hơn.”

Tuy nhà nước luôn tự hào về các thành tích xuất khẩu nông lâm thủy sản và riêng mặt hàng gạo mỗi năm xuất khẩu trên dưới 6 triệu tấn gạo trong những năm gần đây. Tuy nhiên nhược điểm của Việt Nam trong điều hành nền kinh tế đưa tới việc xuất khẩu được 3 tỷ USD gạo thì lại phải bỏ hơn 4 tỷ USD nhập khẩu bắp, đậu nành và nguyên liệu khác để làm thức ăn chăn nuôi. Một nghịch lý mà Ông Trương Tấn Sang Chủ tịch Nước đã ví von “Xuất khẩu gạo nhất nhì thế giới nhưng túi rỗng”.

Trong khi các chuyên gia kinh tế cho rằng vấn đề quyền tư hữu, qui mô đồng ruộng nhỏ bé là những cản trở cho sự phát triển nền nông nghiệp bền vững và phồn vinh, thì ông Nguyễn Minh Nhị cho rằng không hẳn như vậy. Theo lời ông, vấn đề đó có ảnh hưởng nhưng chủ yếu về tâm lý là chính, thực tế hiện nay có nông dân làm chủ cả trăm héc-ta đất qua hình thức nhiều người đứng tên, địa phương biết rõ nhưng không cản trở. Cựu Chủ tịch An Giang phát biểu:

“ Nó có ảnh hưởng nhưng không nhiều bởi vì có nhiều nước, vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, đất của người không có nhiều, qui mô hộ cá thể cũng không lớn. Nhưng cái tổ chức của người ta nó tốt, nó liên kết được chiều ngang là khối lượng mà còn liên kết chiều dọc tức là làm tăng giá trị của sản phẩm lên. Cho nên đất ít đất nhiều không phải là vấn đề lớn mà vấn đề là tổ chức sản xuất. Tổ chức sản xuất ở Việt Nam vừa qua chưa bảo đảm được hai yếu tố đó.”

Cựu Chủ tịch An Giang Nguyễn Minh Nhị cho rằng Việt Nam phải làm sao thay đổi được mô hình quản lý và tổ chức lại sản xuất thì mới có thể phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững và có ích lợi cho người nông dân. Ông nói:

“Từ trước tới giờ tôi hay nói nhiều là phải cấu trúc lại mô hình quản lý ngành nông nghiệp tức là một người chịu trách nhiệm, vừa qua thiếu cái này cho nên khi thực hiện chính sách luật pháp hay đặc biệt trong tổ chức sản xuất thì gặp nhiều trục trặc. Bởi vì nói gì thì cũng không biết đó là ai, ai là người đầu tiên chịu trách nhiệm và đó là người cuối cùng chịu trách nhiệm. Sắp tới nếu không thực hiện được cái này thì nó cũng không thể phát triển được.”

Vấn đề một người chịu trách nhiệm trong mô hình quản lý và sản xuất nông nghiệp mới nghe thật giản dị, nhưng nó hàm chứa bên trong sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Bởi vì từ khi thống nhất đất nước đến nay, Việt Nam thực hiện chế độ trách nhiệm tập thể, nếu một chính sách đường lối nào bị thất bại thì đó là trách nhiệm tập thể mà không có nhà lãnh đạo nào nhận trách nhiệm cá nhân.

Sau 40 năm thống nhất và hơn 25 năm thực hiện đổi mới, có nhiều chỉ dấu cho thấy Đại hội Đảng khóa 12 vào năm 2016 có thể quyết định đổi mới lần thứ 2 trong lịch sử. Tuy vậy, cựu Chủ tịch tỉnh An Giang nói rằng ông không thấy có hy vọng gì cho nền nông nghiệp Việt Nam vì theo ông đổi mới là một quá trình liên tục, thời gian vừa qua dài như vậy nhưng chưa có gì mới. Như vậy tính liên tục chưa được bảo đảm cho nên ông không thấy phấn khởi.

Tin, bài liên quan

Nỗi đau của người trồng hành tím

Tái cấu trúc nền nông nghiệp: khó khăn và trở ngại

Phát triển nông thôn mới: thành tựu và thực tế

Ngành mía đường: cái chết được “định hướng”

Nông dân Trung Quốc có thể được quyền bán đất

Cuộc chiến không cân sức của người nông dân

Người nông dân miền Trung ăn Tết buồn

Nhất “tiêu” nhì “cà”: Nông dân kẻ khóc người cười

.

.

.

GỬI CÁC ANH AN NINH – CÔNG AN TP HÀ NỘI (Nguyễn Anh Tuấn)

Tháng Tư 27, 2015

.

.

GỬI CÁC ANH AN NINH – CÔNG AN TP HÀ NỘI

Nguyễn Anh Tuấn

Thứ Hai, ngày 27 tháng 4 năm 2015

http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/04/nguyen-anh-tuan-gui-cac-anh-ninh-cong.html

.

Các anh muốn môi trường sống được bảo vệ bởi Nhân Dân, hay muốn đồng lõa với những kẻ phá hoại?

Các anh muốn người dân tôn trọng, thông cảm, hay muốn bị ghét bỏ, chửi rủa, thậm chí là khinh bỉ?

Các anh muốn bức xúc xã hội được giải tỏa bằng đối thoại văn minh, hay muốn đối mặt với bạo lực, hầu như không thể tránh khỏi?

Các anh muốn những người dân như tôi, chỉ tham gia ôn hòa vào các hoạt động bảo vệ môi trường, hay muốn chúng tôi buộc phải trở thành kẻ thù, tập trung toàn lực vào việc đối đầu với các anh, nhằm loại bỏ cái thể chế phản động đang dung túng các anh?

Có thể không dễ, để các anh ngay lập tức quay đầu, trở lại phía bảo vệ Nhân Dân, nhưng không có nghĩa là các anh không có khả năng cân nhắc các hành động của mình!

Các anh hoàn toàn có thể vừa không chống lệnh cấp trên, vừa không gây thù chuốc oán với Nhân Dân!

Hãy để tôi tiếp tục là một công dân văn minh, ôn hòa, vì tôi vẫn còn coi các anh là đồng bào, và vẫn dành sự yêu thương cho các anh như người với con người!

Nguồn: FB Nguyễn Anh Tuấn

*

Một vài hình ảnh của An ninh Công an TP Hà Nội:

http://xuandienhannom.blogspot.com/2015/04/nguyen-anh-tuan-gui-cac-anh-ninh-cong.html

TIN LIÊN QUAN :

CHÍNH QUYỀN THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐÃ VI PHẠM HIẾN PHÁP NHƯ THẾ NÀO?

XEM THƯỜNG Ý DÂN, BỊT MIỆNG DÂN ĐỂ CHÌM XUỒNG VỤ CHẶT CÂY!

BÁO NGƯỜI LAO ĐỘNG RƠI MẶT NẠ, VU KHỐNG NGƯỜI HÀ NỘI

Nguyễn Xuân Diện-Blog

.

.

.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers