NICK NÓI CHUYỆN VỚI QUỐC HỘI VIỆT NAM (Phiếm của Nguyễn Quang Lập)

Tháng Năm 25, 2013

 

25-5-2013
 
Tất nhiên đây là cuộc nói chuyện tưởng tượng, bọ Lập sáng tác theo sáng kiến của bác sĩ Sao Hồng, he he!
 
*
*
 
Chào tất cả các bạn… à xin lỗi, xin chào quí ông quí bà, những con người quan trọng bậc nhất của xã hội Việt Nam!
 
Vâng, thưa quí vị, hôm qua tôi được các nhà báo cho biết Việt Nam là một trong những đất nước có nhiều người khuyết tật nhất, hơn hai triệu rưởi người có hoàn cảnh như tôi hoặc còn tệ hơn tôi. Ngoài ra các công chức và quan chức như quí vị đang ngồi ở đây cũng đầy khuyết tật. Người có não thì không có tim, người có tim lại không có não, thậm chí có những người tim cũng không và não cũng không. Thật kinh khủng.
 
Số còn lại đó là những người vừa có tim vừa có não, họ rất đông, vâng, rất rất đông nhưng họ đã bị virus Mackeno kiềm chế, biến thành những kẻ không dám nghĩ và không dám làm. Như tôi đã nói với các bạn trẻ tối hôm qua tại sân Mỹ Đình, đây là khuyết tật lớn nhất, kinh khủng nhất và kinh tởm nhất.
 
Thế nhưng thật lạ lùng, triết lý Đừng bao giờ bỏ cuộc đã được quí vị áp dụng triệt để và thành công đến không ngờ. Quí vị kiên quyết không bao giờ bỏ cuộc đối với Bauxitte Tây Nguyên, không bao giờ bỏ cuộc việc đấu thầu vàng, không bao giờ bỏ cuộc Vinaline, Vinashin nói riêng và doanh nghiệp nhà nước nói chung. Mặc dù càng không bỏ cuộc nền kinh tế Việt Nam càng khốn đốn nhưng quí vị vẫn không bỏ cuộc, ý chí của quí vị thật kinh khủng.
 
Nhưng đấy chỉ là chuyện nhỏ, chuyện lớn hơn như là CNXH, nhân loại đã rũ bỏ nó từ lâu quí vị vẫn không bỏ cuộc. Theo đó quí vị kiên quyết không bỏ cuộc điều 4, không bỏ cuộc sở hữu toàn dân về đất đai, không bỏ cuộc quân đội phải trung thành với đảng. Không, không và không. Ôi thật kinh khủng… cho tôi xin ngụm nước để lấy lại bình tĩnh.
 
Bây giờ xin hỏi: Quí vị có nhận thấy tất cả những điều đó là trái qui luật, là đã, đang và sẽ gây hại vô cùng Đất nước và nhân dân của quí vị không? Tôi nghĩ là không. Người không có óc tất nhiên là không thấy, người không có tim có thấy cũng như không. Số còn lại là những kẻ nhiễm Virus Mackeno thì tất cả những điều đó không liên quan đến họ. Tôi đã nói rồi, đây là những kẻ có khuyết tật lớn nhất trong mọi loại khuyết tật, tiếc thay họ là số đông.
 
Vậy tôi đến đây để làm gi? Tôi đến để hô hào mọi người hãy sống bằng triết lý Đừng bao giờ bỏ cuộc, nhưng quí vị đã làm điều đó còn khủng khiếp hơn những gì tôi đã làm. Không riêng gì tôi, tôi thề cả thế giới không ai dám làm như quí vị. Không bao giờ bỏ cuộc tất cả những gì có lợi cho quí vị dù cho vì thế mà đất nước điêu tàn, lạc hậu và nghèo đói… thì xin thề có Chúa, không một ai có lương tri trên thế giới dám làm.
 
Cho nên thật là vô nghĩa khi tôi còn đến đây. Không có lý do gì tôi có mặt ở đây nữa. Ngay ngày mai tôi sẽ hoàn trả một triệu sáu đô la cho mít tơ Vũ để chuồn ngay về nước.
 
Xin chào Việt Nam và hẹn gặp lại. Hy vọng khi tôi quay lại sẽ không còn nhìn thấy ai trong số quí vị ở đây, tại hội trường Quốc hội này sẽ là những người thắng cuộc trong cuộc tranh cử thật sự dân chủ.
 
Hy vọng, hy vọng và hy vọng!… Xin chào, xin chào và xin chào!
 
NQL
 

NGƯỜI TRONG CUỘC LÊN TIẾNG (Nguyễn Thiện Thành / Mặc Lâm – RFA)

Tháng Năm 25, 2013

 

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-05-24
 
Trong vụ án Đinh Nguyên Kha – Nguyễn Phương Uyên có một người bị cáo buộc là lãnh đạo, xúi giục và cung cấp tiền bạc vật tư cho hai bạn trẻ này nhằm thực hiện âm mưu lật đổ chế độ, người ấy là anh Nguyễn Thiện Thành.
Sau một thời gian im lặng hôm nay anh Thành đã dành cho Mặc Lâm cuôc phỏng vấn đặc biệt nhằm làm sáng tỏ các cáo buộc mà tòa Long An đã áp đặt lên Nguyên Kha và Phuơng Uyên.
 
Mặc Lâm: Vừa qua tòa án Long An đã tuyên xử Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên hai bản án rất nặng nề. Chúng tôi chú ý đến bản cáo trạng có nói rõ anh là nguời đã có đóng góp, huấn luyện, cũng như đại diện cho tổ chức “Tuổi trẻ yêu nước” tham gia vào vụ án này. Anh có điều gì chia sẻ với thính giả về các cáo buộc này?
Nguyễn Thiện Thành: Tuổi trẻ yêu nước không phải là một tổ chức chính trị. Tuổi trẻ yêu nước là nơi quy tụ những thành phần sinh viên, ca nhạc sĩ dùng biểu ngữ tờ rơi và lời ca tiếng hát để nói lên suy nghĩ của mình về quyền con người và sự bất công trong xã hội.
Mọi thành viên trong nhóm Tuổi trẻ yêu nước đều không phân biệt chức vụ như các tổ chức chính trị tại hải ngoại và chúng tôi không bị chi phối bởi bất cứ tổ chức chính trị nào tại hải ngoại.
 
Mặc Lâm: Theo cáo trạng thì cơ quan đìêu tra đã cho rằng Tuổi trẻ yêu nước đã gửi tiền cho Nguyên Kha và Phương Uyên để mua sắm vật dụng cũng như in ấn truyền đơn… sự thật ra sao?
Nguyễn Thiện Thành: Tôi khẳng định cá nhân tôi và nhóm Tuổi trẻ yêu nước chưa bao giờ gởi tiền về cho Uyên và Kha cũng như gia đình của các bạn ấy. Khi mới bị bắt lúc nào công an họ cũng dùng gia đình, người thân để uy hiếp mình đọc 1 biên bản nhận tội rất ấu trĩ do họ soạn ra như là nhận tiền nước ngoài, ham laptop điện thoại hay bị thế lực thù địch bên ngoài lôi kéo, dụ dỗ.
Mục đích của họ chỉ là tiếp tục bôi nhọ anh em chúng tôi là vì ham tiền mới chống lại họ, bôi xấu người yêu nước để họ dùng những lời lẽ đó tiếp tục che mắt người dân, đặc biệt là tuổi trẻ ở trong nước.
Lập trường của anh em chúng tôi là không bao giờ chấp nhận một chế độ độc tài, cai trị người dân. Một xã hội đầy rẫy bất công và tham nhũng.
Chúng tôi hiểu được sứ mạng của người thanh niên phải làm gì, để thực hiện ước mơ gớp phần dân chủ hóa Việt Nam, anh em chúng tôi tại quốc nội phải tự học tự làm trong một xã hội bất công để kiếm tiền cho mọi hoạt động của mình.
Chúng tôi hoàn toàn không xin xỏ ai. Hơn ai hết chúng tôi hiểu được chỉ có tự lực mới có được tự chủ
 
Mặc Lâm: Có lẽ yếu tố không kém phần quan trọng mà tòa cáo buộc cho Phương Uyên và Nguyên Kha là lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng cho việc đấu tranh, anh nghĩ sao về việc này?
Nguyễn Thiện Thành: Khi học lịch sử chúng tôi hiểu được màu cờ vàng là màu truyên thống của dân tộc VN trong xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử và lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ có từ thời vua Thành Thái 1890 một triều đại Kháng Pháp, và vua Thành Thái bị lưu đày.
Chúng tôi sử dụng lá cờ gần nhất trong lịch sử VN để nói lên tinh thần dân tộc bất khuất.
Chúng tôi khẳng định, anh em chúng tôi đấu tranh không phải để khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi đấu tranh không phải vì thù hận của thế hệ đi trước, vì chúng tôi không biết chế độ VNCH xấu hay tốt thế nào.
Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong chế độ Cộng Sản, chúng tôi bị tuyên truyền từ nhỏ bởi những câu xảo ngữ xáo rỗng nào là “đảng là cuộc sống của tôi” hay “quang vinh muôn năm” …
Như bao thanh niên khác chúng tôi từng tin đảng, yêu đảng nhưng chính xã hội bất công tham nhũng, quyền con người bị chà đạp đã dạy cho chúng tôi biết công sản là gì.
Chúng tôi đấu tranh chống lại chủ nghĩa ngoại lai cộng sản nêu cao tinh thần dân tộc .
 
Mặc Lâm: Riêng về cáo buôc nặng nề nhất cho rằng Đinh Nguyên Kha đã mua thuốc nổ và chờ thời cơ để hành động. Anh nghĩ sao về cáo buộc nguy hiểm này?
Nguyễn Thiện Thành: Chúng tôi là những sinh viên, văn nghệ sĩ chỉ biết dùng biểu ngữ, truyền đơn, lời ca tiếng hát để nói lên sự bất công xã hội trong một chế độ độc đảng. Chúng tôi khẳng định là không biết gì về vũ khí, bom đạn.
Cá nhân tôi từng dán truyền đơn lên tượng bán thân ông Hồ chí Minh ở Đồng Tháp và họ đã từng vu khống tôi có âm mưu đặt bom tượng Hồ Chí Minh vào năm 2011.
Đây không phải là lần đầu Cộng sản Việt Nam vu khống những người có tinh thần đấu tranh ôn hòa bằng một tội vô cùng khủng khiếp mà là rất nhiều nhà đấu tranh ôn hòa trong và ngoài nước cũng từng bị như vậy.
Họ cáo buộc tôi đã gởi tài liệu hướng dẫn anh em của tôi là Đinh Nguyên Kha tội để chế tạo thuốc nổ, tôi khẳng định là là sai sự thật
 
Mặc Lâm: Anh giải thích 2 ký rưỡi hóa chất mà Đinh Nhật Uy giải thích là thuốc pháo đen sự thật tác dụng phá hoại của nó như thế nào?
Nguyễn Thiện Thành: Về 2,5 kg chất hóa học Kha mua ở chợ Kim Biên Sài gòn thì ai cũng biết chợ Kim Biên là chợ mua bán hóa chất dùng trong công nghiệp công khai. Những hóa chất đó hoàn toàn không thể nào chế tạo được thuốc nổ có sức công phá.
Tôi đã nghe anh Đinh Nhật Uy có trình bày đây là thuốc pháo đen dùng để chế pháo xẹt trong dịp sinh nhật, cưới hỏi.
Mục đích của họ có 2 điều: Tìm kiếm sự đồng thuận với quốc tế về những hành động đàn áp nhân quyền của họ, và ngậm máu phun người, tiếp tục tuyên truyền xảo trá với người dân trong nước chúng tôi là bọn khủng bố.
 
Mặc Lâm: Cuối cùng anh có tin rằng dưới sức ép của dư luận hiện nay phiên phúc thẩm của hai bạn trẻ Phương Uyên và Nguyên Kha sắp tới sẽ có kết quả khá hơn hay không?
Nguyễn Thiện Thành: Cái điều đó tôi không thể nào đoán đựơc. Họ tuyên án nặng như vậy chứng tỏ sự sợ hãi và nhu nhược của họ.
Trước những bạo quyền bất công xã hội, hèn nhát trước ngoại xâm và đàn áp người dân. Họ sợ sự đồng thuận đứng cạnh bên nhau nó lớn lên thì chế độ của họ sẽ lung lay cho nên họ phải sợ hãi qua bản án này.
Cái tội trong điều 88 tuyên truyền chống phá nhà nước mà họ tuyên án cho những người đấu tranh ôn hòa như vậy càng chứng tỏ họ là chế độ quân phiệt, giống như tội khi quân ở một nước quân chủ.
 
Mặc Lâm: Xin cám ơn anh Nguyễn Thiện Thành về những thông tin có liên quan đến vụ án này.
 

CỜ ĐỎ, CỜ VÀNG & HÒA GIẢI (Osin Huy Đức)

Tháng Năm 25, 2013

 

24-05-2013
 
Tháng 8-2001, tôi ghé thăm một phóng viên báo Tuổi Trẻ đang học báo chí ở đại học Fullerton, California. Cô khoe, nhóm sinh viên đến từ Việt Nam vừa đấu tranh thành công để cờ đỏ sao vàng được treo ở trại hè do trường tổ chức.
 
Cuộc tranh giành màu cờ tại Fullerton trở nên kịch tính trong năm 2004 khi nhóm sinh viên gốc Việt tuyên bố không tham dự lễ ra trường nếu cờ đỏ sao vàng được sử dụng theo yêu cầu của các sinh viên đến từ Việt Nam. Trường Fullerton phải chọn giải pháp không treo cờ của nước nào trong lễ tốt nghiệp.
 
Phần lớn người Việt đến Mỹ phải lao động, học tập để vươn lên, họ không có nhiều thời gian để “care” (quan tâm) đến chính trị Việt Nam. Tháng 7-1995, khi Hà Nội và Washington thiết lập bang giao, cờ đỏ sao vàng chính thức được kéo lên trên đất Mỹ. Thật dễ hiểu khi những người Việt vượt biển trên những chiếc thuyền con, những người Việt đã nằm 15 năm, 17 năm trong các trại cải tạo, từ chối đứng dưới cờ đỏ sao vàng.
 
Nhưng phản ứng chỉ bắt đầu quyết liệt vào năm năm 1999, khi một người đàn ông sống tại Little Sai Gon, tên là Trần Văn Trường, cho treo trước cửa tiệm ảnh Hồ Chí Minh cùng cờ đỏ sao vàng. Cộng đồng người Việt đã biểu tình liên tục trong suốt 53 ngày để phản đối. Từ California,”chiến dịch Cờ Vàng” bắt đầu, dẫn đến việc 14 tiểu bang, gần 100 thành phố công nhận cờ vàng ba sọc đỏ như một biểu tượng của cộng đồng gốc Việt.
 
Cờ vàng không chỉ xuất hiện ở Mỹ.
 
Từ giữa thập niên 1990, nhiều nhà lãnh đạo của Hà Nội phản ứng gay gắt khi trong các chuyến công du thấy “quần chúng đón rước” không dùng cờ đỏ sao vàng mà chỉ dùng cờ vàng ba sọc đỏ. Không phải quan chức Việt Nam nào cũng hiểu chính quyền sở tại không (dại gì) đứng sau những nhóm quần chúng tự phát đó. Cho tới năm 2004, các nhà ngoại giao Việt Nam ở Mỹ vẫn mất rất nhiều công sức để ngăn chặn chính quyền các tiểu bang công nhận cờ vàng.
 
Việc chính quyền tiểu bang công nhận cờ vàng chỉ là một động thái đối nội. Nhà nước Việt Nam Cộng hòa rõ ràng không còn tồn tại, chính quyền Mỹ bang giao với nhà nước CHXHCN Việt Nam và công nhận cờ đỏ sao vàng. Nhưng, chính quyền Mỹ không thể ngăn cản cộng đồng người Mỹ gốc Việt chọn cho mình biểu tượng.
 
Một quan chức Việt Nam và thậm chí một thường dân đang cầm hộ chiếu nước CHXHCN Việt Nam, trong một nghi lễ chính thức, có quyền chỉ đứng dưới cờ đỏ sao vàng. Nhưng, một quan chức đi làm “kiều vận” mà không dám bước vào một ngôi nhà có treo cờ vàng thì sẽ không thể nào bước vào cộng đồng người Việt. Tất nhiên, bất cứ thành công nào cũng cần nỗ lực từ nhiều phía.
 
Năm 2006, tôi gặp lại cô bạn phóng viên Tuổi Trẻ từng học ở Fullerton. Nhà cô vào giờ đó thay vì treo cờ đỏ sao vàng, góc nào cũng tràn ngập cờ vàng ba sọc đỏ. Tôi chưa kịp tìm hiểu đó là sự lựa chọn mới của cô hay đó là cách để có thể hòa nhập vào “cộng đồng”.
 
Năm 2008, “cộng đồng người Việt Cali” đã biểu tình kéo dài khi người phụ trách tòa soạn tờ Người Việt, Vũ Quý Hạo Nhiên, cho in tấm hình chụp một cái bồn ngâm chân có in biểu tượng cờ vàng. Hạo Nhiên, thêm sự cố 2012, đã phải ra đi và biết chắc khó lòng quay trở lại. Biểu tình năm 1999, cho dù là “ôn hòa”, cũng đã khiến cho Trần Văn Trường phải chạy về Việt Nam.
 
Cờ đỏ sao vàng khó có thể xuất hiện ở California cho dù ở đó có xuất hiện một cộng đồng người Việt đến từ miền Bắc.
 
Nếu như nhiều người dân miền Nam trước đây tin cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng của tự do thì đối với phần lớn người dân miền Bắc và thế hệ trẻ hiện nay ở miền Nam, cờ đỏ sao vàng không hẳn là biểu tượng của chế độ mà là biểu tượng quốc gia. Nhiều người đã đứng dưới lá cờ ấy để đấu tranh cho điều mà họ tin là độc lập, tự do; nhiều người đã theo lá cờ ấy mà không phải là cộng sản.
 
Nhiều người dân trong nước vẫn dùng cờ đỏ khi bày tỏ lòng yêu nước.
 
Tất nhiên cũng cần phân biệt hành động của một số kẻ cực đoan (chống lại cờ đỏ sao vàng) với hành vi của những quan chức chính quyền. Ngăn cản những du học sinh đến từ Việt Nam sử dụng cờ đỏ sao vàng cũng là một việc làm phi dân chủ. Những người hiểu được các giá trị của tự do không thể ngăn cản người khác đứng dưới một lá cờ mà mình không thích.
 
Nhiều người Mỹ vẫn treo cờ miền Nam cho tới ngày nay cho dù nội chiến Bắc – Nam đã kết thúc từ năm 1865. Thật khó để nghĩ tới tình huống người dân miền Nam Việt Nam được phép treo cờ vàng sau ngày 30-4-1975. Cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm không chỉ thống nhất non sông mà còn để áp đặt ý thức hệ cộng sản lên người dân Việt. Một thời, phải “yêu chủ nghĩa xã hội” mới được Đảng công nhận là yêu nước. Ngay lá cờ nửa đỏ nửa xanh của “mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam” một tổ chức do Đảng cộng sản lập ra cũng đã biến mất chỉ sau mấy tháng.
 
Nhiều người Việt Nam nghĩ, làm biến mất lá cờ vàng ba sọc đỏ là khôn ngoan. Nhiều người cho rằng lá cờ đó thuộc về một chính thể không còn tồn tại và là biểu tượng của một sự thất bại. Nhiều người được dạy, lá cờ đó gắn liền với những xấu xa như là “Việt gian, bán nước”.
 
Cuối năm 2012, sinh viên Phương Uyên và Nguyên Kha bị bắt khi rải truyền đơn ở Long An có kèm theo biểu tượng cờ vàng.
 
Chúng ta không có đủ thông tin để khẳng định Phương Uyên và Nguyên Kha chủ động chọn lá cờ này hay được hướng dẫn “bởi các thế lực bên ngoài”. Cho dù lá cờ ấy đến từ bên nào cũng cho thấy cờ vàng đã không biến mất như nhiều người mong muốn. Cho dù không ai biết được lá cờ nào sẽ được chọn trong tương lai, sự trở lại của cờ vàng buộc chúng ta phải thừa nhận, trong nội bộ người Việt với nhau còn bao gồm cả người Việt Nam quốc gia và người Việt Nam cộng sản.
 
Và, trong không gian nước Việt cũng không chỉ có người Việt.
 
Chín mươi triệu người dân Việt Nam rõ ràng không phải là “con một cha, nhà một nóc”. Khi “mở cõi” xuống phía Nam, các bậc tiền bối đã từng mang cuốc nhưng cũng đã từng mang gươm.
 
Người dân thuộc các dân tộc Tây Nguyên và những bộ tộc Chăm chưa hẳn không còn nghĩ tới đế chế Champa. Những chính khách đối lập ở Campuchia vẫn thường khai thác chủ nghĩa dân tộc cực đoan khi nhắc Sài Gòn và một số tỉnh miền Tây một thời là đất đai của họ…
 
Sự khác biệt đó trong cộng đồng Việt Nam có thể là những mối đe dọa, đồng thời, cũng là nền móng để xây xựng một Việt Nam thống nhất mà đa dạng. Một quốc gia sẽ trở nên vững mạnh khi sự đa dạng được thừa nhận. Một quốc gia cũng có thể rơi vào sự hỗn loạn hoặc không thể phát triển nếu sự thống nhất bị phá vỡ.
 
Nhưng, thống nhất quốc gia mà không dựa trên nền tảng hòa giải quốc gia thì sự thống nhất đó chỉ là tạm thời. Thống nhất quốc gia mà bằng cách ém nhẹm lịch sử và dùng vũ lực để dập tắt sự trỗi dậy của những sự khác biệt thì chẳng khác nào gài vào thế hệ tương lai một trái bom.
 
Nam Tư thời Tito được coi là thịnh trị, các cuộc nổi dậy đều bị dập tắt. Nhưng, ngay những ngày đầu thời hậu Tito, nước Nam Tư bắt đầu rơi vào một thập niên xung đột. Các sắc tộc chém giết lẫn nhau, cơ cấu liên bang sụp đổ. Không chỉ có Nam Tư, Indonesia hồi thập niên 1990 và Myanmar hiện nay cũng đang diễn ra những điều tương tự.
 
Đừng sợ những người Khmer ở miền Tây sẽ đòi mang đất về Campuchia trừ khi Việt Nam kém phát triển và ít tự do, dân chủ, hơn quá nhiều so với Campuchia. Không có người dân Arizona nào không biết đất ấy từng thuộc về Mexico nhưng không ai đòi đưa Arizona trả về cho “đất mẹ”. Ranh giới quốc gia càng ngày càng trở nên mong manh. Ở đâu có cơm no áo ấm hơn, ở đâu có tự do hơn, thì người dân sẽ chọn.
 
Sự khác biệt và đa dạng lúc nào cũng có thể bị kích động bởi các thế lực cực đoan. Không phải độc tài, toàn trị mà theo kinh nghiệm của những quốc gia thành công, càng nhiều tự do thì càng tránh cho sự khác biệt đó trở thành xung đột.
 
Tiến trình tự do cũng phải mất thời gian để thuyết phục không chỉ với những người đang cầm quyền mà cả những người dân bình thường và những thành viên trên facebook này. Trong ngày 30-4, có thể nhiều người không muốn treo cờ đỏ sao vàng (khi bị tổ dân phố yêu cầu) nhưng chính họ, chưa chắc đã hài lòng khi nhà hàng xóm treo cờ vàng ba sọc đỏ. Vấn đề là chính quyền phải làm sao để mọi phản ứng đều phải ở dưới hình thức ôn hòa.
 
Câu chuyện đốt cờ Mỹ sau đây có thể giúp ta có thêm thời gian suy nghĩ.
 
Nhiều thập niên sau nội chiến (1861-1865) nhiều người Mỹ lo ngại giá trị quốc kỳ bị giảm khi nó được các thương gia dùng để vẽ logo và đặc biệt khi nhiều người da trắng ở miền Nam thích treo cờ miền Nam (Confederate flag) hơn. Để phản ứng lại điều này, 48 tiểu bang của Hoa Kỳ đã thông qua luật cấm mạo phạm quốc kỳ, các hành động như xé, đốt, dùng cờ để quảng cáo… đều bị cấm.
 
Năm1905, Halter đã bị tòa tiểu bang buộc tội “khi kỳ” khi bán những chai bia có in cờ Mỹ. Năm 1907, Halter tiếp tục thua kiện ở Tối cao pháp viện.
 
Cho tới năm 1968, Quốc hội Mỹ vẫn thông qua luật cấm “đụng chạm” tới quốc kỳ sau khi một nhóm người Mỹ chống chiến tranh Việt Nam đốt cờ ở Central Park. Nhưng một năm sau đó, khi nghe tin cảnh sát bắn James Meredith, một nhà hoạt động dân quyền, Sydney Street đã đốt một lá cờ Mỹ ở một ngã tư của New York. Ông bị bắt và bị buộc tội “khi kỳ”.
 
Sydney Street kháng án vì cho rằng: “Nếu cảnh sát làm điều đó với Maredith chúng ta không cần lá cờ Mỹ”. Tối cao pháp viện đã bác án của tòa New York vì, Hiến pháp bảo vệ quyền bày tỏ chính kiến khác nhau, bao gồm cả quyền thách thức hay khinh thường quốc kỳ.
 
Cuộc đấu tranh đã không dừng lại.
 
Năm 1972, một học sinh ở Massachusetts, Goquen, bị bắt, bị xử 6 tháng tù khi may một cờ Mỹ ở đít quần. Nội vụ được chuyển lên Tối cao pháp viện. Tối cao pháp viện tuyên bố luật tiểu bang (dùng để xử Goquen) là vi hiến. Các vị thẩm phán Tối cao cho rằng, trong một quốc gia đa văn hóa, có những hành động mà người này cho là “khinh ” thì người kia lại cho là trân trọng, cho nên, chính phủ không có quyền bảo người dân phải bày tỏ thái độ, ý kiến theo cách nào.
 
Năm 1984, để phản đối các chính sách của Tổng thống Reagan, Lee Johnson đã nhúng dầu và đốt một lá cờ trước cửa cung đại hội của đảng Cộng hòa. Ông bị bắt, bị xử tù 1 năm và phải nộp phạt 2000 dollars. Tòa tối cao tiểu bang Texas bảo vệ Johnson và cho rằng tòa án cấp dưới sai khi coi hành vi “gây xáo trộn xã hội” của Johnson là “tội”. Theo Tòa tối cao Texas: Tạo ra sự bất ổn, tạo ra sự xáo trộn, thậm chí tạo ra sự giận dữ của người dân là cần thiết, vì chỉ khi đó chính phủ mới biết rõ nhất chính kiến người dân.
 
Vụ việc dẫn tới, năm1989, Tối cao pháp viện Mỹ quyết định bãi bỏ các luật cấm đốt cờ ở 48 tiểu bang. Các quan tòa đưa ra phán quyết này giải thích rằng, nếu tự do bày tỏ chính kiến là có thật nó phải bao gồm cả tự do bày tỏ những ý kiến mà người khác không đồng ý, hoặc làm người khác khó chịu. Ngay cả thái độ với quốc kỳ, chính phủ cũng không có quyền bắt người dân chỉ được gửi đi những thông điệp ôn hòa và không làm cho ai khó chịu. Cuộc tranh cãi kéo dài tới nhiều năm sau, Quốc hội Mỹ có thêm 7 lần dự thảo tu chính án để chống lại phán quyết này nhưng đều thất bại.
 
Việc để cho người dân treo lá cờ cũ của phe bại trận miền Nam, việc để cho người dân quyền được bày tỏ thái độ, kể cả bằng cách đốt cờ, đã không làm cho giá trị quốc kỳ của Hoa Kỳ giảm xuống.
 
Những điều trên đây rõ ràng chưa thể xảy ra ở Việt Nam. Nhưng chúng ta cũng không nên coi đấy là độc quyền của Mỹ. Người dân Việt Nam cũng xứng đáng được hưởng hạnh phúc. Người dân Việt Nam, dù là Việt hay H’mong, dù là Khmer hay Chăm… cũng xứng đáng được gìn giữ và phát triển sự khác biệt của mình. Người Việt Nam, dù là cộng sản hay quốc gia, cũng xứng đáng có quyền bày tỏ những gì mà mình tin tưởng.
 
Không thể có tự do trong một chế độc tài toàn trị. Nhưng, tự do cũng không thể có nếu như mỗi người dân không tự nhận ra đó là quyền của mình. Bạn không thể hành động như một người tự do nếu không bắt đầu bằng tự do trong chính tư duy của bạn.
 
 

CHÂU XUÂN NGUYỄN : TIN & BÀI NGÀY 25-5-2013

Tháng Năm 25, 2013

 

Posted by chauxuannguyen   on  May 25, 2013
*
*
Bài viết mới
 
 
————————————————-
 
 
Published on May 25, 2013
 
1. Bản tin hàng ngày được đăng vào lúc 8h sáng
2. Những tin tức nổi bật sẽ được post trực tiếp lên website thường xuyên trong ngày
3. Tin Nổi Bật Trong ngày

Xem tin nguồn: http://ttxva.org/diem-tin-thu-ba-25-5-2013/#ixzz2UJifzGUk
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 25-5-2013

Tháng Năm 25, 2013

 

 
BÀI VIẾT MỚI
 
Tin thứ Bảy, 25-5-2013
 
CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT
 
- Đường lưỡi bò của Trung Quốc “giết chết” Luật quốc tế (VnM). – Lương tri (SK&ĐS). “Họ đi ngược với quan điểm của Chính phủ họ khi tưởng tượng ra “đường lưỡi bò” định liếm hết biển Đông thuộc chủ quyền của các nước trong khu vực nhưng thuận với sự thật, với lương tri nhân loại. Họ không vinh thân cầu lợi để hùa theo điều sai trái bằng những trí trá trong khoa học”.
- RSF: Cáo buộc của VN về các nhà hoạt động Công giáo hoàn toàn ‘xảo trá’ (VOA). – Phóng viên Không biên giới đòi trả tự do cho các blogger Công giáo Việt Nam (RFI). “… bản án được tuyên lần này vẫn không thể chấp nhận được, phản ánh sự ngoan cố của chính quyền nhằm buộc những tiếng nói ly khai phải im lặng. Những lời buộc tội hoàn toàn là dối trá. Không có ai trong số các blogger trên từng hoạt động lật đổ chế độ”. – Phỏng vấn LS Hà Huy Sơn: Có nên nhận tội để giảm án? (BBC).
- Cựu chiến binh QĐND Việt Nam: Nguyễn Thành Công – Nguyễn Phương Uyên phất cờ cứu nước (Dân Luận). “… chúng tôi ủng hộ lớp trẻ Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha dũng cảm phất cao cờ vàng ba sọc đỏ, đồng thời ủng hộ các nhóm dân oan phất cao cờ đỏ sao vàng. Có thể đã đến lúc, các bạn ở hải ngoại hãy phát động phong trào ủng hộ các bạn Uyên, Kha bằng những cuộc biểu tình rầm rộ, trong đó đồng thời phất cao cả hai lá cờ: Cờ vàng ba sọc đỏ và cờ đỏ sao vàng, thể hiện tinh thần đoàn kết toàn dân đòi hỏi dân chủ hóa đất nước“. – Cộng đồng Người Việt Úc châu phản đối bản án dành cho Nguyên Kha – Phương Uyên (Chuacuuthe).
- Danh sách ký Lời kêu gọi trả tự do cho Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha (từ đợt 1 đến đợt 2) (Boxitvn). Bộ phận biên tập danh sách đã phải sàng lọc rất vất vả do những trùng lắp, thừa thiếu thông tin, v.v.. và những kẻ xấu vào chọc phá, danh sách mới chính thức là 2.259 người ký tên.
- Đêm Thắp Nến Vinh Danh Hào Khí Tuổi Trẻ Việt Nam Đinh Nguyên Kha – Nguyễn Phương Uyên Và Cầu Nguyện Cho Các Tù Nhân Lương Tâm (TNCV). – Phỏng vấn anh Nguyễn Thiện Thành: Người trong cuộc lên tiếng (RFA). “Chúng tôi khẳng định, anh em chúng tôi đấu tranh không phải để khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi đấu tranh không phải vì thù hận của thế hệ đi trước, vì chúng tôi không biết chế độ VNCH xấu hay tốt thế nào... Như bao thanh niên khác chúng tôi từng tin đảng, yêu đảng nhưng chính xã hội bất công tham nhũng, quyền con người bị chà đạp đã dạy cho chúng tôi biết công sản là gì”. Nguyễn Phương Uyên và Nguyễn Đình Kha tại phiên tòa sơ thẩm Tòa Án Long An hôm 16/5/2013 =>
Ba Sàm: Bữa trước nhân bài viết của blogger Jonathan London, tôi đã hẹn sẽ bình luận vấn đề này. Nay bài của Huy Đức đã phân tích rất nhiều, nên chỉ xin có vài lời:
Hầu như tất cả, chủ yếu những nguyên nhân xung đột, mà lẽ ra không đáng có, quanh chuyện cờ đỏ, cờ vàng là xuất phát từ giới cầm quyền cộng sản Việt Nam trong suốt gần nửa thế kỷ qua, gọi ngắn gọn là “những kẻ đầu têu”. Bởi chính họ đã thể hiện một thái độ cực đoan, xuyên suốt muốn “đồng hóa”, “đồng phục” cho tư tưởng chính trị của toàn dân VN, bằng bất cứ biện pháp nào, bất chấp những hậu quả to lớn về văn hóa, tinh thần, và cuộc sống bình yên của dân chúng.
Những năm sau hòa bình ở miền Bắc, đất nước chia hai, ta từng có Khu tự trị Tây Bắc, Việt Bắc. Thế nhưng, có lẽ người ta đã quá lo sợ người dân các dân tộc thiểu số “nổi loạn”, đòi các quyền tự trị lớn hơn, nên đã xóa bỏ. Hậu quả của quyết định đó là không thể tính hết, cũng như trò “đồng hóa” tư tưởng chính trị qua lá cờ, đã gây chia rẽ Dân tộc, mất đi những nguồn lực quý báu, v.v.. cũng là không thể tính hết.
“Lợi bất cập hại”, khi thái độ chính trị hóa đó của những kẻ nắm trong tay quyền lực đã tới mức quá độ, trong khi kẻ “ép duyên”, “ép yêu” kia lại ngày càng tỏ ra … không đáng yêu chút nào nữa, thì sẽ ngày càng nhiều người, kể cả những người dân miền Bắc, người cộng sản, không còn coi trọng lá cờ đỏ sao vàng như trước. Họ đang suy nghĩ về một lá cờ khác, chung cho cả Dân tộc Việt Nam!
- Nhân quyền ảnh hưởng đến quan hệ Việt Nam, Hoa Kỳ (VOA). “Ông Baer nói nếu không có tiến bộ về nhân quyền thì Việt Nam sẽ vấp phải những hạn chế ở mức phát triển mà Việt Nam có thể đạt được cũng như mức phát triển trong quan hệ hai nước”.
<- Nguyễn Thị Hường: Đảng chưa ra khỏi cái bóng của mình’ (BBC/ BS). “Làm ngơ trước những đòi hỏi về Hiến pháp đồng nghĩa với việc làm ngơ trước những đòi hỏi ôn hòa về chính trị. Mà ý dân là nền tảng của quyền lực chính trị của một chế độ”.
- Góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992: Không thể xóa bỏ điều 4 (Lâm Đồng/ BS). – Không thể lấy kỷ luật Đảng thay thế xử lý bằng pháp luật (VnM).
- Lại đánh bóng uy tín đua vào ghế Tổng Bí thư? (RFA). – Bỏ phiếu cùng quốc hội (Trương Duy Nhất). Kết quả lúc 6h50′, khi BTV điểm tin này, đã có 181 phiếu bỏ cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó 111 phiếu “không tín nhiệm” (chiếm 66%), 60 phiếu “tín nhiệm thấp” (33%), 6 phiếu “tín nhiệm cao” (3%) và 4 phiếu “tín nhiệm” (3%). Nhưng kết quả chung cuộc sau mà QH bỏ phiếu cho thủ tướng, mọi người có thể đoán được là: thủ tướng NTD được tín nhiệm 100%.
- “Vì sao chúng ta lại cần một chính phủ?” (Phan Hải). – Việt Nam có tân bộ trưởng tài chính (BBC). – Tân Bộ trưởng Tài chính: Không kiềm chế chi, sẽ vỡ “túi tiền quốc gia” (VnEco). – Tân Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiên Dũng: Tránh các cú sốc giá không để ảnh hưởng người dân (LĐ). – Lao vào nắm thu chi ngân sách (NLĐ). -Tân Bộ trưởng Tài chính: Cứ dốc lòng với công việc (VNN). – Thách thức nào đang chờ tân Bộ trưởng Bộ Tài chính? (DV). “có lẽ thách thức liên quan nhiều đến đời sống nhân dân và dễ nhận thấy nhất là những vấn đề liên quan đến việc điều hành giá xăng dầu mà trước đó, người tiền nhiệm của ông Dũng vẫn chưa giải quyết rốt ráo”. – Chuyên gia nói về những thách thức đang chờ tân Bộ trưởng Bộ Tài chính (DV). – Đôi nét về tân Bộ trưởng Tài chính và Tổng Kiểm toán (VOV). – Nhật ký nghị trường: 117 và 118 (VnEco). ”Cũng hơi tiếc rằng cả hai vị tân Bộ trưởng và Tổng kiểm toán chưa có lời phát biểu nào trước Quốc hội để các vị đại diện cho dân có thể cảm nhận và hy vọng rõ ràng hơn về năng lực của những người được giao trọng trách mới”.
- Bài đã điểm trưa qua nhưng đáng điểm lại, GS Nguyễn Minh Thuyết: Quốc hội và yêu cầu công khai, minh bạch (TT). “Thông tin báo chí hôm nay sẽ không được dự các phiên Quốc hội thảo luận, bỏ phiếu không khỏi khiến nhiều người băn khoăn.”
- Hộ khẩu còn tồn tại đến bao giờ? (VNN). “Dân làm thủ tục gì cũng phải có hộ khẩu, tự dưng hộ khẩu thành giấy phép”. – Dựa vào hộ khẩu là lạc hậu (NLĐ). – “Nhiều quy định trong Luật Cư trú còn rất khôi hài” (Infonet).
- Lên chương trình làm luật nên như… thi hoa hậu (VNN). “Từ năm 1992 đến nay không ra được luật Biểu tình. Ngành Công an cũng mong có luật để trả nợ nhân dân đồng thời giúp cho quản lý nhà nước. Cách quản lý, triển khai vấn đề biểu tình với công cụ hiện nay là nghị định 38 đã lỗi thời và không phù hợp, dễ đánh đồng việc biểu tình với việc tụ tập gây rối mất trật tự trị an xã hội”.
- Đề nghị vận động Hội Luật gia cùng soạn thảo luật Biểu tình (TN). “Tại phiên thảo luận tổ chiều nay 24.5, đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) đã đưa ra sáng kiến lập pháp là vận động các thành viên Hội luật gia VN chấp bút dự thảo luật Biểu tình cho kịp với tiến độ.Đại biểu Trương Trọng Nghĩa xung phong vận động các luật gia soạn thảo luật Biểu tình =>
Thật may cho dân có được một hai ông nghị hiếm hoi như ông này. Bữa qua, ổng còn phê phán vụ “hộ khẩu”, thứ mà ông cho biết trên thế giới chỉ còn có 3 thằng là VN, Trung Cộng và Bắc Triều Tiên. Cách đây mấy năm, chút xíu bỏ được thứ gông cùm man rợ này, thế nhưng những kẻ muốn ôm khư khư quyền lợi về mình và lực lượng của mình vẫn nhất quyết giữ, làm cho dân tiếp tục chịu muôn vàn khổ cực, thêm cơ hội cho những kẻ tham nhũng lợi dụng.
- Báo động đỏ về suy giảm kinh tế (RFA). “Mức sống, mức kinh tế tôi thấy rất là suy sụp, chẳng hạn như hồi xưa thí dụ 2 vợ chồng 2 đứa con một ngày đi chợ 50.000đ bây giờ giảm chỉ còn 30.000đ coi như giảm 30%-40%. Cuộc sống coi như cố gắng lắm, mới bảo đảm được cái dinh dưỡng”. – Tầm vi mô : rất trân trọng, nhưng tầm vĩ mô : hài vãi ! (DĐCN).
- Phạm Chí Dũng: Lời hứa của các bộ trưởng? (BBC). Thứ trưởng Bộ lao động – thương binh và xã hội Nguyễn Thanh Hòa: “Theo các chuyên gia kinh tế thì lạm phát cũng như suy thoái kinh tế không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người nghèo”. – MỌI VẤN ĐỀ LÀ Ở CHỖ ĐÓ ! (Bùi Văn Bồng). “Vấn đề là: Họ làm lãnh đạo, họ có ghế cao không phải để lo cho nước, chăm đắp cho dân. Vấn đề là: Họ khoác áo đảng cộng sản để ‘quyết liệt phấn đấu’ thành tư sản. Vấn đề là: Các nơ-ron thần kinh trong bộ não, mọi nhiệt tình, tâm huyết của họ tranh thủ nhiệm kỳ, tranh thủ thời cơ làm giàu cho nhanh“.
- Thầy giáo “đứng đường” (Đào Tuấn). “Không sống được bằng đồng lương chết đói. Không kiếm được tiền bằng chính nghề nghiệp của mình. Vậy thì các thầy cô giáo sẽ phải sống thế nào và bằng cách gì đây?!” Thầy cô giáo khi cùng đường phải làm cái nghề này, mặc dù chẳng “thanh tao, cao quý” gì, nhưng vẫn còn cao quý hơn nhiều so với những kẻ tham nhũng, đục khoét, ăn cắp của dân, bởi các thầy cô không ăn cắp của ai, không lén móc túi ai, mà kiếm tiền bằng sức lao động của họ. Những thầy cô giáo này đáng được nể trọng hơn nhiều so với những tên quan lớn, dù có nhiều tiền nhưng vẫn đục khoét dân, đã ăn cắp lại còn mang bộ mặt trơn bóng, chai lỳ đi rao giảng đạo đức, không biết liêm sĩ là gì, lại đi dạy người khác liêm sĩ! – Đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, giáo viên bán dâm để cải thiện cuộc sống (Đông A).
- Minh Diện: SỔ HƯU ĐỂ LẠI (Bùi Văn Bồng).
- Nhà văn Nhật Tiến: NHÀ GIÁO một thời nhếch nhác (KỲ 36) (Nhật Tuấn).
- Nick Vujicic và những khuyết tật tâm hồn Việt (Trương Duy Nhất). “‘Nick Vujicic sẽ ra sao nếu sinh ra tại Việt Nam?’ Câu hỏi trên không phải là nội dung của bài viết này, ở đây tôi muốn đặt ra câu hỏi đó để độc giả suy ngẫm về sự kiện Nick Vujicic và những câu chuyện liên quan. Vì một thực tế đơn giản, câu hỏi đó ai cũng có riêng cho mình một câu trả lời, và hầu hết đó đều là những câu trả lời giống nhau“.
- NHỮNG CƠN GIÓ BỎNG RÁT ĐẦU HÈ (Thùy Linh). “Sự tuyệt vọng lúc này không chỉ của riêng những người khuyết tật, mà là của chung người dân Việt, vì như nhiều người nói, dân Việt đang bị rất nhiều những khuyết tật về tâm hồn. Một Việt Nam bệnh tật. Một chính quyền bệnh hoạn. Còn kinh khủng hơn sự khuyết tật về thể xác nhiều, Nick à“. – Chúng tôi mới khuyết tật, Nick ơi! (SGTT).
- Nick Vujicic, cô gái Việt và bà Doan (Trương Duy Nhất). – Cái ô của bà Đoan và anh Nick (Hiệu Minh). “Nick nói chuyện dưới trời mưa tầm tã. Có người muốn che ô nhưng anh cương quyết gạt đi mà cứ thế diễn thuyết, nước mưa phả vào mặt. Bà Phó Đoan ra tặng Nick bức ảnh HCM có hai vệ sỹ che ô. Bà Đoan chưa được học về lễ ngoại giao tối thiểu“. – BÀ DOAN NGHE NICK NÓI (Bùi Văn Bồng). “Ngồi nghe Nick diễn thuyết/ Bà Doan tự thấy mình hơn hẳn Nick/ Có đủ tay chân/ Có quyền cao chức trọng/ Có tất cả những gì mình muốn/ Chắc bà gật đầu:/ Nơi ‘dân chủ gấp vạn lần’ người ta,/ Nick mới được nói/ Và xem Nick có là thế lực thù địch?“.
- Bùi Chí Vinh – Sinh nghi hành (FB BCV/ Dân Luận).
- Shinzo Abe thăm Miến Điện, bàn kinh tế (BBC). – Nhật Bản hỗ trợ Miến Điện để chống Trung Quốc (RFI). “Trong vùng Đông Nam Á, đặc biệt là tại Miến Điện, Việt Nam, Indonesia, Philippines và Thái Lan, Tokyo mở cuộc chiến tranh không tiếng súng để cân bằng ảnh hưởng của Bắc Kinh”. – Phong Trào 969 : Cơn ác mộng ! (Thông Luận).
8h40′:
13h45′:
- ĐÃ ĐẾN LÚC PHẢI ĐỔI TÊN ĐẢNG CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM CHƯA? (Hồ Hải). Thiết nghĩ, cái tên không quan trọng, mà quan trọng là mục đích, tôn chỉ, đường lối lãnh đạo… của cái đảng đó. Có lẽ không cần đổi tên (cái vỏ), chỉ cần thay đổi bản chất (cái ruột) của đảng đó. Tên gì cũng được, đảng cướp, đảng bóc, đảng du… không thành vấn đề, vấn đề quan trọng là đảng đó có phục vụ cho dân hay không, đảng đó có tuân theo pháp luật hay đứng ngoài vòng pháp luật, đảng đó đưa đất nước đi lên, sánh vai với các nước văn minh trên thế giới, hay là tiếp tục đưa cả nước “đi lên CNXH”, tiếp tục cho dân ăn bánh vẽ?! – Kẻ nào mới chính là “phản động” và “thế lực thù địch” của nhân dân ta hiện nay? (DĐCN).
19h35′:
- VTV-Thời sự 19h tối nay, bọn TKV tiếp tục to mồm lòe bịp dư luận về vụ Bô-xít Tân Rai, bằng đủ mọi thông tin khó ai kiểm chứng được, rằng dự án chỉ bị tăng thời gian hoàn vốn thêm 3 năm thôi. Rõ ràng đây là màn trấn án trước những phiên chất vấn tại Quốc hội. “Đâm lao” biết sai lầm nghiêm trọng rồi nhưng vẫn phải “theo lao”, đẩy trách nhiệm, thiệt hại cho lớp đàn em và hậu thế chịu.
 
KINH TẾ
 
- Đà Nẵng phủ sóng wi-fi toàn thành phố (BBC). “Việc lắp đặt hệ thống wi-fi trong thành phố sẽ hoàn tất vào ngày 30/6 tới và đầu tháng 9 sẽ chính thức hoạt động”.
- Tổng Cty cổ phần Tài chính Dầu khí PVFC và Ngân hàng Phương Tây –WesternBank: “Hôn nhân” có trải hoa hồng? (DĐDN).
8h40′:
- Lối thoát nào cho nền kinh tế – Bài 2: Kích cầu để giải nợ xấu (TP).
13h45′:
19h35′:
- Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh: Xem xét nới trần nợ công (TN).
 
VĂN HÓA-THỂ THAO
 
- Đoàn Thanh Liêm: Cái duyên gặp gỡ dọc đường (ĐCV).
- Thơ Nguyễn Đức Tùng: TÔI NHÌN THẤY CÁC BẠN ĐANG KHÓC (Nguyễn Trọng Tạo).
- Đây, tình chó! (Quê Choa).
8h40′:
- Sự kiện “chàng trai kì diệu” Nick Vujicic đến Việt Nam: Trao niềm tin, nhận… lùm xùm (PT). – Tướng Phạm Quý Ngọ: Điều tra nhóm vệ sĩ dẫn đường cho Nick Vujicic (GDVN).
- Sao Việt đến Liên hoan phim Cannes: Hóa ra đi… ‘bán rượu’ Chivas (PT). – “Tay ngang” tan hoang showbiz (PT).
13h45′:
19h35′:
- Tại Đường Lâm, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị: Người dân phải sống được bằng di sản (PT).
 
GIÁO DỤC-KHOA HỌC
 
- Giám đốc Alpha Books Nguyễn Cảnh Bình: Muốn làm sách lịch sử… bán chạy (TS).
- Tuyển sinh ĐH, CĐ 2013: Nhiều ngành học tỷ lệ “chọi” dưới 1 (GD&TĐ).
8h40′:
13h45′:
19h35′:
- Viết tiếp bài “Đua theo mốt độc dễ sa vào lối sống lệch chuẩn”: “Lỗ hổng” lớn trong giáo dục (PL&XH).
 
XÃ HỘI-MÔI TRƯỜNG
 
- SỐNG “TẦM GỬI” Ở BỆNH VIỆN: Giảm tải: Khó vô cùng! (NLĐ).
- Xung quanh vụ người phụ nữ bị hiếp dâm ngay giữa ban ngày gây xôn xao tại Quốc Oai(Hà Nội): Làng quê hoang mang bởi “yêu râu xanh” bị đồn nhiễm HIV “giấu mặt” (GĐ).
8h40′:
13h45′:
19h35′:
- Hậu sự cố mất điện tại 22 tỉnh, thành phía Nam: Lo ngại an toàn lưới điện (DV).
 
QUỐC TẾ
 
- 2 vụ nổ lớn làm rung chuyển trung tâm thủ đô Afghanistan (VOA). Trẻ em chạy hoảng loạn sau vụ nổ bom ở Kabul, 24/5/13 =>
8h40′:
13h45′:
19h35′:
 
 
 
 

TIN & BÀI NGÀY 24-5-2013

Tháng Năm 25, 2013

 

TIN & BÀI  NGÀY 24-5-2013
 

 

 

VŨ NGỰ CHIÊU : NHỮNG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HỒ CHÍ MINH [Phần 1/2] – (Nguyễn Vĩnh Châu & Vũ Ngự Chiêu)

Tháng Năm 25, 2013

 

Nguyễn Vĩnh Châu & Vũ Ngự Chiêu
 
HCM và Ðảng CSVN, thoát khỏi “ách thực dân Trung Cổ Pháp” để bị trói buộc vào “ách thực dân mới Hán Cộng.” Khó thể gọi là “giải phóng VN khỏi ách thực dân”.
 
DCVOnline: Tuy đã có rất nhiều bài và sách viết về ông Hồ Chí Minh, DCVOnline xin giới thiệu đến bạn đọc bài phỏng vấn của tác giả Nguyễn Vĩnh Châu (NVC) với ông Vũ Ngự Chiêu (VNC) đã đăng trên Hợp Lưu số 106, 2009, và trên mạng hopluu.net ngày 5 tháng 11, năm 2010. Ông Vũ Ngự Chiêu đã đề cập và đánh giá một số tư liệu lịch sử liên hệ đến nhân thân và di sản cũng như những sự kiện chung quanh ông Hồ.
Tác giả Nguyễn Vĩnh Châu là cựu phóng viên đài V.O.A. Ông Vũ Ngự Chiêu là một cựu sĩ quan thuộc nhiều binh chủng thuộc quân lực VNCH và viết văn với bút hiệu Nguyên Vũ. Sau 1975, ông Vũ Ngự Chiêu đi học lại và tốt nghiệp tiến sĩ ngành Sử học năm 1984 tại Ðại Học Wisconsin-Madison và tốt nghiệp Luật năm 1999 tại Đại học Houston năm 1999. Vũ Ngự Chiêu dùng tên thật hay bút danh Chính Đạo cho những bài biên khảo lịch sử.
 
*
*
 
NVC: Thưa ông, theo tài liệu của CSVN thì ông Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của ông Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc, đã từ quan vì chống đối triều đình. Sự kiện này có đúng không?
VNC: Cha ông HCM là Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, gốc làng Sen (Kim Liên), huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An. (Sắc chỉ là tên gọi ngoài đời.) Ðậu Phó Bảng năm 1901, ông Huy không theo học trường Hậu Bổ mà từng làm việc với Bùi Quang Chiêu, rồi bổ làm Thừa Biện Bộ Lại. Sau cuộc nổi dậy mùa Xuân 1908 của dân miền Trung, thăng bổ làm tri huyện Bình Khê (Bình Ðịnh).
Theo tài liệu Pháp, tháng 1/1910, Tri huyện Huy bị ngưng chức vì “nghiện rượu và tàn ác với dân chúng” (đánh chết một nông dân trong cơn say). Ngày 19/5/1910, bị chính thức tống giam vì tội danh trên. Qua tháng 8/1910, được miễn tội, chỉ bị cách chức.
 
Nguyễn Sinh Huy. Nguồn: OntheNet
 
Hồ Chí Minh. Nguồn: OntheNet
 
NVC: Theo sự nghiên cứu và những sử liệu mà ông có, xin ông vui lòng trình bày sự nghi vấn về tên thật và ngày sinh của ông Hồ Chí Minh.
VNC: Theo tài liệu Pháp và Việt (như thư xác nhận Côn được nhận vào trường Quốc Học (Huế) ngày 8/7/1908, và bản án tử hình khiếm diện năm 1929 của tỉnh Vinh, bằng Hán ngữ pha chữ Nôm), tên thực Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Côn, với những bí danh như Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Xin (?), Nguyễn Ái Quốc, v.v.
Một số tác giả trong nước tự động sửa thành Nguyễn Sinh Cung [chỉ dựa theo lập luận rằng vì anh là Khiêm].
Năm 1911, trong hai lá thư xin vào trường Ecole Coloniale (Paris) viết từ Marseille, Nguyễn Sinh Côn tự xưng là Nguyễn Tất Thành.
Trong những thư từ, từ 1912 tới 1914, còn có tên “Paul Thành.”
Từ năm 1919, đổi thành Nguyễn Ái Quấc hay Quốc. Theo học giả Nga Anatoli Sokolov, HCM có tất cả trên 150 bí danh khác nhau.
Ngày và năm sinh của HCM cũng có nhiều vấn đề.
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành (HCM) tự khai sinh năm 1892.
Ngày 17/5/1945, báo chí VNDCCH công bố ngày sinh nhật 19/5/1890 của HCM và yêu cầu dân chúng treo cờ làm lễ mừng trong 3 ngày. (Cứu Quốc [Hà Nội], 17/5/1945).
Sử gia Huỳnh Kim Khánh cho rằng HCM chọn ngày này để ghi nhớ ngày thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh tức Mặt Trận Việt Minh (19/5/1941). Nếu thế, ngày 19/5 cũng có thể để kỷ niệm ngày 19/5/1910, khi cha HCM bị cầm tù, cách chức, khiến HCM phải rời trường Quốc Học ra đi, và khởi đầu sự nghiệp chính trị.
Có dư luận cho rằng HCM đã ngụy tạo ngày sinh 19/5/1890 để bắt dân chúng Hà Nội treo cờ đón tiếp Cao ủy d’Argenlieu sẽ đến thăm chính thức Hà Nội vào ngày hôm sau, 18/5/1945, để bàn thảo về chuyến đi Pháp sắp tới của Hồ. Ðồng thời, cũng để chứng tỏ sự yểm trợ của dân chúng với Hồ và chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Việc này có thể xảy ra, vì HCM là loại người sử dụng mọi phương tiện để đạt mục đích.
 
Đơn xin học của Nguyễn Tất Thành – Kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Ngự Chiêu
 
NVC: Thưa ông, được biết, ông đã khám phá một sự kiện rất quan trọng là việc ông Hồ Chí Minh nộp đơn xin học trường thuộc địa của Pháp. Xin ông cho biết diễn tiến sự việc này ra sao và ảnh hưởng của công trình khám phá này như thế nào?
VNC: Ðầu tháng 2/1983, khi làm việc trên kho tài liệu trường Ecole coloniale, tức học hiệu huấn luyện các viên chức thuộc địa Pháp, trên đường Oudinot, quận 7, Paris, tôi vô tình khám phá ra nhiều hồ sơ học viên người Việt tại học hiệu này, như Bùi Quang Chiêu, Ðèo Văn Long, Phan Kế Toại, Trần Trọng Kim, Lê Văn Miễn, v.v., tổng cộng khoảng 97 người (CAOM (Aix), Ecole Coloniale, cartons 27, 33 & Registers). Mục đích của tôi là tìm hiểu về những viên chức thuộc địa Pháp cùng thế hệ Tây học Việt Nam đầu tiên (ngoài những người tốt nghiệp các lớp huấn luyện ở các tu viện như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trường Tộ, v.v.) để dùng cho chương Biến đổi văn hóa và xã hội của luận án Tiến sĩ. Thật vô tình, tìm thấy tập hồ sơ xin nhập học nhưng không được chấp nhận của Nguyễn Tất Thành, tức HCM sau này, cùng một người bồi khác được chủ Pháp mang về Paris. Ngoài hai lá thư viết tay gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc Ðịa, đề ngày 15/9/1911 tại Marseille, còn thêm ba tài liệu của Hội đồng quản trị trường. Trong biên khảo tam ngữ Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành (Paris: 1983) tôi đã trình bày khá rõ: Người mà chúng ta biết như HCM sau này đã rời nước không vì muốn tìm đường cứu nước, mà chỉ vì những tao ngộ bản thân (cha bị cách chức, tống giam, nên phải bỏ học nửa chừng, v.. v…). Từ cổng hậu đóng kín của trường Thuộc Ðịa, HCM sẽ tìm thấy cánh cửa mở rộng của Ðại Học Phương Ðông của Liên Sô Nga 12 năm sau.
Năm 1991, trong tập Vàng Trong Lửa, hai Giáo sư Trần Văn Giàu và Trần Bạch Ðằng đã nhắc đến tập sách nhỏ này, nhưng không nêu tên tác giả Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh. Nên thêm rằng sử gia Nguyễn Thế Anh đồng ý viết chung với tôi tập sách trên, cũng như phổ biến các tài liệu trên tờ Ðường Mới, nhưng ông Anh không phải là người phát hiện những tài liệu trên. Ít tháng sau, khi tôi đang làm việc ở Aix-en Provence, Nguyễn Thế Anh cho tôi biết hai sử gia Pháp, tức Hémery và Brocheux, tuyên bố họ đã khám phá ra tài liệu này từ trước. Tôi chẳng mấy quan tâm. Vấn đề là tại sao Hémery và Brocheux không công bố các tài liệu trên trước chúng tôi (vào mùa Hè 1983)? Và những người làm phim truyền hình chiến tranh VN cũng sử dụng tài liệu trên.
Một số học giả Mỹ cho rằng khi công bố tư liệu trên, tôi đã có ý muốn discredit [hạ giá] HCM. Nhưng sự thực lịch sử chỉ là sự thực lịch sử. Ðáng trách chăng là thái độ thiếu nghiêm chỉnh và lương tâm nghề nghiệp của một số học giả (kể cả William A. Williams). Vì tư tâm hay một lý do nào đó, họ đã gạt bỏ những tư liệu đi ngược lại lập luận và diễn dịch [thiên tả] của họ. Ðiều này ảnh hưởng không ít đến công trình nghiên cứu của tôi. Tôi đã không nhận chỗ dạy học tại Ðại học Georgetown, Oat-shinh-tân, (Washington – DCVOnline) vì mất đi lòng trọng vọng một số trong những “học giả”.
Thật khó tin, nhưng có thực, là một số sách dùng dạy sử cho các lớp năm thứ nhất hay thứ hai đại học Mỹ vẫn còn ghi HCM đã rời nuớc năm 1912 để tìm đường cứu nước. Có người còn tuyên bố chẳng cần tìm hiểu thêm về HCM, dù tác phẩm của họ chứa đầy những lỗi lầm sơ đẳng về Ðảng CSVN. “As far as the Americans are concerned,” người ta nói, ngần ấy kiến thức về HCM đã quá đủ. “Life goes on!”
 
NVC: Như ông biết, CSVN cho rằng HCM là nhà tư tưởng vĩ đại, lỗi lạc. Theo sự nghiên cứu của ông sự thật như thế nào?
VNC: Tôi nghĩ HCM là người của hành động hơn tư tưởng. Tư tưởng chỉ đạo của HCM chỉ là “luật kẻ yếu.” Một ấn bản mới của Câu Tiễn tân thời giữa thế kỷ XX. HCM rất lưu loát và rộng rãi trong việc ca tụng người có thể giúp đỡ mình, và không tiếc lời đả kích những đối thủ. Các nhà cung văn không tiếc lời ví HCM như thánh, thần, Phật, Chúa, v.v. Nhưng đọc kỹ những gì Hồ đã viết hay tuyên bố, chỉ có 2 điểm đáng ghi nhận:
Thứ nhất, cho tới thuở trung niên, tức vào khoảng năm 1919-1920, Hồ vẫn tin tưởng ở nhân và dân quyền. Trong 8 điểm đệ trình cho Hội nghị Versailles mùa Hè 1919, HCM tỏ vẻ rất tin tưởng ở những quyền tự do cá nhân, như tự do hội họp, tư tưởng, báo chí, v.v. Trong các thư từ gửi đi từ Hà Nội năm 1945-1946, Hồ vẫn ca ngợi nhân quyền cùng nguyên tắc cao cả của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, v.v. như ánh sáng chỉ đạo.
Thứ hai, từ năm 1922-1923, HCM bắt đầu nói về cách mạng, theo mẫu Marxist-Leninist. Hồ kêu gọi đoàn kết vô sản thế giới, lập liên minh công-nông chống lại liên minh tư bản thực dân-Ki-tô giáo. Tháng 10/1923, tại Ðại Hội Nông dân quốc tế, Hồ đã tố cáo thực dân và nhà Chung cấu kết với nhau để “câu rút giới nông dân nghèo khổ. “Khoảng ba năm sau, trong những bài giảng cho đoàn viên Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội ở Canton (Quảng Châu), HCM hô hào phải làm Kách Mệnh. [Xem Ðường Kách Mệnh, in lại trong Văn Kiện Ðảng Toàn Tập [VKDTT], I:1924-1930, 2002:13-82]; David G. Marr, [On Trail, 1981:131n, 374-376] Theo Hồ, “Văn chương và hy vọng” trong tập sách gối đầu giường của cán bộ Thanh Niên chỉ ở trong hai chữ “kách mệnh, kách mệnh, kách mệnh.” [The literary value and hope of this book are confined in two words: Kach menh, Kach menh, Kach menh [“Revolution, Revolution, Revolution.”] Rồi Hồ trích dẫn Lenin: “Không kó lý luận kách mệnh, thì không kó kách mệnh vận động. … Chỉ kó theo lý luận kách mệnh tiền fong, đảng kách mệnh mới làm nổi trách nhiệm kách mệnh tiền fong.”[ 25]
Trong 23 điều nói về tư cách người làm kách mệnh, 16 điều chẳng có liên hệ gì đến duy vật biện chứng. Không thấy nguyên tắc thực tập liên lũy [praxis] của Marx, tức ý muốn làm thử, rồi rút ra kinh nghiệm cho những hành động tương lai [that is the will to act in order to test belief and obtain the additional grounds for further action. (Marr, On Trail, 1981:378)]Hành động với HCM chỉ là thực hiện chủ thuyết Marxist-Leninist hơn là giải quyết những vấn đề theo công tâm “Muốn làm kách mệnh thì phải biết: Tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy văn hóa và tôn giáo làm cho dân ngu. Nó làm cho dân chúng nghe thấy cách mạng thì sợ rùng mình. Vậy kách mệnh trước hết phải làm cho dân “giác ngộ.” [23] Tóm lại, tư tưởng HCM chỉ có việc sao chép tư tưởng Lenin, Stalin và Mao Trạch Ðông. HCM thiên về hoạt động hơn tư tưởng.Việc cơ quan tuyên truyền CSVN đề cao tư tưởng HCM có lý do riêng. Nhưng ít khi thực sự vì chính Hồ. Mà vì những mục tiêu giai đoạn của người cầm quyền. Hãy lấy một thí dụ. Năm 1969, Lê Duẩn đã công bố ngày chết của HCM chậm 1 ngày (từ 2/9 tới 3/9), hay sửa lại, cắt xén di chúc của HCM. Một nguyện vọng nhỏ nhoi của HCM là được hỏa táng để phát động phong tục hỏa táng trong nước bị tảng lờ. Nói theo Brocheux, HCM đang bị “cầm tù” trong Lăng Ba Ðình. Thực ra, chẳng có dấu hiệu tôn trọng tư tưởng Hồ nào thiết thực hơn là giúp mang xác ướp của Hồ ra khỏi Lăng Ba Ðình, và hỏa táng.
 
NVC: Ông có thể cho biết, lý do tại sao ngày nay đảng CSVN lại tung ra chiến dịch học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh?
VNC: Lãnh đạo CSVN có lý do riêng của họ, khó đoán biết. Nhưng một cách tổng quát, có thể nghĩ rằng tinh thần “hủ Marxist-Leninist” khiến cán bộ tuyên giáo đang muốn phỏng theo gương Trung Nam Hải bắt dân Trung Hoa “học tập” kinh nghiệm Hán hóa thuyết Marist-Leninism.” Người ta chỉ đổi đi năm chữ “tư tưởng Mao Trạch Ðông” bằng “tư tưởng Hồ Chí Minh.”
 
 
Sách của Hồ Chí Minh (bút danh Trần Dân Tiên). Nguồn: OntheNet
 
NVC: Theo ông tại sao HCM lại có thể tự viết sách đề cao mình, tự gán cho mình là “Cha già dân tộc” vô cùng lố lăng như trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” với bút danh “Trần Dân Tiên”?
VNC: HCM là một người hành động, một cán bộ cách mạng chuyên nghiệp [agitprop]. Việc HCM tự viết sách đề cao mình hay sai người ca tụng mình là việc phụ. Mục đích chính cần thực hiện là ca ngợi một nhân vật HCM chí thiện, chí thần, chí thánh. HCM rất ít khi quan tâm đến những khuôn thước giá trị tư bản, thực dân hay phong kiến mà HCM quyết tâm hủy diệt. Cũng nên thêm là “tư cách” hay “đạo đức” của người Cộng Sản, theo HCM, không giống quan điểm “phong kiến, thực dân”
[Tệ đoan cung văn này, dĩ nhiên, không do cơ quan tuyên giáo Cộng Sản độc quyền. Tại miền Nam, từng có huyền thoại về “điều trần” Nguyễn Trường Tộ, “nhà ngôn ngữ học” Trương Vĩnh Ký, hay “đầy vua không Khả, đào mả không Bài” – Khả, tức Ngô Ðình Khả, cha ruột Tổng thống Ngô Ðình Diệm (1897-1963), xuất thân thông ngôn cho Tây, tích cực trong việc đánh dẹp phong trào Cần vương do Phan Ðình Phùng lãnh đạo, và rồi được Pháp ủy thác giám hộ vua Thành Thái, với chức vụ Ðề đốc kinh thành. Bài là Nguyễn Hữu Bài, cha đỡ đầu Diệm, từng được Pháp cử làm Tổng lý triều Nguyễn từ 1925 tới 1932, trong thời gian ấu vương Bảo Ðại du học ở Pháp. Bàn tay Bài và quan lại Việt từng đẫm máu dân chúng miền Trung trong giai đoạn 1926-1932. Sau này, vào tháng 8/1944, Giám mục Ngô Ðình Thục viết thư cho Toàn Quyền Jean Decoux khoe kể công lao hãn mã của họ Ngô với Bảo hộ Pháp. Năm 1982, tôi nhờ Linh Mục Cao Văn Luận gửi một bản sao thư trên cho cựu Tổng Giám Mục Thục, yêu cầu cho biết ý kiến. Không thấy hồi âm; ít lâu sau nghe tin ông Thục đã chết vì điên loạn ở Mỹ.
Nhưng khi tôi cho công bố tài liệu trên năm 1989, có người cho rằng đó là “tài liệu giả” – hiểu theo nghĩa sau đó có người in trộm tài liệu trên từ báo Lên Ðường (Houston) vào sách họ, nhưng đã cố ý tẩy xóa một vài chi tiết trong thư.]
 
Thư Giám mục Ngô Đình Thục gởi Toàn quyền Jean Decoux
 
Thư ông GM Ngô Đình Thục gởi Toàn quyền Jean Decoux. Kết quả nghiên cứu của VNC.
 
NVC: Nhiều tác giả ngoại quốc vẫn nhận xét HCM là một người có tinh thần quốc gia, chỉ dùng chủ nghĩa CS để giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ. Theo sự tìm hiểu của ông thì sự thật như thế nào?
VNC: Tôi nghĩ cách diễn tả “tinh thần quốc gia” quá trừu tượng, chứng tỏ sự thiếu hiểu biết, đưa đến sự đánh giá sai lầm HCM. Trên cơ bản, HCM là người nuôi tham tâm giành đoạt chính quyền bằng mọi giá và giữ vững độc quyền cai trị. Cũng cần lưu ý là HCM, theo tôi, không là một cán bộ Cộng Sản thuần thành.
Liên hệ giữa Hồ và Quốc Tế Cộng Sản có nhiều vấn đề.
Từ năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đã bị QTCS khai tử.
Từ 1933-1938: NAQ phải sống với bí danh mới “Lin” hay “Linov,” không được giao công tác gì. Năm 1935, chỉ được Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập cho 1 ghế dự khuyết trong Ban Trung Ương Chấp Ủy, lo việc phiên dịch các tài liệu của Ðảng CSVN gửi Phòng Ðông Dương của QTCS. Năm 1938, vội vã rời Mat-scơ-va sang Diên An (Trung Hoa) để tránh bị Stalin thanh trừng. Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi từ năm 1943-1944, HCM đã tìm cách móc nối cơ quan tình báo Mỹ. Từ sau chiến dịch Meigo của Nhật–tức cuộc bắt giữ hầu như toàn bộ chính phủ bảo hộ Pháp tại Ðông Dương trong hai ngày 9-10/3/1945–HCM bắt đầu chính thức hợp tác với Phi Ðoàn Cọp Bay 14 của Chennault tại Vân Nam. Và rồi, cơ quan OSS [Tình báo chiến lược] Mỹ từ tháng 3 đến tháng 8/1945 (Frank Tan, thuộc GBT, và rồi Deer Team, OSS, ở Kim Lộng, Tuyên Quang). Sau ngày 19/8/1945, viên chức Mỹ đóng vai đường giây ngoại giao của HCM, giúp chính phủ Hồ tồn tại qua cuộc chiếm đóng của Trung Hoa, và phần nào giúp Hồ thành lập chính phủ liên hiệp với Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội, tổ chức bầu cử Quốc Hội, chính thống hóa chế độ VNDCCH hầu ký Tạm ước 6/3/1946 tại Hà Nội, và rồi Modus vivendi ngày 14/9/1946 tại Paris.
Nói cách khác, yếu tố ngoại cường thống trị và ảnh hưởng sự thăng tiến của HCM. Chiêu bài “quốc gia” – HCM tự nhận nhiều lần chỉ thuộc Ðảng Quốc Gia, và từng giải tán Ðảng CSÐD ngày 11/11/1945 – chỉ quan trọng trong nội địa Việt Nam.
 
NVC: Theo sự nghiên cứu của ông thì ông HCM có trách nhiệm gì trong việc đảng CSVN sát hại các đảng viên những đoàn thể quốc gia trong thời gian những năm 45-46?
VNC: Dù có trực tiếp cho lệnh hay không, HCM phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Mặc dù Võ Giáp cùng Bộ Nội Vụ ra tay tàn sát các đảng phái chống Cộng khi HCM đang ở Pháp, HCM được báo cáo tuờng tận chi tiết những vụ án ngụy tạo xét xử cán bộ Việt Quốc, hay cuộc tàn sát VNQDÐ tại Hà Nội với lý do “bắt tay Pháp làm đảo chính nhân dịp Quốc Khánh 14/7 của Pháp.” Dĩ nhiên, nên lưu ý rằng, năm 1945-1946, HCM chưa hoàn toàn kiểm soát được guồng máy chính quyền. Trong nội bộ Ðảng, HCM cũng không hoàn toàn kiểm soát được phe cực đoan như Trường Chinh Ðặng Xuân Khu và Hạ Bá Cang (Cung?) tức Hoàng Quốc Việt, v.v. Ðó là chưa kể tinh thần địa phương Nam-Trung-Bắc. Nhưng những lời tuyên bố của HCM tại phiên họp kỳ II của Quốc Hội, từ 28/10 tới 9/11/1946, chứng tỏ HCM phê chuẩn việc làm của Giáp cũng như công an Việt Minh.
 
Hồ Chí Minh và Trần Canh (1950). Nguồn: Truyen-thong.org.
 
NVC: Là một nhà sử học, ông nghĩ gì về lập luận cho rằng dù ông HCM có nhiều lỗi lầm nhưng vẫn có công giải phóng VN khỏi ách thực dân?
VNC: Với những tài liệu đã giải mật (tháng 11/2008), không ai phủ nhận được tài năng của HCM trong việc lãnh đạo Ðảng CSVN tới chiến thắng cuối cùng của Ðảng này. Nhưng cách diễn tả “giải phóng VN khỏi ách thực dân” cần xét lại. Sau Thế Chiến Thứ Hai, phong trào giải thực – hiểu theo nghĩa thực dân Trung Cổ – xuất hiện ngay trong tâm ý dân chúng các cường quốc thuộc địa. Thực dân Pháp bị thất bại ở Việt Nam cơ bản là do quốc dân Pháp và Việt đều muốn chấm dứt nó. Thế giới cũng chuyển biến sang một hình thức “trật tự mới” – tức vùng ảnh hưởng của các siêu cường – đặc biệt là Liên Sô Nga và Liên Bang Mỹ, hai “siêu cường” lãnh đạo hai khối vô sản và tư bản. Sự nghiệp chính trị của HCM cho tới khoảng năm 1968-1969 phải được đánh giá trong hệ thống chính trị thế giơi chiến tranh lạnh “lưỡng cực” này. Và, rồi sự chia rẽ giữa Bắc Kinh và Mat-scơ-va [Москва, Moscow - DCVOnline] từ năm 1958, dẫn tới chính sách hòa hoãn đa cực (bao gồm thế tay ba Mỹ-Nga-Trung Cộng tại Ðông Nam Á).
Nên ghi nhớ là ngay đến Ngô Ðình Diệm, năm 1954-1955, cũng khua chiêng, gõ trống cho thành tích “bài phong, đả thực” – nhờ phép lạ Mỹ.
Trường hợp HCM và Ðảng CSVN, thoát khỏi “ách thực dân Trung Cổ Pháp” để bị trói buộc vào “ách thực dân mới Hán Cộng.” Khó thể gọi là “giải phóng VN khỏi ách thực dân.”
 
(Còn tiếp phần Kết)
 
DCVOnline minh họa.
 
 
———————————
 
 
Trích: “Từ 1933-1938: NAQ phải sống với bí danh mới “Lin” hay “Linov,” không được giao công tác gì”.
Câu này đúng phần “nổi”: đó là NAQ hoàn toàn biến mất trên màn “radar” của CSQT, nhưng tác giả hoặc không biết hoặc dấu đi vấn đề “tại sao”!
Chuyện như thế này: đồng lúc với việc NAQ được triệu hồi về Mốt-cu, Hà Huy Tập, quyền Tổng Bí Thư đảng CSVN, đã gửi một báo cáo mật về TƯ (Mốt-cu) than phiên về những hành vi vô kỷ luật của NAQ và nhất là việc tên tuổi và hình ảnh của NAQ) nằm chình ình trong hồ sơ của sở Mật Thám Pháp, cùng với (điệp viên nhị trùng – làm cho Pháp lẫn cho “cách mạng”) Lâm Đức Thụ.
Hà Huy Tập cũng đề nghị với TƯ CSQT là phải bắt NAQ phải “thành khẩn khai báo” (kiểm thảo) về những tư tưởng và việc làm của mình. Nếu ai biết một chút về cách “tổ chức” của CS, nhất là trong thời kỳ cao điểm của cuộc thành trừng nội bộ của CSQT lúc đó, thì lời buộc tội đó phải tương đương với đề nghị “thanh trừng” hoặc tử hình! Làm sao NAQ/HCM thoát được bản án đó là chuyện vẫn năm trong bóng tối, nhưng không thể nào NAQ có thể chỉ bị “giáng chức” (cho làm thông dịch viên và huấn luyện viên cho những cán bộ CSVN mới được gửi qua Liên Xô học tập). Theo phân tích của một số nhà nghiên cứu, thì ít nhất NAQ/HCM phải nhận những công tác “tuyệt nguy hiểm” mới có thể chứng minh được sự trung thành tuyệt đối với thượng cấp. Công tác “tuyệt nguy hiểm” là gì thì có lẽ dễ nghĩ ra thôi!
 
Trích: “Thế giới cũng chuyển biến sang một hình thức “trật tự
mới” – tức vùng ảnh hưởng của các siêu cường – đặc biệt là Liên Sô Nga và Liên Bang Mỹ, hai “siêu cường” lãnh đạo hai khối vô sản và tư bản”
Cái trật tự mới với sự xung đột của hai khối cộng sản, tư bản thì lại bắt nguồn từ đề cương của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản chủ trương dùng chiêu bài giải phóng dân tộc để bành trướng chủ nghĩa
Cộng Sản. Đó là cái đề cương mà ông Hồ ngồi trong phòng đọc và mừng rỡ nói to lên.
Nhưng mà đứng vào phe Cộng Sản đểtranh đấu giành độc lập thì sự độc lập biến thành vấn đề giả, mà vấn đề thật là chủ nghĩa Cộng Sản đúng sai, hay dở ra sao mà đem nó về áp dụng cho đất nước. Gọi vấn đề độc lập là vấn đề giả vì khi chấp nhận gia nhập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản và đứng hẳn vào khối Liên Xô thì sự độc lập chỉ là tương đối, cũng như các nước đứng về phe Mỹ trong khối tư bản cũng chỉ là độc lập tương đối.
  • Ngay cả các nước Tây Âu, sau thế chiến 1945 cũng chỉ là độc lập tương đối vì họ nằm trong khối NATO và nhận sự giúp đỡ về kinh tế của Mỹ thì họ phải chịu sự chi phối của Mỹ ở mức nào đó. Nước Pháp đã rút ra khỏi NATO để được độc lập hơn và việc Pháp quay trở lại NATO được người Pháp bàn cãi về cái lợi cái hại của nó
    khi Pháp phải chịu mất bớt độc lập khi gia nhập NATO. Các nước Bắc Âu không nằm trong khối tư bản dưới ảnh hưởng của Mỹ và khối CS dưới ảnh hưởng của Nga là các nước có độc lập. Ngay cả Singapore, Mã Lai cũng không thật sự hoàn toàn độc lập vì vẫn chấp nhận nằm trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh. Nhưng sự thành công về kinh tế của Singapore và Mã Lai cho thấy là mặc dù không có sự độc lập hoàn toàn nhưng các nước này cũng vẫn đem lại cơm no áo ấm cho dân. Còn Việt Nam cộng sản thì đứng vào khối CS thì cũng vẫn không có độc lập hoàn toàn mà lại không đem lại
    cơm no áo ấm cho dân.
Vấn đề thật lại là những người lãnh đạo có thật sự quan tâm đến việc phát triển kinh tế để đem lại no ấm cho dânhay không hay là cứ nhân danh độc lập mà lao vào hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác.
 
Có vẻ như TS Vũ Ngự Chiêu cũng mắc phải cái “bịnh thời đại” của rất nhiều trí thức của VNCH cũ, đó là mỗi khi phê phán chế độ cộng sản miền Bắc, lại phải lôi ra những “cái xấu” của những chính khách hay chính quyền VNCH ra nói, như thể ra vẻ ta đây là người công chính!
Nhưng trong nhiều trường hợp, sự so sánh không cân đối, cũng chẳng công bằng tí nào. Chẳng hạn, trong bài này TS VNC so sánh sự lừa dối trắng trợn của ông HCM đối với cả dân tộc với “tội ác” của người cha ruội và cha nuôi của TT NĐD. Trong khi đáng lẽ, để công bằng VNC chỉ có thể so sánh với chính TT NĐD, đối thủ của HCM mà thôi.
Tôi nghi ngờ, nguyên do của việc này sâu xa hơn chỉ là bệnh trí thức, một nguyên do không dễ gì để nắm bắt, vì có lẽ nó nằm trong “vô thức”, phức tạo vì trộn lẫn giữa nhiều thứ mặc cảm (mặc cảm trí thức, mặc cảm thua trận, thất bại, tội lỗi, thua kém…).
 
 

VŨ NGỰ CHIÊU : NHỮNG NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ LIÊN QUAN ĐẾN HỒ CHÍ MINH [Phần 2/2] – (Nguyễn Vĩnh Châu & Vũ Ngự Chiêu)

Tháng Năm 25, 2013

 

Nguyễn Vĩnh Châu & Vũ Ngự Chiêu
 
Bắc Kinh và Hà Nội thường nói về tình “môi hở, răng lạnh,” hay “viện trợ không kèm móc câu hay thòng lọng.” Thực tế, việc cắt đất cắt biển là những lưỡi câu và thòng lọng mà dân tộc Việt đang và sẽ chịu đựng.
 
Tiếp theo phần I
 
NVC: Theo ông thì trong cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?
VNC: Trước khi nói đến trách nhiệm của HCM hay Ðảng CSVN, cần tìm hiểu rõ ràng về vai trò cải cách ruộng đât trong các xã hội nông nghiệp, rồi đến trường hợp cá biệt Việt Nam.
A. Cải cách ruộng đất [CCRÐ] – tức làm sao có sự phân phối ruộng đất hợp lý để nông dân có đất cày cấy – là điều quan tâm hàng đầu của những nhà cai trị các xã hội nông nghiệp muốn dân giàu, nước mạnh.
Trong Ðường Kách Mệnh, HCM từng viết:
2. Tây đồn điền choán ruộng cách nào?
Nhiều cách.
Phần thì Tây đồn điền cướp, phần thì các nhà thờ đạo chiếm. Các cố đạo chờ năm nào mất mùa, đem tiền cho dân cày vay. Chúng nó bắt dân đem văn khế ruộng cầm cho nó và ăn lời thật nặng. Vì lời nặng quá, đến mùa sau không trả nổi, thì các cố xiết ruộng ấy đem làm ruộng nhà thờ.”[ 73]
3. Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào?
Tư bản Tây và nhà thờ đã choán gần hết đất ruộng, còn giữ được miếng nào thì chính phủ lại đánh thuế thật nặng, mỗi năm mỗi tăng.[ 73] 10 phần lấy mất một.[ p.73]
Mua rẻ nhân dịp dân phải đóng thuế; xuất cảng. Nó chở đi chừng nào, thì dân ta chết đói nhiều chừng ấy.
4. Bây giờ nên làm thế nào? phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng.[ 74]
5. Cách tổ chức dân cày thế nào?[ 74] Bất kỳ tiểu điền chủ trở xuống đều được vào; (trừ đại địa chủ, mật thám, cố đạo, say mê rượu chè, cờ bạc và a phiến)[74]
Nông hội chống rượu chè, a-phiến khiến mất giống nòi.
Biết kách mệnh tinh thần, kách mệnh kinh tế, thì kách mệnh chính trị cũng không xa.Từ đầu thập niên 1930, cải cách ruộng đất, hay cách mạng thổ địa, là một chiêu bài của Ðảng Cộng Sản Ðông Dương. Những khẩu hiệu như “Thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn” được nêu ra từ cuộc nổi dạy 1930-1931 tại Nghệ-Tĩnh và Nam Kỳ, và thống trị các tài liệu tuyên truyền của Ðảng CSÐD cho tới năm 1935-1936. Lý luận Marxist-Leninist phía sau chiêu bài sắt máu này là cuộc đấu tranh giai cấp giữa liên minh nông-công chống lại và tiêu diệt giai tầng địa chủ phong kiến, nhằm thủ tiêu hệ thống sản xuất cổ truyền, tiến tới việc xây dựng một xã hội công bằng mà ai nấy đều được hưởng tương ứng với những gì mình sản xuất, trên đường tiến đến xã hội Cộng Sản, ở đó ai nấy đều làm theo khả năng, được hưởng theo nhu cầu.
 
Vì mục tiêu cuối cùng – tức xã hội cộng sản, nơi nhà nước bị thăng hoa, chỉ có những người lao động sản xuất tự quản lý công hữu–chưa đủ điều kiện chào đời, Ðảng Cộng Sản và liên minh công-nông tiếp tục duy trì nhà nước chuyên chính vô sản, hay “dân chủ tập trung,” thẳng tay tiêu diệt giai cấp địa chủ phong kiến, lấy đất chia cho người nghèo, để họ tự làm chủ. Những nhà tiểu tư sản mới này sẽ giúp tăng gia sản xuất lương thực, tạo nên thặng dư để góp vốn vào việc công nghệ hóa nền kinh tế. Sự phát triển đồng thuận và song hành này sẽ giúp đất nước sớm hiện đại hóa, nâng cao đời sống công nông, phát triển nền văn hóa lành mạnh.
 
B. Ðấu tranh Giảm Tức, Giảm Tô
Từ năm 1945, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] đã bắt đầu phát động chính sách đòi hỏi giảm tô (tức giảm tiền thuê ruộng đất) và giảm tức (giảm tiền vay lãi), nhưng có nơi thi hành, nơi không. Một trong những lý do chính là giai đoạn 1945-1946 còn có những nhu cầu và khó khăn, phức tạp cần giải quyết, liên hệ đến chính sự sinh tồn của chế độ.
Từ đầu năm 1947 tới năm 1949, chính sách nông thôn của Hồ chưa có thay đổi đáng kể, ngoại trừ những biện pháp tận thu, giảm chi, trên nguyên tắc “chớ nên mị dân.” Tuy nhiên, chiến thắng của Mao Trạch Ðông ở Hoa lục (1949) và sự thành hình của “giải pháp Bảo Ðại” (1948-1949) khiến Hồ chẳng còn lựa chọn nào khác hơn trở lại với khối tân Quốc tế Cộng Sản (Cominform), do Liên Sô Nga lãnh đạo. Bên cạnh những chuẩn bị tái lập Ðảng Cộng Sản Ðông Dương (dưới tên mới Ðảng Lao Ðộng Việt Nam từ năm 1949-1951), và do nhu cầu tăng gia thu nhập cũng như củng cố sự yểm trợ của giới nông dân (bần cố nông và bần nông), từ đầu năm 1949, BTV/TW Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mã Khắc Tư ra Chỉ thị ngày 3/1/1949 cho các Khu ủy về sách lược vận động tranh đấu bắt các địa chủ giảm tô 25% như chính phủ qui định. Mục tiêu lần này được mở rộng tới các địa chủ “công giáo, và chỉ thị trên còn qui định việc giảm tiền xin lễ, nhưng tránh không chạm đến tín ngưỡng.” (VKÐTT, 10, 2001:176-177)
Ðầu tháng 6/1949, BTV/TW lại gửi điện ngày 1/6/1949 cho Liên khu [LK] IV về phong trào khuyến khích địa chủ hiến đất. (VKÐTT, 10, 2001:241) Ngày 14/7/1949, HCM ký Sắc Lệnh Giảm Tô. Ngày 14/10/1949, BTV/TW ra chỉ thị tạm cấp ruộng đất của Việt Gian cho người nghèo. (VKÐTT, 10, 2001:299-303) Ngày 22/10/1949, BTV/TW chỉ thị LK IV vận động giảm tô 25%. (VKÐTT, 10, 2001:307-308)
Ngày 18/11/1949, BTV/TW ra Thông tri về việc chấn chỉnh tổ chức nông dân: Khéo léo đưa địa chủ ra khỏi Hội Nông Dân Cứu Quốc bằng cách tổ chức vào những hội khác (Phụ lão, Liên Việt) Thành phần BCH HNDCQ phải có bần cố nông, có người trẻ. Không nên có phú nông; nếu có chỉ để làm vì. Ra sức tổ chức Hội nông dân trong vùng Công Giáo. [Lê Văn Lương]. (VKÐTT, 10, 2001:314-315)
Ngày 5/7/1950,Trường Chinh đọc báo cáo về chính sách nông thôn tại phiên họp mở rộng của Ban Kinh tế TW [5 tới 7/7/1950]. (VKÐTT, 11, 2001:591- 626) Ngày 17/7/1950: Ban Thường vụ TW chỉ thị “hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức.”
Tại Ðại hội tái lập Ðảng CS [Lao Ðộng] vào tháng 2/1951, Tổng Bí thư Trường Chinh nhấn mạnh là CCRÐ chỉ nhắm vào giảm tô, giảm tức. Ðịa chủ hiến đất đai. Kháng chiến thắng lợi sẽ CCRÐ. [Ngày 16/4/1951 Hồ Viết Thắng được cử làm trưởng Tiểu ban Nông vận (còn có Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào). (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)]
Ngày 22/4/1952, Hội nghị TW lần thứ ba của ÐLÐVN [22 tới 28/4/1952] vẫn còn ra nghị quyết: “Trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh.” (VKÐTT, 13, 2001:65- 75) Về chính sách ruộng đất sẽ tập trung vào giảm tô, giảm tức, lôi kéo địa chủ; tịch thu ruộng đất của Pháp và Việt gian cho dân cày nghèo. Chưa thủ tiêu bóc lột phong kiến. ( VKÐTT)13, 2001:118- 128).
 
C. Chính thức phát động CCRÐ
Năm 1952, Mao Trạch Ðông mời Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh, ép phải cải cách ruộng đất. Ðồng thời thực hiện chỉnh quân, chỉnh huấn. (Hoan, 1987:359-367). Ngày 15/8/1952, Ban Bí thư [BBT] Ðảng LÐVN ra chỉ thị bổ sung chỉ thị 37 về chính sách ruộng đất: Từ nay “Dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên minh với phú nông, lôi kéo hoặc trung lập một số địa chủ, đánh đuổi đế quốc và đại địa chủ phong kiến phản động.”(VKÐTT, 13, 2001:239) Ngày 25/11/1952, BBT ra thông tri về việc điều tra nông thôn. (VKÐTT, 13, 2001:347- 360)
Ðầu năm 1953, Trung Cộng cử Kiều Hiểu Quang, Phó Bí thư Quảng Tây, phụ trách đoàn cố vấn cải cách ruộng đất. (Theo Hoàng Tùng, La Quí Ba cũng ép Hồ phải đấu tố Nguyễn Thị Năm, tức Cát Thành [Hanh] Long. “Mấy ngàn người bị xử tử.” (Tài liệu truyền tay ký tên Hoàng Tùng. Hoàng Tùng phục vụ trong Ban Tuyên huấn của Trường Chinh, nên có những thông tin đặc biệt. Theo tài liệu đã dẫn, HCM rất bất mãn về áp lực của Bắc Kinh, nhưng không dám chống đối. Xem thêm infra.)
16/4/1951: Nghị quyết ngày 16/4/1951 của BCH/TW về việc thành lập các ban và tiểu ban giúp việc:Ban Tuyên huấn: Trường Chinh, Phạm Tô, Tố Hữu, Trần Quang Huy, Hoàng Tùng, Xuân Thủy, Lê Quang Ðạo, Nguyễn Chương, Nguyễn Khánh Toàn, Minh Tranh.
Ban Mặt Trận: Hoàng Quốc Việt, Thoại Sơn, Hồ Viết Thắng, Xuân Thủy, Trần Cung, Lê Thành Lập, Dương Bạch Mai.
Ban Kinh tế-Tài chính: Phạm Tô, Cù Vân, Trần Ðăng Ninh, Hồ Viết Thắng, Lê Văn Hiến, Ðặng Việt Châu, Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Tạo, Trần Danh Tuyên, Nguyễn Ðức Thụ.Tiểu ban Nông vận: Hồ Viết Thắng, Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Ðức Thịnh, Ca, Nông, Di, Ðào. (VKÐTT, 12, 2001:526- 527)
Cũng có nhân chứng cho rằng cuối tháng 3/1950, khi từ Bắc Kinh trở lại Tuyên Quang, Hồ tuyên bố với Ban Thường vụ Trung ương Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư (tức Ðảng CSÐD, đã được bí mật tái khai sinh từ năm 1948-1949) là Stalin muốn làm cách mạng thổ địa, và Hồ muốn làm cách mạng thổ địa với sự tiếp tay của TC. (Võ Nguyên Giáp, CÐTVV, 2001:349-350) Một tài liệu TC ghi ngày 5/3/1953, khi cùng HCM [dưỡng bệnh ở TH] rời Bắc Kinh về VN, Vi Quốc Thanh được HCM kể lại những chi tiết về chuyến qua Mat-scơ-va cuối năm 1952, và ý định thực hiện CMTÐ, theo lệnh Stalin. “Không thể đứng giữa một ngọn đòn sóc. (Vu Hóa Thẩm [Vương Chấn Hoa], “Vi Quốc Thanh,” (Vu Hóa Thẩm, LQB, 2008:59)
 
D. Hội nghị kỳ 4 Ðảng LÐVN (25-30/1/1953)
Theo tài liệu chính thức của Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Hội nghị lần thứ tư Trung ương Ðảng LÐVN (25-30/1/1953) đã quyết định tiến hành cải cách ruộng đất, tức phong trào đấu tố (rập khuôn Trung Cộng).
Ngày 25/1/1953, HCM đọc báo cáo về tình hình trước mắt và nhiệm vụ CCRÐ. Triệt để giảm tô, tiến tới CCRÐ. Theo Hồ, từ 1945, đã thực hiện giảm tô, nhưng tới nay chưa đúng mức: có nơi giảm, nơi chưa giảm. Nay phải triệt để thực hiện giảm tô. Phải phát động quần chúng nông dân tự giác tự nguyện đứng ra đấu tranh triệt để giảm tô giảm tức và giành lấy ưu thế chính trị ở nông thôn. Ðảng và chính phủ phải lãnh đạo, tổ chức, giúp đỡ, kiểm tra. Sau đó sẽ cải cách ruộng đất. Nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc, và cũng là nền tảng của cách mạng dân chủ chống phong kiến, chống đế quốc. Muốn kháng chiến thắng lợi phải nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, chia ruộng đất cho nông dân. CCRÐ sẽ giúp Ðảng LÐ Việt Nam giải quyết nhiều vấn đề:
Về quân sự: Nông dân hăng hái tham gia bộ đội; đồng thời làm tan rã ngụy quân.
Về kinh tế-tài chính: nông dân đủ ăn đủ mặc, sẽ giúp phát triển công thương nghiệp, hăng hái đóng thuế nông nghiệp.
Về chính trị: Nông dân nắm ưu thế trong làng xã, “nhân dân dân chủ chuyên chính sẽ được thực hiện rộng khắp và chắc chắn.”
Về văn hóa: “có thực mới vực được đạo.” Nông dân no đủ sẽ phát triển văn hóa.
Những vấn đề như thương binh, công an nhân dân dễ giải quyết.
Về Mặt Trận Liên Việt: Nông dân sẽ chiếm đa số, cơ sở công nông liên minh vững chắc hơn.
Ðấu tranh triệt để giảm tô giảm tức làm đà cho CCRÐ.
 
 
CCRĐ: đấu tố. Nguồn: Nguồn: © The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS
 
CCRĐ: đấu tố. Nguồn: © The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS
 
Cải cách ruộng đất: đấu tố. Nguồn: Nguồn: © The Dmitri Baltermants Collection/CORBIS
 
 
E. Hồ nêu lên kinh nghiệm CCRÐ ở Trung Hoa
Tới cuối năm 1952, đã hoàn thành CCRÐ, chia đất cho nông dân. Hơn 500,000,000 nông dân được chia hơn 700 triệu mẫu ruộng. Nông dân giữ lại được hơn 30 triệu tấn thóc địa tô. Hăng hái tăng gia sản xuất: Năm 1950 lương thực tăng 20% so với năm 1949; năm 1952 tăng 40%. Thành phần xã hội thay đổi rất nhiều: trung nông tăng từ 20% tới 80%; bần nông giảm từ 70% xuống còn 10-20%. Về chính trị, chỉ tại bốn khu Hoa Trung, Trung Nam, Tây Nam và Tây Bắc nông hội đã có hơn 88 triệu hội viên, trong đó hơn 30% là phụ nữ; 60% đến 80% nông dân tổ chức thành những đội đổi công, hợp tác xã. Nông dân trở thành trụ cột của chính quyền ở nông thôn; nhân dân dân chủ chuyên chính và công nông liên minh trở nên vững chắc. Công nghệ và thương nghiệp mau phát triển; văn hóa cũng lên vùn vụt. Hơn 49 triệu trẻ em nông dân được đi học. Vì trình độ giác ngộ lên cao, phong trào chống tham ô lãng phí, quan liêu và chống Mỹ, giúp Triều nông dân hăng hái tham gia. (HCMTT, 7:1953-1955, 1996:8-9.
Thực ra HCM không hoặc không muốn nói đến thực trạng sắt máu của bài học CCRÐ Trung Hoa. Từ ngày 1/10/1949 tới cuối tháng 8/1951, có tới 28,000 bị hành quyết tại Quảng Ðông. Trong nửa năm đầu 1951, khoảng 800,000 phiên tòa xét xử phản cách mạng, và 135,000 người bị tử hình. Từ 1949 tới 1952, khoảng 2 triệu người bị hành quyết. Hơn 2 triệu người khác bị gửi vào các trại cải tạo. ( Maurice Meisner, Mao’s China, 1977:81).
Năm 1952, Mao và Ðảng CSTH đã khiến giai cấp đại địa chủ ngừng hiện hữu, nhưng cả Mao lẫn Hồ, đều hiểu rằng CCRÐ chưa phải là cách mạng XHCN. Theo lý luận Marxist-Leninism, đây mới chỉ là giai đoạn “tư sản” [bourgeoisie] của cách mạng, hay cái gọi là “Tân Dân Chủ” của Mao. Nói theo Marx, “chế độ Bonaparte [Pháp] là triều đại của nông dân.”
Mục tiêu chính của Mao chỉ là: mở rộng cơ sở ủng hộ; kiểm soát hành chính xuống các xã thôn; làm gia tăng mức sản xuất nông phẩm. Bài diễn văn ngày 14/6/1950 của Liu Shaoqi [Lưu Thiếu Kỳ] hầu như đã được phỏng dịch lại trong bản báo cáo của HCM: thực hiện CCRÐ từng bước với sự thận trọng và biệt phân, trong khi lượng sản xuất nông phẩm gia tăng; phải dựa vào bần và cố nông, liên minh với trung nông, và vô hiệu hóa phú nôngHồ cũng không nhắc gì đến những con sóng bạo lực và sự phẫn nộ của 20 triệu người Hoa bị “vạch thành phần” là địa chủ, sự chống đối của họ [107- 108]. Bi thảm hơn nữa là dù CCRÐ đã hoàn tất, tình trạng nghèo khổ của nông dân TH không thay đổi. Chỉ có Ðảng CSTH đại thắng khi thay thế những kỳ hào cũ của các thôn xã bằng những người trẻ trung hơn, giúp đẩy mạnh việc trung ương tập quyền cho Ðảng và Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc. Ðồng thời chuẩn bị cho bước tái tổ chức kế tiếp, tức tập trung sản xuất [collectivation].Trường Chinh báo cáo về mục đích, ý nghĩa, phương châm, phương pháp và kế hoạch thực hiện CCRÐ. (VKÐTT, 14:30- 83.
Ngày 30/1/1953, ra Nghị Quyết “Thẳng tay phát động triệt để giảm tô.” (VKÐTT, 14:128- 132)
 
CCRĐ, đấu tố, bên Trung Hoa. Nguồn: OntheNet
 
F. Ngày 5/2/1953, Trường Chinh ra chỉ thị về cách phổ biến Nghị Quyết của Hội nghị lần thứ tư BCHTW (khóa II)
Chỉ phổ biến CCRÐ tới cấp khu ủy và đại đoàn ủy, nhưng tạm thời giữ bí mật thời điểm thực hiện. Cấp tỉnh ủy và trung đoàn ủy chỉ nói giảm tô, tiến tới CCRÐ. Cấp dưới, không nói đến CCRÐ, chỉ nói đến 5 công tác trong năm 1953. (VKÐTT, 14:136-137).
Trong khi đó, Hồ liên tục xuất hiện phát động các kế hoạch rập khuôn Trung Cộng khác: Ngày 5/2/1953, HCM nói chuyện trước Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc. Hôm sau, 6/2/1953, HCM nói chuyện trước lớp chỉnh huấn cán bộ Ðảng, Dân, Chính ở cơ quan TW. Hồ nhắc nhủ các cán bộ: “Ngồi giữa hai ghế thì nhất định sẽ ngã.”
Ngày 22/4/1953, Ban Bí thư ra chỉ thị v/v 10 điều kỷ luật của cán bộ khi thi hành CCRÐ. Ngày 24/4/1953, Ban CHTW ra Chỉ thị v/v phát động quần chúng trong năm 1953.
Chỉ thị của BCT ngày 4/5/1953 v/v Mấy vấn đề đặc biệt trong phát động quần chúng trong năm 1953 phản ảnh khía cạnh sắt máu của kế hoạch CCRÐ:
Trừng trị địa chủ phản động và gian ác
Mức thoái tô, dây dưa tiền công
Tước vũ khí của địa chủ [vụ đồn điền Vũ Ngọc Hoành]
Yêu cầu về trình độ tổ chức trong cuộc phát động quần chúng
Chỉ thị số 43/CT/TW của BCT ngày 10/6/1953 v/v Hướng dẫn công tác phát động quần chúng. (VKÐTT, 14:223- 234. Theo tin quân sự Pháp, thời gian này tại miền Bắc, Pháp chỉ kiểm soát được 1,129 làng (trên tổng số 7,000 làng). (10H 282).
Phản ứng của dân chúng, và nhất là cán bộ cực kỳ xúc động. Ngày 29/6/1953, Thông Tri của Ban Bí thư về vấn đề tuyên truyền phát động quần chúng. ghi nhận “Ngay đến một số cán bộ lãnh đạo chưa thấm nhuần đường lối của CP. Nhiều nơi, địa chủ và ngay cả phú nông, trung nông tự tử.”( VKÐTT, 14: [tr. 246])
Ngày 3/7/1953, để trả lời những thắc mắc như “có CCRÐ trong kháng chiến hay không?,” BCT khẳng định Hội nghị TW lần thứ 4 (1/1953) đã quyết định CCRÐ trong kháng chiến.
 
G. Luật CCRÐ 19/12/1953
Trung tuần tháng 11/1953, tại Hội nghị lần thứ 5 BCH/TW Ðảng LÐVN và Hội nghị Toàn quốc lần thứ nhất Ðảng LÐVN (14-23/11/1953), kế hoạch CCRÐ được chính thức công bố. Bước kế tiếp chỉ còn là việc của Quốc Hội. Ngày Thứ Ba, 1/12/1953, Quốc Hội VNDCCH họp khóa thứ ba [tới 4/12/1953]. HCM tham dự. Ðọc báo cáo về tình hình thế giới, kháng chiến và CCRÐ.
Trên mặt trận tuyên truyền, người ta chỉ được giải thích là lấy ruộng đất của “địa chủ phong kiến, Việt Gian ác ôn” chia cho người nghèo, với khẩu hiệu người cày có ruộng. Trên thực tế, để tiêu diệt cái gọi là chế độ sản xuất phong kiến, chính phủ Hồ áp dụng “công lý bần nông,” tức các phiên tòa đấu tố, bắt ép những người bị qui [vạch] vào thành phần địa chủ, cường hào, ác ôn hay Việt Gian phải nhận cả những tội lỗi họ chưa bao giờ vi phạm; rồi sau đó xử tử hình, hạ tầng công tác hay tập trung cải tạo.
Ðợt thí nghiệm ở Thái Nguyên (dân số 10,781 người) từ tháng 12/1953 tới tháng 3/1954. Tịch thu, trưng thu, trưng mua 2,609 mẫu cho 6,089 nông dân. (VKÐTT, 15:1954, p. 201).
Số nạn nhân của kế sách CCRÐ được ước lượng từ 15,000 tới 50,000 người. (Catton, 2002; Brocheux, 2003:225).
Cần nhấn mạnh, mục tiêu chiến lược của CCRÐ vào thời gian này: bên cạnh quyết tâm “tiêu hủy giai cấp địa chủ phong kiến,” nhắm mở rộng sự kiểm soát các làng xã, tiêu diệt khả năng chống đối của địa chủ, gia tăng thu nhập lương thực và thuế, gia tăng số người nhập ngũ và “dân công” phục vụ nhu cầu chiến trường (lên tới hơn 100,000 trong chiến dịch Ðiện Biên Phủ). Mãi tới sau đợt cải cách ruộng đất thứ 5 vào mùa Xuân-Hè 1956–trong không khí chống đối, bất mãn khắp nơi, kể cả biến cố nông dân Quỳnh Lưu nổi dạy, Võ Giáp phải mang quân lính đến đánh dẹp–Hồ mới họp Hội nghị TWÐ lần thứ 10 (khóa II, 8-10/1956), nhìn nhận khuyết điểm, tự chỉ trích và phê bình; rồi tự mình thay Trường Chinh làm Tổng Bí thư, và trừng phạt chiếu lệ những cán bộ điều khiển chính sách cải cách ruộng đất. (TTLTQG 3 (Hà Nội) có một số tư liệu của Kho Quốc Hội đã giải mật. Bộ Văn Kiện Ðảng Toàn Tập cũng in lại khá đầy đủ những nghị quyết và chỉ thị cơ bản về chính sách CCRÐ của Ðảng Cộng Sản từ năm 1949 tới 1957. Xem, Chính Ðạo, “Mặt Trận Nông Thôn: Từ Cải Cách Ruộng Ðất tới Ấp Chiến Lược;” Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, tập II (Houston: Văn Hóa, đang in).
HCM đã chịu áp lực của Bắc Kinh để thực hiện việc cướp đoạt tập thể tài sản dân chúng này. nhưng qui trách cho sai lầm của Trường Chinh, không phải do các cố vấn TQ. (Hoan, 1987:366-367)
Kết luận sơ khởi của chúng tôi là cuộc cách mạng thổ địa vừa từ trên xuống (theo nghĩa do đảng LÐVN lãnh đạo, phát động, tổ chức và kiểm soát) vừa từ dưới lên (bạo lực tự phát của giới nông dân nghèo khổ, ao ước được chia đều phương tiện sản xuất, kể cả đất đai) chỉ mới thành công về chính trị và quân sự hơn kinh tế và xã hội hay văn hóa.
 
NVC: Trong vụ án “Nhân Văn-Giai Phẩm”, ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?
VNC: Vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm là hậu quả đương nhiên của quyết định độc quyền cai trị bằng họng súng của Ðảng CSVN. Là Chủ tịch Ðảng và Nhà Nước, HCM chịu trách nhiệm. Riêng với HCM, đó còn là sự phản bội chính những đòi hỏi thuở trung niên của Hồ.
 
NVC: Còn về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, ông Hồ Chí Minh có chịu trách nhiệm gì không?
VNC: Thời điểm này, HCM hầu như không còn thực quyền. Lê Duẩn-Lê Ðức Thọ đã nắm hết quyền lực. Vấn đề đặt ra là liệu những viên chức địa phương đã vượt qua chỉ thị vào tháng 1/1968 của Lê Duẩn? (Phá cho tan hậu cứ VNCH, tức các đô thị).
 
NVC: Hiện tại, nhiều đồng bào trong nước cũng như hải ngoại rất quan tâm và bất bình về vấn đề mất đất, mất các quần đảo do Trung Cộng chiếm đoạt. Vậy, theo ông thì ông Hồ Chí Minh có trách nhiệm gì không?
VNC: Dĩ nhiên là có. HCM là người cầm đầu Ðảng và Nhà Nước. Thư ngày 14/9/1958 của Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai – tự nguyện nhìn nhận biên giới do Trung Cộng tự vẽ, với những dấu chấm ở vùng lãnh hải phía Nam – phải được sự phê chuẩn của HCM và Bộ Chính Trị Ðảng Lao Ðộng Việt Nam như Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Thọ, v.v.
Bắc Kinh và Hà Nội thường nói về tình “môi hở, răng lạnh,” hay “viện trợ không kèm móc câu hay thòng lọng.” Thực tế, việc cắt đất cắt biển là những lưỡi câu và thòng lọng mà dân tộc Việt đang và sẽ chịu đựng.
 
NVC: Qua những điều đã trình bày thì theo ông, Hồ Chí Minh đã để lại di sản gì cho Dân Tộc Việt Nam?
VNC: Một di sản buồn.
Ba mươi năm chiến tranh, hàng triệu người chết và thương tật, sự tàn phá của làng mạc, ruộng vườn, đất đai. Và mối hận thù khó nguôi của các giai tầng xã hội.
Một tương lai, mù sương, trong cuộc hành trình vô định, đầy thử thách từ một xã hội nông nghiệp, nửa thực dân nửa phong kiến đã chết, tới một thể chế chưa đủ khả năng chào đời.
Từ năm 1991 bắt đầu nhập cảng thứ lý thuyết Marxist bị Hán hóa từ phương Bắc, và thay thế bảng hiệu “tư tưởng Mao Trạch Ðông, lý luận Ðặng Tiểu Bình” bằng “tư tưởng Hồ Chí Minh.”
 
NVC: Nói tóm lại, theo ông thì Hồ Chí Minh có công hay có tội đối với dân tộc Việt Nam?
VNC: Có lẽ còn quá sớm để đánh giá HCM.
Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị HCM sẽ thực hiện trong tương lai.
 
Houston, 1/2009
 
DCVOnline minh họa.
 
 
 
Trích: “HCM đã chịu áp lực của Bắc Kinh để thực hiện việc cướp đoạt tập thể tài sản dân chúng này. nhưng qui trách cho sai lầm của Trường Chinh, không phải do các cố vấn TQ. (Hoan, 1987:366-367)”
Ông Hồ Chí Minh bị áp lực của Bắc Kinh nên phải làm Cải Cách Ruộng Đất! Giờ thì có người nói ông Hồ Chí Minh bị áp lực của Bắc Kinh nên phải nhường Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc! Áp lực đó là gì, nếu không nghe lời thì sao?
Cải Cách Ruộng Đất không chỉ tịch thu tài sản của dân chúng mà còn phá nát cơ cấu các giai cấp trong xã hội. Đây mới là mục đích chính. Đi cùng với việc tịch thu tài sản là chính sách tuyên truyền xem địa chủ, nhà giàu, trí thức là xấu xa, công nông là cao cả. Sau khi phá nát các giai cấp cũ trong xã hội, đảng CS đưa một lớp người mới lên tuyệt đối trung thành với đảng. Nga, Trung Quốc đều làm việc này thì tại Việt Nam, đảng CSVN cũng phải làm. Đó là cách làm để biến xã hội Việt Nam giống như ở Liên Xô. Làm thế mới là cách mạng vô sản. Nếu đảng CSVN không đi theo mô hình của Liên Xô, Trung Quốc thì Liên Xô và Trung Quốc sẽ ngưng viện trợ và không xem miền Bắc là ở trong “hội” của họ nữa. Mà ông Hồ Chí Minh thì chắc chắn là cũng tin rằng phải nát cơ cấu xã hội cũ để xây dựng xã hội mới theo học thuyết Mác Lê, nghĩa là xã hội có mô hình giống như Liên Xô. Không ai ép được ông Hồ làm việc khó khăn, phức tạp và đẫm máu đó nếu ông Hồ không thực tâm tin tưởng vào cách mạng vô sản và muốn làm.
 
 
Trích: “Có lẽ còn quá sớm để đánh giá HCM. Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị HCM sẽ thực hiện trong tương lai”
Nói là còn quá sớm để đánh giá Hồ Chí Minh là với những người soạn chương trình sử cho học sinh thời Việt Nam Cộng Hòa. Vào thời đó, chương trình sử chỉ học đến Cách Mạng Tháng Tám rồi ngưng. Phần sau đó, sự tranh chấp Quốc Cộng, không đem vào sử vì là sự việc đang diễn biến nên chưa biết là ai phải ai trái. Cho học sinh học rồi đưa đến kết luận ai đúng ai sai là quá sớm. Chủ trương của người dạy là phần tranh chấp đó còn mới, thuộc về chính trị, chưa được xem là sử. Mà chính trị về tranh chấp giữa các phe hiện tại thì không đem vào học đường để làm mất đi óc khách quan của học sinh.
Đến bây giờ thì một số việc làm của ông Hồ Chí Minh đã được xem là lịch sử rồi. Việc áp dụng chủ nghĩa cộng sản vào Việc Nam rồi phải thối lui, bỏ các biện pháp mà ông Hồ học được ở Liên Xô rồi đem về Việt Nam áp dụng cho thấy việc làm của ông Hồ đúng sai ra sao.
Việc nước Đức thống nhất trong hòa bình cũng cho thấy chủ trương của ông Hồ dùng vũ lực thống nhất làm cho hàng triệu người chết là đường lối dở.
Việc ngày nay nhiều người muốn có chế độ dân chủ đa đảng cho thấy chủ trương của ông Hồ là đảng CS dùng bạo lực tiêu diệt các đảng khác ngày nay người dân không muốn nữa vì nó đã đem lại hậu quả xấu.
 
Trích: “Năm 1952, Mao Trạch Ðông mời Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh, ép phải cải cách ruộng đất.”
Viết sử không phải chỉ là ghi chép sư việc xẩy ra như “triều đình” bảo sao thì biết thế. Phải đặt câu hỏi, chuyện đó có thật hay chỉ là cái cớ? Nếu có thì tại sao, chủ đích là gì v.v.? Chẳng hạn, tại sao Tần Thủy Hòang lại đốt sách, chôn sống học trò… hay cho xây Vạn Lý Trường Thành? Viết sử mà chỉ nói năm ấy năm ấy Thuỷ Hoàng ra lênh xây VLTT thì e rằng chưa đủ! (tôi không có ý phê bình riêng tác giả đấy nhé).
Thời chiến tranh đánh Pháp, cũng như sau này ông HCM đi Tàu như đi chợ, Mao muốn Hồ làm gì gì Hồ đều biết và sẵn sàng làm theo, cần gì phải đưoơc “mời”?! Mao bảo phải đấu tố phá tan giới trung lưu trí thức, đó là bọn sẽ tranh dành quyền lực với “đảng”, thì Hồ làm liền mà còn làm mạnh chẳng thua gì Mao. Mao ra chiến dịch “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” để thành trừng đám trí thức còn sót lại sau CCRĐ, thì Hồ cũng làm theo. Mao thanh trừng những người có công lớn với đảng, cỡ Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ… thì Hồ cũng có “vụ án” Xét Lại Chống Đảng – mà VNG là nạn nhân to đầu nhất… nhưng đau nhất, là Mao muốn chiếm biển Đông, thì Hồ cũng ra lệnh cho PVĐ, “vị thủ tướng tại chức lâu nhất thế giới và cũng là thủ tướng có ít quyền nhất thế giới” tho lới chính đương sự, viết công hàm “hoan hỷ đồng ý” cho Mao vừa lòng…
Chẳng hiểu lý do nào mà Hồ – lớn tuổi hơn Mao, nhiều tuổi đảng hơn Mao – mà lại “cù lần” (dùng chữ này chi lịch sự, ít “bầy đàn” hơn chăng?) đến như thế. Nhục quốc thể! (mà dân trí thức miến Bắc – và cả Nam – vẫn chưa tỉnh ngộ hết thì thật là… buồn… cười!).
 
Ông Hồ là người Tầu hơn là người Việt
 
Hỏi: “Còn về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế, ông Hồ Chí Minh có chịu trách nhiệm gì không?”
Trả lời: Ông Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về vụ thảm sát Mậu Thân và tất cả các hành ám sát, khủng bố, giết chóc của đảng Cộng Sản Việt Nam vì các hành vi này nằm trong chính sách dùng bạo lực tiêu diệt các phe khác để đảng Cộng Sản Việt Nam độc quyền nắm quyền lực. Chính sách này là do ông Hồ Chí Minh học được ở Liên Xô rồi đem về xây dựng đảng Cộng Sản với chính sách dùng bạo lực. Vì thế ông Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm về tất cả mọi hậu quả do đường lối dùng bạo lực của đảng Cộng Sản gây ra. Những người cấp dưới có thể chịu trách nhiệm từng phần mà họ phụ trách nhưng ông Hồ thì chịu trách nhiệm về tất cả việc làm của đảng Cộng Sản.
Những việc làm gì của đảng Cộng Sản không thuộc vào đường lối dùng bạo lực và nền kinh tế tập trung thì ông Hồ không chịu trách nhiệm, chẳng hạn chính sách “đổi mới” quay trở lại kinh tế thị trường, để cho tư nhân được kinh doanh, làm giàu. Để cho tư nhân kinh doanh, làm giàu không nằm trong chính sách của ông Hồ Chí Minh khi ông Hồ xây dựng đảng Cộng Sản từ lúc đầu.
 
 

VỀ BÀI VIẾT “TẠI SAO VIỆT NAM LIÊN TỤC ‘NHAI ĐI NHAI LẠI’ CÁC THÔNG ĐIỆP PHẢN ĐỐI TRUNG QUỐC? (Nam Mô – DCVOnline)

Tháng Năm 25, 2013

 

Nam Mô
 
Gần đây xuất hiện bài viết của blogger Nguyễn Ngọc Long với tựa đề “Tại sao Việt Nam liên tục ‘nhai đi nhai lại’ các thông điệp phản đối Trung Quốc?” trình bày quan điểm về cách hành xử của chính quyền Việt Nam đối với vấn đề chủ quyền ở biển Đông cũng như thái độ của dư luận với cách hành xử đó.
 
Nội dung bài viết đan xen giữa các lập luận với những kinh nghiệm, cảm xúc cá nhân của tác giả, bởi vậy tương đối khó theo dõi. Đối với phần kinh nghiệm của tác giả, tôi xin phép không bàn tới, vì nó không biện minh được gì nhiều cho các lập luận, mà đơn thuần chỉ khiến tôi ‘ghen tỵ’ bởi tác giả, nhờ một lý do nào đó (‘đi thăm và kiểm tra các đảo’), đã có may mắn được đến một phần lãnh thổ của đất nước – điều mà nhiều người Việt Nam khác cũng mong mỏi nhưng không có cơ hội.
 
Về phần lập luận, tôi muốn trao đổi xung quanh hai luận điểm chính của tác giả: (1) Không thể và không nên kiện Trung Quốc ra Tòa Quốc tế, và (2) Những thông tin về hành vi ngang ngược của Trung Quốc đối với ngư dân cũng như chủ quyền Việt Nam do các nhà báo đưa ra trong nhiều trường hợp đã có sự nhầm lẫn.
 
Về luận điểm thứ nhất: ‘không thể và không nên kiện Trung Quốc ra Tòa quốc tế’, được tác giả biện minh bằng các lý do sau.
 
Lý do thứ nhất là,
“Chúng ta đang bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc (bạn nào có comment ý này vô cùng chuẩn xác). Nếu chúng ta chỉ cần “lên gân” với Trung Quốc thì có thể hàng chục triệu gia đình sẽ lâm vào cảnh lầm than bằng những đòn đánh vào kinh tế.”
 
Chưa nói đến ảnh hưởng từ những đòn trừng phạt kinh tế của Trung Quốc liệu có lớn đến mức mà tác giả lượng định (hàng chục triệu gia đình sẽ lầm than?) và trách nhiệm chủ yếu của chính quyền Việt Nam trong việc ‘lệ thuộc quá nhiều’ vào Trung Quốc như hiện nay, lập luận này tiềm ẩn những nguy hiểm trong vấn đề đối ngoại: nó tạo ra khuôn khổ cho một thái độ nhân nhượng vô hạn định đối với nước lớn và xác lập thứ tự ưu tiên cho lợi ích kinh tế đối với chủ quyền quốc gia.
 
Lý do thứ hai của tác giả là,
“Ngay cả nếu chúng ta “kiện thắng” thì tòa án Quốc tế cũng không có chức năng hành pháp.”
Bỏ qua nhầm lẫn về khái niệm (thuật ngữ ‘hành pháp’/executive thông thường được dùng để chỉ chức năng và thẩm quyền của chính phủ; còn trên website của mình, Tòa án Quốc tế về Luật biển ITLOS nói rằng ‘ Tòa không có phương tiện/cách thức để thi hành các phán quyết của nó’/ the Tribunal has no means of enforcing its decisions.), vấn đề đặt ra là, nếu như phán quyết của ITLOS hoàn toàn không có ảnh hưởng gì thì cớ sao nó lại tồn tại đến bây giờ và mỗi năm còn tiêu tốn đến hàng chục triệu euro? Sao không giải tán nó đi?
 
Cần đặt câu hỏi này trong bối cảnh nền chính trị toàn cầu hiện đại, nơi mà quyền lực mềm đang nổi lên như một nhân tố quan trọng trong quan hệ quốc tế . Ngay cả những quốc gia nổi tiếng độc đoán như Trung Quốc và Nga thời gian gần đây cũng phải chú ý đến sức ảnh hưởng của thứ quyền lực này. Mà quyền lực mềm thì luôn gắn liền với các giá trị phổ quát, nhân bản, bao gồm cả công lý, được thể hiện phần nào qua các phán quyết của các Tòa án Quốc tế. Đúng là, thắng lợi của Việt Nam trong một phiên tòa của ITLOS chưa chắc có thể đem về chủ quyền thực tế ngay cho Việt Nam nhưng ít nhất sẽ tạo ra một hậu thuẫn quốc tế hết sức rộng lớn và vững chắc cho tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, đồng thời khiến yêu sách của Trung Quốc trở nên lố bịch trong mắt công luận thế giới.
 
Lý do thứ ba là,
“Cùng với đó, họ sẽ dùng ảnh hưởng của mình để gây sức ép lên cộng đồng Quốc tế và cô lập Việt Nam, bao vây kinh tế v.v… Trong khi đó, cái mà chúng ta cần nhất bây giờ là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế.

Tôi không rõ vì sao tác giả cho rằng, một khi Việt Nam kiện Trung Quốc ra ITLOS thì Trung Quốc sẽ ‘gây sức ép lên cộng đồng Quốc tế và cô lập Việt Nam, bao vây kinh tế v.v…’.”
 
Tôi cũng không rõ bằng cách nào mà Trung Quốc có thể làm được điều này, và ‘cộng đồng quốc tế’ nào sẽ cô lập Việt Nam chỉ vì Việt Nam lựa chọn con đường tài phán – một giải pháp văn minh trong quan hệ quốc tế – để giải quyết tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Đúng ra, một khi đã thừa nhận rằng ‘cái chúng ta cần nhất bây giờ là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế’, tác giả phải ủng hộ giải pháp nhà nước Việt Nam kiện Trung Quốc ra ITLOS và tìm kiếm chiến thắng ở phiên tòa này như là cách thức tốt nhất để thu được sự chú ý và ủng hộ của dư luận quốc tế trong một thế giới văn minh, trọng pháp.
 
Về luận điểm thứ hai, tác giả đề cập hai chuyện:
 
Một là,
Các tàu đó bị bắn phá do xâm phạm vào “lãnh hải có được vì chiếm đóng trái phép” của Trung Quốc, nhưng lại là “lãnh hải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và căn cứ lịch sử không thể tranh cãi” của Việt Nam. Cho nên báo chí sẽ phải đưa tin là tàu cá ngư dân bị bắn trong vùng lãnh hải “của Việt Nam”. Thậm chí Bộ Ngoại Giao cũng phải tuyên bố như vậy. Và chính sự nhập nhằng này cũng khiến nhiều người cho rằng chúng ta quá hèn kém khi để cho ngư dân bị vạ lây như vậy.
 
Chính phủ tuyên bố một khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngư dân tiến vào khu vực ấy đánh bắt cá thì bị phía Trung Quốc bắn mà hoàn toàn không nhận được sự bảo vệ nào từ phía Chính phủ. Một chính phủ như thế, nếu không hèn, không kém, còn biết gọi là gì?
 
Trong khi đó tác giả lại nhận định rằng,
Chúng ta cũng chấp nhận việc “gây hiểu lầm” về năng lực bảo vệ ngư dân
Tôi không rõ sự ‘hiểu lầm’ mà tác giả muốn nói đến là gì. Song, mấy năm qua, có không ngớt những thông tin đau lòng về ngư dân Việt trên biển Đông, bị Trung Quốc đuổi bắn, bắt giam, đòi tiền chuộc. Ngư dân có lẽ không cần chính phủ phải ‘gây hiểu lầm’ về năng lực bảo vệ họ, mà họ cần được bảo vệ một cách thực chất.
 
Hai là,
“Tương tự với việc Trung Quốc xua đội tàu cá hàng chục chiếc “tràn vào khu vực Trường Sa và Hoàng Sa” của Việt Nam để đánh bắt trái phép. Trong thực tế, quanh năm suốt tháng đều có tàu cá của Trung Quốc “mon men”đến gần các đảo của Việt Nam. Điều tương tự xảy ra nếu các tàu này đi vào lãnh hải của các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị đánh cướp bằng vũ lực và chiếm đóng trái phép trong quá khứ.”
 
Những lập luận này của tác giả chỉ có thể nói lên một điều rằng, các nhà báo Việt Nam vừa qua chẳng những đã không cường điệu mối đe dọa từ chiến lược ‘coi biển Đông là ao nhà’ được thực hiện bằng các tàu cá của Trung Quốc, mà còn chưa thể hiện đầy đủ mức độ nghiêm trọng của chiến lược này. Nó cũng chứng tỏ năng lực của chính phủ Việt Nam trong việc đối phó với chiến lược thâm hiểm của Trung Quốc, thể hiện qua tình trạng xâm phạm ‘quanh năm suốt tháng’ của tàu cá Trung Quốc như chính tác giả đã đề cập.
 
Đôi dòng
 
Tôi muốn chia sẻ thêm với tác giả bài viết trên một vài điểm như sau.
 
Thứ nhất, về lý do phê phán chính quyền
Thực ra, lý do mà nhiều người phê phán sự nhu nhược của chính quyền trong vấn đề biển Đông không đến từ việc phát ngôn viên Lương Thanh Nghi ‘nhai đi nhai lại’ thông điệp phản đối – điều cần thiết theo thông lệ quốc tế để có thể thực hiện các giải pháp tài phán về sau – mà chủ yếu đến từ việc chính quyền đã không hành động đủ mạnh mẽ theo sau những tuyên bố này, đặc biệt là khi so sánh với những động thái quyết liệt từ một quốc gia khác trong khu vực là Philippines.
 
Bên cạnh đó, liệu chính quyền có nhu nhược hay không khi năm 2005, chín ngư dân Việt Nam bị Cảnh sát biển Trung Quốc bắn chết, và rồi tám năm sau đó, với biết bao tiền của được đổ vào để hiện đại hóa hải quân, ngư dân Việt Nam vẫn phải đơn độc trước làn đạn của tàu chiến Trung Quốc trong vụ việc xảy ra với tàu cá QNg 96382 TS của ngư dân Lý Sơn tháng 3 năm nay.
Ngoài ra, liệu chính quyền có nhu nhược hay không khi người dân đi biểu tình chống Trung Quốc bành trướng biển Đông thì bị chính quyền bắt giữ, đánh đập và chụp mũ ‘phản động’.
Tôi nghĩ, đây mới chính là những nguyên nhân cho thái độ phê phán trên.
 
Thứ hai, về thái độ ứng xử với Trung Quốc
Không thể phủ nhận sức mạnh kinh tế là một con bài quan trọng trong tranh chấp chủ quyền, và không dễ chút nào cho một chính quyền khi phải cân đo giữa lợi ích kinh tế và chủ quyền quốc gia trong tranh chấp với với một nước lớn hơn. Song, việc tỏ thái độ mạnh mẽ hơn đối với Trung Quốc trong vấn đề chủ quyền lại có thể đem đến những cơ hội mới.
 
Đầu tiên là tạo ra được một đồng thuận xã hội mạnh mẽ của người Việt trong và ngoài nước, trước mối đe dọa ngày càng lớn từ phía Trung Quốc. Đồng thuận xã hội là điều cốt yếu cho bất kỳ quốc gia nào muốn ổn định và phát triển.
 
Sau nữa là mở ra những cơ hội mới để nâng tầm quan hệ với các đối tác khác trong khu vực và trên thế giới. Hơn lúc nào hết, Việt Nam cần xóa bỏ hình ảnh ‘đồng chí tốt – anh em tốt’ với Trung Quốc vốn tiềm ẩn khả năng cô lập Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp với nước này.
 
Chính sách đối ngoại quả thực không dễ để bàn luận qua đôi ba dòng. Ở đây, tôi chỉ đưa ra một khả năng khác cho thái độ của chính quyền Việt Nam đối với Trung Quốc, để có thể tìm kiếm được sự ủng hộ rộng rãi hơn từ nhiều phía, so với thái độ ‘đồng chí tốt-anh em tốt’ đặt căn bản trên ý thức hệ hiện nay.Link bài viết “Tại sao Việt Nam liên tục ‘nhai đi nhai lại’ các thông điệp phản đối Trung Quốc?” của tác giả Nguyễn Ngọc Long.
 
Việc tàu cá Trung Quốc ồ ạt tràn ra biển Đông là hành động xâm lấn, xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

 
DCVOnline biên tập, minh họa.
 
——————————–
 
Xem thêm:
 
Vị trí của tàu cá Trung Quốc xâm nhập. Nguồn ảnh:Tuoitre.vn
 
Chiều thứ hai 13-5, tờ China News loan báo: lúc 16g45 (giờ địa phương) cùng ngày, 32 tàu cá của tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) sau gần 173 giờ di chuyển với hơn 850 hải lý đã đến vị trí mục tiêu, ở tọa độ 6,01 độ vĩ Bắc, 108,48 độ kinh Đông.
Nhìn lên bất cứ bản đồ nào, kể cả bản đồ thôn tính biển Đông mà Trung Quốc vừa phát hành, cũng có thể thấy vị trí mục tiêu của đoàn tàu gọi là đánh cá này hoàn toàn nằm trong vùng biển phía tây nam quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
So với Côn Đảo ở kinh độ 106°36’ Đông, vĩ độ 8°36’ Bắc, vị trí tập kết của đoàn tàu “đánh cá” này, ở tọa độ 6,01 độ vĩ Bắc, 108,48 độ kinh Đông, không xa lắm, hoàn toàn nằm trong thềm lục địa của Việt Nam. Còn nếu so với đảo Hải Nam của Trung Quốc thì rõ ràng là xa xôi vạn dặm, phải mất 173 giờ di chuyển qua hơn 850 hải lý!
 
 
 

DĨ ĐỘC TRỊ ĐỘC : THỬ LẤY HIẾN PHÁP TÀU ĐẬP LẠI ĐIỀU 4 (Phong Uyên)

Tháng Năm 25, 2013

 

05:04:pm 23/05/13
 
Chỉ trong vòng mấy tháng đã có 3 bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp ra đời và có thể từ nay cho đến 30-9, ngày hết hạn hỏi ý dân, sẽ còn thêm vài bản Dự thảo nữa tiếp tục thay thế nhau. Nhưng ngoài cách hành văn có chút sửa đổi, bản nào cũng như bản nào, điều 4 “Đảng Lãnh đạo” sẽ vẫn được giữ y nguyên bất chấp sự phi lí của nó đã phản lại 2 điều khoản cốt lõi cùng nằm trong bản Hiến pháp khẳng định “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (điều 2) và “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất” (điều 83). Vấn đề là những người được lệnh soạn thảo các bản Dự thảo không phải không biết nhưng vẫn phải duy trì sự phi lý này vì không thể làm trái lệnh Đảng được.
 
Trong bài viết này tôi xin trình bày lí do vì sao Đảng không thể bỏ cụm từ “Đảng lãnh đạo” ra khỏi điều 4 và xin đưa ra một phương kế để vô hiệu hóa nó là cóp lại định nghĩa về “Đảng lãnh đạo” trong Hiến pháp Tàu viết lại điều 4:
 
1) Vì sao cụm từ “Đảng là lực lượng lãnh đạo “vẫn được bảo lưu trong điều 4?
 
Trước hết tôi xin nhắc lại là từ trước tới nay trong ĐCSVN vẫn có 2 phái: “Lãnh đạo” và “Cầm quyền”.
 
Muốn biết “lãnh đạo” là phái nào, chỉ cần nhắc lại câu trả lời phỏng vấn Tuần VietNamNet hồi tháng 9 năm 2010 của ông Nguyễn Đình Lộc, cựu bộ trưởng bộ Tư Pháp, người đứng đầu những nhân sĩ ký tên bản Kiến nghị Sửa đổi Hiến pháp mới đây: “Tôi cũng không hiểu tại sao Bác Hồ khi nói về Đảng thì trước hết nói Đảng ta là đảng Cầm quyền…. Trong văn kiện Đại hội 10 có phần giải thích của đồng chí Nguyễn Phú Trọng: đảng cầm quyền thì hơi hẹp, phải nói đảng Lãnh đạo mới bao hết.
 
Ông Nguyễn Đình Lộc hồi đó đã có vẻ muốn viện Bác Hồ ra để chứng minh là Đảng do Bác sáng lập dưới những tên gọi khác nhau như Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh) mà tên cuối cùng là Đảng Lao động, chỉ là đảng Cầm quyền theo nghĩa thông thường là cầm Quyền hành pháp (détenir le Pouvoir exécutif), vì trong Quốc hội 1946 còn có những đảng hay tổ chức nhân dân khác như đảng Dân chủ, đảng Xã hội, Hội Liên Việt, Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội… cùng cầm quyền với Đảng Lao Động trong chính phủ Liên hiệp hồi 1945 -1946. Tất nhiên là ông Nguyễn Đình Lộc cũng biết thừa ông Hồ chỉ cóp lại quan niệm của Lénine về “lãnh đạo” gọi là “chuyên chính”: Không có đảng lãnh đạo mà chỉ có người Lãnh đạo “chuyên chính”. Lénine thành lập đảng Bolchevik để làm công cụ cướp chính quyền và chuyên chính cầm quyền. Cho đến năm 1918 Lénine mới đổi tên đảng Bônsêvíc của mình thành đảng Cộng sản. Ông Nguyễn Đình Lộc cũng không dám nói trắng ra là đảng của Bác chỉ là đảng Cộng sản của Stalin và những đảng Dân chủ, Xã hội chỉ là những đảng “anh em” được đặt ra cho xôm trò. Còn khỏi phải nói: các đảng “Việt Quốc”, “Việt Cách” bị Bác cho vào cái bẫy “Quốc hội” không có lối thoát, đều đã bị Bác tiêu diệt không một mảy may thương tiếc.
 
Khi gán cho Nguyễn Phú Trọng câu nói “Đảng Lãnh đạo mới bao hết”, rõ ràng ông Nguyễn Đình Lộc có ý ám chỉ Nguyễn Phú Trọng – khi đó chỉ là chủ tịch QH – , người đã thảo văn kiện Đại Hội 10, đã có ý muốn duy trì điều 4 cho phép 2 phe phái trong ĐCSVN bao hết cả 3 quyền Lập pháp Hành pháp và Tư pháp.
 
Còn phái Cầm quyền mà người đứng đầu là một thủ tướng người miền Nam, qua hình ảnh ông Võ Văn Kiệt, thường được coi là có tư tưởng cấp tiến.
 
Nhưng với Nguyễn Tấn Dũng trong chức vụ thủ tướng từ năm 2006, không có dấu hiệu gì chứng tỏ phái “Cầm quyền” có tư tưởng tiến bộ hơn phái “Lãnh đạo”.

Ngoài ra từ Đại hội 11, trên võ đài chính trị của ĐCSVN lại còn thêm một nhân vật mới nổi lên là Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
 
Sự “nổi lên” của nhân vật này tạo cho ĐCSVN một nguy cơ là 2 phái cố hữu trong Đảng có thể bị phân hóa thành 3 phái.
 
Chính vì sợ như vậy mà trong Hội nghị TW 6, TBT Nguyễn Phú Trọng đã liên kết với CT Nước Trương Tấn Sang làm một cuộc “đảo chính” hạ bệ TT Nguyễn Tấn Dũng.

Sự toan tính của Nguyễn Phú Trọng – hay nói cho đúng hơn của nhóm “Lãnh đạo” – là sau khi hạ bệ Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang sẽ được làm thủ tướng và Nguyễn Phú Trọng sẽ kiêm nhiệm luôn chức vị Chủ tịch nước. Trương Tấn Sang, đơn thương độc mã, sẽ chỉ là thủ tướng của Nguyễn Phú Trọng. Phái cầm quyền sẽ bị xóa sổ và ĐCSVN, chỉ còn một đầu như dưới thời Lê Đức Thọ, Lê Duẩn, sẽ trở thành đảng của người Lãnh đạo như ở Trung Quốc.
 
Cuộc “đảo chính” bị thất bại, nhưng cả 2 phe Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng đều bị sứt mẻ và nguy cơ ĐCSVN bị phân hóa sẽ tự tan rã lớn hơn bao giờ hết nếu không đi đến một thỏa hiệp là phải giữ nguyên điều 4 trong bản Hiến pháp để sử dụng nó như một bức tường thành bảo vệ quyền lãnh đạo của 3 chóp bu, đồng thời cũng nấp sau nó phân định lại quyền hành quyền lợi chỉ giữa 2-3 phe phái với nhau.
 
Đó chính là lí do khiến Đảng (nghĩa là 3 chóp bu) vẫn phải bảo lưu thuật ngữ “Đảng lãnh đạo” trong điều 4 bất chấp sự phi lý của nó.
 
Nhưng không có lẽ vì vậy mà những người còn chút công tâm trong ĐCSVN như các ông Nguyễn Đình Lộc, Nguyễn Trung, Gs Tương Lai… và hơn 4000 người đã có đủ can đảm ký bản kiến nghị và đưa ra một bản Hiến pháp mẫu chắc chắn đã nằm trong sọt rác, đành chịu bó tay? Các vị này nên thiết thực hơn, chỉ nên đòi hỏi viết lại điều 4 và cho “Đảng Lãnh đạo” một định nghĩa khác.
 
2) Muốn vô hiệu hóa “Đảng lãnh đạo”, phải viết lại điều 4 và cho “Đảng lãnh đạo” một định nghĩa khác:
 
Trước hết, chỉ đứng về phương diện ngữ pháp đã thấy cần phải viết lại:
 
“ĐCSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong cùa nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại diện trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
 
- Một đảng gồm 3 triệu rưỡi đảng viên mà chỉ là 1 đội?
 
- Chỉ một câu chưa đầy 3 dòng mà lập đi lập lại 2 lần “giai cấp công nhân”, 2 lần “nhân dân lao động”, tức là 4 lần những Từ đồng nghĩa.
 
- “… của dân tộc Việt Nam… của cả dân tộc”: Dân tộc gồm đủ mọi giai cấp. Đảng là đội tiên phong, là đại diện của cả dân tộc tức là của mọi giai cấp sao lại cần phải để lên hàng đầu giai cấp công nhân?
 
- Đã “tiên phong” tức là đi đầu mở đường như một hướng đạo viên, thì sao đồng thời lại là “đại diện trung thành lợi ích” được? Có “đại diện không trung thành, không lợi ích ? Các đại biểu QH thuộc về loại đại diện nào?
 
Thử so sánh với ‘đại diện” trong thuyết Ba Đại diện của Giang Trạch Dân nằm trong HP Trung quốc: ĐCSTQ đại diện cho: 1° Lực lượng sản xuất tiên tiến 2° Nền văn hóa tiên tiến 3° Lợi ích của đông đảo nhân dân Trung Quốc. Bao giờ ĐCSVN mới ” đại diện” được như ĐCS Tàu?
 
- Biến danh từ “lãnh đạo” thành một động từ là làm sai lạc nghĩa gốc của nó khiến nó trở thành đồng nghĩa với “chỉ huy” (diriger), “ngự trị”, mâu thuẫn với những từ ngữ trong cùng một câu như “tiên phong”, “đại diện” và phản lại những điều khoản khẳng định nhân dân là chủ nhân mọi quyền hành. Ông chủ mà bị một lực lượng vô hình vô thể là Đảng, chỉ huy, ngự trị, thì còn gì là ông chủ?
 
Một điều luật trong bộ Luật Tối cao của đất nước là Hiến pháp không thể chứa đựng những từ ngữ sai nghĩa, những câu cú sai văn phạm như vậy được: Ở những nước như nước Pháp có Hội đồng Bảo hiến, bất cứ một từ ngữ nào trong Hiến pháp cũng phải có một định nghĩa chính xác được khẳng định bởi các nhà ngữ học và được đăng trên Công báo, nếu không sẽ bị coi là bất hợp hiến.
 
Để so sánh, thử đọc lại đoạn nói về “lãnh đạo” trong Hiến pháp Trung Quốc:
 
” Trong thời gian dài cách mạng và xây dựng đất nước, đã hình thành nên một mặt trận ái quốc hợp nhất rộng lớn dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ tập hợp tất cả mọi loại đảng phái dân chủ và các tổ chức nhân dân; mặt trận hợp nhất này sẽ tiếp tục được phát triển và tăng cường ”
 
Một vài bình chú:
 
1° Đoạn nói về sự lãnh đạo của ĐCSTQ này không nằm trong Phần Những điều khoản của bản Hiến pháp Trung Hoa được Hồ Cẩm Đào sửa đổi năm 2004 mà được đặt trong Phần Mở đầu (Préambule). Vì vậy nó không có tính cách pháp lý mà chỉ là một đoạn kể lại trong quá trình diễn tiến của lịch sử cận đại Trung Quốc mà khởi đầu là cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 của Tôn Dật Tiên. Cũng cần nói thêm là tuyệt nhiên trong số 138 điều khoản của bản Hiến pháp, không có điều khoản nào nói đến vai trò của ĐCSTQ.
 
2° “Lãnh đạo” là một danh từ kép biểu thị một ý nghĩa sự vật, một sự vật, một con người (la direction, une direction, le dirigeant) gồm 2 Từ gốc: “lãnh” = nhận, được giao và “đạo” = đường. ” sự lãnh đạo ” = sự được giao phó dẫn đường, mở đường. Theo nghĩa rộng: “sự lãnh đạo” là sự được giao phó đi đầu và “lãnh đạo” là người dẫn đầu. Cụm từ “dưới sự lãnh đạo của ĐCSTQ” chỉ có nghĩa là ĐCSTQ được dân giao phó nhiệm vụ dẫn đầu. Nếu ĐCSTQ dẫn đi chệch đường sẽ phải chịu trách nhiệm trước nhân dân.
 
3° Quan trọng hơn hết là câu ” tập hợp tất cả mọi loại đảng phái dân chủ và các tổ chức nhân dân”. Qua câu này Hiến pháp Trung Quốc mặc nhiên công nhận đa nguyên đa đảng. Nếu tôi nhớ không lầm, Trung Quốc hiện nay có 8 đảng kể cả đảng Cộng Sản. Tuy chỉ là hình thức, sự hiện hữu của các đảng này cũng là những cánh cửa được ĐCSTQ hé ra cho có chút luồng gió dân chủ.
 
Thử viết lại điều 4 phỏng theo đoạn nói về” dưới sự lãnh đạo “trong Hiến pháp Trung Quốc:
 
” … Hình thành nên một mặt trận ái quốc hợp nhất rộng lớn dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN tập hợp tất cả mọi loại đảng phái dân chủ và các tổ chức nhân dân; mặt trận hợp nhất này sẽ tiếp tục được phát triển và tăng cường ”
 
Lấy lại cách hành văn sáng sủa và những từ ngữ chính xác của bản Hiến pháp Trung Quốc, điều 4 được viết lại phỏng theo Hiến pháp Trung Quốc sẽ không thể bị quy kết là do “thế địch thù nghịch” gợi ý đồng thời cũng không trái ngược với điều 2 và điều 83:
 
- Quyền lãnh đạo của Đảng được hiểu theo nghĩa: nhân dân (tức là Quốc Hội) ủy thác Đảng đi đầu dẫn đường. Trong tình trạng hiện thời, các phe phái trong Đảng vẫn có thể nấp sau tấm bình phong “dưới sự lãnh đạo” để phân chia nhau quyền hành quyền lợi. Nhưng dù bị lạm dụng thế nào chăng nữa, “dưới sự lãnh đạo” cũng bị giới hạn trong nghĩa “cầm quyền hành pháp” và Quốc hội (tức là Lập pháp) mới là Lãnh đạo. Nói tóm lại, có thể luật hóa ” đảng cầm quyền” chứ không có thể luật hóa “Đảng lãnh đạo”.
 
- Cho thấy một viễn tượng đa nguyên đa đảng dù chỉ là các phe phái trong Đảng tự phân chia thành những đảng. Nhưng đó cũng là một bước tiến đi đến dân chủ, vì ít nhất là người dân cũng được quyền bỏ phiếu chọn lựa giữa 2 phái và sự tranh giành quyền hành sẽ được diễn công khai trong Quốc hội chứ không phải chỉ sau bức tường “Đảng lãnh đạo”.
 
Và chắc chắn là ông bạn “16 chữ vàng” cũng không phản đối vì Hiến pháp của mình bị copy.
 
Kết luận
 
Viện dẫn Hiến pháp Tàu để vô hiệu hóa điều 4 là phương kế khả thi nhất mặc dù chỉ là dĩ độc trị độc.
 
Tất nhiên có nhiều người nghe thấy nói bắt chước hiến pháp Tàu đã nổi xung lên. Cần phải thực tế: dù sao trong Hiến pháp Trung Quốc cũng có sự qui định rõ ràng quyền lãnh đạo thuộc về chủ tịch nước và ĐCSTQ chỉ là công cụ cầm quyền của chủ tịch nước. Nói tóm lại, chế độ CSTQ vẫn chỉ là chế độ Trung ương tập quyền của các vua chúa Tàu từ ngàn xưa và ĐCSTQ chỉ là hàng quan lại của triều đình cộng sản với một thiên tử là Chủ tịch nước.
 
Vấn đề là muốn bắt chước Tàu, ĐCSVN cũng phải tạo ra được một lãnh đạo có đủ uy quyền khống chế các phe phái trong Đảng để có thể vừa là Chủ tịch Nước vừa là Tổng bí thư Đảng: Thử hỏi trong số các chóp bu hiện thời, ai là người có đủ uy quyền thống nhất mọi phe phái trong Đảng để trở thành một Giang Trạch Dân, một Hồ Cẩm Đào? Có sự trái ngược là muốn phá bỏ hệ thống “Đảng lãnh đạo” phải tạo cho ĐCSVN một lãnh tụ độc tài.
 
© Phong Uyên
© Đàn Chim Việt
 
 

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.