THÔNG BÁO

Tháng Bảy 6, 2014

THÔNG BÁO

CHỦ BLOG NHẬP VIỆN TỪ HƠN MỘT TUÂN LỄ NAY.

TẠM BIỆT BẠN ĐỌC MỘT THỜI GIAN.

HẸN NGÀY TÁI NGỘ .

7-6-2014
Đinh Lê

QUẢ ĐẠI PHÁO CUỐI CÙNG (Bùi Bảo Trúc)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Quả đại pháo cuối cùng

Bùi Bảo Trúc

Saturday, June 28, 2014 3:57:01 PM

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=190825&zoneid=97#.U6-W9rH-V00


Ông là một cựu quân nhân thuộc pháo binh biệt động quân (Liên Ðoàn 9) quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong bức hình chụp gia đình còn giữ, ông mặc một chiếc jacket da màu nâu, không phải là quân phục biệt động quân nên không rõ ông cấp bậc ra sao. Nhưng theo bản cáo phó, thì ông là một hạ sĩ quan pháo binh. Ông ra đời tại Huế năm 1942. Như vậy, khi ra đi, ông đã qua được cái tuổi cổ lai hy được một năm.

Ông quyết định cho sự ra đi ấy sau khi dặn dò bà ngoại của mấy đứa cháu coi chừng mấy đứa cháu còn bé. Ông nói với bà câu cuối rằng, “Tôi đi nghe.”

Rồi ông đi sáng Thứ Sáu, 20 tháng 6. Ông cầm theo một chiếc thùng nhựa màu đỏ đựng mấy lít xăng. Ông đến trước một bức tường ở lối vào khu chúng cư Silver Lake, tự tưới xăng lên người rồi châm lửa. Lúc ấy là đúng 11 giờ 15 sáng. Hai người Mỹ tình cờ đi qua trông thấy đã chạy lại tìm cách dập tắt ngọn lửa đang bốc cháy dữ dội. Ông nói bằng tiếng Anh với họ: “I want to die. Let me die.” Hai người dùng nước đổ lên người ông và dùng một tấm vải cố dập ngọn lửa. Nhưng ông đã bị phỏng rất nặng. Trực thăng đưa ông vào bệnh viện Tampa, ba ngày sau thì ông qua đời lúc 6 giờ sáng Thứ Hai, 23 tháng 6.

Một tấm bìa có bút tự của ông nguyên văn: “Hai Yang 981 phải rời khỏi V-N hải phận. Anh hùng tử, chí hùng nào tử.” Ông ký tên ở dưới: Thu Hoàng.

Hai Yang 981 là giàn khoan Hải Dương số 981 mà Bắc kinh đã ngang ngược kéo tới vùng biển của Việt Nam hôm 1 tháng 5. Ông Hoàng Thu đã đi như lời cuối ông dặn dò bà ngoại các cháu.

Câu từ biệt mà ông đã nói nhiều lần với bà khi còn là người lính pháo binh biệt động quân trước những chuyến hành quân thời còn trẻ, thì lần này, sáng Thứ Sáu, 20 tháng 6, lại là lời chào vĩnh biệt ông gửi bà.

Ông biết ông không làm gì hơn được trong vụ giàn khoan Hải Dương.

Người lính già ấy không còn khẩu 150 ly, hay khẩu 155 ly, hay khẩu 175 ly mà ông đã từng có thời vào sinh ra tử với chúng ngoài chiến trường. Ông đã phải giã từ những cỗ đại pháo yêu quí ấy từ tháng 5 năm 1975.

Ông đem gia đình chạy từ Huế vào Sài Gòn, rồi bị đưa đi kinh tế mới ở Ðồng Xoài, một địa danh mà những năm trong quân ngũ cũng đã có lần ông đi qua. Người lính già ấy đã phải làm tất cả những gì có thể làm được bằng sức chân tay để sống, cho tới năm 2008, tức là 33 năm sau ông mới đến nước Mỹ để bắt đầu một đời sống mới. Ông và bà đến sống với gia đình con gái ở Tampa, Florida.

Nhưng không một ngày nào ông không nghĩ tới miền Nam mà ông đã phải bỏ đi vì không thể tiếp tục ở lại trên chính đất nước của mình nữa. Ông rời đất nước nhưng đất nước vẫn là đất nước, vẫn là quê hương của ông. Ðất nước ấy không thể để mất vào tay bọn giặc phương Bắc suốt mấy ngàn năm qua không một lúc nào ngưng dòm ngó đất nước Việt Nam.

Ông không còn trong tay những khẩu đại pháo của những năm chinh chiến nữa. Ông cũng không còn có thể có mặt trên chiếc HQ 10 bên dàn đại pháo để bắn đi những quả đạn cuối cùng trước khi cùng ở lại tầu chết cùng với Thiếu Tá Ngụy Văn Thà và các chiến sĩ hải quân khác hôm 17 tháng 1 năm 1975.

Người lính già Hoàng Thu đã chết ở Florida. Nhưng thực ra, ông đã chết ở Hoàng Sa cùng với những người lính hải quân trên hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10.

Tuy thế, ông lại không chết trong lòng của những người Việt.

Ông đã bắn được quả đạn cuối cùng từ khẩu đại pháo mà ông vẫn có bên mình từ khi nó im tiếng sau tháng 4 năm 1975. Quả đạn đại pháo đã bắn trực xạ vào bọn cướp biển Bắc Kinh.

Cái giàn khoan Hải Dương 981 vẫn còn ở nguyên chỗ cũ. Lại mới có thêm một cái khác đang được kéo vào vùng biển Việt Nam. Có thể hai cái khác cũng sắp được đưa tới gần đó. Việc ông làm không ngăn được những chuyện ngang ngược bất hợp pháp của bọn hải tặc phương Bắc. Ông cũng biết rất rõ điều đó.

Nhưng không phải vì thế mà ông không chọn lấy cho ông cách ra đi như ông đã làm. Việc ông làm có thể là nhỏ, nhỏ vì không đuổi được nhưng chiếc tầu của cướp biển, nhưng không vì việc đó nhỏ mà không làm cũng như không phải thấy việc ác nhỏ mà không tránh.

Quả đạn được bắn đi làm bùng lên ngọn lửa được xác thân của ông làm cháy lên rừng rực.

Vĩnh biệt ông. Ông đã ra đi như một người lính anh dũng bảo vệ quê hương Việt Nam.

 

 

PHÁI ĐOÀN DÂN SỰ VIỆT NAM VẬN ĐỘNG TẠI BA LAN (Đàn Chim Việt)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Phái đoàn dân sự Việt Nam vận động tại Ba Lan

Đàn Chim Việt

05:21:pm 28/06/14

http://www.danchimviet.info/archives/88455/phai-doan-dan-su-viet-nam-van-dong-tai-ba-lan/2014/06

 

Chiều tối ngày 26/6, sau khi kết thúc những ngày làm việc tại Geneva và Brussels, 4 thành viên đại diện cho các tổ chức dân sự non trẻ của Việt Nam đã đặt chân tới Ba Lan để tiếp tục cuộc vận động của mình. Đó là các ông/ bà tiến sĩ Nguyễn Quang A, luật sư Trịnh Hữu Long, blogger Cùi Các và luật sư Nguyễn Thị Vy Hạnh.

 

Tiến sĩ Nguyễn Quang A là một trong những trí thức luôn đi đầu trong việc cổ vũ cho sự hình thành xã hội dân sự trong những năm qua. Ông cũng là tác giả nhiều bài báo, dịch nhiều cuốn sách liên quan tới quá trình chuyển đổi dân chủ và là thành viên tích cực của phong trào biểu tình chông Trung Quốc tại Hà Nội.

 

3 thành viên trẻ còn lại đều là những cây bút ít nhiều được biết đến trên các trang mạng hải ngoại, các blog cá nhân hay facebook.

 

Các thành viên trước bộ Ngoại Giao Ba Lan. Ảnh Thái Linh

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2014/06/10500372_10152215344898404_2599557846563221259_n-450×337.jpg

 

Trước khi qua Ba Lan, các thành viên đã tham dự những phiên họp và kiểm định nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc. Họ cũng làm việc tại quốc hội châu Âu và Ủy ban Nhân quyền châu Âu ở Brussels.

 

Tại Ba Lan, ngay trong ngày đầu tiên, đoàn đã tới làm việc tại bộ Ngoại Giao Ba Lan, hội Tự Do Ngôn Luận, Quỹ Nhân quyền Helsinki, chi nhánh tại Ba Lan. Cuối ngày, đoàn đã có cuộc gặp báo giới Ba Lan. Được biết, Wyborcza đã có một cuộc phỏng vấn dài với đoàn.

 

Trước quỹ Nhân Quyền Helsinki

http://www.danchimviet.info/wp-content/uploads/2014/06/10471113_10203566511917472_8282369818289041252_n-450×337.jpg

 

Ngày Chủ nhật, 29/6, đoàn sẽ làm việc với một số nghị sĩ quốc hội Ba Lan để phản ánh về tinh trạng nhân quyền Việt Nam. Thời hạn lưu lại Ba Lan của đoàn quá ngắn, nên cuộc gặp được bố trí vào ngày Chủ nhật.

 

Sáng thứ 2, đoàn sẽ rời Ba Lan qua cộng hòa Séc để thăm và làm việc.

 

—————————-

 

PHÁI ĐOÀN DÂN SỰ ĐỘC LẬP PHÁT BIỂU TẠI PHIÊN HỌP UPR

THEO DÕI CÁC KHYẾN NGHỊ CỦA LHQ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ? (Vietnam UPR)   28/6

NHÀ HOẠT ĐỘNG VIỆT NAM GẶP GỠ EU TẠI BRUSSELS (Vietnam UPR) 26/6

Thấy gì về tình hình nhân quyền sắp tới ở Việt Nam qua phiên họp UPR? 26/6

UPR : TÌM ĐOÀN CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐỂ PHẢN ĐỐI (Vietnam UPR) 24/6

PHÁI ĐOÀN DÂN SỰ ĐỘC LẬP PHÁT BIỂU TẠI PHIÊN HỌP UPR (Vietnam UPR) 24/6

Civil Society Representatives Speak at the UNHRC

Lần đầu tiên một đại diện tổ chức xã hội dân sự VN độc lập phát biểu trước Hội đồng nhân quyền LHQ   Nguyễn Quang A   24/6

Vai trò của NGO trong cơ chế UPR 23/6

BÌNH LUẬN : VỀ MỘT NHÀ NƯỚC THẤT HỨA Ở GENEVA (Phạm Lê Vương Các – VietnamUPR) 22/6

Danh sách các khuyến nghị UPR bị Việt Nam bác bỏ   22/6

Danh sách các khuyến nghị UPR được Việt Nam chấp nhận 21/6

UPR: Việt Nam bác bỏ 45 khuyến nghị   20/6

BBC phỏng vấn Phái đoàn dân sự độc lập Việt Nam tại Geneva 20/6

Phóng sự ảnh: Trước giờ vào phiên họp của Liên Hợp Quốc   20/6

Four Civil Society Representatives Arrive in Geneva for the HRC’s Plenary Session on Vietnam’s UPR

Bốn nhà hoạt động dân sự tới Geneva, tham dự phiên họp UPR của Việt Nam   19/6

Four Civil Society Representatives Arrive in Geneva for the HRC’s Plenary Session on Vietnam’s UPR

Nhìn lại 227 khuyến nghị dành cho Việt Nam 19/6

Những điểm đáng lưu ý tại phiên báo cáo UPR của Việt Nam

Sôi nổi các cuộc vận động tại LHQ trước khi VN báo cáo nhân quyền UPR

Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn? Phạm Minh Hoàng

Đi vận động quốc tế là làm gì?   Đoan Trang

UPR hay và dở 17/6

Làm thế nào vận dụng cơ chế LHQ để bảo vệ nhân quyền? Đoan Trang 15/6

Theo dòng UPR: con số và sự kiện 15/6

Trên 200 khuyến nghị Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ   Ỷ Lan – RFA 8/2

Những điểm đáng lưu ý tại phiên báo cáo UPR của Việt Nam Trà Mi – VOA   5/2

Sôi nổi các cuộc vận động tại LHQ trước khi VN báo cáo nhân quyền UPR Trà Mi-VOA 3/2

 

 

THEO DÕI CÁC KHYẾN NGHỊ CỦA LHQ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ? (Vietnam UPR)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Theo dõi các khuyến nghị của LHQ về Quyền con người như thế nào?

Vietnam UPR

June 28, 2014 7:58 am

http://vietnamupr.com/2014/06/theo-doi-cac-khuyen-nghi-cua-lhq-ve-quyen-con-nguoi-nhu-the-nao/

 

Ngày 20/6/2014 vừa qua, tại Geneva (Thụy Sĩ), Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã họp phiên toàn thể để xem xét và thông qua Báo cáo về tình hình đảm bảo quyền con người tại Việt Nam chu kỳ 2 trong khuôn khổ Cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR). Đại sứ Nguyễn Trung Thành, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Geneva, Trưởng đoàn Việt Nam tại phiên họp, đã công bố với Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc danh sách 182 khuyến nghị Việt Nam chấp thuận trên tổng số 227 khuyến nghị mà các nước và tổ chức quốc tế đã nêu ra trong đợt rà soát định kỳ phổ quát lần 2 đối với Việt Nam (chiếm khoảng 80% tổng số khuyến nghị).

 

Vấn đề lúc này là liệu nhà nước Việt Nam thực thi các cam kết (các khuyến nghị đã chấp nhận thực thi) đến đâu. Rõ ràng, vai trò của xã hội dân sự và người dân trong việc giám sát, theo dõi việc thực thi cam kết của nhà nước kiểu như thế này là rất quan trọng. Việc theo dõi làm sao cho tốt – sẽ được trả lời phần nào trong cuốn “Cẩm nang Hướng dẫn cho Xã hội dân sự về phương thức theo dõi các khuyến nghị của Liên Hợp Quốc về nhân quyền” (A Practical Guide for Civil Society: HOW TO FOLLOW UP ON UNITED NATIONS HUMAN RIGHTS RECOMMENDATIONS), 2013  của LHQ.

 

Tuy nhiên, cạnh Hội đồng Nhân quyền (với cơ chế UPR), còn có hệ thống các ủy ban giám sát công ước và những cơ chế nhân quyền LHQ khác, các khuyến nghị mà các cơ quan này đưa ra cũng rất phong phú. Việc nắm bắt được nội dung các khuyến nghị trong các lĩnh vực quyền con người  khác nhau và vận dụng chúng một cách khéo léo trong vận động nhân quyền có thể mang lại những kết quả tích cực trong thực tiễn quốc gia.

 

Trong hướng dẫn này, nhiều khía cạnh của việc giám sát, theo dõi (follow-up/ được tác giả dịch là “theo dõi-sử dụng”) các khuyến nghị được giới thiệu, phân tích. Đối tượng của việc giám sát là các loại khuyến nghị chủ yếu sau:

– Khuyến nghị của các ủy ban công ước trong các quan sát kết luận sau khi xem xét việc thực thi một công ước nhân quyền của một Nhà nước thành viên công ước;

 

- Khuyến nghị của các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền đưa ra trong các báo cáo chuyến thăm các nước, báo cáo chuyên đề và thông tin về các trường hợp cá nhân;

– Khuyến nghị được chấp thuận từ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) tại Hội đồng Nhân quyền;

– Các nghị quyết và quyết định của Hội đồng Nhân quyền và Đại hội đồng LHQ;

– Khuyến nghị từ các cơ quan thuộc Hội đồng Nhân quyền như Ban cố vấn; thủ tục khiếu nại; Cơ chế Chuyên gia và Quyền của Người bản địa; Diễn đàn các vấn đề thiểu số; Diễn đàn Xã hội và Diễn đàn về Kinh doanh và nhân quyền;

– Khuyến nghị từ các ủy ban điều tra, các cuộc điều tra và các cơ chế điều tra nhân quyền lâm thời do Hội đồng Nhân quyền, Cao ủy Nhân quyền LHQ hay Tổng thư ký LHQ thành lập;

– Khuyến nghị trong các báo cáo và nghiên cứu của Cao ủy Nhân quyền LHQ (vd báo cáo hoạt động hiện trường; các báo cáo và nghiên cứu về các chủ đề và các nước do Hội đồng Nhân quyền ủy quyền thực hiện);

– Kháng thư với các Nhà nước hoặc cộng đồng quốc tế từ Cao ủy Nhân quyền LHQ hoặc các chuyên gia nhân quyền độc lập trong các tuyên bố công khai.

Các nhóm, tổ chức XHDS tùy lĩnh vực quan tâm của mình có thể sử dụng các hướng dẫn này & hướng dẫn trong “Sổ tay cho XHDS: Làm việc cùng chương trình LHQ”.

 

Chúng tôi trân trọng cảm ơn người dịch đã cho phép sử dụng các bản dịch tại đây.

HƯỚNG DẪN CHO XHDS VỀ THEO DÕI CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA LHQ VỀ NHÂN QUYỀN – T.VIỆT

 

Theo nhanquyen.vn

 

NHÀ HOẠT ĐỘNG VIỆT NAM GẶP GỠ EU TẠI BRUSSELS (Vietnam UPR)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Nhà hoạt động Việt Nam gặp gỡ EU tại Brussels

Vietnam UPR

June 26, 2014 10:15 am

http://vietnamupr.com/2014/06/nha-hoat-dong-viet-nam-gap-go-eu-tai-brussels/

 

Sáng ngày 25-6, phái đoàn xã hội dân sự Việt Nam, đại diện cho 10 tổ chức xã hội dân sự, đã có cuộc họp chính thức với Nhóm làm việc về Nhân quyền (COHOM) của Liên minh châu Âu (EU) tại trụ sở cơ quan này ở Brussels (Vương quốc Bỉ).

 

Các nhà hoạt động Nguyễn Quang A, Nguyễn Thị Vy Hạnh, Phạm Lê Vương Các và Trịnh Hữu Long đã trình bày với COHOM về các diễn biến mới của tình hình nhân quyền Việt Nam kể từ sau một cuộc họp tương tự hồi tháng 2 vừa qua, đặc biệt là kết quả phiên Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR). Các thành viên COHOM bày tỏ sự quan tâm đặc biệt với các khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã đồng ý hoặc bác bỏ và đặt nhiều câu hỏi cho phái đoàn về việc tiếp tục theo đuổi cơ chế này.

 

COHOM là cơ quan đặc trách của EU về vấn đề nhân quyền, bao gồm các chuyên gia về nhân quyền đại diện cho 28 quốc gia thành viên của EU. COHOM chịu trách nhiệm thu thập thông tin và tư vấn cho EU trong các vấn đề đối ngoại liên quan đến nhân quyền. Mỗi tháng, COHOM tổ chức các cuộc tiếp xúc chính thức với khoảng 5 phái đoàn xã hội dân sự đến từ các nước trên thế giới để tiếp nhận thông tin và thảo luận về tình hình nhân quyền.

 

Vietnam UPR xin gửi tới bạn đọc một số hình ảnh của cuộc họp này:

 

Blogger Phạm Lê Vương Các đang trình bày về tình hình trả đũa các nhà hoạt động UPR.

http://vietnamupr.com/wp-content/uploads/2014/06/10510212_10102439144167364_1999397025_n.jpg

 

Tiến sĩ Nguyễn Quang A và luật gia Trịnh Hữu Long

http://vietnamupr.com/wp-content/uploads/2014/06/10508320_10102439144172354_110719138_n.jpg

 

Phái đoàn chụp ảnh cùng một số đại diện các phái đoàn tại COHOM

http://vietnamupr.com/wp-content/uploads/2014/06/10492424_10152233246300967_1334195042881694565_n.jpg

 

 

TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI VẬN ĐỐI VỚI VIỆC THẢ TÙ NHÂN ĐỖ THỊ MINH HẠNH (PV.VRNs)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Tác động của ngoại vận đối với việc thả tù nhân Đỗ Thị Minh Hạnh

PV. VRNs

Đăng ngày: 29.06.2014

http://www.chuacuuthe.com/2014/06/tac-dong-cua-ngoai-van-doi-voi-viec-tha-tu-nhan-do-thi-minh-hanh/

 

Cô Đỗ Thị Minh Hạnh tại gia đình, tối 28.06.2014 – Ảnh lấy từ Facebook

http://www.chuacuuthe.com/images2013/140627004.jpg

 

VRNs (29.06.2014) – Sài Gòn – Những tấm hình chụp cô Đỗ Thị Minh Hạnh, một tù nhân lương tâm vừa được trả tự do đã về đến nhà lúc 18 giờ tối ngày 28.06.2014,  tại địa chỉ 11 Bis, Nguyễn Thị Minh Khai, tổ 4, khu 5, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, làm cho cộng đồng yên tâm.

 

Việc cô Đỗ Thị Minh Hạnh được trả tự do ngay trong thời điểm này được ghi nhận bởi hai nguyên nhân chính: Chiến dịch ngoại vận của gia đình cùng các tổ chức Việt Nam hải ngoại và nhu cầu được tham gia vào Hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của cộng sản Việt Nam.

 

Sự kiện bà Trần Thị Ngọc Minh từ Âu Châu sáng Mỹ, rồi Úc Châu để trực tiếp gặp gỡ các cá nhân và tổ chức thuộc các cơ quan Lập pháp và Hành pháp của các nước này, cùng với một số Tổ chức xã hội dân sự quốc tế (CSOs), Tổ chức phi lợi nhuận (NPOs) và Tổ chức phi chính phủ (NGOs) để vận động họ lên tiếng gây áp lực buộc nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phải trả tự do cho con gái là cô Đỗ Thị Minh Hạnh được công nhận là một đóng góp trực tiếp và đáng kể cho việc Minh Hạnh được tự do.

 

Tổ chức Lao Động Việt ghi nhận: “Ngày 28-30.01.2010, có 10.000 công nhân công ty giày Mỹ Phong đình công để chống bóc lột và phản đối đốc công người Hoa lăng mạ các nữ công nhân Việt là “đ…”. Tháng 02.2010, Chương-Hùng-Hạnh bị bắt. Từ đó đến nay, rất nhiều người nhiều nhóm đã giúp đỡ, lên tiếng, tranh đấu – trong đó có nhiều ngàn đồng bào ngoài và trong nước, hơn 4 ngàn thành viên nghiệp đoàn khắp thế giới, và hàng chục cơ quan truyền thông và mạng xã hội”.

 

Những cá nhân và tổ chức đã lên tiếng kêu gọi giải cứu cho cô Đỗ Thị Minh Hạnh được Lao Động Việt cho biết:

 

“NĂM 2010: Chỉ trong vòng vài ngày sau khi Chương-Hùng-Hạnh bị bắt, các ông Tony Sheldon, Paul Howes, và Barry Tubner huy động các nghiệp đoàn của họ ở Úc (vận tải TWU, xưởng máy AWU, may mặc TCFUA) cũng như vận động với các liên đoàn thế giới ITF, IMF, v.v.. Từ đó đến nay, họ tiếp tục giúp đỡ các nhóm thành viên trong Lao Động Việt để tranh đấu cho Chương-Hùng-Hạnh. Họ cũng hỗ trợ LĐV để một số công nhân VN tại Mã Lai thành lập được vài nghiệp đoàn hoặc gia nhập nghiệp đoàn của Mã Lai – đó chính là một hoài bão của Hạnh khi cô ghé Mã Lai năm 2009

Ông Joe De Bruyn, TTK, huy động nghiệp đoàn SDA ở Úc của ông, vận động với liên đoàn thế giới ngành bán lẻ UNI, và lên tiếng với Ngoại Trưởng Úc

Đức Tổng Giám Mục George Pell ở Sydney lên tiếng với ngoại trưởng Úc sau khi ngài được thông báo bởi ông Paul Howes và ông Andrew Casey, viên chức AWU

Nhóm LabourStart tung ra chiến dịch online năm 2010, và trong đại hội ở Sydney của họ năm 2012 cũng nung lại trường hợp Chương-Hùng-Hạnh

Hưởng ứng chiến dịch online của LabourStart, 4.189 người ký tên trong thư chung, và 2.533 người ghi danh trên Facebook Cause của LS. Họ là thành viên hoặc viên chức các nghiệp đoàn khắp thế giới (New Zealand, Do Thái, Hong Kong, v.v.)

Human Rights Watch và Amnesty International, mỗi tổ chức lên tiếng mấy lần bằng thông cáo, bản tường trình, hoặc khi vận động với QH

Tổng Liên Đoàn ACTU của Úc chính thức ra Nghị Quyết, vận động với chính quyền Úc, với ITUC, hỗ trợ chiến dịch của LS, và muốn gởi phái đoàn ACTU đến VN để thăm 3 gia đình, nhưng Hà Nội không cấp chiếu khán

Chính quyền Úc bắt đầu lên tiếng với Hà Nội. Năm 2013, sau khi đích thân lên tiếng trong cuộc họp riêng với CSVN, Ngoại Trưởng Bob Carr viết tweet trên Twitter để lên tiếng trên công luận, việc này rất hiếm khi xảy ra

 

NĂM 2011: Liên đoàn thế giới ngành vận tải (ITF), ngành xưởng máy (IMF), và tổng liên đoàn thế giới ITUC lên tiếng, qua các bản báo 2010 và 2011 của ITUC, qua thư gởi Hà Nội, hoặc trong các bản tin nội bộ

Nghiệp đoàn xưởng máy của Nhật, IMF-JC, một thành viên của liên nghiệp đoàn IMF, gởi viên chức Shinya Iwai đến VN thăm 3 gia đình. Sau khi về Nhật, ông báo cáo trong tờ báo nội bộ của IMF-JC

 

NĂM 2012: Nhóm Freedom Now nộp hồ sơ đến WGAD (Working Group on Arbitrary Detention – Nhóm Đặc Trách về Giam Vô Cớ của LHQ), FN cũng ráo riết vận động với Quốc Hội và hành pháp Hoa Kỳ.

Khối 1706 và đài Việt Nam Sydney Radio cấp tốc tổ chức cuộc biểu tình ngay khi biết tin phái đoàn CSVN đến xin ACTU viện trợ, trưng hình của 3 người này, và qua đó đã thông tin cho nhiều viên chức nghiệp đoàn ở Sydney về Chương-Hùng-Hạnh

 

NĂM 2013: Dân Biểu Chris Hayes ở Úc lên tiếng, và từ đó đến nay không ngừng nghỉ

Trả lời đơn của Freedom Now, đầu năm 2013 WGAD ra bản Tuyên Bố bác bỏ lời bào chữa của Hà Nội, đòi trả tự do vô điều kiện, và đòi bồi thường

Chủ Tịch Thượng viện Borusiewic của Ba Lan đòi trả tự do cho họ khi một phái đoàn CSVN viếng thăm – theo ký giả Aleksandra Szyłło trên báo Gazeta Wyborcza, tờ báo lớn nhất của Ba Lan

 

NĂM 2014: có 11 DB Mỹ – Frank Wolf, James McGovern, Michael Honda, Randall Hultgren, Zoe Lofgren, Loretta Sanchez, Christopher Smith, Sheila Jackson Lee, Chris Van Hollen, Alan Lowenthal, George Miller – ký thư chung. Bản tin của Freedom Now nói 11 DB đã nêu đích danh Chương-Hùng-Hạnh, đòi CSVN trả tự do

Tổ chức BPSOS vận động với lập pháp và hành pháp Mỹ, tạo ra nhiều kết quả, trong đó có DB Chris Van Hollen đã đỡ đầu cho Hạnh

Khối 8406 ở Úc tổ chức chuyến đi vòng quanh luc địa Úc cho bà Trần Thị Ngọc Minh, mẹ của Hạnh. Cả ngàn đồng hương đã tham dự và hỗ trợ

Dân Biểu Luke Donnellan cùng 6 DB khảc thuộc Nghị Viện Victoria của Úc viết thư chung đến Hà Nội

VP Melbourne của Ân Xá Quốc Tế cho hay rằng VP trung ương tại Luân Đôn đang chuẩn bị để tung ra chiến dịch tranh đấu”.

 

Đỗ Thị Minh Hạnh và bố tại nhà ở Di Linh, Lâm Đồng – sáng 29.06.2014

http://www.chuacuuthe.com/images2013/140627006.jpg

 

Như vậy vai trò của cộng đồng Việt Kiều tại các nước đang có nhiều ảnh hưởng về kinh tế hoặc đối tác kinh tế trực tiếp với nhà cầm quyền Việt Nam rất quan trọng trong việc buộc nhà hữu trách Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và cải cách chính trị. Một cái nhìn xa hơn, nếu cộng đồng người Việt tại hải ngoại làm được sẽ trực tiếp làm cho đất nước Việt Nam thay đổi toàn diện, đó là vận động các quốc gia đó đòi hỏi luôn luôn phải có các tổ chức dân sự xã hội tham gia thảo luận với họ cùng với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trong mọi sự, từ kinh tế đến quân sự, từ giáo dục đến xã hội.

 

Được biết, Bộ công an đã áp giải cô Đỗ Thị Minh Hạnh từ nhà tù Thanh Xuân (Hà Nội) đi vào khuya hôm 26.06. Lúc này cô Hạnh đã gọi điện thoại báo cho ông Đỗ Tỵ là bố của cô biết. Sau hai ngày hai đêm, xe công an chở Hạnh về đến Lâm Đồng vào chiều ngày 28.06. Tại nhà ông Tỵ, công an lập biên bản yêu cầu gia đình xác nhận rằng Đỗ Thị Minh Hạnh vẫn khỏe mạnh, tuy nhiên gia đình cô đã từ chối ký tên vào biên bản này.

 

PV. VRNs

 

 

CÔ ĐỖ THỊ MINH HẠNH TRẢ LỜI RFA NGAY SAU KHI RA TÙ (Tường An – RFA)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Cô Đỗ Thị Minh Hạnh trả lời RFA ngay sau khi ra tù

Tường An, thông tín viên RFA
2014-06-28

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/young-union-activist-released-ta-06282014113035.html

 

Cô Đỗ Thị Minh Hạnh (trái) tại nhà riêng sau khi ra tù.  FB Photo  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/young-union-activist-released-ta-06282014113035.html/Hanh2-305.jpg/image

 

Sau ba năm bị giam cầm qua nhiều trại tù khác nhau, nhà hoạt động công đoàn trẻ tuổi Đỗ Thị Minh Hạnh vừa được trả tự do hôm thứ Sáu 27 vừa rồi. Từ Paris, thông tín viên Tường An của Đài Á Châu Tự Do đã có cuộc phỏng vấn đặc biệt với Cô Đỗ Thị Minh Hạnh, mời quý vị nghe cuộc phỏng vấn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/young-union-activist-released-ta-06282014113035.html

 

——————————-

‘Gia đình ủng hộ việc làm của Minh Hạnh’ (BBC)

Bản Tin LĐV 20140628 Đỗ Thị Minh Hạnh lấy lại tự do – đôi lời cảm tạ của Lao Động Việt (Lao Động Việt)

 

 

 

HIỆP ƯỚC, THỎA THUẬN NGẦM VÀ HÀNH XỬ TRÓI BUỘC (ESTOPPEL) THEO LUẬT QUỐC TẾ (Nguyễn Văn Thân – Bauxite VN)

Tháng Sáu 29, 2014

 

HIỆP ƯỚC, THỎA THUẬN NGẦM VÀ HÀNH XỬ TRÓI BUỘC (ESTOPPEL) THEO LUẬT QUỐC TẾ

Nguyễn Văn Thân

29/06/2014

http://boxitvn.blogspot.com/2014/06/hiep-uoc-thoa-thuan-ngam-va-hanh-xu.html

 

Trong mấy ngày qua, việc Việt Nam có thể tiến hành kiện Trung Quốc trước Tòa án Quốc tế làm xôn xao dư luận ở trong và ngoài nước. Về phiá Trung Quốc thì họ đã chủ động đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc và cáo buộc Việt Nam mới là thủ phạm gây rối tạo ra những xung đột tại Biển Đông. Ngoài ra, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc cũng đã công bố một số bằng chứng cho rằng Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Quốc gồm có lời phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm vào ngày 16 tháng 5 năm 1956, Công Hàm Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1956 và Bản Tuyên bố ngày 9 tháng 5 năm 1965 về việc Hoa kỳ thành lập khu tác chiến tại Việt Nam. Ngoài ra, sách giáo khoa Địa lý lớp 9 Trung học phổ thông do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản có bài giới thiệu Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa “từ các đảo Nam Sa, Tây Sa đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn…, các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức ‘Trường Thành’ bảo vệ Trung Quốc đại lục”. Câu hỏi đặt ra là các loại bằng chứng này có giá trị pháp lý thế nào ra sao nếu Việt Nam tiến hành kiện Trung Quốc trước Tòa án Quốc tế? Để tìm hiểu thêm về vấn đề này thì chúng ta hãy xem xét kết quả vụ kiện phân định biên giới lãnh hải giữa Bangladesh và Miến Điện trong vịnh Bengal mà Tòa án Quốc tế về Luật Biển đã ban hành phán quyết vào ngày 14 tháng 3 năm 2012.

 

Nguồn gốc vụ kiện

Vịnh Bengal nằm ở hướng Đông Bắc của Ấn Độ Dương bao gồm khu vực biển khoảng 2.2 triệu cây số vuông và ráp gianh với Sri Lanka, Ấn Độ, Bangladesh và Miến Điện. Bangladesh có diện tích khoảng 147,000 cây số vuông, nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của Vịnh Bengal, có biên giới với Ấn Độ và Miến Điện. Miến Điện có diện tích khoảng 678,000 cây số vuông, nằm ở phía Đông của Vịnh Bengal và có biên giới với Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc, Lào và Thái Lan.

Vào ngày 9 tháng 5 năm 1966 thì Bangladesh và Miến Điện đã ký kết Hiệp ước phân định biên giới lãnh thổ dọc theo dòng sông Naaf (Naaf River Boundary Agreement). Từ năm 1974 tới 2010 thì hai bên đã có tổng cộng 14 vòng đàm phán về biên giới lãnh hãi, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sau cuộc đàm phán lần thứ hai, Trưởng Phái đoàn Đàm phán Miến Điện, Phó Đề đốc Chit Hlaing và Trưởng Phái đoàn Đàm phán Bangladehs, Đại sứ Kwaja Mohammad Kaiser đồng ký Biên bản Đồng thuận vào ngày 23 tháng 11 năm 1974.

Sau 30 năm yên tĩnh thì tranh chấp lại xảy ra vì trong thập niên 2000 có sự khám phá trữ lượng dầu khí trong Vịnh Bengal cũng như nhu cầu năng lượng và khí đốt của cả hai quốc gia láng giềng đều gia tăng đáng kể. Sau một cuộc đàm phán trong năm 2008, Phó Đề đốc Maung Oo Lwin Trưởng Phái đoàn Miến Điện và Thứ trưởng Ngoại giao M.A.K Mahmood Trưởng Phái đoàn Bangladesh cùng ký kết Biên bản Đồng thuận vào ngày 1 tháng 4 năm 2008.

Tới ngày 17 tháng 8 năm 2008 thì hai chiếc tàu hải quân Miến Điện hộ tống bốn chiếc tàu khoan tiến vào khu vực tây nam đảo St. Martin của Bangladesh để bắt đầu kế hoạch khảo sát dầu khí. Lập tức Bangladesh điều ba tàu chiến tới khu vực và yêu cầu Miến Điện ngưng mọi hoạt động trong vùng biển tranh chấp. Sau khi Miến Điện tuyên bố sẽ không lùi bước thì Blagladesh quyết định tiến hành thủ tục pháp lý.

Ngày 8 tháng 10 năm 2009, Bangladesh tiến hành kiện Miến Điện theo thủ tục Tòa Trọng tài được thành lập dưới Phụ lục VII của Công Uớc Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 để xin phán quyết phân định biên giới lãnh hải. Vào ngày 4 tháng 11 năm 2009, Miến Điện hồi đáp và tuyên bố sẽ chấp nhận thẩm quyền của Tòa Án Quốc tế về Luật Biển. Tới ngày 4 tháng 12 năm 2004 thì Bangladesh đồng ý với đề nghị của Miến Điện và chuyển hồ sơ qua Tòa án Quốc tế về Luật Biển. Cùng lúc thì Bangladesh cũng tiến hành đơn kiện tương tự với Ấn Độ theo thủ tục Tòa Trọng tài dưới Phụ lục VII. Nhưng Tòa này làm việc có vẻ chậm hơn và cho tới bây giờ thì vẫn chưa có phán quyết.

 

Kết quả vụ kiện

Vụ kiện giữa Bangladesh và Miến Điện diễn ra trước 20 thẩm phán đã được bầu chọn của Tòa án Quốc tế về Luật Biển cùng với 2 thẩm phán được mỗi bên đề cử. Cả hai bên đều thuê mướn các đoàn luật sư thượng thặng gồm có các vị giáo sư luật quốc tế của các trường đại học nổi tiếng từ Anh quốc, Pháp quốc, Đức quốc và Hoa Kỳ. Phiên xử kéo dài 15 ngày từ ngày 8 tới 24 tháng 9 năm 2011 và được phát hình trực tiếp qua hệ thống internet (webcast). Tòa ra phán quyết vào ngày 14 tháng 3 năm 2012. Nói chung, Tòa đã áp dụng nguyên tắc đường thẳng chia đều (equidistant line) để phân định biên giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đây là phương thức thường được sử dụng để phân định lãnh hải hai quốc gia lân cận có chung trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phương pháp này có 3 giai đoạn. Thứ nhất, Tòa áp dụng đường trung tuyến giữa hai biên giới. Thứ hai, Tòa xem xét các yếu tố liên hệ ví dụ như chủ quyền truyền thống hoặc hoàn cảnh đặc biệt để quyết định có cần điều chỉnh lại đường trung tuyến hay không. Sau cùng, Tòa xem lại đường trung tuyến có tạo ra kết quả bất tương xứng với chiều dài bờ biển của hai bên hay không. Trong trường hợp này, đường thẳng của Tòa bắt đầu từ biên giới hai nước từ sông Naaf đi vòng qua đảo St Martin và thẳng ra đại dương. Đường thẳng này nằm giữa hai đường đề nghị của Bangladesh và Miến Điện. Có lẽ vì vậy mà cả hai bên đều tuyên bố thắng kiện.

 

Đảo St Martin

Tòa cũng có phán quyết quan trọng về đảo St Martin. Đảo St Martin thuộc chủ quyền Bangladesh, dài khoảng 5 km và có diện tích khoảng 13,000 cây số vuông. Đảo này cách biên giới phía nam Bangladesh khoảng 9 km và cách bờ biển Miến Điện ở phía tây khoảng 8 km. Đảo có dân số khoảng 7000 đa số làm nghề đánh cá nhưng có kỹ nghệ du lịch thu hút hơn 300,000 du khách hàng năm. Bangladesh lập luận rằng dựa vào những yếu tố này thì đảo St Martin nên được hưởng đầy đủ quy chế lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Điều 121 của Công Ước Quốc Tế về Luật Biển quy định: (1) “đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước. (2) Với điều kiện phải tuân thủ khoản 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của hòn đảo được hoạch định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. (3) Những hòn đảo đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng, thì không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.”

Miến Điện cho rằng đảo St. Martin có những nét đặc biệt, khác thường. Thứ nhất, nó nằm gần biên giới lãnh thổ của cả Bangladesh và Miến Điện và nằm ở bên kia đường trung tuyến gần với Miến Điện. Vì vậy, nếu đáp ứng đòi hỏi của Miến Điện thì sẽ dẫn đến kết quả bất tương xứng.

Kết cuộc thì Tòa đã dung hòa và ban quy chế lãnh hải 12 hải lý cho Đảo St Martin nhưng không cho Đảo St. Martin hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Thẩm phán Cao Chi Quốc (Trung Quốc) một thành viên của Tòa đã ban hành phán quyết riêng bày tỏ sự bất đồng quan điểm với quyết định của Tòa. Theo Thẩm phán Cao thì Tòa nên sử dụng phương pháp đường phân giác (angle bisector) vì bờ biển Bangladesh bị lõm (concavity). Ngoài ra, Thẩm phán Cao cũng đồng ý với Bangladesh là đảo St Martin nên được hưởng đầy đủ quy chế lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dựa trên kích thước, dân số thường trực và nền kinh tế đáng kể của nó. Quan điểm này phù hợp với lập trường của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Một phần phán quyết quan trọng khác của Tòa đáng để cho chúng ta chú ý là những lý luận về hiệp ước, thỏa thuận ngầm và hành xử trói buộc vì những nguyên tắc pháp lý này liên quan tới Công hàm Phạm Văn Đồng và những bằng chứng mà Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã chấp nhận chủ quyền của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa.

 

Yếu tố cần thiết của hiệp ước

Như đã trình bày, sau một vòng đàm phán vào năm 1974 thì hai phái đoàn đã đồng ký Biên bản Đồng thuận 1974 (1974 Agreed Minutes) có nội dung chính như sau:

1. Phái đoàn Bangladesh và Miến Điện đã thảo luận về biên giới lãnh hải giữa hai quốc gia tại Rango on từ 4-6 tháng 9 năm 1974 và tại Dacca từ 20 tới 25 tháng 11 năm 1974 trong tinh thần hữu nghị và thân thiện.

2. Về biên giới lãnh hải giữa Bangladesh và Miến Điện, hai phái đoàn đồng ý:

I. Ranh giới lãnh hải là đường thẳng từ Điểm số 1 từ sông Naaf qua khỏi phía nam của đảo St. Martin chia đều bờ biển đảo St Martin và Miến Điện.

Đường ranh giới căn bản dựa trên nguyên tắc này đã được vẽ trong Biểu đồ 114 đính kèm với Biên bản.

II. Biên giới sau cùng sẽ được định đoạt dựa trên những chi tiết tọa độ mà hai bên cùng đo đạc (joint survey)

3. Phái đoàn Miến Điện cho biết thỏa thuận phận định biên giới lãnh hải trong đoạn văn 2 nêu trên tùy thuộc vào sự bảo đảm là tàu thuyền Miến Điện được hưởng quyền tự do hàng hải chung quanh đảo St Martin đến và từ bộ phận sông Naaf của Miến Điện.

4. Phái đoàn Bangladesh bày tỏ sự chấp thuận của chính quyền của họ về đoạn văn 2 nêu trên và ghi nhận yêu cầu của chính quyền Miến Điện về việc bảo đảm tự do hàng hải cho tàu thuyền Miến Điện trong đoạn văn 3 nêu trên.

5. Phái đoàn Bangladesh đã trao bản thảo Hiệp ước phân định lãnh hải cho phái đoàn Miến Điện vào ngày 20 tháng 11 năm 1974 để lấy ý kiến của chính quyền Miến Điện.

6. Về vấn đề thứ hai liên quan tới vùng đặc quyên kinh tế và thềm lục địa, hai phái đoàn thảo luận một số nguyên tắc và đồng ý sẽ tiếp tục thương thuyết với mục đích là đi đến đồng thuận việc phân định mà hai bên đều chấp nhận được.

Ký tên Ký tên

Phó Đề đốc Chit Hlaing Đại sứ K.M. Kaiser

Trưởng Phái đoàn Miến Điện Trưởng Phái đoàn Bangladesh

23/11/1974 23/11/1974

 

Sau một vòng đám phán khác trong năm 2008 thì hai phái đoàn đồng ký vào Biên bản Đồng thuận 2008 (Agreed Minutes 2008) có nội dung chính như sau:

1. Phái đoàn Bangladesh và Miến Điện đã thảo luận về biên giới lãnh hải giữa hai quốc gia tại Dhaka từ 31 tháng tới 1 tháng 4 năm 2008 trong tinh thần hữu nghị và thân thiện.

2. Hai bên thảo luận và điều chỉnh một số từ ngữ trong đoạn văn 3 của Biên bản Đồng thuận 1974.

3. Thay vì Biểu đồ 114 thì hai bên đồng ý áp dụng những tọa độ dưới đây. Những điều khoản khác của Biên bản 1974 vẫn giữ nguyên vẹn.

4. Bangladesh đề nghị là trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì đảo St. Martin được ghi nhận tư cách pháp lý đầy đủ của đảo theo Điều 121 của Công Ước Quốc tề về Luật Biển 1982.

5. Miến Điện đề nghị là trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì áp dụng điểm giữa trên đường thẳng nối liền đảo St Martin của Bangladesh và đảo Oyster của Miến Điện và đảo Oyster cũng được ghi nhận tư cách pháp lý đầy đủ của đảo.

6. Hai bên thảo luận một số nguyên tắc về việc phân định lãnh hải.

7. Hai bên đồng ý tiếp tục thương lượng với mục đích đi đến đồng thuận về việc phân định lãnh hải mà cả hai đều chấp nhận được.

Ký tên Ký tên

Phó Đề đốc Maung Oo Lwin M.A.K Mahmood

Trưởng Phái đoàn Miến Điện Trưởng Phái đoàn Bangladesh

1/4/2008

Dhaka

 

Bangladesh lập luận rằng biên giới lãnh hải giữa hai quốc gia đã được đồng thuận dựa trên Biên bản 1974 và được xác nhận bởi Biên bản 2008. Lý do mà Miến Điện không ký vào bản thảo hiệp ước không phải là vì họ phủ nhận biên giới dựa trên nguyên tắc căn bản của Biên bản Đồng thuận 1974 mà chỉ là vì họ muốn gom sự đồng thuận này vào một hiệp ước bao gồm thoả thuận phân định biên giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cho thuận tiện. Điểm chính là về thực chất, văn bản ký kết gồm có các điều khoản rõ ràng là hai quốc gia đã đồng thuận về việc phân định lãnh thổ và lãnh hải. Hình thức nghi lễ của một hiệp ước không quan trọng. Cả hai phái đoàn đã cùng nhau tính ra tọa độ trên Biểu đồ 114. Sau khi ký kết thì cả hai bên cho rằng việc phân định lãnh hải đã kết thúc và không có bên nào đặt vấn đề gì cho đến 2008 khi Miến Điện ngõ ý là “hợp đồng” không còn giá trị.

Hơn nữa, Bangladesh cho rằng khi ký vào Biên bản 1974 thì cả hai bên đều có ý định thực thi các điều khoản trong Biên bản và vì vậy Biên bản là một thỏa thuận đơn giản nhưng mang đầy đủ ý nghĩa của một hiệp ước theo Điều 15 của Công ước Vienna về Luật Hiệp ước. Trong vụ kiện Biên giới Lãnh thổ và Lãnh hải giữa Camaroon và Nigeria (2002), Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) đã phán rằng một văn bản thỏa thuận quốc tế phân định lãnh thổ và lãnh hải là một hiệp ước theo đúng nghĩa của Công Ước Vienna 1969 về Luật Hiệp ước.

Miến Điện đã bác bỏ những lập luận này. Thứ nhất, Miến Điện cho rằng Biên bản Đồng thuận 1974 cũng như 2008 chỉ là dữ kiện ghi chép lại nội dung của phiên họp và những gì hai bên thảo luận. Miến Điện đã nhiều lần nhấn mạnh là họ sẽ không ký hiệp ước cho tới khi nào hai bên đạt được đồng thuận trên mọi khía cạnh tranh chấp bao gồm lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra, Biên bản Đồng thuận chưa bao giờ được bên nào thông qua theo đúng tiến trình hiến pháp của hai quốc gia ký kết.

Hơn nữa, cả Phó Đề đốc Chit Hlaing lẫn Phó Đề đốc Maung Oo Lwin đều không có thẩm quyền đại diện quốc gia Miến Điện để ký hiệp ước. Trường hợp này khác với vụ kiện Biên giới Lãnh thổ và Lãnh hải giữa Camaroon và Nigeria (2002) khi hai nguyên thủ quốc gia là những người có thẩm quyền ký hiệp ước ràng buộc quốc gia của họ theo đúng điều khoản của văn bản ký kết. Biên bản Đồng thuận cũng không có đăng ký với Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. Điều này cho thấy cả hai quốc gia Bangladesh và Miến Điện không có ý định bị ràng buộc bởi các điều khoản trong Biên bản.

Phán quyết của Tòa là dựa trên Điều 15 của Công ước Vienna, việc quan trọng không phải là hình thức mà là thực chất, bản chất và nội dung của văn bản ký kết. Trong vụ kiện Phân định lãnh hải và Lãnh thổ giữa Qatar và Bahrain (1994), Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng văn bản thỏa thuận quốc tế có thể có nhiều hình thức và có gọi khác nhau và biên bản đồng thuận được hai bên ký kết có thể được xem hoặc có giá trị pháp lý như một hiệp ước. Tuy nhiên, trong trường hợp này thì Tòa phán rằng Biên bản Đồng thuận 1974 không hội đủ điều kiện của một hiệp ước vì Miến Điện đã cho biết rất rõ ràng là họ sẽ không ký kết bất cứ hiệp ước nào cho tới khi hai bên đạt được đồng thuận về mọi khía cạnh liên quan tới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Phân định lãnh hải là một việc nghiêm trọng và vì vậy hiệp ước phân định lãnh hải không thể nào được suy diễn một cách hời hợt. Không chỉ có Trưởng Phái đoàn Miến Điện mà chính Bangladesh cũng không cung cấp bằng chứng chứng minh là Trưởng Phái đoàn của họ có thẩm quyền ký kết hiệp ước.

 

Thỏa thuận ngầm

Bangladesh lý luận rằng cách hành xử của hai bên cho thấy đã có một thỏa thuận ngầm có giá trị pháp lý. Hơn 3 thập niên kể từ khi ký Biên bản Đồng thuận 1974 thì hai bên hành xử theo đúng điều khoản của Biên bản. Cả hai được hưởng toàn quyền quản lý và kiển soát lãnh hải theo sự thỏa thuận và Bangladesh vẫn cho phép tàu thuyền của Miến Điện tự do ra vào chung quanh khu vực đảo St Martin từ và đến sông Naaf.

Ngoài ra, quan chức và ngư dân của hai quốc gia đã sinh hoạt và đánh cá theo lãnh hải đã được đồng thuận. Bangladesh đã nộp bằng chứng qua hình thức của các lời khai hữu thệ của quan chức và ngư dân họ xác nhận là họ đã tuân thủ biên giới lãnh hải dựa trên Biên bản 1974. Các tàu kiểm lâm và tuần duyên của Bangladesh cũng triệt để tuân thủ biên giới lãnh hải như vậy.

Quan điểm của Miến Điện là không có thoả thuận ngầm nào cả. Trong các cuộc đàm phán thì phái đoàn Miến Điện đã nhiều lần nhắc nhở phái đoàn Bangladesh là tàu thuyền của họ đã ra vào chung quanh đảo St Martin từ nhiều năm. Việc yêu cầu tự do hàng hải chỉ là xác nhận lại quyền hạn mà Miến Điện đã hành xử từ năm 1948.

Còn về lời khai hữu thệ của quan chức và ngư dân Bangladesh thì không có trọng lượng và tính khách quan vì chắc chắn là họ sẽ bênh vực cho Bangladesh.

Tòa đã chấp nhận lý luận của Miến Điện và phán rằng muốn chứng minh được thỏa thuận ngầm thì cần có bằng chứng rõ ràng và có nhiều sức thuyết phục (compelling evidence). Lời khai hữu thệ của các viên chức và ngư dân không đáp ứng được điều kiện này được.

 

Estoppel

Bangladesh lập luận rằng công lý đòi hỏi Miến Điện không được quyền đi ngược lại những điều khoản ký kết trong Biên bản Đồng thuận 1974 theo nguyên tắc estoppel. Trong Vụ kiện liên quan tới Chùa Preah Vihear (Cam bốt v Thái Lan 1962), Tòa án Công lý Quốc tế phán rằng Thái Lan không thể phủ nhận biên giới dựa trên bản đồ của Pháp vì Thái Lan đã được hưởng nhiều quyền lợi từ bản đồ này trong hơn 50 năm và bây giờ không thể nói ngược lại và phủ nhận bản đồ này. Tương tự như vậy, Bangladesh lý luận rằng Miến Điện đã hưởng lợi từ Biên bản Đồng thuận trên 30 năm dưới hình thức là Bangladesh cho phép tàu thuyền Miến Điện tự do ra vào khu vực đảo St Martin.

Miến Điện phản bác rằng Bangladesh không đưa ra bằng chứng cụ thể nào cho thấy là họ đã bị thiệt hại hoặc thiệt thòi vì dựa vào cung cách hành xử của Miến Điện. Hơn nữa, cung cách hành xử của Miến Điện không hội đủ các điều kiện rõ ràng, tuyệt đối và nhất quán cần thiết để chứng minh estoppel.

Tòa phán là nguyên tắc estoppel sẽ được áp dụng khi một quốc gia A qua cung cách hành xử đã tạo ấn tượng cho một quốc gia B về một hiện trạng mà họ phải bị thiệt hại hoặc bị thiệt thòi vì đã thật lòng dựa vào cách hành xử đó. Hậu quả là quốc gia A sẽ không được quyền phủ nhận hiện trạng đó. Nhưng trong trường hợp này, Bangladesh không cung cấp đầy đủ bằng chứng cụ thể chứng minh là Miến Điện đã có những cung cách hành xử rõ ràng, tuyệt đối và nhất quán xác nhận rằng họ đã chấp nhận biên giới lãnh hải dựa trên Biên bản 1974. Hơn nữa, Bangladesh cũng không trưng dẫn bằng chứng nào cho thấy là họ chịu thiệt thòi vì đã thực tâm dựa vào cung cách hành xử đó.

 

Kết luận

Từ phán quyết của vụ kiện này thì chúng ta có thể rút ra một vài kết luận như sau:

1. Hiệp ước không dựa vào hình thức mà tùy thuộc vào thực chất và nội dung của văn bản ký kết. Điều quan trọng là quốc gia ký kết có ý định chấp nhận giá trị pháp lý ràng buộc của văn bản đã ký hay không? Nhân vật ký kết có thẩm quyển đại diện và ràng buộc quốc gia hay không? Hiệp ước phân định lãnh thổ và lãnh hải là một sự việc nghiêm trọng không thể suy diễn một cách dễ dàng hoặc hời hợt

2. Thỏa thuận ngầm đòi hỏi bằng chứng rõ ràng, có trọng lượng và có tính khách quan. Bằng chứng của những người trong cuộc hoặc đơn phương thường sẽ không hội đủ tiêu chuẩn.

3. Thuyết estoppel đòi hỏi đương đơn chứng minh là đối phương đã có những cung cách hành xử rõ ràng, dài hạn và nhất quán (clear representation) và đương đơn đã bị thiệt thòi (detriment) vì đã thật lòng (good faith) dựa vào cung cách hành xử đó (reliance). Thuyết estoppel sẽ dễ thuyết phục hơn nếu đối phương được hưởng nhiều quyền lợi vì cung cách hành xử của họ.

Nếu áp dụng những nguyên tắc pháp lý này với những bằng chứng mà Trung Quốc đưa ra thì không có gì chứng minh là Việt Nam đã ký một hiệp ước công nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Trung Quốc có thể lập luận rằng đã có một sự thỏa thuận ngầm nào đó giữa Việt Nam và Trung Quốc. Không rõ là Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm phát biểu trong hoàn cảnh nào? Trong một phiên họp với các viên chức Trung Quốc cao cấp tại Bắc kinh khi xin viện trợ? Lời phát biểu này có được thu âm không? Lời phát biểu có được trích dẫn lạc hướng hay không? Ung Văn Khiêm có thẩm quyền đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhân nhượng chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải hay không?

Có lẽ lập luận mà Trung Quốc theo đuổi sẽ là estoppel. Qua lời phát biểu của Ung Văn Khiêm 1956, Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958 và sách giáo khoa Địa lý xuất bản năm 1974 thì Trung Quốc có thể lý luận rằng Việt Nam đã hành xử rõ ràng và nhất quán trong việc công nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc từ năm 1956. Cho tới năm 1988 thì Việt Nam mới thay đổi lập trường sau hải chiến Trường Sa và nhất là khi Luật Biển ra đời vào năm 2012 thì Việt Nam mới chính thức xác nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Cho dù Trung Quốc có thành công về điềm này thì vẫn phải chứng minh được các yếu tố còn lại (good faith, reliance và detriment).

Nhưng nếu có sự thay đổi chính thể tại Việt Nam thì có thể Trung Quốc sẽ không có cơ sở dựa vào nguyên tắc estoppel trong một vụ kiện tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa trước tòa án quốc tế.

 

N.V.T

Tác giả gửi BVN

Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 02:33

 

 

VIỆT – MỸ “GẦN GŨI HƠN” SAU VỤ GIÀN KHOAN (James Borton, The Washington Times)

Tháng Sáu 29, 2014

 

Việt – Mỹ ‘gần gũi hơn’ sau vụ giàn khoan

James Borton, The Washington Times

 

Đỗ Đăng Khoa chuyển ngữ, CTV Phía Trước

Posted on Jun 28, 2014

http://phiatruoc.info/viet-my-gan-gui-hon-sau-vu-gian-khoan/

 

HÀ NỘI – Việc Trung Quốc quyết định đặt giàn khoan dầu khổng lồ tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông đã giúp định hình lại mối quan hệ giữa hai nước cựu thù – Hoa Kỳ và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

 

Việt Nam đã chuyển hướng sang phía Hoa Kỳ để tìm kiếm sự cần bằng sau khi nước cộng sản láng giềng phương bắc lấn át Hà Nội. Trung Quốc vừa triển khai chiến thuật bành trướng bằng cách đặt một giàn khoan dầu nước sâu có trị giá khoảng 1 tỷ USD trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và đã nhiều lần bắn súng nước cũng như đâm và đánh chìm các tàu của Việt Nam.

 

“Chúng tôi hoan nghênh những nỗ lực và tham gia của các nước và các đối tác, trong đó có Hoa Kỳ, như một đối tác toàn diện của Việt Nam nhằm góp phần giải quyết các vụ tranh chấp lãnh thổ một cách ôn hòa”, Hà Thủy Thông, Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Việt Nam, cho biết.

 

Theo chính sách “trục châu Á” của chính quyền Obama thì phản ứng của Washington từ lâu chỉ nêu lên rằng Hoa Kỳ luôn bảm đảm an ninh ở khu vực này nhưng đến nay vẫn thiếu các hành động cụ thể. Các quan chức từ lâu đã cho biết mục tiêu của trục châu Á là tái tập trung sự chú ý và nguồn lực vào khu vực chứ không phải nhằm thách thức Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng quân sự và nền kinh tế hàng đầu ở châu Á để lấn át các nước láng giềng.

 

Sự xâm lăng của Bắc Kinh ở Biển Đông – trong đó có cả việc Trung Quốc công bố tiếp tục di chuyển giàn khoan dầu thứ hai vào khu vực này – đã giúp Hà Nội và Washington có thêm động lực để định hình lại mối quan hệ vốn đã phát triển đáng kể kể từ khi máy bay trực thăng Hoa Kỳ di tản người Mỹ cuối cùng ra khỏi Sài Gòn 39 năm trước. Vốn đã có mối quan hệ kinh tế khá chặt chẽ, Việt Nam và Hoa Kỳ hiện nay có thể nhìn về một hướng khi nhắc đến các mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực châu Á.

 

“Tôi thật sự lo ngại sâu sắc bởi những căng thẳng đang diễn ra ở Biển Đông, và hành động của Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp đặt ra câu hỏi về sự nghiêm túc đối với các cam kết liên quan đến hòa bình và an ninh trong khu vực”, Thượng nghị sĩ Benjamin L. Cardin thuộc Đảng Dân chủ đại diện tại bang Maryland và thành viên Ủy ban Thượng viện về Quan hệ Đối ngoại nói.

 

Ông Cardin phát biểu như trên vào cuối tháng trước trong cuộc gặp với các quan chức Việt Nam tại Hà Nội.

 

Hoa Kỳ hiện có liên minh với các nước trong khu vực như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Đài Loan, nhưng không có hiệp ước đồng minh với Việt Nam – nơi có hơn 58.000 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng và hàng chục ngàn người khác bị thương trong nỗ lực ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản lây lan ở Đông Nam Á trong cuộc chiến kéo dài gần 10 năm.

 

Kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, Washington và Hà Nội đã mở rộng các mối quan hệ theo cách xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Việc thông qua hiệp định thương mại song phương vào năm 2001 đã giúp thương mại giữa hai nước tăng mạnh từ 1,5 tỷ USD hồi năm 2001 lên hơn 29 tỷ USD trong năm 2013.

 

Việt Nam cũng là một phần trong kế hoạch của Washington đối với tăng trưởng kinh tế lớn ở châu Á. Cùng với chín quốc gia khác, Hoa Kỳ và Việt Nam hiện đang đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership), một thỏa thuận kinh tế nhằm vào mục đích thiết lập các tiêu chuẩn mới để thúc đẩy các mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước châu Á trong thế kỷ 21.

 

Trong khi đó, Việt Nam đã tỏ ý muốn thúc đẩy mối quan hệ chiến lược gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Trong năm qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm Nhà Trắng, trong khi các quan chức khác của Việt Nam đã bày tỏ ý muốn Hoa Kỳ đóng một vai trò tích cực hơn đối với nền an ninh của Việt Nam.

Ngoài ra, Hà Nội đang tiến gần hơn với các ưu tiên trong danh sách của Washington. Hồi tháng trước, Việt Nam tuyên bố sẽ tham gia vào Sáng kiến ​​An ninh Phổ biến Vũ khí (PSI) trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan của các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trước đây Hà Nội đã từng lên tiếng phản đối tham gia vào sáng kiến này do Hoa Kỳ và các đồng minh vận động. Việc này đã mở ra cơ hội để hai bên tiến hành các cuộc giám sát hàng hải chung giữa Washington và Hà Nội.

 

Các nhà phân tích nói thêm rằng các cuộc thảo luận song phương về quốc phòng, chống khủng bố và các sáng kiến ​​thực thi pháp luật sẽ mở ra nhiều cơ hội để hai nước tiến lại gần với nhau.

 

Nhưng để chắc chắn, Washington hy vọng Việt Nam tiếp tục tiến hành cải cách sâu rộng, đặc biệt là trong lĩnh vực nhân quyền.

 

Mặc dù Trung Quốc có những hành động lấn át ở Biển Đông nhưng các đảng viên bảo thủ trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn quan tâm đến những hậu quả tiêu cực có thể đến từ Trung Quốc nếu họ chuyển hướng về Washington.

 

“Rất nhiều lãnh đạo Việt Nam biết rằng Trung Quốc sẽ luôn luôn là một mối họa, ngay cả khi Hoa Kỳ chuyển hướng về khu vực này. Hà Nội không muốn khiêu khích Bắc Kinh thêm nữa”, Phương Nguyễn – nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Washington và Quốc tế cho biết.

 

© 2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info

 

 

“HỮU NGHỊ VIỂN VÔNG” hay CÚC CUNG PHỤC VỤ TỈNH QUẢNG ĐÔNG ? (B.T. – Diễn Đàn)

Tháng Sáu 29, 2014

 

“Hữu nghị viển vông” hay cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông ?     

B.T. (Diễn Đàn)

Cập nhật lần cuối 28/06/2014

http://www.diendan.org/viet-nam/huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong

 

Sau chuyến thăm của Bí thư Quảng Đông, đây là 16 công việc mà các Bộ và tỉnh thành Việt Nam “phải làm”. Công văn của Bộ ngoại giao.

Công văn Bộ ngoại giao VN
gửi các Bộ và UBND tỉnh, thành phố

 

*

 

“Hữu nghị viển vông”
hay
cúc cung phục vụ tỉnh Quảng Đông ?

 

Chúng tôi vừa nhận được, từ ba bạn đọc ở Hà Nội và Sài Gòn, bản chụp công văn số 1832/BNG/ đề ngày 03 tháng 6 năm 2014 của Bộ ngoại giao, do thứ trưởng Hồ Xuân Sơn ký tên, đóng dấu, liên quan đến “danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư tỉnh Quảng Đông Hồ Xuân Hoa“.

http://www.diendan.org/viet-nam/huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong/en-tete.png

 

Công văn nay được gửi cho : một là, “Các Bộ Công Thương ; Kế hoạch và Đầu tư ; Giao thông Vận tải ; Giáo dục và Đào tạo ; Tài chính ; Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ; Khoa học và Công nghệ ; Văn hóa, Thể thao và Du lịch” ; hai là, “Ủy ban nhân dân các tỉnh / thành phố : Hà Nội ; Thành phố Hồ Chí Minh ; Quảng Ninh ; Hải Phòng ; Quảng Nam ; Đà Nẵng“.

 

Đính kèm công văn (1 trang) này là “Danh mục công việc phải làm sau chuyến thăm Việt Nam của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 – 17/4/2014)

http://www.diendan.org/viet-nam/huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong/congvan.png

 

Dưới đây là toàn văn bản công văn : 

Ngày 20/5/2014, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc gửi Bộ Ngoại giao bản Danh mục các công việc cần làm sau chuyến thăm Việt Nam của Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông Hồ Xuân Hoa (13 -17/4/2014).

Để triển khai tốt các chương trình hợp tác giữa các Bộ/ngành, địa phương ta với tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc, Bộ Ngoại giao xin chuyển đến Quý Cơ quan Danh mục này để tham khảo, đưa vào chương trình hợp tác của Quý Cơ quan với tỉnh Quảng Đông.

Bộ Ngoại giao xin trân trọng cảm ơn sự phối hợp của Quý Cơ quan./.”

Kèm theo là danh mục (hai trang) 16 “công việc phải làm” (xem hình kèm theo)

 

Trang 1 : http://www.diendan.org/viet-nam/huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong/danhmuca.jpg

Trang 2 : http://www.diendan.org/viet-nam/huu-nghi-vien-vong-hay-cuc-cung-phuc-vu-tinh-quang-dong/danhmucb.jpg

 

Để có một ý niệm cụ thể về công văn ký tên Hồ Xuân Sơn nhằm thực hiện ý muốn của Hồ Xuân Hoa, bí thư (hay tổng đốc ?) Quảng Đông, chỉ cần chép lại nguyên văn hai “công việc phải làm” số 1 và số 2 :

“1. Thúc đẩy Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm Quảng Đông.

“2. Trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa hai Đảng Trung Việt, triển khai công tác đào tạo cho cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế hoạch trong 05 năm đào tạo 300 cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ; trong đó Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi địa phương 100 cán bộ, 100 cán bộ của các tỉnh thành có quan hệ hợp tác với Quảng Đông nhiều như TP. Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Quảng Ninh, Quảng Nam“.

 

Thiết tưởng mọi bình luận là quá thừa. Câu hỏi duy nhất đáng đặt ra : đây là công văn của “Bộ ngoại giao Việt Nam” hay là của Sở nội vụ tỉnh Quảng Đông ?

 

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 37 other followers